Home Blog Page 91

Nhà văn Phạm Thái Quỳnh – một mình thong thả “Bến xuân”


Càng đến với văn chương và lịch sử, dường như Phạm Thái Quỳnh càng có sự thong dong dù những câu chuyện anh viết ra đều canh cánh nỗi đời, phận người. Nói vậy có lẽ nào vô lý? Mà khi đã văn chương sẽ đều có những lý lẽ riêng.

“Rồi sẽ thành cổ tích”

“Bồng bềnh cát trắng”; “Quán sách bên đường”

“Tiếng gọi trong đêm”; “Hoa thơm thảo”

“Thiên thu tình sử”; “Trăng sóng Hoàng Giang”

“Phận chị duyên em”; “Giai nhân giũ áo”

“Bí mật của chiến trường”; “Hạnh ngộ hoàng hôn”…

Phải là người rất kỹ chữ mới đặt tên các truyện ngắn của mình mà khi ghép lại đã trở thành những câu thơ luôn ngân nga trong lòng bạn đọc. Nhà văn Phạm Thái Quỳnh là một người như vậy, mặc dù anh từng khiêm tốn nói: “Văn chương đã trót đèo bòng thì phải năng cầm bút, đã viết là viết đừng vội nghĩ đến thành bại. Nếu có bại, mình cũng có được một cuộc chơi của riêng mình không gây họa cho ai”. Anh nói vậy thôi chứ với cá nhân tôi, cái tên Phạm Thái Quỳnh luôn sừng sững, là một cột mốc mà tôi luôn hướng đến trong đời văn.

Nhà văn Phạm Thái Quỳnh - một mình thong thả “Bến xuân” - 1

Tác giả Phạm Thái Quỳnh và Giáo sư Trần Đăng Suyền.

Từ khi đam mê và chuyên tâm viết tiểu thuyết lịch sử, tôi đã đọc rất nhiều lần các truyện lịch sử in trong tập Mùa xuân Lý Chiêu Hoàng của Phạm Thái Quỳnh và các truyện ngắn khác của anh. Ở đó là những cung bậc cảm xúc thẳm sâu và một thái độ rất quyết liệt, rõ ràng, giàu sức biểu cảm trong các thông điệp mà Phạm Thái Quỳnh đưa ra trong các câu chuyện về lịch sử. Phạm Thái Quỳnh từng khẳng định: “Tưởng tượng là đôi cánh của văn chương. Người viết truyện lịch sử không thể thiếu đôi cánh đó để ngược chiều thời gian đến với không gian đã ố màu dĩ vãng. Truyện lịch sử cần đến yếu tố tưởng tượng như người cần khí trời. Đã là truyện không thể không hư cấu, không hư cấu thì không có văn. Muốn hư cấu thành truyện, người cầm bút trước hết phải cậy nhờ yếu tố tưởng tượng. Không gian và thời gian của hiện thực tạo nên lịch sử đã lùi xa, chỉ có tưởng tượng mới đưa người cầm bút trở về với hiện thực đã lùi xa ấy”.

Đối với Phạm Thái Quỳnh, văn chương và lịch sử không chỉ là những giá trị sống căn cốt nhất mà còn là nền tảng để con người trưởng thành. Văn chương và lịch sử vừa là đam mê bất tận cũng là những dày vò truân chuyên vô cùng vô tận đối với anh chăng? Bởi tôi cũng là như thế. Tôi thấy anh luôn lo lắng về lịch sử từ hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm trước. Nỗi lo dâu biển cơm áo chúng dân chí khí quân vương tấc lòng ấu chúa thăm thẳm xanh trời. Phạm Thái Quỳnh càng hiểu rằng thao thức với lịch sử có thể không tạo ra vật chất ngay trước mắt nhưng về lâu về dài nếu không có những nhà văn chuyên tâm với lịch sử thế hệ tương lai của chúng ta sẽ ra sao? Nỗi niềm thao thức ấy càng chảy càng chẳng vơi đi mà cứ đầy lên như những ân tình đắp bồi sông biển. Nó là trí óc anh, lẽ sống của anh, cũng là nỗi buồn niềm vui thăm thẳm thiên thu bất tận.

Càng đến với văn chương và lịch sử, dường như Phạm Thái Quỳnh càng có sự thong dong dù những câu chuyện anh viết ra đều canh cánh nỗi đời, phận người. Nói vậy có lẽ nào vô lý? Mà khi đã văn chương sẽ đều có những lý lẽ riêng.

Tôi rất khâm phục khi đọc các truyện ngắn viết về lịch sử của Phạm Thái Quỳnh. Khâm phục để cho mình vững bước, trưởng thành hơn trong trường văn trận bút. Để thấy rằng văn chương và lịch sử không chỉ là vô cùng tận mà luôn rất gần gũi, thiết thân ngay trong miếng cơm ăn, hơi thở hàng ngày. Luôn có cảm giác Phạm Thái Quỳnh không viết về lịch sử anh không chịu được, không an tâm, không muốn làm điều khác. Viết về lịch sử với Phạm Thái Quỳnh là một công việc thiện lương, việc làm của sứ giả, trọng trách của sứ thần. Ở một khía cạnh nào đó, có thể gọi anh là một bậc hành giả trong chốn văn chương về đề tài lịch sử cũng đã làm sao? 

Viết về lịch sử, ở một câu chuyện đã quen thuộc như trên, ngòi bút Phạm Thái Quỳnh quả là đã hết sức căn cơ và huyền diệu.

Thức lâu mới biết đêm dài. Có bước vào trường văn trận bút mới thấy viết về lịch sử thực sung sướng lắm thay mà cũng khó khăn trùng vây lắm lắm. Văn chương và lịch sử chính là định mệnh, tai ách của người cầm bút chăng? Đến bao giờ giải được oan khiên cho Nguyễn Trãi? Đến bao giờ gỡ được án oan cho Nguyễn Thị Lộ? Một công chúa An Tư gả cho Thoát Hoan đến bây giờ miệng lưỡi thế nhân vẫn cay nghiệt nhường bao? Công chúa Ngọc Hân nuốt lệ buốt lòng đọc Ai tư vãn dưới lưỡi kiếm sắc lạnh của Gia Long sử sách văn chương phải thể hiện thế nào? Đã mang nghiệp văn chương và lịch sử người cầm bút như phải cùng một lúc đi dưới tầng tầng bóng đao ánh kiếm.

Sáng tác văn học về lịch sử thật luôn không dễ dàng gì. Lịch sử là những gì đã diễn ra. Cuộc sống, trong đó có văn chương đều là những thứ đang tiếp tục. Chúng ta viết là viết cho chính chúng ta, thế hệ đồng thời và thế hệ trẻ, nhất là những người ở thì tương lai. Nên không thể nào viết thỏa thích theo ý mình, mà phải viết trên tinh thần nhân văn và kiến quốc. Phạm Thái Quỳnh dường như lúc nào cũng đau đáu điều đó. Ông luôn canh cánh với những gì khuất lấp của lịch sử, nhất là những oan khuất, oan khiên thì dường như ngòi bút Phạm Thái Quỳnh luôn tìm mọi đường tơ kẽ tóc để làm sáng tỏ, ít ra là làm ấm lại những trái tim đau buốt thiên thu. Ở đó, Phạm Thái Quỳnh như tìm thấy được chính mình, một sự đồng cảm lớn, một tinh thần trượng nghĩa sẵn sàng đi tới tận cùng để bảo vệ chính nghĩa dù những oan khiên, oan khuất đã diễn ra từ rất lâu, cả nghìn năm, đã bị trùm lấp, bị lãng quên.

Tôi đã đọc Bến Xuân của Phạm Thái Quỳnh trong tâm thế ấy. Này đây Người chơi Mã Đầu cầm mang mang thế sự. Này đây Thỉnh kiến cụ Nguyễn Tiên Điền muôn ngả tri âm. Này đây Trần triều khai ấn khang trang hùng tráng giữa thanh thiên bạch nhật. Này đây Tha quốc anh hùng trùng trùng tâm sự thiên thu… Phạm Thái Quỳnh có tài ngay từ tên truyện: Nhất gia tam hậu; Hoa khói nghìn năm; Giai nhân giũ áo; Sấm động Xương Giang; Bán tiếu kinh thành; Lênh đênh buồm sóng; Hoa cỏ Châu Giang; Đào hoa tình sử;… đều là phải rất sành chữ, có tâm với chữ. Văn cũng như người nếu không kỹ tính, kỹ lưỡng công phu sẽ lập tức thiếu đi sự trầm hậu thẳm sâu của lịch sử. Truyện ngắn càng phải chặt chẽ, kỹ lưỡng nhưng rất cần bay bổng trong từng con chữ. Phạm Thái Quỳnh rất giỏi nắm bắt tâm lý nhân vật. Những lời thoại của nhân vật được Phạm Thái Quỳnh đầu tư chăm chút nên đọc văn của anh rất cuốn hút, ít khi chen vào đó lời ăn tiếng nói của nhà văn, của người hôm nay. Đó là một trong những đặc điểm làm nên tên tuổi Phạm Thái Quỳnh.

Phạm Thái Quỳnh trong sáng tác cũng như trong đời sống luôn có sự lo toan với chiều sâu, sự kỹ lưỡng nhưng cũng rất phóng khoáng và gợi mở. Oan khiên thì phải cởi ra. Chúng ta nhớ rất kỹ những vết thương sâu nhưng cuộc sống cần tiếp tục mới là sự quan trọng nhất. Những bài học từ lịch sử trước tiên và trước hết phải là dành cho người hôm nay đang sống cuộc đời với những thử thách ập đến liên tiếp. Những bài học đưa ra từ văn chương nghệ thuật, từ lịch sử phải có ích cho cuộc sống mà chúng ta đang sống. Ở khu vực này, Phạm Thái Quỳnh phải nói rằng đã rất biết cách thể hiện để các truyện ngắn của mình trực tiếp đặt ra những thông điệp cho cuộc sống, trực diện, thẳng thừng, không né tránh nhưng cũng tuyệt đối không cường điệu lên quá mức cần thiết. Đó chính là sự lão luyện của một cây bút. Đó chính là sự nhân văn, nhân ái của một cây bút.

Chúng ta đang rất cần những nhà văn viết về văn hóa lịch sử, nhất là lịch sử đất nước Việt Nam mấy nghìn năm bi hùng, lẫm liệt, thấm đẫm máu xương và trí tuệ của các bậc tiền nhân. Chúng ta, ở những ngày hôm nay, càng cần thiết phải có các nhà văn ở nhiều độ tuổi sáng tác về lịch sử một cách say mê, trách nhiệm, trí tuệ, kiên cường, dám xông vào vùng đất khó, dám dùng ngòi bút của mình để chuyên chở, làm sáng rõ những thành tựu và khát vọng về văn hóa lịch sử dân tộc. Đó chính là mong muốn chính đáng của nhân dân. Đó cũng chính là sự trả lời một phần câu hỏi về văn hóa lịch sử bằng tác phẩm của nhà văn Phạm Thái Quỳnh.

Nhà văn Phạm Thái Quỳnh không chỉ cường tráng về tâm hồn mà lý trí và niềm tin của anh vào đời sống cũng hết sức rộng dài, thẳm sâu và vô cùng nhân ái. Các truyện ngắn của anh về lịch sử đã cho thấy rõ ràng điều đó. Tài hoa có thể phát tiết ở một vài truyện ngắn nhưng phải trường sức lắm mới đến được Bến xuân một cách thong thả an nhiên như Phạm Thái Quỳnh. 

Tuyển tập này có truyện hiện đại, có truyện lịch sử. Phần hiện đại, nhiều truyện liên quan đến cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Phần lịch sử, hầu hết truyện trân trọng khí phách hào hùng của quân dân Đại Việt đã hóa giải được các cuộc xâm lược của liệt đại vương triều phương Bắc tràn sang.

Bến Xuân là món quà tặng bạn văn chương và bằng hữu gần xa. Nếu thức giả có ý kiến quý báu chia sẻ với tác giả thì tìm số điện thoại qua mục “Tác giả và tác phẩm” ở cuối tuyển tập”.

Nhà văn Phạm Thái Quỳnh - một mình thong thả “Bến xuân” - 2

Tập truyện ngắn “Bến Xuân” của Phạm Thái Quỳnh.

Tôi đã đọc Bến Xuân của Phạm Thái Quỳnh và các sáng tác khác của anh trong tâm thế ấy. Với tư duy của người sáng tác, tôi muốn trao đổi, đối thoại với anh không chỉ ở Bến Xuân mà còn ở các sáng tác khác của anh và cả của tôi. Văn chương, nhất là các sáng tác về đề tài lịch sử luôn là sự đối thoại không ngừng với chính mình, với đồng nghiệp và nhất là với bạn đọc mến yêu.

Nhà văn Phạm Thái Quỳnh, với những gì anh đã viết ra, chỉ tính riêng trong khung khổ Bến Xuân đã là những đóng góp đáng kể và có trách nhiệm cao của một nhà văn với sứ mệnh văn chương và lịch sử.

Phùng Văn Khai




Nguồn: Arttimes.vn

Người ta là hoa đất (Ba đoản khúc và vĩ thanh về “Có một miền quê yêu thương”, hồi ức của Trần Công Bổng, NXB Hội Nhà văn, 2023)


“Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc” (I. Ehrenburg).

LÀNG – ký ức lương thiện

Tạp chí Văn nghệ số 1 (3-1948) đăng truyện ngắn “Làng” của Kim Lân. Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Báo Văn nghệ (1948-2023) ra số đầu tiên, một ấn phẩm văn chương đẹp ra mắt độc giả – “Tuyển tập truyện ngắn 75 gương mặt văn nghệ”. Thiên truyện cổ điển Làng vẫn “đứng chân” trong tuyển tập này, nó có một vị trí vững chắc trong lòng độc giả, được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông (SGK Ngữ văn 12) và các bậc học trên. Vì, xét đến cùng văn hóa Việt Nam mang tính cộng đồng cao, xuất phát từ đơn vị cơ bản “làng”.

Làng là một phạm trù văn hóa, một lưu dấu phong tục tập quán, một bệ phóng của mỗi người dân Việt Nam vốn được minh định là phát tích từ văn minh lúa nước và thuần nông (chiếm đa số cư dân lao động và sản xuất). Cho đến thập niên thứ ba của thế kỷ hai mươi mốt, dân số Việt Nam đã cán đích 100 triệu, Thế giới đạt tới mốc 8 tỷ người, thì nhìn đại thể, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp “toàn tòng”.

Văn chương Việt Nam đương đại đang hướng ra đô thị, thị dân, di dân hơn là hướng về khu vực “tam nông” (nông thôn – nông nghiệp – nông dân). Nói cách khác là tinh thần “cố hương” có phần giảm sút rõ rệt, tuy nhiên chưa đến mức triệt tiêu. Hiếm hoi dần những tác phẩm xuất sắc như các tiểu thuyết “Bão biển” của Chu Văn, “Đất làng” của Nguyễn Thị Ngọc Tú, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Kẻ ám sát cánh đồng” của Nguyễn Quang Thiều hay truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư. Vì thế, văn hóa Việt Nam, xét về căn cơ, cho đến nay vẫn là văn hóa làng xã, có tính cộng đồng cao, với cả hai mặt tích cực và hạn chế của nó. Nên dễ hiểu vì sao người Việt giàu ký ức, hoài niệm dĩ vãng, hay hồi cố về làng quê hơn về phố phường.

Tôi nghĩ, “Có một miền quê yêu thương” của tác giả Trần Công Bổng là một tác phẩm toàn tâm toàn ý viết về LÀNG, theo triết lý lão thực. Xuất phát điểm để tác giả viết tác phẩm có tính chất hồi ức (hay gọi là hồi ký, tự truyện cũng đúng), theo tôi, là tựa vững trên KÝ ỨC LƯƠNG THIỆN. Con người (cá thể) hay một cộng đồng (dân tộc) đều có ký ức, đó là lý do tồn tại, hay là cách thế tồn tại trong một thế giới đầy bể dâu. Đọc “Có một miền quê yêu thương”, độc giả sẽ “chạm” và “thấm” liên tục vào hai chữ KÝ ỨC.

Nói cách khác, dòng ký ức tuôn chảy thao thiết, mạnh mẽ từ trang đầu đến trang cuối tác phẩm. Điểm sáng rạng rỡ nhất của tác phẩm, tôi nghĩ, chính là trường đoạn “Quê tôi được Bác Hồ về thăm” (trang 132-143). Miền Bắc trước 1975 có bao nhiêu làng nhận được vinh dự to lớn, trở thành ký ức văn hóa vĩnh hằng như làng Vĩnh Tuy?! Những tấm ảnh lịch sử Bác Hồ về thăm LÀNG đã trở thành bảo vật của quê hương, bởi “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn ở bên Người một chút” (Tố Hữu – Sáng tháng Năm).

Người ta là hoa đất (Ba đoản khúc và vĩ thanh về “Có một miền quê yêu thương”, hồi ức của Trần Công Bổng, NXB Hội Nhà văn, 2023) - 1

Hồi ức “Có một miền quê yêu thương” của Trần Công Bổng.

LÀNG – nhìn từ đại lượng văn hóa

Bất luận sự vật nào cũng có tiểu sử (lịch sử) với nội hàm quá khứ – hiện tại- tương lai. Thế giới tuân theo quy luật “vạn vật hấp dẫn” và “ vạn vật hữu linh”, vừa vô hình vừa hữu hình. Nghĩa là mọi sự vật đều có linh hồn từ con người đến cây cối, chim muông, đất đai, sông nước, gió mưa, ánh nắng mặt trời hay ánh sáng của vầng trăng đến muông thú; từ vật vô tri vô giác đến các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật.

Một LÀNG có tên Vĩnh Tuy (xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) gồm ba xóm Vĩnh Tiến, Vĩnh Phúc và Bắc Tháp được kể trong sách hẳn là không gian “địa linh nhân kiệt”. Nhưng cái gọi là “truyền thống” không tự dưng trên trời rơi xuống hay dưới đất mọc lên. Tất cả đều có nguyên nhân sâu xa về xã hội – tự nhiên – lịch sử – văn hóa từ thời đại này sang thời đại khác.

LÀNG mang vẻ đẹp nguyên thủy: “Làng tôi đó, miền ký ức tuổi thơ tôi, là nơi bình dị, yên ả như dòng sông quê hương ngày đêm âm thầm mang phù sa bồi đắp cho ruộng đồng, mùa màng tươi tốt, như dòng sông đã chắt mật phù sa, hòa mồ hôi của tổ tiên, ông bà, của cha mẹ, làm thành hạt lúa thảo thơm, củ khoai, củ sắn ngọt bùi…nuôi tôi lớn thành người. Hai tiếng quê hương tưởng chừng vô cùng giản đơn, nhưng để thấu hiểu hết lại phải cảm nhận bằng sự trải nghiệm và cả tâm hồn”.

Tiểu sử LÀNG không bó hẹp hay đơn giản khuôn theo lịch đại (thời gian) mà phải xét từ đồng đại (các nhân tố tác thành), hỗn dung trong một đơn vị kinh tế – xã hội – văn hóa – giáo dục – văn học nghệ thuật. Cách viết (như thế nào) mới quan trọng hơn đối tượng viết (về cái gì). Đọc tác phẩm của tác giả Trần Công Bổng, thì thấy “đại lượng văn hóa” của LÀNG là biến thiên và thặng dư, vì có tính chất tập hợp của nhiều tổng số. Ở đây là “thặng dư chữ”. Nếu kết cấu hợp lý (cô đúc) hơn thì “đại lượng” này sẽ tạo một “cú đấm nghệ thuật” hiệu quả cao hơn khi biết cách kiến tạo những “điểm nhấn” trong quá trình viết – là nói theo hướng lý tưởng hóa. Nhưng như cổ nhân răn: “Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ”.

LÀNG – người ta là hoa đất

Thế giới tự nhiên giàu có lên hay nghèo nàn đi, đẹp lên hay suy tàn đi, suy cho cùng là nhờ (vì, bởi) CON NGƯỜI – “Hai tiếng ấy vang lên biết bao tự hào!” (M. Gorki). Dân gian đúc kết thành chân lý, quy luật “Người ta là hoa  đất” (tục ngữ), như là định luật trong Toán học vậy. Người của LÀNG dĩ nhiên là đông đảo những người nông dân: “Lao động vất vả, vì cuộc mưu sinh vẫn phải dầm mình giữa nắng nóng mùa hè. Và gió Lào quê  tôi chưa bao giờ thôi khắc nghiệt, con người cũng chưa bao giờ thôi khổ”. Tôi thấy cách viết của tác giả đã không chạy theo lý tưởng hóa mà quên hiện thực. Quý vị nếu thường xem phim Việt hiện nay sẽ thấy một đời sống vương giả, phù hoa đa số hiện diện ở chốn thị thành, đôi khi là phồn hoa giả tạo.

Viết về người của LÀNG, tác giả thoạt tiên chạm bút vào cái gốc rễ, cái căn cơ, thiết thân với mình – những người cùng huyết thống cận kề, từ cao đến thấp theo thứ bậc mà mình gắn bó như một sự sắp đặt vừa ngẫu nhiên vừa tất nhiên của số phận: Từ “Người chắp cánh tuổi thơ tôi” (Ông, Bà nội), những trang viết, theo cảm nhận của tôi, hay nhất trong tập sách. Về sau này dù đi bốn phương trời, dù ăn mòn cơm thiên hạ, dù được học hành đến nơi đến chốn và có ít nhiều công thành danh toại thì cái gốc rễ như sự khởi thủy luôn luôn là từ ông bà, cha mẹ. Bởi họ đã sinh thành, dưỡng dục những “hậu sinh khả úy”, như chính tác giả là một “nhân chứng”.

Trong giáo dục đạo đức hiện nay, chúng ta đôi lúc viển vông và trừu tượng khi dạy trẻ thơ và cả người trưởng thành yêu những gì ngoài tầm nhìn, tầm nghĩ, nên đôi khi rơi vào huyễn tưởng và hoang đường. Tôi khi còn đi dạy đại học, đã làm trắc nghiệm về “THẦN TƯỢNG” với sinh viên của mình. Hầu như hiếm hoi có câu trả lời “THẦN TƯỢNG CỦA TÔI…” là những người ruột thịt máu mủ. Suy cho cùng người trẻ không có lỗi. Lỗi thuộc về người khác. Riêng tôi, càng xúc động khi đọc “thiên” “Người thợ được dân làng nhớ mãi” (về người cha của tác giả, làm nghề đóng cối xay lúa nên thường được gọi là “Phó cối”).

Cha là người lao động chân chính, vì lao động là vất vả nhưng vinh quang. Văn chương của ta hiện thời ít ca ngợi vẻ đẹp của lao động và người lao động, lại hay nghiêng về những “bi kịch trần gian” (để lấy nước mắt của độc giả và để PR, bán sách). Ca dao có câu: “Công cha như núi Thái sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Vậy nên một thiên khác đọc hấp dẫn Lòng Mẹ bao la như biển với hai câu thơ làm đề từ: “Cánh cò cõng nắng cõng mưa/ Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương”. Một nhà văn lớn thế giới đã viết: “Không có NGƯỜI MẸ, không có mặt trời, không có thi ca, không có cả người anh hùng”.

Tác giả bài báo nhỏ này mồ côi MẸ từ khi 3 tuổi (1954), không may mắn được lớn lên trong vòng tay mẹ hiền. Nên đọc thiên về MẸ quả thật không cầm được nước mắt, dù đã ngoại thất thập vẫn cảm thấy mình như một trẻ thơ trước mất mát lớn của cuộc đời.

Nhà thơ Bế Kiến Quốc có những câu thơ nằm lòng nhiều thế hệ sinh viên Văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội: “Sinh ở đâu mà ai cũng anh hùng?/ Tất cả trả lời: Sinh bên một dòng sông” (Những dòng sông). Theo lời tác giả kể (thiên Dòng sông tuổi thơ) thì con sông chảy qua làng Vĩnh Tuy dẫu không “hùng vĩ” nhưng đó là “dòng sông thân thương”. Nơi đó sinh ra một NGƯỜI ANH HÙNG LLVTND – NGUYỄN ĐĂNG CHẾ. Đồng thời ông cũng là một thi sỹ, chủ nhân của 5 tập thơ. Từ bài viết Quê hương trong “Lục bát chiều”, tác giả đã làm bật lên ý tưởng “Con chữ soi bóng đời”, nếu vận vào trường hợp ANH HÙNG LLVTND – THI SỸ NGUYỄN ĐĂNG CHẾ, tôi nghĩ, rất sát hợp khi chạm vào được cái “thần thái” của đối tượng viết.

Con người của LÀNG trong “Có một miền quê yêu thương” tiếp tục hiện lên như những “thước phim” tài liệu – lịch sử – nghệ thuật sinh động và hấp dẫn: Chuyện người hai lần được gặp Bác Hồ, Người thầy tâm huyết với sự nghiệp “Trồng người”, Người cắm cờ ở đình làng năm ấy, Chuyện về người cựu binh già nhất làng,“Ông hoàng” chân đất thời chiến tranh. Như vậy, 9 thiên (9/33 bài) viết về “người làng”, theo tôi, là những “điểm độc sáng” của cuốn sách. 

Vĩ Thanh – viết từ trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa

Viết văn cần vốn sống dồi dào theo phương châm “Sống rồi mới viết”. Tất nhiên. Nhưng sức sống của tác phẩm lại tùy thuộc vào “phông nền” văn hóa của tác giả. Với “Có một miền quê yêu thương”, tôi nghĩ, chủ nhân của nó đã  dày công kiến thiết được một cuốn sách có nhiều khả năng tiệm tiến văn hóa./.

Bùi Việt Thắng




Nguồn: Arttimes.vn

21 loại cây tốt nhất thế giới, chuyên gia khuyên bạn nên ăn thường xuyên


Loại trái cây nào là tốt nhất cho sức khỏe? Dưới đây là những gợi ý ​​của các bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng và chuyên gia sức khỏe hàng đầu thế giới.

1. Quả bơ

21 loại cây tốt nhất thế giới, chuyên gia khuyên bạn nên ăn thường xuyên - 1

Bơ rất giàu ka li có thể giúp giảm tác động của natri, rất tốt cho sức khỏe tim mạch. Bơ còn chứa nhiều chất béo lành mạnh, chất xơ và chất chống oxy hóa giúp cải thiện hệ miễn dịch.

2. Quả việt quất

Quả việt quất rất tốt cho sức khỏe. Loại quả này cung cấp chất xơ có lợi, cùng với các chất dinh dưỡng thiết yếu như mangan, vitamin C và vitamin K, cũng như anthocyanin – một loại dưỡng chất quý thực vật.

Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Food & Function cho thấy, ăn 1 cốc việt quất tươi mỗi ngày có thể cải thiện chức năng nội mô. Điều này giúp mạch máu hoạt động trơn tru và điều này rất cần thiết đối với sức khỏe tim mạch.

3. Táo

Táo chứa nhiều chất xơ và polyphenol, có thể giúp giảm cholesterol xấu và hỗ trợ sức khỏe tim mạch. Táo cũng chứa omega-3 (DHA và EPA) và choline, có lợi cho sức khỏe não bộ.

4. Quả mâm xôi

Bác sĩ chuyên khoa thần kinh Brenna Guan cho rằng, mâm xôi là loại quả tốt nhất cho sức khỏe làn da và nội tiết tố. Do chứa nhiều vitamin C, loại quả mọng này có thể hỗ trợ sản xuất collagen và bảo vệ da khỏi lão hóa bằng cách loại bỏ các gốc tự do, ngăn ngừa stress oxy hóa và tổn thương.

Axit ellagic là polyphenol chính trong quả mâm xôi, giúp làm giảm tác động tiêu cực của estrogen độc hại, có liên quan đến các bệnh ung thư liên quan đến estrogen.

5. Chuối

Chuối chứa nhiều loại đường tự nhiên như glucose, fructose và sucrose, rất có lợi cho người thường xuyên vận động. Bởi vậy, loại quả này rất phù hợp với trẻ em và vận động viên. Nó cũng giàu carbohydrate, giúp cung cấp nguồn năng lượng nhanh chóng.

Lượng kali dồi dào trong chuối cũng tốt cho sức khỏe tim mạch và kiềm hóa. Nó trở thành món ăn vặt hoàn hảo.

6. Chanh

Chanh là một lựa chọn tuyệt vời để tăng cường sức khỏe và hệ miễn dịch. Hãy bắt đầu ngày mới với cốc nước chanh dồi dào vitamin C mà không lo ảnh hưởng đến lượng đường trong máu.

Chanh giúp giảm viêm và mang lại nhiều lợi ích, bao gồm kích thích tiêu hóa. Pha nước chanh với nước ấm và gừng để giúp ngăn ngừa các bệnh theo mùa. Hãy tận dụng cả vỏ chanh để nhận tối đa lợi ích của loại quả này.

7. Dưa hấu

21 loại cây tốt nhất thế giới, chuyên gia khuyên bạn nên ăn thường xuyên - 2

Vừa ngon vừa bổ dưỡng, dưa hấu là được coi là thức uống điện giải tự nhiên. Dưa hấu chứa rất nhiều vitamin, carotenoid và lycopene, rất tốt cho mắt, tim mạch, sức khỏe nam giới, và phòng ngừa ung thư.

8. Chà là

Chà là giàu chất xơ, có thể giúp bạn no lâu hơn, khiến chúng trở thành một món ăn nhẹ tuyệt vời. Đồng thời, nó cũng rất giàu kali, canxi, magie, selen và nhiều khoáng chất khác.

9. Dâu tây

Dâu tây là nguồn cung cấp vitamin C tuyệt vời, cung cấp nhiều loại vitamin và khoáng chất khác, thậm chí còn có thể giúp điều hòa lượng đường trong máu. Dâu tây chứa nhiều nước và ít carbohydrate, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào mà lại rất ít calo.

10. Cherry

Cherry là một trong những loại trái cây tốt nhất cho sức khỏe. Chúng chứa nhiều chất chống oxy hóa, hợp chất chống viêm, là nguồn cung cấp chất xơ, kali, vitamin C dồi dào, đồng thời còn chứa nhiều vitamin và khoáng chất khác.

11. Dứa

21 loại cây tốt nhất thế giới, chuyên gia khuyên bạn nên ăn thường xuyên - 3

Dứa giàu vitamin C, mangan, vitamin B6, đồng, thiamin, folate và kali. Mặc dù chứa nhiều đường tự nhiên, nhưng dứa là một lựa chọn tuyệt vời cho những người hảo ngọt thay vì ăn các món tráng miệng chế biến sẵn.

12. Quả mâm xôi đen

Giống như các loại quả mọng có màu xanh và đỏ, quả mâm xôi đen cũng là loại trái cây siêu tốt cho sức khỏe mà bạn nên ăn thường xuyên. Chúng chứa hàm lượng chất chống oxy hóa anthocyanin cao, rất giàu vitamin C, vitamin K, mangan và chất xơ.

13. Lựu

Quả lựu chứa nhiều chất chống oxy hóa và có tác dụng chống viêm. Lựu cũng có thể cải thiện mức cholesterol, từ đó giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

14. Kiwi

Kiwi giàu vitamin C, vitamin K và vitamin E, tốt cho chức năng miễn dịch và tổng hợp collagen.

15. Nho

Nho giàu chất chống oxy hóa và chứa resveratrol, một chất có đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, có thể góp phần vào sức khỏe tim mạch.

16. Xoài

Không chỉ giàu vitamin C, vitamin A, E và chất xơ, xoài giúp thúc đẩy tiêu hóa và rất quan trọng đối với chức năng miễn dịch, thị lực và sức khỏe da. Các vitamin trong xoài giúp giảm nếp nhăn và vết thâm, đồng thời thúc đẩy sản xuất collagen để bảo vệ cơ thể khỏi các gốc tự do.

17. Ổi

Loại trái cây này là nguồn cung cấp vitamin C dồi dào, giúp tăng cường khả năng miễn dịch, hỗ trợ tổng hợp collagen và giàu chất xơ.

18. Đu đủ

Đu đủ chứa chất chống oxy hóa có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và cholesterol cao. Đu đủ cũng hỗ trợ tiêu hóa, điều hòa huyết áp và nhiều lợi ích khác.

19. Cam

21 loại cây tốt nhất thế giới, chuyên gia khuyên bạn nên ăn thường xuyên - 4

Những loại trái cây họ cam quýt chứa lượng vitamin C vượt trội, đồng thời giàu protein, canxi, kali và vitamin A.

20. Bưởi

Bưởi chứa hàm lượng nước cao, rất tốt cho việc cung cấp nước suốt cả ngày. Thêm vào đó, các thành phần dinh dưỡng như chất xơ, vitamin C và vitamin A, tất cả hòa quyện lại với nhau khiến loại trái cây này thành một trong những lựa chọn lành mạnh nhất cho sức khỏe.

21. Quả đào

Đào là một trong những loại trái cây chứa nhiều chất chống oxy hóa nhất. Điều này có nghĩa là chúng cũng giúp giảm viêm và stress oxy hóa trong cơ thể. Đào cũng giàu chất xơ và nước, vì vậy chúng rất lý tưởng để hỗ trợ tiêu hóa và cải thiện tình trạng mất nước.



Nguồn: Arttimes.vn

Về các thế hệ tác giả văn học Việt Nam ở nước ngoài kể từ sau năm 1975


Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Xét trong phạm vi hẹp, điều ấy có nghĩa rằng: Đã là người Việt Nam, người mang dòng máu Việt trong huyết mạch, thì dù cư trú và làm việc ở đâu trên thế giới này, họ cũng vẫn là một bộ phận hợp thành của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Chiến thắng 30/4/1975 đã đánh một dấu mốc vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam: chiến tranh chấm dứt, đất nước đã hoàn toàn hòa bình, độc lập, thống nhất để hướng tới xây dựng, đổi mới và phát triển. Từ một phía khác, vì những lý do chính trị – xã hội khác nhau, thậm chí là do bất đồng về quan điểm, chính kiến, số lượng người Việt Nam từ trong nước di cư sang các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới để sinh sống, làm việc trở nên nhiều hơn hẳn so với giai đoạn trước năm 1975. Trong số đó có những người sáng tác văn học. Tác phẩm của họ, tính từ năm 1975 đến năm 2025, tuy không thuộc dòng chủ lưu nhưng vẫn được và cần phải được xem là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học dân tộc Việt Nam. Một bộ phận văn học có những đặc điểm riêng về lịch sử vận động, các thế hệ tác giả, sự lựa chọn ngôn ngữ sáng tác và các chủ đề được quan tâm khai thác, thể hiện.

Xét trên tổng thể, đa số các nhà nghiên cứu về văn học của người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài giai đoạn từ sau khi đất nước thống nhất đến nay đều có quan điểm đồng thuận về sự xuất hiện của hai thế hệ tác giả. Thế hệ thứ nhất là những tác giả rời Việt Nam ra nước ngoài khi đã trưởng thành và có một quá khứ thấm đẫm Việt Nam làm tài sản tinh thần trong hành trình nhập cư xứ người, thậm chí đã hình thành cả một bề dày sáng tác văn học đáng kể. Thuộc thế hệ này, nếu là người miền Nam, có khá nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trước năm 1975, họ đã viết từ trong nước và họ tiếp tục viết khi ra nước ngoài (chủ yếu ở Mỹ, Canada, Úc, Pháp). Có thể kể đến: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Nguyên Sa, Du Tử Lê, Nguyễn Xuân Hoàng, Đặng Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Viên Linh, Nguyễn Mạnh Côn, Trần Dạ Từ…

Nếu là người miền Bắc thì đa phần là du học sinh, nghiên cứu sinh và lao động xuất khẩu (chủ yếu ở Liên bang Nga, Đức, Ba Lan, Séc, Hungary, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan). Họ sang nước ngoài học tập, làm việc có thời hạn, nhưng nếu có mong muốn và gặp điều kiện thuận lợi thì cũng có thể định cư lâu dài, và viết. Có thể kể đến: Nguyễn Huy Hoàng, Phạm Hải Anh, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Thuận, Trần Quốc Quân, Nguyễn Văn Thọ, Mai Lâm, Đỗ Ngọc Việt Dũng…

Về các thế hệ tác giả văn học Việt Nam ở nước ngoài kể từ sau năm 1975 - 1

Một số tác phẩm của các tác giả văn học Việt Nam ở nước ngoài kể từ sau năm 1975.

Về sáng tác, điểm chung của các tác giả thuộc thế hệ thứ nhất là đại đa số viết bằng tiếng Việt, viết bằng cảm thức của người Việt xa xứ nhớ cố hương, hoài cố quốc, đau đáu với những mảnh vụn ký ức về đất nước Việt Nam. Họ viết như để trải lòng, để chia sẻ với cộng đồng người Việt về những kinh nghiệm hòa nhập vào đời sống bản địa, những nỗ lực trong cuộc bươn chải mưu sinh không hề dễ dàng trên đất khách, những thất vọng, mặc cảm và sự vượt qua khi phải đối mặt trước những khác biệt về văn hóa và cả sự kỳ thị chủng tộc. Nhưng bên cạnh đó, nhiều tác giả cũng thể hiện một tình yêu Việt Nam tha thiết, niềm tự hào được là người Việt Nam lớn lên từ mạch nguồn của truyền thống Việt, và ý thức rất mạnh về trách nhiệm phải gìn giữ, bảo vệ bản sắc văn hóa Việt. Nói cách khác, đối tượng công chúng mà các tác giả thuộc thế hệ thứ nhất của văn học Việt Nam ở nước ngoài kể từ sau năm 1975 hướng đến, là công chúng độc giả Việt Nam. Và qua cách viết/ kể câu chuyện riêng của mình bằng tiếng Việt cho người Việt đọc, họ đã góp phần làm phong phú, đa dạng thêm cho nền văn học tiếng Việt, cho cả diện mạo của hiện thực đời sống Việt Nam và hiện thực cuộc sống của con người Việt Nam trong văn học kể từ ngày đất nước thống nhất.

Phải nhấn mạnh những điểm này, bởi lẽ, theo nguyên tắc “phản ánh” của chủ nghĩa hiện thực cổ điển, đọc các tác giả này chúng ta sẽ thấy rất nhiều về hiện thực cuộc sống và tâm hồn của những di dân người Việt sau 1975. Ví như những tùy bút mang tính cách hồi nhớ các miền đất, các phong tục tập quán, những hội hè lễ lạt nơi quê cũ của Võ Phiến; hay cảnh người Việt Nam trên hành trình nhập cư trái phép, một sống một chết sang các nước Đông Âu khi Liên Xô tan vỡ trong tiểu thuyết Quyên của Nguyễn Văn Thọ; hoặc cuộc sống bán sức lao động, bán buôn chợ trời, liên kết làm ăn và tráo trở lọc lừa, thậm chí ăn cướp lẫn nhau khi có thể, của người Việt ở Ba Lan đầu những năm 1990 trong tiểu thuyết Tuyết hoang của Trần Quốc Quân…

Thế hệ thứ hai là những tác giả gốc Việt sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, hoặc nếu từ Việt Nam sang nước ngoài thì cũng là sang từ khi còn nhỏ, ký ức về Việt Nam rất mờ nhạt. Họ đang là những tác giả của văn học thì hiện tại, và đại đa số viết bằng tiếng nước ngoài: Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Bằng những ngôn ngữ sáng tác thuộc loại “mạnh”, mang tính quốc tế hóa cao như vậy, đối tượng công chúng mà họ hướng đến rõ ràng không chỉ bó hẹp vào công chúng độc giả Việt Nam, mà là công chúng độc giả toàn cầu. Mối quan tâm của họ cũng không chỉ là những vấn đề xuất phát từ Việt Nam, mà là những vấn đề xuất phát từ tình hình thực tế của thế giới hiện đại đang bao quanh, thách thức tất cả các cộng đồng người, các quốc gia dân tộc nói chung. Những vấn đề toàn cầu, có thể nói như vậy: chiến tranh, dịch bệnh, mất cân bằng sinh thái, xung đột tôn giáo – chủng tộc, bất bình đẳng giới, di cư và nhập cư, chủ nghĩa bá quyền và đa dạng văn hóa…

Trên diện rộng, thế hệ thứ hai này là một lực lượng khá hùng hậu và ngày càng xuất hiện nhiều cây bút được khẳng định như những tên tuổi uy tín trên văn đàn. Chỉ xét riêng ở Hoa Kỳ, đã có thể kể đến những tác giả: Andrew Lam, Monique Truong, Aimee Phan, Dao Strom, Ocean Vuong, Viet Thanh Nguyen, Kien Nguyen, Lan Cao, Lai Thanh Ha, Bich Minh Nguyen… Đặc biệt, các tác giả như Viet Thanh Nguyen (giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 2016) hay Ocean Vuong (giải Eliot TS cho thơ năm 2017, giải MacArthur Fellowship năm 2019) – hai tác giả đồng thời là hai giáo sư văn học – với những thành tựu được ghi nhận xứng đáng, có thể xem là niềm tự hào lớn của cộng đồng sáng tác văn học người Việt Nam và người gốc Việt ở Mỹ kể từ sau năm 1975.

Ở giữa thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai – theo PGS, TS Trần Lê Hoa Tranh, nhà nghiên cứu về văn học Việt Nam ở nước ngoài thuộc trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, còn có một lớp tác giả tạm gọi là “thế hệ một rưỡi” (Bài viết: Những đóng góp của văn học di dân Việt Nam tại Hoa Kỳ vào bức tranh văn học toàn cầu). Tức là những người trẻ hơn thế hệ thứ nhất – bây giờ họ ở khoảng 40, 50 tuổi – họ chia sẻ tình yêu tiếng Việt nhưng không sẻ chia gánh nặng tình cảm với quá khứ Việt Nam như các tác giả thuộc thế hệ thứ nhất. Điều đó khiến họ gần hơn với các tác giả thuộc thế hệ thứ hai, ở thái độ tiếp nhận một cách thực tế và thực dụng cuộc sống mà họ đang phụ thuộc, ở việc hướng mạnh mẽ tới sự hội nhập vào môi trường mới và ngôn ngữ mới. Nhiều người trong “thế hệ một rưỡi” là những tác giả song ngữ rất giỏi, viết bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài đều tốt, như Nguyễn Quý Đức, Phan Nhiên Hạo, Đinh Linh, Trần Hoài Bắc, Dương Văn Mai Elliot… Và cũng bởi thế mà nhiều người kiêm luôn vai trò dịch giả: chuyển ngữ các tác phẩm văn học Việt Nam từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài (Ví dụ: Nguyễn Quý Đức, cùng với John Balaban, đã dịch truyện của Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Thân, Lê Minh Khuê, xuất bản thành tập Việt Nam: Sổ tay văn chương của một lữ khách, 1996; cùng với George Evans dịch thơ Hữu Thỉnh. Trần Hoài Bắc, cùng với Wayne Karlin và Dana Sachs dịch truyện ngắn Lê Minh Khuê: Những ngôi sao, trái đất, dòng sông, 1997. Ngo Vinh Hai, Nguyễn Bá Chung cùng với Kevin Bowen và David Hunt dịch Thời xa vắng của Lê Lựu, 1997 v.v…). Có thể nói, đây là một đóng góp lớn của “thế hệ một rưỡi” trong việc giới thiệu, quảng bá văn học Việt Nam – qua đó là hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra với thế giới.

     Nhưng sự đa dạng đến phức tạp trong vấn đề thế hệ tác giả của văn học Việt Nam ở nước ngoài sau năm 1975 chưa dừng lại ở đây. Ngay việc phân chia thành thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai cũng chỉ là tương đối: vẫn luôn tồn tại những trường hợp mang tính chất ngoại lệ, đi chệch ra ngoài khuôn khổ. Trong thế hệ thứ nhất, có thể lấy một thí dụ: nhà văn Linda Lê (1963 – 2022). Sinh ra ở Đà Lạt, lớn lên ở Sài Gòn, đến năm 1977 thì sang Pháp định cư. Xuất hiện trên văn đàn vào cuối những năm 1980, nhưng khác với phần đông các nhà văn di dân Việt Nam cùng thế hệ, Linda Lê không viết bằng tiếng Việt, bà viết bằng tiếng Pháp, và chỉ bằng tiếng Pháp. Không những vậy, sự thể hiện ký ức Việt Nam trong các tác phẩm của Linda Lê khá mờ nhạt. Không phải bà không có tình yêu với Việt Nam, mà bởi – theo PGS, TS Thái Phan Vàng Anh, nhà nghiên cứu thuộc Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Huế – Linda Lê mang ý thức rất mạnh về một nhà văn toàn cầu, một nhà văn viết về những thân phận lưu vong thời đại toàn cầu hóa, tức là những con người không thuộc về nơi này cũng chẳng thuộc về nơi kia, không thực sự ở bất cứ đâu, “không tìm được chỗ ẩn náu ở bất cứ nơi nào” (Bài viết: Văn chương và những vấn đề toàn cầu hóa, nhìn từ tiểu thuyết Linda Lê). Mỗi khi Linda Lê viết về người Việt Nam hoặc người gốc Việt ở nước ngoài, thì thường đó là những nhân vật đã được quốc tế hóa rất đậm, họ ứng xử như thể là những công dân bản địa trong môi trường văn hóa xã hội máu thịt của chính mình. Thậm chí còn có trường hợp cực đoan như người cha của nhân vật chính trong tiểu thuyết Vượt sóng: một người đàn ông mang dòng máu Việt Nam trong mình nhưng lại luôn miệng khinh bỉ, chửi rủa dân nhập cư hạ đẳng, “những kẻ đến chỉ để làm suy yếu nước Pháp”.

Còn trong thế hệ thứ hai, có thể lấy thí dụ từ trường hợp nhà văn Ocean Vuong. Sinh năm 1988, rời Việt Nam sang Mỹ khi mới hai tuổi, Ocean Vuong đương nhiên sáng tác văn học bằng tiếng Anh, ngôn ngữ mà anh được dạy ở trường Mỹ. Thế nhưng, khác với đa phần các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài thuộc thế hệ thứ hai, một trong những chủ đề chính mà Ocean Vuong quan tâm khai thác và thể hiện thành công, chính là sự tìm về cội rễ dân tộc, những điều kiện chính trị – xã hội – văn hóa trong quá khứ đã làm nên số phận cuộc đời mình như trong hiện tại. Tiểu thuyết Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian nổi tiếng của anh, dưới hình thức một bức thư, một lời tâm tình thật dài mà đứa con trai gửi đến mẹ, có những đoạn viết về chiến tranh Việt Nam – qua sự hồi tưởng về những câu chuyện mà bà ngoại kể cho đứa cháu nghe hàng ngày – rất xúc động.

Ở đó tái hiện hình ảnh những người phụ nữ như là nạn nhân đầy đau khổ, chịu bất hạnh đủ kiểu trong một cuộc chiến tranh kéo dài và tàn khốc. Họ đã phải trả giá rất nhiều để vượt lên, để sống sót mà được nghe “những lời thì thầm vang vọng” từ thế hệ con mình. Trong tiểu thuyết Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian, qua tâm tình của nhân vật người kể chuyện, dù thế nào chăng nữa, chiến tranh cũng được nhận thức như là một phần quan trọng để làm nên bản sắc Việt Nam. “Suốt thời gian qua con tự nhủ mẹ con mình sinh ra từ chiến tranh, nhưng con đã nhầm rồi mẹ ạ. Mình sinh ra từ cái đẹp”, Chó Con, nhân vật người kể chuyện, đã khẳng định với mẹ mình như vậy trong bức thư không bao giờ được người viết gửi đi.

Văn học Việt Nam ở nước ngoài kể từ khi đất nước thống nhất đến nay đã có bề dày lịch sử 50 năm. Không dài, nhưng cũng không quá ngắn. Đủ để hình thành vài thế hệ tác giả với sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ, chủ đề và phong cách sáng tác. Cùng với dòng chủ lưu là văn học trong nước, văn học của người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài vừa đi rất sâu vào những vấn đề của quá khứ và truyền thống Việt, lại vừa mở rất rộng đến những vấn đề của mọi quốc gia dân tộc trong thời đại hội nhập, toàn cầu hóa. Bộ phận văn học ấy xứng đáng được ghi nhận và nghiên cứu cụ thể hơn nữa, về mọi phương diện cấu thành của nó.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Cơ thể bỗng xuất hiện những dấu hiệu này đừng chủ quan, coi chừng nguy cơ mắc ung thư


Phát hiện sớm ung thư giúp cải thiện đáng kể kết quả điều trị và giảm tỷ lệ tử vong.

Cơ thể bỗng xuất hiện những dấu hiệu này đừng chủ quan, coi chừng nguy cơ mắc ung thư - 1

Ung thư giai đoạn đầu thường dễ điều trị hơn, với tỷ lệ sống cao hơn, phương pháp điều trị ít xâm lấn hơn và ít tác dụng phụ hơn so với giai đoạn tiến triển.

Phát hiện sớm là gì và tại sao nó lại quan trọng trong điều trị ung thư?

Phát hiện sớm là việc phát hiện ung thư trước khi nó di căn hoặc ngay sau khi các triệu chứng xuất hiện. Điều này có thể được phát hiện nhờ:

– Sàng lọc cho những người không có triệu chứng.

– Nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo và đi khám sức khỏe kịp thời.

– Nhận thức được các yếu tố rủi ro từ tiền sử gia đình, lối sống hoặc một số tình trạng bệnh lý nhất định.

Dưới đây là những dấu hiệu cảnh báo cần được chú ý sớm:

1. Ho dai dẳng hoặc khó thở

Ho dai dẳng không chỉ là một triệu chứng khó chịu thông thường, đây là một trong những dấu hiệu ban đầu phổ biến nhất của bệnh ung thư phổi.

Nếu ho kéo dài 3 tuần trở lên hoặc trở nặng hơn theo thời gian, bạn không nên bỏ qua. Hãy chú ý đến bất kỳ triệu chứng nào đi kèm như đau ngực, khàn giọng, ho ra máu hoặc khó thở. Ngay cả tình trạng khó thở nhẹ khi hoạt động hằng ngày cũng có thể là dấu hiệu của một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Cơ thể bỗng xuất hiện những dấu hiệu này đừng chủ quan, coi chừng nguy cơ mắc ung thư - 2

2. Thay đổi thói quen đại tiện

Những thay đổi đáng chú ý trong thói quen đại tiện có thể là dấu hiệu của ung thư đại trực tràng hoặc ung thư ruột. Hãy chú ý:

– Thay đổi tần suất, đi nhiều hơn hoặc ít hơn bình thường.

– Trạng thái phân cứng hoặc lỏng bất thường.

– Máu trong phân: máu đỏ tươi hoặc sẫm màu.

– Không đi tiêu hết: cảm giác ruột chưa được làm rỗng hoàn toàn sau khi đi tiêu.

Nếu những thay đổi này kéo dài hơn 3 tuần, cần phải đi khám sớm. Đôi khi những triệu chứng này là do các bệnh lý như hội chứng ruột kích thích hoặc trĩ gây ra, nhưng những thay đổi kéo dài có thể là dấu hiệu của ung thư giai đoạn đầu, có khả năng điều trị cao hơn nhiều nếu được phát hiện kịp thời.

3. Chảy máu không rõ nguyên nhân

Chảy máu không rõ nguyên nhân là một dấu hiệu cảnh báo cần được chú ý. Điều này có thể bao gồm:

– Máu trong nước tiểu có thể liên quan đến ung thư bàng quang hoặc thận.

– Máu trong phân có thể là dấu hiệu của ung thư ruột.

– Chảy máu âm đạo, chảy máu bất thường giữa các kỳ kinh nguyệt, sau khi quan hệ tình dục hoặc sau thời kỳ mãn kinh có thể là dấu hiệu của ung thư cổ tử cung hoặc tử cung.

– Ho ra máu ngay cả một lượng nhỏ cũng có thể liên quan đến các vấn đề về phổi, bao gồm cả ung thư.

Điều quan trọng là phải báo ngay cho bác sĩ về bất kỳ trường hợp chảy máu không rõ nguyên nhân nào. Việc đánh giá sớm có thể ngăn ngừa các biến chứng và cải thiện kết quả điều trị.

4. Giảm cân hoặc mệt mỏi không rõ nguyên nhân

Sụt cân đột ngột hoặc mệt mỏi quá mức có thể là một dấu hiệu ung thư khó nhận biết nhưng rất quan trọng. Điều này có thể xảy ra do sự thay đổi quá trình trao đổi chất của cơ thể để đáp ứng với ung thư, hoặc chán ăn do bệnh gây ra. Các dấu hiệu đáng chú ý bao gồm:

– Giảm vài kilogam trong thời gian ngắn mà không cần thay đổi chế độ ăn.

– Luôn cảm thấy mệt mỏi ngay cả khi đã nghỉ ngơi đầy đủ.

– Giảm sức bền trong các hoạt động thường ngày.

Mặc dù tình trạng mệt mỏi và sụt cân có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng những thay đổi kéo dài và không rõ nguyên nhân luôn phải được bác sĩ kiểm tra.

Cơ thể bỗng xuất hiện những dấu hiệu này đừng chủ quan, coi chừng nguy cơ mắc ung thư - 3

5. Xuất hiện khối u hoặc sưng tấy

Các khối u hoặc vết sưng mới xuất hiện thường là dấu hiệu đầu tiên dễ nhận thấy của ung thư ở các vùng như vú, tinh hoàn, cổ hoặc nách. Những điểm chính cần lưu ý:

– Bất kỳ khối u nào không co lại hoặc biến mất sau vài tuần.

– Các khối u cứng, không đều hoặc cố định tại chỗ.

– Những thay đổi liên quan như da nổi cục, đỏ hoặc tiết dịch ở núm vú.

Ngay cả với khối u lành tính, việc đánh giá sớm vẫn rất quan trọng. Phát hiện sớm khối u ác tính giúp tăng đáng kể cơ hội điều trị thành công.

6. Đau kéo dài

Đau không rõ nguyên nhân, dai dẳng hoặc nặng hơn theo thời gian đôi khi có thể là dấu hiệu của ung thư. Mặc dù hầu hết các cơn đau là do các bệnh lý ít nghiêm trọng hơn, nhưng không bao giờ được bỏ qua những cơn đau dai dẳng, không rõ nguyên nhân hoặc bất thường.

Việc đi khám sức khỏe kịp thời có thể giúp loại trừ ung thư hoặc phát hiện sớm giúp điều trị hiệu quả hơn, từ đó có khả năng cải thiện tiên lượng và chất lượng cuộc sống.

Các phương pháp sàng lọc ung thư

Các phương pháp sàng lọc giúp phát hiện sớm ung thư, giảm tử vong và mang lại nhiều lợi ích hơn là tác hại. Hiệu quả sàng lọc phụ thuộc vào độ tuổi, các yếu tố nguy cơ và tần suất xét nghiệm:

–  Ung thư vú: Chụp nhũ ảnh làm giảm tỷ lệ tử vong ở phụ nữ trong độ tuổi 40–74, đặc biệt là 50–69.

– Ung thư cổ tử cung: Xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV phát hiện các tế bào bất thường trước khi chúng trở thành ung thư.

– Ung thư trực tràng: Nội soi đại tràng, soi đại tràng sigma và xét nghiệm phân có thể phát hiện ung thư hoặc polyp ở giai đoạn đầu.

– Ung thư phổi: Chụp CT cho những người hút thuốc lá có nguy cơ cao có thể làm giảm số ca tử vong do ung thư phổi.

– Các xét nghiệm khác dành cho những người có nguy cơ cao: Xét nghiệm PSA, siêu âm âm đạo và xét nghiệm AFP gan có thể được khuyến nghị tùy thuộc vào tiền sử gia đình hoặc di truyền.

Cơ thể bỗng xuất hiện những dấu hiệu này đừng chủ quan, coi chừng nguy cơ mắc ung thư - 4

Ai có nguy cơ mắc ung thư cao?

Một số người có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư cao hơn, điều này có nghĩa là họ có thể cần được theo dõi định kỳ:

– Tiền sử gia đình hoặc nguy cơ di truyền: Một số bệnh ung thư, chẳng hạn như ung thư vú, ung thư buồng trứng hoặc ung thư ruột, có thể di truyền trong gia đình.

– Các yếu tố về lối sống: Hút thuốc, béo phì, uống nhiều rượu, chế độ ăn uống kém và thiếu vận động làm tăng nguy cơ mắc ung thư.

– Tuổi tác: Nguy cơ tăng lên khi tuổi tác tăng cao.

– Tiếp xúc với môi trường độc hại: Một số hóa chất hoặc bức xạ có thể gây ra nguy cơ ung thư.

– Các tình trạng sức khỏe khác: Viêm kéo dài hoặc một số bệnh nhiễm trùng do vi-rút như HPV hoặc viêm gan.



Nguồn: Arttimes.vn

Lòng sông gương sáng bụi không mờ (Suy nghĩ về sứ mệnh văn hóa của nhà văn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc)


Sứ mệnh văn hóa của nhà văn, đặc biệt là những nhà văn đảng viên, trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không có gì khác ngoài trau dồi bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật, nói hình tượng thì cần phải đạt tới “hồng thắm, chuyên sâu”, phấn đấu viết cho “chân thật, hùng hồn” sự nghiệp vĩ đại, vẻ đẹp của công cuộc cứu quốc và kiến quốc của dân tộc Việt Nam xây đắp nên trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhà văn dù trong hoàn cảnh nào cũng cần thực hành triệt để phương châm “sống rồi mới viết”.

Văn hóa dân tộc và văn hóa đảng

Chúng ta thường tự hào, tự tin nói và viết về văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử, về văn hóa Hồ Chí Minh được hiểu là biểu tượng của “văn hóa tương lai” như nhà thơ, nhà báo Xô – viết tài năng O. Mandenstam đã viết từ năm 1923, trong bài Đến thăm một chiến sĩ Cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc (đăng trên báo Ngọn lửa nhỏ, số 39, ra ngày 23/12/1923): “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”.

Tính đến năm 2025, Việt Nam là quốc gia thuộc số ít của nhân loại vinh dự và tự hào có 8 Danh nhân Văn hóa thế giới đã được UNESCO vinh danh đều là nhà văn: Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Chu Văn An, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Lê Quý Đôn. Danh sách này sẽ được nối thêm trong tương lai như một niềm tin tưởng có cơ sở thực tiễn vững chắc.

Nhưng vì sao chúng ta rất ít nói, viết về văn hóa Đảng? Với lực lượng hùng hậu hơn 5,6 triệu đảng viên hiện nay, trong một đất nước hơn 100 triệu dân – đó là một “con số biết nói” – là nguồn suối dồi dào chất liệu để nhà văn khám phá và phát hiện vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam thời đại mới. Nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ Kết nạp Đảng trên quê mẹ (1949) đã viết những câu thơ mở đầu chân thành và da diết: “Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn năm trời/ Kết nạp Đảng, bỗng quay về quê mẹ/ Có phải quê hương gọi ta về đấy nhỉ?/ Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm/ Trong buổi đầu ta theo Đảng đi lên”. Bài thơ kết thúc bằng những câu thơ giàu chất chiêm nghiệm: “Tôi đứng dưới cờ giơ tay tuyên thệ/ Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ/ Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu/ Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn nhau”.

Lòng sông gương sáng bụi không mờ (Suy nghĩ về sứ mệnh văn hóa của nhà văn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc) - 1

Ảnh minh họa

Trong Cách mạng tháng Tám (1945), lực lượng của Đảng lúc đó chỉ có khoảng 5.000 đảng viên ưu tú, đã lãnh đạo hơn 25 triệu người dân đứng lên đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vậy nên những câu chuyện sinh động về văn hóa Đảng hiển hiện qua những con người cụ thể, thiết nghĩ, tạo nên sự bình đẳng của văn hóa Đảng trong sự phong phú của văn hóa dân tộc nói chung.

Những câu chuyện về văn hóa Đảng được kể lại ở đây chưa phải là tất cả, song hàm chứa nhiều ý nghĩa điển hình để tất cả chúng ta củng cố niềm tin vào chân lý: Dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù ngoại bang hùng mạnh và tàn bạo chính là nhờ vào sức mạnh của văn hiến, văn hóa Việt Nam, đúng như Nguyễn Trãi minh định với tất cả niềm tự hào to lớn: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Bình Ngô đại cáo).

Đồng chí Trường Chinh (làm thơ ký bút danh Sóng Hồng, tác giả hai tập thơ – Thơ Sóng Hồng I, II, xuất bản 1966, 1974) là một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng từ trước ngày giành chính quyền, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Câu chuyện văn hóa giữa đồng chí Trường Chinh và đồng chí Tố Hữu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) cho chúng ta một cảm nhận sâu sắc về văn hóa Đảng.

Khi đang là Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, cuối năm 1947, đồng chí Tố Hữu được tổ chức điều động lên Việt Bắc làm công tác văn hóa. Cuộc gặp đầu tiên với lãnh đạo Đảng là với đồng chí Trường Chinh (trên cương vị Tổng Bí thư). Cảm giác đầu tiên của đồng chí Tố Hữu khi gặp đồng chí Trường Chinh là đang ngồi trước một con người điềm đạm, tự tại, uyên bác, anh minh. Buổi gặp gỡ, làm việc đầu tiên chỉ trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ. Đồng chí Trường Chinh chia sẻ: “Mặt trận văn hóa rất cần thiết, cần có cán bộ biết làm việc, đoàn kết được anh em, giúp họ nắm, hiểu được đường lối của Đảng. Bác Hồ nói: Phải “Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến”. Bác nói vắn tắt thế, nhưng ý nghĩa rất sâu xa đấy!”.

Một lần khác gặp gỡ, sau khi trao đổi công việc chung, đồng chí Trường Chinh bất ngờ hỏi đồng chí Tố Hữu:

“- Này! Theo ý anh thì Gorki là lãng mạn hay hiện thực?

Tôi thực sự bất ngờ, làm sao trong tình thế nguy kịch này mà anh lại điềm nhiên nghĩ về văn chương như thế được. Nhưng cũng rất thích và mừng thầm: Các đồng chí lãnh đạo Đảng mình trong tình thế hiểm nghèo mà vẫn bình tĩnh nghĩ đến cả vấn đề văn hóa. Thật là thú vị. Vì vậy quên cả mệt nhọc, tôi cũng thưa chuyện ngay:

Thưa anh, tôi đọc được ít, nhưng nói đến Gorki thì ai cũng biết, hiển nhiên ông là một nhà văn hiện thực lớn của Liên Xô, thậm chí đó là người tiêu biểu cho nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Anh Trường Chinh ngắt lời tôi:

Dĩ nhiên là thế. Nhưng tôi muốn hỏi ý anh: Cuốn Người mẹ có tính lãng mạn không?” (Tố Hữu, Nhớ lại một thời, hồi ký, NXB Hội Nhà văn, 2000, tr.186, 187, 196, 197).

Hình tượng người chiến sĩ cộng sản trong văn chương

Thiếu tinh thần lạc quan cách mạng thì không thể tự tại và an nhiên bàn luận về những vấn đề văn hóa, văn chương trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng như thế. Vì thế trong thơ Sóng Hồng, người đọc cảm nhận sâu sắc một phong thái ung dung, tự tại của một hiền nhân, hiền triết, hơn thế của một người chiến sĩ Cộng sản giàu tinh thần thực tiễn.

Bạn đọc hãy cùng chúng tôi thưởng thức bài thơ Đi họp (Việt Bắc, mùa đông, 1953): “Vút ngựa vượt qua đèo/ Rì rầm tiếng suối reo/ Xuống đèo vừa mới tối/ Vằng vặc mảnh trăng treo/ Ngựa mỏi đi bước một/Người suy nghĩ vấn vương/Nhiều khi ý kiến lớn/ Vụt đến lúc đi đường/ Đêm lạnh cành sương đượm/Long lanh bóng nguyệt vờn/ Nhà ai bếp vẫn đỏ/ Thấp thoáng ở sườn non?/ Đường xa cơn gió rít/ Xao xác chim cầm canh/ Hội nghị mai sớm họp/ Băm băm ngựa bước nhanh” (nước băm nước bổ, tức nước kiệu và nước đại, chú thích của nhà thơ).

Đọc bài thơ, chúng ta sẽ thấy thi sĩ trước hết là người có tâm hồn rộng mở, có tình yêu sâu sắc với đời, với người, với tạo vật thiên nhiên. Bây giờ nhiều người đổ cho cơ chế thị trường, tiền bạc lên ngôi giết chết cảm xúc, nên không có thơ hay (!?). Nhà bác học Lê Quý Đôn viết: “Thơ phát khởi từ trong lòng người”. Nhà thơ Tố Hữu viết: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”. Những người làm thơ hôm nay nếu thiếu hụt những phẩm tính đó thì thơ không lay động được lòng người, không “bay” lên được là điều dễ hiểu.

Một trong những học trò xuất sắc của Lãnh tụ Hồ Chí Minh là đồng chí Võ Nguyên Giáp “văn võ song toàn”. Đặc biệt tên tuổi của ông gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ oanh liệt, “Lừng lẫy  năm châu, chấn động địa cầu”, chấm dứt vĩnh viễn ách đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam hơn 80 năm.

Trong bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên (1954) nhà thơ Tố Hữu viết: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên/ Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp/ Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!/ Vinh quang Tổ quốc chúng ta/ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa/ Vinh quang Hồ Chí Minh, cha của chúng ta ngàn năm sống mãi”.

Năm 2019, đoàn nhà văn Việt Nam (gồm nhà thơ Bằng Việt và nhà văn Bùi Việt Thắng) tham dự Hội nghị Quốc tế Nhà văn Á – Phi – Mỹ Latinh tổ chức tại Islamabad (Thủ đô nước Cộng hòa Hồi giáo Pakistan) với chủ đề “Điểm gặp thẩm mỹ giữa truyền thống và hiện đại”, khi giao lưu với bạn bè quốc tế đã nhận được câu chào làm quen bằng tiếng Việt thân thương: “Việt Nam – Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ – Võ Nguyên Giáp”. Không có gì đáng tự hào hơn khi ra thế giới danh từ riêng Võ Nguyên Giáp vang lên cùng với danh từ Đất nước và Lãnh tụ. Đại tướng khoác quân phục nhưng tâm hồn nghệ sĩ, yêu say chơi đàn piano, đam mê đọc sách. Ông quan tâm đến văn hóa đất nước, đặc biệt có tình cảm sâu sắc với văn nghệ sĩ.

Năm 1987, đêm nhạc Văn Cao được tổ chức ở Hà Nội, Đại tướng và phu nhân đến dự. Khi biết tác giả Quốc ca không được khỏe (bị bệnh đau cột sống, liệt nửa người), ông đã gọi điện cho Giáo sư Lê Thế Trung đề nghị đón nhạc sĩ tài danh về Bệnh viện Quân Y 103, tạo mọi điều kiện tốt nhất chữa trị. Nhờ nghĩa cử của Đại tướng, tác giả Quốc ca thọ thêm được 8 năm. Nhà thơ Anh Ngọc đã viết bài thơ Vị tướng già (1994) được đồng bào, đồng chí của mình yêu thích với những câu thơ đi suốt thời gian “Ru giấc mơ của vị tướng già/ Có tiếng khóc xen tiếng cười nức nở/Một chân ông đã đi vào lịch sử/ Một chân còn vương vấn với mùa thu”.

Suy nghĩ về văn hóa Đảng, không có gì xa xôi trừu tượng. Văn hóa Đảng tượng hình trong văn hóa người cộng sản chân chính, trong văn hóa thời đại Hồ Chí Minh. Trong văn học Việt Nam đương đại (từ sau 1975) hình thành rõ nét một dòng sáng tác viết về các chiến sĩ cộng sản tiêu biểu – Lãnh tụ Hồ Chí Minh và những đảng viên trung kiên của Đảng với tinh thần “dĩ công vi thượng”, suốt đời hy sinh vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, mỗi đảng viên là một tấm gương sáng về đạo đức, trí tuệ, một nhân cách văn hóa tiêu biểu, tựa như “Lòng sông gương sáng bụi không mờ”.

Có thể điểm danh (tuy chưa đầy đủ) những tác phẩm tiêu biểu về chủ đề văn hóa Đảng: Trong thể loại hồi ký do Hữu Mai ghi Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử; trong thể loại tiểu thuyết của Sơn Tùng (Búp sen xanh, Bông sen vàng), Hồ Phương (Cha và con), Trần Việt Trung (Người công giáo cộng sản), Nguyễn Thế Kỷ (Hừng Đông, Nước non vạn dặm), Hoàng Quảng Uyên (Mặt trời Pác Bó, Trông vời cố quốc, Giải phóng), Nguyễn Thế Quang (Đường về Thăng Long), Thiên Sơn (Gió bụi đầy trời, Cuộc phân tranh); trong thể loại thơ có Vị tướng già của Anh Ngọc, Một người thơ – tên gọi (trường ca, hơn 12.000 câu lục bát) của Nguyễn Thế Kỷ (1935- 2021), Trăng Tân Trào (trường ca) của Hữu Thỉnh; trong thể loại ký có Bác Hồ ở Phan Thiết, Từ làng Sen đến bến Nhà Rồng, Theo dấu chân Người của Trình Quang Phú; trong thể loại kịch có Lá đơn thứ 72 (kịch bản văn học) của Hoàng Thanh Du,…

Trong trường hợp này, thiết nghĩ, không phải là câu chuyện đề tài (viết về cái gì?) mà là vấn đề cách viết (viết như thế nào?). Chúng tôi thấy cần thiết phải nhắc lại bài thơ Với Đảng mùa xuân (viết 1/1977) của nhà thơ Tố Hữu để rút ra bài học nghệ thuật “Văn học viết về văn hóa Đảng”. Có thể nói, Tố Hữu là nhà thơ hàng đầu tự nguyện, trung thành và gặt hái thành công trong thơ viết về tình yêu Dân tộc – Đất nước – Nhân dân – Đảng – Lãnh tụ – Đồng bào – Đồng chí từ trước 1945 cho đến những năm 90 của thế kỷ XX  qua các tác phẩm  thơ tiêu biểu Hồ Chí Minh, Sáng tháng năm, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Bác ơi, Theo chân Bác, Việt Nam máu và hoa, Nước non ngàn dặm, Với Đảng mùa xuân; hồi ký Nhớ lại một thời. Nhà thơ đã viết từ tấm lòng chân thành, tôn kính đối tượng với một nghệ thuật ngôn từ đẹp đẽ, giản dị và gần gũi với đại chúng nhưng vẫn giàu phẩm chất tinh hoa, theo phong cách trữ tình – chính trị, đạt tới độ cao sâu “đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ, đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim”.

Suy nghĩ về sứ mệnh văn hóa của nhà văn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Sứ mệnh văn hóa của nhà văn, đặc biệt là những nhà văn đảng viên, trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không có gì khác ngoài trau dồi bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật, nói hình tượng thì cần phải đạt tới “hồng thắm, chuyên sâu”, phấn đấu viết cho  “chân thật, hùng hồn” sự nghiệp vĩ đại, vẻ đẹp của công cuộc cứu quốc và kiến quốc của dân tộc Việt Nam xây đắp nên trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhà văn dù trong hoàn cảnh nào cũng cần thực hành triệt để phương châm “sống rồi mới viết”.

Tinh thần đối diện với đời sống, đối diện với sự thật đòi hỏi lòng dũng cảm, bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật của nhà văn ngày càng cao để tiếp cận chân lí. Trên con đường khám phá quy luật đời sống bằng nghệ thuật ngôn từ, đạt tới bản sắc dân tộc đậm đà, người nghệ sĩ  trước sau thực hành nguyên tắc “đến hiện đại từ truyền thống”. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã có ý kiến thuyết phục “Đi hết dân tộc chúng ta sẽ gặp nhân loại” – nghĩa là góp vào văn minh, văn hóa nhân loại bằng chính vốn văn hiến, văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến theo quy luật chân – thiện – mĩ. 

Lịch sử văn học Việt Nam đã cung cấp những bằng chứng sinh động về hình tượng người chiến sĩ Cộng sản trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, được đặc trưng qua đề tài truyền thống (chiến tranh cách mạng và lịch sử hiện đại). Nhưng có thể nói một cách khách quan và công bằng khi nhà văn chúng ta còn nợ Đất nước và Nhân dân những tác phẩm văn chương xứng tầm với truyền thống văn hóa dân tộc và tầm vóc của công cuộc Đổi mới được quan niệm như là nền móng, tiền đề, đà tiến của kỷ nguyên vươn mình của đất nước hiện nay.

Nếu nói nhà văn đang tụt hậu với đời sống xã hội cũng không quá khi hiện thực khách quan đang mở ra cả chiều rộng và chiều sâu trong tính gia tốc, phi truyền thống chưa từng thấy của nó. Vì thế, nếu nói cần phải có một cuộc “nhận đường” tiếp theo trong tình hình hiện nay cũng không có gì đáng ngạc nhiên và tranh luận sôi nổi trong văn giới như hồi đầu kháng chiến chống Pháp nhân việc nhà văn Nguyễn Đình Thi viết bút ký Nhận đường (31/12/1947).

Tận cùng của văn hóa là con người. Nhận diện và đón đợi con người thời đại đang phát triển theo xu hướng nào chính là thước đo tài năng và viễn kiến của nhà văn chân chính (tâm và tầm). Kỷ nguyên mới của dân tộc đòi hỏi nhà văn vượt lên chính mình, thoát khỏi những gì vốn được coi là nhất thành bất biến, vĩnh viễn có thể tạo nên “vòng kim cô” với người sáng tác theo kiểu “ăn mày dĩ vãng”. Những định đề về nhà văn là “kỹ sư tâm hồn”, là “thư ký thời đại”, là “người chắt chiu cái đẹp”, là “bạn đồng hành”, là “người tiếp lửa”… không bao giờ cũ.

Bùi Tùng Ảnh




Nguồn: Arttimes.vn

Muốn đỡ mệt mỏi, nôn nao khi uống rượu bia cần làm những điều này


Trước, trong và sau khi uống rượu nên làm những gì để giảm tránh tình trạng nôn nao, say xỉn.

Muốn đỡ mệt mỏi, nôn nao khi uống rượu bia cần làm những điều này - 1

Nguyên nhân gây ra nôn nao, say xỉn là do tác động của các chất độc hại có trong rượu bia và tác dụng lợi tiểu dẫn đến tình trạng mất nước. Mặc dù không thể giảm tránh nôn nao, say xỉn hoàn toàn nhưng dưới đây là những mẹo phòng ngừa tốt nhất theo lời khuyên của các bác sĩ và chuyên gia.

1. Cách ngăn ngừa nôn nao trước khi uống rượu

Ăn thức ăn giàu chất béo

Muốn đỡ mệt mỏi, nôn nao khi uống rượu bia cần làm những điều này - 2

Các chuyên gia cho biết, tất cả các loại thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm giàu chất béo, đều làm chậm quá trình hấp thụ rượu của cơ thể.

Và việc trì hoãn hấp thụ rượu là bước cần thiết để giảm tránh cảm giác nôn nao, cồn cào.

Một món dễ ăn trước khi nhậu, giàu chất béo lành mạnh là quả bơ. Vì vậy, nhâm nhi một chút salad bơ sẽ là lựa chọn đúng đắn.

Ăn thực phẩm giàu chất xơ

Các loại thực phẩm giàu chất xơ như rau cải, đậu lăng và bỏng ngô sẽ tăng khả năng phân hủy và hấp thụ rượu, giảm tốc độ rượu đi vào máu.

Bổ sung vitamin C

Vitamin C cũng có thể giúp chống lại các triệu chứng nôn nao. Ăn các loại trái cây giàu vitamin C như quả mọng, rau xanh là lựa chọn ưu tiên trước khi uống rượu bia.

2. Cách ngăn ngừa nôn nao trước khi uống rượu

Muốn đỡ mệt mỏi, nôn nao khi uống rượu bia cần làm những điều này - 3

Hãy cẩn thận với sulfit

Rượu vang, đặc biệt là rượu vang đỏ, có thể chứa sulfit, một chất dễ gây đau đầu cho những người nhạy cảm với chúng, ngay cả trước khi các triệu chứng nôn nao xuất hiện.

Tự điều chỉnh tốc độ uống

Việc giữ nhịp độ giữa các lần uống rất quan trọng giúp bạn nhận biết lượng rượu đã nạp vào cơ thể và không làm dạ dày khó chịu quá mức.

Tránh cacbonat hóa

Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, bọt khí có trong rượu sâm panh hay trong rượu pha với nước có ga có thể đẩy nhanh tốc độ hấp thụ rượu. Cacbonat hóa có thể khiến bề mặt dạ dày giãn nở, dẫn đến tăng hấp thụ rượu và tăng nguy cơ gặp phải tình trạng say xỉn, mệt mỏi. Vì vậy, nên cân nhắc và hạn chế uống các loại đồ uống này.

Uống nước

Uống nước trong khi nhậu là cách tốt để tránh say xỉn, nôn nao. Bổ sung nước là chìa khóa để ngăn ngừa say xỉn vì rượu bia gây mất nước. Ngoài ra, việc uống xen kẽ sẽ giúp bạn kiểm soát được những cơn say khó chịu.

3. Cách ngăn ngừa tình trạng nôn nao sau khi uống rượu

Ngủ

Ngủ giúp cơ thể phục hồi và tái tạo năng lượng sau một đêm say xỉn. Tuy nhiên, uống rượu bia có thể ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian ngủ, vì vậy hãy cố gắng ngủ thay vì làm các việc khác khi say.

Uống nhiều nước

Uống rượu bia khiến bạn đi tiểu thường xuyên hơn, dẫn đến mất nước. Vì vậy không chỉ trong khi uống, sau khi nhậu hãy cố gắng uống nhiều nước hơn bình thường.

Uống bù điện giải

Không chỉ bù nước cho các trường hợp ốm sốt, tiêu chảy, bù điện giải là một giải pháp giải rượu hiệu quả. Loại đồ uống này giúp bổ sung đường và cân bằng điện giải cho người say xỉn.

Ăn thức ăn carbohydrate nhẹ

Muốn đỡ mệt mỏi, nôn nao khi uống rượu bia cần làm những điều này - 4

Carbohydrate nguyên chất giúp hấp thụ lượng cồn còn lại trong dạ dày, cung cấp đường và chống buồn nôn. Vì vậy, nhâm nhi bánh mì nướng hoặc bánh quy là lựa chọn tốt cho người say rượu.

Ăn mật ong

Một cách tốt để chống lại tình trạng hạ đường huyết là phết 1 hoặc 2 thìa mật ong giàu chất chống oxy hóa và fructose lên bánh mì nướng buổi sáng.

Ăn trứng

Trứng giàu dinh dưỡng chứa axit amin cysteine, có thể giúp gan loại bỏ các gốc tự do có hại.

Dùng thuốc kháng viêm, giảm đau không steroid

Thuốc kháng viêm không steroid giúp giảm đau đầu mà không gây khó chịu cho dạ dày. Không nên lạm dụng thuốc giảm đau có chứa ibuprofen, vì nó có thể phản ứng với rượu gây hại cho gan.

Tập thể dục (nếu có thể)

Hãy lắng nghe cơ thể. Nếu bạn gần như bất lực vì say xỉn, việc ép buộc bản thân tập luyện có lẽ không phải là điều nên làm. Tuy nhiên, nếu bạn say xỉn ở mức độ nhẹ, nhiều người tin rằng đổ mồ hôi sẽ giúp giải tỏa cơn say. Tập thể dục nhẹ nhàng sẽ giúp tăng cường tuần hoàn máu và trao đổi chất, đồng thời có thể đào thải độc tố ra khỏi cơ thể.

Đồ uống nào tốt nhất để giải rượu?

Nước là thứ không thể thiếu. Nhưng nếu đã uống đủ nước sau khi tỉnh, có một vài lựa chọn khác giúp bạn nhanh cảm thấy dễ chịu hơn.

Đồ uống giàu chất điện giải như nước chanh, nước ép cà chua,… có thể giúp bù lại phần năng lượng đã mất do mất nước.

Nên tránh uống các loại đồ uống có ga sau cơn say vì chúng không bổ sung bất kỳ khoáng chất nào đã mất và chỉ giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn trong một khoảng thời gian ngắn.

Cách nhanh nhất để chữa chứng nôn nao là gì?

Không có cách dễ dàng nào để thoát khỏi hoàn toàn tình trạng nôn nao. Tuy nhiên, có một số cách để hạn chế tình trạng khó chịu do rượu bia gây ra.

– Đầu tiên, hãy đảm bảo bạn uống nhiều chất lỏng (đặc biệt là nước lọc) liên tục trong suốt cả ngày.

– Uống vitamin B và kẽm bổ sung vào buổi sáng để tăng cường năng lượng.

– Ăn no bụng với đủ carbohydrate và protein.

– Cuối cùng, ngủ một giấc thật say để cơ thể hồi phục và tái tạo năng lượng.



Nguồn: Arttimes.vn

Giới hạn nghệ thuật


Trong văn chương nghệ thuật, giữ được phong cách trước dư luận, trước sự cổ vũ và chê bai, trước mọi thành công và thất bại, thật khó lắm thay! Phải là người có bản lĩnh.

1. Khi còn dạy học ở trường cán bộ quản lý của Bộ Mỏ – Địa chất (nay nằm trong Bộ Công thương), tôi là bí thư đoàn thanh niên trường, làm công tác đoàn là gắn liền với phong trào văn nghệ. Tôi không biết hát, nhưng biết nhận xét, góp ý những người hát. Có lẽ đây là khởi nguồn cho con người làm phê bình của tôi chăng?

Tôi nhớ, trong những người hát có một chị tên là Mai. Khi hát chị thường chú ý để hát thật rõ lời. Tôi góp ý là chị hát rõ lời quá. Chị không hiểu, bảo lại: “Thế sao anh Đông lại bảo tôi là phải hát rõ lời?”. “Vâng đúng rồi, chị phải hát rõ lời, nhưng chỉ vừa rõ thôi, chứ không được rõ quá”.

Rõ quá thì còn gì là nghệ thuật nữa, nó làm sao còn chứa được chất giọng, sự luyến láy, sự mượt mà duyên dáng của lời hát. Ngược lại, hát không rõ lời thì làm sao người nghe hiểu được ý nghĩa của câu hát. Nghệ thuật là khoảng giữa rõ và không rõ, giữa mờ và tỏ, giữa thực và hư. Người nghệ sĩ múa là không phải đi và cũng không phải là chạy. Những âm thanh trong bản nhạc cũng không phải là những âm thanh như ở ngoài đời, nhưng người nghe vẫn nhận ra là mưa, gió, sấm chớp… Tranh vẽ cũng không phải giống hoàn toàn như thực, kể cả vẽ chân dung.

Khi còn rất trẻ, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết cho cháu nhỏ:

Nước cháu gọi là núc

Quả dừa thành quả dù

Lời cháu bi bô nói

Thực thực lại hư hư…

Và vô tình cháu đã

Dạy chú cách làm thơ.

Nhà thơ lớn N. Nezval (Cộng hòa Séc) cũng viết: “Nắng vờn mèo hay mèo vờn ánh nắng/ Ai vờn ai kể cũng khó phân minh/ Nhưng hư ảo diệu kỳ kia vụt biến/ Thì thơ ơi, còn chi lại, hỡi em?”. Vâng, cái phút thực thực, hư hư, hư ảo diệu kỳ ấy chính là nghệ thuật. Nghệ thuật là cái vừa tới. Non một tí thì dở, già một tí thì hỏng. Thế mới là tài năng, ít người làm được. Nếu không thì tất cả mọi người đều có thể là nghệ sĩ. Vì vậy, nền thơ chống Mỹ cứu nước, để phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị đã phải chạy theo cuộc sống, đưa vào thơ nhiều chất liệu hiện thực, đành hy sinh mất một phần tiêu chí nghệ thuật, chứ không phải các nhà thơ thời ấy không hiểu điều này, và cũng không thiếu tài năng. Bởi vì “Cao hơn trang thơ, hơn cả cuộc đời – Là Tổ quốc đang một còn một mất” như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết. Hiểu cái còn non của một số bài thơ giai đoạn 1965-1975 là phải hiểu như thế. Ngược lại, sau 1975, lại có một số tác giả làm phu chữ một cách thái quá. Viết quá cô đúc đến mức khó hiểu, phải suy luận cũng không hiểu được. Như thế là quá già. Hơi non và quá già đều ở ngoài vòng của nghệ thuật.

Giới hạn nghệ thuật - 1

Ảnh minh họa

2. Trong cuộc sống, những người phụ nữ duyên dáng là những người có điệu đi nhẹ nhàng thanh thoát, có lời ăn tiếng nói dịu dàng nhỏ nhẹ, có nụ cười tươi tắn hồn nhiên… Người duyên dáng tôn thêm vẻ đẹp của mình, được mọi người yêu mến. Còn những cô gái õng ẹo thì cố ý làm điệu một cách quá đáng, dáng đi thì ưỡn à ưỡn ẹo, ăn nói thì nũng nà nũng nịu làm cho mọi người khó chịu. Trong văn chương nghệ thuật cũng vậy, có người duyên dáng và có người õng ẹo. Cũng có người lúc thì duyên dáng, lúc thì õng ẹo.

M.Gorki, đại văn hào của nước Nga có kể lại câu chuyện ông gặp một nhà văn trẻ. Khi nhà văn trẻ và ông chưa biết nhau, tình cờ gặp nhau, nói chuyện tự nhiên, nhà văn trẻ đã để lại ấn tượng đặc biệt đối với ông, là một người thông minh và lịch lãm. Nhưng những lần sau đó, nhà văn trẻ kia quá ý thức về mình thì M.Gorki chỉ thấy anh ta là một người khoe mẽ, giả tạo, trống rỗng và ngô nghê. Phải chăng nhà văn trẻ nọ đã chuyển từ duyên dáng sang õng ẹo?

Tình trạng chuyển từ duyên dáng đến õng ẹo không thiếu trong văn chương nghệ thuật. Có những tác giả khởi đầu viết một cách tự phát đã có được những bài thơ, những truyện ngắn hay. Đó là do tất cả những vẻ đẹp tự nhiên của trí tuệ và cảm xúc đọng lại. Sau khi được tung hô, các cây bút đó đã tưởng mình là thiên tài. Đây là bệnh vĩ cuồng (chữ dùng của M.Gorki) thường có của những người trẻ. Họ làm điệu lên, cố tình thế này, cố tình thế nọ cho khác người. Thế là hỏng cả, những bài thơ làm xiếc chữ, những truyện ngắn phù phiếm ra đời.

Tình trạng này đặc biệt rõ đối với một số ca sĩ, nghệ sĩ hài. Sau khi được mọi người khen ngợi đối với những phong cách biểu diễn ban đầu, họ bắt đầu biến đổi. Ca sĩ thì nhảy múa loạn xạ, nhăn mặt gào thét. Nghệ sĩ hài thì phùng mang trợn mắt, hoặc nói tục tĩu “cù” khán giả. Tất nhiên đó chỉ là những cây bút, những nghệ sĩ thiếu bản lĩnh. Rất tiếc là trong những văn nghệ sĩ này lại có những người nổi tiếng. Và đáng tiếc hơn nữa, sự õng ẹo trong sáng tác và biểu diễn ấy lại được một lực lượng độc giả và khán giả cổ vũ. Làm cho họ tưởng thế là hay và từng bước trượt dài, dần dần tự giết chết mình, dẫu rằng họ vẫn có một lực lượng hâm mộ. Nói như cách nói của người xưa: người sáng tác ấy, người biểu diễn ấy thì tất có những độc giả và khán giả ấy; và ngược lại. Còn những người có bản lĩnh thì khi ý thức được về mình họ càng vững vàng hơn, tài năng phát triển rực rỡ hơn.

Làm sao giữ mãi được sự duyên dáng là một thử thách đối với người phụ nữ đẹp. Trong văn chương nghệ thuật, giữ được phong cách trước dư luận, trước sự cổ vũ và chê bai, trước mọi thành công và thất bại, thật khó lắm thay! Phải là người có bản lĩnh.

3. Kiêu hãnh và khiêm tốn là những đức tính tốt đẹp. Nó khác hẳn với kiêu căng và tự ti là hai tính xấu thường làm tàn lụi con người. Kiêu hãnh và khiêm tốn nâng con người lên thể hiện giá trị thực có, từ đó mà thúc đẩy sự phát triển. Kiêu hãnh và kiêu căng nghe có vẻ gần nhau nhưng lại khác hẳn nhau. Khiêm tốn và tự ti cũng vậy. Trong thực tế cuộc sống và trong văn chương phân biệt điều này cũng không khó.

Thi tiên Lý Bạch (Trung Quốc) ngồi ngắm núi Kính Đình và kiêu hãnh thốt lên: Bao nhiêu mây nổi bay đi hết/ Chỉ còn núi Kính Đình và ta. Nhà thơ Mayakovsky (Nga) thì nói: “Ta từ trên một trời thơ bước xuống”. Và thi sĩ Xuân Diệu gửi tâm sự qua lời của dãy núi Himalaya: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta…”. Thì ta chỉ thấy đó là sự kiêu hãnh của những tài năng lớn.

Đức khiêm tốn cũng có những giá trị tương tự. Đại thi hào Nguyễn Du viết xong kiệt tác Truyện Kiều trước khi dừng bút đã hạ giọng: “Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh”. Nhà thơ Hồ Chí Minh khi nói về Lev Tolstoy (Nga) đã tự nhận mình là người học trò nhỏ của nhà văn lớn. Nhà thơ Trần Đăng Khoa khi đã nổi tiếng thần đồng làm thơ gửi bác Mạnh Sinh vẫn rất khiêm tốn: “Cháu làm đã được gì đâu/ Cuộc đời còn cả đằng sau rất dài…”.

Kiêu hãnh hay khiêm tốn cũng là cá tính của mỗi người. Kiêu hãnh cũng hay mà khiêm tốn cũng tốt, nếu đấy là những đức tính thực sự của mình, không phải vì vấn đề này khác mà cố ý. Xưa nay các tài năng lớn thường đi liền với nhân cách lớn. Các tài năng lớn thường để hữu xạ tự nhiên hương, ít người tự đề cao mình, mà thường để người khác và đời tiến cử. Bây giờ thì khác, đời sống văn chương nghệ thuật sao mà ồn ã thế, không mấy ai còn như những cây nấm hương của Nguyễn Duy: “Sống im lặng, đến tận cùng im lặng/ Mà tiếng thơm đi góc bể chân trời”. Mà người ta cứ nhảy lên hét toáng: “Tôi là một người nổi tiếng khá sớm!”, “Khi vào học trường viết văn thì chưa biết Nguyễn Du là ai, khi ra trường thì không coi Nguyễn Du ra gì”.

Có thể, cơ chế thị trường sản sinh ra những văn nghệ sĩ thị trường. Nhưng những tài năng thực sự thì thường có nhân cách Dĩ bất biến ứng vạn biến chứ không bị hoàn cảnh nhuốm màu. Ngày nay, các văn nghệ sĩ tài năng không cần phải ở ẩn giấu mình đi. Hãy cứ thể hiện hết mình bằng việc sáng tạo tác phẩm. Đời nào thì thước đo vẫn là hành động chứ không phải lời nói. Xã hội có hàng triệu triệu con mắt, công nghệ lăng xê dù có giỏi giang đến đâu thì cũng chỉ đánh lừa được một bộ phận trong khoảng một thời gian mà thôi. Còn những giá trị đích thực thì mới là mãi mãi.

Đừng tự ti để tài năng dần dần thui chột, nhưng cũng đừng kiêu căng đốt cháy làm cho năng khiếu của mình tàn lụi nhanh hơn. Quy luật khách quan là phải để mọi sự tự nhiên phát triển. Đợi đến khi nào đã trở thành những nhà văn nhà thơ lớn thì hãy kiêu hãnh hỡi các nhà văn nhà thơ trẻ!

Đinh Quang Tốn




Nguồn: Arttimes.vn

Việc làm ai cũng thích vào mùa lạnh không ngờ nhiều lợi ích đến vậy


Tắm nước ấm mang lại nhiều lợi ích sức khỏe tinh thần và thể chất hơn bạn thường nghĩ.

Việc làm ai cũng thích vào mùa lạnh không ngờ nhiều lợi ích đến vậy - 1

1. Cải thiện sức khỏe tinh thần

Ngâm mình trong bồn nước ấm có thể tác động tích cực đến sức khỏe tinh thần và giúp cơ thể thư giãn nhanh chóng.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, tắm bồn có thể có tác động lớn hơn đến sức khỏe tinh thần và giúp giảm lo âu hiệu quả hơn so với tắm vòi sen.

2. Giảm căng thẳng

Mỗi người đều kiểm soát căng thẳng theo cách riêng của mình, và một số người lựa chọn phương pháp tắm nước ấm.

Căng thẳng có thể được kích hoạt bởi rất nhiều thứ, vì vậy nếu bạn đang tìm kiếm một chút thời gian riêng tư, hoặc thời gian để tạm gác lại những gánh nặng tinh thần, thì tắm nước nóng là một cách tuyệt vời để thư giãn, nghỉ ngơi.

3. Hỗ trợ sức khỏe tim mạch

Theo một nghiên cứu năm 2020 tại Nhật Bản được công bố trên tạp chí Heart, tắm nước ấm có thể cải thiện sức khỏe tim mạch. Các nhà nghiên cứu đã quan sát hơn 30.000 người trong độ tuổi từ 40 đến 59 trong khoảng thời gian 19 năm và phát hiện ra rằng, những người thường xuyên tắm nước ấm có nguy cơ mắc các biến cố tim mạch thấp hơn.

Ngoài ra, còn có nghiên cứu cho thấy việc tắm nước ấm thường xuyên có thể có tác động tích cực đến sức khỏe mạch máu, tăng khả năng lưu thông máu. Ví dụ, một nghiên cứu nhỏ cho thấy, sau 8 tuần thử nghiệm, việc tắm nước nóng hằng  ngày giúp hạ huyết áp và cải thiện sức khỏe động mạch cho những người tham gia. Thủy liệu pháp trong bồn tắm nước ấm sẽ làm tăng lưu lượng máu ngoại vi, từ đó thúc đẩy quá trình chữa lành các mô bị kích ứng hoặc tổn thương.

Tuần hoàn máu được cải thiện mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, vì máu là nơi vận chuyển các chất dinh dưỡng và phân tử thiết yếu đến các mô cơ xương. Trong trường hợp cơn đau xuất phát từ chấn thương mô cơ hoặc mô liên kết, tuần hoàn máu sẽ đẩy nhanh quá trình cơ thể tự chữa lành.

4. Giảm đau cơ và khớp

Tắm nước ấm có thể mang lại sự giảm đau rất cần thiết cho những người bị đau cơ, khớp, dây chằng và gân. Điều này là do nước ấm có thể giúp các mô trong hệ thống cơ xương được thư giãn, giúp cơ thể hồi phục nhanh hơn.

Điều này đặc biệt đúng với tắm khoáng tự nhiên. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, tắm suối nước nóng từ 3 ngày trở lên có thể có tác dụng điều trị đáng kể đối với bệnh nhân mắc các rối loạn cơ xương khớp, bao gồm cả viêm khớp dạng thấp.

Các khớp và mô liên kết cứng cũng sẽ dễ chịu hơn sau khi tắm nước ấm. Ngoài việc giảm đau, tắm nước ấm còn có thể làm giảm các loại khó chịu khác ở cơ. Đối với các cơ bị đau, tắm nước nóng có thể làm giảm căng thẳng, cứng cơ, đau nhức tích tụ.

5. Tốt cho giấc ngủ

Vì tắm nước ấm có thể giúp cơ thể thư giãn, nên không có gì ngạc nhiên khi nó cũng có thể giúp bạn dễ đi vào giấc ngủ và ngủ ngon hơn.

Tắm nước ấm vào buổi tối có thể giúp bạn dễ ngủ và duy trì giấc ngủ, cải thiện chất lượng giấc ngủ tổng thể, điều này rất quan trọng để cơ thể sẵn sàng đón nhận một ngày mới nhiều năng lượng.

Một trong những lý do tắm nước ấm mang lại điều này là vì nó có tác dụng hỗ trợ quá trình điều chỉnh nhiệt độ ban đêm của cơ thể. Cơ thể tự nhiên trải qua giai đoạn làm mát khi bắt đầu ngủ, và tắm nước nóng có thể giúp bắt đầu giai đoạn đó sớm hơn.

6. Cải thiện sức khỏe da

Theo Cleveland Clinic, ngoài việc loại bỏ bụi bẩn trên bề mặt da, tắm nước ấm còn giúp mở lỗ chân lông, dễ dàng rửa sạch bụi bẩn tích tụ hơn.

Hơn nữa, nước ấm còn làm mềm các lớp tế bào da chết trên bề mặt da, giúp chúng dễ dàng bong ra bằng khăn.

Việc làm ai cũng thích vào mùa lạnh không ngờ nhiều lợi ích đến vậy - 2

Thời gian và nhiệt độ khuyến nghị

Để tận hưởng lợi ích của việc tắm nước ấm, dù là cho da hay bất kỳ bộ phận nào khác trên cơ thể, cũng cần tuân thủ các quy tắc dưới đây:

– Nhiệt độ lý tưởng: Tắm nước quá nóng sẽ làm khô và kích ứng da. Nhiệt độ lý tưởng nằm trong khoảng từ 32-40℃. Nhiệt độ cao hơn sẽ gây bỏng da và có thể gây tổn thương hàng rào bảo vệ da.

– Thời gian lý tưởng: Bạn không cần phải dành hàng giờ ngâm mình thư giãn trong bồn tắm để tận dụng tối đa lợi ích của việc tắm bồn. Để có được những lợi ích sức khỏe đáng kể từ liệu pháp thủy trị liệu và nhiệt trị liệu, khoảng 20 đến 30 phút trong bồn tắm là đủ.

– Thời điểm tốt nhất trong ngày: Nên tắm nước ấm 1 hoặc 2 giờ trước khi đi ngủ.

Ai nên tránh tắm nước ấm?

– Những người bị bệnh vẩy nến, bệnh chàm hoặc các tình trạng da tương tự.Tắm nước nóng hoặc nước ấm có thể làm tăng tình trạng kích ứng và khô da, đồng thời làm trầm trọng thêm các triệu chứng của bệnh.

– Người lớn tuổi có vấn đề về sức khỏe tim mạch: Tắm lâu có thể khiến họ cảm thấy chóng mặt. Nếu khả năng điều hòa thân nhiệt bị suy giảm do các bệnh lý tim mạch hoặc do thuốc, thì không nên tắm nước quá nóng và quá lâu.

– Những người có vấn đề sức khỏe hoặc chấn thương liên quan đến quá trình trao đổi chất, thần kinh, khớp hoặc nội tạng.

– Người bị bệnh thần kinh ngoại biên: Các triệu chứng của bệnh có thể trở nên trầm trọng hơn khi tắm bằng nước quá nóng hoặc quá lạnh.

– Phụ nữ mang thai: Không nên tắm nước ấm lâu trong thời kỳ mang thai vì nhiệt độ cơ thể có thể tăng quá cao.

– Trẻ em: Trẻ em không có khả năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể nên cần hạn chế tắm nước quá nóng hoặc quá lạnh. 

Bí quyết để hưởng nhiều lợi ích nhất có thể từ tắm nước ấm

– Thêm muối Epsom vào bồn tắm: Magiê được tìm thấy trong muối Epsom, rất quan trọng đối với sức khỏe, nó có tác dụng giúp thư giãn và cải thiện giấc ngủ – cả hai đều rất quan trọng cho quá trình phục hồi và kiểm soát cơn đau.

– Đổ đầy nước trong bồn tắm: Ngâm mình trong nước ấm có thể làm dịu hệ thần kinh và mang lại cảm giác thư thái cho toàn bộ cơ thể. Nên đổ đầy nước sao cho phần lớn cơ thể có thể được chìm trong nước.

– Giữ ấm phòng tắm: Điều này sẽ ngăn ngừa sự tương phản nhiệt độ đột ngột và nhu cầu điều chỉnh nhiệt độ nhanh chóng thường xảy ra khi chuyển từ phòng lạnh sang bồn tắm nước ấm và ngược lại.

– Làm mờ đèn: Điều chỉnh ánh sáng trong phòng tắm sẽ tạo cảm giác thư giãn hơn. Sử dụng đèn mờ và tránh ánh sáng xanh có thể giúp cơ thể sản xuất melatonin một cách đáng kể.

– Sử dụng một số loại hương thơm tự nhiên: Hương thơm như hoa oải hương và hoa cúc được cho là giúp thư giãn.

– Hãy giữ cơ thể đủ nước và đủ ấm: Có thể nhâm nhi loại đồ uống yêu thích khi bạn đang ngâm bồn tắm. Ngoài việc uống đủ nước, bạn nên thoa kem dưỡng da sau khi tắm để có hiệu quả tương tự cho da.



Nguồn: Arttimes.vn

Nhà báo kỳ cựu Nguyễn Như Mai ra mắt cuốn hồi kí “Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò”


Cuốn hồi kí “Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò” của nhà báo, nhà văn Nguyễn Như Mai, Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, là một lát cắt hiếm hoi về tuổi thơ thời chiến, chân thực và giàu nhân văn tái hiện sinh động đời sống giữa bom đạn, giúp thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn trẻ em Việt Nam đã lớn lên như thế nào trong thời chiến tranh.

Tác giả Nguyễn Như Mai, sinh năm 1950, người Tày, quê Cao Bằng. Tuổi thơ gắn với thời chiến, có giai đoạn phải sống trong hang đá để tránh bom. Tốt nghiệp ngành Địa chất, ông từng công tác tại Nhà xuất bản Khoa học và Kĩ thuật với vai trò biên tập viên. Ông là nhà báo kì cựu của báo Thiếu niên Tiền phong và là một trong những người góp phần đặt nền móng và phát triển tờ Hoa Học Trò. Ông là hình ảnh một trí thức mực thước, làm nghề tử tế, suốt đời đặt thanh thiếu niên ở vị trí trung tâm trong mọi sáng tạo của mình.

Nhà báo kỳ cựu Nguyễn Như Mai ra mắt cuốn hồi kí “Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò” - 1

Nhà báo, nhà văn Nguyễn Như Mai. Ảnh: Dân Việt

Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò không chỉ là câu chuyện đời của một người mà còn là tấm gương về nghị lực, nhân cách và trách nhiệm xã hội của một trí thức Việt Nam.

Cuốn sách kể lại hành trình dài hơn nửa thế kỉ của một cậu bé được sinh ra tại miền biên giới phía Bắc, lớn lên trở thành sinh viên, theo học địa chất rồi về làm biên tập viên sách khoa học, làm nhà báo viết cho thiếu nhi, tuổi học trò. Đặc biệt sau này, khi đã có nhiều kinh nghiệm và ở độ tuổi sung sức, Nguyễn Như Mai là người tham gia sáng lập và phát triển báo Hoa Học Trò – ấn phẩm được yêu mến hàng đầu của lứa tuổi hoa.

Dù là hồi kí nhưng những trang viết không chỉ kể những kỉ niệm cá nhân mà còn tái hiện một phần lịch sử, văn hóa, giáo dục Việt Nam qua trải nghiệm rất cụ thể, chân thực của tác giả.

Nhà báo kỳ cựu Nguyễn Như Mai ra mắt cuốn hồi kí “Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò” - 2

Cuốn hồi kí “Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò”. Ảnh: NXB Kim Đồng

Với Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò, tác giả đã đưa người đọc trở lại tuổi thơ ở vùng núi Cao Bằng: sống trong hang đá, chạy giặc, đến trường theo tiếng kẻng. Giữa hoàn cảnh thiếu thốn, ông sớm bộc lộ niềm say mê chữ nghĩa: lập nhóm bút học trò, làm báo tường Mặt Trời Mọc, mạnh dạn gửi bài cho Thiếu niên Tiền phong và có nhuận bút đầu tiên.

Bước vào tuổi thanh niên, trong không khí xây dựng đất nước, tác giả chọn ngành địa chất, một nghề vất vả nhưng thiết thực. Những năm tháng này rèn cho ông tư duy khoa học, tính kỉ luật, khả năng quan sát, những phẩm chất sau này trở thành nền tảng quan trọng cho nghề báo và nghề viết.

Rời ghế nhà trường, tác giả về Nhà xuất bản Khoa học và Kĩ thuật, bền bỉ làm công việc biên tập, biên soạn, dịch thuật suốt 25 năm.

Hoa Học Trò – một thời thăng hoa là phần trung tâm của cuốn sách. Tác giả từ môi trường xuất bản khoa học chuyển sang báo Thiếu niên Tiền phong, rồi cùng đồng nghiệp chuẩn bị, khai sinh và phát triển tờ Hoa Học Trò – tờ báo tuổi teen gắn bó với nhiều thế hệ học trò Việt Nam.

Trong Cậu bé ở hang và Hoa Học Trò, Nguyễn Như Mai cũng dành nhiều trang viết xúc động về bạn đọc, đồng nghiệp, nhà văn trẻ, cùng những kỉ niệm đặc biệt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bạn bè quốc tế trong Festival Thanh niên và Sinh viên thế giới tại Algérie.

Sau này ông tham gia nhiều vào việc viết sách với tập thơ thiếu nhi Chim gõ kiến và những cuốn sách khoa học dành cho trẻ em như: Kho báu trong lòng đất, Tò mò đến xứ sở kì lạ, Từ trong nhà ra ngoài sân

Cùng các cộng sự, ông tham gia xây dựng các bộ sách lịch sử – địa lí được xuất bản tại Nhà xuất bản Kim Đồng như Sử ta – Chuyện xưa kể lại, Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Chuyện hay sử Việt, Những vị vua trẻ trong sử Việt, Thiên nhiên đất nước ta… với mục tiêu làm cho lịch sử trở nên gần gũi, dễ hiểu với bạn đọc nhỏ tuổi.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn