Home Blog Page 93

Khoa học, tội ác và những tầng sâu bí ẩn trong thế giới trinh thám của Franck Thilliez


Frank Thilliez – một trong những tên tuổi hàng đầu của dòng văn học trinh thám Pháp đương đại đã có buổi giao lưu với độc giả Việt Nam, đây không chỉ là dịp để người yêu sách tiếp cận gần hơn với một “người dẫn đường” tài ba của những vụ án phức tạp, mà còn là cơ hội để nhìn sâu hơn vào cách văn học trinh thám phản chiếu thế giới hiện đại: căng thẳng, ám ảnh và đầy những bí mật chờ được bóc tách.

Sự kiện do Nhã Nam cùng Viện Pháp tại Hà Nội phối hợp tổ chức vào sáng 6/12, tại Hà Nội, với chủ đề “Giao lưu với Franck Thilliez – tác giả bộ ba Hội chứng E, Mã gien tội ác và Hạt tử thần”.

Khoa học, tội ác và những tầng sâu bí ẩn trong thế giới trinh thám của Franck Thilliez - 1

Buổi giao lưu thu hút đông đảo độc giả tham dự. Ảnh: Huyền Thương

Franck Thilliez kiến tạo nỗi sợ từ chính bản chất con người và bộ não

Tại buổi giao lưu, nhà văn Franck Thilliez cho biết, từ nhỏ ông đã có niềm đam mê vô cùng lớn với khoa học và thích tìm hiểu cách tự nhiên và con người vận hành. Trước khi là một người viết chuyên nghiệp, ông từng là một kỹ sư tin học được đào tạo về khoa học, chính vì vậy, trong các cuốn sách của ông chứa đựng rất nhiều yếu tố về mặt khoa học.

Theo Thilliez, những chủ đề được ông lựa chọn đều xuất phát từ niềm hứng thú cá nhân, và được ông dành nhiều thời gian đào sâu trong suốt quá trình sáng tác. Mỗi cuốn sách là một hành trình gặp gỡ các chuyên gia, nhà nghiên cứu, thậm chí cả cảnh sát và bác sĩ, để từ đó, ông đưa những kiến thức đã thu nhận được vào mạch truyện.

“Trong các tác phẩm của mình, bên cạnh việc luôn cố gắng làm cho độc giả cảm thấy thích thú thì tôi cũng luôn mong muốn tạo ra một câu hỏi, hay đúng hơn là một sự chất vấn về mặt khoa học. Làm sao để chúng ta có thể khám phá được một “vũ trụ” nào đó, một môn khoa học nào đó, hoặc những vấn đề mà khoa học có thể đặt ra với con người. Và với tôi, đó thực sự là những cuộc phiêu lưu trinh thám đặc biệt, nơi công nghệ và khoa học trở thành một phần của câu chuyện”, nhà văn Franck Thilliez chia sẻ.

Khoa học, tội ác và những tầng sâu bí ẩn trong thế giới trinh thám của Franck Thilliez - 2

Nhà văn Franck Thilliez chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: Huyền Thương

Franck Thilliez xây dựng thế giới trinh thám của mình như một bản đồ những bóng tối mà khoa học để lại. Mỗi cuốn sách của ông là một cánh cửa mở vào những vùng rủi ro, nơi kiến thức vượt khỏi khả năng kiểm soát của con người.

Nếu “Hội chứng E” khiến người đọc rùng mình trước các thí nghiệm thần kinh học, còn “Mã gien tội ác” tạo nên ám ảnh bởi những câu hỏi về di truyền học, thì “Hạt tử thần” đi thẳng vào vết thương chưa bao giờ lành của nhân loại: thảm họa Chernobyl và những hệ quả lâu dài của nó.

Khoa học, tội ác và những tầng sâu bí ẩn trong thế giới trinh thám của Franck Thilliez - 3

Bộ ba tác phẩm trinh thám của Franck Thilliez. Ảnh: Nhã Nam

Nhà văn Yên Ba cho rằng, điểm chung trong các tác phẩm của Thilliez là cách ông kiến tạo nỗi sợ từ chính bản chất con người và bộ não của họ. Ông đã dựng nên một thế giới mà mỗi trang sách như đang tắt dần ánh sáng, đẩy người đọc vào một hành trình dò dẫm giữa bóng tối.

Ông viết về tội ác bằng giọng của một nhà khoa học, mổ xẻ từng cơ chế của sự ám ảnh, của bạo lực và của sự suy đồi. Những tội ác man rợ, các thí nghiệm vô nhân tính, những vụ giết người được tính toán lạnh lùng như công thức hóa học, hay những chính sách đàn áp biến con người thành vật thí nghiệm. Tất cả đều tạo nên một vũ trụ văn học đen tối đặc trưng của Thilliez.

Chính vì thế, văn chương của ông mang một vẻ đẹp sắc lạnh, bao trùm lên không khí đẫm máu và u ám. Mỗi chương truyện giống như một thí nghiệm về nỗi sợ: người đọc bị cuốn vào mê cung của trí tuệ, của những dấu vết logic dày đặc, trong khi vẫn cảm thấy một luồng lạnh chạy dọc sống lưng khi nhận ra sự mong manh của bản năng con người.

Có lẽ chính sự kết hợp giữa trí tuệ sắc bén, nỗi sợ nguyên thủy và phong cách “âm tính” đặc trưng này đã khiến văn chương của Frank Thilliez trở thành một hiện tượng khó rời mắt, và vẫn giữ được sức hút mạnh mẽ đối với độc giả Việt cho đến thời điểm hiện tại.

Sự kết hợp kiến thức khoa học với kinh dị tâm lý trong “Hạt tử thần”

Sau “Hội chứng E” và “Mã gien tội ác”, “Hạt tử thần” là cuốn sách thứ ba, khép lại bộ ba tác phẩm trinh thám xoay quanh cặp đôi thanh tra trưởng Franck Sharko và nữ cảnh sát Lucie Henebelle của Frank Thilliez được ra mắt tại Việt Nam. Ở tác phẩm mới nhất này, Thilliez tiếp tục mở rộng không gian điều tra sang một địa hạt khoa học khác: vấn đề hạt nhân. 

Cuốn sách lấy cảm hứng từ những hậu quả thật sự của vụ nổ lò phản ứng Chernobyl năm 1986, một bóng đen còn kéo dài đến tận ngày nay. Thilliez không chỉ mô tả lại thảm họa, mà còn cho người đọc thấy những “tàn dư vô hình” của nó: những con người bị dị dạng, những vùng đất bị bỏ hoang, những chính sách che đậy sự thật, và đặc biệt là cách khoa học có thể trở thành con dao hai lưỡi khi rơi vào tay kẻ mang tham vọng vượt quá đạo đức.

Khoa học, tội ác và những tầng sâu bí ẩn trong thế giới trinh thám của Franck Thilliez - 4

Các diễn giả chia sẻ về cuốn sách “Hạt tử thần” tại sự kiện. Ảnh: Huyền Thương

Theo các diễn giả, “Hạt tử thần” là một trong những tác phẩm tham vọng nhất của Frank Thilliez, và cũng là cuốn tiểu thuyết thể hiện rõ nhất thế mạnh của ông trong việc kết hợp kiến thức khoa học với kinh dị tâm lý. Tác phẩm đưa người đọc bước vào hành lang lạnh lẽo của khoa học hạt nhân, một lĩnh vực mà chỉ cần một sai lệch nhỏ cũng đủ tạo ra thảm họa mang tính tận diệt.

Trong đó, những phòng thí nghiệm bí mật, những nghiên cứu máu lạnh và những phép thử vô nhân tính không còn là phóng đại văn chương, mà dựa trên những tài liệu lịch sử và báo cáo khoa học thật. Nhờ vậy, nỗi sợ trong truyện trở thành nỗi sợ “thật” – thứ nỗi sợ của thế giới mà chúng ta đang sống.

Sức mạnh mà khoa học tạo ra, đặc biệt là năng lượng hạt nhân vốn được ca ngợi như minh chứng cho trí tuệ và sự tiến bộ của loài người được Franck Thilliez đặt vào trong bối cảnh u ám, nơi chỉ cần một sai lệch nhỏ trong đạo đức, một lựa chọn ích kỷ hay một bí mật bị giấu nhẹm cũng có thể dẫn đến thảm họa vượt khỏi mọi giới hạn.

Khoa học, tội ác và những tầng sâu bí ẩn trong thế giới trinh thám của Franck Thilliez - 5

“Hạt tử thần” là tác phẩm thể hiện rõ thế mạnh của Frank Thilliez trong việc kết hợp kiến thức khoa học với kinh dị tâm lý. Ảnh: Nhã Nam

Cuốn sách khiến người đọc nhận ra rằng, khoa học tự thân không nguy hiểm, cái nguy hiểm nằm ở người nắm giữ nó và sự trưởng thành của con người trước quyền lực hạt nhân, hay bất kỳ quyền lực khoa học nào, luôn mong manh hơn ta tưởng. 

Khi các nhân vật trong truyện lần theo dấu những thí nghiệm bị lãng quên, những dự án bị che giấu và những tổ chức sẵn sàng hy sinh con người để bảo vệ một “lợi ích lớn hơn”, câu hỏi ấy càng vang lên rõ ràng: phải chăng loài người luôn đi trước một bước về công nghệ nhưng lại tụt lại nhiều bước về đạo đức?

Với nhịp điều tra gấp gáp và bí ẩn, “Hạt tử thần” không chỉ là một cuốn tiểu thuyết tội phạm giật gân mà còn là lời cảnh báo về lòng tham vượt khỏi giới hạn đạo đức và cái giá phải trả khi khoa học bị lạm dùng để thách thức điều bất khả. Nằm dưới lớp vỏ điều tra tội phạm và khoa học, tác phẩm là câu chuyện về tham vọng không đáy của con người, về lằn ranh nguy hiểm giữa tri thức và sự cuồng loạn. Tất cả kết nối lại thành một bức tranh rợn ngợp: nơi khoa học bị bẻ cong, trở thành công cụ để thử nghiệm lên chính nỗi sợ và linh hồn của con người. 

Sự xuất hiện của Frank Thilliez tại Việt Nam không chỉ đơn thuần là mở rộng danh sách tác giả trinh thám quốc tế, mà còn tạo thêm một nhịp chuyển nhẹ cho thói quen đọc của công chúng. Những tác phẩm kết hợp điều tra và khoa học của ông đã mở rộng biên độ thể loại, khơi gợi góc nhìn mới cho độc giả và truyền cảm hứng cho người viết trẻ Việt Nam mạnh dạn thử nghiệm. Mỗi cuốn sách của Frank Thilliez trở thành một điểm chạm nhỏ nhưng quan trọng, góp phần làm phong phú thói quen đọc và thúc đẩy sự đổi mới của văn học trinh thám đương đại.

Sau buổi gặp gỡ với độc giả tại Hà Nội, theo thông tin từ Nhã Nam, nhà văn Frank Thilliez sẽ có buổi giao lưu tiếp theo tại TP.Hồ Chí Minh. Sự kiện diễn ra lúc 18h – 20h, Chủ nhật, ngày 11/12/ 2025, tại Viện Trao đổi văn hóa với Pháp IDECAF (31 Thái Văn Lung, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh).

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Dấu ấn Cuộc thi Sáng tác Tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật 2023-2025


Cuộc thi Sáng tác Tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật lần thứ nhất (2023 – 2025) nhằm huy động các nhà văn chuyên nghiệp và không chuyên, người yêu văn học ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sáng tác tác phẩm, phản ánh chân thực và sinh động hiện thực công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khắc họa hình tượng con người Việt Nam, nhất là công nhân, nông dân, lực lượng vũ trang, trí thức, doanh nhân góp phần xây dựng hình tượng và hệ giá trị con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đồng thời, thông qua cuộc thi phát hiện, bồi dưỡng các cây bút, nhất là các cây bút trẻ để đóng góp vào sự phát triển của nền văn học nghệ thuật nước nhà. Cuộc thi đã khép lại với nhiều dấu ấn tốt đẹp.

Ban Giám khảo gồm các nhà văn nhà lý luận phê bình tên tuổi, đã có những thành tựu nổi bật trong dòng chảy văn học nước nhà, có đóng góp tích cực trong các hoạt động văn chương: Nhà văn Hoàng Quốc Hải (cố vấn), nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, nhà lý luận phê bình văn học Bùi Việt Thắng, nhà văn Võ Thị Xuân Hà, nhà lý luận phê bình văn học Bích Thu, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Thanh Tú. Trưởng ban Tổ chức: nhà văn, nhà báo Hoàng Dự, Tổng biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật.

Cuộc thi sáng tác tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật lần thứ nhất (2023 – 2025) là sáng kiến, sáng tạo độc đáo vì lần đầu tiên do một tờ báo đăng cai. Lần đầu tiên ở nước ta có một tờ báo đứng ra tổ chức một cuộc thi tiểu thuyết, lựa chọn một thách thức lớn nhưng cũng là niềm vui và sự kỳ vọng vào tương lai của tiểu thuyết Việt Nam.

Sau hai năm phát động, Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 146 tác phẩm của 130 nhà văn thuộc đủ các thế hệ cầm bút, với nhiều lứa tuổi, ngành nghề, giai tầng trong xã hội ở các vùng miền trên dải đất hình chữ S, từ địa đầu tổ quốc đến vùng trung du Bắc bộ, vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đến các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên, vùng đất đỏ miền Đông, miền sông nước Tây Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều nhất là Hà Nội, thủ đô của cả nước. Có những tác giả đã trên dưới 80 tuổi. Có những tác giả còn rất trẻ, thậm chí là học sinh phổ thông. Có những nhà văn tên tuổi của nước nhà, và cũng có những tác giả lần đầu tiên viết văn. 

Qua kết quả chấm thi và thông tin từ Ban Giám khảo, có thể nhận thấy nhiều tác phẩm dự thi lần này vẫn quan tâm đến đề tài lịch sử và chiến tranh cách mạng – dòng chủ lưu của Văn học Việt Nam mà nhiều thế hệ các nhà văn tiền bối đã góp công vun đắp, bằng trí tuệ và thậm chí cả máu xương xây dựng.

Dấu ấn Cuộc thi Sáng tác Tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật 2023-2025 - 1

Một số tác phẩm được trao giải tại Cuộc thi Sáng tác Tiểu thuyết Thời báo Văn học Nghệ thuật lần thứ I (2023 – 2025).

Phù sa máu của Nguyễn Trọng Tân mang ý nghĩa ẩn dụ, gợi liên tưởng đến sự gắn bó máu thịt của con người với vùng đất quê hương, nơi có dòng sông bồi đắp phù sa, nhưng cũng chứng kiến bao nhiêu nỗi đau, cả máu và nước mắt của con người. Mỗi người là một mảnh hồn làng trải suốt mấy trăm năm. Giọng kể chuyện mang tính chiêm nghiệm, day dứt. Ngôn ngữ văn chương giàu hình ảnh, giàu sức gợi, khơi dậy sự đồng cảm mạnh mẽ từ người đọc. 

Viên sỏi lót đường của Bùi Việt Sỹ với đề tài là cuộc đời và lịch sử một đại gia đình trải từ thời kháng chiến chống Pháp đến thời hiện đại. Những trang sử của dân tộc mở ra, thì những số phận trong đó cũng là một phần của lịch sử dân tộc. Giọng văn có chút umua (hài hước, tếu táo). Tạo được hình tượng nhân vật và nêu bật ý nghĩa: Cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện là việc đóng góp như những viên sỏi lót con đường cách mạng.

Khắc tinh với thần chết của Lê Hoài Nam miêu tả sự đối đầu giữa con người và cái chết. Miêu tả đời sống của lính trong chiến trường khá sinh động, khắc nghiệt và đầy thử thách nhưng vẫn lạc quan, khẳng định sức sống bất diệt của dân tộc, giải đáp câu hỏi vì sao Việt Nam chiến thắng.

Chỉ tình yêu gửi lại của Nguyễn Khắc Nguyệt là câu chuyện cảm động về một gia đình liệt sĩ, về Anh hùng lực lượng vũ trang Ngô Văn Nhỡ nguyên Tiểu đoàn trưởng 1 tiểu đoàn xe tăng đã hi sinh trên đường tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975.

Rừng mặn của Hà Đình Cẩn là câu chuyện trong chiến tranh thật anh dũng mà cũng bi thương. Cùng với những chiến công, là bi kịch đến thảm khốc… Phong cách viết trang trọng, mang tính biểu cảm, trữ tình. Bút pháp hiện thực, lãng mạn, anh hùng ca.

Một nét đáng chú ý là mảng đề tài về thân phận con người Việt Nam qua các biến cố lịch sử, trải qua các cuộc bể dâu mà vươn lên trong bi kịch, trong thử thách khắc nghiệt để làm chủ cuộc đời mình với những khát vọng sống, khát vọng khẳng định bản thân.Thể hiện qua những tác phẩm như: Mùi rơm rạ của Đào Quốc Vịnh phản ánh chân thực cuộc sống đô thị thời bao cấp với những khó khăn về công việc, nhà ở và mưu sinh. Mùi rơm rạ không chỉ là câu chuyện tình yêu mà là bức tranh xã hội lúc bấy giờ, là cuộc sống của các trí thức, công nhân, nông dân, thậm chí cả những người ở bên lề xã hội… Ngôn ngữ văn kể chuyện gần gũi, chân thành, giàu hình ảnh.

Tiếng chuông nhà thờ Cửa Bắc của Nguyễn Đắc Như mô tả những vấn đề nhân phẩm của một lớp người “cửa trên” thời kỳ bao cấp. Thời gian là chứng nhân lưu giữ, tái hiện và thẩm định công bằng, khách quan, với những bi kịch của một đời người tưởng như được chiều chuộng, nâng đỡ hơn bao người. Có hình tượng ẩn dụ “tiếng chuông nhà thờ Cửa Bắc”.

Kính chiếu thời gian của Hà Phạm Phú là gia phả một dòng họ cùng với lịch sử đất nước kéo dài vài chục năm từ thời thuộc Pháp. Với ý tưởng: “Về già, thời gian như phù sa lắng đọng, đầy đặn thêm sức nặng, người ta cũng bình tĩnh hơn, thư thái hơn… nhẩn nha ôn lại con đường mình đã đi qua, những nỗi niềm cay đắng vui buồn, những bài học xương máu, những sự kiện dẫn đến, rơi xuống như định mệnh…”. 

Có những vấn đề ít nhà văn muốn và dám đề cập. Đó là đứng ở góc độ của người ngoài cuộc để nhìn nhận “phía bên kia” để chiếu rọi chiến thắng. Sụp đổ của Nguyễn Đình San là một tác phẩm như vậy. Một cuốn tiểu thuyết viết về sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, và nhìn nhận của người ngoài cuộc. Tiểu thuyết không có một chiến dịch, một trận đánh, một chiến thắng nào được miêu tả. Dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền đối phương, không thể không nhắc đến nguyên nhân của nó là sức mạnh của quân dân ta. Cuốn tiểu thuyết đã mô tả tường tận những nhân vật chóp bu của chế độ Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu… một số tướng lĩnh  như Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn, Đỗ Mậu, Nguyễn Cao Kỳ…

Tiểu thuyết sinh thái góp mặt tương đối trong cuộc thi này tiêu biểu có Thương ngànGió rừng thăm thẳm.

Thương ngàn của Vĩnh Quyền là một thể nghiệm văn chương “rưng rưng thương rừng Việt bị khai thác đến mức kêu cứu…”. Chuỗi liên văn bản tùy bút – bút ký – truyện ngắn – kịch bản điện ảnh – sử – truyền thuyết Mùa săn máu của tộc người Katu, gia phả của một cô trung triều Tây Sơn… để câu chuyện chỉ mươi ngày mở ra một tự sự trăm năm, hay vô tận… Văn phong trữ tình, huyền sử. 

Gió rừng thăm thẳm của Đặng Bá Canh với ý tưởng rừng không chỉ là hệ sinh thái mà còn là cội nguồn của đời sống tâm linh. Sự màu mỡ phì nhiêu của đất rừng-đất đỏ bazan giúp bao phận người thoát đói nghèo. Sự tham tàn lưu manh lọc lõi trục lợi… biến những cánh rừng nguyên sinh trở nên hoang tàn. Rừng nguyên sinh bị mất, những tập quán ngàn đời cũng dần bị xóa nhòa…

Đại dịch Covid-19 đã gây ra bao tang thương trên toàn thế giới. Các nhà văn đã để lăng kính chiếu rọi lùi lại sau thời khắc tang thương để mô tả những phân khúc tâm lí con người khi phải đối mặt với dịch bệnh khủng khiếp. Chủ đề này phải kể đến Nơi anh thuộc về của Kiều Bích Hậu. Một câu chuyện về tình yêu thời Covid. Với ý tưởng: “Đừng chống lại, bởi càng chống lại, virus càng mạnh lên. Hãy chấp nhận nó, đó là sự sàng lọc tự nhiên…”. Văn phong chặt chẽ, súc tích. Cấu trúc câu đơn giản.

Cuồng mê của Nguyễn Văn Học cũng đề tài đại dịch Covid-19, như một dẫn liệu để tác giả khai triển những chủ đề về xã hội, với những xung đột trong quá trình phát triển nền văn minh, với những hứng chịu từ cơn bão đến từ quá trình công nghiệp – đô thị hóa. 

Thế giới tuổi thơ luôn là những kí ức đẹp trong mỗi người lớn. Đề tài này được viết khá hay trong các tác phẩm như: Chùm Đảo ngồi nhớ Chùm Ruồi của tác giả Mỵ Dung. Một câu chuyện tuổi thơ trải dài cho tới khi đến tuổi vị thành niên. Những nhân vật tạo nên một không gian vừa thơ mộng, đầy hoài niệm, vừa khắc khổ gian khó của một vùng quê nghèo. Văn nhiều từ địa phương gây cuốn hút.

Tiếng gọi xa xăm của Phạm Hồng Loan kể về một thời tuổi thơ trong trẻo với miền quê bị chiến tranh tàn phá. Những người bạn học lần lượt lên đường. Là một tác phẩm văn học giàu chất nhân văn, là hành trình trở về quá khứ – nơi ký ức, tình người và tinh thần dân tộc được tái hiện sống động.

Đề tài khó nhất, cần phải có những trải nghiệm, tư liệu chuẩn xác, những dự cảm và nhận định sắc sảo. Đó là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị tiền bối cách mạng. Cuộc thi này dành tặng giải thưởng xứng đáng cho cuốn Cuộc phân tranh của Thiên Sơn. Với bối cảnh những năm 1946-1949, một giai đoạn cực kỳ phức tạp của lịch sử hiện đại. Đây là hướng đi  mà các nhà tiểu thuyết cần quan tâm khai thác và dũng cảm thử sức.

Đề tài lịch sử dã sử chiếm ưu thế thứ nhì trong các tác phẩm dự thi.

Tam hùng Đại Việt của Phạm Thuận Thành viết về giai đoạn lịch sử trong thế kỉ 16, thế kỉ chiến tranh liên miên của nước Việt. Do triều đình nhà Lê suy yếu rối ren, tranh chấp nội bộ phe phái. Lịch sử đòi hỏi người có tài đức giữ ổn định đất nước. Người đó chính là Mạc Đăng Dung, chân mệnh thiên tử, làm cuộc thay đổi triều đại. 

Vua không ngai của Phan Đức Nam, cuốn tiểu thuyết dã sử về cuộc đời và cuộc khởi nghĩa anh dũng của lãnh tụ Phan Bá Vành. Với ý tưởng: “Trong những chuyến thực địa dã ngoại, tác giả đã lang thang trong những cánh đồng mả, lắng nghe hồn tử sĩ than khóc, theo thuyền chài ra những chòi canh ngao dựng ngoài khơi xa, nghe gió hú hát, sóng biển gầm gào, thấm thía phần nào nỗi buồn cô đơn của chinh nhân xa xứ, khách lục lâm phiêu bạt giang hồ…”.

Đề tài dã sử đan xen giả tưởng cũng khá cuốn hút người đọc.

Hạt bụi lơ lửng của Phạm Thanh Thúy là giả thuyết một tộc người cô đơn trong rừng có thể là từ một nhóm người chạy trốn khỏi án tru di khủng khiếp trong lịch sử nước Việt, đó là vụ án Lệ Chi Viên. Các nhân vật nêu lên một câu hỏi cho người đọc: Bản thân một con người có ý nghĩa với những người khác hay không, và liệu có quan trọng? Văn lãng mạn trữ tình theo hình thức giả tưởng, huyền huyễn.

Nhặt bóng người của Vũ Thanh Lịch là những câu chuyện được các nhà khảo cổ học đánh thức từ lòng đất đã cộng hưởng, khuếch tán trí tưởng tượng của tác giả. Có những cổ vật đã nằm dưới lòng đất hàng ngàn năm, khiến dòng chảy quá khứ xen lẫn hiện tại. Văn hay, trong sáng, bút pháp lãng mạn, huyền ảo. 

Thể loại này, khá thành công có Cúc giậu đông của Phạm Giai Quỳnh, viết về thân phận của con người nói chung và người phụ nữ nói riêng trong xã hội cũ. Tiểu thuyết xoay quanh một gia đình tri thức vào giai đoạn cuối thời kỳ nhà Trần, với nhân vật chính là Trần Đông Cúc. Sau nhiều nạn, ôm nỗi uất hờn mà mất sớm. Linh hồn Đông Cúc là nhân vật kể câu chuyện. Tiểu thuyết cũng đề cập đến một số nét văn hoá cổ, phong tục cổ của Việt Nam. Văn cổ hay. Bút pháp tả cảnh ngụ tình, ước lệ.

Có những tác phẩm có thể đưa vào thể loại sử thi – anh hùng ca – hiện đại. Đó là Vầng trăng Him Lam của Châu La Việt. Câu chuyện về thế hệ cha anh đã sống và chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Các nhân vật có thật được tác giả kể lại như: nhạc sĩ Đỗ Nhuận, đại tá Mạc Ninh, đạo diễn Khắc Tuế… cùng nhiều nhân vật có thật trong lịch sử, và những diễn biến có thật với bút pháp kể truyện, ký sự chiến trường

Biên khu Việt Quế của Phạm Vân Anh viết về lực lượng biên phòng và những sự việc liên quan đường biên giới. Với mong muốn tái hiện một chiến dịch lớn, có ý nghĩa quan trọng, thể hiện tình đoàn kết, hữu nghị, kề vai sát cánh chiến đấu giải phóng đất nước của quân đội hai nước. Đây là tác phẩm văn học đầu tiên viết về chiến dịch đặc biệt này. Tiểu thuyết thể hiện tình đoàn kết, gắn bó, “nhường cơm, sẻ áo”, “chia lửa, chia máu” giữa những chiến sĩ Giải phóng quân nhân dân Trung Hoa và Giải phóng quân nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn từ tháng 6 đến tháng 10/1949. 

Nhiều vấn đề của cuộc sống đương đại được các tác giả trẻ chiêm nghiệm, dấn thân khám phá, thể hiện với một cách nhìn mới và phong cách thể hiện mới, dẫu chưa đạt đến thành công cao nhưng nó báo hiệu một thế hệ, một phong cách trẻ đang hình thành và nếu chăm lo bồi dưỡng, tạo không gian sáng tạo cởi mở, thân thiện chắc chắn chúng ta sẽ có những tác phẩm tốt.

Các tác phẩm thể loại xuyên không huyền huyễn góp mặt, đa phần của các tác giả trẻ. Họ đã mạnh dạn viết theo trí tưởng tượng phong phú của mình. Nửa bước 700 năm của Thành Châu, một tác giả trẻ ở Bến Tre. Xã hội hiện đại quán chiếu theo ánh sáng khoa học tâm linh. Đây là một tác phẩm tiểu thuyết xuyên không hiếm hoi kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và ảo mộng, giữa lịch sử và tâm lý cá nhân, giữa hiện thực xuyên về quá khứ và ngược dòng quá khứ đến tương lai. Một hành trình tâm thức đầy giằng xé của những con người trẻ tuổi bị mắc kẹt trong vòng xoáy số phận. Giọng văn hiện đại pha huyền huyễn.

Sống dưới ánh mặt trời của Viên Kiều Nga, một đại úy công an trẻ ở Hà Giang. Đề tài là những yếu tố huyền bí về loài người. Không chỉ là một câu chuyện về sự tái sinh của linh hồn trên một cơ thể mới mà còn là hành trình khám phá về tình yêu, lòng dũng cảm và sức mạnh của trái tim con người. Câu chuyện đan xen giữa thế giới hiện thực và thế giới siêu nhiên, đưa người đọc vào một cuộc phiêu lưu đầy bí ẩn và hấp dẫn.

Dấu ấn Cuộc thi Sáng tác Tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật 2023-2025 - 2

Các đại biểu, tác giả đoạt giải chụp ảnh lưu niệm cùng Ban Tổ chức.

Về dung lượng tiểu thuyết, ở cuộc thi lần này, có tác phẩm ngót 900 trang bản thảo khổ A4, nặng tay; Nhưng có những tác giả lần đầu tiên trình làng tiểu thuyết ngắn, cực ngắn, chỉ với hơn chục trang in mà mỗi chương chỉ 600 từ; Một tác giả khác có tiểu thuyết chỉ ba chục trang in với vài chương. Những tiểu thuyết ngắn và cực ngắn cho thấy sự tìm tòi, phá cách dù chưa đạt đến thành công nhưng cũng đáng để cho chúng ta suy nghĩ về dung lượng của tiểu thuyết, sức tải của ngôn từ, của cốt truyện, và cần xây dựng hình tượng nhân vật thế nào trong giới hạn câu chữ của một tác phẩm.

Sau gần 6 tháng “ăn tiểu thuyết, ngủ tiểu thuyết”, cùng cảm nhận nhập tâm trăn trở với từng dòng câu chữ, bút pháp của 146 tác phẩm, Ban Giám khảo đã lao động cật lực, chọn được 21 tác phẩm vào Chung khảo. 

Sau gần 1 tháng chấm Chung khảo nghiêm túc, khách quan, công bằng đã chọn được 12 tác phẩm đoạt giải thưởng, 1 tác phẩm được Giải Ban Giám khảo và 11 tác phẩm được Tặng thưởng.

Có những tác phẩm tuy chưa đạt điểm vào giải, nhưng vẫn là những tác phẩm khá dày dặn, khá ấn tượng với những đóng góp cống hiến cho dòng chảy văn học nước nhà.

Nhìn một cách tổng thể, cuộc thi đã đạt được mục tiêu đề ra. Với số lượng tác phẩm tác giả như vậy đủ để chúng ta tin tưởng vào tương lai phát triển của tiểu thuyết. Từ tác giả cao tuổi nhất gần 90 mùa xuân đến các em học sinh sinh viên tuổi đời còn trẻ vẫn tràn đầy khát vọng cống hiến tham gia cuộc thi, đem lại cho chúng ta nhiều cung bậc cảm xúc và minh chứng tình yêu văn học là không có tuổi và đam mê sáng tạo là không có giới hạn.

Võ Thị Xuân Hà




Nguồn: Arttimes.vn

Đôi điều cảm nhận về tập thơ “Hát từ Phan Xi Păng”


Ấn tượng về sự dồi dào

Tiến sĩ mê thơ, làm nhiều thơ Lê Tuấn Lộc có thể coi là “hiện tượng” của thơ ca Việt. Anh đã công bố 16 tập thơ, 2 tập trường ca. Tập thơ thứ 17 “Hát từ Phan xi păng” coi như là tuyển tập thơ với 442 trang in khổ lớn 16×23,5cm. Viết khỏe, kinh tế cũng khỏe để đủ in những điều đã viết cũng đáng để khâm phục. Dẫu biết rằng văn chương nghệ thuật “quý hồ tinh bất quý hồ đa” nhưng thơ cũng khá “tinh”, bằng chứng là Giải thưởng của các tỉnh Tuyên Quang, Thanh Hóa, Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Giao thông Vận tải), mà lại cũng “đa” về số lượng. Vừa “tinh” lại vừa “đa” như thế thật đáng chúc mừng!

Ấn tượng về sự sắp đặt

In nhiều thơ như thế, nhưng khi chọn đưa vào tập thơ thứ 17, với tổng cộng 228 bài dài, ngắn; tác giả đã tỉ mẩn, công phu ngồi soạn lại theo 14 khúc hát. Mỗi khúc hát lấy tên một ca khúc được phổ nhạc đặt lên đầu. Mỗi khúc hát có những bài thơ khác nhau, nhưng được gói vào một chủ đề chính như “Một nét thành Tuyên” (trong đó chủ yếu là về Tuyên Quang, có cả những bài thơ về quê, về Thái Nguyên, Cao Bằng, Đà Lạt,…), Đêm trăng trên dòng sông Đáy, Ca ba vùng mỏ, Bao giờ em trở lại, Em là người Tày, Lính trẻ về thăm nhà, Tôi người xứ Thanh,…

Như thế là rất công phu và tỉ mẩn. Có điều khi lấy một bài thơ được phổ nhạc đặt tên cho cả cụm thơ, thì những bài trong cụm cần phải cùng hoặc gần với bài  nhan đề  đó. Theo Tự bạch của nhà thơ thì anh có đến 35 bài thơ được phổ nhạc. Chọn bài thơ và ca khúc nào đây cũng là chuyện không đơn giản. Tác giả chỉ chọn 14 ca khúc của 12 tác giả Tân Điều, Hoàng Sâm, Văn Tiến, Đồng Tâm,  Nguyễn Văn Tám, Xuân Liên, Mai Kiên, Lê Tịnh, Trọng Đài, Vũ Văn Viết,  Nguyễn Trọng Tạo, Lê Minh.

Đôi điều cảm nhận về tập thơ “Hát từ Phan Xi Păng” - 1

Tập thơ “Hát từ Phan Xi Păng”, Tập thơ của Lê Tuấn Lộc, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, 2023

Ấn tượng về chủ đề: Quê, Thợ, Người miền núi và Em, sau hết là hình ảnh trữ tình nhà thơ

Lần theo 14 khúc hát, ngâm nga từ khúc 1 cho đến khúc 14 thì thấy rằng tác giả viết rất nhiều bài, về nhiều đề tài khác nhau, nhiều thời gian khác nhau, nhưng tựu trung lại có  4 chủ đề nổi bật là Quê, Thợ, Người miền núi và Em.

Quê Thanh của anh hầu như ở khúc hát nào cũng có. Ngay khúc 1 có những bài: Ngày cưới mẹ tôi, Ngày cha về hưu, Làng cũ. Khúc 2 có Về lại quê Thanh.   Khúc ba có Như Xuân và mấy bài thơ viết về làng thợ mỏ Cromit Cổ Định. Khúc 5 có Rượu Thanh. Khúc 7 có Tôi người xứ Thanh, Quê ngoại Đồng Bông, Về lại bến En. Khúc 9 có Trên đỉnh Am Tiên quê Thanh. Khúc 11 có Cổ tích ở mỏ Cromit Cổ Định Thanh Hóa. Khúc 13 có Xứ Thanh, con yêu người vô cùng, Mùa Dứa chín, Yêu anh thì về xứ Thanh,…

Không chỉ thể hiện niềm tự hào về xứ Thanh trong thơ, tác giả còn in tập bút ký Người xứ Thanh, làm tổng chủ biên cuốn sách Văn nghệ sĩ, nhà báo xứ Thanh tại Hà Nội với quê Thanh. Những câu thơ mộc mạc này như một tuyên bố đầy kiêu hãnh:

“Tôi người xứ Thanh

Các con tôi đã khai sinh như thế

Các cháu tôi mai sau vẫn khai sinh như thế

Dù đi đâu về đâu”.

Sau này lấy bằng tiến sĩ, nhưng Lê Tuấn Lộc gốc gác là thợ. Anh gắn bó với mỏ ở Tuyên Quang và mỏ Cromit ở Cổ Định quê nhà. Nhiều bài thơ viết về người thợ, xóm thợ, làng mỏ, mùa xuân ở mỏ. Có cả tập thơ mang tên Thợ mỏ gặp nhau, Thơ và thợ.

Hình ảnh đi tìm quặng của người thợ thật đẹp:

“Ngẩng đầu đỉnh núi cheo leo

Xốc ba lô, chống gậy hèo ta đi”

(Như xuân)

Hình ảnh người thợ trên đỉnh đèo Côlia thật phóng khoáng và hùng vĩ:

“Mây dưới chân ta lồng lộng trời cao

Nắng vàng giữa bao la non nước

Em xa thế làm sao thấy được

Anh đầu trần, vời vợi đỉnh Côlia”

Làng thợ cũng giàu sang, phong lưu như ai:

“Khách đến chơi thức nhắm sẵn cả rồi

Gà chạy đỏ sân, ao bơi đầy cá

Quăng mẻ vó cá giương vây trắng xóa

Tha hồ kho, tha hồ rán vàng ươm”

(Làng thợ mỏ)

Có gian khổ, có hạnh phúc, có nỗi buồn, nhưng có nhiều niềm vui. Cái chất thợ thật giản dị mà khỏe khoắn:

“Người Thiếc gặp người Than

Cười ran như… pháo nổ

Mặc kệ đời gian khổ

Ngang mày: trăm phần trăm”

(Thợ mỏ gặp nhau)

Đôi điều cảm nhận về tập thơ “Hát từ Phan Xi Păng” - 2

Ảnh minh họa

Cuộc đời người công nhân mỏ gắn bó với địa bàn miền núi, nên Lê Tuấn Lộc viết nhiều về miền núi. Các tập thơ của anh liên quan đến chủ đề miền núi và dân tộc. Như anh trần tình “Cái tạng tôi nó thế, gắn với mỏ là gắn với miền núi và dân tộc” (Tự bạch). Khúc 5 Em là người Tày, khúc 6 Lính trẻ về thăm nhà, khúc 8 Áo mới cô tặng nhiều bài viết về người miền núi. Từ chuyện cô gái Tày, đến những địa danh miền núi. Từ chuyện  áo mới cô tặng, bố mượn đi ăn cưới đến những so sánh nhà cửa, đi chợ, đi đường,… Tác giả nhìn Hà Nội bằng con mắt của người miền núi, bằng tình cảm của người miền núi nên thấy “Hà Nội người nào cũng đẹp” và thấy người mình khác với người thành phố:

“Người dân tộc mình chả thế

Cứ để mọi thứ tự nhiên như đời

Chả cần son phấn

(Hà Nội người nào cũng đẹp)

Những sự khác biệt ấy được nhấn mạnh với câu thơ “Không tin về Hà Nội mà coi”. Và câu thơ ấy sau thành nhan đề của một tập thơ: “Không tin về Hà Nội mà coi”.

Đáng chú ý là bài thơ Người dân tộc tự khai. Ở đây tác giả đã thay cho người Tày, người H’mong, người Thái, người Ba Na, người Chăm, người Pu Péo, người Phù Lá, người Pà Thẻn để khai, để kể, để tâm sự. Phải hiểu thấu đáo phong tục của các dân tộc, nếp sống, và văn hóa mới có thể viết được. Ví như người Pu Péo: “Mày lấy tao làm vợ không/ Lễ cưới phải cõng tao về nhà”; người Phù Lá: “Mày lấy tao làm vợ không/ Cầm tay kéo tao về/ Yêu nhau thì giữ hồn cho nhau”. Đây có thể coi như trường ca mini về các dân tộc ít người. Cũng như trường ca mini Hát từ Phan Xi Păng, không phải ngẫu nhiên tác giả đặt tên chung cho cả tập thơ.

Anh thợ mỏ đi nhiều nơi, gặp nhiều người, rốt cuộc cũng có được một người làm bạn đời sinh con, đẻ cái. Nhưng tính anh ta thì đa cảm, đa tình lắm. Một nhược điểm nhưng cũng là ưu điểm của người thi sĩ. Em Chiêm Hóa, em Hà Giang, em Bắc Hà, Lào Cai, em Mộc Châu, Sơn La, em Sông Lam, thành Vinh, em chợ nổi Cái Răng,… em nào cũng làm cho anh xao xuyến, ngẩn ngơ. Mùa xuân trên đồi chè Mộc Châu làm chàng thi sĩ say sưa:

“Mắt em cười long lanh long lanh

Tay hái chè thoăn thoắt thoăn thoắt

Gùi sau lưng lúc lắc lúc lắc

Váy Mông Hoa đung đưa đung đưa”

(Mùa xuân trên đồi chè Mộc Châu)

Áo cóm của em gái Thái đẹp đến nỗi chàng thú nhận:

“Chỉ tại áo em cúc bạc

Làm anh rối cả lên

Làm hoa ban trắng cả trời Tây Bắc

Tại áo cóm cứ căng lên như hai quả bưởi

Cúc bạc như muốn đứt tung

Eo vòng khoe sao mà thon thả

Làm anh hoa mắt lên”

(Áo cóm làm anh rối cả lên)

Uống rượu với em, say em hay say rượu quên đường về thì nêu lí do:

“Chỉ tại cái váy đen gấu hoa

Cứ núng na núng nính

Rượu ngô đầy sóng sánh

Làm anh quên đường về”

(Chỉ tại cái váy đen cạp xanh)

Gặp em gái tằng cẩu xinh quá, làm cho anh ngẩn ngơ buồn với những câu hỏi vẩn vơ:

“Sao em lại tằng cẩu?

Là em có chồng rồi

Để anh buồn thơ thẩn

Bỏ thơ ra suối ngồi

Em gái Thái xinh ơi

Sao lại có chồng rồi?

Sao lại cười duyên thế?

Làm anh hút hồn thôi

 (Tằng cẩu)

Gặp hình ảnh núi đôi, núi cô Tiên ở Quản Bạ, chàng thi sĩ mơ màng:

“Không ôm được nhưng anh ngắm được

Em khỏa thân hùng vĩ đại ngàn xanh

Ta lâng lâng giữa đất trời Quản Bạ

Em thiên thần trong cõi nước non anh

(Núi đôi Quản Bạ)

Qua bốn chủ đề ấy, bạn đọc sẽ thấy Lê Tuấn Lộc, một người thơ vạm vỡ, đa tình, mộc mạc, hồn nhiên, dễ say đắm, dễ vui, sống hòa đồng và rượu thì “bát ngát”: “Thâu đêm chén rượu chưa tàn/ Uống ta, uống bạn cho tràn cung mây” (Uống rượu ở mỏ Thiếc Sơn Dương).

Đời thợ mỏ nhiều gian khổ nhưng không ít niềm vui. Vào tuổi năm mươi Lê Tuấn Lộc thú nhận:

“Bão giông trời đất xoay vần

Việc đời nếm trải mấy lần đắng cay”

(Tuổi năm mươi)

Vốn là con người yêu đời, lạc quan, nên ít thấy Lê Tuấn Lộc buồn, nếu có buồn thì cũng chỉ là nỗi buồn thoáng qua. Có lẽ đời anh vui là chính. Anh vui với mình, vui cùng bè bạn, vui với nghề, vui với thiên nhiên nên  thơ anh là bài hát vui; nên tập thơ mang tên Hát từ Phan Xi Păng gồm 14 khúc hát khác nhau.

Một tập thơ đồ sộ, nhưng dễ đọc, vì người đọc có thể hát những khúc hát khác nhau cùng anh để biết những nỗi niềm buồn vui, gian khó và hạnh phúc, kiêu hãnh và tự hào của một người thợ với cuộc sống phồn thực, sinh sôi  như dòng sông chảy mãi.

Vũ Nho




Nguồn: Arttimes.vn

Vì một nền văn học nghệ thuật Huế hiện đại, giàu bản sắc


Ngày 26/3/1975, thành phố Huế hoàn toàn giải phóng. Chính quyền Cách mạng Lâm thời thành phố Huế tiếp quản cơ sở 26 Lê Lợi, Huế làm trụ sở của Hội Văn học nghệ thuật thành phố Huế. Nhà thơ Thanh Hải làm thủ trưởng cơ quan Hội. Thời kỳ này, Hội tập trung vào việc tập hợp đội ngũ văn nghệ sĩ từ chiến khu Thừa Thiên về, từ miền Bắc vào và lực lượng tại chỗ.

Tình hình văn nghệ Huế từ sau ngày thống nhất đất nước

Từ sau ngày thống nhất đất nước 1975, đời sống văn học nghệ thuật trên vùng đất Huế ngày càng sôi động. Một đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo ngày càng phát triển, với những khuôn mặt mới: Thanh Hải, Trần Hoàn, Nguyễn Khoa Điềm, Tống Hoàng Nguyên, Nguyễn Quang Hà, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Hà Khánh Linh, Nguyễn Tuyến Trung, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao, Nguyễn Hữu Ngô, Trần Công Tấn, Quế Lâm, Trần Thanh Lâm, Trần Phá Nhạc, Lê Khánh Thông, Nghiêm Sĩ Thái, Phạm Đăng Trí, Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Bửu Chỉ, Vĩnh Phối, Đỗ Kỳ Hoàng, Đinh Cường, Tần Hoài Dạ Vũ, Lê Khắc Cầm, Hoàng Đăng Nhuận, Thái Ngọc San, Nguyễn Đông Nhật, Ngụy Ngữ, Lê Văn Ngăn, Lê Gành, Đặng Mậu Tựu, Võ Quê, Trần Đình Sơn Cước…                                         

Niềm vui ngày hội giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là niềm cảm hứng cho nhiều tác phẩm ra đời, trong đó có nhiều tác phẩm về Huế: Toàn thắng về ta, Vui thế hôm nay (thơ, Tố Hữu), Một Việt Nam trọn vẹn về ta (thơ, Nguyễn Xuân Thâm), Bắc Nam một nước, văn nghệ một nhà (Diệp Minh Châu), Huế lừng ca chiến thắng (thơ, Huy Cận), Cờ bay trên thành Huế (thơ, Ngô Huệ), Huế đêm không ngủ (Phạm Tiến Duật), Ca khúc Phu Văn Lâu (Phạm Ngọc Cảnh), Cô tự vệ thành Huế (Xuân Sách), Trên dòng Hương, Tình ca viết bên bờ sông Hương (thơ, Thanh Hải), Đêm hội hoa đăng (Vĩnh Mai), Chợt nghĩ về chiến khu xanh thẳm, Nghệ thuật và người nghệ sĩ được hoàn toàn giải phóng (Hoàng Phủ Ngọc Tường)… 

Năm 1976 hợp nhất ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế thành tỉnh Bình Trị Thiên. Nhạc sĩ Trần Hoàn, Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Trị Thiên làm Trưởng Ban chỉ đạo hợp nhất lực lượng văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên. Ban Vận động thành lập Hội do nhà thơ Thanh Hải làm Trưởng Ban, nhà thơ Xuân Hoàng, nhà thơ Lương An làm Phó Trưởng Ban.

Từ 15/7/1989, Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế được thành lập trở lại sau chia tỉnh Bình Trị Thiên. Đời sống văn học nghệ thuật trên vùng đất Huế ngày càng sôi động. Từ đó đến nay, văn học nghệ thuật Huế đã để lại những dấu ấn khó phai qua các thời kỳ đầy cam go, chuyển mình đổi mới của văn học nghệ thuật trên vùng đất xứ Huế. Tổ chức Hội đã chuyển đổi tên gọi từ Hội Văn học nghệ thuật (1990 – 2005) thành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (2005 – 2010), Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế (2010 – 2024), Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Huế (từ 01/01/2025).

Các văn nghệ sĩ Huế chính là những sứ giả văn hóa, là các nghệ nhân dân gian, các văn nghệ sĩ, các nhà hoạt động văn hóa… Họ là những người giữ gìn và phát huy di sản văn hóa cha ông, vun bồi cho nền văn hóa những giá trị văn học nghệ thuật mới, quảng bá những giá trị văn hóa vùng đất ra bên ngoài thế giới, góp phần xây dựng những dấu ấn tình cảm tốt đẹp trong lòng du khách muôn phương.

Vì một nền văn học nghệ thuật Huế hiện đại, giàu bản sắc - 1

Ảnh minh họa.

Một số thành tựu quan trọng

Từ khoảng 100 văn nghệ sĩ những ngày đầu thống nhất đất nước, đến nay, Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố Huế có 08 hội chuyên ngành: Văn học, Mỹ thuật, Âm nhạc, Văn nghệ dân gian, Nhiếp ảnh, Kiến trúc, Sân Khấu, Múa (trên 750 hội viên). Hội có đội ngũ văn nghệ sĩ lớn so với các tỉnh thành trong cả nước. Trong đội ngũ có nhiều người cầm bút vững vàng, có những văn nghệ sĩ có tầm vóc quốc gia và khu vực; đồng thời luôn luôn được bổ sung lực lượng hội viên trẻ, có nhiều triển vọng. Tổng số hội viên thuộc các tổ chức hội thành viên hiện tại là trên 750 người. 

Sự phát triển của hoạt động văn học nghệ thuật từ khi có Hội đến nay đã có nhiều giai đoạn thăng trầm theo từng hoàn cảnh lịch sử của đất nước. Điều đáng trân trọng là đội ngũ văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế trong từng thời kỳ, từng thế hệ luôn luôn giữ vững tư chất, phẩm hạnh, đạo đức, ý thức công dân của mình trên cương vị của người văn nghệ sĩ. 

Đội ngũ văn nghệ sĩ Huế có nhiều đóng góp lớn cho đất nước. Hội Nhà văn thành phố Huế có nhiều tên tuổi lớn trên văn đàn cả nước hiện đang sinh hoạt. Hội Nhiếp ảnh Huế đã có nhiều tác phẩm có giá trị đạt các giải cao trong các cuộc thi trong và ngoài nước. Hội Mỹ thuật với lực lượng hùng hậu, trên 100 họa sĩ, thật sự đã nối tiếp được truyền thống mỹ thuật Huế. Nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ viết về xứ Huế thuộc Hội Âm nhạc Huế đã được lưu truyền trong cả nước. Hội Văn nghệ dân gian đã có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc về quê hương thành phố Huế được xuất bản. Nhiều kiến trúc sư thuộc Hội Kiến trúc ngoài đóng góp chuyên môn cho các công trình xây dựng ở Huế, còn đạt nhiều giải thưởng quốc tế về kiến trúc… 

Từ Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã có nhiều văn nghệ sĩ trưởng thành, đạt nhiều thành tích cao trong cuộc đời hoạt động văn học nghệ thuật như nhà thơ Tố Hữu, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, nhạc sĩ Trần Hoàn đã được giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý; có 10 văn nghệ sĩ Huế được Giải thưởng Nhà nước: Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm Ngô Kha, Bửu Chỉ, Tô Nhuận Vỹ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Triều Nguyên, Nguyễn Khắc Phê, Hồng Nhu… Nhiều văn nghệ sĩ được các giải thưởng quốc tế, khu vực, được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú… Nhiều tác phẩm gần đây được đông đảo công chúng và đồng nghiệp đánh giá cao.

Trong những năm qua, nhiều hoạt động văn học nghệ thuật nhằm khuếch trương văn hóa Huế và Việt Nam đã được triển khai: hưởng ứng Festival Bốn mùa, tổ chức các hội thảo văn học nghệ thuật tương quan đến kinh tế phát triển, hội thảo lớn về văn hóa và văn học nghệ thuật cũng như tham gia nhiều cuộc hội thảo lớn trong nước, tổ chức nhiều Trại sáng tác tại các địa phương trong tỉnh, tổ chức nhiều cuộc công bố tác phẩm. Nhiều tác phẩm của hội viên đoạt các giải thưởng lớn trong nước.

Liên hiệp Hội cũng tham gia góp ý, xây dựng nhiều đề án, chương trình, nghị quyết liên quan đến sự phát triển của văn học nghệ thuật nói chung và văn nghệ sĩ nói riêng. Hiện nay, Liên hiệp Hội đang xúc tiến một số chương trình như: Hội thảo Đổi mới trong các loại hình nghệ thuật ở Huế; Di sản văn hóa vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai; Phục hồi múa hát sắc bùa Phò Trạch…; tham gia xây dựng Nghị quyết quy định một số cơ chế chính sách đặc thù đối với văn nghệ sĩ trên địa bàn thành phố Huế; Đề án phát triển Mỹ thuật Thừa Thiên Huế đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (do UBND tỉnh soạn thảo); tham mưu cho UBND tỉnh biên soạn Đề án “Thiết lập và phát triển Tủ sách Huế” và đang được các sở ngành triển khai…

Đặc biệt, Liên hiệp Hội đã tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt Đề án “Phát triển văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030” (theo Quyết định số 2281/QĐ-UBND ngày 14/9/2021). Đề án nhằm đẩy mạnh sáng tác và quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật; xây dựng một số chương trình tạo cú hích cho văn nghệ sĩ tham gia mạnh mẽ vào tiến trình xây dựng Thành phố di sản trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị; phục dựng một số giá trị văn hóa dân gian có nguy cơ mai một; hiện các sinh hoạt văn học nghệ thuật chỉ tập trung ở thành phố, còn các huyện hầu như không có, đề án đầu tư để tạo điều kiện cho nhân dân nơi đâu cũng được sinh hoạt sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn học nghệ thuật.

Hoạt động của Đề án phát triển văn học nghệ thuật trong những năm qua đã góp phần làm sôi động không khí sinh hoạt văn hóa, văn học nghệ thuật trên địa bàn. Mở rộng các hoạt động giao lưu để nâng cao vị thế Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố. Nhiều hội viên tham gia các vị trí lãnh đạo của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam: Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố Huế là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam. Năm 2023, Liên hiệp Hội đã có sáng kiến tổ chức Ký kết phối hợp hoạt động giữa Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh và Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố Huế, qua đó duy trì vị thế tầm cỡ quốc gia cho văn học nghệ thuật thành phố Huế. Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố Huế tham gia các hoạt động văn hóa mang tầm quốc gia và khu vực: giao lưu trao đổi về văn học nghệ thuật của khu vực Bắc miền Trung, của 5 vùng Kinh đô xưa và nay: Huế – Hà Nội – Phú Thọ – Ninh Bình – Thanh Hóa… qua đó quảng bá cho văn nghệ sĩ các vùng văn hóa trung tâm hiểu sâu hơn về văn hóa, con người xứ Huế.

Những định hướng cho tương lai

Vùng đất Thuận Hóa có nền văn học viết xuất hiện với một khởi điểm đầy chất bác học. Nhiều ý kiến đã thống nhất rằng: văn học Thừa Thiên Huế khởi đầu từ bài thơ Hóa Châu tác (làm tại Châu Hóa) của Trương Hán Siêu với bài thơ Hải thiên thảo mộc cộng sầu ngâm (nghĩa là: Trời nước, cỏ cây cùng trong một nỗi buồn). Cùng với việc nhà Hồ đẩy mạnh khẩn hoang, làm đường thiên lý, chấn hưng giáo dục ở miền biên viễn Hóa Châu, kết quả là tuy vài năm ngắn ngủi (1400 – 1407), cũng đã sinh ra cho nhà Trần một lớp nho sĩ tận trung với triều đình như Đặng Tất (1357 – 1409), Đặng Dung (1373 – 1414) với bài thơ Thuật hoài nổi tiếng.

Khi vua Lê Thánh Tông chinh phạt phương Nam, đẩy đường biên trấn vào đến Đá Bia (Thạch Bi Sơn) ổn định Hóa Châu, ghé cửa biển Tư Dung, đã không kìm được cảm xúc mà viết nên bài Tư Dung hải môn lữ thứ… Nhắc lại những tác phẩm ban đầu của nền văn học Thừa Thiên Huế như thế, để thấy văn chương khởi thủy của vùng đất này ngay từ đầu văn học viết đã có tác phẩm của các vị thiên tử, các quan trung thần, các nhà văn hóa lớn đặt nền tảng; như vậy là nền văn học có chân mạng bác học của văn hóa đế vương; có sự uyên bác của minh triết, có nỗi buồn và niềm kiêu hãnh giữa đất trời cao rộng…

Huế là nơi có văn học chữ Nôm phát triển. Năm 1789, Tây Sơn mở đầu việc thống nhất đất nước, dùng chữ Nôm làm quốc gia văn tự. 

Triều Nguyễn sau khi tổ chức Phú Xuân – Huế thành kinh đô, đã làm cho văn học nghệ thuật vùng đất này phát triển rực rỡ kể từ 1802 trở về sau. Phú Xuân thời Nguyễn là trung tâm văn học với sự tập trung nhân tài cả nước và nổi bật với sắc thái văn học hoàng tộc. Các tên tuổi làm nên văn học triều Nguyễn nếu kể ra cũng hàng trăm người. Ngoài ra còn có các kiến trúc cung đình, cửu đỉnh Huế… và hiện còn lưu lại Châu bản triều Nguyễn là di sản văn hóa thế giới.

Huế là nơi đặt nền tảng cho lý luận văn học nghệ thuật cách mạng, với sự đóng góp của Hải Triều Nguyễn Khoa Văn. Việc xuất hiện các phong trào cách mạng khiến cho Huế trở thành nơi khởi phát các phong trào duy tân mà văn học nghệ thuật là công cụ đắc lực. Phong trào Duy Tân, Đông Du… để lại nhiều tác phẩm cực kỳ giá trị. Nảy sinh nhiều tên tuổi mới vừa hoạt động cách mạng vừa sáng tác.

Trong những năm tháng đấu tranh hào hùng chống Mỹ, phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh, giáo chức Huế là một bộ phận khăng khít của phong trào đấu tranh đô thị Huế. Phong trào này đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ đấu tranh bằng ngòi bút, bằng các tác phẩm nghệ thuật của mình: nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, thơ văn của Ngô Kha, Trần Quang Long, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thái Ngọc San, Võ Quê… Hội họa có tranh bút sắt Bửu Chỉ… Trong lúc đó ở chiến khu, Mồ anh hoa nở của Thanh Hải, Bài thơ của một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao và Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm là những đỉnh cao của văn học cách mạng miền Nam.

Huế là nơi khởi phát nhiều trào lưu sáng tác mới và có những đỉnh cao: Trong phong trào Thơ Mới, văn học Việt Nam gắn với tên tuổi của các cây bút người Huế như: Phan Văn Dật, Mộng Huyền, Thu Hồng, Nguyễn Đình Thư (có tên trong Thi nhân Việt Nam) và các cây bút hàng đầu gắn bó với Huế như Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Nguyễn Bính… Kể từ đó, nhiều trào lưu sáng tác mới đã bắt đầu từ đây. Thơ siêu thực khởi đầu từ Hàn Mặc Tử, sau đó phát triển với sự xuất hiện của Võ Ngọc Trác và về sau là Ngô Kha… Thơ Tân hình thức được cổ súy từ Huế. Nghệ thuật sắp đặt của hội họa áp dụng các trường phái kiến trúc mới…

Một đặc điểm quan trọng là các nhà văn nữ ở Huế đã phá bỏ rào cản phong kiến để viết nên những trang viết giải phóng tối đa tư tưởng… Triều Nguyễn khởi thủy cho văn học nữ có Bà Huyện Thanh Quan. Tiếp đó có bà Nguyễn Nhược Thị Bích, từng dạy hai vua. Đặc biệt về sau, có Nữ sử Đạm Phương với tinh thần tiên phong rất cao. Các tác phẩm văn học và báo chí của bà luôn sẵn sàng tiếp cận hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại. Thời kỳ Thơ Mới, Huế có Tôn Nữ Thu Hồng để lại tập Sóng thơ là nữ thi sĩ Huế duy nhất có tên trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân. Thời kỳ văn học miền Nam có các nhà văn nữ gốc Huế Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng… là những cây bút nữ có những đột phát mạnh bạo. Trong văn học chốn thiền môn xứ Huế, có tên tuổi của các nữ danh tu như Sư bà Thích Nữ Diệu Không, Thích Nữ Trí Hải… vượt qua khỏi hạn phận nữ tu để phát triển phương cách tu hành dấn thân tốt đời đẹp đạo. Mới đây, tiểu thuyết Từ Dụ Thái hậu (Trần Thùy Mai) đoạt giải cuộc thi tiểu thuyết lần thứ năm của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2022… 

Như vậy, có thể nhận định bước đầu đặc điểm của văn học nghệ thuật Huế là chủ thể sáng tạo có hệ thẩm mỹ cao, tạo nên nền văn học nghệ thuật đầy truyền thống dân tộc. Bên cạnh đó, văn nghệ sĩ Huế cũng tiên phong trên nhiều lĩnh vực. 

Hiện nay, trong thời kỳ đổi mới, văn học nghệ thuật Huế bên cạnh giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cũng là nơi có những ủng hộ các khuynh hướng sáng tạo mới. Những nỗ lực làm mới bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, đổi mới thi ca của Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Nguyên Tường, Văn Cầm Hải… là những ví dụ. Đó là những nỗ lực đáng ghi nhận của các thế hệ cầm bút nối tiếp nhau ở Huế.

Ở lĩnh vực hội họa, càng về sau, hình thức, chất liệu của các tác phẩm ngày càng đa dạng hơn với nghệ thuật sắp đặt, Nhiếp ảnh tạo hình, Video art, đồ họa Trúc chỉ, sắp đặt, đồ họa in ấn, paperblock, mica sắt hàn… Những nỗ lực tiếp nhận và sáng tạo cái mới của các họa sĩ trẻ Huế là những dấu hiệu cần phát huy. 

Vấn đề cần lưu ý là trong lúc tiếp nhận tinh hoa nghệ thuật của thế giới để sáng tạo cái mới, không để quên gốc gác căn cước xứ mưa là Huế…

Hồ Đăng Thanh Ngọc




Nguồn: Arttimes.vn

Giải thưởng Nhà văn nữ ấn tượng 2025 gọi tên Phạm Vân Anh, Niê Thanh Mai và Phương Trà


Giải thưởng Nhà văn nữ ấn tượng của Hội Nhà văn Việt Nam nhằm ghi nhận, tôn vinh những nỗ lực của nữ nhà văn Việt Nam trong cuộc sống, đặc biệt là những cống hiến cho cộng đồng. Giải thưởng năm 2025 được trao cho: nhà thơ Phạm Vân Anh (Hà Nội), nhà văn Niê Thanh Mai (Đắk Lắk), nhà văn Phương Trà (Trịnh Thị Phương Trà) (Đắk Lắk – Phú Yên cũ).

Căn cứ Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 8/10/2024 của Chính phủ, Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội; Căn cứ Điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam khóa X (2020-2025); Căn cứ cuộc họp Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam ngày 21-22 tháng 12 năm 2025; Xét thành tích của các nữ nhà văn năm 2025; Theo đề nghị của Ban Tổ chức – Sáng tác, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều đã thay mặt Ban Chấp hành Hội ký Quyết định số 149/QD-HNV, ngày 30/12/2025 về Trao Giải thưởng Nhà văn nữ ấn tượng năm 2025.

Theo đó, giải thưởng Nhà văn nữ ấn tượng của Hội Nhà văn Việt Nam nhằm ghi nhận, tôn vinh những nỗ lực của nữ nhà văn Việt Nam trong cuộc sống, đặc biệt là những cống hiến cho cộng đồng. Giải thưởng năm 2025 được trao cho: nhà thơ Phạm Vân Anh (Hà Nội), nhà văn Niê Thanh Mai (Đắk Lắk), nhà văn Phương Trà (Trịnh Thị Phương Trà) (Đắk Lắk – Phú Yên cũ).

Thượng tá, nhà văn Phạm Vân Anh sinh ngày 13/1/1980 tại Hải Phòng; cử nhân tiếng Anh, thạc sĩ chính trị học. Hiện công tác tại Cục Chính trị, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Chi hội phó Chi hội Nhà văn Quân đội và là thành viên của Nữ dịch giả Hà Nội.

Giải thưởng Nhà văn nữ ấn tượng 2025 gọi tên Phạm Vân Anh, Niê Thanh Mai và Phương Trà - 1

Thượng tá, nhà văn Phạm Vân Anh.

Chị đã xuất bản 16 tác phẩm văn học, được hơn 30 giải thưởng văn học – nghệ thuật, cùng hàng chục giải thưởng báo chí, có thể kể tới như: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Giải Báo chí Quốc gia, Giải “Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc”, Giải Liên hoan Truyền hình toàn quốc…

Nhà văn Niê Thanh Mai sinh ngày 29/7/1980, tại Đắk Lắk. Hiện là Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Giải thưởng Nhà văn nữ ấn tượng 2025 gọi tên Phạm Vân Anh, Niê Thanh Mai và Phương Trà - 2

Nhà văn Niê Thanh Mai.

Một số giải thưởng văn học đã đạt được: giải tác giả trẻ của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2005; giải Nhì của Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 2006, giải B giải thưởng Cư Yang sin do UBND tỉnh Đắk Lắk trao năm 2015.

“Nhà văn Phương Trà (tên đầy đủ là Trịnh Thị Phương Trà) sinh năm 1976, được kếp nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2020, hiện sống và làm việc tại Đắk Lắk (Phú Yên cũ).

Giải thưởng Nhà văn nữ ấn tượng 2025 gọi tên Phạm Vân Anh, Niê Thanh Mai và Phương Trà - 3

Nhà văn Phương Trà.

Nhà văn Phương Trà đã ra mắt bạn đọc một số tập truyện ngắn, tản văn và bút ký – phóng sự. Một số giải thưởng đã đạt được: giải Nhất cuộc thi sáng tác truyện ngắn “Người lao động hôm nay” do Báo Người Lao Động tổ chức (năm 2019) với truyện ngắn “Dưới ánh sáng thiên đường”, giải A “Giải thưởng văn học nghệ thuật Phú Yên lần thứ V”, giai đoạn 2016-2020, với tập tản văn “Nghe nắng qua thềm”…

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Thấy gì qua tiếng “Ngỗng trời kêu xa xứ”?


Mình có thói quen khi viết hay đọc đều rất tùy hứng. Nảy ra cái gì trong đầu lập tức viết luôn, sau đó sửa dần rồi thành cái gì thì thành, kệ nó. Khi đọc của ai cũng vậy, cầm cuốn sách mở trang bất kỳ, thấy thích thì đọc từ đầu, bằng không hãy thư thả đã.

Lần này nhận được tập thơ mới nhất của nhà thơ Vũ Quần Phương anh vừa gửi tặng, bập luôn vào bài thứ 31: “Dãy tượng đá trước lăng vua Khải Định”, mình thấy thích ngay:

Bụng dạ bất an hình hài bất động

Đại thần thành ông phỗng

Mỗi lần chầu kiếp kiếp phải khom lưng

Đứng cạnh các ngài, tôi vững gót làm dân…

Thế là lật lại từ đầu. Nhưng chưa đọc ngay vì chợt nhớ đến câu của Phùng Quán: “Người làm xiếc đi trên dây đã khó/chưa khó bằng người cầm bút viết văn/đi suốt đời trên con đường chân thật”. Người cầm bút đi cùng trang viết suốt đời đã khó, giữ được sự chân thật mỗi khi hạ bút càng khó hơn nhiều.

Thấy gì qua tiếng “Ngỗng trời kêu xa xứ”? - 1

Từ phải qua: nhà thơ Vũ Quần Phương, nhà thơ Phạm Hồng Nhật, tác giả bài viết Nguyễn Thẩm Văn

Cố nhiên, sự chân thật ở đây không đơn thuần như sáng tác theo trường phái tả thực mà là sự chân thành trung thực trong tâm thức nhà thơ, không chút ngả nghiêng bởi tác động bên ngoài để rồi đến chặng cuối con đường vẫn giữ được thăng bằng trong mỗi bước đi và hơn thế, còn truyền tải bao nỗi niềm chan chứa trên trang viết, với cái nhịp điệu trẻ trung hào hển như “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”, thì quả thật là không dễ chút nào.

Mình không dám bình thơ Vũ Quần Phương. Anh không chỉ là bậc tiên chỉ trong làng thơ mà còn là người bình thơ lão luyện. Khi bình thơ của bạn bè, anh thường chỉ phân tích về những bài thơ hay, những câu thơ đẹp hoặc có tính phát hiện của tác giả, tuyệt nhiên không có ý dạy bảo ai như kiểu ông thầy xưa lăm lăm tay thước đe nẹt các học trò. Bởi thế nói chuyện bình thơ với Vũ Quần Phương khác nào múa rìu qua mắt thợ, mình chỉ muốn viết ra cái sự ngạc nhiên khi đọc tập thơ này.

Tuổi 85 rồi mà thơ còn trẻ thế. Mình kém anh chục tuổi đã lên chức ông nội từ lâu, ở quê còn có cháu gọi bằng cụ, cỡ anh Phương thì phải có cháu gọi bằng kỵ, tức là cụ cố. Thế mà đọc thơ đôi lúc cứ cảm thấy anh như một chàng trai trẻ, thậm chí còn ở tuổi vị thành niên. Rất trẻ trung như cái thuở nào. Thuở nào nhỉ? Thử bấm vào bộ nhớ xem.

Nhớ rồi! Đó là lần đầu tiên mình gặp Vũ Quần Phương vào mùa thu năm 1977, khi theo học lớp bồi dưỡng những người viết trẻ tại Quảng Bá. Anh xuống chơi với lớp, không phải xuống giảng bài mà chỉ chơi thôi nhưng cả lớp đều ngưỡng mộ, kể cả cánh chuyên viết văn, không làm thơ như Thái Lãng, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thanh, Anh Động, Nguyễn Hữu Nhàn, Đỗ Vĩnh Bảo và mình nữa.

Trước đó, bọn mình đã đọc bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên tổng kết thơ chống Mỹ cứu nước, thấy ông rất khen Vũ Quần Phương cùng tốp “chân giầy hạng A” trong hàng ngũ nhà văn trẻ lúc bấy giờ, đó là Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật…

Bởi thế khi đến đây tình cờ được gặp anh, ai cũng thích. Nghe chuyện mới biết anh vốn là bác sỹ quay sang làm thơ rồi chuyển hẳn về làm phó cho bác Tô Hoài, Chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà Nội, mình đùa với mọi người rằng đây chính là Lỗ Tấn của Việt Nam. Mọi người cười bảo cũng xứng danh đấy chứ! Tiếc rằng khi anh nói về quan niệm của mình về thơ thì Nguyễn Thị Đạo Tĩnh gọi mình nhờ việc gì đó, nên mình không nghe được. Lần gặp thứ hai là khi mình đã nghỉ hưu, chuyển từ Quảng Ninh về Hà Nội, tham gia làm trang website của Hội Nhà văn – 2009.

Lúc này Vũ Quần Phương đang làm Chủ tịch Hội đồng thơ của Hội nên hàng ngày vẫn gặp nhau luôn. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã hơn ba mươi năm, anh đã già, trở thành trưởng lão, nói ít, nghe nhiều, từ tốn nhưng không lãnh đạm. Mặc dù chẳng nhớ mình là ai nhưng anh vẫn vui vẻ bắt tay, trò chuyện, lấy làm tiếc vì các bậc tiền bối đã ra đi gần hết, lúc này nhà thơ Tế Hanh vừa mất, chỉ còn nhà văn Tô Hoài và nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh cũng đang dưỡng bệnh tại nhà.

Sau đó hai anh em lại nói về cuốn “Ba Người Khác” của Tô Hoài. Một lần Hội Nhà văn tổ chức bình chọn tác phẩm đi dự giải thưởng văn học ba nước Đông Dương, sau khi đọc một số bài viết về các nhà văn đương đại của mình in trên website của Hội, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội quyết định đưa mình vào ban sơ khảo, đọc một số cuốn tiểu thuyết. Khi họp phiên cuối để quyết định tác giả nào xứng đáng được đi nhận giải, mình phát biểu thì một số vị trong Ban chung khảo tỏ ý coi thường, thằng cha tỉnh lẻ mới về, cũng chưa có thành tựu gì đáng kể, không xứng để mình nghe.

Họ nói với nhau như vậy. Và chắc hẳn mình sẽ hoàn toàn nhụt chí nếu không bắt gặp cái nhìn ưu ái của Vũ Quần Phương, cái nhìn đầy khích lệ của anh đã khiến mình mạnh dạn hẳn lên, nói rất hùng hồn. Kết quả là tác giả tiểu thuyết do mình bình chọn đã được nhiều người nhất trí cử đi nhận giải. Điều này khiến mình thêm kính nể anh, về nhà cứ vui mãi với một câu Kiều: “Khen cho con mắt tinh đời…”. Nhưng rồi sau đó ít lâu, kết thúc Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 8, bọn mình nghỉ cả. Loáng một cái đã hơn chục năm, bây giờ mới có dịp gặp lại anh. Thật mừng là đã đến tuổi 85 anh vẫn viết và ra sách mới, mừng hơn là anh còn nhớ đến mình và gửi sách tặng, đó là tập thơ “Ngỗng Trời Kêu Xa Xứ”.

Thấy gì qua tiếng “Ngỗng trời kêu xa xứ”? - 2

Bìa tập thơ “Ngỗng Trời Kêu Xa Xứ”.

Con ngỗng trời di trú

kêu tiếng hồn xa xứ tuổi nhỏ lòng theo đi bao la

tuổi già ngồi im phắc

Xào xạc cánh tiếng hồn xưa xa lắc

nghe hay là tưởng nghe thì cũng lẫn vào trời xanh mê hoặc

Bài thơ phảng phất nỗi buồn sầu xứ. Nhưng không chỉ vậy, nó còn được đẩy lên cao hơn, trong “trời xanh mê hoặc”, gợi ra một trường liên tưởng sâu xa, cảm nhận một cái gì đó “ở ngoài ta”, càn khôn thăm thẳm. Lại như nhìn thấy một cái gì đó có từ ngàn năm trước, vừa mới vút qua ở trên đầu, như thể “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản/Bạch vân thiên tải không du du…”.

Cái thần tình trong thơ Vũ Quần Phương là ở đó, ý thì kín nhưng tình thì sáng (chữ của nhà thơ Nguyễn Đình Thi) mà vẫn dung dị như không khiến người đọc không khỏi giật mình, như khi bắt gặp câu thơ của Nguyễn Duy viết từ lâu lắm: “Mặt trăng lên im phắc/làm ta phải giật mình”. Vì sao thế? Vì đôi khi giữa không gian tĩnh lặng mà ta không thể tĩnh tâm, cảm thấy mỗi vật quanh ta dường như đều ẩn chứa một năng lượng siêu phàm, thức tỉnh trong ta một điều gì đó.

Cả trời đất như có gì hồi hộp

lắng nghe từ trên cao

từ sâu thẳm nơi bắt đầu nhật nguyệt

từ hoa lúa vào men ủ hương làm hạt thóc

từ suối phía nguồn xa…

Chỉ gợi ra thế thôi, không nói hết, để người đọc, sau khi đọc hết những gì trên mặt chữ, còn đọc tiếp vào cái khoảng trống nhà thơ để lại. Và đó là điểm nhấn trong thơ Vũ Quần Phương.

Và như nhiều thi sĩ khác, tập thơ mới này của Vũ Quần Phương giống như một thứ “Nhật ký thơ”, đi tới đâu viết tới đó, viết về cái nơi mình vừa đến hoặc vừa đi, để rồi “khi ta ở chỉ là nơi đất ở/khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” như ông Chế từng viết vậy.

Cái khác của anh là không kể lể nhiều mà chỉ thốt lên cái điều anh cảm nhận được về những gì đã thấy. Mà cái sự cảm nhận của anh nó cũng rất khác người, rất khác với các nhà thơ khác, nó rất Vũ Quần Phương, tức là có khi rất trẻ và vui, lại có khi già dặn mà buồn.Cách đây ít ngày, nhà thơ Phạm Hồng Nhật rủ mình đến thăm anh Phương. Anh Phương bảo về thơ thì mỗi người có một thế giới riêng, ai cũng có điểm mạnh và điểm yếu, nhưng chính nó lại làm nên cái riêng của anh ta.

Điều quan trọng là dù ai khen hay chê thì ta vẫn cứ đi, cứ viết. Ta viết cho ta, viết cho người, viết cho cộng đồng và ta thấy mình có ích, thế là hạnh phúc rồi. Mình và Nhật nhất trí. Cuộc gặp gỡ thật vui. Qua đây mình càng tin vào cảm nhận của mình về con người nhà thơ họ Vũ này, anh rất quý bạn văn, nhất là lớp người ít tuổi hơn mình và luôn nâng đỡ bênh vực những tài năng trẻ. Ngày xưa cũng thế, bây giờ cũng vậy. Trong tập thơ mới nhất của anh có một số bài viết tặng bạn bè, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều… đều thích cả. Nhưng bài khiến mình cảm động nhất là viết tặng thi sĩ Thanh Tùng:

Anh đã sống như chưa từng được sống

Đời ngắn hơn đêm nằm nhớ nhà

Đêm ngắn hơn câu thơ bất chợt

Bất chợt cho ta nhìn thấy ta…

Những ai từng biết nhà thơ Thanh Tùng với cuộc đời gian nan bươn trải của anh sẽ hiểu rõ hơn về những câu thơ đầy thấm thía này, cũng như sự cảm thông sâu sắc của Vũ Quần Phương với bạn thơ từng một thời nếm trải bao ngọt bùi cay đắng. Và đây là bài thơ mình thích nhất trong cả tập, bài thơ anh viết về thơ:

…Đôi khi lắng nghe tim mình vào chữ

chữ trông nhà cho tim đi chơi

tim phiêu lãng thì chữ làm ngưỡng cửa

gọi ta về, ngồi lại, nhớ xa xôi

Ngồi rồi đứng – thế là thành ông cụ

Hai ông cụ hay hai đứa trẻ

Ai bây giờ và ai ngày xưa

Ta muốn hỏi lại im, không hỏi

Hỏi và im

Im

hỏi

phía nào thơ?

Phía nào thơ? Phía ba mươi năm trước, khi mình còn trai một, chưa cùng ai, tình cờ gặp anh tại Quảng Bá, hay là phía hôm nay, khi cả hai đều đã thành ông nội? Phía nào thơ? Phía Cỏ “Mùa Xuân” – tập thơ đầu tay của anh in chung với Văn Thảo Nguyên từ năm mươi năm trước hay là phía “Ngỗng Trời Kêu Xa Xứ” ra mắt bạn đọc vào cuối thu này? Phía nào thơ? Thơ là gì mà biết phía nào thơ? Đã có người hỏi nhà thơ Chế Lan Viên thơ là gì, thơ thế nào, ông trả lời bằng một câu hỏi khác: “Yêu là gì ư? Tình yêu thế nào ư?”.

Phải rồi! “Có một người con gái bỗng thành em – Thơ Việt Phương”. Ai cũng cảm  nhận được tiếng em ở đây là EM viết hoa, nó khác với nhiều từ em khác như em thơ, em gái…nhưng hỏi tại sao và thế nào thì thật khó mà lý giải. Thì cứ bảo đó là Thơ đấy!

Nguyễn Thẩm Văn




Nguồn: Arttimes.vn

Cái giá của chiến thắng và số phận con người một nét mới trong văn học Việt Nam về chiến tranh sau chiến tranh


Sau một thời gian ở đơn vị, tháng 8 năm 1975 tôi được điều về Tổng cục chính trị, làm Trong văn học của Phòng Văn nghệ, Cục Tuyên huấn, bắt đầu được quen biết, gặp gỡ với các nhà văn quân đội, lúc đó hay tụ tập về số 4 Lý Nam Đế. Năm 1976, trong một lần đi uống bia ở Câu lạc bộ Quân đội, anh Nguyễn Minh Châu có đưa cho tôi bản thảo truyện ngắn “Cái mặt” và hỏi: “Ông đọc đi và nghĩ đã đăng được chưa?”.

Một kỷ niệm nhỏ với nhà văn Nguyễn Minh Châu

Sau một thời gian ở đơn vị, tháng 8 năm 1975 tôi được điều về Tổng cục chính trị, làm Trong văn học của Phòng Văn nghệ, Cục Tuyên huấn, bắt đầu được quen biết, gặp gỡ với các nhà văn quân đội, lúc đó hay tụ tập về số 4 Lý Nam Đế.

Năm 1976, trong một lần đi uống bia ở Câu lạc bộ Quân đội, anh Nguyễn Minh Châu có đưa cho tôi bản thảo truyện ngắn Cái mặt và hỏi: “Ông đọc đi và nghĩ đã đăng được chưa?”.

Đọc bản thảo viết tay bằng bút mực tím trên giấy xấu, song tôi cảm nhận về một cách tư duy sáng tạo mới và “lạ” qua hai nhân vật họa sĩ và người lính. Lúc đó, năm 1976, cả nước đang vô cùng sung sướng, tự hào với niềm vui đất nước thống nhất và đầy niềm tin rằng, những người đã qua tôi luyện sẽ bước vào xây dựng nhanh chóng, đất nước phát triển. Chính thời điểm đó, Nguyễn Minh Châu đã cảnh báo qua sự thất hứa, lãng quên có phần bội bạc của người họa sĩ sau chiến tranh. Trong hoàn cảnh lúc đó, mà sau này, từ năm 1986, Đảng đã nhận định là thời kỳ “duy ý chí”, tôi có đề nghị anh Châu để chậm lại một thời gian truyện ngắn của anh.

Cái giá của chiến thắng và số phận con người một nét mới trong văn học Việt Nam về chiến tranh sau chiến tranh - 1

Nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Mấy năm sau, vận dụng lý thuyết văn học so sánh, tôi có viết luận văn ở Cộng hòa dân chủ Đức về văn học Đức, văn học Xô viết và văn học Việt Nam về chiến tranh sau chiến tranh. Năm 1981, truyện ngắn của anh Châu đăng trên Báo Văn nghệ, đổi tên thành Bức tranh. Vợ tôi gửi cho tôi truyện ngắn này, song luận văn đã viết xong. Hôm bảo vệ, một giáo sư có hỏi tôi, chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc được năm, sáu năm, vậy văn học Việt Nam về chiến tranh viết sau chiến tranh có gì mới và khác? Tôi phải kể vắn tắt truyện Bức tranh, trình bày rằng, quy luật của tư duy sáng tạo, văn học Việt Nam sau chiến tranh đang biến đổi, như văn học Xô viết.

Một giáo sư nói rằng, các nhà văn viết về chiến tranh sau chiến tranh, như Ximônốp, Bưcốp, Aitinatốp, Bônđarép, Anna Sêgớt… không chỉ kể tả lại biến cố chiến tranh, mà chủ yếu là triết lý về chiến tranh và số phận con người (loài người) trong chiến tranh, qua chiến tranh. Tôi thật sự vui khi nghĩ rằng, truyện ngắn Bức tranh của anh Châu là dấu hiệu mở đầu cho một giai đoạn mới của văn học Việt Nam về chiến tranh viết sau chiến tranh.

Kể lại buổi bảo vệ đó với anh Châu, anh nói vui với tôi rằng: “Cậu cho tớ mượn câu trên của giáo sư làm tựa đề cho một truyện mới”. Thời gian sau, truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành ra đời.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ do lãnh đạo Cục (lúc đó là Cục Văn hóa) giao: “Sơ bộ tổng kết 30 năm văn học về chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang (1945 – 1975)”, tôi tiếp tục dành nhiều thời gian cho vấn đề: Viết về chiến tranh sau chiến tranh, lúc đó vào những năm 80, 90 thế kỷ trước, những tên tuổi các nhà văn đi theo hướng sáng tạo trên đã nổi lên với các sáng tác mới được dư luận đánh giá cao: Nguyễn Minh Châu Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Thiều, Hữu Mai, Thu Bồn, Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường…

Một số bài nghiên cứu của tôi đã được đăng tải, song, vì cả khách quan và chủ quan vấn đề chưa đạt tới một hệ thống mà phải dừng lại để chuyển sang lĩnh vực mới khi được giao nhiệm vụ. Tuy nhiên, suy nghĩ và đề cương của vấn đề vẫn trở về trong tôi.

Triết lý về chiến tranh, cái giá của chiến thắng và số phận con người trong văn học Việt Nam về chiến tranh viết sau chiến tranh. Đã qua 50 năm sau chiến thắng vĩ đại ngày 30 tháng 4 năm 1975, chắc rằng, đã có đủ thực tiễn để nghĩ suy về một đặc điểm mang tính quy luật trong tư duy sáng tạo của nhà văn về đề tài trên.

Ba xu hướng viết về chiến tranh sau chiến tranh

Không phải tất cả các nhà văn Việt Nam viết về chiến tranh sau chiến tranh đều có chung một hướng viết mới. Thực tiễn 50 năm qua cho chúng ta nhận biết, cho đến nay vẫn đang tồn tại đồng thời ba xu hướng xen kẽ và tác động lẫn nhau, đôi khi không “đồng điệu”, không “chịu” nhau về việc phản ánh vẫn đang chiến tranh sau chiến tranh.

Một số tác giả, nhất là một số nhà văn đã quen và nhiều năm viết về chiến tranh ngay trong chiến tranh, vẫn giữ lại “tạng” của mình, ít có đổi mới, thường chỉ có khả năng kể lại, miêu tả lại các diễn biến của các sự kiện, biến cố, quá trình chiến tranh, ca ngợi thật lòng nhưng ít có phát hiện mới về con người trong chiến đấu. Thời gian qua, một số hồi ký, tự truyện, hồi ức thể hiện theo hướng đó. Dung lượng hiện thực có thể được mở rộng, nhưng chất lượng của sự khám phá không cao, vì thế, dù cần mẫn, dày công nhưng hiệu quả nghệ thuật trong đời sống xã hội đương đại ít nhiều mờ nhạt. Rất tiếc rằng, có cả những tiểu thuyết dài, tự truyện, hồi ký công phu nhưng rơi vào sự lãng quên hay đọc chủ yếu chỉ để biết thêm một số sự kiện, biến cố chiến tranh. Một số tác phẩm chưa vượt qua được tư duy truyền thống khi viết về chiến tranh, đúng mà không mới, kể tả mà ít khám phá.

Cái giá của chiến thắng và số phận con người một nét mới trong văn học Việt Nam về chiến tranh sau chiến tranh - 2

Bìa truyện ngắn “Bức tranh” của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Ảnh: Báo Giáo dục & Thời đại

Khuynh hướng chính của sự phát triển trong 50 năm qua, mặc dù trải qua không ít khó khăn, nhiều nhà văn trong số những người nhiều năm viết về chiến tranh trong chiến tranh, đã bứt lên, đổi mới mình, đáp ứng nhu cầu mới đương đại và đặc biệt các nhà văn hình thành vào cuối thời kỳ chống Mỹ, đã cho ra đời những tác phẩm thực sự đổi mới và minh chứng cho một quy luật không thể né tránh của mảng văn học về chiến tranh viết sau chiến tranh. Đó là sự đào sâu mới, là năng lực phân tích, bình giá và mổ xẻ hiện thực đa chiều phức tạp, đan xen nhau của chiến tranh là sự phân tích (tất nhiên bằng tư duy sáng tạo nghệ thuật), mối quan hệ cực kỳ phức tạp giữa số phận từng con người với biến cố chiến tranh, đó là năng lực khám phá và đặt ra những vấn đề nóng bỏng nhất trong chiến tranh và sau chiến tranh do tác động dai dẳng của chiến tranh trong đời sống của từng cá nhân và của toàn xã hội. Không chỉ các nhà văn đã sáng tạo trong chiến tranh hay trực tiếp là người trong cuộc” chiến tranh, mà một số cây bút tìm hiểu gián tiếp chiến tranh cũng nỗ lực viết theo xu hướng này.

Xin nêu một vài tác phẩm mà tôi đã đọc trong 5, 6 năm qua, không có ý định sắp xếp hay chọn lọc, như Nhật ký đời lính, Chuyện lính Tây Nam, Chuyện năm 1968, Sống và kể lại, Chúng tôi thời hậu chiến, Gió bụi đầy trời, Đi qua cuộc chiến, Suối Cọp, Nỗi đau sau chiến tranh, Thượng Đức, Người đàn bà đi qua chiến tranh, Bất chợt mai vàng, Lặng yên sau cơn mưa, Khắc tinh với thần chết, Gãy cánh điệp viên, v.v… Nếu nhìn xu hướng này như một nhu cầu xã hội – thẩm mỹ khách quan, một quy luật nội tại của bản thân sự sáng tạo, thì nó sẽ phát triển và là nguồn mạch chủ yếu tạo ra những tác phẩm có giá trị lớn về các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta những năm qua. Và như vậy, đề tài này sẽ không bị đứt gãy vì các thế hệ nhà văn kế tiếp sẽ nhìn lại cuộc chiến tranh từ góc nhìn đương đại của mình để thấu hiểu và đồng hóa” hiện thực chiến tranh trong quá khứ, phục vụ cho nhu cầu mới, bảo vệ và xây đất nước trước một thực tiễn mới trong thời đại họ sống.

Mấy năm gần đây đã xuất hiện những cây bút trẻ như vậy. Chiến tranh trong quá khứ, dù nó đã lùi xa, dù hiện tại và tương lai có thể đã và đang nhiều biến động phức tạp mới, vẫn không thể bị lãng quên, vẫn là một đề tài lớn và hấp dẫn, bởi vì xét cho cùng, mục tiêu sáng tạo không phải kể tả lại chiến quả để chiêm ngưỡng, ngắm nhìn, mà tìm ra những vấn đề sâu xa, căn cốt, bài học lịch sử của đời sống con người trong một quan hệ phức tạp nhất, không bình thường, của bản thân đời sống đó – quan hệ biến cố chiến tranh và số phận con người, số phận dân tộc.

Xu hướng thứ ba, do chịu sự tác động hết sức phức tạp của điều kiện chính trị – xã hội, tư tưởng của giai đoạn lịch sử đầy biến động 50 năm qua, do chưa có được sự thấu hiểu đầy đủ tính đặc thù của cuộc chiến tranh ở nước ta và ít nhiều do bản lĩnh sáng tạo, đã ra đời một vài tác phẩm viết về chiến tranh theo khuynh hướng nhìn méo mó hiện thực, chỉ tập trung đi tìm những cái mất mát, đau thương, bi thảm, éo le, ác độc, lố bịch… xảy ra trong chiến tranh, từ đó coi là toàn bộ hiện thực chiến tranh. Một vài cây bút phê bình, ảnh hưởng luận điểm được “nhập khẩu” vào nước ta, đã vội gọi cuộc chiến đấu đầy hy sinh và vĩ đại của dân tộc là “chiến tranh ủy nhiệm”, là “nội chiến”, nồi da nấu thịt. Song, những cách nghĩ sai lệch đó không có vị trí đủ tác động tiêu cực đến đời sống văn học.

Giải đáp các câu hỏi mới

Chúng ta đã chiến thắng các cuộc chiến tranh giải phóng. Đó là sự thật lịch sử hiển nhiên. Giờ đây, sau nhiều năm, viết về các cuộc chiến đó, có lẽ, không phải để tụng ca chiến thắng mà phải tìm ra và giải đáp các câu hỏi mới: Cội nguồn dẫn tới chiến thắng, cái giá của chiến thắng, số phận con người trong chiến tranh và bài học lịch sử cho hôm nay và mai sau. Văn học về chiến tranh viết sau chiến tranh đã đi từ hiện thực “lộ thiên” của biến cố chiến tranh để đào sâu tìm đến những vấn đề trên.

Như vậy, miêu tả và lý giải, tái hiện và khám phá là phép tư duy biện chứng trong sáng tạo văn học về chiến tranh viết sau chiến tranh. Và ngay trong miêu tả và tái hiện hiện thực chiến tranh cũng đòi hỏi tư duy “đào sâu” để cho hiện thực chiến tranh hiện ra trong tất cả cung bậc và âm hưởng của nó: Anh hùng và hèn nhát, vững vàng và gục ngã, hùng tráng và bi kịch, chiến công và những hy sinh, mất mát, niềm vui và nỗi đau, chiến thắng và thất bại, trung kiên và phản bội, đầu hàng, sự giằng xé của thế giới nội tâm trước những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu cao đẹp và cả bi kịch…

Thực ra, trong chiến tranh, những vấn đề trên là hiện thực, có thật. Song, tự nguyện làm người chiến sĩ – nghệ sĩ đồng hành với đồng đội đang chiến đấu, lúc đó, nhà văn đã lựa chọn cái đẹp, cái cao thượng, cái hy sinh – âm hưởng chủ đạo của cuộc chiến – để tạo nên sức cổ vũ, động viên, vẫy gọi đồng đội, nhân dân vượt qua những đau thương, mất mát để giành chiến thắng. Giờ đây, chiến thắng đã là sự thật, văn học sau chiến tranh có khát vọng lý giải nó, làm rõ cho những người đương đại thấu hiểu cái giá, dù là đau đớn và to lớn, để đi tới chiến thắng. Diện mạo số phận con người, chiều sâu, tính “đa chiều phức tạp” của chiến tranh được khám phá từ khát vọng đó của các nhà văn viết về chiến tranh sau chiến tranh.

Đối với các nhà văn những năm qua và nhiều năm sau, các cuộc kháng chiến đã là quá khứ, song tác động, sức ám ảnh của nó đối với cuộc sống và con người đương đại vẫn còn lâu dài, cả những giá trị tốt đẹp và cả những hậu quả dai dẳng… Từ đó, quá khứ chiến tranh và cuộc sống hiện tại, số phận con người trở thành một “cặp phạm trù” đan kết nhau, tác động lẫn nhau rất nhiều tác phẩm viết về chiến tranh sau chiến tranh. “Sự gặp gỡ với hiện tại” như là một đặc điểm, trở thành một cảm hứng lớn trong các tác phẩm đó.

Tôi đã đọc nhiều tác phẩm viết theo xu hướng này, từ Nguyễn Minh Châu trong Bức tranh cách hôm nay gần 50 năm đến tập truyện tôi mới đọc gần đây nhất của Nguyễn Trí Huân Bất chợt mai vàng (xuất bản 2024). Ở khuynh hướng này, số phận con người đã đi qua chiến tranh hoặc đã sống trong chiến tranh và sau chiến tranh được khắc họa và khám phá. Những người lính trở về đời thường cả vinh quang và mất mát, được ca ngợi hoặc bị lãng quên, thầm lặng chịu đựng để vượt qua và trụ vững trước những thách thức mà họ không hình dung được. Những người lính thủy chung đi tìm đồng đội. Đặc biệt, những người mẹ, người vợ, người yêu, nữ thanh niên xung phong… với sức chịu đựng ghê gớm để sống, để đứng vững trước những mất mát lớn lao và thử thách khắc nghiệt trong và sau chiến tranh.

Dù có sự biến đổi mạnh và sâu trong tư duy sáng tạo của nhiều nhà văn, cả già và trẻ, khi viết về chiến tranh sau chiến tranh, song với bản lĩnh và sự trung thực khi nhìn nhận các cuộc kháng chiến của dân tộc ta, chúng ta đang có một dòng văn học về chiến tranh giàu tính nhân văn, đậm chất dân tộc và từng bước hòa nhập vào dòng chảy chung của văn học thế giới đương đại. Tôi nghĩ, mong và tin như vậy.

GS. Đinh Xuân Dũng




Nguồn: Arttimes.vn

“Truyện Kiều” được ra mắt với diện mạo mới


Nhân dịp kỉ niệm 260 năm ngày sinh (1765-2025) và tưởng niệm 205 năm ngày mất (1820-2025) của đại thi hào Nguyễn Du, Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt ấn bản “Truyện Kiều” với minh họa của họa sĩ Nguyễn Công Hoan.

“Truyện Kiều” là một kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam, với 3254 câu thơ được viết theo thể lục bát, tác phẩm kể về cuộc đời của Thúy Kiều – một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng phải trải qua nhiều sóng gió truân chuyên.

Suốt hơn hai thế kỷ, “Truyện Kiều” không chỉ hiện diện như một kiệt tác văn chương mà còn thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành một phần trong tâm thức người Việt. Bằng tài năng và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Du đã gửi gắm vào tác phẩm những giá trị hiện thực sâu sắc cùng tinh thần nhân đạo, nhân văn cao cả. Chính vì vậy, học giả Phạm Quỳnh từng khẳng định một cách hàm súc rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

“Truyện Kiều” được ra mắt với diện mạo mới - 1

Ấn bản “Truyện Kiêu” mới ra mắt của NXB Kim Đồng.

Nhiều phiên bản của “Truyện Kiều” đã được sáng tạo và giới thiệu, khẳng định sức sống mãnh liệt của tác phẩm truyện thơ Nôm này.

Ấn bản “Truyện Kiều” mới ra mắt được minh họa bởi họa sĩ Nguyễn Công Hoan – người được biết đến với phong cách vẽ tranh riêng biệt, màu sắc tinh tế và thấm đẫm tinh thần cổ điển. Hơn 40 bức tranh minh họa đã góp phần khoác lên kiệt tác truyện thơ một diện mạo mới mẻ, sáng tạo, mang đến cho độc giả nhiều bất ngờ thú vị.

Các bức tranh được họa sĩ Nguyễn Công Hoan tỉ mỉ vẽ trên giấy xuyến chỉ, có lúc anh phải hong giấy dưới đèn để tránh bị loang mực. Các tranh vẽ sử dụng tông màu vàng và xanh lá là chủ đạo, khắc họa những tình tiết chính trong mỗi phần truyện: Thuý Kiều và Thuý Vân đánh đàn, thưởng hoa; hai chị em đi lễ Thanh minh; Kiều gặp Kim Trọng… Họa sĩ Nguyễn Công Hoan đã mất nhiều thời gian để tìm ra cách thức thể hiện tranh phù hợp với không khí, bối cảnh của truyện, sau đó dành hơn hai năm hoàn thiện. Có những tranh anh vẽ nhiều phiên bản, sửa chữa nhiều lần trước khi chọn ra bản ưng ý nhất.

“Truyện Kiều” được ra mắt với diện mạo mới - 2

Tác phẩm gồm 40 tranh minh họa của họa sĩ Nguyễn Công Hoan.

Họa sĩ Tạ Huy Long, biên tập viên mỹ thuật Nhà xuất bản Kim Đồng cho biết, nhờ vào khả năng quan sát tinh tế, tài năng độc đáo, họa sĩ Nguyễn Công Hoan đã khắc họa thế giới nghệ thuật “Truyện Kiều” đúng với tinh thần của thời đại Nguyễn Du. Và cho thấy đây là tác phẩm “Truyện Kiều” có minh họa màu mang đậm dấu ấn Việt Nam với những chi tiết đặc trưng như: rặng liễu, khóm tre, buồng cau, cây chuối…

Thông qua ấn bản “Truyện Kiều” lần này, Nhà xuất bản Kim Đồng mong muốn làm mới cách tiếp cận các tác phẩm kinh điển của văn học trung đại Việt Nam, hướng tới việc kết nối sâu sắc hơn với độc giả hôm nay, đặc biệt là thế hệ trẻ.

“Truyện Kiều” được ra mắt với diện mạo mới - 3

Loạt sách được làm mới của NXB Kim Đồng.

Cùng loạt sách này còn có những tác phẩm như: “Lĩnh Nam chích quái”, “Truyền kỳ mạn lục”, “Nam Hải dị nhân liệt truyện”… tất cả đều được đầu tư công phu từ minh họa màu, thiết kế đến chất lượng in ấn.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Nghị quyết 80-NQ/TW và yêu cầu chấn hưng văn hóa trong thời kỳ mới


Ngày 07/01/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết này không chỉ là bước tiếp nối các nghị quyết trước đây của Đảng về văn hóa, mà còn đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo: Văn hóa được đặt đúng vị trí là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và là nền tảng bền vững cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ đây, yêu cầu chấn hưng văn hóa không còn là một khẩu hiệu mang tính kêu gọi, mà trở thành nhiệm vụ chiến lược, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và toàn xã hội. Từ góc nhìn của người làm công tác văn học nghệ thuật, có thể thấy rằng Nghị quyết 80 không chỉ đặt lại vị trí của văn hóa trong chiến lược phát triển, mà còn mở ra một không gian tư duy mới cho đời sống sáng tạo hôm nay.

Khi văn hóa trở thành vấn đề chiến lược của phát triển

Không phải ngẫu nhiên mà trong những năm gần đây, văn hóa được đặt lại như một vấn đề trung tâm của phát triển. Sau nhiều thập niên đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế, đời sống vật chất của nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế quốc gia ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, đi cùng với những thành tựu ấy là không ít trăn trở: sự lệch chuẩn trong hệ giá trị, những biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, sự xuống cấp trong thẩm mỹ xã hội, khoảng cách ngày càng rõ giữa phát triển kinh tế và phát triển con người.

Thực tiễn ấy đặt ra một câu hỏi lớn: phát triển để làm gì, và phát triển dựa trên nền tảng nào? Khi tăng trưởng kinh tế không tự thân bảo đảm sự bền vững của xã hội, thì văn hóa với tư cách là hệ giá trị, là nền tảng tinh thần và là sức mạnh nội sinh trở thành yếu tố quyết định chiều sâu và chất lượng của phát triển. Chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết 80-NQ/TW ra đời như một sự trả lời có tính chiến lược cho yêu cầu chấn hưng văn hóa trong thời kỳ mới.

Nghị quyết 80-NQ/TW và yêu cầu chấn hưng văn hóa trong thời kỳ mới - 1

Ảnh minh họa.

Từ nền tảng tinh thần đến nguồn lực nội sinh

Trong các giai đoạn phát triển, các nghị quyết của Đảng trước đây về văn hóa đã từng bước xác lập những quan điểm rất quan trọng: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển; xây dựng văn hóa phải gắn chặt với xây dựng con người; văn học, nghệ thuật là bộ phận tinh tế của văn hóa, có vai trò đặc biệt trong bồi dưỡng nhân cách, tâm hồn và thẩm mỹ xã hội. Những quan điểm ấy đã tạo nên một hệ thống tư duy tương đối hoàn chỉnh về vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước.

Tuy nhiên, Nghị quyết 80 đã đi thêm một bước quan trọng khi khẳng định rõ ràng: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh của phát triển. Đây không đơn thuần là sự thay đổi trong cách diễn đạt, mà là một bước chuyển về chất trong tư duy. Văn hóa không còn được nhìn chủ yếu như “phần đi kèm” của phát triển, mà được xác lập như một trong những nguồn lực quyết định khả năng phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Khi văn hóa được nhìn nhận như một nguồn lực nội sinh, điều đó có nghĩa là những giá trị tinh thần, bản sắc, truyền thống, trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển. Phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, công nghiệp văn hóa, hội nhập quốc tế… đều cần được nuôi dưỡng và dẫn dắt bởi nền tảng văn hóa vững chắc. Đây chính là điểm nhấn có tính chiến lược của Nghị quyết 80.

Chấn hưng văn hóa là yêu cầu tất yếu của thời kỳ mới

Chấn hưng văn hóa không phải là khái niệm mới, nhưng trong Nghị quyết 80, yêu cầu này được đặt ra với nội hàm sâu sắc và toàn diện hơn. Chấn hưng không chỉ là bảo tồn, gìn giữ những giá trị truyền thống, mà còn là khơi dậy sức sống mới của văn hóa trong đời sống đương đại; không chỉ là phục hồi những chuẩn mực đã bị mai một, mà còn là kiến tạo những giá trị mới phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập.

Trong thời kỳ mới, chấn hưng văn hóa phải được hiểu là quá trình đồng thời: củng cố nền tảng giá trị, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, và phát huy văn hóa như một nguồn lực sáng tạo. Đó là một quá trình lâu dài, đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, sự kiên trì và những giải pháp đồng bộ.

Nghị quyết 80 nhấn mạnh yêu cầu chấn hưng văn hóa trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế – xã hội. Văn hóa không đứng ngoài, cũng không đứng sau, mà phải đi cùng và dẫn dắt phát triển. Khi văn hóa được đặt đúng vị trí, sự phát triển mới có chiều sâu, có bản lĩnh và có khả năng chống chịu trước những biến động phức tạp của thế giới hiện đại.

Văn học, nghệ thuật trong chiến lược chấn hưng văn hóa

Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết 80 là việc đặt văn học, nghệ thuật vào trung tâm của chiến lược chấn hưng văn hóa. Văn học, nghệ thuật không chỉ là lĩnh vực phản ánh đời sống, mà còn là không gian sáng tạo giá trị, nơi hình thành và lan tỏa những cảm xúc nhân văn, những chuẩn mực thẩm mỹ và những lý tưởng sống cao đẹp.

Trong bối cảnh xã hội chịu tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, của truyền thông số và các trào lưu văn hóa ngoại lai, văn học, nghệ thuật càng có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc, định hướng thẩm mỹ và nuôi dưỡng chiều sâu tinh thần của con người. Nghị quyết 80 nhìn nhận văn học, nghệ thuật như một phương thức đặc biệt quan trọng để xây dựng con người, khơi dậy khát vọng phát triển và củng cố bản lĩnh văn hóa dân tộc.

Điều đáng nói là, cùng với việc nâng tầm vai trò của văn học, nghệ thuật, Nghị quyết 80 cũng đặt ra yêu cầu rất cao đối với đội ngũ văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ không chỉ sáng tác cho hiện tại, mà còn góp phần kiến tạo những giá trị lâu dài cho xã hội; không chỉ phản ánh đời sống, mà còn tham gia định hình những lý tưởng và chuẩn mực của thời đại.

Từ quản lý văn hóa đến kiến tạo môi trường văn hóa

Một bước tiến quan trọng khác trong tư duy của Nghị quyết 80 là sự chuyển dịch từ cách tiếp cận thiên về quản lý sang cách tiếp cận kiến tạo. Quản lý văn hóa là cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở quản lý thì khó có thể phát huy được sức sáng tạo và tính năng động của đời sống văn hóa. Nghị quyết 80 nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc kiến tạo môi trường, cơ chế và điều kiện để văn hóa phát triển lành mạnh, sáng tạo và bền vững.

Điều này thể hiện một tư duy hiện đại về quản trị văn hóa: tôn trọng quy luật sáng tạo, đề cao tự do sáng tạo gắn với trách nhiệm xã hội, đồng thời tạo dựng những thiết chế và chính sách phù hợp để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực phát triển. Trong môi trường ấy, văn học, nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sĩ có thể phát huy tối đa năng lực sáng tạo, đóng góp tích cực vào quá trình chấn hưng văn hóa.

Chấn hưng văn hóa trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh sức mạnh mềm

Thời kỳ mới cũng là thời kỳ hội nhập sâu rộng, khi cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra trên phương diện kinh tế hay quân sự, mà còn ở lĩnh vực văn hóa và sức mạnh mềm. Hình ảnh quốc gia, bản sắc văn hóa, những giá trị nhân văn được lan tỏa qua văn học, nghệ thuật, điện ảnh, truyền thông… trở thành yếu tố quan trọng quyết định vị thế của một đất nước trên trường quốc tế.

Nghị quyết 80 đã nhìn nhận rõ điều đó khi đặt phát triển văn hóa trong mối quan hệ với công nghiệp văn hóa và hội nhập quốc tế. Chấn hưng văn hóa không có nghĩa là khép kín hay bảo thủ, mà là mở ra những khả năng sáng tạo mới, đưa các giá trị văn hóa Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy chung của nhân loại với bản lĩnh và sự tự tin.

Như vậy, văn học nghệ thuật đóng vai trò như những “sứ giả tinh thần”, kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật giàu cảm xúc và chiều sâu. Chính từ những tác phẩm có giá trị, hình ảnh con người và văn hóa Việt Nam mới có thể lan tỏa một cách tự nhiên, thuyết phục và bền vững.

Từ nghị quyết đến đời sống, thách thức và kỳ vọng

Một nghị quyết chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động và đi vào đời sống. Với Nghị quyết 80, thách thức lớn nhất nằm ở khâu tổ chức thực hiện: làm thế nào để những quan điểm chiến lược về chấn hưng văn hóa trở thành những chương trình, chính sách cụ thể; làm thế nào để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, chứ không chỉ là khẩu hiệu.

Điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, của các thiết chế văn hóa, các hội văn học, nghệ thuật và toàn xã hội. Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ là vô cùng quan trọng. Họ vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là lực lượng trực tiếp hiện thực hóa tinh thần của nghị quyết trong đời sống văn hóa.

Từ đó có thể thấy, Nghị quyết 80-NQ/TW đã mở ra một chân trời tư duy mới về văn hóa, nơi văn hóa không chỉ được nhìn nhận như nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia. Yêu cầu chấn hưng văn hóa trong thời kỳ mới, vì thế, không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Chấn hưng văn hóa là hành trình dài, đòi hỏi niềm tin, khát vọng và sự kiên trì. Đó là hành trình khơi dậy những giá trị tốt đẹp đã được hun đúc qua lịch sử, đồng thời kiến tạo những giá trị mới cho tương lai, để Việt Nam vững vàng và tự tin bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Đặng Thị Thúy




Nguồn: Arttimes.vn

“Dưới bóng ô liu” và “Hòn đá của Murad”: Khi hai tập thơ chung một thông điệp nhân văn


Ngày 16/12, tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn (Hà Nội) đã diễn ra sự kiện ra mắt tác phẩm “Dưới bóng ô liu” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và “Hòn đá của Murad” của nhà thơ Murad Sudani – Chủ tịch Hội Nhà văn Palestine.

Tại sự kiện, ông Saadi Salama – Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhà nước Palestine tại Việt Nam chia sẻ, ông mang một cảm xúc rất đặc biệt khi tới tham dự buổi ra mắt sách này. Đồng thời ông cũng bày tỏ sự xúc động sâu sắc khi đọc những bài thơ của hai tác giả, bởi mỗi tác phẩm đều chất chứa những tình cảm và cảm xúc chân thành.

Ông Saadi Salama tin tưởng rằng, những thông điệp được gửi gắm trong các bài thơ không chỉ mang ý nghĩa đặc biệt đối với bạn đọc Việt Nam, mà còn có thể chạm tới trái tim của người dân Palestine, tiếp thêm cho họ nguồn động lực, niềm cảm hứng và niềm tin trên hành trình tìm kiếm độc lập của dân tộc mình.

"Dưới bóng ô liu" và “Hòn đá của Murad”: Khi hai tập thơ chung một thông điệp nhân văn - 1

Sự kiện ra mắt hai tác phẩm “Dưới bóng ô liu” và “Hòn đá của Murad” thu hút sự quan tâm của đông đảo độc giả.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa thì cho rằng, cả hai tác giả đều là những nhà thơ lớn, không chỉ có vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc mình mà còn chạm tới những vấn đề chung của nhân loại đương đại. Chính bởi chiều sâu tư tưởng và giá trị nhân văn ấy, thơ ca của họ có khả năng vượt qua mọi biên giới, đi thẳng từ trái tim người viết đến trái tim người đọc.

"Dưới bóng ô liu" và “Hòn đá của Murad”: Khi hai tập thơ chung một thông điệp nhân văn - 2

Tại đây, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (bìa phải) và nhà thơ Murad Sudani (thứ hai từ phải qua) đã có những chia sẻ sâu sắc về tác phẩm của mình.

Hòn đá của Murad được nhà thơ Murad Sudani viết vào tháng 11 năm 2023 với tất cả những bi thương, khát vọng bất diệt chất chứa bên trong một người Palestine: “Tôi đã lặn sâu xuống giếng thẳm tâm hồn mình và tìm thấy ‘Đá Murad’…”. Tập thơ cho thấy, trước hiện thực đầy ám ảnh, từ chiều sâu của mỗi con người Palestine, trong những đôi mắt luôn khát khao được sống, thơ ca đã cất lên tiếng nói của mình, trở nên mạnh mẽ, quyết liệt và đanh thép hơn bao giờ hết.

Chia sẻ về tác phẩm của mình, nhà thơ Murad Sudani cho biết, Hòn đá của Murad chính là những điều được ông mô tả lại những gì mà người dân Palestine đã và đang trải qua.

Murad Sudani sinh ra tại ngôi làng Deir Sudan, thuộc vùng Ramallah – một ngôi làng nằm nép mình trên ba ngọn đồi, được thung lũng bao bọc từ bốn phương tám hướng với những triền đồi đá và những ngôi nhà được xây lên từ đá.

“Tôi là đứa con của núi, là cậu bé lang thang đầy thương tích của núi, kẻ bị mê hoặc bởi những lời tụng ca của hoang vu và những thánh thi của bụi rậm man dại về ý nghĩa màu xanh, đánh thức sự lãng quên và mù lòa của chúng để phản chiếu lên những tấm gương thi ca, và chuyển hiện tại tới những gì nó sẽ trở thành trong tương lai”, tác giả Murad Sudani chia sẻ.

Với ông, hình ảnh hòn đá Palestine đã trở thành biểu tượng của tinh thần đấu tranh bất khuất của người Palestine: “Hòn đá Palestine là một huyền thoại của hành động trong tay những đứa trẻ của đá, những đứa trẻ tiếp nối bài hùng ca khi nắm chặt hòn than rực hồng của đá và vung lên chiếc ná của chiến thắng. Hòn đá Palestine đã xác lập vững chắc vị trí trong từ vựng của ngôn ngữ, hiện thân cho ý niệm vĩ đại về Palestine”.

"Dưới bóng ô liu" và “Hòn đá của Murad”: Khi hai tập thơ chung một thông điệp nhân văn - 3

Tập thơ “Hòn đá của Murad” của nhà thơ Murad Sudani.

Nếu Hòn đá của Murad chứa đựng tất cả những bi thương, khát vọng bất diệt chất chứa bên trong một người Palestine thì Dưới bóng ô liu là lời nguyện cầu hoà bình, kêu gọi sự thức tỉnh nhân tính để thắp lên hy vọng, nguyện cầu về tự do và những điều tốt đẹp mà người Palestine xứng đáng được hưởng.

Tác phẩm Dưới bóng ô liu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được ra đời vào tháng tháng 5 năm 2023 sau chuyến đi thực tế của Đoàn nhà văn Việt Nam tại đất nước Palestine.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ, ông chỉ ở Palestine 9 ngày, nhưng cảm giác quãng thời gian ấy dài như 9 năm, bởi ông đã được gặp gỡ những con người Palestine, đứng trên chính mảnh đất của họ và trực tiếp cảm nhận lịch sử, văn hóa cùng khát vọng của dân tộc này. Trong thời gian ở Palestine cũng như sau khi trở về Việt Nam, ông đã viết nhiều bài thơ về vùng đất ấy, và hôm nay tập thơ đó chính thức được ra mắt độc giả.

"Dưới bóng ô liu" và “Hòn đá của Murad”: Khi hai tập thơ chung một thông điệp nhân văn - 4

Tập thơ “Dưới bóng ô liu” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Cảm nhận về tập thơ Dưới bóng ô liu, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến chia sẻ: “Điều sâu xa mà các bài thơ của Nguyễn Quang Thiều hướng tới không phải là kể lể về Palestine, mà là tạo nên tiếng nói của một lương tri thi sĩ, kẻ nhìn thế giới bằng trái tim biết đau, biết sẻ chia và không im lặng trước cái ác. Với ngôn ngữ dung dị mà giàu lớp nghĩa, với hình ảnh biểu tượng cô đọng và giọng điệu nhẹ mà sâu, thơ ông không tạo bi kịch kịch tính, mà lặng lẽ gieo vào tâm trí người đọc một nỗi buồn cao cả, một tiếng vọng về tự do bị đánh cắp”.

Theo nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, qua Dưới bóng ô liu, Nguyễn Quang Thiều đã không chỉ quan sát bằng đôi mắt của người làm thơ, mà còn bằng trái tim của một chứng nhân. Trong các bài thơ của mình, nhà thơ không đơn thuần thuật lại hiện thực chiến tranh, mà đã khắc họa một miền đất rỉ máu và một dân tộc đau thương bằng giọng điệu vừa thầm thì, vừa bi thiết, là nơi thơ ca trở thành lời cầu nguyện, lời buộc tội và lời chứng của lịch sử.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn