Home Blog Page 92

Văn học, nghệ thuật và sứ mệnh phục vụ cách mạng


Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã lấy điểm tựa văn hoá vững chắc để xây dựng nền độc lập: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Truyền thống ấy được kế thừa, phát huy và nâng cao ở thời đại Hồ Chí Minh.

Văn hoá soi đường cho quốc dân đi 

Đánh giá cao vai trò của văn hóa, ngay từ năm 1943, Đảng ta đã xây dựng Đề cương về văn hoá Việt Nam với 3 nguyên tắc trụ cột: Dân tộc hóa – Đại chúng hóa – Khoa học hóa, mang tầm chiến lược một cương lĩnh hướng về tương lai. Ngay sau ngày Độc lập, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Bác Hồ nêu 6 nhiệm vụ cấp bách: chống giặc đói; chống giặc dốt; tổ chức tổng tuyển cử; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, cấm thuốc phiện; thực hiện tự do tín ngưỡng. Đầu thế kỷ XXI, từ điểm nhìn “Quyền con người”, nhiều nghiên cứu trên thế giới về Việt Nam khâm phục, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh vẫn chú ý hai nhiệm vụ diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Đó là cách giải quyết vì con người nhất, mang tính văn hoá cao nhất. Dân đói, dân dốt là nỗi bất hạnh của bất cứ quốc gia nào và ngược lại. Chỉ những trí thức lớn như Bác Hồ mới sâu đậm một tinh thần nhân văn cao cả, một tầm trí tuệ hiếm thấy trên cơ sở một tình yêu nước, yêu dân, vì dân và đặc biệt coi trọng tri thức. Bác Hồ và Đảng ta vĩ đại không chỉ đã kiến tạo một chính thể dân chủ mới, còn ở việc kiến tạo một nền mỹ học mới: nền mỹ học dân chủ, hạnh phúc, vì dân.

Nếu ở Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946) khẩu hiệu “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” của Bác Hồ chính thức được thực hiện, thì tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (7/1948), khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa. Văn hóa hóa kháng chiến” được quán triệt. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, Bác khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Đi suốt hai cuộc kháng chiến vĩ đại và sự nghiệp Đổi mới với những thành tựu đặc biệt, văn hoá Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ Bác nêu: “Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền cái lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”.

Sau cuộc gặp gỡ thân tình cởi mở giữa đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ (6-7/10/1987), ngày 28/11/1987 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 05 về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới như một làn gió mới, một ánh sáng mới hướng văn học vào quỹ đạo của sự phát triển. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết đánh giá chất lượng văn nghệ từ sau 1975 “nói chung còn thấp, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị nói chung còn ít”. Nghị quyết khẳng định với giá trị văn hóa có tác dụng lâu dài, bền vững, văn nghệ là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người. Như vậy Đảng đã rất đề cao mục tiêu, vai trò, nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cũng như đặc trưng của văn học nghệ thuật.

Văn học, nghệ thuật và sứ mệnh phục vụ cách mạng - 1

Ảnh minh họa

Quan điểm đúng đắn: Văn hoá là nền tảng, là mục tiêu, là sức mạnh nội sinh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Quan điểm này không chỉ phù hợp với thời toàn cầu hoá văn hoá của thế giới, còn là sự đề cao, lấy giá trị văn hoá làm nền tảng, là sức mạnh nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Cũng hoàn toàn phù hợp với triết học về con người của thế giới đương đại lấy con người làm trung tâm, coi con người là chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững. Trong bài phát biểu chỉ đạo Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ ba (11/2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Đảng đã đánh giá cao sự đóng góp của văn học-nghệ thuật Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đã “Xứng đáng đứng vào vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới”. Sau Hội nghị, những chủ trương, chính sách văn hóa lớn đã đi vào thực tiễn, kết nhiều trái thơm văn hoá toả hương nhân văn ra cả thế giới. Tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành văn hóa (28/8/1945 – 28/8/2025), Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vai trò văn hóa định hình hệ giá trị quốc gia. 

Làm theo và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, văn học nghệ thuật, Đảng ta coi sự phát triển văn hóa ngang hàng với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Các quan điểm, ý kiến chỉ đạo của Đảng được cụ thể hoá trở thành điểm tựa sáng tạo, là niềm cổ vũ, thúc đẩy, khuyến khích sáng tạo. Quốc hội, Chính phủ đã tiến hành sửa đổi, bổ sung, thông qua nhiều luật quan trọng như Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh…; thông qua quyết định chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035. Tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030, hướng tới 9 dự án thành phần chiến lược, về phát triển con người, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bảo tồn di sản, thúc đẩy văn học-nghệ thuật, phát triển công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh chuyển đổi số… Từ ngày 15/02/2026, Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học sẽ chính thức có hiệu lực, thể hiện ở: Hỗ trợ phát triển văn học; tổ chức trại viết, trại sáng tác văn học; cuộc thi viết, cuộc thi sáng tác tác phẩm văn học; giải thưởng văn học; giới thiệu, quảng bá, phổ biến văn học trong nước và ngoài nước.

Văn hoá “vươn mình” vào kỷ nguyên mới

Chính phủ vừa mới phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với 10 ngành: Điện ảnh; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản. Đây có thể coi là chìa khoá để mở ra cánh cửa công nghiệp văn hóa hướng tới mục tiêu đến năm 2030 đóng góp 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí ở châu Á, tiến tới khẳng định vị thế của công nghiệp văn hóa thế giới.

Hai năm 2024-2025, hàng loạt sự kiện văn hoá lớn của đất nước được tổ chức thành công rất tốt đẹp: Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 80 năm Đề cương văn hóa Việt Nam, 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam, 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… cùng hàng loạt hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm,… thu hút, hấp dẫn hàng triệu người dân và khách quốc tế.

Các sự kiện, ngoài góp phần lan toả, nhân lên tình yêu Tổ quốc, còn là sự thúc đẩy ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Đặc biệt, lĩnh vực điện ảnh trong 3 năm gần đây có nhiều bộ phim chất lượng có doanh thu lớn (cá biệt phim Mưa đỏ doanh thu gần 800 tỷ đồng). Theo đánh giá của ngành văn hoá, các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí tiếp tục có bước phát triển tích cực, có những đóng góp rất khả quan vào ngân khố quốc gia.

Văn nghệ sỹ và sự nghiệp sáng tạo “tác phẩm xứng đáng”

Khoa nhân học văn hóa quan niệm văn hóa có hai tầng, bề nổi, cái thấy được và bề chìm (tức chiều sâu) không thấy được. Bề nổi là những hiện vật, di sản, truyền thống lịch sử… ai cũng thấy. Quan trọng hơn, cái làm nên sức mạnh “mềm” văn hóa – tức sức mạnh tinh thần của cộng đồng, là ở bề sâu, mà cho đến nay chưa nhà nghiên cứu nào khái quát được vào các khái niệm khoa học, cụ thể. Vẫn gọi chung là “vô thức cộng đồng” chưa rõ ràng về ngoại diên và nội hàm khái niệm. Người Mỹ thành thực thú nhận họ thua Việt Nam là do chưa hiểu văn hóa Việt Nam tức là chưa hiểu cái phần chìm này. Thực ra không phải chỉ người Mỹ mà hầu hết đều chưa hiểu. Như vậy văn hoá vẫn còn là khu vực cần đầu tư nghiên cứu sâu nhiều hơn nữa, nhất là mảng tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh. 

Xét đến cùng sứ mệnh cao cả nhất của các nhà văn hóa là kiến tạo những nhân cách văn hóa, tức con người. Văn hóa nào con người nấy. Thế nên vai trò của văn nghệ sĩ như là những kiến trúc sư “thiết kế” mô hình con người của tương lai. Quy luật tồn tại và phát triển của văn học nghệ thuật là quy luật của cái riêng, cái đơn nhất với cơ sở gốc là cá tính sáng tạo mà sự hình thành của nó, ngoài năng khiếu chủ quan còn là sự may mắn hội tụ tinh hoa của thời đại, vùng văn hóa, cuộc sống, nghề nghiệp… Khi kết tinh thành tài năng, cá tính sáng tạo lại trở về hòa nhập với đời sống. Những trái cây tác phẩm của họ như những hạt lúa vàng mẩy luôn có xu hướng níu mình về gốc. Những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… đều như thế. Không ngẫu nhiên, họ thường viết về cái bình thường, nhỏ bé như cây chuối, cây rau, hớp cháo… 

Kế thừa, phát triển từ phản ánh luận, lý thuyết mô hình hiện đại quan niệm, về bản chất, sự sáng tạo tác phẩm nghệ thuật là tạo ra một mô hình đời sống mới. Là mô hình, chứ không phải bản thân đời sống (tức không sao chép), tác phẩm là “cuộc sống thứ hai” thoát thai từ đời sống thực, “sâu rễ, bền gốc” từ đời sống thực. Nhìn vào tác phẩm, vừa thấy hiện thực được khúc xạ, vừa thấy tài năng, tâm hồn người nghệ sỹ. “Hiện thực” ở đây là “cảm thấy” (chứ không phải “nhìn thấy”), tức “hiện thực” được nhào nặn, kết tinh từ vốn sống, hiểu biết, vốn đọc… của chủ thể. Nhờ vậy, hình tượng nghệ thuật mới lấp lánh sống động, bởi được ánh xạ từ các luồng sáng văn hóa từ nhiều đời sống, hôm qua, hôm nay, thậm chí cả ngày mai. Văn học phản ánh đời sống là đúng, nhưng chỉ là bề nổi. Chủ yếu là quá trình “liên văn hóa” bền bỉ và lâu dài diễn ra ở bề sâu, do không khí thời đại, do năng lực chủ quan cá nhân.

Căn cứ vào thực tế Đảng lãnh đạo thành công văn học nghệ thuật hơn 80 năm qua, dựa vào lý thuyết “triết học liên văn hóa” (The Intercultural Philosophy) mới, xin đưa ra vài bài học tham khảo trả lời câu hỏi làm thế nào để có “tác phẩm xứng đáng” như Bác Hồ nói:

Một, bài học bám sát vào sự lãnh đạo của Đảng. Không hề là chuyện chính trị, chỉ căn cứ vào thực tiễn từ Đổi mới 1986, đến Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đến Nghị quyết 05-NQ/TW (2022) tập trung vào việc đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng về văn học, nghệ thuật, đều đem đến một sức sống mới cho văn hóa Việt Nam. Đó là đường lối, là ánh sáng, là điểm tựa cho văn nghệ phát triển đi lên. Đảng khởi xướng, lãnh đạo đổi mới sẽ là tiền đề cho văn nghệ Việt Nam mang một tầm vóc sánh vai với các nền văn nghệ năm châu. Dưới cờ Đảng, văn học nghệ thuật phục vụ nhân dân, đất nước, vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đó là nguyên lý, chân lý, cũng là đạo lý.

Hai, Chủ nghĩa Mác coi hiện thực là nguồn gốc của nhận thức. Là một hình thái ý thức, văn nghệ càng phải đi sâu vào mảnh đất hiện thực, phải ngụp lặn xuống tận đáy dòng sông cuộc đời để nắm bắt, tìm hiểu, khái quát, mô tả bản chất cuộc sống. Thoát ly hiện thực, nghệ thuật nhất định khô héo. Một nhà văn nói muốn ướp được người, mình phải mặn trước. Một nhà triết học nói đại ý: phải cắn vỡ xương mới hút được tủy. Các vị ấy muốn nói tới sự nhập thân vào đời sống, dũng cảm tìm ra cái lõi của sự kiện mới viết hay được. Ngày nay chúng ta hay gọi là tâm huyết – tiền đề cho sáng tạo. Chỉ có từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống mới có thể nảy nở những tài năng. Không có cách nào khác, muốn rèn luyện tài năng, người nghệ sĩ phải trở về cái gốc của nghệ thuật là đời sống sự thật muôn màu muôn vẻ. 

Ba, lịch sử văn hóa nhân loại cho thấy bất kỳ sáng tác lớn nào cũng đều được bắt nguồn từ truyền thống và có những dấu ấn cách tân cá nhân rất rõ. Như vậy, sáng tạo phải bay nhịp nhàng trên đôi cánh truyền thống, dân tộc và đổi mới, hiện đại.

Bốn, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, để cạnh tranh với AI, như cây xanh, người nghệ sĩ phải cần cù cắm sâu các chùm rễ khỏe mạnh vào các mảnh đất truyền thống dân tộc, văn minh thế giới và cuộc sống đương đại; vươn cao cành lá vào bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng lý tưởng của Chủ nghĩa Mác và Tư tưởng Hồ Chí Minh, của tình yêu hòa bình, hữu nghị; mới có thể kết được những trái tác phẩm vừa có mẫu số chung của văn hóa nhân loại, vừa nồng nàn tính riêng. Như đã nói ở trên, việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lập trường, bản lĩnh cho văn nghệ sĩ là rất quan trọng, phải được rèn luyện thường xuyên, thực chất, hiệu quả.

Quyết định chất lượng văn học nghệ thuật là chủ thể người nghệ sĩ. Do vậy, công tác phát triển văn hóa cần đầu tư trọng tâm vào vấn đề con người, từ phát hiện năng khiếu, giáo dục lý tưởng, bồi dưỡng nhân cách, tạo môi trường hoạt động…

Thời hội nhập và công nghệ, để cạnh tranh với AI, hướng đi tích cực nhất vẫn là “liên văn hóa”. Để đủ vốn kiến tạo những hình tượng bao bọc nhiều lớp nghĩa, đa dạng, phong phú về nội dung; sinh động, hấp dẫn về hình thức, tức tác phẩm sẽ “nói mãi không cùng”, người nghệ sĩ không chỉ đào sâu vào kho báu văn hóa nước nhà, còn phải “giải mã” để tích hợp chất vàng ròng văn hóa thế giới. Cũng chỉ theo con đường này, tác phẩm mới vươn tới cái đích “mẫu số chung” của văn hóa nhân loại. Tự nhiên, tầm tiếp nhận sẽ rộng mở ra nhiều chân trời khác nhau. Trong khi đó, dù “siêu” đến đâu chăng nữa, nhưng vì là “máy” nên AI không thể tạo ra “hiện thực cảm thấy” để có một “cuộc sống thứ hai” với sự thấu hiểu sâu sắc nhiều cảnh đời, thấu cảm đậm đà bao lẽ người…  

Nguyễn Thanh Tú




Nguồn: Arttimes.vn

Tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI – Ý thức giới của những diễn ngôn cá nhân


“Tôi muốn xã hội hãy đọc tác phẩm của các nhà văn nữ như một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu. Vì đó chính là tiếng lòng của họ, là những khát khao tự giải phóng bản thân mình” (Y Ban).

Bền bỉ sáng tác hơn bốn mươi năm, tập trung chủ yếu vào các câu chuyện của đàn bà, Y Ban có lẽ là nhà văn có đủ thẩm quyền để thay mặt các cây bút nữ khẳng định sự hiện diện của tiếng nói nhà văn, tiếng nói nữ giới trong văn chương Việt nửa thế kỉ từ sau giải phóng đến nay. “Khát khao tự giải phóng bản thân”, các nhà văn nữ đã đưa ý thức giới vào văn chương, vào tiểu thuyết, và từ những câu chuyện cá nhân để thấu hiểu hơn số phận của giới nữ trong số phận chung của dân tộc, của lịch sử. 

Cuối thế kỉ XX, đặc biệt trong hơn 20 năm đầu thế kỉ XXI, với sự vận động, phát triển thể loại, tiểu thuyết của nữ giới cũng bội thu, nở rộ nhiều phong cách. Sự xuất hiện nhiều thế hệ nhà văn nữ, với lối viết mang đặc trưng giới tính, đã làm nên một dòng văn học nữ, đóng góp đáng kể cho thành tựu chung của tiểu thuyết đương đại. Có thể điểm qua hàng loạt tên tuổi đã làm nên diện mạo của tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI. Đó là các nhà văn đã thành danh từ cuối thế kỉ XX và tiếp tục có thành tựu những năm đầu thế kỉ XXI; những nhà văn mà cái không khí chiến tranh và những năm tháng thời bao cấp ít nhiều vẫn in dấu trong các tác phẩm của họ như Dạ Ngân, Lý Lan, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Bích Ngân, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà… Đó là các nhà văn ở hải ngoại mà kí ức về một Việt Nam thời hậu chiến vẫn chưa bao giờ bị xóa nhòa, trong những va chạm với các vùng văn hóa mới như Đoàn Minh Phượng, Lê Minh Hà, Thuận… Đó còn là những nhà văn lớp sau, thuộc thế hệ 7x, 8x, mà quan niệm và lối viết đã thể hiện rõ một tư duy nghệ thuật mới, không chỉ bắt kịp mà còn hội nhập với văn chương đương đại của thế giới như Phan Hồn Nhiên, Phan Việt, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Dương Thụy, Nguyễn Quỳnh Trang, Di Li, Nguyễn Khắc Ngân Vy, Trường An… Mỗi thế hệ, mỗi nhà văn có một lựa chọn, một lối viết, một hướng đi riêng; song, tất cả họ, một cách có ý thức và cả vô thức, đều thể hiện tiếng nói của giới, qua những câu chuyện cá nhân được nhìn từ điểm nhìn nữ giới.

Từ đàn bà đến “đàn bà hư ảo” và sự trỗi dậy của ý thức giới

Nhiều ý kiến cho rằng, phân biệt nhà văn nam và nhà văn nữ là một biểu hiện của bất bình đẳng giới. Nhiều nhà văn nữ cũng chỉ muốn xác lập vị thế trong tư cách một nhà văn, không cần thêm thành phần xác định giới tính ấy vào danh xưng. Quan niệm này không phải không có lý khi cái làm nên giá trị của tác phẩm và thành công của người viết vốn không phải là giới tính. Tuy vậy, một thực tế không thể phủ nhận rằng, luôn có một bản chất giới, cái bản chất thiên phú tạo hoá đã mặc định ở người nữ, ẩn hiện ở những trang văn nữ giới, ngay cả khi những câu chuyện được đề cập ấy không chỉ dành riêng cho giới nữ. Nhân danh tiếng nói đàn bà, ngay cả khi chạm đến mọi phương diện của cuộc sống đương đại, tiểu thuyết của các nhà văn nữ, dường như, vẫn không đi ra khỏi những thân phận nữ giới, trung tâm của những phóng chiếu về đời sống.

Năm 2004, Y Ban cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Đàn bà xấu thì không có quà, sau rất nhiều tập truyện ngắn về đàn bà đã xuất bản từ trước như Người đàn bà có ma lực (1993), Người đàn bà sinh ra trong bóng đêm (1995). Ngay từ nhan đề, nhà văn chuyên tâm về đàn bà này đã đưa ra một lời khẳng định về những thiệt thòi tất yếu của đàn bà, nhất là đàn bà xấu. Đàn bà xấu mà lại thông minh thì còn thiệt thòi và cô đơn gấp bội: vì sự đối xử thông thường của xã hội vốn dựa trên những tiêu chí do đàn ông thiết lập, và vì tuy trí tuệ có thể giúp họ vượt qua những lối nghĩ tầm thường, song lại khiến họ đủ tỉnh táo để chọn nỗi cô đơn, thay vì chấp nhận những gá ghép lệch lạc cho cân xứng với ngoại hình bất hạnh ấy.

Lên tiếng về một thực tế, đàn bà xấu thì không có quà, thì chỉ có tình yêu ảo với những hứa hẹn có cánh nhưng không bao giờ thành hiện thực, nhà văn Y Ban đã công khai phủ định quan niệm “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” vốn ra vẻ “chiếu trên”, đầy tính an ủi của các thiết chế xã hội nam quyền, của những người đàn ông vốn mang bản chất “hiếu sắc”, của cả những người phụ nữ tự ý thức về quyền lực của sắc đẹp, trong khi ai ai cũng ngầm hiểu, “gỗ” chỉ được nhớ đến khi lớp “sơn” bên ngoài không đạt chuẩn. Từ góc nhìn giới, qua nhiều truyện ngắn, nhất là tiểu thuyết Đàn bà xấu thì không có quà, Y Ban đã đòi hỏi xã hội phải thấu hiểu và yêu thương phụ nữ, cùng những bất hạnh vì nhiều nỗi của đàn bà.

Tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI - Ý thức giới của những diễn ngôn cá nhân - 1

Các nhà văn Thùy Dương, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà.

Tiếp sau Y Ban, Lý Lan cũng đã dùng văn chương để gọi tên trực diện và đề cập đến thân phận đàn bà qua tác phẩm xuất bản năm 2008, Tiểu thuyết đàn bà. Ở tác phẩm này, nhà văn Lý Lan đã có một phần mở đầu thú vị khi mượn cái nhìn của một người đàn ông để miêu tả, nhận diện đàn bà từ cái nhìn của giới khác: “Đàn bà! Rõ ràng không phải một con báo. Không phải một con cọp. Cũng không phải một con vượn, mà là một con đàn bà”. Con đàn bà là ấn tượng ban đầu của một người đàn ông, ấn tượng về một con vật đặc biệt hơn, nhưng vẫn là một con vật như những con vật khác. Phải chăng cái người đàn ông thấy trước tiên ở đàn bà là phần con, là thân xác. Và phản ứng tức thì của người đàn ông trong đoạn mở đầu cuốn tiểu thuyết này là “giật mình, co lại trong thế thủ”; “tim ông đập loạn lên, vừa sợ vừa xấu hổ” trước cái sự bình thản “hất tóc ra sau lưng, hơi uỡn ngực lên, hai vú căng và đứng” của con đàn bà. Cái nhìn của người đàn ông là cái nhìn lộ ra ở cấu trúc trần thuật.

Song, ẩn dưới cái nhìn nam tính này lại là một cái nhìn khác mang đậm sắc thái nữ tính – cái nhìn thiên vị của người kể chuyện khi nhấn mạnh sức mạnh và sự tự tin nữ giới. Con đàn bà trần trụi, bình thản, đối lập với sự lúng túng, mất chủ động của người đàn ông. Phải chăng cái phần “người” của đàn ông đã bị phần “con” của đàn bà đánh gục. Phản ứng lại với cái nhìn nam quyền về thân xác nữ giới, Lý Lan, ngay từ phần mở đầu của cuốn tiểu thuyết, đã có một câu trả lời khá thú vị khi tôn vinh giá trị và vẻ đẹp nguyên sơ, bản thể của giới nữ, dù hầu hết những nhân vật đàn bà trong tác phẩm này đều bất hạnh.

Là những nhà văn thuộc hệ đầu sau đổi mới, Y Ban, Lý Lan cũng như nhiều nhà văn nữ cùng thời, có lúc đã mô tả vị thế và số phận của đàn bà từ cái nhìn nam quyền, để rồi từ đó lật lại vấn đề, thể hiện ý thức giới của họ trong tư cách của những nhà văn, những người kể chuyện nữ giới. Bằng các câu chuyện riêng tư của phụ nữ như mất trinh tiết, nạo phá thai, đổ vỡ trong hôn nhân, ngoại tình, cồn cào dục vọng…, các nhà văn nữ thế hệ này đã cất lên tiếng nói phản kháng, kêu gọi xã hội phải nhìn lại đàn bà, nhìn họ và hiểu họ từ những đặc trưng riêng của giới.

Với Gia đình bé mọn, Dạ Ngân đã cho phép nhân vật Mỹ Tiệp vượt qua dư luận, định kiến để từ bỏ hôn nhân, quên đi những tủi nhục khi nhiều lần phải nạo phá thai một mình để có được tình yêu, một tình yêu gắn liền với những thèm khát da thịt, những vụng trộm ngoại tình… miễn là thật sự được sống, được yêu như một người đàn bà đúng nghĩa.

Với Trong nước giá lạnh, Võ Thị Xuân Hà đã thể hiện một niềm kiêu hãnh nữ giới, thách thức những định kiến chính trị và quan niệm đạo đức nam quyền khi để “tôi” nằm trên cỏ, khỏa thân dưới cơn mưa, thách thức sự chuyên chính của một người đàn ông thuộc về một thế giới “khác”…

Có thể nói, với những mức độ khác nhau, các nhà văn nữ thế hệ đầu tiên sau đổi mới đã đưa ý thức giới vào văn chương, trình hiện những mẫu hình phụ nữ mới, ý thức hơn về quyền năng giới tính của mình, bất chấp những thiệt thòi, mất mát mà xã hội nam quyền vẫn trút lên số phận và cả thân thể họ.

Xuất hiện muộn hơn, với một tâm thế khác hơn, các nhà văn thế hệ 7x, 8x không còn quá chú trọng đến việc kêu gọi xã hội phải chú ý đến phụ nữ, thấu hiểu phụ nữ như một giới, một tập hợp đàn bà có chung gương mặt. Một cách bình thản, những người đàn bà chỉ là chính mình, cả tác giả lẫn nhân vật, không ồn ã song vẫn cất lên tiếng nói của giới thông qua những câu chuyện cá biệt, ít điển hình. Với ba cuốn tiểu thuyết Đàn bà hư ảo, Phúc âm cho một người, Vạn sắc hư vô, Nguyễn Khắc Ngân Vy tiêu biểu cho một thế hệ đàn bà viết mới, ưa chuộng kiểu nhân vật vị kỷ hơn là vị tha, nổi loạn hơn là an phận, thách thức để được là chính mình hơn là hòa hợp để chỉ là một cái bóng. Một kiểu đàn bà phù phiếm, đàn bà hư ảo đã xuất hiện trong văn chương của Nguyễn Khắc Ngân Vy cũng như nhiều nhà văn nữ khác, khẳng định một kiểu ý thức giới mạnh mẽ hơn, bạo liệt hơn, riêng tư hơn, nhưng cũng không kém phần “đáng thương” so với những người đàn bà trong văn chương của các nhà văn nữ thế hệ trước.

Như vậy, cùng với sự vận động của văn học sau đổi mới, ý thức giới trong văn học nữ cũng vận động theo hướng ngày càng rõ rệt và mang nhiều sắc thái hơn. Đặc biệt, không bằng lòng với việc khắc họa một chân dung đàn bà nói chung, các cây bút tiểu thuyết nữ những thập niên đầu thế kỉ XXI đã khơi sâu vào những gương mặt đàn bà cụ thể, cá biệt; những người đàn bà không chỉ ý thức “tôi là đàn bà”, mà còn hiểu rõ tôi là một người đàn bà phù phiếm, hư ảo, như cái cách mà Y Ban, Nguyễn Khắc Ngân Vy cùng nhiều nhà văn nữ khác đã khẳng định, qua các trang văn của họ.

Điểm nhìn nữ giới và những diễn ngôn cá nhân

Tiểu thuyết nữ có mặt ở tất cả các dòng tiểu thuyết tân lịch sử, tiểu thuyết hiện sinh, tiểu thuyết tính dục… Dẫu ở khuynh hướng nào, điểm chung của tiểu thuyết nữ giới là đều “nhân danh giới”, làm thành một dòng tiểu thuyết mang đậm sắc thái giới, thể hiện một lối viết nữ qua những diễn ngôn cá nhân.

Ở khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử, Võ Thị Hảo là nhà văn xác lập sớm nhất một cái nhìn của nữ giới về những câu chuyện gắn với những người đàn bà làm nên lịch sử. So với tác phẩm của các nhà văn nam, Giàn thiêu gây tiếng vang và tạo nên một hiệu ứng tiếp nhận “khác” về tiểu thuyết lịch sử, bởi thế giới đàn bà và vai trò của họ đậm đặc trong đó. Sự kiện 76 cung nữ bị thái hậu Ỷ Lan thiêu sống, những số phận đàn bà trong và ngoài cung cấm…, không chỉ là ngọn lửa thiêu đốt cuộc đời nhiều kiếp của Từ Lộ mà còn là một thứ ánh sáng rọi chiếu vào những góc tối tăm, để tiếng thét của những nữ nhân bị cột chặt vào lịch sử được biết đến, cho dù họ là nạn nhân hay là biểu tượng cứu rỗi. Có thể nói, tuy phụ nữ chưa phải là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết Giàn thiêu, song, với số lượng nhân vật nữ khá nhiều và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển cốt truyện, dựng lại diện mạo lịch sử, Võ Thị Hảo đã mở đầu cho một khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử “khác” của các nhà văn nữ, nơi phụ nữ không còn mờ nhạt khuất sau các tấm màn sự kiện, mà chủ động vén màn, can dự trực tiếp vào sự vận động của lịch sử.

Với hai tiểu thuyết mà nhân vật trung tâm đều là phụ nữ, Trần Thùy Mai đã góp phần cũng xác lập một xu hướng tiểu thuyết lịch sử mang cái nhìn của nữ giới. Tiểu thuyết của Trần Thùy Mai xoay quanh những bi phận đàn bà như tên gọi của từng tác phẩm (Từ Dụ thái hậu, Công chúa Đồng Xuân). Từ một sự kiện được ghi chép trong sử sách, Trần Thùy Mai đã thương cảm cho một số phận hồng nhan trước những ba đào lịch sử mà viết nên tiểu thuyết Công chúa Đồng Xuân, lật lại một trong những vụ án tai tiếng bậc nhất triều Nguyễn. Những điểm mờ của lịch sử, những mưu đồ chính trị mà xưa nay không ít nữ giới bị biến thành công cụ, trở thành điểm tựa để Trần Thùy Mai viết lại một lịch sử “khác” – lịch sử của một người đàn bà hoàng tộc nhiều khao khát và trở thành tội đồ của lễ giáo, của gia quy; lịch sử của một giai đoạn triều Nguyễn gắn với những thân phận và bi kịch nữ giới. Cũng từ điểm nhìn nữ giới, thay vì tập trung vào những tranh giành quyền lực và các lũng đoạn của đại thần, tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai đã tô đậm vẻ đẹp nết na, hiền hậu của Phạm Thị Hằng, từ khi chỉ là một cô thiếu nữ con nhà gia thế, đến khi ở tột bực ngôi cao, qua một mối tình đơn phương “có thể có” của người bạn thanh mai trúc mã Trương Đăng Quế, bằng những hình dung của một nhà tiểu thuyết. Lịch sử qua trang văn của các nhà văn nữ vì thế là một lịch sử của cảm xúc hơn là lịch sử của những sự kiện chỉ được chép lại bởi những trang sử vô cảm, lạnh lùng. Đặc biệt, nhìn lịch sử từ những khía cạnh “ngôn tình”, nhà văn trẻ Trường An đã khôi phục lại một giai đoạn lịch sử phức tạp từ Tây Sơn đến Nguyễn Ánh qua số phận của những người phụ nữ, nhất là ở hai tiểu thuyết Vũ tịchHồ Dương. Đó là một Ngọc Bình với sự thê lương u uất in cả vào dáng hình,  với cái tên Bình song chữ bình theo nghĩa bèo trôi chứ nào có bình an. Nhân vật Ngọc Bình trong tác phẩm Vũ tịch được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn. Và ngược lại cái nhìn của nàng cũng là căn cứ để lý giải những câu chuyện lịch sử: từ sự bất lực của Quang Toản và cái ngai vàng không đủ sức mang vác; từ những tham vọng và ưu tư của Gia Long cho một đất nước Việt Nam thống nhất… đến những sự kiện, biến cố của lịch sử, chiến tranh hằn lên số phận của mỗi người. Đó còn là những cái giá mà phụ nữ Nguyễn tộc đã phải trả cho một ngày về Phú Xuân của Nguyễn Ánh qua những oán thán của công chúa Ngọc Du trong tiểu thuyết Hồ Dương. Có thể nói, đã có một lịch sử được tưởng tượng và lý giải qua lăng kính của tình yêu và những xúc cảm nữ giới.

Xu hướng tính dục cũng làm nên nét đặc sắc của tiểu thuyết nữ, đặc biệt là ở tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI. Với nữ giới, tính dục là tự do bản thể, là niềm kiêu hãnh giới tính, là nữ quyền. Từ ý thức bình đẳng giới, văn học nữ trở thành những diễn ngôn mới về tính dục nữ. Lấy nữ giới làm chủ thể trải nghiệm, chủ thể trần thuật… nhiều tiểu thuyết nữ đã công phá vào những “vùng cấm kị” để khẳng định tiếng nói, khẳng định “quyền” của phụ nữ (trong đó có những “quyền năng” từ giới tính). Tiểu thuyết Y Ban, Thuận, Dạ Ngân, Lý Lan, Võ Thị Xuân Hà… thường xây dựng những nhân vật nữ với niềm kiêu hãnh giới, ngôn ngữ thân thể được khai thác tối đa. Y Ban (Xuân Từ Chiều, Trò chơi hủy diệt cảm xúc, ABCD), Thuận (Vân Vi, Thang máy Sài Gòn, Thư gửi Mina, Sậy), Nguyễn Khắc Ngân Vy (Đàn bà hư ảo, Phúc âm cho một người, Vạn sắc hư vô) khai thác đến tận cùng những ẩn ức, khát vọng tính dục. Tính dục lệch pha/đồng tính cũng xuất hiện đậm nhạt trong những trang văn của nữ giới. Với cuốn tiểu thuyết đầu tay, Vũ Phương Nghi đi sâu vào thế giới “hủ nữ” với những câu hỏi day dứt: “Những người đồng tính luyến ái thật sự nhìn nhận thế nào về hủ nữ? Và cuộc sống thật sự của những cô gái này ra sao?” (Chuyện lan man đầu thế kỷ). Võ Thị Xuân Hà dựa vào ý thức bình đẳng tính dục giới, khẳng định tiếng nói, khẳng định “quyền” của phụ nữ (Trong nước giá lạnh, Tường thành). Đã có nhiều phát ngôn của các nhà văn nữ về sex trong văn chương, đa phần họ đều “nhân danh tính đàn bà” để khẳng định quyền bình đẳng tính dục.

Đề cao nhân vị, về cơ bản, tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI vẫn đau đáu truy tìm ý nghĩa của tồn tại trong mỗi một khoảnh khắc hiện hữu. Nhạy bén, mẫn cảm với những điều thuộc về “cái tôi ẩn mật”, nữ giới tập trung vào các trạng huống hiện hữu cá biệt của con người trong đời sống để thấu triệt bản ngã. Góp một cái nhìn của nữ giới vào xu hướng tiểu thuyết hiện sinh, tiểu thuyết của Phan Việt là hành trình tìm lại chính mình của con người trong trạng thái lo âu, bất ổn, luôn đuổi theo, truy tìm “khao khát và ham muốn như một tầng dưới của hạnh phúc, bất chấp hạnh phúc chứ không phải vì không có hạnh phúc” (Tiếng người). Từ những ẩn ngôn của tâm linh, trên bề mặt của vật vã đời sống, thấp thoáng ẩn hiện những số phận, những khuôn mặt nữ đầy cá tính nhưng cũng lắm chông gai, với bốn cuốn tiểu thuyết Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian và Chân trần, Thùy Dương đã dồn nén nhiều vấn đề triết lí, nhiều suy tư trăn trở của nhà văn về một cõi nhân gian bé tí hiện tồn ngay từ nhan đề của tác phẩm. Có thể nói, với cảm thức hiện sinh, các nhà văn nữ gặp gỡ nhau ở ý thức mô tả một kiểu nhân vật lạc lõng, xa lạ giữa một thế giới phẳng, thế giới phi lí, chông chênh trong trạng thái vừa muốn kết nối vừa tách rời cuộc sống. Nhân vật của Phan Hồn Nhiên “sống với khoảng không mênh mông, hoang mang hơn tất cả những gì tôi đã cố hình dung trước đấy. Tôi không khóc, cũng cũng buồn thảm kiệt quệ. Chỉ đơn giản là tôi vắng vẻ đến cùng cực” (Dạt vòm). Nhân vật của Phong Điệp, sau những nỗi đau phải sống, những áp lực cuộc đời cũng tìm đến cái chết như một sự trút bỏ gánh nặng cuộc đời (Blogger). Từ nhiều góc nhìn, kết hợp các loại diễn ngôn, nhà văn nữ hải ngoại Đoàn Minh Phượng cũng biểu đạt thành công nỗi cô đơn phận người qua ba tiểu thuyết Và khi tro bụi, Hạt mưa rơi bao lâu, Tiếng kiều động vọng. Thuận, với tiểu thuyết Sậy, tiếp tục nhận diện cảm thức tha hương cùng những loay hoay tồn tại của những thân phận nữ giới trong những giằng co giữa các nền văn hóa. Có thể nói, từ điểm nhìn giới, các nhà văn nữ đã đối thoại với quá khứ, không ngần ngại phơi bày xung đột giữa những định kiến truyền thống và quan niệm hiện đại, giữa những ràng buộc của nữ giới và những đấu tranh cho chính họ (Y Ban, Dạ Ngân, Nguyễn Khắc Ngân Vy). Quan niệm và cái nhìn nữ giới trong tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI có thể còn gây nhiều tranh cãi. Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng, bằng các tác phẩm của mình họ đã trình bày một tiếng nói riêng, tiếng nói của các cá nhân, của những thân phận nữ giới và làm nên sự khởi sắc của tiểu thuyết đầu thế kỉ.

50 năm sau thống nhất đất nước, gần 40 năm sau đổi mới, và cũng gần hết một phần tư thế kỉ của thế kỉ XXI, từng chút một, các nhà văn nữ đã khẳng định vị trí quan trọng của họ trên văn đàn và đóng góp đáng kể vào thành tựu đa dạng chung của văn học Việt Nam đương đại. Văn học nữ, đặc biệt là tiểu thuyết nữ đầu thế kỉ XXI, không chỉ là những câu chuyện dành riêng cho nữ giới. Nhân danh diễn ngôn đàn bà, tiểu thuyết nữ chạm đến mọi phương diện của cuộc sống đương đại thông qua các trò chơi ngôn ngữ, trò chơi cấu trúc, đem lại những ánh xạ về đời sống qua những khả thể của những câu chuyện văn chương. Phải chăng, từ góc độ của cái riêng, cái khác về giới, các nhà văn nữ đã “Luôn ước muốn sáng tạo một nền văn học cho chính mình (a literature of your own). Cho chính mình? Tức là cho thời đại mình”, như nhà văn Võ Thị Xuân Hà từng chia sẻ. Và vì thế mà đã có một ý thức giới đặc biệt hiện diện rõ rệt trong tiểu thuyết và trong văn học nữ những năm đầu thế kỉ XXI.

Thái Phan Vàng Anh




Nguồn: Arttimes.vn

Người phụ nữ bị ung thư phổi hối hận vì bỏ qua một dấu hiệu nhỏ trên bàn tay


Có rất nhiều nguyên nhân gây ung thư phổi mà biểu hiện của nó ở giai đoạn đầu rất khó để nhận ra.

Theo thông tin từ trang Sohu, một người phụ nữ 60 tuổi ở Trung Quốc đã đến bệnh viện với triệu chứng ho và đau ngực. Sau khi tiến hành kiểm tra, các bác sĩ xác định bà mắc ung thư phổi, một kết quả khiến bệnh nhân vô cùng sốc. Bà thắc mắc: “Tôi chưa bao giờ hút thuốc, tại sao tôi lại bị ung thư phổi”.

Bác sĩ giải thích rằng, hút thuốc là yếu tố nguy cơ cao gây ung thư phổi, nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất. Cơ chế gây bệnh rất phức tạp, bao gồm cả yếu tố di truyền và tác động từ môi trường sống.

Thật không may, khi được chẩn đoán thì ung thư đã ở giai đoạn muộn, tế bào ung thư đã di căn rộng, khiến bác sĩ cũng đành bất lực vì không còn cơ hội phẫu thuật triệt để. Ở giai đoạn này, tỷ lệ sống sau 5 năm cực kỳ thấp. Nghe đến đây, người phụ nữ bật khóc. Bà nói trong nghẹn ngào rằng ban đầu không hề ho hay đau ngực, chỉ trong khoảng một tháng gần đây mới xuất hiện triệu chứng, nhưng đôi tay của bà đã có vấn đề từ lâu, chỉ là không để ý.

Người phụ nữ bị ung thư phổi hối hận vì bỏ qua một dấu hiệu nhỏ trên bàn tay - 1

Ảnh minh họa.

Bác sĩ liền nói: “Chính những biểu hiện ở tay của bà cũng là tín hiệu cảnh báo sớm mà ung thư phổi phát ra”.

Nhiều người hiểu sai về ung thư phổi, cho rằng bệnh chỉ xuất hiện khi có các triệu chứng điển hình như ho, khạc đờm, ho ra máu hoặc đau ngực. Thực tế không phải vậy, nhiều bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng ở phổi, mà lại xuất hiện dấu hiệu bất thường ở các bộ phận khác.

Ung thư phổi dễ di căn đến não, xương và gan, và điều ít ai biết là các triệu chứng ở tay cũng có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư phổi đang đến gần. Dưới đây là 3 dấu hiệu ở tay có thể là tín hiệu cảnh báo sớm của ung thư phổi 

1. Ngón tay dùi trống 

“Ngón tay dùi trống” là tình trạng đầu ngón tay phình to và cong lên như đầu chiếc dùi trống. Móng tay uốn cong hình vòm, phần góc giữa móng và da dưới móng tăng lên 180 độ hoặc hơn.

Hiện tượng này không phải do xương hay khớp bị tổn thương, mà nguyên nhân gốc rễ là thiếu oxy ở mao mạch đầu chi. Khi đó, cơ thể sẽ tiết ra các chất gây giãn mạch như serotonin và prostaglandin, khiến mạch máu ở đầu ngón tay giãn nở lâu ngày, dẫn đến mô mềm tăng sinh, làm đầu ngón tay dày lên và biến dạng.

Trong các nguyên nhân gây ra ngón tay dùi trống, ung thư phổi là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Khi phổi bị tổn thương lâu dài, tuần hoàn máu kém và thiếu oxy mãn tính sẽ khiến ngón tay dần dần xuất hiện hiện tượng phình to đặc trưng này.

2. Tê đầu ngón tay

Ung thư phổi có thể gây tê ở ngón tay, và nguyên nhân rất đa dạng. Nếu ung thư đã di căn lên não, khối u có thể chèn ép mô não, làm rối loạn chức năng cảm giác và vận động, khiến bệnh nhân tê hoặc yếu tay, tương tự như triệu chứng của đột quỵ.

Ngay cả khi chưa có di căn não, nếu khối u nằm ở đỉnh phổi, nó có thể chèn ép đám rối thần kinh cánh tay hoặc tủy sống, gây ra tê và đau ở cánh tay, bàn tay hoặc ngón tay.

3. Đau đầu ngón tay

Một số báo cáo lâm sàng cho thấy, bệnh nhân ung thư phổi tuyến giai đoạn muộn có thể xuất hiện hiện tượng phá hủy xương ở đầu ngón tay, kèm mức phosphatase kiềm tăng cao.

Khi ung thư phổi di căn đến xương đầu chi, bệnh nhân sẽ cảm thấy sưng đau ngón tay, thậm chí không thể cầm nắm đồ vật. Đây là dấu hiệu di căn xương muộn, cho thấy bệnh đã tiến triển nghiêm trọng.

Những thay đổi bất thường ở tay dù nhỏ như nhưng có thể là tín hiệu sớm của ung thư phổi. Việc tầm soát định kỳ bằng chụp CT phổi là cách tốt nhất để phát hiện sớm và điều trị kịp thời, giúp tăng cơ hội sống cho người bệnh.



Nguồn: Arttimes.vn

Mặt trời xanh lá cây (kỳ II)


Xuống máy bay, đi ô tô buýt về Bờ Hồ, tôi phải thuê xe về nhà. Tay xách, nách mang nào đậu phộng, đậu xanh, măng khô, cà phê, rượu Tết, mật ong. Anh Tuấn còn bắt tôi mang quà của anh ấy gửi cho một lô một lốc bạn bè. Tôi không quen ngồi xích lô, nên xấu hổ quá chừng, cứ muốn giấu mặt mình sau ba-lô, làn cói để chồng, để lấp trên đầu gối. Cả nhà reo lên khi biết tin tôi từ Tây Nguyên ra, mỗi người xách giùm một thứ. Thời gian trôi nhanh quá, mới đấy mà mẹ tôi tóc đã muối tiêu, còn dượng tôi vừa già, vừa gầy so với Tết năm ngoái. Hai đứa em cùng mẹ, khác cha cao phổng lên, trông đã rõ ra là hai thanh niên khá bảnh. Tôi hỏi mẹ:

– Em Lan đâu?

– Ở trường chưa về. Vừa rồi người ta mời nó đi đóng phim, cũng đưa được ít tiền cho mẹ.

– Nó đã học xong đâu, hả mẹ?

– Mới nửa năm thứ tư. Những đứa có năng khiếu người ta mời đi đóng phim từ năm thứ nhất kia.

Gia đình tôi là một gia đình bình thường, có thể gặp ở bất cứ đường phố nào ở Hà Nội. Bố tôi mất sớm, mẹ tôi đi bước nữa, đẻ thêm ba đứa: một gái, hai trai. Em gái tôi có năng khiếu sân khấu, thi đỗ vào trường Điện ảnh. Hai đứa em trai, đứa lớn thi trượt vào đại học, lông bông ở nhà ăn bám bố mẹ cả năm nay, thằng nhỏ đang học lớp mười một. Dượng tôi ngoài tám giờ ở cơ quan, tối về may vá thêm, nên người càng ngày càng còm cõi. Mẹ tôi về hưu từ ba bốn năm nay, nội trợ cho gia đình, chạy ra chạy vào phục dịch chồng con và một lũ gà nhép nuôi nhốt trong chuồng.

Mặt trời xanh lá cây (kỳ II) - 1

Minh họa Lê Huy Quang.

Đã có lúc túng bấn, bà toan tính chạy chợ, nhưng không có năng khiếu buôn bán, được vài bữa lỗ vốn, nên dẹp tiệm ngay. Cả nhà tôi đút nút trong một cái buồng con con, không quá hai chục thước vuông. Cuối năm 1970, đang học năm thứ ba Trường Đại học Thủy Lợi, tôi vào bộ đội, cắt hộ khẩu luôn khỏi căn nhà này. Năm 1976 từ Tây Nguyên, tôi trở lại trường học tiếp, thi tốt nghiệp rồi được phân công về Tây Nguyên công tác, bỏ cái ý định nhập khẩu trở lại căn nhà nơi tôi đã chào đời, nơi có bà mẹ tội nghiệp hay tủi thân khóc lóc, có ông bố dượng lầm lầm, lì lì cả ngày, không ác, nhưng cũng chẳng thân thiết với đứa con riêng của vợ.

Tuy có tôi đi xa về, bữa cơm thiếu Lan và tuềnh toàng cũng chẳng vui vẻ gì. Ai nấy ăn vội ăn vàng cho xong rồi mỗi người đi làm công việc của mình. Mẹ tôi ngồi có ý tiếp cho tôi ăn no.

– Có gì vui không mẹ?

– Chẳng có gì vui cả, con ạ. Đời sống khó khăn quá. Đi chợ hôm trước một giá, hôm sau một giá.   

– Mẹ ơi, đất nước còn nghèo.

– Nhưng cũng phải biết còn nghèo đến bao giờ chứ. Đằng này cứ u u, minh minh…

Thấy tôi ngong ngóng ra cửa, mẹ tôi hiểu ý, nói:

– Hồi rầy nó ít sang chơi.

– Mai vẫn học ở trường nhạc, hả mẹ?

– Chúng mày không thư từ với nhau nữa hay sao?

Thấy tôi không trả lời, bà cụ chép miệng:

– Mẹ thấy nó ăn diện hơn trước.

Mai là bạn thân của em gái tôi, nhà ở phố trên. Tôi hơn Mai tám tuổi. Những năm tôi học cấp ba, Mai học lớp một, lớp hai gì đó cùng với con Lan nhà tôi. Mai là một cô bé gầy và đen như cái que cời than, hai con mắt rất to, mỗi lần gặp tôi, đôi mắt ấy lại cụp xuống sau hàng mi vừa dài vừa dầy, miệng lí nhí chào: “Em chào anh Quang ạ!”.

Năm sáu tám, tôi thi đỗ vào Trường Đại học Thủy Lợi. Trường sơ tán tận Thái Nguyên, nên tôi ít có dịp về Hà Nội. Gia đình Mai đi đâu tôi không biết. Tôi hầu như quên bẵng cái cô bé Mai trên đời này, nếu như con Lan nhà tôi không líu lo về cô bạn của mình mỗi khi tôi đến thăm chỗ mẹ tôi sơ tán. Hóa ra hai gia đình vẫn đi cùng với nhau.

Sáu năm đi bộ đội, trên các nẻo đường hành quân từ Bắc vào Nam hay quãng thời gian giữa hai trận đánh, cũng có những cô bạn gái này, nọ đột ngột trở về trong hồi ức, mỗi cô mỗi vẻ, làm xáo động cả tâm hồn tôi. Chúng tôi bước vào trận đánh với sức lực mới và nỗi khát khao bảo vệ những nụ cười, những cái nhìn tin cậy của những cô bạn gái ấy. Nhưng với tôi tuyệt nhiên không có Mai, không có chỗ cho hình ảnh cô bé quàng khăn đỏ, gầy gò và hay bẽn lẽn ấy.

Năm 1976 tôi trở về trường đại học, ngày đầu tiên gặp lại Mai, tôi bàng hoàng trước một thiếu nữ vừa đẹp lộng lẫy vừa tinh tế Hà Nội, hệt Như Quỳnh trên phim. Nếu không nhận ra đôi mắt mênh mông kia, cái miệng cười xinh kia, thì làm sao tôi hình dung nổi cô Mai đen đúa ngày nào. Tôi không dám cầm tay Mai, khi cô gái đưa cả hai tay ra cho tôi, tin cậy và tự nhiên như hồi nào ôm chầm lấy tôi, sợ những con chó bất chợt xồ ra từ những cái ngõ nhỏ nhiều vô kể của một làng quê sơ tán. “Hồi này mẹ thấy nó diện lắm!”.

Mẹ tôi nhắc lại câu nói ấy, rồi bà nhìn tôi với đôi mắt thăm dò, vừa âu yếm vừa lạ lẫm, hình như bà cảm thấy ngày càng khó hiểu đứa con trai bỏ đất Hà Nội mà đi không biết vì lẽ gì, tự nhiên hay bắt buộc, chán cảnh gia đình túng bấn hay do nó hờn dỗi con bé ấy? Tôi biết mẹ tôi đang xót xa trong lòng, bởi vì hôm tôi vào Tây Nguyên cái Lan sau đó viết thư nói mẹ tôi đã khóc cả buổi tối hôm tiễn tôi đi. Mẹ bảo rằng mẹ có lỗi với bố khi quyết định đi bước nữa, rằng mẹ vô phúc, nên tôi phải bỏ nhà, bỏ cửa đi xa đến mấy lần và chưa biết bao giờ mới lại được trở về quê cha đất tổ. Mẹ tôi là người đàn bà hơi cổ, thương chồng thương con chỉ bằng những chăm sóc chu đáo, nhỏ nhặt, chứ không bao giờ nói lời âu yếm.

Tôi không thể nhớ được một lời nói nựng nào của mẹ đối với tôi, cũng như chưa hề bao giờ được nghe một lời ngọt ngào, vỗ về của mẹ đối với các em tôi. Tôi biết tất cả tình thương của bà đối với chồng, với con chỉ chứa đựng trong đôi mắt mở rất to, đăm đăm trên khuôn mặt gầy xanh. Có lẽ tôi thừa kế tính cách ấy của bà, nên trong cuộc sống hàng ngày, tôi ít cởi mở, hay hờn dỗi và quá nhạy cảm trong xử sự với những người chung quanh. Do vậy mà tôi ít bạn bè chăng, đặc biệt là ít bạn bè thân thiết.

Lan từ ký túc xá về, thấy tôi, nó thét lên một tiếng đến chói tai:

– Anh Quang!

Thế rồi dựa vội vàng chiếc xe đạp cà tàng vào tường, con bé không kịp cởi chiếc mũ vải mốt Sài Gòn, chạy vội lại giữa mẹ và tôi, liến láu như một con khướu. Trong gia đình không ai quý tôi bằng Lan cả, tất nhiên là trừ mẹ tôi. Chẳng bao giờ tôi vứt bỏ được cái ý nghĩ ấy. Mỗi khi gặp lại cô em gái cùng mẹ khác cha, lần nào cũng thấy nó phổng phao, xinh xắn và hấp tấp hơn lần trước.

Khi chỉ còn mình tôi, Lan nói:

– Hỏng rồi anh Quang ạ.

– Hỏng cái gì?

– Em nói chuyện cái Mai. Nó tránh gặp em như tránh gặp tà. Nghe nói nó có anh nào ở nước ngoài về đang săn đuổi.

Tôi ngồi im lặng, không mảy may nóng ruột hay xúc động:

– Anh biết trước rồi ư?

– Biết, – tôi thốt ra như tiếng nói của người khác – từ lâu anh đã có cái cảm giác quan hệ của anh với Mai không phải là tình yêu nghiêm chỉnh. Ở Mai có cái gì trẻ con, hơi bông phèng. Còn anh vừa yêu vừa không tin mình giữ được tình yêu này, hoàn toàn không tin mình xứng đôi với một cô gái được nuông chiều từ bé, đẹp và luôn gặp may trong đời.

Lan chợt thở dài, buông gọn một câu đầy ái ngại cho tôi.

– Em hiểu.

– Lan biết không, từ lâu anh vẫn đinh ninh rằng mình sẽ không may suốt đời. Anh đã mang ý nghĩ ấy một cách đau khổ và kiêu hãnh, kể từ khi anh bắt đầu hiểu biết, những lúc vui bạn vui bè đến quên hết mọi thứ trên đời, hay trong những đêm thanh vắng sau giấc mơ gặp lại người cha thân yêu của mình để rồi khi tỉnh giấc biết rằng đấy chỉ là niềm mong ước đến bỏng cháy, nhưng vô vọng của một đứa con cô đơn. Em là con gái, chắc em không thể hiểu được cái cảm giác côi cút của đứa con trai thiếu bố từ nhỏ, thiếu người tin cậy để tâm tình một cách đàn ông, thiếu người thầy đầu tiên chỉ bảo cho mình đường đi, nước bước khi vào đời, thiếu người để mình tin rằng nếu có thất bại điều gì, thì có thể tựa vào đấy cho khỏi quỵ ngã.

– Em cảm thấy như định mệnh anh Quang ạ. Em rất hồi hộp theo dõi quan hệ của Mai và anh với nỗi vui mừng thì ít mà lo lắng thì nhiều. Là bạn với nhau từ bé, em biết tính tình thất thường và hão huyền của con bé ấy. Sản phẩm của những nhà văn lãng mạn Nga và Pháp. Tốt hay không tốt hở anh Quang? Nhưng đúng là như thế đấy.

– Phải công nhận là Mai có năng khiếu nghệ thuật. Mai có giọng hát rất quý: chân thực và độc đáo. Một giọng hát bản năng mãnh liệt. Chính đó là bí quyết thành công của Mai. Khi cô ấy nói rằng yêu anh, thì anh vừa mừng vừa sợ. Mừng vì có thằng con trai nào được yêu một người con gái như thế lại không mừng. Còn sợ, vì mạo hiểm quá. Yêu một người con gái tài sắc như thế thì phiêu lưu quá phải không Lan? Không biết anh nói như thế có đúng với những điều em nghĩ về bạn em không, nhưng quả thật Mai đối với anh cũng giống hệt như chùm nho chín tới trên cành cao quá tầm của mình và anh đành chép miệng: Nho còn xanh lắm.

Lan nghe rất chăm chú. Nó mỉm cười, ngước cặp mắt mở to như hệt cặp mắt mẹ tôi mỗi khi bà lo lắng cho tôi một điều gì:

– Anh tỉnh táo quá đấy, anh Quang ạ. Khi yêu người ta không tỉnh táo mà phân tích như thế đâu.

– Hoàn toàn đúng Lan ạ. Trong quan hệ với Mai anh rất tỉnh táo. Anh luôn luôn nhủ mình rằng đây là một món quà quá đặc biệt mà cuộc đời một lúc nào đó đã nhầm lẫn ban cho anh, một đứa con trai hết sức bình thường, chẳng có tài cán gì.

Lan ngắt lời tôi một cách vội vã:

– Hoàn toàn không phải như anh nói. Anh Quang ạ. Theo em thì Mai không xứng đáng với tình yêu của anh.

Lan còn nói nhiều nữa, không biết là để động viên tôi hay thực tình Mai chỉ là một cô gái tầm thường hết chỗ nói.

Tôi không đi chơi giao thừa, không đến thăm nhà bất cứ một người quen biết nào. Đến tối mồng ba Tết vẫn không thấy Mai đến nhà tôi, mặc dù Lan đã báo tin tôi ở Tây Nguyên về ăn Tết. Tôi ngồi viết một bức thư dài nhất trong cuộc đời mình. Ngay đêm hôm đó tôi dậy đốt thư đi và tự nhủ rằng mình sẽ quên Mai một cách dễ dàng như quên bất cứ một cô gái nào mà tôi quen chốc lát trên đường phố.

Tôi vội vã giải quyết cho nhanh những công việc anh Tuấn giao, rồi trở về Đắk Lắk.

– Con không ở thêm được ngày nào ư?

– Dạ, rất nhiều việc đang chờ con ở trong ấy mẹ ạ. Con sẽ viết thư liền cho mẹ, mẹ nhé. Và mẹ tin rằng con trai của mẹ rất khỏe và rất vui. 

Lan quay mặt đi, bỗng nhiên nó nức nở, rồi chạy vụt ra ngoài. Hai thằng em trai và dượng tôi ngơ ngác không hiểu có chuyện gì xảy ra. Chỉ biết đến khi đã ngồi trên máy bay, tôi mới cảm thấy mỏi mệt rã rời, vì cơ thể mình đã quá tải bấy lâu nay và cảm thấy một trận ốm ác liệt nay mai sẽ tới, không làm sao tránh khỏi.

(Còn nữa)

Truyện vừa của Lê Thấu




Nguồn: Arttimes.vn

Hà Nội: Cụ bà nguy kịch vì vì uống nước ấu tầu chữa đau khớp


Khoảng 30 phút sau khi uống, bà xuất hiện chóng mặt, buồn nôn, nôn và nhanh chóng rơi vào tình trạng tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim.

Khoa Cấp cứu – Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận bà N.T.S (78 tuổi, trú tại xã Mê Linh, TP Hà Nội) trong tình trạng mệt lả, da tái lạnh, mạch loạn hoàn toàn, huyết áp tụt sâu còn 50/30 mmHg – biểu hiện sốc tim do rối loạn nhịp nặng sau khi sử dụng củ ấu tầu, một loại thảo dược dân gian nhưng có độc tính cao nếu không được chế biến kỹ.

Theo người nhà, bệnh nhân có tiền sử đau khớp kéo dài và từng dùng thảo dược này cách đây 20 năm, sau đó tình trạng đau thuyên giảm. Gần đây do đau tái phát, bà đặt mua “củ ấu tầu” qua mạng– hàng được gửi từ vùng cao, với mục đích nấu nước uống chữa khớp. Dù được hướng dẫn chỉ dùng 1–2 củ/tuần, nhưng bệnh nhân đã tự ý sắc liền 5 củ/lần để uống. Khoảng 30 phút sau khi uống, bà xuất hiện chóng mặt, buồn nôn, nôn và nhanh chóng rơi vào tình trạng tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim.

Hà Nội: Cụ bà nguy kịch vì vì uống nước ấu tầu chữa đau khớp - 1

Bác sĩ thăm khám cho bệnh nhân bị ngộ độc. 

Tại Khoa Cấp cứu, ThS.BS Ninh Thị Ngọc và ê-kíp đã khẩn trương thực hiện các biện pháp hồi sức tích cực: truyền dịch chống sốc, dùng thuốc chống rối loạn nhịp, đặt monitor theo dõi liên tục để kiểm soát ngoại tâm thu thất chùm đôi – chùm ba – một dạng rối loạn nhịp tim nguy hiểm có thể gây tử vong. Song song, bệnh nhân được rửa dạ dày, dùng than hoạt và theo dõi sát các dấu hiệu nhiễm độc hệ thần kinh và tim mạch.

BS Ngọc cho biết: “Độc chất chính trong củ ấu tầu là aconitin – một alcaloid cực độc có thể gây rối loạn dẫn truyền tim: nhịp chậm, ngoại tâm thu thất, co giật, mất ý thức và có thể tử vong nhanh chóng. Đây là ca ngộ độc do dùng quá liều củ ấu tẩu, nhưng may mắn được đưa vào viện sớm và xử trí đúng phác đồ, nên bệnh nhân qua được cơn nguy kịch.”Sau 3 giờ điều trị tích cực, tình trạng huyết động của bệnh nhân ổn định, nhịp tim trở lại bình thường, giảm dần liều thuốc chống rối loạn nhịp. Bệnh nhân tỉnh táo, tiếp xúc tốt, các chỉ số sinh tồn ổn định.

Hiện bệnh nhân vẫn đang được theo dõi sát tại Khoa Cấp cứu để phòng nguy cơ loạn nhịp tái phát hoặc ảnh hưởng thần kinh muộn sau ngộ độc. Theo ThS.BS Ninh Thị Ngọc, độc tố aconitin có khả năng gây ảnh hưởng kéo dài trên dẫn truyền tim, do đó, bệnh nhân dù đã qua cơn nguy kịch, nhưng vẫn cần theo dõi ít nhất 2-3 ngày.

Củ ấu tầu còn có tên khác là ấu tẩu, ô đầu, phụ tử – thường mọc ở vùng núi cao phía Bắc và các tỉnh miền núi Trung Quốc. Trong Đông y, vị thuốc này chỉ được dùng sau khi đã qua chế biến kỹ (phụ tử chế) với liều rất nhỏ để xoa bóp hoặc điều trị ngoại trú có kiểm soát. Ngược lại, củ tươi, củ sống (như bệnh nhân sử dụng) chứa hàm lượng độc chất rất cao – chỉ khoảng 2mg aconitin đã có thể gây rối loạn nhịp tim và 5mg có thể gây tử vong, tương đương với chỉ vài củ nhỏ.

Các bác sĩ khuyến cáo, tuyệt đối không tự ý mua, sắc uống hay ngâm rượu củ ấu tẩu hay bất kỳ loại thảo dược có độc tính cao nếu chưa được chế biến đúng cách. Người dân không nên tin vào các hướng dẫn truyền miệng hoặc thông tin trên mạng về “củ ấu tẩu chữa đau khớp”, bởi nhiều sản phẩm được rao bán không rõ nguồn gốc, chưa qua kiểm định chất lượng và có thể tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc. Khi xuất hiện các triệu chứng bất thường như chóng mặt, buồn nôn, tê môi, loạn nhịp hoặc tụt huyết áp sau khi dùng bất kỳ loại thảo dược nào, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.



Nguồn: Arttimes.vn

Truyền thống văn hóa của họ tộc Ê Đê ở Tây Nguyên


Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Ê Đê là cư dân lâu đời ở miền trung Tây Nguyên, dân số đứng hàng thứ 12 trong tổng số 54 dân tộc anh em. Theo số liệu mới đây, đồng bào Ê Đê có số dân trên 400.000 người, cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Đắk Lắk, phía nam của tỉnh Gia Lai và miền tây của hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên. Người Ê Đê có các tên gọi khác là: Anak Ea Đê, Ra Đề (hay Rhade), Égar, Đê. Và nhiều nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mdhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Kilê. Người Ê Đê có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Đào), một số từ vựng có nguồn gốc từ Môn-Khmer và một số từ vựng tiếng Pháp.

Đặt tên trước, họ sau

Trong quá trình phát triển, người Ê Đê đã hình thành nhiều dòng họ khác nhau, trong đó có 2 dòng họ chính là Niê và Mlô, cùng nhiều phân họ kép hình thành từ 2 dòng họ này. Người Ê Đê là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc tên trước họ sau, đây có thể là kết quả ảnh hưởng của văn hóa Pháp. Theo đó, người Ê Đê thường đặt tên theo cấu trúc: nữ giới thì đệm chữ “H” trước tên rồi mới đến họ, thứ tự này là một điều bắt buộc. Cụ thể: H’(tên đệm) + Tên + Họ, ví dụ như tên H’Maryam Niê, H’Či Êban,… Với nam giới, người ta dùng chữ “Y” để đệm tên lót theo cấu trúc “Y” + Tên gọi + Họ. Chữ Y đặt trước tên mang ý nghĩa tốt đẹp, người con trai được đặt tên như là đứa con của Trời (Vàng), ví dụ như Y-Dam Săn Mlô, Y-Arol Ecam,….

Ngày nay, người Ê Đê chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa đạo Tin Lành nên việc sử dụng tên Thánh đã trở nên phổ biến. Các tên Thánh để đặt tên theo tiếng Ê Đê, đối với nam giới, như Y-Abba, Y-Abel, Y-Abraham,… Đối với nữ giới, như: H’Mari, H’Rut, H’Dêbora, H’Madalen, H’E-Wa,… Tuy nhiên ở một số vùng người Ê Đê vẫn giữ cách đặt tên theo nhân vật trong các sử thi của dân tộc, như H’Bia, H’Bhí, Y-Dam Săn, Y-Dam Yi,…

Truyền thống văn hóa của họ tộc Ê Đê ở Tây Nguyên - 1

Nhà dài Ê Đê ở Đắk Lắk

Nhà dài Ê Đê

Tộc người Ê Đê vốn thuộc nhóm cư dân ngôn ngữ Mã Lai, có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển đảo. Mặc dù đã chuyển cư vào miền Trung Việt Nam rồi di dân lên vùng đất cao nguyên trung phần đã lâu (khoảng từ cuối thế kỷ VIII đến thế kỷ XV), nhưng trong di sản văn hóa của người Ê Đê, bến nước và con thuyền vẫn in hằn dấu tích. Có thể thấy điều đó trong kiến trúc nhà sàn Ê Đê có hình con thuyền dài, cửa chính mở ra phía trước, cửa sổ mở ở phía hông. Bên trong nhà có trần gỗ hình vòm giống mui thuyền. Nhiều buôn làng Ê Đê trù phú với hàng chục ngôi nhà dài, mái nhà phía trước vát nhọn nhỏ cao trông như những đội thuyền đang rẽ sóng giữa biển khơi.

Nhà của đồng bào Ê Đê thuộc loại hình nhà dài sàn thấp, chiều dài từ 15m đến khoảng 200m tùy theo gia đình giàu có và có nhiều người hay ít người. Nhà dài Ê Đê là nhà của những gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ.

Nhà được chia làm hai phần, nửa đằng cửa chính gọi là “Gah” là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bao gồm bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài – gọi là “Kpan” dài tới 20m, bên cạnh là những bộ chiêng, chẻ, trống lớn, nồi đồng, các bình rượu cần ủ sẵn… Nửa nhà còn lại gọi là “Ok”, là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng. Mỗi đầu nhà có một sân sản. Sân sản ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Nhà dài của người Ê Đê được xây dựng bằng các vật liệu lấy trong rừng tự nhiên (ngày nay phần lớn gỗ làm nhà được đồng bào trồng hoặc mua gỗ nhập khẩu ngoài thị trường), như cây gỗ làm cột, kèo; tre, nứa thưng vách, làm sản; có tranh lợp mái… Đây là những loại gỗ tốt, dùng làm cột kèo nhiều chục năm không bị mối mọt, sức chịu đựng mưa nắng bền lâu.

Trong ngôi nhà dài, người Ê Đê chạm khắc nhiều hình con vật gần gũi trong đời sống như voi, cua, cá… Những gia đình khá giả thường chạm khắc một số hoa văn như hình con kỳ đà, con rồng, con rùa… là những con vật xuất hiện trong tín ngưỡng của người Ê Đê, với mong muốn gia đình sẽ gặp nhiều điều may mắn và tránh được những rủi ro. Điều đặc biệt là ngay khi đến ngôi nhà dài của người Ê Đê, du khách đã thấy có 2 cầu thang chính để lên xuống, cầu thang đực và cầu thang cái. Trên cầu thang cái có chạm khắc nổi 2 bầu sữa mẹ và một vầng trăng khuyết, cầu thang đực thì có hình con rùa…

Trong gia đình người Ê Đê, chủ nhà là phụ nữ. Theo chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, con trai không được hưởng thừa kế. Đàn ông kết hôn và sinh sống tại nhà vợ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, và có trách nhiệm nuôi dưỡng bố mẹ già. Khi một người con gái lấy chồng, ngôi nhà dài sẽ được tiếp tục nối dài thêm cho gia đình mới. Nhìn vào các cửa sổ của ngôi nhà dài có thể biết cô gái Ê Đê đã có gia đình hay chưa, nếu cửa sổ được mở ra thì người phụ nữ đó đã lấy chồng.

Có thể ví chiều dài nhà dài của đồng bào Ê Đê dài như tiếng chiêng ngân; nếu đứng ở đầu nhà dài mà đánh chiêng thì ở cuối nhà chỉ còn nghe tiếng chiêng vọng rất nhỏ, tựa như tiếng gió rì rào của đại ngàn vọng về.

Truyền thống văn hóa của họ tộc Ê Đê ở Tây Nguyên - 2

Kiến trúc bên trong nhà dài.

Tục nối dây

Tục nối dây (Juê nuê) là một luật tục cổ truyền đặc biệt trong hôn nhân của người Ê Đê, được cộng đồng dân tộc Ê Đê thực hiện một cách tự nguyện. Luật tục này đã được duy trì bền vững qua thời gian, quy định rằng: “Dầm sàn gẫy thì phải thay, giát sàn nát thì phải thế, chết người này phải nối bằng người khác”.

Cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên, luôn phải đương đầu với thiên tai, dịch bệnh, nên tục nối dây nhằm duy trì nòi giống, sức lao động để bảo vệ cuộc sống của gia đình, dòng họ, buôn làng.

Luật tục nối dây quy định: Trong trường hợp chồng chết, người phụ nữ có quyền đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng mình. Ngược lại, nếu người vợ chết, thì chồng người phụ nữ ấy buộc phải lấy em gái vợ (em ruột hoặc em họ của vợ) để truyền nối giống nòi. Người được chọn nối dây phải là người đang son rỗi, không vợ không chồng.

Truyền thống văn hóa của họ tộc Ê Đê ở Tây Nguyên - 3

Tục trao vòng cầu hôn của người Ê Đê.

Người Ê Đê luôn xem gia đình là một tổ ấm (hrú mđạo), nơi ông bà cha mẹ và con cái cùng chia sẻ vui buồn… Trong đó bố mẹ là nguồn sống, là nơi nương tựa của con trẻ. Việc tìm cho những đứa trẻ bất hạnh ấy một người “kể” để thay thế người qua đời nuôi dạy các cháu là xuất phát từ tình thương. Hơn thế, tục nối dây không những tìm mẹ, hoặc cha, làm chỗ dựa tinh thần cho những đứa trẻ mất cha, mẹ, tìm bạn đời cho người còn lại, mà người này còn có trách nhiệm thay người đã khuất chăm sóc con cái, gìn giữ tài sản, đất đai, duy trì gia đình vẹn nguyên như trước. Ngày nay, tục nối dây của người Ê Đê đã có nhiều thay đổi, không ép buộc thực hiện mà trên cơ sở tự nguyện của những người còn sống “nối dây” mới được diễn ra. Người được họ hàng chọn lựa để kết hôn với chị em vợ hoặc anh em rể có thể từ chối hôn nhân nếu cảm thấy không phù hợp với mình.

Việc duy trì gia đình mẫu hệ của người Ê Đê không chỉ biểu hiện ở tục nối dây mà còn thể hiện trong quan hệ giữa các chị em gái ruột và con cái của họ. Trong họ tộc của người mẹ, những người phụ nữ luôn xem những đứa con của các chị em gái ruột hoặc chị em gái họ như con đẻ. Những người phụ nữ, những người đàn ông thay thế theo luật tục luôn chăm sóc nuôi nấng, yêu thương những đứa trẻ như chính con đẻ của mình.

Tín ngưỡng, lễ hội

Trong đời sống tâm linh, người Ê Đê coi Yảng (Trời) là đấng thần linh tối cao và các sự vật, hiện tượng thiên nhiên đều có thần linh như thần mưa, thần núi, thần sông,… cho đến đồ vật từ hòn đá kê bếp đến ngôi nhà, những chiếc cồng, chiêng… đều có hồn thiêng ở bên trong.

Theo quan niệm tâm linh đó, đồng bào dân tộc Ê Đê ở nhiều nơi vẫn lưu giữ những lễ hội, phong tục, nghi lễ truyền thống mang bản sắc dân tộc mình, như: Lễ hội đón năm mới, lễ ăn cơm mới, lễ cúng bến nước, cầu mong mưa thuận gió hòa, mọi người khỏe mạnh, nhà nhà nhiều lúa, ngô, trâu, bò,… Lễ giết trâu cúng thần linh và người quá cố, lễ cưới, lễ trưởng thành, lễ cúng hòn đá bếp – vị thần đã giúp gia chủ một năm no đủ…

Ê Đê theo đạo Tin Lành thuộc dòng Tin Lành hệ Baptist được các nhà truyền giáo người Mỹ và châu Âu truyền vào từ những năm đầu thế kỷ XX. Tỉnh Đắk Lắk, địa phương tập trung đông người Ê Đê nhất cũng là nơi có tín đồ Tin Lành nhiều nhất Việt Nam. Bên cạnh đó, Công giáo được truyền bá thông qua các nhà truyền giáo Tây Ban Nha và người Pháp. Một số ít bà con Ê Đê theo Phật giáo, chủ yếu cư trú tại các vùng đô thị, là người Ê Đê kết hôn với người Việt, người Hoa.

Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú, bao gồm các thể loại: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi), trong đó nổi tiếng là Đam San, Xinh Nhã,…

Người Ê Đê yêu ca hát, thích tấu nhạc và có nhiều người có năng khiếu về lĩnh vực này. Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, khến, gốc, kni, kèn đình năm, đình tuốc là các loại nhạc cụ phổ biến của người Ê Đê, được nhiều người ưa thích.

Từ sau năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng giang sơn thu về một mối, cuộc sống ở các buôn làng Ê Đê đang đổi thay nhanh chóng. Và thật đáng mừng, cuộc sống mới không làm mất đi những truyền thống tốt đẹp, những phong tục hướng về cội nguồn, hướng về tổ tiên, tình yêu thiên nhiên, gia đình, đồng tộc,… Truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc Ê Đê đang góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

H’NGƠI HLONG




Nguồn: Arttimes.vn

Mặt trời xanh lá cây (Kỳ III)


Tôi được anh Tuấn giao làm chỉ huy phó, phụ trách kỹ thuật công trường thủy lợi Chư Xuê, nơi chúng tôi đã phải ngủ qua đêm tránh muỗi trên một phiến đá ngay giữa con suối cạn nước…

Nhà ban chỉ huy được dựng trên một quả đồi hình mai rùa. Trước giải phóng đây là vùng giáp ranh giữa địch và ta. Địch thường xuyên đóng một đại đội ở đây, nhưng cứ ba tháng phải thay quân một lần vì khí hậu quá khắc nghiệt. Mỗi lít nước chỗ chúng tôi nặng một cân mốt, muỗi độc thì nổi tiếng cả vùng. Buổi sáng gà rừng vào tận nhà chọi nhau với bầy gà nhà chúng tôi nuôi. Chỗ Chua Cáp bên kia cánh rừng săng lẻ còn nghe thấy cả tiếng hổ gầm vọng về. Còn cây đa ở quả đồi đối diện sáng sáng có hàng trăm con khỉ ăn quả, vừa ăn vừa choét choét, trêu chọc những người khách không mời mà đến.

Công trường của chúng tôi là một công trình trên hạn ngạch, thuộc vốn của Trung ương quản lý. Các đại đội thanh niên xung kích làm thủy lợi từ các xã, huyện trong toàn tỉnh lần lượt kéo nhau đến đây, quyết biến đổi khí hậu, đất đai, tập quán canh tác và bộ mặt của một vùng rừng rộng lớn và vắng vẻ này.

Chỉ huy trưởng công trường là một đồng chí Thường vụ huyện uỷ già, tóc đã bạc quá nửa, một người bám trụ vùng này từ những năm sáu mươi, sáu mốt, có cái tên dân tộc nghe tức cười: Ma Gầm. Tuy tên là Ma Gầm nhưng ông già này hiền khô, điệu bộ khoan thai, ăn nói từ tốn, lúc nào cũng nhẩn nha như một già làng. Trong ban chỉ huy công trường có Khảng phụ trách quản lý hậu cần. Những ngày đầu tiên công việc ngập đầu ngập cổ khiến tôi quay cuồng như một anh nhà có đám, ít thời gian rảnh rỗi để nghĩ ngợi này nọ. Tôi nghiệm ra một điều: Thời gian và công việc bận rộn là những phương thuốc nhiệm màu chữa được bách bệnh, từ thất tình, buồn phiền vì lâu lên chức lên lương, bệnh ba hoa, ấm đầu, kèn cựa địa vị, mất đoàn kết nội bộ, chủ quan kiêu ngạo… Hơn nữa nỗi đau của tôi tuy tê dại nhưng không đến nỗi đột ngột. Với tôi hiện nay sợ nhất là gặp lại Mai trong những giấc mơ.

Anh Tuấn xuống kiểm tra công trường chúng tôi luôn. Có lần anh nói, không nhìn tôi:

– Anh bạn ạ, chú ý giữ gìn sức khỏe, không quỵ mất đấy. Mình sẽ cho Lâm xuống phụ thêm với các cậu.

Tôi ngạc nhiên:

– Anh ta có thông với quyết định mở công trường xây dựng hồ chứa nước ở vùng này đâu?

– Đôi khi không chờ thông rồi mới làm, mà cứ làm đi rồi sẽ thông. Địa hình ở Tây Nguyên bị đồi núi, khe suối chia cắt, hoặc lượn sóng nhấp nhô, đường kênh dẫn nước do vậy phải dựa vào thế đất mà đi. Rõ ràng làm thủy lợi ở đây không phải là chuyện dễ dàng, nhưng qua những kết quả khảo sát của chúng ta, cho thấy nguồn nước cho Tây Nguyên không phải thiếu như lúc đầu ta tưởng. Xây dựng các công trình thủy lợi trên đất Tây Nguyên cũng không phải quá khó như có lúc chúng ta nghĩ.

Tôi dè dặt nói với anh Tuấn:

– Em nhớ năm học thứ ba của chúng em, khi anh còn dạy ở Đại học Thủy Lợi. Có lần anh đã nói: “Làm khoa học đôi khi cũng phải liều”. Có khi quyết định mở công trường thủy lợi này là chúng ta đang liều phải không anh?

Anh Tuấn trầm ngâm, hồi lâu mới trả lời tôi, hình như anh cân nhắc, lựa chọn từng ý, từng lời, tác phong giảng bài của thầy Tuấn năm nào.

– Vào Đắk Lắk này mà không làm được công trình thủy lợi trên vùng đất bazan sao được! Tiềm năng nông nghiệp ở đây thật là to lớn, phong phú một cách kỳ lạ về chủng loại, cao về năng suất sinh vật, ngắn về thời gian sinh trưởng, phát dục. Người ta có cảm giác là ở Tây Nguyên cây gì cũng trồng được, con vật gì cũng nuôi được, vấn đề là có đủ nước. Với tổng lượng nước mưa rơi xuống Tây Nguyên lên tới 100 tỷ mét khối một năm, rõ ràng ở Tây Nguyên không thiếu nước, mặc dù các sông suối chuyển ra ngoài lãnh thổ chừng 40 tỷ mét khối, tối thiểu cũng 30 tỷ những năm ít mưa.

Tôi ngắt lời anh Tuấn:

– Mạng sông ở Tây Nguyên tương đối thưa, không như ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Đặc biệt trên các cao nguyên đất đỏ bazan có thể mở mang nông nghiệp, lại càng thưa sông.

Anh Tuấn nói như chộp lấy cái ý trên của tôi:

– Vấn đề là ở chỗ ấy, phải xây dựng các hồ chứa nước lớn. Tất nhiên phải chọn những vùng có điều kiện thuận lợi để xây dựng thủy lợi, những thung lũng giữa núi như vùng này.

Tôi băn khoăn:

– Nhưng theo em biết thì chưa hề có một công trình thủy lợi nào đáng kể trên đất bazan ở nước ta cũng như ở nước ngoài.

Mũi anh Tuấn hơi chun lại, đôi mắt sáng bừng lên. Khuôn mặt anh thô nhưng đôi mắt thật đẹp những lúc anh tranh cãi. 

– Nếu chưa có người đi trước, thì chúng ta chịu bó tay ư? Đắk Lắk rộng hai triệu héc-ta, là một tỉnh miền núi có diện tích canh tác nông nghiệp lớn nhất so với các tỉnh miền núi trong cả nước. Đất đai Đắk Lắk lại rất tốt, địa hình tương đối bằng phẳng, có nhiều khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là cây công nghiệp phục vụ xuất khẩu. Trong kinh tế của ta, xuất khẩu là một yêu cầu lớn hiện nay. Muốn có sản xuất nông nghiệp mạnh, trước hết phải giải quyết được nước cho cây trồng. Bao đời nay, kinh tế Đắk Lắk phát triển chậm, đời sống nhân dân các dân tộc còn nghèo khổ, chính là do thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp.

Tôi ngắt lời anh Tuấn:

– Tầm quan trọng của nước, thôi khỏi bàn. Tây Nguyên là một địa bàn trọng yếu về kinh tế và quốc phòng, một trong những vùng tập trung có nguồn nông, lâm sản phong phú nhất và có nguồn xuất khẩu chủ lực của cả nước như gỗ, cao su, cà phê… Rõ rồi, cũng khỏi bàn. Vấn đề ở đây là liệu có thất bại không, khi chúng ta khởi công xây dựng một công trình thủy lợi khá lớn trên đất bazan mà trong tay không có tài liệu, cơ sở chắc chắn nào cả.

Giọng nói anh Tuấn trở nên gay gắt:

– Biết thất bại mà cứ làm là ngu. Nhưng vì sợ thất bại mà không dám làm lại là hèn. Liều lĩnh không có cơ sở là tác phong của những thằng dốt. Tài liệu về thủy lợi trên đất bazan không có thì đúng quá đi chớ! Đã ai viết về vấn đề mới mẻ này bao giờ đâu. Nhưng cậu bảo chúng ta không có cơ sở là không đúng. Mình đã đến Đức Lập xem xét, nghiên cứu Hồ Tây có từ hồi còn mồ ma thằng Pháp. Hồ nhỏ, đập giữ nước cũng nhỏ và thấp chừng bốn mét, nhưng vẫn có nước quanh năm. Mình cũng đã đến vùng Quảng Phú xem xét, nghiên cứu những con mương dẫn nước trồng lúa, trồng bắp của đồng bào. Mương ngắn vài cây số, nhưng lúc nào cũng có nước. Vậy là thực tiễn chỉ rõ: có thể đắp đập, khơi mương trên vùng đất đỏ. Lượng nước thấm trên kênh lúc đầu tuy nhiều, song khi đã bão hòa thì lượng nước thấm không đáng kể. Độ tan rã của đất bazan khi được bảo dưỡng tốt vẫn đảm bảo được nguyên dạng. Hơn nữa phòng hóa nghiệm địa chất của Viện Thủy lợi đã kết luận cho chúng ta về độ kết dính của đất bazan, độ thấm nước và những tính chất hóa – lý của đất đều không gây trở ngại nào đáng kể cho việc xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ và vừa. Phải nhìn xa trông rộng. Không những hiểu Đắk Lắk ngày nay mà phải hiểu cả Đắk Lắk xưa và mai sau…

Mặt trời xanh lá cây (Kỳ III) - 1

Minh họa Lê Huy Quang 

Anh Tuấn về tỉnh. Hai hôm sau, tôi đã thấy Lâm khăn gói xuống công trường. Tôi nháy mắt. hỏi:

– Thủ trưởng Tuấn lẹ quá, hè!

Lâm cười gượng:

– Với ông ấy lúc nào cũng như chạy lũ lụt.

Khi tôi dẫn Lâm đi thăm nơi sẽ là lòng hồ, Lâm bảo tôi:

– Anh cho dọn sạch những bụi cây kia đi. Còn phải nghĩ tới chuyện thả cá sau này nữa chứ.

 – Ôi dào, ăn con nào rào con nấy. Hơn nữa lao động đang còn phải tập trung đào kênh chính, kịp có nước cho vụ đông xuân năm nay của mấy xã cánh nam.

Lâm nói rất tự tin:

– Không nên chỉ nhìn trước mắt. Bắn một mũi tên phải nhằm mấy đích. Tại sao ở đây ta không thực hiện khẩu hiệu kết hợp thủy lợi với nuôi cá. Anh Quang ạ, các anh có nhiều điều hay và cũng không ít điều dở. Chính anh Tuấn có lần đã nói cho tôi nghe một câu chuyện như vầy: Hồi còn dạy ở Đại học Thủy lợi, để thực hiện nghị quyết của Công đoàn phát triển chăn nuôi, các anh ấy bàn bạc cả buổi mà chưa tìm ra đáp án. Anh em ở gia đình khỏi nói. Cái khó là đối với anh em ở tập thể. Nuôi heo ư? Đồ nấu cám bã đâu, lại còn chỗ nuôi. Nuôi gà ư? Toi dịch thì mất hết vốn. Nuôi chó, lỡ thành chó dại cắn người thì khốn. Thôi thì nuôi vịt, lại có con mương đào quanh nhà, tiện lắm. Thế là bảy anh em độc thân, ăn bếp tập thể, quyết định chung tiền ra chợ mua mười con vịt cỏ nhỏ xíu về nuôi. Chuồng vịt giải quyết không khó. Người nuôi thì mỗi người một ngày. Đến mục thức ăn mới thật gay go, nan giải. Lại bàn, cuối cùng đi tới giải pháp: Đến phiên người nào chăn, phải bỏ suất cơm tập thể của mình cho vịt ăn, đi ăn tiệm. Bảy hào một đĩa bít tết thịt bò, lương tháng sáu bảy chục, nên có thể chấp nhận được. Lần ấy chăn nuôi tập thể của bộ môn anh Tuấn thắng lợi rực rỡ, cuối năm được Công đoàn trường cấp giấy khen. Khi tính lỗ lãi giá thành một ký thịt vịt nuôi gấp khoảng hai mươi lần cách nuôi của người nông dân. Chăn nuôi bằng bất cứ giá nào, làm thủy lợi bằng bất cứ giá nào… Trong thời kỳ chiến tranh còn khả dĩ. Anh Quang ạ, tôi nhớ câu chuyện anh Tuấn kể và quan sát thấy chúng ta làm ăn ít chú ý đến hiệu quả kinh tế quá.

Tôi vỗ tay, thốt lên:        

– Mà sao tôi chưa được nghe anh Tuấn nói chuyện ấy bao giờ nhỉ? Ba mươi năm đánh giặc, khẩu hiệu: “Bằng bất cứ giá nào” đã động viên quyết tâm dời non lấp biển của dân tộc ta chống lại những kẻ thù lớn mạnh hơn gấp bội và tạo ra những chiến thắng thần kỳ. Bây giờ trong xây dựng kinh tế chúng ta đang trả giá cho cái khẩu hiệu ấy. Không phải là tôi không nêu ra ý kiến dọn sạch lòng hồ khi đắp xong con đập tạm, nhưng bị bác bỏ thẳng thừng.

– Ai bác?

– Chỉ huy trưởng công trường, Huyện uỷ. Nói tóm lại là các giới có thẩm quyền.

– Kể cả anh Tuấn?

– Chưa báo cáo với anh Tuấn.

– Cầu cứu đi. Tôi tin là anh Tuấn có thể cứu vãn được tình hình.

Tôi chọc tức Lâm:

– Xem ra cái thói hoài nghi và thờ ơ của ông cũng đã giảm đi tới bốn, năm phần, chí ít là đối với thủ trưởng Tuấn.

Lâm cười rất hiền lành:

– Không phải tôi chỉ khâm phục mà còn rất mê anh Tuấn. Càng hiểu càng mê anh. Kỳ lạ vậy, hen! Tôi vốn có thói quen chỉ làm điều mình đã đọc, đã biết và tin. Còn nếu chưa tin chắc thì tuyệt đối không bao giờ bắt đầu cả.

– Kể cả khi ông tỏ tình với cô gái mà ông yêu?

– Vợ tôi ngỏ lời yêu tôi trước. Anh không nhớ rằng chúng ta đang sống ở vùng cư dân theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ bắt chồng. Ở vùng ta đây gái lấy chồng, sông chảy ngược.

Tôi nói nghiêm chỉnh:

– Thôi không đùa nữa. Tôi sẽ lại đưa vấn đề dọn sạch lòng hồ ra bàn trong cuộc họp giao ban tối nay. Anh Lâm ủng hộ nhé.

– Không cần phải anh dặn.

Cuộc họp giao ban tối hôm ấy, Lâm không được mời và khi tôi trình bày cặn kẽ cái lợi, cái hại của việc dọn sạch lòng hồ trước khi hạp long, thì ông Ma Gầm gục gặc đầu tỏ vẻ đồng tình ngay. Tội nghiệp ông già, một người bám trụ buôn làng hơn nửa đời người, phát động quần chúng đứng lên đấu tranh với địch thì không chê vào đâu được, chỉ mới vài ba năm sau ngày giải phóng, con người quắc thước năm nào nay đã thành một ông già hom hem. Tưởng những năm hòa bình xây dựng lại đất nước, quê hương bị tàn phá, công việc không còn nguy hiểm, chết chóc như ngày nào, sẽ trẻ ra, sống lâu. Nào ngờ chỉ những họp hành, lo nghĩ cách làm ăn, cũng bào mòn lòng người, khiến râu tóc cứ dài ra, bạc thêm. Trước kia ông thông thạo công việc của mình bao nhiêu thì bây giờ, với cương vị một ủy viên thường vụ huyện uỷ phụ trách kinh tế, ông bỡ ngỡ với công việc bấy nhiêu. Chỉ huy trưởng một công trường thủy lợi, nhưng ông vẫn kiêm nhiệm công việc ở cơ quan huyện uỷ, chỉ riêng việc chạy lên chạy xuống hàng ngày cũng đã hao người. Khi nghe cán bộ chuyên môn nói đến hai chữ hạp long, ông ghé tai tôi hỏi nhỏ: “Hạp long là gì?”. Tôi giải thích, hạp long là tiếng chuyên môn của ngành thủy lợi, chỉ lúc chặn được dòng nước khi đắp đập, thì ông à lên một tiếng, lắc đầu tỏ vẻ chê trách cái kẻ nào sính chữ, có ý lòe bịp thiên hạ, làm cho một khái niệm vốn dễ hiểu, đẹp là thế, trở nên bí hiểm, xa lạ với quần chúng. Một cán bộ lãnh đạo như ông, chuyên môn không biết, muốn quyết định điều gì cứ phải quay trái, quay phải, hoặc quay đằng sau để hỏi những cố vấn. Có khi nghe chuyên môn trình bày vẫn chưa hiểu, nhưng chẳng lẽ không quyết định thì sợ giảm uy tín của người phụ trách. Thôi thì nhìn vào mắt kẻ giúp việc của mình, chăm chú nghe giọng nói của hắn mà định xem mức độ gật hay lắc, ký ngay hay bảo còn cần nghiên cứu thêm, tươi cười khen ngợi hoặc nhắc nhở, quở mắng kẻ đang đứng trước mặt, chờ mình định đoạt số phận một vấn đề, một cung cách quản lý, tổ chức nào đó. Một huyện miền núi mới được thành lập như huyện ông đang công tác đây, đếm trên đầu ngón tay được mấy người, mà công việc cứ ùn ùn, ngập đầu ngập cổ, mới mẻ và khó khăn đến hoa mắt, váng đầu. Đưa bọn trẻ vào Thường vụ ư, chưa được. Chúng nó hăng hái đấy, nhưng rèn luyện còn ít, kinh nghiệm lãnh đạo chưa có bao nhiêu, quan điểm lập trường chưa được thử thách, kiểm nghiệm qua thực tiễn đấu tranh lại hay xốc nổi, vội vàng, dễ gây rách việc. Vậy là mấy ông già chia nhau nắm các chức vụ, người thì kiêm bốn, năm chức trưởng kẻ ít cũng đôi ba ngành quan trọng. Chưa biết thì học, hỏi, tìm đến các cán bộ kỹ thuật, đi nghiên cứu tại chỗ những đơn vị bạn có thành tích, có kinh nghiệm, mượn sách chuyên môn về chong đèn đêm để đọc, ghi chép, thậm chí học thuộc lòng một số khái niệm cơ bản, một số đoạn nếu thấy cần thiết. Trước kia, hồi kháng chiến sao thanh thản trong lòng. Quân thù hung hãn là vậy, chiến tranh khốc liệt làm sao, sống và chết chỉ cách nhau có gang tay, sợi tóc, nhưng có đường lối, phương châm của Đảng soi đường, có hậu phương vững chắc để dựa, có tình đồng chí, đồng bào thiêng liêng, đoàn kết nhất trí muôn người như một động viên, mọi việc cứ băng băng, ào ào xốc tới; rủi ngã xuống hy sinh, cũng vui lòng vì biết chắc sẽ có người khác thay mình tiến tới, không có điều gì phải ân hận, bận tâm. Hồi ấy nghĩ đến thắng lợi mà sướng run cả người. Kẻ thù như thằng Mỹ ta còn đánh bại thì ở trên đời này không việc gì không làm được, không đỉnh cao nào không chiếm lĩnh được, không khó khăn nào không vượt qua được…

Có đêm tôi đi gác về khuya, công trường đã vắng lặng, những người ngủ muộn cũng đã buông mùng lên giường nằm, thấy ông Ma Gầm một mình một ngọn đèn khuya, ngồi ghi ghi chép chép, đọc những tài liệu để ngập trên bàn, chiếc kính trắng trễ xuống sống mũi, thỉnh thoảng lại ngồi thừ ra suy nghĩ. Những lúc ấy tôi những muốn vào, nói một vài câu chuyện vui với ông, uống một chén nước trà nóng, đề nghị xem có giúp ông được gì hơn nữa ở cái công trường ngổn ngang trăm công nghìn việc, nhưng lại sợ ông đánh giá thằng nhỏ ngựa non háu đá, ốc chưa mang nổi mình ốc, mà cứ muốn bay bổng… “Ngày xưa, hồi còn…”, không phải một vài lần tôi được nghe ông mở đầu câu chuyện như thế, mà âu cũng là quy luật tâm lý của những người già, bao giờ cũng tìm dịp để dạy bảo con cháu điều gì bổ ích trong cái kho kinh nghiệm và kiến thức phong phú của mình. Ngày xưa khi chúng tôi còn bằng tuổi các đồng chí bây giờ, thậm chí nhiều người còn trẻ hơn, chúng tôi đã nắm những chức vụ cao, công việc hệ trọng hơn nhiều.

Ông Ma Gầm có một đức tính quý hơn ở nhiều người khác, đó là sự quan tâm chu đáo của ông đối với những người cộng sự, đặc biệt đối với anh em cán bộ trẻ. Ông hỏi han tỉ mỉ về từng người, hiểu khá rõ hoàn cảnh gia đình của những người trong đơn vị do ông quản lý trực tiếp. Một hôm ông bảo tôi:

– Là chỉ huy phó công trường, cậu có biết thằng Khảng đang muốn bỏ vợ không?

Tôi ngạc nhiên:

– Không. Có chuyện gì thế, thưa chú?

Ồng nheo mắt nhìn tôi:

– Chú mày quan liêu nhé. Bạn bè với nhau mà không biết chuyện động trời như thế sao? Kỳ nghỉ phép về quê vừa rồi nó đã đâm đơn ra tòa rồi đấy.

– Nghe nói vợ cậu ta hơn chồng những ba tuổi, mà chú!

Những lúc thân mật tôi gọi ông bằng chú.

– Nói giỡn – ông Ma Gầm trợn mắt – hơn tuổi kém tuổi đâu phải là cái cớ để bỏ nhau. Chúng nó lại đã có với nhau một mặt con.

– Tôi nghe đâu thằng bé không phải là con của nó, mà là con của ông hàng xóm.

Ông Ma Gầm bật cười:

– Ai biểu thế! Chính thằng Khảng tung ra dư luận ấy để lấy cớ làm đơn xin ly dị vợ. Kỳ này họp chi bộ tao đưa chuyện này ra coi thử nó trả lời ra răng. Nghe đâu nó bồ bịch với con nhỏ nào chồng chết, đã có bốn, năm con.

– Ai biểu chú vậy?

– Là tao nghe nói qua nói lại thế thôi.

Tôi đem chuyện này hỏi Khảng. Cậu ta nhận là đã làm đơn ly dị vợ, đang chờ tòa giải quyết. Còn chuyện bồ bịch thì chối thẳng thừng và cậu ta nhìn tôi từ đầu đến chân, nói rõ từng chữ:

– Tôi là Đảng viên. Chuyện gì đã có Đảng của tôi giải quyết. Anh hỏi chuyện vợ con là có ý định gì?

Tôi đứng lặng đi, cố nuốt giận, không nói gì cả.  

Một buổi tối thứ bảy, ông Ma Gầm gọi tôi lại phòng ông. Ông cho biết chi bộ phân công ông ấy và Khảng giúp đỡ tôi phấn đấu vào Đảng và hỏi tại sao là đối tượng kết nạp đã lâu mà vẫn chưa là Đảng viên. Tôi chẳng biết trả lời như thế nào cả, mặt cứ nóng dần lên, ông nhìn tôi vẻ thông cảm, gật gù nói:

– Phàm con người ta cứ học đến lớp bảy là tiểu tư sản hóa. Chú mày có công nhận điều ấy không? Là cái anh trí thức chúa hay chao đảo, ngả nghiêng. Có giác ngộ mấy, đi theo cách mạng mấy, gặp khó khăn, hy sinh, vẫn cứ lòi cái đuôi anh trí thức tiểu tư sản ra. Những anh trí thức có quyền, có địa vị lại càng dễ chao đảo ngả nghiêng, lúc tả, lúc hữu, đặc biệt là hay ngả sang hữu, không kiên trì lập trường, tư tưởng như anh vô sản. Chú mày định cãi lại tao chớ gì! Trí thức xã hội chủ nghĩa hay trí thức cũ có mấy nỗi khác nhau. Phàm khi đã học tới lớp bảy là con người ta biến chất đi rồi, tiểu tư sản hóa đi rồi. Mà đã tiểu tư sản hóa thì dù gốc của anh ta là công nhân, là bần cố nông đi chăng nữa cũng chao đảo như thường.

Ngừng một lát, ông nói tiếp, giọng thân tình:

– Nói thiệt, tao quý mày. Tuy mày là trí thức, là người Hà Nội, nhưng mày cũng giản dị, xuề xòa như chúng tao, lại đã kinh qua trường quân đội cách mạng. Mày lại không ngại khổ, bảo làm gì cũng làm, giao việc gì yên tâm việc nấy, nên tao muốn giới thiệu mày vào Đảng…

Cả buổi tối, tôi ngồi nghe ông Ma Gầm nói về cuộc đời hoạt động cách mạng của ông, nhiều chuyện có thể ghi lại đem xuất bản thành sách được. Nhưng cũng có nhiều nhận định, phán xét của ông phải chỉnh lý, thậm chí phải tranh cãi. Nhưng tôi chỉ ngồi chăm chú nghe, phần không muốn làm ông cụt hứng, phần biết cãi lại cũng chẳng ăn nhằm gì với một ông già đã đến tuổi về hưu, gần hết cuộc đời của mình, chiến đấu ở trong rừng, khi đất nước được giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội thì sức lực đã chẳng còn bao lăm, kiến thức hạn hẹp, những kinh nghiệm cũ đôi khi lại có hại.

(Còn nữa) 



Nguồn: Arttimes.vn

Khát vọng tuổi trẻ Việt Nam qua những mùa gian khó


Trong hành trình dài của dân tộc Việt Nam, mỗi khi Tổ quốc đứng trước một ngã rẽ sinh tử, lực lượng được nhắc đến đầu tiên luôn là thanh niên. Từ những ngày đầu giành độc lập đến những mùa bão lũ mịt mờ bùn đất hôm nay, sức trẻ Việt Nam vẫn bền bỉ tỏa sáng như một ngọn lửa không chế ngự được, bất chấp mọi biến động của thời gian.

Tổ quốc gọi tên – thanh niên là người trả lời đầu tiên

Trong hành trình dài của dân tộc Việt Nam, mỗi khi Tổ quốc đứng trước một ngã rẽ sinh tử, lực lượng được nhắc đến đầu tiên luôn là thanh niên. Từ những ngày đầu giành độc lập đến những mùa bão lũ mịt mờ bùn đất hôm nay, sức trẻ Việt Nam vẫn bền bỉ tỏa sáng như một ngọn lửa không chế ngự được, bất chấp mọi biến động của thời gian.

Tinh thần “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” không phải là khẩu hiệu treo trên các pa-nô áp phích. Đó là kết tinh của hàng triệu lựa chọn âm thầm nhưng can đảm, từ những người trẻ đã đặt lợi ích của cộng đồng lên trên an nguy của bản thân. Họ lựa chọn cách sống đẹp – không phải vì được giao nhiệm vụ, mà bởi trong sâu thẳm trái tim họ luôn có tiếng gọi của Tổ quốc linh thiêng.

Ngay trong những ngày bão lũ mới đây, khi nước lũ dâng qua ngực, khi từng điểm dân cư bị chia cắt, khi từng mái nhà chỉ còn nhìn thấy nóc, thanh niên ở khắp mọi miền đã tự nguyện lao vào tâm lũ. Không cần đợi ai gọi, họ đã có mặt. Không ai yêu cầu, nhưng họ hiểu: khi Nhân dân đang gặp nạn, thanh niên không thể đứng ngoài.

Khát vọng tuổi trẻ Việt Nam qua những mùa gian khó - 1

Đoàn công tác Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã đến vùng lũ phía Đông của tỉnh Đắk Lắk (thuộc Phú Yên cũ) để thăm hỏi nhân thân các nạn nhân và trao nhu yếu phẩm cho người dân vừa trải qua trận lũ lịch sử ngày 25/11/2025. Nguồn ảnh: Website Trung ương Đoàn

Giữa khói lửa chiến tranh – tuổi trẻ Việt Nam viết nên trang sử bằng máu và niềm tin

Lật lại từng trang sử hào hùng của dân tộc, người ta luôn tìm thấy dấu ấn của thanh niên. Đó là dấu chân lội trong bùn đất, là nụ cười giữa sương rừng Trường Sơn, là giọt nước mắt tiễn bạn ngã xuống, là tiếng hát át tiếng bom, là những bức thư gửi lại gia đình không bao giờ nhận được hồi âm.

Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trước đây, trong kháng chiến chống Mỹ, 65% lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu là thanh niên, hơn 1,4 triệu lượt thanh niên xung phong có mặt tại các trọng điểm hứng bom đạn ác liệt nhất. Trong đó, hơn 10.000 người đã anh dũng hy sinh, tuổi đời trung bình chỉ từ 18 đến 22.

Những người con tuổi hai mươi hóa thành bất tử

Lý Tự Trọng – người thanh niên 17 tuổi đã khảng khái bước lên máy chém và để lại câu nói bất hủ: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng.” Võ Thị Sáu – cô gái Đất Đỏ mười sáu tuổi đối diện với kẻ thù mà “gót chân không hề run”. Nguyễn Văn Trỗi – người thợ điện trẻ tuổi đã biến giây phút cận kề cái chết thành lời kêu gọi thức tỉnh hàng triệu trái tim. Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc – tất cả đều mười tám, đôi mươi, đã nằm lại trong lòng đất để giữ mạch máu giao thông cho chiến trường miền Nam.

Lương Khánh Thiện, Bế Văn Đàn, Cù Chính Lan, Trần Văn Phương trên đảo Gạc Ma sau này… và hàng ngàn cái tên mà mỗi tên tuổi là một ngọn lửa, mỗi tên tuổi là một người con bất tử của Tổ quốc này. Những con người ấy không bao giờ già đi trong trí nhớ dân tộc, trong hồn thiêng sông núi, bởi họ đã chọn gửi trọn tuổi xuân của mình cho Tổ quốc.

Từ chiến hào đến hòa bình – thanh niên tiếp tục mở đường cho đất nước. Khi tiếng súng chiến tranh đã lui về quá khứ, dải đất hình chữ S bước vào giai đoạn kiến thiết đầy gian nan. Và một lần nữa, thanh niên được gọi tên – không phải để cầm súng, mà để dựng xây một Việt Nam mới.

Khát vọng tuổi trẻ Việt Nam qua những mùa gian khó - 2

Ngày 23/11/2025, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Khánh Hòa đã phát động đồng loạt ra quân Ngày Chủ nhật xanh lần thứ VIII trên toàn tỉnh, tập trung cao điểm vào công tác hỗ trợ nhân dân và chính quyền khắc phục hậu quả thiên tai, thu hút hơn 8.000 đoàn viên thanh niên toàn tỉnh tham gia. Nguồn ảnh: Website Trung ương Đoàn

Những con đường của thanh niên – những nhịp cầu của lòng dân

Trong suốt 40 năm đổi mới, thanh niên đã để lại dấu ấn trong hàng vạn công trình, phần việc cụ thể:

Giai đoạn 2017–2022, các cấp bộ Đoàn đã đăng ký và triển khai hơn 34.000 công trình thanh niên. Hơn 150.000 km đường giao thông nông thôn được mở rộng, bê tông hóa hoặc sửa chữa. 20.000 cầu, cống dân sinh được dựng nên từ mồ hôi, công sức của thanh niên. Hơn 120 triệu cây xanh được trồng trong các chương trình “Vì môi trường xanh”, góp phần tạo nên những lá phổi mới cho đất nước.

Ở mỗi vùng quê, mỗi bản làng, người dân đều có thể chỉ cho bạn một công trình có dấu chân người trẻ: cây cầu treo bắc qua suối lũ của bản Mường Đăng (Điện Biên); tuyến đường bê tông mới mở ở xã Trà Dơn (Nam Trà My); công trình “Điện thắp sáng đường quê” ở miền Tây Nam Bộ.

Những trí thức trẻ đi về phía khó khăn

Tuổi trẻ thời hội nhập không chỉ xung kích bằng sức lực mà còn bằng trí tuệ. Mỗi năm, thanh niên cả nước có hơn 300.000 sáng kiến, đề tài khoa học – kỹ thuật được công nhận và ứng dụng. Hơn 40.000 trí thức trẻ tình nguyện đã được tăng cường về vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để phát triển nông thôn mới, chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng mô hình kinh tế, hướng dẫn đồng bào phát triển sinh kế. Hơn 600.000 thanh niên khởi nghiệp đang tạo nên các doanh nghiệp trẻ, công nghệ cao, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm sáng khởi nghiệp của khu vực.

Tuổi trẻ hôm nay, nếu không gùi hàng vượt núi như cha anh thì cũng đang “mở đường” trên những không gian mới: không gian số, không gian sáng tạo, không gian quốc tế.

Khát vọng tuổi trẻ Việt Nam qua những mùa gian khó - 3

Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai lực lượng hỗ trợ tỉnh Khánh Hòa khắc phục hậu quả nặng nề sau mưa lũ. Ảnh: Phương Uyên

Khi thiên tai ập đến – thanh niên luôn là lực lượng ở tuyến đầu

Những ngày mưa lũ kéo dài tại Đắk Lắk, Khánh Hòa, Gia Lai, Lâm Đồng và nhiều tỉnh miền Trung – Tây Nguyên cuối năm 2025, cả nước thêm một lần nhìn thấy hình ảnh quen thuộc nhưng luôn lay động lòng người: những đoàn viên, thanh niên lội giữa dòng nước xiết, tay bồng cụ già, tay dắt trẻ nhỏ, mắt nhìn nhau kiên định giữa tiếng gió rít và nước lũ cuồn cuộn. Ở bất cứ điểm sạt lở, ngập sâu hay vùng dân cư bị cô lập nào, người ta đều thấy trước tiên bóng áo xanh tình nguyện, áo lính biên phòng trẻ, áo đỏ thanh niên chữ thập đỏ.

Không còn là câu chuyện của riêng một địa phương, tinh thần ấy trải dài khắp những nơi gánh chịu thiệt hại nặng nề: từ Buôn Đôn (Đắk Lắk) nơi nước dâng hơn 2 mét chỉ trong vài giờ, đến Ninh Hòa (Khánh Hòa) nơi sông Dinh vượt đỉnh lũ lịch sử; từ những thôn bản ở Krông Ana, Ea Kar, đến các xã ven suối ở Gia Lai – nơi những đoàn thanh niên đã xuyên đêm đi bộ tiếp cận người dân đang bị cô lập nhiều ngày.

Những câu chuyện có thật – ghi lại bằng mồ hôi và lòng dũng cảm

Câu chuyện 1: 150 thanh niên TP.HCM lên đường cứu trợ Khánh Hòa giữa tâm lũ (2025). Ngày 23/11/2025, Thành Đoàn TP.HCM quyết định thành lập đội hình 150 thanh niên tình nguyện, lập tức lên đường hỗ trợ nhân dân Khánh Hòa đang chìm trong lũ nặng. Đây là một trong những đội hình lớn nhất được huy động trong vòng 10 năm gần đây. Chỉ trong 48 giờ, đội hình đã cứu trợ hơn 1.500 phần quà, tiếp cận trực tiếp các điểm dân cư bị ngập sâu ở Ninh Hòa, Vạn Ninh, Diên Khánh.

Câu chuyện 2: Hơn 1.500 đoàn viên Lâm Đồng hỗ trợ người dân dọn dẹp sau lũ lịch sử (2025). Sau trận lũ đặc biệt lớn đầu tháng 11/2025, Tỉnh đoàn Lâm Đồng đã huy động hơn 1.500 đoàn viên, thanh niên xuống các địa bàn bị thiệt hại nặng. Họ dọn bùn, sửa nhà, thu gom rác, hỗ trợ nấu cơm, vận chuyển lương thực – làm việc không quản nắng mưa từ sáng đến tối. Có những xã, nước lũ rút đến đâu, thanh niên có mặt đến đó, giúp dân dựng lại từng mái nhà bị tốc mái.

Câu chuyện 3: Thanh niên Đắk Lắk trắng đêm vào vùng ngập sâu đưa dân ra khỏi khu vực nguy hiểm (2025). Trong đợt lũ lớn ngày 21–22/11/2025, tại huyện Krông Ana (Đắk Lắk), đội thanh niên phản ứng nhanh xã Bình Hòa đã xuyên đêm đi ghe vào từng cụm dân cư, đưa hơn 200 người ra khỏi khu vực nước lũ dâng nhanh. Báo chí ghi lại hình ảnh những thanh niên trẻ mò mẫm trong đêm, tay cầm đèn pin, tay giữ dây kéo ghe, nhiều đoạn phải lội trong dòng nước lạnh đến ngực để dìu từng cụ già sang điểm an toàn.

Những con số biết nói giữa mùa lũ

Theo thống kê sơ bộ của Trung ương Đoàn và Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng chống thiên tai: Hơn 120.000 lượt thanh niên đã trực tiếp tham gia cứu hộ, cứu nạn và hỗ trợ vùng lũ chỉ trong năm 2025. Hơn 5.000 đội hình phản ứng nhanh đã được kích hoạt tại 63 tỉnh, thành phố. Giá trị vật chất thanh niên huy động hỗ trợ đồng bào vùng lũ lên tới xấp xỉ 300 tỷ đồng. Hơn 2 triệu suất ăn, hàng trăm tấn gạo, hơn 10.000 phao cứu sinh, cùng hàng nghìn chăn, áo ấm, thuốc men đã được chuyển đến các địa bàn bị ngập sâu hoặc chia cắt.

Những con số ấy không chỉ cho thấy sức mạnh của tuổi trẻ trong thời khắc khó khăn, mà còn thể hiện chiều sâu văn hóa nhân ái đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Những câu chuyện nhỏ – nhưng tạo niềm tin lớn

Đoàn viên Nguyễn Thị Mai (Quảng Ngãi): Ngày 12/11/2023, trong lúc sơ tán người dân tại xã Nghĩa Hòa (huyện Tư Nghĩa), Mai bị tấm tôn cuốn theo gió sượt qua tay, máu chảy nhiều. Nhưng cô băng tạm vết thương rồi quay lại cùng tổ thanh niên chuyển gạo, đưa trẻ nhỏ lên tầng tránh lũ. Cô chỉ nói giản dị: “Lũ lên nhanh quá, dân còn cần mình.”

Nhóm thanh niên huyện Kỳ Sơn (Nghệ An): Trận lũ quét ngày 2/9/2022 tại Mường Xén khiến nhiều hộ dân mắc kẹt. 15 thanh niên địa phương đã tranh thủ từng phút giữa mưa xối xả để buộc dây cứu sinh, lội qua dòng nước siết kéo 12 người ra khỏi căn nhà gỗ sắp bị cuốn trôi.

Em học sinh lớp 11 Nguyễn Quốc Toàn (Quảng Trị): Ngày 29/10/2022, Toàn – học sinh lớp 11 – đã nhảy xuống dòng nước sâu cứu ba người bị lật thuyền tại xã Hải An (huyện Hải Lăng). Em nói: “Lúc đó không nghĩ gì, chỉ thấy họ sắp chìm.”

Những câu chuyện ấy, dù nhỏ bé so với công việc lớn lao mà thanh niên cả nước đang đảm nhận, vẫn làm sáng lên một điều giản dị: lòng tốt của người Việt Nam luôn bắt đầu từ tuổi trẻ. Bất kể thời đại nào, thanh niên Việt Nam vẫn đẹp trong sự dấn thân, trong sự can trường và trong cách họ đặt Nhân dân lên trên bản thân mình.

Từ thế hệ Lý Tự Trọng đến thế hệ phòng tuyến COVID-19, từ thế hệ mười cô gái Đồng Lộc đến thế hệ băng suối cứu dân trong lũ, vẫn là một tinh thần không đổi: khi Tổ quốc khó khăn, thanh niên tiến lên; khi Nhân dân gặp nạn, thanh niên ở lại; khi đất nước cần đổi mới, thanh niên sáng tạo.

Tinh thần ấy là chất keo gắn kết các thế hệ; là nguồn năng lượng vô tận cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là căn cước chính trị của tuổi trẻ Việt Nam.

Khát vọng tuổi trẻ Việt Nam qua những mùa gian khó - 4

Thanh niên tỉnh Bắc Ninh hỗ trợ người dân trong bão lũ. Ảnh: Nguyễn Thắng

Thanh niên – lực lượng xung kích trong thời đại mới

Ngày nay, Việt Nam đứng trước những thách thức mới: cạnh tranh quốc tế gay gắt, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, nguy cơ tin giả, lừa đảo công nghệ cao, các vấn đề phi truyền thống, thiên tai cực đoan.

Và một lần nữa, thanh niên bước ra tuyến đầu của thời đại mới: Trên trận tuyến chuyển đổi số, thanh niên là nòng cốt. Trên trận tuyến kinh tế xanh – kinh tế tuần hoàn, thanh niên là người khởi xướng. Trên trận tuyến bảo vệ môi trường, thanh niên là người tiên phong. Trên trận tuyến ngoại giao nhân dân, thanh niên là cầu nối đưa Việt Nam ra thế giới. Trên trận tuyến đổi mới sáng tạo, thanh niên là những người đi nhanh nhất. Họ chính là thế hệ của khát vọng 2045 – thế hệ mang trong mình trách nhiệm và sứ mệnh lớn lao mà Đảng và Nhân dân gửi gắm.

Mỗi thời đại cần một thế hệ thanh niên bản lĩnh

Mỗi khi đất nước gặp thử thách, người ta lại hỏi: “Thanh niên đang ở đâu?”

Và câu trả lời chưa bao giờ thay đổi:Thanh niên đang ở nơi khó khăn nhất.Thanh niên đang ở nơi Nhân dân cần nhất. Thanh niên đang ở nơi Tổ quốc gọi tên”.

Tinh thần ấy là niềm tin, là hy vọng, là sức mạnh giúp dân tộc vượt qua mọi biến cố. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên.”

Ngày hôm nay, khi chúng ta nhìn thấy những người trẻ lao mình vào cứu dân trong lũ, đêm đêm soi đèn sửa cầu, ngày ngày nghiên cứu công nghệ mới, tháng ngày bám bản làng giúp dân phát triển kinh tế… ta càng tin rằng tương lai Việt Nam sẽ sáng hơn, mạnh hơn, bền vững hơn.

Bởi vì, trong mọi hoàn cảnh, thanh niên Việt Nam vẫn giữ trọn bản lĩnh và tâm hồn:

Đâu cần thanh niên có.

Đâu khó có thanh niên./.

TS. Nguyễn Minh Chung,

Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận

Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương




Nguồn: Arttimes.vn

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025


Hội Nhà văn Việt Nam vừa ban hành Quyết định Giải thưởng Văn học 2025 cho 6 tác phẩm, của các tác giả, dịch giả: Lê Thanh Kỳ, Hoàng Thụy Anh, Trang Thanh, Trần Văn Toàn, Lê Đức Dương, An Nhiên, Thiên Nga.

Theo đó, căn cứ Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 8/10/2024 của Chính phủ, Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội; Căn cứ Điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam khóa X (2020-2025); Căn cứ kết quả xét chọn của Hội đồng Chung khảo tại phiên họp ngày 22/12/2025 và cuộc họp Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cùng ngày, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều đã thay mặt Ban Chấp hành Hội ký Quyết định số 09/QD-HNV, ngày 8/1/2026 về Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 2025 cho 6 tác phẩm.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 1

Một số tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học 2025 của Hội Nhà văn Việt Nam.

Ảnh: vanvn.vn

1. Giải thưởng Văn xuôi:

Giải cho tiểu thuyết Miền đất hứa của nhà văn Lê Thanh Kỳ – NXB Văn học.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 2

Tiểu thuyết “Miền đất hứa” của nhà văn Lê Thanh Kỳ.

2. Giải thưởng Thơ:

Tác phẩm Thơm từ nỗi đau, tập thơ của nhà thơ Hoàng Thụy Anh (Hoàng Thị Quỳnh Anh) – NXB Hội Nhà văn.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 3

Tập thơ “Thơm từ nỗi đau” của nhà thơ Hoàng Thụy Anh.

Tác phẩm Trên con đường tóc, tập thơ của nhà thơ Trang Thanh (Trần Thị Thanh) – NXB Hội Nhà văn.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 4

Tập thơ “Trên con đường tóc” của nhà thơ Trang Thanh.

3. Giải thưởng Lý luận phê bình:

Tác phẩm Văn học như một diễn ngôn của nhà lý luận phê bình Trần Văn Toàn – NXB Đại học Sư phạm.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 5

Tác phẩm “Văn học như một diễn ngôn” của nhà lý luận phê bình Trần Văn Toàn.

 4. Giải thưởng Văn học Dịch:

Tác phẩm Hạc trắng xèo cánh, truyện của tác giả Tawada Yoko – An Nhiên (Nguyễn Đỗ An Nhiên) dịch – NXB Văn học.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 6

Tác phẩm ‘‘Hạc trắng xèo cánh”.

Tác phẩm Bài ca Solomon, truyện của tác giả Toni Morrison – Thiên Nga (Nguyễn Thiên Nga) dịch – NXB Hội Nhà văn.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 7

Tác phẩm “Bài ca Solomon”.

5. Văn học thiếu nhi

Tác phẩm Miền thảo nguyên Panduranga, tiểu thuyết của nhà văn Lê Đức Dương – NXB Kim Đồng.

Hội Nhà văn Việt Nam công bố Giải thưởng Văn học 2025 - 8

Tác phẩm “Miền thảo nguyên Panduranga” của nhà văn Lê Đức Dương.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Công bố TTHC được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế chuyên ngành văn hóa thuộc quản lý của Bộ VHTTDL


Bộ VHTTDL vừa ban hành Quyết định số 83/QĐ – BVHTTDL về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế chuyên ngành văn hóa thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ VHTTDL.

Căn cứ Nghị định số 43/2025/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ VHTTDL; Căn cứ Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính và các Nghị định sửa đổi, bổ sung liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Căn cứ Thông tư số 153/2025/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp một số khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính và Chánh Văn phòng Bộ;… Bộ VHTTDL đã ban hành Quyết định công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế chuyên ngành văn hóa thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ VHTTDL.

Công bố TTHC được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế chuyên ngành văn hóa thuộc quản lý của Bộ VHTTDL - 1

Ảnh minh họa

Theo đó, thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế chuyên ngành văn hóa thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ VHTTDL gồm: Thủ tục xác nhận danh mục sản phẩm nghe nhìn có nội dung vui chơi giải trí nhập khẩu cấp Trung ương; Thủ tục xác nhận danh mục sản phẩm nghe nhìn có nội dung vui chơi giải trí nhập khẩu cấp tỉnh.

Công bố TTHC được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử thuộc quản lý của Bộ VHTTDLĐọc ngay

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các thủ tục hành chính được công bố tại Quyết định này thay thế các thủ tục hành chính tương ứng đã công bố tại Quyết định số 4508/QĐ-BVHTTDL ngày 28/11/2025 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL.

Bộ VHTTDL yêu cầu Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Thủ trưởng các Cục, Vụ và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.



Nguồn: Arttimes.vn