Home Blog Page 94

Bài thơ “Kính đề Nam thiên đệ lục động” của Giáo thụ Trần Hữu Đáp


Năm 1924, khi làm Giáo thụ (vị quan trông coi việc học) phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Trần Hữu Đáp có chuyến du xuân, ngoạn cảnh “Nam thiên đệ lục động” (Động đẹp thứ sáu trời Nam). Đây là động Kính Chủ trên đất làng Dương Nham, nay thuộc phường Phạm Sư Mạnh, thành phố Hải Phòng. Đối cảnh sinh tình, thi nhân đã có bài thơ chữ Hán khắc trên vách đá, được bảo tồn trong động một thế kỷ qua.

Bài thơ "Kính đề Nam thiên đệ lục động" của Giáo thụ Trần Hữu Đáp - 1

Nguyên văn chữ Hán bài thơ.

Phiên âm:

KHẢI ĐỊNH CỬU NIÊN XUÂN

Phi vân trực thướng thạch môn quynh,

Phủ khám quần phong liệt hạ bình.

Lý Chúa du quan di tượng tại,

Phạm Công sự nghiệp cố sơn minh.

Địa khai Dương Cốc tiên tàng nhật,

Nhân hướng Nham A sử khí linh.

Tuyệt lĩnh tọa khan kim cổ sự,

Hà sơn y cựu tự cao thanh.

Hàn lâm Kiểm thảo Kinh môn Giáo thụ

Hà Nam, Duy Tiên, Lê Xá, Long Sơn – Trần Hữu Đáp kính đề.

(Theo bản phiên âm của nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành – Nguyên giám đốc Bảo tàng tỉnh Hải Dương)

Dịch nghĩa:

Khải Định năm thứ 9, mùa Xuân năm 1924

Mây bay, người dấn bước lên thẳng cửa đá hẹp,

Cúi nhìn những ngọn núi tầng lớp như những bức bình phong.

Vua Lý chơi thăm động đến nay vẫn còn tượng đá tôn thờ,

Sự nghiệp Phạm Công thuở xưa còn lưu bài thơ khắc trên bia lớn.

Đất mở hang Dương Cốc rạng ngày mặt trời soi chiếu,

Người đời hướng về Nham A chốn thiêng linh khí tụ

Trên đỉnh cao nhất ngồi xem mọi việc xưa nay,

Sông núi như xưa tự thanh cao với giang sơn muôn vẻ.

Giáo thụ phủ Kinh Môn, Hàn lâm Kiểm thảo, quê làng Lê Xá,

Long Sơn, Duy Tiên, Hà Nam là Trần Hữu Đáp kính đề.

Dịch thơ:

Mây bay cửa động mở phương trời,

Trùng điệp gần xa núi đứng ngồi.

Vua Lý du sơn còn tượng tạc,

Phạm Công sự nghiệp đẹp muôn lời.

Hang soi nắng sớm vầng dương tỏ,

Động hướng tâm linh của mọi người.

Tuyệt đỉnh thấu tường bao tích truyện,

Núi sông muôn thuở tự tươi ngời.

(Trần Quốc Toản  dịch)

Bài thơ Đường luật khắc ở bên phải cửa động, câu phá đề đúng là câu mở đầu “khai môn kiến sơn” (mở cửa thấy núi) thật sinh động: Mây bay đỉnh núi vấn vít, thạch động thêm huyền ảo, khách du dấn bước lên, cửa đá hang động đón mời. Câu thừa đề tiếp theo, khách du cúi nhìn núi non châu tuần về động như những bình phong thiên tạo phía dưới, gợi niềm cảm hứng thanh cao.

Hai câu thực – ba, bốn, câu trên: sự tích Lý Thần Tông (1128 -1138) vị vua thứ năm triều Lý về đây hiện còn tượng thờ trong động. Câu dưới bao quát sự nghiệp kinh bang tế thế của danh thần triều Trần Phạm Sư Mạnh (1303-1384). Bài thơ “Hành dịch đăng gia sơn” (Nhân đi việc quan, lên chơi núi quê nhà) của ông được khắc vào bia lớn còn đây. 

Hai câu luận năm, sáu biểu lộ bút lực triết luận “Thiên-Địa-Nhân” của thi nhân trước kỳ quan của tạo hóa ở nơi này: Đất mở động trời “Dương Cốc” để đón ánh dương đầu ngày mặt trời ló rạng bình minh. Người người hướng về hang động núi thiêng mà cảm nhận linh khí nghìn năm đất nước. 

Hai câu kết bảy, tám: tác giả nâng người đọc lên vị trí cao nhất: “tuyệt đỉnh” nhìn bao quát cảnh trí thiên tạo, xem xét, tỏ tường mọi việc từ xưa đến nay, nơi sông núi tự thanh cao, rạng rỡ đất trời. 

Bài thơ Khải Định cửu niên Xuân của Giáo thụ Trần Hữu Đáp là thi phẩm thứ ba được khắc trên cửa động sau bài thơ Ngự chế khắc trên nóc động của vua Lê Thánh Tông triều Lê sơ và bài thơ của danh sĩ Phạm Sư Mạnh thời Trần, khắc trên bia lớn trong động. Bài thơ của thi nhân họ Trần  đạt đến độ toàn bích. 

Bản dịch bài thơ của  ông do cháu nội Trần Quốc Toản thực hiện là một bản dịch khoát đạt, trang nhã.

Xin có đôi lời về vị học quan – thi nhân Trần Hữu Đáp. Xuất thân trong một gia đình nghèo ở làng Lê Xá, huyện Duy Tiên, xứ Sơn Nam Hạ, Trần Hữu Đáp thông minh, ham học từ thuở nhỏ. Được bà cô giúp đỡ, ông bền chí theo nghiệp bút nghiên, vừa theo thầy là tiến sĩ Đàm Liêm ở Hương Mặc, Bắc Ninh sôi kinh nấu sử, vừa dạy học.

Bài thơ "Kính đề Nam thiên đệ lục động" của Giáo thụ Trần Hữu Đáp - 2

Giáo thụ phủ Kinh Môn Trần Hữu Đáp.

Trần Hữu Đáp thi đậu Tú tài 2 khóa Đinh Dậu (1897) và Nhâm Tý (1912) tại trường thi Nam Định. Sau đó, học trường Hậu bổ, trúng tuyển Giáo học hàn lâm, ông được bổ làm Huấn đạo ở hai huyện Chí Linh và Cẩm Giàng, Hải Dương. Năm 1923, bổ Tri châu. Năm 1924,  được bổ làm Giáo thụ phủ Kinh Môn, Hải Dương. Ông có những học trò thành Đạt: Dương Thiệu Tường, Tiến sĩ – Binh bộ Thượng thư, Tổng đốc Hưng Yên. Nguyễn Đình Yên, Cử nhân, Chánh tòa Lạng Sơn.

Ông được triều Nguyễn ban tặng hai đạo sắc phong: Triều liệt Đại phu Hàn lâm viện Thị độc học sĩ; Phụng nghị Đại phu.

Năm 1925, ông được thăng Trợ tá phủ Bình Giang. Năm 1931, quyền Tri phủ Bình Giang. Năm 1939, Thông phán Thượng hạng.

Là nhân sĩ yêu nước, Cách mạng thành công, tháng 8/1945, ông Trần Hữu Đáp được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời xã Châu Sơn, Duy Tiên, Hà Nam (8/1945 – 3/1946).

Ông là ông nội của cố Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, một trong “Tứ trụ” lịch sử Việt Nam “Lâm – Lê – Tấn – Vượng” –  và được thế giới tôn vinh là một trong 2000 học giả xuất chúng của thế kỷ XX; được nhà nước phong tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, nhà giáo Ưu tú, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học công nghệ.

Cùng với bài thơ chữ Hán đề động Kính Chủ, thi nhân Trần Hữu Đáp còn có bài thơ lục bát tiếng Việt, vịnh cảnh động Kính Chủ rất nhuần nhuyễn, thơ về núi Đọi, chùa Đọi… Ông là danh sĩ của đất văn hiến Duy Tiên, Hà Nam, trưởng hội Tư văn Duy Tiên với những đóng góp còn lưu trong sử sách.

Phạm Trọng Thanh




Nguồn: Arttimes.vn

“Ngược nguồn ký ức” –  những trang viết chân thực, cảm động về quê hương và dòng họ của Nguyễn Đình Chi


Sau 2 tập thơ đầu tay “Vọng khúc non sông” (NXB Hội Nhà văn), “Nỗi quê” (NXB Nghệ An) ấn hành giữa năm 2025, Nguyễn Đình Chi lại cho xuất bản tiếp tập văn xuôi đầu tay “Ngược nguồn ký ức”, Tập 1: Cội nguồn (NXB Hồng Đức). Với bút pháp tả thực và cách thu nhận thông tin qua gia phả của dòng tộc để lại và lời kể của  cha mình là ông Nguyễn Bá, TS Nguyễn Đình Chi đã tuần tự làm hiện dậy khung  cảnh sinh hoạt, tập quán cách làm ăn, bề dày văn hoá và truyền thống yêu nước của làng Yên Nhân quê hương, của dòng họ, của những người thân trong gia đình ông trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến thập niên đầu của thế kỷ XXI.     

Tập sách dày 207 trang với 6 chương và 2 phụ bản. Các chương của tập sách gồm: Quê hương trong tôi, Tìm hiểu quy định người xưa, Cội nguồn, Ông nội ông ngoại và duyên trời xe, Cha mẹ tôi cuộc đời và sự nghiệp, Anh em trong đại gia đình. Phần phụ bản gồm: Một số hình ảnh về con cháu ông Nguyễn Bá, Một số giai thoại về ngài quản giáo.

“Ngược nguồn ký ức” -  những trang viết chân thực, cảm động về quê hương và dòng họ của Nguyễn Đình Chi - 1

 “Ngược nguồn ký ức”, Tập 1: Cội nguồn (NXB Hồng Đức)

Trong Chương 1 – Quê hương trong tôi, qua việc ghi chép lại lời giảng giải của người cha, tác giả đã làm rõ ý nghĩa vì sao tiền nhân lại đặt tên làng mình là Yên Nhân: ngày xưa các cụ đặt Yên Nhân vì Yên Nhân là yên ổn, làm ăn yên lành, nhân là nhân ái, nhân nghĩa, trung tín. Và qua lời kể của cha mình – một người uyên thâm Nho học, giàu lòng nhân ái, có tầm hiểu biết về thế thái nhân tình, về chính sự, về văn hoá, giáo dục, về đời sống lao động sản xuất, Nguyễn Đình Chi đã làm sáng rõ nguồn gốc vì sao có cái làng Yên Nhân. “Cha tôi dừng lại một chút như để nhớ lại rồi nói tiếp: “Hết thời kỳ bao cấp khi vị trí tối quan trọng của hợp tác xã  không còn nữa thì Nhân Thành lại chia thành 2 vùng Tây Nhân và Đông Nhân. Vùng Tây Nhân được tính từ đường 33 trở về phía Tây xã. Gồm các làng Cồn Miêu, Thông Lĩnh, Văn Hội. Vùng Đông Nhân được tính từ đường 33 trở về phía đông của xã gồm: Trung Xuân, Nhân Cao, Vĩnh Tiến, Bắc An, Đông Yên, Trung Thuận và Đông Yên chính là Yên Nhân ngày nay”.

Không những thế, Yên Nhân trong lòng cha ông và trong niềm riêng của tác giả là một miền quê “Phong cảnh hữu tình. Điểm nhấn nổi bật của làng Yên Nhân là làng có ngôi đình Cả”. Cũng qua lời kể của đấng thân sinh, Nguyễn Đình Chi đã biết được cách thức quản lý làng xã ngày xưa và biết được giá trị tâm linh, giá trị lịch sử và vai trò đối với sự nghiệp giáo dục của ngôi đình Cả của làng Yên Nhân. Đình Cả là chốn tâm linh. Tại đây thường diễn ra lễ khai hạ vào ngày mồng bảy tháng giêng, lễ cầu phúc vào ngày 6/6 và lễ xuống đồng vào ngày 1/10. Đền Cả còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của địa phương chẳng hạn như trong ngày cướp chính quyền ở huyện Yên Thành (25/8/1945), đền Cả là nơi giao nộp triện (con dấu) sổ sách cho cách mạng. Trong đó cha có giao cho họ cuốn hương sử làng Yên Nhân bằng chữ Nho khá dày, rất tiếc là nay đã bị thất lạc. Đền Cả là nơi tổ chức “Tuần lễ vàng” ủng hộ cách mạng (năm 1946)…

Trong những năm chống Pháp, chợ Yên của làng từ xóm Bắc An chuyển đến họp  trong khuôn viên đền Cả. Năm 1949, đền Cả là điểm sơ tán của công binh xưởng  Phạm Tây Hồ thuộc quân khu IV để sản xuất mìn và lựu đạn. Các cánh đồng như như Cồn Lạn, Đồng Cựa là nơi thử vũ khí. Một số gia đình ở Đồng Yên, Trung Thuận là nơi ăn nghỉ của công binh xưởng…  Trong những năm 1960-1965 đình Cả là nơi đặt điểm cho các lớp học cấp 1 của  xã Nhân Thành… Dịp  lễ quốc khánh 2 tháng 9 và rằm Trung thu, nơi đây thường diễn ra lễ cắm trại chơi vui của thiếu nhi làng Yên Nhân và các làng bên của các xã  khác. Đây cũng là nơi thường diễn ra các cuộc mít tinh chào mừng chiến thắng…

“Ngược nguồn ký ức” -  những trang viết chân thực, cảm động về quê hương và dòng họ của Nguyễn Đình Chi - 2

TS Nguyễn Đình Chi

Trong “Ngược nguồn ký ức”, Nguyễn Đình Chi còn chỉ rõ quê ông là vùng quê đầy gian khó, lụt bão, hạn hán luôn là nỗi lo thường trực của dân làng. Trước khi có nông giang, nước nôi vùng quê anh khó khăn lắm. Còn hạn hán khổ cực không kém, các ruộng lúa đều bị khô héo. Mãi đến năm 1927, Pháp bắt đầu khảo sát làm Ba ra Đô Lương, khởi công đến năm 1932 mới hoàn thành việc xây cống tuynel xuyên qua núi dẫn nước sông Lam về cho 4 huyện Diễn – Yên – Quỳnh – Đô Lương, năng suất cây trồng nâng lên nhiều, xây dựng thêm nhiều giếng khơi đảm bảo nước uống và sinh hoạt.

Cũng từ lời kể lại của cha mình mà Nguyễn Đình Chi ghi được trong dịp ông từ trường đại học về quê ăn Tết: “Cha bảo: Con nói nghề chính của làng ta ư? Tất nhiên là nghề trồng lúa nước rồi. Nó có từ khi cha con họ Nguyễn Thọ đến đây khai hoang lập ấp. Từ những năm 1930 – 1970 làng đã có thêm nghề trồng cây bông lấy sợi, nghề dệt vải là nghề phụ nhưng rất phổ biến của gia đình có đàn bà con gái”.

Điều mà tác giả muốn gửi gắm trong cuốn tự truyện làm rõ và thể hiện niềm tự hào của mình về làng Yên Nhân vì Yên Nhân là làng của “đất học” và và “sự học”: “Cha ơi Yên Nhân là nơi đất học phải không cha? Căn cứ vào đâu mà họ nói như vậy? – Ngẫm nghĩ một lúc cha tôi trả lời: Thế nào là đất học, chưa có ai nêu ra tiêu chí về đất học, đối với Nghệ An ta có tài liệu nói rằng có năm vùng đất học Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Diễn Châu. Người ta kết luận như vậy là dựa theo nguồn tư liệu liệt kê các ngài đậu tú tài, cử nhân, phó bảng, thám hoa, bảng nhãn, trạng nguyên và lấy đó làm căn cứ chính. Làng Yên Nhân nếu có lấy tiêu chí đó mà so sánh thì chưa có nhiều người đỗ đạt làm quan như Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu nhưng nếu chỉ lấy địa bàn huyện Yên Thành để so sánh thì chúng ta chưa có vị nào đạt trạng nguyên như trạng nguyên Bạch Liêu, tiến sỹ Trần Đình Phong ở Mã Thành; làng Tam Đa xã Thọ Thành có 3 trạng Nguyên, 1 tiến sỹ … Nhưng theo cha làng Yên Nhân vẫn xứng đáng là đất học… Đọc gia phả các dòng họ trong làng kể cả gia phả họ ta đời nào cũng có người làm nghề dạy học, nghề thầy thuốc. Nghề dạy học, nghề thầy thuốc không chỉ dạy trong làng mà còn đi dạy ở các làng khác trong huyện, trong tỉnh thậm chí ra tỉnh bạn lấy vợ sinh con và tạo nên những nhánh họ ở đó. Học giỏi đỗ đạt cao, làm quan triều đình (1889-1962) ở làng ta đầu tiên phải kể đến ngài Phan Võ. Yên Thành năm 1918 có trường tiểu học công lập dạy chữ quốc ngữ và chữ Hán. Ông Phan Khôi (em trai ông Phan Võ quê Yên Thành), Phan Lô làng Yên Nhân là những người đầu tiên dạy ở làng này. Làng Yên Nhân cũng là làng đầu tiên có trường dạy quốc ngữ. Thầy giáo dạy học đầu tiên của trường là ông Nguyễn Hoàn cậu ruột của con…”.

Với “Ngược nguồn ký ức”, Nguyễn Đình Chi còn bày tỏ niềm tự hào của một người con về vùng quê có đời sống tinh thần đáng được khâm phục. Khi trao đổi về đời sống tinh thần của làng xã, ông Nguyễn Bá thân sinh của Nguyễn Đình Chi khẳng định: “Cha tôi gật đầu tán thành: Có chứ. Đúng như vậy người dân làng ta đầu tắt mặt tối ngày  bán mặt cho đất bán lưng cho trời nhưng có ngày nhàn hạ họ vui chơi ca hát, tôi luyện để khi có điều kiện thể hiện ngay giọng hát vàng của mình. Con nhớ không, cách đây ba mươi năm cha con ta xem diễn tuồng ở sân kho đội 6 cạnh nhà. Ngô Xuân Định trong vai vua, chị Vỡn trong vai công chúa, họ là những người nông dân. Đó là văn hoá quần chúng. Sau khi thành lập hợp tác xã, mọi cái đều tập thể hoá, vậy tham gia văn hoá văn nghệ được chấm công điểm để nhận lúa”.

Cũng qua những lúc chuyện trò với con, ông Nguyễn Bá còn chỉ ra cho con trai mình những đức tính nổi trội của người dân làng Yên Nhân là tiết kiệm, tiết kiệm nhưng rất mến khách. Còn những nết xấu là kèn cựa so đo, không muốn ai hơn mình, sỹ diện quá đáng, ăn chơi học đòi, thú vui chơi cờ bạc.

Cũng qua lời kể của cha mình, Nguyễn Đình Chi biết thêm những quy định của người xưa, biết thêm về cội nguồn và truyền thống của dòng họ, về gốc gác người đã lập nên làng Yên Nhân của ông.

Thế mạnh của dòng họ của Nguyễn Đình Chi là “Cả ba đời nối tiếp nhau: cố con, ông nội con và cha đều làm lý trưởng làng Yên Nhân, chức không to nhưng không phải họ nào cũng có được. Dòng họ ta đều có truyền thống hiếu học, khổ học. Có truyền thống làm nghề dạy học và có nhiều người làm quan giáo dục”.

Điều đặc biệt và nổi bật nhất được viết trong “Ngược nguồn ký ức” là qua lời kể của cha mình, Nguyễn Đình Chi biết được tường tận ông nội, ông ngoại và những người thân yêu máu mủ ruột rà của mình. Ông nội là Nguyễn Đình Báng, sinh năm 1886 qua đời năm 1938 là con trai đầu của ngài lý trưởng làng Yên Nhân… Anh trai của tác giả là Nguyễn Đình Đào, anh Nguyễn Liệu. Anh em không được sống trong lòng thương yêu của ông nội bà nội. Ông  nội là con trai đầu của chánh tổng làng Yên Nhân rồi chánh tổng Quan Trung. Ông được đào tạo khá bài bản học rộng biết nhiều.

Bên họ ngoại, ông ngoại là tú tài Nguyễn Thắng lấy 2 vợ. Cậu đầu là Nguyễn Bá Thoại, cậu 2 là Nguyễn Trọng Sằn, cậu ba là Nguyễn Hoàn dạy học và bốc thuốc, Chủ tịch UBMT xã An Vinh. Cậu thứ tư Nguyễn Cẩn có con là đại biểu quốc hội, Phó Tổng giám đốc Công ty Xi măng Việt Nam. Cậu thứ năm Nguyễn Hứa tham gia thiết kế chợ Đầm Nha Trang, đập Ba tra Đô Lương. Cậu thứ sáu Nguyễn Thọ Luy mất sớm. Cậu thứ bảy Nguyễn Nguyên được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm quan Huấn đạo, sau cách mạng tháng Tám làm cán bộ cấp vụ ở Bộ Nội thương. Mẹ của  Nguyễn Đình Chi là bà Nguyễn Thị Tuỳ, sinh năm 1907 lấy cha ông Chi tên là Nguyễn Bá sinh năm 1905.

Theo tác giả, cha mẹ của ông là những công dân tốt, dù cha ông có làm tới chức Hương bộ nhưng đều có ý thức trách nhiệm với quê hương tổ quốc. “Cha tôi cùng cùng với các vị chức sắc trong làng xây dựng soạn thảo bổ sung vào bộ hương ước của làng cho phù hợp với xu thế tiến bộ của xã hội” – ông viết.

Đặc biệt, trong “Ngược nguồn ký ức”, tác giả Nguyễn Đình Chi đã dành những trang viết chân thực và xúc động nói về ảnh hưởng của gia đình mình trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Khác với nhiều tác phẩm văn học khác, tác giả nói về mảng tối của cải cách ruộng đất nhưng trong mảng tối đó vẫn lấp lánh những luồng ánh sáng nhân văn. Viết về cải cách ruộng đất, Nguyễn Đình Chi chỉ nêu rõ 3 đời ông cha của Nguyễn Đình Chi đều làm lý trưởng nên gia đình ông là đối tượng bị tịch thu của cải vật chất để chia cho người nghèo. Nhưng do dù 3 đời cha ông làm lý trưởng nhưng đều thương dân nghèo nên sau cải cách, những người nghèo được nhận tài sản từ gia đình ông họ đều trả lại cho gia đình ông một số ít để từ vốn tài sản ấy, bằng nghị lực của mình, gia đình ông đã vực dậy xây dựng lại cuộc sống mới.

“Ngược nguồn ký ức” -  những trang viết chân thực, cảm động về quê hương và dòng họ của Nguyễn Đình Chi - 3

Ba tập sách đã xuất bản của TS Nguyễn Đình Chi

Với “Ngược nguồn ký ức”, TS Nguyễn Đình Chi muốn khẳng định, chính truyền thống vì nước, thương dân, cần cù lao động, coi trọng sự học của gia đình, sự đóng góp của những người thân trong dòng họ trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật cho công cuộc dựng xây đất nước là nguồn động lực để Nguyễn Đình Chi phấn đấu học hành và trưởng thành.

Nguyễn Đình Chi đã học đại học, có bằng tiến sỹ, được giữ lại làm giảng viên của Trường Đại học Nông nghiệp, sau trở về huyện nhà làm cán bộ chủ chốt, rồi được điều động về tỉnh, được bầu vào Ban thường vụ tỉnh uỷ, được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An.

“Ngược nguồn ký ức” cũng chính là niềm tự hào và sự tri ân chân thành của tác giả đối với đấng sinh thành, đối với anh em, bà con họ hàng nội ngoại và là sự biết ơn đối với quê hương nơi mà anh đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành.

“Ngược nguồn ký ức” và 2 tập thơ xuất bản trong năm 2025 là minh chứng khẳng định thành công bước đầu đáng ghi nhận của TS Nguyễn Đình Chi khi bước vào mê lộ của địa hạt văn chương.



Nguồn: Arttimes.vn

Văn chương và Đức tin


Nhân loại ngày càng giảm những cuộc Thánh chiến đẫm máu khởi nguồn từ độc tôn tôn giáo. Trong sự va chạm và tương hỗ giữa các nền văn minh, đối thoại liên tôn đáp ứng yêu cầu bức thiết của thời đại trên nhiều lĩnh vực. “Vấn đề tôn giáo không phải là vấn đề thượng đế mà là vấn đề con người” (Erich Fromm, Phân tâm học & tôn giáo). Dẫu đức tin có khác nhau, nhưng các tôn giáo lớn đều hướng đến khổ nạn kiếp người; mong mỏi cuộc sống an yên cho muôn loài. Trong văn chương, đối thoại liên tôn thể hiện một cách nhìn, một tư duy đa chiều về thế giới và con người.

Có một kiểu nhà văn như thế

Trong văn chương Việt hiện đại, có một kiểu tác giả sáng tác từ cảm quan tôn giáo. Nguyễn Khải nhìn nhận: “Mọi niềm tin hướng về sự cao thượng đều có giá trị như nhau”. Luận bàn về tôn giáo, Hồ Anh Thái cho rằng, tôn giáo “như một cái phanh hãm, nó có thể phanh thắng con người dừng lại bên bờ vực tội lỗi, trước vùng ranh giới thiện-ác, bóng tối-ánh sáng” (Dấu về gió xóa). Các nhà viết tiểu thuyết đều gặp gỡ nhau ở quan niệm tôn giáo chạm đến nhiều vấn đề của đời sống, là nhu cầu tinh thần của con người, rộng hơn là giá trị văn hóa nhân loại. Theo Nguyễn Việt Hà, tôn giáo “giống hệt như cuộc sống nhưng luôn tái tạo cuộc sống theo chiều kích hướng thượng hoặc hướng nội” (Khải huyền muộn). Tôn giáo là sự lựa chọn đức tin của mỗi người. Viết về tôn giáo, các nhà văn đều muốn nhấn mạnh hai mặt liên thông là đạo và đời.

Thật ra, kiểu nhà văn mà cảm thức tôn giáo làm nên phong cách không nhiều. Ở giai đoạn trước, triết luận tôn giáo là nguồn cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết Nguyễn Khải. Từ Xung đột đến những tác phẩm về sau có sự thay đổi trong tư duy và lối viết của nhà văn. Từ chỗ viết về quyền lực tối thượng, Nguyễn Khải quan niệm tôn giáo là sự thăng hoa, “Tôn giáo phải tự giải phóng ra khỏi cái ám ảnh về quyền lực thì mới tồn tại được, kể cả quyền lực về tinh thần” (Thời gian của người); từ cái nhìn đối kháng nhị nguyên đến tư duy hòa hợp (Cha và con và…, Điều tra về một cái chết). Những suy niệm tôn giáo trong nhiều tác phẩm những năm cuối thế kỉ XX ngày càng khẳng định tầm sâu triết luận trong tiểu thuyết Nguyễn Khải. Ông chính là nhà văn khơi nguồn cho dòng văn học thế sự – chính luận. Đầu thế kỉ XXI, cảm quan hậu hiện đại chi phối lối viết của một thế hệ nhà văn. Các tác giả sáng tác từ cảm thức tôn giáo không nhiều; trong ít ỏi đó, tiêu biểu là Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà v.v.

Nguyễn Việt Hà thuộc kiểu nhà-văn-liên-tôn-giáo. Trên nền Kitô giáo, cảm thức liên tôn khúc xạ qua tư duy hiện sinh và lối viết liên văn bản khiến tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà đan quện nhiều vấn đề thuộc nhân vị; đức tin và sự sụp đổ đức tin, nỗi cô đơn của “kẻ lạc Chúa”, lạc cả mọi niềm tin – “Có những thông điệp của Thiên Chúa tôi đòi thực chứng” (Khải huyền muộn). Đan lồng những suy niệm tôn giáo vào đời sống thị dân, những triết lí siêu hình va đập nhưng tương hỗ với triết lí đời sống thực tiễn làm nên những mẩu sinh động về đạo và đời trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà. Triết lí Phật giáo, đan xen lời Chúa, sách Khải Huyền, Kinh thánh, Kinh Phật lẫn Kinh Qur’an, chưa kể lời Khổng Tử, Lão Tử…, thuyết tiến hóa, tà giáo, Thần học, cái ác và đạo đức sinh thái (Cơ hội của chúa, Ba ngôi của Người, Thị dân tiểu thuyết). Quan niệm về văn/nhà văn chêm xen, ẩn lồng trong những ý niệm tôn giáo khiến cho những phát ngôn nghệ thuật của Nguyễn Việt Hà thoát khỏi tính sáo mòn.

Văn chương và Đức tin - 1

Ảnh minh họa.

“Tôi là người mong manh có đức tin và tôi là nhà văn”; “…Chao ôi, hạnh phúc làm sao được thành nhà văn mà vô ngôn”. Vô ngôn, “dĩ tâm truyền tâm” là đích đến của các tiểu thuyết gia tầm cỡ. Dẫu vậy, tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà lại rườm rà một cách cố ý. Điều đó làm nên một phong cách. Luận bàn tôn giáo từ lối viết trò chơi hậu hiện đại tung hỏa mù, láo nháo và trang nghiêm, thiêng và tục, siêu hư cấu… tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà không dễ “đọc”.

Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn mà mỗi tác phẩm là những vỉa tầng hòa nhập và khu biệt giữa các tôn giáo lớn. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, bên cạnh nền văn hóa này cũng tồn tại một/nhiều nền văn hóa khác, bên cạnh tiếng nói của Đức tin này, còn vang lên tiếng nói của các Đức tin khác. Dấu về gió xóa mang triết lí vô thường với những mạch ngầm đối thoại giữa Phật giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo và một số tôn giáo khác. Năm lá quốc thư bên cạnh những vấn đề về căn tính Việt, còn có một những mảnh ghép về Hồi giáo. Cõi người rung chuông tận thế đan xen Phật giáo, Ki-tô giáo và tín ngưỡng dân gian. Kể cả Đức Phật, nàng Savitri và tôi là cuốn tiểu thuyết về Phật sử, với quan niệm luân hồi, kiếp trước kiếp sau, cũng không đơn thuần là độc tôn tôn giáo. Tiếp nhận các luồng tư tưởng lớn; vốn tri thức đồ sộ cộng với những thực chứng từ nhiều vùng đất thánh nhà văn đã đi qua, tất cả đã chuyển hóa thành những khái quát nhân sinh mang tầm triết lí. Tầm khái quát trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái cao, dẫu đa phần nhà văn chỉ viết những chuyện đời phàm, bằng diễn ngôn phi “chính ngữ”, phi nghiêm túc (đôi khi ồn ào quá do cách cường điệu hóa để cợt giễu của nhà văn). Nhưng bên trong một cái tôi giễu nhại là một cái tôi khác trầm tư về cõi thế, về đức tin – “…càng đi càng mất dấu. Tìm dấu một cơn gió vừa đi qua trên bãi cỏ. Tìm dấu một con tàu vừa đi qua giữa đại dương” (Dấu về gió xóa).  Khi Hồ Anh Thái viết về nhân quả, báo ứng, cảm giác đắng chát nhiều hơn là phẫn nộ. Quyền lực trần thế đã lấn át, niềm tin chao đảo, phận người chênh chao. Câu hỏi về bản thể day dứt sau những suy niệm tôn giáo: “Đi hay về? Đi đâu cho thoát kiếp người? Đi đâu cho thoát chính mình?” (Dấu về gió xóa). Cái hài, grotesque hay cường điệu… cũng chỉ là để khỏa lấp, che chắn cô đơn giữa một cõi thế quen thuộc mà xa lạ.

 “Tôn giáo là thông dự chứ không phải là bàn thuyết” (Mircea Eliade, Bàn về nguồn gốc các tôn giáo). Nhà văn khi viết về đức tin tôn giáo cần có diễn ngôn riêng. Hồ Anh Thái ít “bàn thuyết”. Không quá thiên về trích dẫn Kinh Phật, Kinh thánh,…, những ý niệm siêu hình ẩn ở mạch ngầm văn bản, qua sự liên kết, chêm xen những huyền tích, biểu tượng thể hiện niềm tin tâm linh. Từ một biểu tượng xuất hiện với tần suất lớn trong nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái là “tiếng chuông”, có thể “đọc” được đối thoại liên tôn khúc xạ qua cái nhìn thế tục hóa. Dấu về gió xóa là tác phẩm luận bàn nhiều về đa thần, đa giáo. Tôn giáo nào cũng hướng con người đến an lành. Vì vậy, ở Đảo Xanh có một ngôi đền Đa giáo, Hợp chủng giáo; có tiếng chuông dành cho mọi tín đồ: “Chuông nhà thờ đánh suốt ngày, ban đầu là đánh chuông cho người Tin Lành người Thiên Chúa giáo. Sau rung chuông cho người Hindu, người Hồi giáo người Hỏa giáo, sau thỉnh chuông cho Phật giáo”. Âm thanh tiếng chuông mang nhiều “tiếng nói”. Trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, khi cái ác của tà giáo nấp bóng, tiếng chuông không còn mang ý nghĩa từ bi hỷ xả, hay cứu rỗi. Ngày phán xử cuối cùng đã đến, khi tế sư lảo đảo, tóm được quả chuông nhỏ trong lòng bàn tay, tiếng chuông chỉ “leng keng vài tiếng rồi bị đứt ra khỏi dây rơi xuống cùng thân hình tế sư đổ xuống” giàn thiêu đang bốc lửa từ bên dưới. Trong Cõi người rung chuông tận thế, kết thúc câu chuyện về cái ác là thông điệp mang tinh thần Thuyết mạt thế, diễn ra trong thế kỉ của văn minh công nghiệp và đạo đức sinh thái. Vang lên từ không gian Phật, tiếng chuông chùa hối hả như một lời cảnh tỉnh về sự tận diệt, khi con người mù mờ trong cõi vô minh, để cái ác ngự trị. “Bất đồ chuông chùa rung thảng thốt… Sư cụ đã bị cướp mất bình yên. Chuông giận dữ đổ ập vào không gian… Cả cõi người bị nhấn chìm trong một trận hồng thủy ngập tràn kim loại”. Trong âm thanh tiếng chuông chùa hoảng loạn là “sấm ngôn” về “thời giờ đã gần đến”, về “một điều gì đó sắp phải xảy ra”, trong đó có mặc khải tận thế (Kinh Thánh). Bạo lực làm xói mòn nhân tính, hủy diệt nhân vị. Hồng-thủy-kim-loại là cảnh báo về tình trạng phi nhân dẫn đến tận diệt. Nền văn minh phi tự nhiên phá vỡ thiết chế đạo đức văn hóa loài người. Tôn giáo có chức năng cứu vớt con người, nhưng đôi lúc đức tin tôn giáo trở nên mong manh trước quyền lực trần thế. Với cái nhìn thế tục và tư duy đối thoại, Hồ Anh Thái đặt ra câu hỏi khác: Đâu là “quyền năng” của con người trong việc biến cuộc sống thành đại họa. “Tai họa rồi. Tận số rồi. Đảo chìm …quá tải vì tội lỗi của con người… Trời đất trừng phạt rồi…” (Dấu về gió xóa); “Cõi nhân gian như đang kề bên bờ vực hủy diệt. Chẳng phải cái hố đen diệt vong đã bắt đầu hiện ra rồi sao?” (Cõi người rung chuông tận thế). 

Thiện – Ác và Đức tin

Đạo đức xã hội dựa trên nền tảng Thiện và Ác. Mọi tôn giáo đều ngăn chặn con người làm điều ác. Văn chương viết nhiều về cái ác, có những tác phẩm đẩy đến tận cùng tội lỗi, nhưng bên trong vẫn là hạt nhân thiện lành. Từ cảm thức tôn giáo, motif tội lỗi – trừng phạt trở thành chủ đề đạo đức phổ biến trong văn chương. Nếu Ki-tô giáo tin vào một đấng thượng đế toàn năng sáng tạo thế giới thì Phật giáo không có khái niệm về một đấng cứu thế. Phật giáo quan niệm rằng mọi hiện tượng đều tùy duyên- “Do cái này sanh, cái kia sanh”; “do cái này diệt, cái kia diệt”; gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Tuy vậy, các tôn giáo đều có điểm tương giao là tin có báo ứng trong cuộc đời như một qui luật tất yếu. “Vì chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc”, “Tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Sách Khải huyền). Đề cập nhân quả, bảo ứng khiến các tôn giáo có sự gặp gỡ trong niềm tin tâm linh. Cõi người rung chuông tận thế là tột cùng tội ác và hình phạt. Giữa cõi nhốn nháo ta bà, cô gái mang vác sức nặng của thập tự giá – “Các chị hãy khai sinh cho cháu là Nguyễn Thị Mai Trừng. Mai ngày cháu lớn, cháu sẽ đi trừng phạt kẻ ác”. Lời trăng trối của người mẹ như “vòng kim cô” trói buộc để cô gái mãi mãi đồng trinh. Nỗi khao khát đàn bà bật lên thành lời cầu khẩn – “Cho con thoát khỏi sứ mệnh ấy”. Với cái nhìn huyền thoại lẫn thế tục, Hồ Anh Thái đã tạo nghi lễ tâm linh mang tinh thần phương Đông để giải thoát cho Mai Trừng, trả cô về cõi người dẫu còn quá nhiều khổ lụy: “Diệt trừ cái ác là việc của mọi người, sao lại bắt một đứa con gái đơn độc như con phải làm việc ấy?”. 

Sự trừng phạt trong Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng) thật dữ dội. Đối thoại liên tôn xen vào những lời độc thoại vang lên từ hai nửa con người thù hận và hỉ xả cùng tồn tại trong Mai. Tội lỗi của người cha kết hình thành bóng ma lẩn quẩn trong thân thể Mai, không siêu thoát: “Cha yêu mẹ nhưng lại làm dì sinh ra con lúc mới 15 tuổi”; “Cha không hiểu đứa con gái bị cha mình úp chiếc gối vào mặt thì nó thèm được thở như thế nào”. Hình phạt đứa con dành cho ông thật nặng nề (mua trinh của chính con gái mình), đẩy ông đến tận cùng tội lỗi “để cha quị xuống và trở lại làm người”, để ông phải cay đắng, sụp đổ, và thức tỉnh. Lời kết tội của Chi (bóng ma bé gái chỉ vài tháng tuổi) như lời phán-xử-cuối-cùng: “Tội lỗi này ngang với tội giết tổ tông. Người Thiên chúa rửa tội bằng lửa, Mai có biết không?”.  Lời của Mai (đứa con gái 18 tuổi) như lời-sám-hối, xưng tội: “Thứ định mệnh nào đã bắt tôi ngồi đây, trên hai đầu gối của mình, dưới chân ông, đợi chờ tội lỗi xảy ra”; “Khi vũng máu hồng trinh tiết đã chảy ra và thấm vào làn vải trắng tinh… con sẽ quỳ trước mặt cha và nói: Con là con gái của cha”. Trong cơn hoảng loạn, Mai cần “dựa vào bàn tay của Phật nâng cho tôi không ngã”. Nhưng mãi mãi với Mai, tiếng chuông chùa không “làm tan nỗi buồn đã kết tinh thành Chi” trong thân xác của mình. Qua một cốt truyện đầy oan trái, qua sự giằng xé giữa tội lỗi và cứu chuộc, Đoàn Minh Phượng khắc họa một thế giới bên trong quá nhiều bất ổn, có những chiều tâm linh được lí giải bằng đức tin tôn giáo.

Con người thân phận là giao điểm giữa tôn giáo, văn chương và cảm thức sáng tạo của nhà văn. Trong tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Ngân Vy (Phúc âm cho một người) sự trừng phạt không đến từ bên ngoài, mà diễn ra trong nội giới, nó làm nên bi kịch số phận đàn bà. Niềm kính Chúa cùng những hoài nghi về một đấng cứu rỗi, niềm kiêu hãnh Mẹ lẫn tội ngoại tình cứ lẫn lộn, day dứt thành mặc cảm trong người đàn bà chịu quá nhiều khổ nạn đời thường. Những dòng tự vấn không tuôn trào mà chậm chạp, hổn hển, đứt nối, như cõng theo mặc cảm về tuổi già, bệnh tật và tội lỗi. Tội ngoại tình của người tuổi xế chiều xuất phát từ niềm khao khát được chở che, nhưng sự gần gũi về thân xác rốt cục chỉ mang lại cảm giác ê chề, đầy mặc cảm. Ân điển không thuộc về một người đàn bà trót không tin vào Chúa từ những thực chứng đời thường. Triết lí phận người đan xen trong nỗi hoài nghi về sự có mặt của Đấng sáng thế trong cuộc sống trần gian khổ ải: “Thượng đế đã chết” hay không thuộc về những phận người mong manh nhỏ bé? …Ta cứ quay cuồng trong câu hỏi mình là ai, mình từ đâu đến và mình sẽ đi về đâu”. Chòng chành giữa mặc cảm tội lỗi và nhu cầu chuộc lỗi, với bà Khuê – “Chúa tôi! Thánh giá này quả là nặng quá”. Hoài nghi về Phúc âm, bà đắm chìm trong kí ức. Tiếng chuông nhà thờ giục giã như nhắc nhớ về tuổi thơ đã trôi xa và tội lỗi thật gần. Bà thấy mình “đang bị lột trần ra, không nơi trú ngụ”. Con đường tìm lại Đức tin của người đàn bà với “bầu ngực lòng thòng cả đời dâng hiến cho công cuộc bú mớm của lũ con. Và cho cả bọn đàn ông cả đời khát mẹ” quá nhọc nhằn. “Hãy ăn năn và tin vào Phúc âm”. Lấy tên tác phẩm là Phúc âm cho một người nhưng liệu có ân sủng nào cứu chuộc tội lỗi của người đàn bà ấy? 

 “Thượng đế chỉ có một, tất cả các tôn giáo đều chung một mục đích đưa con người ta đến bến thiện, dạy họ ăn ngay ở lành” (Nguyễn Việt Hà). Tư duy liên tôn khiến văn chương Việt về “đề tài” tôn giáo ngày càng có tầm cao.  Niềm tin tâm linh khúc xạ qua văn chương trở thành lời cảnh tỉnh, hướng dắt con người đến cái Thiện. Hòa hợp tôn giáo, văn chương hướng đến hằng số chung là đưa con người từ cõi vô minh đến chân lí vĩnh hằng Chân Thiện Mĩ.

Lê Thị Hường




Nguồn: Arttimes.vn

Thiền trong thơ – vén mở những chiêm nghiệm về đời sống, thiên nhiên và con người


Tiếp nối hành trình gắn bó với thể thơ lục bát, trong tập thơ “Đồng – Tuyển tập Xứ 2”, tác giả Trần Lê Khánh đã mang đến một tác phẩm giàu sức gợi, tối giản mà thấm đẫm tinh thần thiền, góp phần khơi mở những chiêm nghiệm về đời sống, thiên nhiên và con người.

Lựa chọn và trung thành với thể loại lục bát từ những ngày đầu bước vào hành trình thơ ca, sau thành công của các tập thơ trước đó, nhà thơ Trần Lê Khánh tiếp tục gây bất ngờ với tập thơ Đồng – Tuyển tập Xứ 2 khi tiếp cận lục bát theo kiểu hiện đại,  có nhiều điểm mới so với thể lục bát truyền thống, đưa người đọc bước vào không gian cô đọng của chữ nghĩa, đồng thời gợi lên những xúc cảm và chiêm nghiệm sâu sắc.

Sự kiện ra mắt tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Nhã Nam tổ chức ngày 20/9, tại Hà Nội với sự hiện diện của đông đảo các nhà thơ, nhà phê bình, văn nghệ sĩ và bạn đọc yêu thơ. Trong không gian gần gũi và thi vị ấy, độc giả đã có cơ hội lắng nghe, đối thoại và chia sẻ về những tiếp nhận thi ca với tập thơ mới nhất của tác giả Trần Lê Khánh.

Thiền trong thơ - vén mở những chiêm nghiệm về đời sống, thiên nhiên và con người - 1

Chương trình ra mắt sách đã nhận được sự quan tâm của đông đảo văn nghệ sĩ và công chúng yêu thơ.

Nhà thơ Đỗ Anh Vũ nhận định, ngôn ngữ thơ của Trần Lê Khánh ngày càng trong hơn, thể hiện sự dụng công nhiều hơn của tác giả. So với thời gian đầu chủ yếu tập trung vào chủ đề tình yêu đôi lứa thì trong tập thơ mới nhất này, tác giả đã có nhiều câu bộc lộ rõ hơn về nhân sinh, mang tính chất triết học, cho thấy sự chiêm nghiệm, suy tư nhiều hơn.

Với Đồng – Tuyển tập Xứ 2, cho thấy Trần Lê Khánh đã rất dụng công trong việc chọn lọc câu chữ, chữ gọn nhưng ý nhiều. Mỗi câu thơ, mỗi bài thơ trong tập thơ dù có nhiều chất liệu đời thường nhưng vẫn luôn có những khoảng trống trừu tượng, khơi gợi độc giả tự ngẫm, tự suy tưởng, chiêm nghiệm về bản thân, cuộc sống và thế giới xung quanh.

con cá đớp giấc mộng lành

bơi qua chín kiếp hết tanh cái đầu

hồi hôm con phố lên màu

những ô cửa sổ bắt đầu ăn đêm

có hạt mưa nhỏ ngủ quên

mặt nước im lặng khua tên của mình

(Xứ 39)

đi với bụt mặc cà sa

trăng cùng cuốc bộ với ta cho gần

chiếc lá vàng rớt trên sân

nhà sư đặt bước chân trần xuống sau

tiếng chuông như rắn mất đầu

những tiếng ngân cuối hồi lâu mới ngừng

(Xứ 75)

Trạng thái đời sống đương đại được nhà thơ khéo léo biểu đạt qua những hình ảnh vừa chân thực, vừa siêu thực, tạo nên những kết nối bất ngờ cùng những khoảng lắng đọng, khi ý thơ tạo ra điểm chạm và kết nối với người đọc. Đó có thể là câu chuyện về tình mẫu tử thiêng liêng, là sự tiếc nuối những đổi thay của một chốn quen, là hình ảnh con người hòa với thiên nhiên, cũng có thể là nỗi cô đơn vời vợi…

Thiền trong thơ - vén mở những chiêm nghiệm về đời sống, thiên nhiên và con người - 2

Tập thơ “Đồng – Tuyển tập Xứ 2” của tác giả Trần Lê Khánh.

Điểm chung ở các bài thơ trong Đồng – Tuyển tập Xứ 2 còn là câu chuyện của tâm thức, điều này đã từng chút dẫn gợi và mở ra cho người đọc những cách tiếp cận, kết nối riêng với thế giới và quan trọng hơn cả là kết nối với chính mình, cũng là một cách thiền trong thơ.

mẹ vòng tay ôm đứa con

yêu thương nào phải sáng tròn như trăng

như vầng trăng tỏ đêm rằm

phần trăng còn lại để chăm ngọn đồi

mẹ cười với chiếc bóng tôi

sinh ra cùng lúc với trời mùa thu

(Xứ 05)

Tập thơ gồm mười chương với 100 bài thơ lục bát, viết về đồng quê, thiên nhiên, cuộc sống, con người… và tất cả đều mang hơi hướng “thiền”. Sự tối giản, cô đọng và cảm quan thiền tạo nên nét đặc trưng của tập thơ. Điều này được thể hiện từ cách tác giả đặt tên chương (chương một, chương hai, chương ba…), đến các bài thơ cũng được đặt tên tối giản theo số thứ tự từ “Xứ 01” đến “Xứ 100”. Đặc biệt, mỗi cặp lục bát dù ở trong bài thơ hay đặt ra khỏi thi cảnh thì vẫn có thể truyền tải thông điệp và ý nghĩa độc lập.

Thiền trong thơ - vén mở những chiêm nghiệm về đời sống, thiên nhiên và con người - 3

Các diễn giả chia sẻ tại chương trình.

Đánh giá cao tinh thần duy trì sức sống của thơ lục bát trong bối cảnh văn thơ đương đại với những cách tân, làm mới của tác giả Trần Lê Khánh, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến cho rằng, thơ lục bát của Trần Lê Khánh đã mở ra những tập thơ khá lắng đọng và khúc triết. Đặc biệt, trong tập thơ mới ra mắt này, những dạng lục bát hai câu tuy ngắn nhưng chứa đựng rất nhiều nghệ thuật đối lập, cảm thức nhân sinh, chiều sâu triết luận khá độc đáo. Và tác giả đã thổi vào đó hơi thở của thiền học hiện đại với ngôn từ tinh lọc, hình thành nên những gợi cảm biểu tượng bất ngờ.

Về chất thiền trong thơ Trần Lê Khánh, PGS. TS Hoàng Kim Ngọc nhận định: “Thơ Trần Lê Khánh đã khắc họa một vòng tròn nhân sinh: từ vô thường đến luân hồi, từ khổ đau đến khát vọng giải thoát. Anh không tái hiện giáo lý khô khan, mà làm cho nó sống động bằng những hình ảnh đời thường: chiếc cúc hóa già, gió lướt qua mặt, con kiến lửa trong đêm… Đó là cách để triết lý Phật giáo trở nên gần gũi, chạm đến tâm thức của độc giả”.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thì cảm nhận: “Với thơ lục bát, Trần Lê Khánh đã chạm vào tất cả mọi thứ trong cuộc đời này, có những thứ rất rất mơ hồ, rất rất nhỏ bé như cái lá, con kiến, một cái ghế, một đám mây trôi, một tờ báo… nhưng cuối cùng ở trong cái sự nhỏ bé ấy thì anh đã mở ra một vùng văn hóa, một vùng tập tính và một cái gì đó rất sâu sắc. Có thể thấy, Trần Lê Khánh đã phát hiện ra một vũ trụ vô cùng rộng lớn trong tất cả những thứ chúng ta nhìn thấy, chúng ta chạm thấy, chúng ta nghe thấy, chúng ta quan sát thấy và chúng ta sống cùng”.

Thiền trong thơ - vén mở những chiêm nghiệm về đời sống, thiên nhiên và con người - 4

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nêu cảm nhận về tập thơ mới nhất của Trần Lê Khánh.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ thêm, Trần Lê Khánh đã mang lại một thể thơ lục bát khác biệt, anh đã thoát khỏi cái bẫy của sự du dương, của vật liệu, của nhạc tính, của những cái duy cảm thông thường mà đi sâu vào cõi thiền, cõi phật. Và chính những câu thơ như thế đã xác lập Trần Lê Khánh trong thế giới thơ đương đại Việt Nam và đặc biệt là thơ lục bát.

Xuyên suốt cuộc trò chuyện, các nhà văn, nhà thơ và nhà nghiên cứu đều đồng tình cho rằng tuy lục bát là một thể thơ khó để tạo được dấu ấn riêng, nhưng tác giả Trần Lê Khánh vẫn tìm được một con đường để làm mới lục bát và làm mới chính mình.

Tác giả Trần Lê Khánh sinh năm 1971 tại Hòa Bình, quê gốc Bắc Ninh, hiện sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh. Từ năm 2015 đến nay, Trần Lê Khánh đã đặc biệt lựa chọn thể thơ lục bát và thơ ngắn để thực hành sáng tác.

Theo nhà thơ, lục bát là một thể thơ độc đáo và có tính dân tộc nhất. Kỳ lạ ở chỗ là nó rất dễ làm, ai làm cũng được, chỉ cần ghép vần là có một bài thơ, thậm chí vô tình có được một câu thơ hay, nhưng để có một bài thơ lục bát hay thì rất khó.

Các tác phẩm đã xuất bản của Trần Lê Khánh gồm: Lục bát múa (Nxb Hội Nhà văn, 2016); Dòng sông không vội (Nxb Hội Nhà văn, 2017); Ngày như chiếc lá (Nxb Hội Nhà văn, 2018); Giọt nắng tràn ly (Nxb Hội Nhà văn, 2020); Xứ (Nxb Hội Nhà văn, 2021); The Begining of Water (Nxb White Pine – Mỹ, 2021); Ngàn bài thơ khác (Nxb Hội Nhà văn 2022); Sự bắt đầu của nước (Nxb AB Art – Hungary, 2023), Đồng – Tuyển tập Xứ 2 (Nxb Hội Nhà văn, 2025).

Trong đó, tập thơ Ngàn bài thơ khác được trao Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2022; tập thơ Đồng – Tuyển tập Xứ 2 được trao Giải thưởng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2024.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Nhà văn và tác phẩm trong quan hệ hữu cơ với cuộc sống


Văn học không phải là sự sao chép giản đơn hiện thực, mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, tái hiện thực tế cuộc sống bằng tài năng, vốn sống, bản lĩnh và cách xử lý sáng tạo tài liệu thực tế của nhà văn. Mỗi tác phẩm thành công đều mang dấu ấn hữu cơ giữa đời sống và cá tính sáng tạo trong tầm tư tưởng của mỗi nhà văn.

Tài năng và vốn sống

Đề cập đến tài năng và vốn sống của nhà văn là đề cập đến những phẩm chất đầu tiên cần phải có. Vốn sống của nhà văn chính là cái thực tế của đời sống mà nhà văn trải nghiệm, lăn lộn với nó như chính cuộc đời mình. Nói như H. Balzac “Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại” thì ở đây chúng ta phải nhận thức được rằng, thiên chức của nhà văn là tái hiện, xử lý, nhào nặn vốn sống, tức là cái thực tế mà nhà văn thâm nhập cuộc sống, để viết nên tác phẩm mà mọi người xung quanh mình khi đọc đều thấy bóng dáng mình, bè bạn của mình trong đó, thật như trong cuộc đời vậy. Đó chính là cái đích hướng đến: nhà văn phải có tầm tư tưởng và phong cách cá nhân của riêng mình với tư cách là người thư ký trung thành của thời đại. 

Như trường hợp Ngô Tất Tố (1893 – 1954), một kho tư liệu sống về số phận người nông dân Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX và chỉ riêng với tiểu thuyết Tắt đèn (1937) ông đã tái hiện và khắc họa sâu sắc cuộc sống khốn cùng của tầng lớp nông dân bị áp bức, bị chà đạp dưới thời Pháp thuộc, mà hình tượng chị Dậu là một điển hình. Tác phẩm không chỉ là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội thối nát mà còn thể hiện tài năng nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. Sở dĩ có được điều này chính là vì Ngô Tất Tố đã hóa thân thành những nhân vật, sống cuộc sống của họ bằng vốn sống ghi chép và tái hiện một cách chắt lọc những nét điển hình của cuộc sống. Các nhà văn cùng thời như Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… cũng là những nhà văn lăn lộn vào thực tế cuộc sống để dấn thân viết nên những tác phẩm có giá trị hiện thực phê phán.

Nói về người nông dân thời Pháp đô hộ cũng không thể không nhắc đến Nam Cao với truyện ngắn Chí Phèo (1941), một tác phẩm xuất sắc nói lên tấn bi kịch của người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội. Truyện ngắn Chí Phèo chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của một nhà văn lớn đã tái hiện và xử lý được những gì mà nhà văn thâm nhập thực tế và nhào nặn thành một bức tranh sinh động có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. 

Đề cập và phê phán đến tận cùng những thói tật, những tệ nạn thối nát ở đô thị Việt Nam thời thuộc Pháp, với cách “ghi chép trung thành” thời đại mình đang sống, Vũ Trọng Phụng với tác phẩm Số đỏ đã phơi bày bản chất thối nát, giả dối của một xã hội thực dân nửa phong kiến, và đặc biệt bằng tài năng trào phúng, giễu cợt nhà văn đã chứng tỏ bàn tay sáng tạo của một tiểu thuyết gia có tầm tư tưởng và phong cách.

Cảm hứng sáng tạo

Nếu nhìn vào giai đoạn 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 -1954) và giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954–1975), chúng ta thấy mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm càng trở nên đặc biệt. Bởi lẽ, chính hoàn cảnh lịch sử dân tộc đã khiến nhà văn không thể đứng ngoài cuộc, mà trở thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa – tư tưởng, vừa cầm bút vừa cầm súng, vừa sống vừa viết, vừa chiến đấu vừa sáng tạo. Thành tựu văn học nghệ thuật giai đoạn này chính là kết tinh của sự hòa quyện ấy. Anh vệ quốc quân phóng viên mặt trận tờ Xông phaVệ Quốc quân trong kháng chiến chống Pháp – nhà thơ Hoàng Lộc (1920 -1949), tác giả bài thơ Viếng bạn đã xử lý sáng tạo, đúng lúc những tài liệu thực tế ở chiến trường để viết nên một tác phẩm đầu tiên về liệt sĩ đồng đội được lưu hành rộng rãi. Hoàng Lộc viết Viếng bạn đầu năm 1948 (sau đăng trên sách Chặt gọng kìm đường số 4) trước cả bài thơ Lượm của Tố Hữu viết cuối năm 1949 và bài Khóc Hoài của Vĩnh Mai, năm 1950.   

Có thể kể trường hợp của nhà thơ Lê Anh Xuân với bài thơ Dáng đứng Việt Nam được viết ra trong cảm hứng sáng tạo xuất thần. Lê Anh Xuân (tên thật là Ca Lê Hiến) vốn là giảng viên khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tình nguyện trở lại quê hương Bến Tre chiến đấu và công tác ở Ban Tuyên huấn, Trung ương Cục miền Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 16, Phân khu 2, tỉnh Long An có nhiệm vụ tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất.

Trong trận chiến đấu này có một chiến sĩ bị thương, nhưng anh đã tựa mình vào một xác xe tăng bắn tiếp cho đến khi kiệt sức. Lại một viên đạn nữa xuyên vào thân thể, làm anh hy sinh trong tư thế đứng thẳng, tay vẫn kẹp súng hướng về phía quân thù làm chúng hoảng sợ. Lê Anh Xuân được nghe kể lại, anh rất xúc động với hình ảnh này, cảm hứng sáng tạo đã giúp nhà thơ viết nên tác phẩm Dáng đứng Việt Nam ngay trong đêm ấy gửi cho Tạp chí Văn nghệ giải phóng trước lúc lên đường đi chiến đấu và hy sinh, khi mới 28 tuổi. Hình tượng anh Giải phóng quân đứng thẳng hiên ngang đã được khái quát hóa thành dáng đứng của đất nước. Cảm hứng sáng tạo của nhà thơ đã đưa một hình ảnh cụ thể thành biểu tượng hiên ngang của Tổ quốc.

Cảm hứng sáng tạo cũng đã đưa bức tranh thơ O du kích nhỏ giương cao súng… trở thành tác phẩm nghệ thuật đích thực. Cảm hứng sáng tạo có những lúc bất chợt trở thành kích hoạt nội tâm để đi đến sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đó là trường hợp năm 1965 khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc bằng không quân, nhà báo Phan Thoan, phóng viên Báo Hà Tĩnh đã kịp chụp được khoảnh khắc nữ dân quân đội mũ cối, hai tay bồng súng, hiên ngang áp giải một phi công Mỹ to lớn bước đi, đầu cúi thấp. Từ tấm ảnh cụ thể hiện lên một biểu tượng sáng ngời của nhân dân và phụ nữ Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1966, tấm ảnh được trưng bày tại một triển lãm ảnh toàn quốc và ngay lập tức tạo nên sự xúc động mạnh của nhiều người xem. Nhà thơ Tố Hữu sau khi xem ảnh đã để lại bốn câu thơ tương phản người chiến thắng – kẻ xâm lược cũng chính xuất phát từ cảm hứng sáng tạo:

“O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế! To gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu!”

Nhà văn và tác phẩm trong quan hệ hữu cơ với cuộc sống - 1

Tác phẩm ảnh “O du kích nhỏ” của nhà báo Phan Thoan. (Ảnh tư liệu)

Còn trường hợp nhà thơ, nhà khoa học luyện kim Đinh Phạm Thái với bài thơ Cái roi ngày ấy thì từ vốn sống thực tế của chính gia đình mình có người thân là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà thơ đã điển hình hóa vốn sống thực tế của riêng mình thành cái chung của cộng đồng, biến nỗi đau riêng thành nỗi đau chung của nhiều gia đình có con em trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước. 

“Ngày nào con nghịch con chơi

Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày

Làn roi rơi xuống thân gầy

Làm đau lòng mẹ, làm cay mắt bà.  

Bây giờ con ở đâu xa

Nắm xương không cửa không nhà mãi đi

Trường Sơn một dải xanh rì

Đất đen, đất đỏ, đất gì chôn con?”

Hành trình sáng tạo liên tục để tạo nên tác phẩm có giá trị lâu bền

Nguyễn Đình Thi với vốn sống thực tế sẵn có nên với những trải nghiệm trong cuộc sống ông đã đi tìm cảm xúc cô đọng trong sáng tạo để biến cảm xúc riêng mình thành cảm xúc của nhiều người. Đây chính là hành trình sáng tạo liên tục của nhà thơ để tạo nên tác phẩm có giá trị lâu bền. Là người trong cuộc, tắm mình trong cuộc chiến đấu gian lao của dân tộc, tham gia chiến đấu cùng với bộ đội, sống với dân và được chứng kiến ngày thắng lợi vẻ vang của đất nước nên Nguyễn Đình Thi yêu đất nước như đứa con yêu quê hương, đau xót khi thấy quê hương bị giặc giày xéo, vui mừng khi đất nước được giải phóng khỏi ách xâm lược.

Cảm xúc trong thơ Nguyễn Đình Thi rất cụ thể, gắn với đời sống thực qua vốn sống mà ông trải nghiệm và ghi chép. Thơ ông đã ghi lại cảm xúc trào dâng của người con đối với gia đình, người thân, làng xóm, đồng đội. Những tình cảm tự nhiên, chân thành xuất phát từ cuộc sống đã đem lại cho thơ Nguyễn Đình Thi những cảm xúc mãnh liệt đi vào lòng người. Về phương diện này thơ Nguyễn Đình Thi đã nói hộ tâm tư, suy nghĩ của bạn đọc. 

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

(Đất nước) 

Cảm xúc thơ Nguyễn Đình Thi đồng điệu với cảm xúc của nhân dân nên thơ ông được đông đảo bạn đọc yêu thích, nghiền ngẫm. Đây chính là thành công của thơ Nguyễn Đình Thi, vì cảm xúc thơ ông đi từ cuộc sống, chắt lọc lấy những gì khái quát nhất, đặc thù nhất. 

Tài năng và vốn sống của nhà văn là những tố chất đầu tiên mà nhà văn cần phải có, nhưng xử lý vốn sống đó như thế nào mới là điều quyết định thành công của tác phẩm có giá trị chân – thiện – mỹ vì con người. Dấn thân, say mê và liên tục sáng tạo là những tố chất mà nhà văn nào cũng phải phấn đấu cho được, trong đó nhà văn phải chấp nhận miệt mài lao động, quan sát ghi chép cuộc sống là những công việc không thể thiếu đối với nhà văn có tầm tư tưởng và phong cách, như cách tri ân cuộc đời mà nhà thơ Chế Lan Viên thường nói: “Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn”.

Nguyễn Xuân Hòa




Nguồn: Arttimes.vn

Duy Khoát, nhà thơ của duy cảm, duy tình


Đọc “Tuyển tập Thơ Duy Khoát”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024.

Xin mở đầu bằng những câu thơ được tác giả treo ngoài bìa tuyển tập: “Đọc thơ tôi dù ai chê cũng được/ Tôi cứ viết theo giọng điệu riêng mình/ Mong nhẹ bớt những điều trắc trở/ Cay đắng ngọt bùi trong cõi nhân sinh/ Tôi có thơ giàu thêm bè bạn/ Nàng thơ tôi là một người tình/ Và năm tháng âm thầm tôi nhặt/ Chút bụi vàng trong cát lung linh”. Rất rõ ràng và minh bạch trong phi lộ. Khi đọc hết 213 bài, tôi chợt nghĩ, có thể thêm một chữ “tình” vào tên của thi tập: Tuyển tập thơ tình Duy Khoát

Tôi nhớ mãi lần đầu gặp anh ở Tràng An Thơ, 88 Hàng Buồm, năm 2011. Sau khi nghe một nhận xét về thơ, anh thủng thẳng: “Ấy giời! Chẳng ai giống ai, thơ phải thế chứ. Sao lại cứ xui người nọ theo người kia? Chớ có dại dột mà nghe theo. Tớ chỉ có thơ tình và thơ tình. Tớ cứ viết theo giọng của mình”.

Càng viết, tôi càng nhận ra điều đó. Thơ là “cây đàn muôn điệu”. Thấy một nhà thơ nữ trẻ gọi nhà thơ Duy Khoát là anh, mình cũng bắt chước. Sau này mới biết hai anh em cách nhau một thế hệ. Hình như những tác giả chuyên viết thơ tình, thường trẻ hơn so với tuổi. Nghe nói, anh không chơi với cô nào, với nhà thơ nữ nào nếu “không rút kinh nghiệm”, cứ “cố tình” gọi anh là chú, là bác. Có lần anh cười nói: “Họ hàng gì mà chú với cháu. Cứ gọi thơ là anh nhé!”. Với nụ cười thân thiện, với từ “tớ” và “mình” thường dùng, anh trở nên gần gũi với mọi người. Nhưng cũng không ưa sự suồng sã, thô lậu trong thơ, trong ứng xử. Bản tính lành, anh không bao giờ làm tổn thương người khác. Có lần đi tham quan ngày nắng, anh đeo kính râm, nhưng tôi vẫn thấy mắt kính đen không che mặt người hiền. Chất Kinh Bắc và tạng người như canh hát giao duyên. Sống trầm hậu, khiêm nhường, bao dung và tinh tế, tôi chưa thấy anh to tiếng bao giờ. Và trong thơ cũng thế, không đại ngôn, không đại tự sự.

Duy Khoát, nhà thơ của duy cảm, duy tình - 1

Tác giả Duy Khoát

Có thể nói, thời của anh là thời của thơ tình. Mở đầu thi tập là những “kỷ niệm về nhà thơ Xuân Diệu”, ông hoàng của thơ tình một thời. Đó là sự gặp gỡ, đồng điệu giữa cá nhân với thời đại trong thơ. Năm 1962, sau khi tốt nghiệp Trung cấp Nông lâm trung ương, anh về làm biên tập viên Nhà Xuất bản Nông thôn. Đây là những vần thơ ra đời năm 1963 ở núi rừng Cao Bằng: “Nhớ em tận chốn xa mờ/ Để mình anh với ngẩn ngơ rừng chiều”. Còn đây là chuyến Thăm bản Lác năm 2019: “Đêm sao cười nhấp nháy/ Gió thơm mùi phấn thông/ Ghẹo các cô sơn nữ/ Ngực thanh tân phập phồng”. Cách nhau 56 năm, anh “cứ viết theo giọng của mình”, đi tới mình trên con đường thơ duy cảm, duy tình. 

Thơ anh có một khoảng trời của mây trắng. Giữa những năm tháng không quên 1972, bất ngờ trên phố Tràng Tiền, anh gặp lại người con gái dịu dàng xinh đẹp: “Ôi đất nước những ngày khốc liệt/ Ngắm em cười anh lại thấy bình yên”. Trữ tình cá nhân trong thơ Duy Khoát thường không đi lạc vào trữ tình chính trị, cái lối nói khá phổ biến trong thơ tình thế hệ anh, thơ tình thời chiến. Vì thế bản ngã không phôi pha, không lẫn vào tha nhân, không lạc vào đám đông. Một phẩm chất thơ trân quý. 

Tình yêu là một khái niệm rộng. Tuyển tập chia làm hai phần: Thơ tình và thơ về gia đình, đất nước. Ranh giới ấy cũng chỉ là tương đối. Tình yêu nam nữ, tình yêu đôi lứa là âm chủ. Âm hưởng ấy tràn bờ, tạo ra một “thế giới phẳng” trong thơ anh. 

Cũng không nằm ngoài nét chung, cái căn tính thường thấy, thơ tình Duy Khoát rất nhiều đợi chờ, nỗi nhớ, mơ tưởng… Đó là những tình tự lãng mạn, đằm thắm, bâng khuâng… từ chân cảm. Nó không sa vào vàng mã trang kim của ngôn tình thường thấy. Dường như anh không tắt máy bao giờ, chiếc điện thoại hay trái tim anh đó, “nó cứ mừng run lên” khi “sáng nay em gọi”. Trở về quê, mỗi lần qua “Ngã tư phố huyện”, ở nơi nhiều ngã rẽ, nhà thơ tìm lại khoảnh khắc của hẹn hò. Vừa hóm hỉnh, vừa cảm động, bài thơ được viết bên hồ sen ký ức nồng nàn của tình yêu đôi lứa. Nó như một câu chuyện anh kể lại, nhắc lại với người mình yêu thương: “Mỗi lần về qua đây/ Anh lại dừng phút giây để nhớ/ Chỗ này năm xưa/ Có cái quán bên hồ sen ngạt ngào hoa nở/ Đêm ấy chúng mình tan vào nhau/ Dưới trời khuya nồng nàn hơi thở/ Quán bây giờ đã thay bằng một trạm bán xăng/ Treo tấm biển “Cấm lửa”/ Anh chợt nghĩ/ Mình khác nào cây xăng đêm đó/ Đã cháy bùng gặp lửa mắt em”. Nếu người cầm bút hời hợt dễ vô tình trôi qua. 

Trong thơ tình Duy Khoát như có cái gì dang dở, lỡ làng, có cái gì như ảo ảnh: “Tôi uống ngọt ngào nước mắt của em/ Cho thấm chất tâm hồn tôi trong đó/ Thấm vị mặn của cuộc đời dang dở/ Ôi hương nồng cay đắng của tình yêu” (Sau ngày em lấy chồng), “Ta khờ khạo vừa chạm tay xuống nước/ Đã giật mình sóng động trăng tan” (Vầng trăng đáy nước)… Nhưng chính cái tình thế ấy, đã làm ánh lên vẻ đẹp sóng sánh, thao thiết của một người nặng lòng, nặng tình, của một tâm hồn thơ nhạy cảm, nơi tình yêu cư trú.

Có lần tôi đùa vui: “Bác làm thơ chắc tốn tình lắm nhỉ?”. Anh cười: “Nếu sau mỗi bài thơ có một bóng hồng nào đó, thì tớ phải có mấy trăm người tình ấy nhỉ? Có ai cấm yêu trong mộng tưởng đơn phương đâu”.

Duy Khoát, nhà thơ của duy cảm, duy tình - 2

“Tuyển tập thơ” của Duy Khoát.

Thơ tình Duy Khoát thường hiện lên gương mặt đa dạng của thời gian trong tình yêu: “Chừng nào còn có thể/ Thì sao lại không yêu/ Phiên chợ đời sắp vãn/ Thời gian đâu còn nhiều” (Thời gian đâu còn nhiều), “Đốt lòng anh nỗi nhớ mong/ Vì em hẹn gặp chín giờ sáng mai/ Đêm nay mới thật đêm dài/ Bao giờ cho đến sáng mai, hả trời?” (Sáng mai)…

Nói đến cảm thức thời gian, không thể không nhắc đến bài thơ “Tờ lịch”: “Bóc đi một tờ lịch/ Đời ngắn đi một ngày/ Lòng bần thần đưa tiễn/ Xác thời gian trên tay”. Vượt ra khỏi duy cảm, duy tình, đây là bài thơ của cảm niệm. Đó là cảm xúc trí tuệ, một trường hợp hiếm gặp trong thơ anh. Bài thơ ngắn 4 câu, sức nặng của ý niệm và cảm xúc dồn vào câu kết. Nói được cái vô hình trong hiện hữu. Cảm giác thời gian trong lòng bàn tay. Ngỡ là nắm bắt được, nhưng đó chỉ còn là cái xác vô hồn: “Lòng bần thần…/ Xác thời gian trên tay”. Đó là những câu thơ của nghiệm sinh, của vô thường. 

Lục bát là thể loại được anh ưa dùng. Nó phù hợp với tiếng nói của cảm xúc, phù hợp với tạng người, tạng thơ Duy Khoát, nhà thơ của duy cảm, duy tình. Và góp phần làm nên điệu tâm hồn của một “người thơ”, còn mấy tuổi nữa chín mươi xuân, mà trái tim thơ vẫn rất tình.

“Suốt mùa cây cứ lặng xanh

Hoa kết trái ẩn mình trong lá biếc

Thơ chưa xong quả đã chín trên cành”.

                                                         

Lê Anh Phong




Nguồn: Arttimes.vn

Xã hội hóa văn học nghệ thuật vài quan sát, ghi nhận từ thực tế


Trong phát biểu chỉ đạo Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24 tháng 11 năm 2021, khi nói về những giải pháp cần tập trung thực hiện một cách quyết liệt và có hiệu quả để chấn hưng và phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một vài yêu cầu về công tác quản lý nhà nước: “Nâng mức đầu tư một cách hợp lý từ nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời khơi thông các nguồn lực xã hội, nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển văn hóa”.

Những yêu cầu này của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, có thể nói, được dẫn chiếu từ một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề “xã hội hóa”. Cụ thể là Nghị quyết số 90-CP của Chính phủ, ra ngày 21 tháng 8 năm 1997, về “Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”. Đây chính là cơ sở để thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa, trong đó có văn học nghệ thuật, lĩnh vực vẫn luôn được xem là quan trọng, tinh tế và nhạy cảm bậc nhất của văn hóa. Tính từ thời điểm Nghị quyết 90-CP được ban hành và đi vào thực tiễn đến nay, hơn ¼ thế kỷ trôi qua, có thể đưa ra một vài quan sát, ghi nhận về việc thực hiện xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật, nhất là ở khâu “khơi thông các nguồn lực xã hội, nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển văn hóa” như ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư. Mặt khác, khi nhìn lại hơn mười lăm năm thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về tiếp tục phát triển Văn học nghệ thuật trong tình hình mới, thiển nghĩ, việc xem xét, phân tích, đánh giá, tổng kết về vấn đề xã hội hóa các hoạt động Văn học nghệ thuật thời gian qua càng cần phải được đặt ra một cách cấp thiết.

Trước hết, phải nhắc lại một thực tế: ngay sau khi chủ trương xã hội hóa được ban hành, đã xuất hiện và lan truyền một làn sóng lo lắng bất an tại nhiều đơn vị văn học nghệ thuật công lập, cả trung ương lẫn địa phương. Người ta hiểu xã hội hóa theo một nghĩa duy kinh tế cạn hẹp: kể từ bây giờ nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý hành chính và tư tưởng đối với các đơn vị văn học nghệ thuật, còn nguồn ngân sách công – cái bầu sữa đã teo tóp quá mức sau một thời gian dài phải gánh trách nhiệm bao cấp ấy – thì sẽ bị rút giảm đến tối đa, các nghệ sĩ sẽ phải tự bươn trải để thực hành nghệ thuật và để sống.

Xã hội hóa văn học nghệ thuật vài quan sát, ghi nhận từ thực tế - 1

Ảnh minh họa.

Cũng xuất hiện một cách hiểu khác: xã hội hóa đồng nghĩa với tư nhân hóa; tức là, hoạt động văn học nghệ thuật trước đây vốn nằm trọn trong bàn tay độc quyền của nhà nước, thì nay sẽ được bung ra với tất cả trong một nền kinh tế nhiều thành phần, ai muốn tham gia cũng được. Những cách hiểu như vậy, dù ít nhiều cũng có phần sát hợp thực tế, song đều không đúng với mục đích bản chất của việc xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật. Ở phương diện này, có thể tham khảo quan điểm khá đầy đủ của nhà nghiên cứu Trần Hoài Anh trong bài viết “Về xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay” : “Muốn cho văn học nghệ thuật phát triển, đòi hỏi phải xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật, mà trước tiên là xã hội hóa quyền tổ chức và điều hành hệ thống sản xuất văn học nghệ thuật theo hướng đa dạng hóa chủ thể quản lý, nhằm thu hút đông đảo lực lượng xã hội, tập thể và cá nhân tham gia hoạt động văn học nghệ thuật… Xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật là đánh thức các tiềm năng của xã hội, nghĩa là không chỉ huy động sự đóng góp về kinh phí mà còn phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân, biến các hoạt động văn học nghệ thuật trở thành công việc, niềm quan tâm và nuôi dưỡng của toàn xã hội” (Tạp chí Cộng sản, tháng 11/ 2019). Theo cách hiểu như vậy thì xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật không hề đồng nghĩa với sự “bớt đi” nguồn lực nhà nước, mà thực chất là mở ra để mời gọi sự “thêm vào” đầy tính năng động, tích cực của các nguồn lực ngoài nhà nước, cả về kinh phí và tiềm năng sáng tạo văn học nghệ thuật.

Thực tế của hơn ¼ thế kỷ thực hiện xã hội hóa các hoạt động văn hóa, trong đó có văn học nghệ thuật, về cơ bản đã diễn ra như dự kiến của những người kiến tạo chủ trương. Hãy nhìn trước hết từ chính các đơn vị văn học nghệ thuật công lập. Nhờ có chủ trương xã hội hóa như một sự “cởi trói” về cơ chế, nhiều đơn vị đã nhanh chóng từ mảnh ruộng phần trăm nhỏ bé mà nhà nước giao cho để vươn ra bên ngoài, tìm kiếm các quan hệ, dẫn dụ các nguồn lực đa dạng đổ về mình, tạo thêm nhiều khối lượng công việc mới, mạnh mẽ và giàu hiệu quả. Ví dụ, trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, ta thấy có Nhà hát Tuổi Trẻ, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh… là những đơn vị đã rất biết cách mời gọi, khai thác nguồn lực từ các tổ chức, các quỹ văn hóa, các dự án hỗ trợ nghệ thuật nước ngoài, cả về tiền bạc và con người, để làm phong phú thêm và nâng cao hơn chất lượng các chương trình, kịch mục biểu diễn của mình. Ví dụ, trong lĩnh vực văn học – xuất bản, ta thấy những đơn vị xuất bản năng động như NXB Trẻ, NXB Kim Đồng hay NXB Phụ Nữ… đã đẩy mạnh việc liên kết với các trung tâm văn hóa, các dự án quảng bá văn học nước ngoài, các sứ quán, các tập đoàn xuất bản quốc tế, để khai thác bản quyền dịch và in các tác phẩm văn học nước ngoài có giá trị nghệ thuật cao, hoặc các tác giả đang ăn khách trên thế giới. Dĩ nhiên ở đây cần lưu ý một  điểm: những đơn vị văn học nghệ thuật công lập được ví dụ như trên là những đơn vị biết cách lấy xã hội hóa làm bàn đạp để vượt lên mạnh mẽ, nhưng đó chỉ là số ít, số nhiều vẫn là những đơn vị “cử động” hơn là hoạt động, làm việc theo chỉ tiêu, thiếu sức sáng tạo, không hiệu quả, không có những đóng góp thiết thực cho xã hội và cho sự phát triển chung của văn học nghệ thuật. Trên ý nghĩa đó, có thể nói, xã hội hóa văn học nghệ thuật chính là một phép thử đối với năng lực của các đơn vị văn học nghệ thuật công lập.

Nhưng thành tựu nổi bật và đáng kể hơn cả của trên ¼ thế kỷ thực hiện xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật lại nằm ở những nhân tố mới, ngoài công lập: các sân khấu xã hội hóa, các hãng phim tư nhân, các công ty sách tư nhân, các công ty tổ chức biểu diễn ca múa nhạc, các hãng băng đĩa nhạc tư nhân, các công ty tư vấn thiết kế kiến trúc… Hãy thử lấy vài ví dụ để thấy vai trò quan trọng của những nhân tố ngoài công lập này. Trong lĩnh vực sân khấu: nếu ở phía Bắc đất nước về cơ bản vẫn là “sàn diễn” của các đơn vị sân khấu công lập, thì ở phía Nam đất nước, cột trụ và linh hồn thực sự của sân khấu chính là các sân khấu xã hội hóa, tức sân khấu tư nhân. Sân khấu IDECAF, Kịch Sài Gòn, Kịch Phú Nhuận… những sân khấu của các ông bầu bà bầu, những sân khấu vận hành hoàn toàn bằng nguồn vốn của các tư nhân và bằng tiền mua vé vào rạp của công chúng đô thị, những sân khấu ấy mới đích xác là lựa chọn cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật sân khấu của khán giả miền Nam. Họ làm sân khấu nghiêng về tính giải trí, quy mô nhỏ gọn, song cũng không thiếu những vở diễn quy mô lớn, đẫm đặc sự mê dụ của tính chất hàn lâm. Và những nhà quản lý sân khấu xã hội hóa như Huỳnh Anh Tuấn, những đạo diễn, diễn viên “phù thủy” như Thành Lộc, rồi đây chắc chắn sẽ thuộc về những tên tuổi ghi dấu ấn nổi bật trên một chặng của lịch sử sân khấu Việt Nam. Trong lĩnh vực điện ảnh: kể từ nửa sau của chặng ¼ thế kỷ thực hiện xã hội hóa văn học nghệ thuật, tức từ khoảng 2010, về số lượng mỗi năm, phim do các hãng phim tư nhân sản xuất đã ngang bằng, rồi lấn lướt áp đảo phim do các hãng phim nhà nước sản xuất, và mấy năm gần đây, nói đến phim truyện điện ảnh Việt Nam tức là nói đến phim tư nhân, bởi vì các hãng phim nhà nước đã rơi vào tình trạng gần như tê liệt. Tất nhiên phim tư nhân làm ra thì có cả hay lẫn dở, phim dở thì có khi trở thành thảm họa điện ảnh hài nhảm, nhưng hay, thì hầu hết phim đoạt các giải thưởng điện ảnh trong nước hoặc giải thưởng ở các Liên hoan phim quốc tế đều là phim của các hãng tư nhân. Trong lĩnh vực văn học – xuất bản: chính các công ty sách tư nhân như Alpha Books, Nhã Nam, Đông A, Tao Đàn v.v… mới là lực lượng giữ vai trò chủ đạo trong việc in và phát hành các tác phẩm thuộc dòng sách văn học, nghệ thuật, tư tưởng, chính trị, tôn giáo. Bằng nguồn lực riêng có của mình, họ chủ động áp sát thị trường, chủ động khai thác bản quyền các sáng tác phẩm, dịch phẩm trong nước và nước ngoài, chủ động trong khâu biên tập, in ấn, phát hành. Nghĩa là, các nhà xuất bản nhà nước, nếu không mạnh mẽ và tích cực như NXB Kim Đồng, NXB Trẻ, NXB Phụ Nữ… thì chỉ còn thực hiện đúng một chức năng mà cái vị thế “nhà nước” đã cho họ: cấp giấy phép xuất bản cho các công ty sách tư nhân. Dù sao đi nữa thì công chúng vẫn được hưởng lợi lớn từ sự hiện diện của các công ty sách tư nhân này: chưa bao giờ sách ở Việt Nam lại phong phú, đa dạng và nhiều tác phẩm chất lượng cao đến thế.

Một lĩnh vực không thể không nhắc đến khi nói câu chuyện xã hội hóa văn học nghệ thuật, là lĩnh vực mỹ thuật. Các doanh nghiệp, các tư nhân đã tham gia hết sức tích cực, có nhiều đóng góp lớn vào sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam trong những năm qua. Có thể lấy hai ví dụ. Thứ nhất: hoạt động của các phòng tranh (gallery). Đây chính là nhân tố giữ vai trò môi giới, kết nối giữa người sáng tác và công chúng mỹ thuật. Thị trường mỹ thuật được mở ra, phát triển sôi động, họa sỹ có thể bán được tranh, trước hết là nhờ các phòng tranh. Dĩ nhiên có không ít phòng tranh vì lợi nhuận đã tiếp tay cho nạn tranh giả, tranh chép, làm xấu đi hình ảnh của mỹ thuật Việt Nam. Nhưng vẫn có đó những phòng tranh đầy uy tín như Lotus Gallery của bà Xuân Phượng ở Thành phố Hồ Chí Minh, một địa chỉ không chỉ là buôn bán tranh bình thường, mà là tìm kiếm, phát hiện, nâng đỡ, giới thiệu các họa sỹ giàu tiềm năng nhưng chưa được ai biết đến ra với công chúng trong nước và nước ngoài. Tất cả các cuộc triển lãm, giới thiệu họa sỹ Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới mà bà tổ chức trong suốt những năm qua (từ 1991) đều bằng tiền túi, không liên quan đến nhà nước, nhưng đã góp phần khiến cho mỹ thuật Việt Nam, văn hóa Việt Nam được thế giới biết đến và trân trọng. Thứ hai: hoạt động của các doanh nghiệp, thậm chí các tập đoàn kinh tế tư nhân. Dễ thấy nhất ở câu chuyện này là trường hợp của Flamingo Đại Lải Resort, với dự án “Nghệ thuật trong rừng” và “Bảo tàng mỹ thuật ngoài trời”. Đây là dự án được thực hiện trong nhiều năm, bằng việc người tổ chức mời các nhà điêu khắc Việt Nam và quốc tế tham gia, sau khi bản phác thảo của họ đã qua khâu sát hạch. Đến nơi, họ được bảo đảm chuyện ăn, ở một cách tốt nhất, được có tất cả các vật liệu và trang bị theo yêu cầu, được cấp những tốp thợ giỏi nghề nhất để hoàn thành tác phẩm như mong muốn. Kết quả là “Bảo tàng mỹ thuật ngoài trời” đã ra đời, là sự kết hợp hoàn hảo giữa các tác phẩm điêu khắc với phong cảnh thiên nhiên rộng lớn. Riêng các tác phẩm thì đa dạng về phong cách, những ngôn ngữ điêu khắc đều đầy tính hiện đại, và tất cả toát lên một tinh thần khai phóng, văn minh.

Nhưng chính ở lĩnh vực mỹ thuật, ta thấy đã phát lộ một vấn đề trong câu chuyện xã hội hóa văn học nghệ thuật, câu chuyện “khơi thông các nguồn lực xã hội, nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển văn hóa”, như ý kiến chỉ đạo của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Với những cá nhân, những doanh nghiệp như bà Xuân Phượng Lotus Gallery, như Flamingo Đại Lải Resort – mở rộng sang các lĩnh vực khác thì còn nhiều nữa – khi hoạt động của họ rất có ý nghĩa cho phát triển văn hóa đất nước, cho nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của toàn xã hội, thì họ có được hưởng một sự ưu đãi, một sự tạo điều kiện thuận lợi nào không – về thuế chẳng hạn – để có thể tiếp tục đầu tư một cách mạnh mẽ và hiệu quả cho văn học nghệ thuật? Dường như là không. Bởi vì cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa có một chính sách nào cụ thể, chi tiết cho hoạt động ấy. Chính vì thế, đây là một vấn đề thiếu, khi nhìn vào việc thực hiện xã hội hóa văn học nghệ thuật ở Việt Nam suốt hơn ¼ thế kỷ qua.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Nhà văn và tác phẩm trong quan hệ hữu cơ với cuộc sống


Văn học không phải là sự sao chép giản đơn hiện thực, mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, tái hiện thực tế cuộc sống bằng tài năng, vốn sống, bản lĩnh và cách xử lý sáng tạo tài liệu thực tế của nhà văn. Mỗi tác phẩm thành công đều mang dấu ấn hữu cơ giữa đời sống và cá tính sáng tạo trong tầm tư tưởng của mỗi nhà văn.

Tài năng và vốn sống

Đề cập đến tài năng và vốn sống của nhà văn là đề cập đến những phẩm chất đầu tiên cần phải có. Vốn sống của nhà văn chính là cái thực tế của đời sống mà nhà văn trải nghiệm, lăn lộn với nó như chính cuộc đời mình. Nói như H. Balzac “Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại” thì ở đây chúng ta phải nhận thức được rằng, thiên chức của nhà văn là tái hiện, xử lý, nhào nặn vốn sống, tức là cái thực tế mà nhà văn thâm nhập cuộc sống, để viết nên tác phẩm mà mọi người xung quanh mình khi đọc đều thấy bóng dáng mình, bè bạn của mình trong đó, thật như trong cuộc đời vậy. Đó chính là cái đích hướng đến: nhà văn phải có tầm tư tưởng và phong cách cá nhân của riêng mình với tư cách là người thư ký trung thành của thời đại. 

Như trường hợp Ngô Tất Tố (1893 – 1954), một kho tư liệu sống về số phận người nông dân Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX và chỉ riêng với tiểu thuyết Tắt đèn (1937) ông đã tái hiện và khắc họa sâu sắc cuộc sống khốn cùng của tầng lớp nông dân bị áp bức, bị chà đạp dưới thời Pháp thuộc, mà hình tượng chị Dậu là một điển hình. Tác phẩm không chỉ là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội thối nát mà còn thể hiện tài năng nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. Sở dĩ có được điều này chính là vì Ngô Tất Tố đã hóa thân thành những nhân vật, sống cuộc sống của họ bằng vốn sống ghi chép và tái hiện một cách chắt lọc những nét điển hình của cuộc sống. Các nhà văn cùng thời như Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… cũng là những nhà văn lăn lộn vào thực tế cuộc sống để dấn thân viết nên những tác phẩm có giá trị hiện thực phê phán.

Nói về người nông dân thời Pháp đô hộ cũng không thể không nhắc đến Nam Cao với truyện ngắn Chí Phèo (1941), một tác phẩm xuất sắc nói lên tấn bi kịch của người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội. Truyện ngắn Chí Phèo chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của một nhà văn lớn đã tái hiện và xử lý được những gì mà nhà văn thâm nhập thực tế và nhào nặn thành một bức tranh sinh động có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. 

Đề cập và phê phán đến tận cùng những thói tật, những tệ nạn thối nát ở đô thị Việt Nam thời thuộc Pháp, với cách “ghi chép trung thành” thời đại mình đang sống, Vũ Trọng Phụng với tác phẩm Số đỏ đã phơi bày bản chất thối nát, giả dối của một xã hội thực dân nửa phong kiến, và đặc biệt bằng tài năng trào phúng, giễu cợt nhà văn đã chứng tỏ bàn tay sáng tạo của một tiểu thuyết gia có tầm tư tưởng và phong cách.

Cảm hứng sáng tạo

Nếu nhìn vào giai đoạn 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 -1954) và giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954–1975), chúng ta thấy mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm càng trở nên đặc biệt. Bởi lẽ, chính hoàn cảnh lịch sử dân tộc đã khiến nhà văn không thể đứng ngoài cuộc, mà trở thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa – tư tưởng, vừa cầm bút vừa cầm súng, vừa sống vừa viết, vừa chiến đấu vừa sáng tạo. Thành tựu văn học nghệ thuật giai đoạn này chính là kết tinh của sự hòa quyện ấy. Anh vệ quốc quân phóng viên mặt trận tờ Xông phaVệ Quốc quân trong kháng chiến chống Pháp – nhà thơ Hoàng Lộc (1920 -1949), tác giả bài thơ Viếng bạn đã xử lý sáng tạo, đúng lúc những tài liệu thực tế ở chiến trường để viết nên một tác phẩm đầu tiên về liệt sĩ đồng đội được lưu hành rộng rãi. Hoàng Lộc viết Viếng bạn đầu năm 1948 (sau đăng trên sách Chặt gọng kìm đường số 4) trước cả bài thơ Lượm của Tố Hữu viết cuối năm 1949 và bài Khóc Hoài của Vĩnh Mai, năm 1950.   

Có thể kể trường hợp của nhà thơ Lê Anh Xuân với bài thơ Dáng đứng Việt Nam được viết ra trong cảm hứng sáng tạo xuất thần. Lê Anh Xuân (tên thật là Ca Lê Hiến) vốn là giảng viên khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tình nguyện trở lại quê hương Bến Tre chiến đấu và công tác ở Ban Tuyên huấn, Trung ương Cục miền Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 16, Phân khu 2, tỉnh Long An có nhiệm vụ tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất.

Trong trận chiến đấu này có một chiến sĩ bị thương, nhưng anh đã tựa mình vào một xác xe tăng bắn tiếp cho đến khi kiệt sức. Lại một viên đạn nữa xuyên vào thân thể, làm anh hy sinh trong tư thế đứng thẳng, tay vẫn kẹp súng hướng về phía quân thù làm chúng hoảng sợ. Lê Anh Xuân được nghe kể lại, anh rất xúc động với hình ảnh này, cảm hứng sáng tạo đã giúp nhà thơ viết nên tác phẩm Dáng đứng Việt Nam ngay trong đêm ấy gửi cho Tạp chí Văn nghệ giải phóng trước lúc lên đường đi chiến đấu và hy sinh, khi mới 28 tuổi. Hình tượng anh Giải phóng quân đứng thẳng hiên ngang đã được khái quát hóa thành dáng đứng của đất nước. Cảm hứng sáng tạo của nhà thơ đã đưa một hình ảnh cụ thể thành biểu tượng hiên ngang của Tổ quốc.

Cảm hứng sáng tạo cũng đã đưa bức tranh thơ O du kích nhỏ giương cao súng… trở thành tác phẩm nghệ thuật đích thực. Cảm hứng sáng tạo có những lúc bất chợt trở thành kích hoạt nội tâm để đi đến sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đó là trường hợp năm 1965 khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc bằng không quân, nhà báo Phan Thoan, phóng viên Báo Hà Tĩnh đã kịp chụp được khoảnh khắc nữ dân quân đội mũ cối, hai tay bồng súng, hiên ngang áp giải một phi công Mỹ to lớn bước đi, đầu cúi thấp. Từ tấm ảnh cụ thể hiện lên một biểu tượng sáng ngời của nhân dân và phụ nữ Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1966, tấm ảnh được trưng bày tại một triển lãm ảnh toàn quốc và ngay lập tức tạo nên sự xúc động mạnh của nhiều người xem. Nhà thơ Tố Hữu sau khi xem ảnh đã để lại bốn câu thơ tương phản người chiến thắng – kẻ xâm lược cũng chính xuất phát từ cảm hứng sáng tạo:

“O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế! To gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu!”

Nhà văn và tác phẩm trong quan hệ hữu cơ với cuộc sống - 1

Tác phẩm ảnh “O du kích nhỏ” của nhà báo Phan Thoan. (Ảnh tư liệu)

Còn trường hợp nhà thơ, nhà khoa học luyện kim Đinh Phạm Thái với bài thơ Cái roi ngày ấy thì từ vốn sống thực tế của chính gia đình mình có người thân là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà thơ đã điển hình hóa vốn sống thực tế của riêng mình thành cái chung của cộng đồng, biến nỗi đau riêng thành nỗi đau chung của nhiều gia đình có con em trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước. 

“Ngày nào con nghịch con chơi

Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày

Làn roi rơi xuống thân gầy

Làm đau lòng mẹ, làm cay mắt bà.  

Bây giờ con ở đâu xa

Nắm xương không cửa không nhà mãi đi

Trường Sơn một dải xanh rì

Đất đen, đất đỏ, đất gì chôn con?”

Hành trình sáng tạo liên tục để tạo nên tác phẩm có giá trị lâu bền

Nguyễn Đình Thi với vốn sống thực tế sẵn có nên với những trải nghiệm trong cuộc sống ông đã đi tìm cảm xúc cô đọng trong sáng tạo để biến cảm xúc riêng mình thành cảm xúc của nhiều người. Đây chính là hành trình sáng tạo liên tục của nhà thơ để tạo nên tác phẩm có giá trị lâu bền. Là người trong cuộc, tắm mình trong cuộc chiến đấu gian lao của dân tộc, tham gia chiến đấu cùng với bộ đội, sống với dân và được chứng kiến ngày thắng lợi vẻ vang của đất nước nên Nguyễn Đình Thi yêu đất nước như đứa con yêu quê hương, đau xót khi thấy quê hương bị giặc giày xéo, vui mừng khi đất nước được giải phóng khỏi ách xâm lược.

Cảm xúc trong thơ Nguyễn Đình Thi rất cụ thể, gắn với đời sống thực qua vốn sống mà ông trải nghiệm và ghi chép. Thơ ông đã ghi lại cảm xúc trào dâng của người con đối với gia đình, người thân, làng xóm, đồng đội. Những tình cảm tự nhiên, chân thành xuất phát từ cuộc sống đã đem lại cho thơ Nguyễn Đình Thi những cảm xúc mãnh liệt đi vào lòng người. Về phương diện này thơ Nguyễn Đình Thi đã nói hộ tâm tư, suy nghĩ của bạn đọc. 

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

(Đất nước) 

Cảm xúc thơ Nguyễn Đình Thi đồng điệu với cảm xúc của nhân dân nên thơ ông được đông đảo bạn đọc yêu thích, nghiền ngẫm. Đây chính là thành công của thơ Nguyễn Đình Thi, vì cảm xúc thơ ông đi từ cuộc sống, chắt lọc lấy những gì khái quát nhất, đặc thù nhất. 

Tài năng và vốn sống của nhà văn là những tố chất đầu tiên mà nhà văn cần phải có, nhưng xử lý vốn sống đó như thế nào mới là điều quyết định thành công của tác phẩm có giá trị chân – thiện – mỹ vì con người. Dấn thân, say mê và liên tục sáng tạo là những tố chất mà nhà văn nào cũng phải phấn đấu cho được, trong đó nhà văn phải chấp nhận miệt mài lao động, quan sát ghi chép cuộc sống là những công việc không thể thiếu đối với nhà văn có tầm tư tưởng và phong cách, như cách tri ân cuộc đời mà nhà thơ Chế Lan Viên thường nói: “Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn”.

Nguyễn Xuân Hòa




Nguồn: Arttimes.vn

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa


“Kim Vân Kiều” vừa được Nhã Nam phát hành là ấn bản đầu tiên có sự hội tụ hiếm có của ba di sản lớn là di sản văn chương của Nguyễn Du, di sản quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và di sản hội họa của Nguyễn Tư Nghiêm. Tất cả tạo nên một không gian thẩm mỹ, tôn vinh giá trị trường tồn của kiệt tác văn chương dân tộc, đồng thời nhìn lại lịch sử phiên âm, chú giải ra quốc ngữ và tiếp nhận “Truyện Kiều” trong đời sống tri thức, văn hóa Việt Nam hơn hai thế kỷ qua.

Sự kiện ra mắt ấn bản đặc biệt Kim Vân Kiều cùng trưng bày 26 bức tranh Kiều chưa từng được công bố của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm được tổ chức ngày 10/1, tại Hà Nội.

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa - 1

Sự kiện ra mắt ấn bản đặc biệt “Kim Vân Kiều” do Nhã Nam tổ chức tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, ngày 10/1. Ảnh: Hương Thảo

Sự kiện có sự tham gia của GS.TS Trần Đình Sử – tác giả công trình nghiên cứu Thi pháp Truyện Kiều và họa sĩ Lương Xuân Đoàn – Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam trong vai trò diễn giả, TS. Mai Anh Tuấn trong vai trò điều phối.

Chương trình còn có sự hiện diện của hai vị khách mời đặc biệt: ông Nguyễn Lân Bình – cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh và bà Nguyễn Thu Giang – phu nhân cố họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, đồng thời là con gái cố nhà văn Nguyễn Tuân.

Truyện Kiều trong hành trình dịch thuật và chú giải hơn hai thế kỷ

Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du vừa là một kiệt tác văn chương, vừa là một hiện tượng văn hóa đặc biệt có sức sống bền bỉ trong đời sống tinh thần của người Việt, được tiếp tục luận bàn trong nghiên cứu, phê bình và được tái sáng tạo trong các lĩnh vực nghệ thuật khác như: sân khấu, âm nhạc, hội họa, điện ảnh. Truyện Kiều cũng được dịch nhiều ngôn ngữ trên thế giới, trở thành cầu nối văn hóa, văn chương Việt Nam và bạn đọc quốc tế.

Bên cạnh đó, Truyện Kiều có một lịch sử in ấn, phiên âm, dịch thuật, chú thích, chú giải cũng như tiếp nhận, nghiên cứu, đánh giá vừa phong phú, phức tạp vừa nhiều thành tựu. Hơn 200 năm qua, Truyện Kiều vẫn không ngừng mời gọi tâm trí của không biết bao nhiêu bậc thức giả văn hay chữ tốt trong việc hiểu, diễn giải, phân tích một cách tường tận nhất những “lời quê chắp nhặt” của Nguyễn Du.

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa - 2

Các diễn giả chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: BTC

Trong đó, bản dịch và chú giải Kim Vân Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh, qua nhiều năm, được in có lẽ đến cả vạn bản, được yêu thích bởi lối phiên âm sáng rõ, cùng hệ thống chú giải uyên bác nhưng tiết chế, giúp độc giả quốc ngữ cảm nhận đúng tài năng, nghệ thuật thơ của Nguyễn Du.

Ấn bản Kim Vân Kiều năm 2025 của Nhã Nam được tái bản dựa trên bản Kim Vân Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, chú dẫn các điển tích ra chữ quốc ngữ, in lần thứ 7 năm 1923 của Hiệu Ích Ký (Hà Nội).

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa - 3

Ấn bản đặc biệt “Kim Vân Kiều” do Nhã Nam phát hành. Ảnh: BTC

Nguyễn Văn Vĩnh (1882–1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả, học giả có đóng góp lớn, quan trọng đối với đời sống văn chương, báo chí, học thuật Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trong sự nghiệp đồ sộ của mình, ông dành nhiều tâm huyết cho Truyện Kiều và coi đây là một tác phẩm tinh túy cần được phổ biến rộng rãi trong xã hội hiện đại.

Trong lời tựa Kim Vân Kiều bản tái bản năm 1915, Nguyễn Văn Vĩnh nhấn mạnh: “Nay chúng tôi dịch truyện này ra chữ quốc ngữ, có ý tra cứu các bản từ xưa đến giờ, để dịch cho đúng mà lưu lại một cái nền văn-chương nước Nam. Các điển tích cùng các câu khó chúng tôi đã chua ra, để ai ai cũng hiểu những câu sâu sắc trong truyện Kiều; để mà biết thực giá một cái hương-hỏa quý của người đời trước để lại cho; để mà ngâm câu truyện biết nghĩa lý, thì lòng người mới biết động”.

Đây được xem là một trong những nỗ lực sớm và nghiêm túc nhằm đưa Truyện Kiều đến với đông đảo bạn đọc quốc ngữ, đồng thời góp phần định hình cách đọc Kiều trong bối cảnh văn hóa mới.

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa - 4

GS.TS Trần Đình Sử – tác giả công trình nghiên cứu “Thi pháp Truyện Kiều” chia sẻ về bản dịch của dịch giả Nguyễn Văn Vinh. Ảnh: BTC

GS. Trần Đình Sử nhận định, Kim Vân Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra quốc ngữ là một trong những bản Kiều sớm và quan trọng, giúp bạn đọc hôm nay hiểu rõ hơn tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, cũng như vai trò của các trí thức buổi giao thời trong việc phổ biến chữ quốc ngữ, kiến tạo tinh thần yêu chuộng vốn cổ văn học, ngôn ngữ nước nhà”.

Tiếp cận Truyện Kiều qua góc nhìn nghệ thuật của Nguyễn Tư Nghiêm

Ấn bản Kim Vân Kiều năm 2025 của Nhã Nam còn giới thiệu bộ 26 bức tranh Kiều chưa từng công bố của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, qua đó cho phép bạn đọc tiếp cận Truyện Kiều từ những cảm xúc và góc nhìn nghệ thuật rất riêng của ông. Toàn bộ tranh được vẽ trên giấy dó, sử dụng các chất liệu như than chì, bột màu và sơn dầu.

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa - 5

Ấn bản “Kim Vân Kiều” năm 2025 của Nhã Nam lần đầu công bố 26 bức tranh Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: BTC

Là một trong những gương mặt lớn của mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tư Nghiêm đã dành nhiều năm sáng tác tranh Kiều, xem đây như một không gian để đối thoại giữa truyền thống nghệ thuật, tinh thần hiện đại và ngôn ngữ tạo hình đậm cá tính cá nhân, từ đó mang đến cho công chúng cách “đọc Kiều bằng hình ảnh” đầy sáng tạo và độc đáo.

Điểm nổi bật trong tranh Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm là không đi theo lối minh họa trực tiếp cốt truyện, mà khai thác chiều sâu tâm lý, tính cách và cảm xúc của mỗi nhân vật, tình huống, sự việc trong Truyện Kiều.

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa - 6

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn – Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam chia sẻ về kỹ thuật vẽ Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: BTC

Về kỹ thuật vẽ đặc biệt cùng cách cảm Truyện Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, họa sĩ Lương Xuân Đoàn cho rằng, đây là một bộ tranh độc đáo và hiếm có trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Với kỹ pháp “thả màu trước, thả nét sau” đầy năng lượng cảm xúc, cốt nét của danh họa hết sức đặc biệt, không giống ai, cũng không ai chép được mạch bút. Cách điệp màu của Nguyễn Tư Nghiêm, cùng cảm quan tạo hình độc đáo đã giúp danh họa để lại một bộ tranh Kiều vô cùng quý giá.

Khẳng định tầm vóc lớn lao của người nghệ sĩ tài hoa, họa sĩ Lương Xuân Đoàn chia sẻ: “Tài sản của Nguyễn Tư Nghiêm để lại không chỉ là Gióng, là điệu múa cột, là mười hai con giáp, là trẻ em chơi, hay tranh Kiều, cũng không chỉ là nét bút, thần bút, tài năng hội họa, mà còn là phẩm cách nghệ sĩ được bảo trọng trọn vẹn cho đến khi cuộc đời”.

Ấn bản “Kim Vân Kiều”: Tôn vinh di sản Nguyễn Du qua lăng kính quốc ngữ và hội họa - 7

Một bức tranh Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm được trưng bày tại sự kiện. Ảnh: Hương Thảo

Từ điểm nhìn hôm nay, Kim Vân Kiều ấn bản đặc biệt năm 2025 của Nhã Nam không chỉ mở ra cơ hội đọc lại một bản Kiều chữ quốc ngữ kinh điển ra đời hơn một thế kỷ trước, mà còn gợi nhắc sâu sắc về hành trình gìn giữ, truyền bá và tái sáng tạo di sản văn chương dân tộc. Cuộc hội ngộ tinh thần của Nguyễn Du – người khai sinh kiệt tác, Nguyễn Văn Vĩnh – học giả tiên phong đưa Truyện Kiều đến đông đảo công chúng hiện đại, và Nguyễn Tư Nghiêm – danh họa thổi vào Kiều một đời sống thị giác mới, cho thấy giá trị của Kim Vân Kiều không ngừng được bồi đắp qua các thế hệ. Chính sự tiếp nối ấy khẳng định Truyện Kiều là tác phẩm “nói mãi không cùng”, luôn sống động trong hiện tại và còn tiếp tục đối thoại với tương lai.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

“10h sáng Chủ Nhật” – tìm về yêu thương giữa dòng đời xô đẩy…


“10h sáng Chủ Nhật” của nhà báo Tô Phán là tập tản văn chứa đựng tình người qua những câu chuyện đời thường giản dị nhưng sâu sắc mà chính tác giả đã trải qua. Mỗi trang sách là một lát cắt của cuộc sống, nơi yêu thương và sẻ chia luôn hiện diện. Đó cũng chính là thông điệp về một lối sống xanh – con người luôn muốn sống nhân văn, tử tế, bao dung và gắn bó với nhau – điều mà xã hội văn minh, hiện đại hôm nay đang coi đó là vấn đề rất… thời sự.

Cầm cuốn sách trên tay, độc giả như được mời gọi bước vào một không gian khác – không gian của sự tĩnh lặng nội tâm. Tựa như giữa phố xá ồn ào, chợt có tiếng nói ấm áp vang lên  bên tai ta, nhắc nhở ta hãy đi chậm lại, hít một hơi thật sâu để thấy lòng bình yên. Những trang viết ấy không ồn ào, không gấp gáp, mà khe khẽ và ấm áp như ánh nắng còn sót lại cuối ngày, dịu dàng nhưng đủ sức làm ấm đối tay giữa thời tiết giá lạnh. Giữa thế giới quay  ồn ã, lối sống xanh như chiếc chiếc neo níu giữ con người ở lại với tình thân, với lòng yêu thương, với sự nhân ái và biết ơn.

Trong sách 10h sáng Chủ Nhật, tác giả khắc họa tình thân (tình bạn, tình gia đình) những sợi dây cảm xúc gắn kết con người trong xã hội hiện đại qua hơn 400 trang sách, được chia làm bốn phần với 49 câu chuyện lắng đọng tình người, nhân văn và rất đáng suy ngẫm. Bố cục bốn phần của sách 10h sáng Chủ Nhật là bốn lát cắt phong phú nhưng nhất quán, mỗi phần mang màu sắc riêng biệt nhưng lại tạo nên một tổng thể hòa quyện, đầy cảm xúc và ý nghĩa.

“10h sáng Chủ Nhật” – tìm về yêu thương giữa dòng đời xô đẩy… - 1

10h sáng Chủ Nhật” của Nhà báo Tô Phán.

Phần một – “Miền ký ức” là hành trình trở về với những tháng ngày đã xa nhưng luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người. Từ những câu chuyện chưa bao giờ được tiết lộ như Tiền sự đến cảm xúc day dứt trong Ám ảnh nợ nần, tác giả vẽ nên những bức tranh ký ức bằng lời văn đầy hoài niệm, có lúc tinh khiết, có lúc xót xa, trầm đục, về tuổi thơ và những kỷ niệm đã góp phần hình thành nên bản thân một con người.

Phần hai – “Nơi luôn chờ ta về”-  Nơi đong đầy tình cảm gia đình thiêng liêng và sâu sắc. Những bài viết như Vi diệu, Ba người đàn bà trong đời tôi, Nhà của bố mẹ, hay Với tôi – bố là người cha hoàn hảo nhất khiến người đọc là người thân, là bạn bè của tác giả không khỏi xúc động trước tình cảm mà tác giả dành cho những người thân yêu nhất, đặc biệt là hình ảnh người mẹ (Mái tóc của mẹ) và bà nội (Hai chỉ vàng của mẹ)… Đây cũng là những người thân để tác giả níu đậu tình yêu thương và là những người để tác giả  thông qua đó truyền tải quan điểm về tầm quan trọng của tình yêu gia đình.

Phần ba – “Hương vị cuộc sống” phản ánh cuộc sống đô thị với những góc khuất đời thường. Câu chuyện mang tên cuốn sách 10h sáng Chủ Nhật chính là tâm điểm của phần này, đưa người đọc trở về với những năm tháng cơ cực của tác giả khi bước chân vào đời, trải qua đói khổ, không việc làm nhưng vẫn kiên trì vượt qua. Những trang viết về thời bao cấp cho thấy tinh thần sống lạc quan, nghị lực vượt lên nghịch cảnh.

Phần bốn – “Những lát cắt” là những suy tư, trăn trở của tác giả trước những vấn đề xã hội hiện đại. Nhà báo Tô Phán không ngần ngại chỉ ra những điều tiêu cực qua các bài viết như Một kiểu háo danh hay Có một thứ tư duy vô ơn… Hoặc tác giả có cách nhìn khách quan, đa chiều về một giai đoạn lịch sử ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) “thay trời đổi đất…”. Những bài viết như vậy là những lời như để tỉnh thức về sự nhiệt tình với tư duy ngây thơ và ấu trĩ một thời, là lời tỉnh thức về lòng trắc ẩn, sự tử tế cần có trong cuộc sống này.

Những câu chuyện ấy giống như những hạt mưa rơi xuống đám đất đang khát cháy, làm nảy mầm sự sống trong lòng tác giả. Đó là ký ức về một mái nhà đơn sơ mà ấm áp, là lời dạy của cha, là vòng tay của mẹ, là ánh mắt sẻ chia của bạn bè. Có câu chuyện mang lại nụ cười, có câu chuyện khiến ta thổn thức, nhưng tất cả đều khiến ta thêm trân trọng những giá trị bình dị mà sâu sắc.

Có lẽ trong tập tản văn lần này, nhà báo Tô Phán như có nhiều thời gian suy ngẫm hơn, có độ lùi sâu hơn… để chậm rãi kể về những ký ức hạnh phúc cũng như đau buồn trong hành trình sống tưởng như đơn giản nhưng rất ý nghĩa. Soi chiếc gương cuộc đời nên những kỷ niệm được lần giở tới từng ngóc ngách trong quá khứ mà tác giả đã trải qua, từng đau đớn, từng hạnh phúc. Đây chính là lúc anh trải lòng rất thật về quan niệm giá trị sống, trân quý tình người qua những khúc quanh co của cuộc đời. 

Những lời kể ấy không khô cứng như một bản hồi ký, mà đậm chất nhân văn và trữ tình. Người đọc thấy ở đó nỗi đau như một những vết sẹo tâm hồn, nhưng cũng thấy hạnh phúc le lói như một vầng sáng trong dự cảm. Sự đan xen ấy chính là hơi thở của cuộc đời – nơi cơ cực và vui vẻ, nơi khổ đau và hạnh phúc hòa quyện để hình thành cả hành trình của đời một người biết yêu thương, biết trân trọng và cũng biết căm ghét cái xấu, cái tồi tệ.

Tác giả đã chọn thời khắc 10h sáng Chủ Nhật làm điểm khởi đầu cho hành trình khám phá và kết nối với những góc sâu kín trong con người tác giả, để mở lòng lắng nghe và suy ngẫm về những gì tác giả may mắn thấy được và có được.

10h sáng Chủ Nhật không chỉ là một mốc thời gian cụ thể, mà còn là biểu tượng cho sự dừng lại, cho khoảnh khắc mà con người tạm gác đi những bộn bề, để  tĩnh tâm với chính mình, để nghe tiếng lòng mình thổn thức. Đó có thể là khi phố phường vơi đi tiếng ồn, khi ánh nắng đã bớt đi độ gắt, khi lòng ta kịp lắng xuống để nhận ra nhiều điều ta từng lãng quên. Ở khung giờ ấy, tác giả đã chọn lắng nghe và viết ra, để từ trang sách đánh thức chính tâm hồn mình đang mơ màng hoặc đang chộn rộn.

Với lăng kính của một nhà báo nhiều kinh nghiệm, tên sách 10h sáng Chủ Nhật được tác giả lấy từ tên bài viết cùng tên đăng trên Tạp chí điện tử Công dân và Khuyến học, và bài báo đó cũng được in trong cuốn sách. Cũng như thông điệp chung của bài viết này, tác giả muốn tổng hợp lại, đúc kết lại để chia sẻ về một quá khứ có những quãng đời cơ cực, từng bế tắc, nhưng đọng lại là tình người, và chính tình người mới cho tác giả niềm tin và nghị lực sống, để sống cho tử tế.

Giữa những dòng chữ giản dị, người đọc thấy thấp thoáng hình bóng của một thời đói nghèo, thất nghiệp, lo âu… nhưng cũng thấy sáng lên những tia hy vọng mong manh mà kiên định. Chính sự chắt lọc từ trải nghiệm rất thật đó đã làm nên sự chân thành, khiến mỗi trang viết không chỉ là kỷ niệm, mà còn là lời nhắn gửi: hãy giữ lấy lòng nhân ái, vì đó là thứ duy nhất cứu rỗi con người giữa giông bão đời sống.

Với phong cách viết chân thực, dung dị, mỗi câu chuyện trong cuốn sách đều chứa đựng những trăn trở của tác giả về con người, về những giá trị tinh thần trong xã hội hiện đại. 10h sáng Chủ Nhật trân trọng những niềm vui nhỏ bé, những giá trị sống ẩn chứa trong những điều bình dị. Tác giả muốn gửi gắm thông điệp ý nghĩa: Dù cuộc sống có bận rộn hay áp lực tới đâu, hãy dành những khoảnh khắc để lắng nghe chính mình, để hiểu và để yêu thương người thân nhiều hơn; hãy sống chậm lại để hiểu thêm rằng, giữa cuộc đời vội vã, ồn ào, đôi khi điều ta cần nhất chỉ là những phút lặng yên, lắng nghe lòng mình và trân quý hơn những điều giản dị xung quanh. Vì thế,  cuốn sách giống như một khoảng sân nhỏ có nắng, nơi  tác giả có thể bước vào nghỉ chân, để thấy mình vẫn còn khả năng yêu thương, vẫn còn chỗ để bình yên neo đậu.

Mỗi chúng ta đều mang trong mình một câu chuyện riêng, những ký ức không phai mờ theo thời gian, những cảm xúc mà đôi khi chúng ta không thể diễn đạt hết bằng lời. Cuốn tản văn 10h sáng Chủ Nhật của tác giả Tô Phán là một hành trình như thế, nó đi qua những cung bậc cảm xúc chân thực và sâu lắng.

Có khi đó là tiếng khóc khẽ của người mẹ, có khi là ánh mắt nhìn bao dung của người cha, cũng có khi là sự day dứt khôn nguôi của những tháng ngày nợ nần, bế tắc. Tất cả đan xen, kết thành một bản nhạc đời sống lầm lũi nhưng cũng ẩn chứa nhiều điều tốt đẹp mà ai từng đi qua những thăng trầm đời sống đều nhận ra giai điệu quen thuộc.

Qua những câu chuyện dung dị, tác giả Tô Phán mang đến không chỉ sự chiêm nghiệm về đời sống mà còn là những bài học giá trị về sự sẻ chia, lòng nhân ái và niềm hy vọng, ngay cả khi bị ép vào căn hầm tăm tối. Chính ở những góc khuất, trong bóng tối của thất vọng, tia sáng của tình người mới đáng trân trọng biết bao. Người đọc, khi theo chân tác giả, sẽ thấy rằng: ngay cả khi cuộc đời vùi dập ta xuống tận đáy, thì sự hiện diện của một bàn tay chìa ra, một lời an ủi, một nghĩa cử bao dung… vẫn đủ sức nâng ta đứng dậy. Đó chính là “chìa khóa” mà tác giả đã tìm được, và nay muốn trao lại cho bạn bè, người thân.

Hầu hết các bài tản văn trong sách 10h sáng Chủ Nhật đều dành cho cái đẹp của cuộc sống. Đó là tình thân – tình thân gia đình, tình thân bạn bè, tình người… Nhưng cũng trong cuốn sách tác giả dành một số bài viết cho những căn bệnh tinh thần trong đời sống. Có thể những bài viết đó toát lên nỗi buồn, trong đó có niềm tin bị sứt mẻ, quan hệ con người với con người bị thương mại hóa… Song, cũng chính từ những bài viết ấy, tác giả lại đưa ra thông điệp: cuộc đời đau buồn nhưng về cơ bản cuộc đời vẫn rất đẹp, bởi vì con người ta phải sống, sống để cuộc đời đẹp hơn, trong sáng hơn.

Đó là một cái nhìn không tô hồng, cũng không bi quan, mà đủ tỉnh táo và đủ nhân văn. Tác giả không né tránh cái xấu, nhưng chọn cách soi chiếu nó bằng ánh sáng của hy vọng, để từ bóng tối vẫn có khát vọng làm cho đời sống của chính mình tốt hơn.

Cuốn sách này, xét cho cùng, là một hành trình trải nghiệm sâu sắc, nhân văn của một cây bút dày dạn kinh nghiệm, chạm đến trái tim bạn bè, người thân bằng sự chân thật và giản dị. Nó giống như một người bạn đồng hành, lặng lẽ ngồi bên, không hô hào, chỉ  khẽ khẽ kể lại những chuyện đã qua, nhưng đủ để người nghe bồi hồi, xúc động. Và chính trong sự lặng lẽ ấy, tác giả đã gửi gắm:  không ai đơn độc, vì quanh ta vẫn luôn có tình người.

Động lực nào đã thôi thúc nhà báo Tô Phán cho ra đời cuốn sách 10h sáng Chủ Nhật?  Tác giả đã từng chia sẻ: “Không trải qua những sự cố, những sự việc bất thường với tư cách là người trong cuộc, không trải nghiệm với tư cách là nhân chứng, thì không có những niềm vui, những niềm đau như những vết sẹo hằn trong tâm hồn. Không có những niềm vui, niềm đau đó thì không suy ngẫm được. Không suy ngẫm thì không viết được. Nó như sự thúc ép tự thân: Phải viết, viết cho chính mình để như một món quà tri ân người thân và bạn bè từng chia ngọt sẻ bùi và cả chung những nỗi đau!”. 

Lời tự sự ấy không chỉ là sự giãi bày, mà còn là lời khẳng định về trách nhiệm của một người cầm bút: viết là để nhớ, để trả ơn, để nối lại những sợi dây tình cảm tưởng chừng đã đứt đoạn. Trong từng dòng chữ có thể cảm nhận được sự thôi thúc từ bên trong, buộc tác giả phải biến nó thành ngôn từ.

“10h sáng Chủ Nhật” – tìm về yêu thương giữa dòng đời xô đẩy… - 2

Từ phải sang trái: Nhà báo Tô Phán; Nhà văn, nhà báo Hoàng Dự; Nhà báo Hoàng Văn Ân tại buổi lễ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước gặp mặt, tuyên dương người làm báo tiêu biểu nhân kỷ niệm 100 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6/2025.

Tác giả thẳng thắn khẳng định một quan điểm nhất quán xuyên suốt tác phẩm: “Ai không yêu thương gia đình của mình, không yêu thương người thân của mình mà lại vỗ ngực rằng mình yêu nhân dân, yêu đất nước, thì tình yêu đó là đồ giả!”. Ông nhấn mạnh rằng con người phải biết yêu người thân của mình mới có tình yêu đất nước thật sự, và đó mới là người có giáo dục.

Quan điểm ấy tưởng chừng giản đơn, nhưng lại hàm chứa triết lý về gốc rễ của tình yêu thương. Một người không biết cúi xuống trước mẹ già, không biết trân trọng từng giọt mồ hôi của cha, thì làm sao có thể hiểu và sống hết mình cho đất nước. Tác giả cũng gửi gắm quan niệm mạnh mẽ về lòng biết ơn: “Ai không có lòng biết ơn thì không đáng được hưởng trái ngọt của đời, dù cả khi họ sống trong nhung lụa!”.

Lòng biết ơn – nghe tưởng chừng như một đức tính cũ kỹ, nhưng qua lời tác giả, nó trở thành ngọn đèn soi đường. Trong một xã hội hiện đại, nơi nhiều giá trị bị xô lệch, thậm chí bị biến mất thì lòng biết ơn chính là thứ giúp con người giữ được sự cân bằng, giúp ta không mất phương hướng. Đó cũng là cội nguồn của niềm hạnh phúc bền lâu của con người.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Mậu (Viện Văn học Việt Nam), người bạn tri kỷ suốt 45 năm của tác giả, đã nhận xét: “Đó là kinh lịch cuộc đời, cuộc sống, nội dung của một quá trình trải nghiệm đau đớn và hạnh phúc, biết và thấy, nghe và hiểu, giao du và giao tiếp mà ta đọc được ở đây có thể sẽ thú vị cho cả những người không phải là bạn, không là người thân thiết của tác giả”.

Nhận định ấy không chỉ là lời khen, mà còn là sự xác nhận: cuốn sách này không dừng lại ở phạm vi riêng tư, mà có những giá trị chung của những người cùng thế hệ tác giả, chạm đến những suy tư những người cùng thế hệ đã từng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống vốn phức tạp và cực nhọc.

TS. Nguyễn Đức Mậu coi những gì Tô Phán viết là “tư liệu sống động” của một thời, giúp bù đắp những khoảng trống ký ức mà ta chưa kịp trải qua hoặc đã vô tình bỏ quên. Đặc biệt, ông khẳng định điểm lấp lánh xuyên suốt tập sách chính là “tình người” – thứ gắn bó, bền lâu và thiêng liêng nhất trong mọi mối quan hệ. Ở chỗ này, nhà nghiên cứu văn học và tác giả có điểm chung: cả hai đều tin rằng, dẫu thời cuộc biến đổi, dẫu những thang  bậc giá trị xã hội có lên xuống, thì “tình người” vẫn là ánh sáng luôn lấp lánh.

10h sáng Chủ Nhật – vì vậy – không chỉ là tập hợp những câu chuyện đời thường. Nó là sự kể lại hành trình của tác giả đi tìm hạnh phúc. Qua giọng văn giản dị nhưng cũng triết lý, tác giả cho thấy những khoảng lặng của tâm hồn để chiêm nghiệm và đúc kết chuyện không bao giờ cũ: gia đình là nơi thiêng liêng nhất, tình yêu thương là món quà lớn nhất, và sống chậm chính là con đường ngắn nhất để ta tìm về sự an yên.

Cuốn sách như một món quà nhỏ cho bạn đọc trong những ngày nhiều lo toan. Món quà đó là lời nói nhẹ nhàng: hãy yêu thương con người nhiều hơn, hãy trân trọng từng phút giây ta đang sống, và hãy dành cho gia đình – cho những người thân yêu – phần đẹp nhất của trái tim mình.

Bùi Phan Thảo




Nguồn: Arttimes.vn