Home Blog Page 90

Nam thanh niên bị liệt vì cúi đầu quá lâu


Một thanh niên Trung Quốc đã trải qua nỗi khiếp sợ trong đời khi mất hoàn toàn cảm giác ở nửa thân dưới, nguyên nhân bắt nguồn từ thói quen ngày càng phổ biến trong giới trẻ.

Giống như nhiều bạn cùng trang lứa, Tiểu Đồng (19 tuổi, sinh viên năm ba tại một trường đại học ở Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc) thường xuyên cúi đầu sử dụng điện thoại.

Tuy nhiên, mùa hè này, thói quen hằng ngày của Tiểu Đồng đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đe dọa tính mạng. Công việc làm thêm của cậu là rửa bát và lau bàn với tư thế cúi người hàng giờ liền, điều này khiến áp lực lên mạch máu gần cột sống ngày càng gia tăng. Hơn nữa, vào thời gian rảnh cậu cũng dán mắt vào điện thoại để chơi game và lướt mạng xã hội. Ban đầu, cậu bắt đầu cảm thấy tê bì ở cổ, cánh tay và chân nhưng đến ngày 30/7, cậu tỉnh dậy và mất cảm giác ở chân, không thể cử động.

Nam thanh niên bị liệt vì cúi đầu quá lâu - 1

Ảnh minh họa.

Tiểu Đồng được đưa vào phòng cấp cứu, các bác sĩ phát hiện một cục máu đông lớn ở đoạn tủy cổ C4-T1, chèn ép tủy sống và gây ra tình trạng gần như liệt hoàn toàn từ ngực trở xuống. Các bác sĩ cho biết, việc Tiểu Đồng liên tục cúi đầu trong thời gian dài đã làm vỡ mạch máu bất thường trong ống tủy, tạo thành khối máu tụ và gây liệt cấp tính.

May mắn cho chàng trai trẻ, các bác sĩ đã kịp thời phẫu thuật khẩn cấp để loại bỏ cục máu đông và ngăn ngừa tình trạng liệt vĩnh viễn. Hiện tại, Tiểu Đồng đang dần hồi phục khả năng vận động của chi dưới và được kỳ vọng sẽ bình phục hoàn toàn.

Các chuyên gia y tế cảnh báo rằng việc cúi đầu lâu sẽ khiến máu lưu thông trì trệ, từ đó làm tĩnh mạch sưng và giãn nở bất thường. Khi máu không được dẫn lưu hiệu quả, sẽ dẫn đến các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi kéo dài, kèm theo cảm giác tê bì ở vai, cổ và cánh tay.

Trong những trường hợp nghiêm trọng, tình trạng ứ máu mãn tính có thể ảnh hưởng đến cấu trúc mạch máu và hệ thần kinh trung ương, dẫn đến các hậu quả nặng nề như nhồi máu não hoặc liệt nửa người.



Nguồn: Arttimes.vn

Bàn về thơ hay viết cho trẻ em từ trải nghiệm cá nhân


Lâu nay, có một bộ phận tác giả hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật cùng tác phẩm của họ không thật sự được coi trọng – thậm chí còn bị coi thường – khi hướng đến đối tượng phục vụ là trẻ em. Ngay cả nhiều nhà văn cũng cho rằng sáng tác cho trẻ em thì dễ nhưng khó nổi tiếng.

Nhìn nhận thơ viết cho trẻ em trên cơ sở hoạt động sáng tạo văn nghệ nói chung

Lâu nay, có một bộ phận tác giả hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật cùng tác phẩm của họ không thật sự được coi trọng – thậm chí còn bị coi thường – khi hướng đến đối tượng phục vụ là trẻ em. Ngay cả nhiều nhà văn cũng cho rằng sáng tác cho trẻ em thì dễ nhưng khó nổi tiếng.

Thật ra, hoàn toàn không phải vậy mà ngược lại. Khu vực văn học, nghệ thuật dành cho trẻ em có tính đặc thù cao. Đặc thù trước tiên là yếu tố lứa tuổi (nhỏ bé) của nhân vật mà văn nghệ sĩ hướng đến để sáng tạo, đồng thời cũng là đối tượng thứ nhất (nhỏ bé) hưởng thụ tác phẩm. Sáng tác cho trẻ em không dễ. Làm cho hay, thuyết phục được trẻ em càng khó. Không ít tác giả đã làm thử, rồi phải “chào thua”! Muốn có tên tuổi là niềm hy vọng chính đáng của nhiều người viết, khổ nỗi tiếng vang đâu phải phụ thuộc vào việc sáng tác cho ai, sáng tác về cái gì, mà do tài năng và lao động sáng tạo quyết định.

Người viết bài này xin tạm nêu lên 10 yếu tố cần thiết giúp tác phẩm văn nghệ dành cho trẻ em đạt được chất lượng. Có yếu tố phù hợp với lĩnh vực văn học, có yếu tố đắc dụng đối với lĩnh vực nghệ thuật.

Một là: Ngây thơ, ngộ nghĩnh, trong trẻo, giản dị, dễ hiểu là yếu tố đầu tiên giúp tác phẩm đến với trẻ thơ dễ dàng, nhất là trẻ chưa đi học hoặc vài lớp đầu tiểu học. Người sáng tác cần chú ý ngay đến lứa tuổi độc giả theo từng nấc bậc. Từ tuổi lên năm đến mười lăm là một khoảng cách dài, cần phân biệt từng chặng đường.

Hai là: Vui nhộn, hài hước. Kiểu nói ngược, nói đố, đưa ra cái phi lý tưởng như là ất ơ, dớ dẩn (mà vẫn có nghĩa nào đó) lại giúp trẻ nhỏ tăng thêm niềm hứng thú, như được dự một trò chơi.

Ba là: Tăng động, giảm tĩnh. Nhiều hình ảnh, âm thanh, sắc màu. Đưa người thưởng thức vào các mối quan hệ. Tăng đối thoại, gợi đối thoại đối với người tiếp nhận.

Bốn là: Mới mẻ, lạ kỳ. Biến hóa. Giúp các em nảy sinh và nuôi dưỡng trí tưởng tượng.

Năm là: Chất truyện tạo hấp dẫn (như cổ tích, thần thoại, chuyện lạ từng mê hoặc trẻ thơ). Nếu là thơ thì dạng truyện kể có ưu thế hơn dạng trữ tình nội tâm. Tránh dài dòng và nghèo nàn về hình ảnh. Nên giảm nghĩ ngợi triền miên, nặng nề.

Sáu là: Chất dân gian thắm đượm. Đồng dao chẳng phải là vốn văn học dân gian đáng quý của trẻ em đó sao? Đương nhiên, tránh sao chép dân gian mà cần sáng tạo một cách linh hoạt. Khi phong vị dân gian thấm nhuyễn vào tác phẩm thì các em sẽ dễ bị thuyết phục.

Bảy là: Tính dân tộc truyền thống cần luôn luôn hòa quyện vào tính hiện đại quốc tế cả ở nội dung và cách diễn đạt (với một mức độ, sắc thái có thể). Tránh lai căng xa lạ. Nâng cao ý thức bồi dưỡng tâm hồn người Việt, dẫn trẻ em trở về với cánh đồng, con cò, sân đình, cây đa, bến nước… Tuy nhiên, nên nhớ rằng nhịp điệu thơ văn cùng đời sống, tâm hồn đều đều như sông chảy, mây trôi, hình ảnh quê nhà mòn lặp, hoặc tranh vẽ, vở diễn, lời ca… cũ kỹ, khô cứng, thì không còn tương thích với tâm lý và nhu cầu của trẻ em hôm nay.

Tám là: Phẩm chất tư tưởng nghệ thuật không chỉ dành riêng cho độc giả trưởng thành mà còn rất cần đối với tuổi thơ. Về ý nghĩa, phạm trù tư tưởng  và phạm trù giáo dục không tương đương. Tư tưởng phải vượt quá sự khuyên, dạy cụ thể, thông thường để vươn tới tầm cao hơn là CÁI ĐẸP VĨNH HẰNG. Tuy nhiên, việc truyền đạt tư tưởng phải có nghệ thuật, phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ nhận thức và sáng tạo của trẻ. 

Chín là: Sử dụng hợp lý hai biện pháp hiện thực trực tiếp và hiện thực đồng thoại. Hiện nay, đồng thoại chỉ còn phù hợp nhiều đối với lứa tuổi bé nhất. Nhiều tác giả thấy đồng thoại dễ viết mà ít để ý rằng biện pháp nghệ thuật này trùng lặp quá nhiều. Văn học, nghệ thuật dành cho trẻ em đang cần tính giáo dục cao thì biện pháp hiện thực trực tiếp sẽ tạo thuận lợi cho văn nghệ sĩ hơn. (Nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa rất ít sử dụng đồng thoại mà thơ vẫn rất hay).

Mười là: Chú ý đến ngôn ngữ văn chương, chăm chút cho vẻ đẹp của tác phẩm sẽ khiến trẻ thơ yêu tiếng Việt, ham mê tìm hiểu, trau dồi lời ăn tiếng nói. Từ đó các em biết thế nào là một bài thơ hay, một cuốn truyện hấp dẫn, rộng cao hơn là cảm thụ được vẻ đẹp linh diệu của văn hóa tinh thần.

Những yếu tố nêu trên thường xuyên xen thấm vào nhau trong tác phẩm. Tùy thể loại, loại hình văn học, nghệ thuật, và liều lượng, không nhất thiết tác phẩm nào cũng cần đầy đủ tất cả các yếu tố nêu trên. Cần lưu ý rằng nghệ thuật tuy có những điểm chung với văn học nhưng cũng có những yếu tố rất riêng, ấy là ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau, không chỉ là ngôn ngữ văn tự.

Bàn về thơ hay viết cho trẻ em từ trải nghiệm cá nhân - 1

Ảnh minh họa.

Tìm thơ hay

Thơ hay dành cho trẻ em là thơ gây cho trẻ em niềm thích thú, bởi nó phù hợp với tâm lý lứa tuổi của trẻ, góp phần lớn bồi dưỡng sâu đậm tình yêu đối với cái đẹp của đời sống và của văn chương, giúp hoàn thiện nhân cách văn hóa cho trẻ em. Thơ hay đối với trẻ em cũng được người đọc trưởng thành hâm mộ.

Khi xác định thơ hay dành cho bạn đọc là trẻ em, cần chú ý những điều sau: Nhìn chung, số bài thơ hay dành cho trẻ em ít hơn dành cho người trưởng thành do tính đặc thù của khu vực sáng tác này. Viết cho trẻ em được thừa nhận là hay thì không dễ dàng.

Thơ dành cho trẻ em khác dành cho người lớn. Có những bài thơ hay không phù hợp với trẻ em, trái lại, đã là thơ hay dành cho tuổi thơ thì bạn đọc yêu thơ từ thanh niên đến người già đều yêu thích.

Thơ hay cần phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ hiểu biết của trẻ em. Có bài thơ học sinh tiểu học yêu thích nhưng, cũng những bạn đọc ấy, lên đến trung học lại lơ đãng, bỏ qua. Và rất khó có thơ hay, rất hay cho lứa tuổi mầm non, tuổi nhà trẻ, bởi tâm trí các em chưa đến tầm đón đợi tứ thơ và ngôn ngữ nghệ thuật ở mức cao cần thiết.

Cũng như thơ nói chung thuộc mọi lứa tuổi, cái hay của thơ dành cho trẻ em phụ thuộc vào thời điểm ra đời, và sự tồn tại của tác phẩm trong quá trình phát triển của lịch trình xã hội – thời đại. Trẻ em hôm nay đã thay đổi nhiều về hoàn cảnh sống, về tâm lý, trình độ hiểu biết… Có những bài thơ xưa kia rất hay, nhưng đến nay đã trở nên cũ kỹ.

Không nên chê trách sách giáo khoa có một số bài thơ bình thường, không được hay lắm. Sách giáo khoa dùng để dạy và học theo chủ đề, định hướng giáo dục là chính. Nếu có sáng tác nào bảo đảm đủ cả hai yêu cầu nội dung và nghệ thuật một cách mĩ mãn thì càng tốt.

Không phải bất kỳ nhà thơ tên tuổi nào từng viết nhiều cho trẻ em, cũng luôn luôn có thơ hay. Có những tác giả ít viết, không được nhiều bạn đọc biết đến, không có bài trong sách giáo khoa hoặc ít được tham gia vào các tập tuyển thơ danh giá, lại có thơ hay.  

Đối với người trưởng thành yêu thơ, không cần ai hướng dẫn, vẫn biết là thơ hay hoặc thơ dở. Nhưng đối với bạn đọc nhỏ tuổi, chúng ta nên hướng dẫn cảm thụ thơ, giúp trẻ em nhận biết cái hay, cái đẹp của bài thơ.

Việc phân loại, minh định thơ hay là cần thiết. Có thơ hay cho riêng từng lứa tuổi và có thể soạn xếp thành hai nấc bậc chất lượng là hay và hay nhất.

Chúng tôi đã khảo sát nhiều quyển sách thơ và bình thơ tiêu biểu xuất bản từ năm 1975 đến năm 2022 (gần 50 năm) để tìm ra những bài thơ hay rồi nêu tỉ lệ về số lượng trong quan hệ với tất cả các bài thơ trong mỗi quyển sách trên quan điểm cá nhân.

Hương cốm, Nxb Kim Đồng, 1975 (in 20.300 cuốn). Tuyển chọn: không rõ ai, cuối sách ghi: Biên tập: Định Hải. Tỉ lệ bài hay: 6 bài trên tổng số 36 bài.

Tuyển tập thơ thiếu nhi 1945 – 1985, Nxb Kim Đồng, 1986. Nhóm tuyển chọn: Phạm Hổ, Văn Hồng, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh, Quang Huy, Định Hải. Tỷ lệ bài hay: 24/125.

Thơ cho tuổi thơ 1975 – 1990, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1990. Tuyển chọn: không thấy nêu. Cuối sách ghi: Biên tập: Thái Thăng Long. Tỉ lệ bài hay: 2/29.

Thơ với tuổi học trò (thơ chọn kèm lời bình), tập 1, Nxb Lao động, 1993. Tuyển chọn: Trinh Đường. Tỉ lệ bài hay: 14/23.

Văn học cho thiếu nhi, Nxb Văn học, 1995. Hội đồng giám định: Phạm Hổ, Lữ Huy Nguyên, Nguyễn Quỳnh, Định Hải. Tỉ lệ bài hay 40/203.

Thơ chọn với lời bình dành cho học sinh tiểu học, Nxb Giáo dục, 1997. Tuyển chọn: Nhiều tác giả. Chủ biên: Trần Thị Phú Bình – Lê Hữu Tỉnh. Tỉ lệ bài hay: 16/62.

Những bài thơ em yêu (thơ chọn kèm lời bình), Nxb Giáo dục, 1998. Tuyển chọn: Phạm Hổ, Nguyễn Nghiệp. Tỉ lệ bài hay: 22/100.

Tuyển tập thơ hay dành cho thiếu nhi, 2 tập, Nxb Trẻ TP. Hồ Chí Minh, 1999. Nhóm tuyển chọn: Định Hải, Nguyễn Trí Công. Tỷ lệ bài hay: 11/147.

Thơ thiếu nhi chọn lọc, Nxb Thanh niên, 2000. Nhóm tuyển chọn Định Hải, Xuân Dục, Minh Phúc. Tỷ lệ bài hay: 34/164.

Tuyển chọn những bài thơ hay dành cho tuổi học trò, Nxb Lao động, 2003. Tuyển chọn: Quang Khải. Tỷ lệ bài hay: 22/155.

Văn học thiếu nhi Việt Nam – thơ tuyển, Nxb Từ điển bách khoa, 2004. Biên soạn: Nguyên An, Định Hải. Thẩm định: Phạm Hổ, Phùng Ngọc Hùng, Trần Đăng Khoa, Vân Thanh. Tỉ lệ bài hay: 74/634.

Tìm vẻ đẹp bài thơ ở tiểu học, Nxb Giáo dục, 2004. Nhóm tuyển chọn: Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Giang Khắc Bình. Tỉ lệ bài hay: 7/40.

Thơ nhi đồng Việt Nam và thế giới chọn lọc (Nxb Thanh niên, 2012). Nhóm tuyển chọn: Đinh Hải, Quang Huy, Minh Phúc. Tỉ lệ bài hay: 19/91 (Chúng tôi không khảo sát phần thơ thế giới. Tập thơ này nêu rõ “thơ nhi đồng” cho nên bài hay được nới rộng về phương diện nghệ thuật biểu hiện).

Luyện tập về cảm thụ bài thơ trong sách Tiếng Việt, từ lớp 1 đến lớp 5 (hai tập), Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012. Tái bản nhiều lần. Tuyển chọn kèm lời bình: Phạm Đình Ân. Tỉ lệ bài hay: 47/113.

Thơ cho tuổi thơ (Giới thiệu và bình thơ), (Nxb Hội Nhà văn, 2017). Tuyển chọn: Vũ Nho. Tỉ lệ bài hay: 12/61.

65 bài thơ hay dành cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 2022. Tuyển chọn: Cao Xuân Sơn. Đây là tập thơ tuyển mới nhất, khác biệt, khó làm. Sách ra nhân dịp kỷ niệm 65 năm nhà xuất bản Kim Đồng, bởi thế số lượng bài bị khuôn vào con số 65, quá ít ỏi. Thêm nữa, sách chỉ do một người làm, có quan niệm rất riêng của một nhà thơ – cũng viết cho trẻ em – về thơ hay, thoát khỏi một cách táo bạo lối đi cũ mòn. Ngoài những bài thơ hay mà nhiều người đã biết, người tuyển chọn đã có phát hiện về các thi phẩm Chị (Kim Ba), (Trần Mạnh Hảo), Gạo tắm (Nguyễn Lãm Thắng), v.v. Chúng tôi trân trọng và chấp thuận sự tuyển chọn 65 bài thơ hay do tác giả nhà thơ Cao Xuân Sơn thực hiện ở ấn phẩm đặc biệt này.

Qua 16 thí dụ nêu trên, chúng tôi có con số tỉ lệ lượt bài hay trong tổng số bài khảo sát là: 475/1699. (Đối với riêng từng quyển sách, thì đó là những đơn vị tác phẩm, nhưng khi liệt kê tất cả từ 2 quyển trở lên, thì đó là những lượt tác phẩm, bởi các sách in sau hoặc in cùng đều trùng nhau ít nhiều).

Tiếp cận thơ hay nhất

Từ 475 lượt bài thơ hay, chúng tôi chọn một lần nữa để (sau khi bỏ trùng lặp) để rút ra những đơn vị bài  thơ hay nhất (khoảng 70 bài). Các trường hợp đương nhiên là: Trần Đăng Khoa 7 bài, Võ Quảng 6 bài, bạn đọc có thể chọn ra dễ dàng, không cần nhắc lại nữa. Ngoài ra, những trường hợp rất quen thuộc, rất đáng nhớ, nhưng xem là thơ rất hay thì chưa hẳn, được xếp vào nhóm cần đặc biệt chú ý, đó là các bài Đi học (tên khác là Hương cốm tới trường) của Minh Chính, Mặt trời xanh của tôi của Nguyễn Viết Bình, Lượm của Tố Hữu, mấy bài của Huy Cận… Bởi thế, chúng tôi cũng không đưa vào nhóm thơ hay nhất. Riêng Định Hải, chúng tôi loại bỏ hầu hết những bài thơ từng đưa vào sách giáo khoa tiểu học, thay vào đó là 6 bài (ít ra là hay nhất của ông?): Lấy đường cho em, Trăng rằm, Tiếng ve, Trò chơi của biển, Cuốc mẹ cuốc con, Gọi bạn.

Sau đây là những bài thơ hay nhất còn lại: Chú bò tìm bạn, Đàn gà mới nở (Phạm Hổ), Hoa mơ (Ngô Quân Miện). Thương ông (Tú Mỡ), Bé nhìn biển, Bà (Trần Mạnh Hảo), Ngưỡng cửa (Bằng Việt), Chợ chim (Hữu Thỉnh), Quê hương (Đỗ Trung Quân), Đêm qua chim chích ngủ đâu (Nguyễn Hoàng Sơn), Chuyện cổ tích về loài người, Bầu trời trong quả trứng (Xuân Quỳnh), Cánh cửa nhớ bà (Đoàn Thị Lam Luyến), Nhà không có bố (Nguyễn Thị Mai), Ngày hôm qua đâu rồi (tên khác: Bóc lịch – Bế kiến quốc ), Mẹ vắng nhà ngày bão (Đặng Hiển), Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm), Cả nhà đi học, Con chuồn chuồn đẹp nhất (Cao Xuân Sơn), Mẹ và cô, Ong mật rừng U Minh (Trần Quốc Toàn), Nhà bố ở (Nguyễn Thái Vận), Đồng hồ báo thức (Hoài Khánh), Cánh cam lạc mẹ (Ngân Vịnh), Đi làm nương (Nguyễn Thị Hường Lý), Sang năm con lên bảy (Vũ Đình Minh), Điện, Biển (Đặng Hấn), Trong căn nhà vàng (Nguyễn Thái Dương), Với con (Bùi Việt Mỹ), Đôi bạn, Sợi dây phơi (Hoàng Tá), Cây quên mình (Đàm Chu Văn), Chuyện bên hồ (Phạm Đông Hưng), Cháu nghe câu chuyện của bà (Ngân Vịnh), Ngày hội rừng xanh, Qua cầu (Vương Trọng), Cây rơm, Cua càng thổi xôi (Nguyễn Ngọc Phú), Buổi tối trong vườn, Tiếng khóc bên vệ đê (Thanh Hào), Nhổ tóc sâu (Bùi Công Tường), Tiếng chim (Nguyễn Châu), Đám mưa con (Phi Tuyết Ba), Cơm lam (Lò Ngân Sủn), Cái roi ngày ấy (Đinh Phạm Thái), Chị (Kim Ba), Gạo tắm (Nguyễn Lãm Thắng), Ruộng bậc thang (Nguyễn Đức Quang). 

Những bài thơ hình như chưa được in sách, xin giới thiệu Nắng tương (Hoàng Anh Tuấn – Báo Văn nghệ, 22-7-2017 và bài Tiếng đêm của Nguyễn Thế Vinh (Tạp chí Sông Châu, tỉnh Hà Nam, số 7+8 – 2019). Các bài Cây bên đường (Bùi Đức Khiêm), Bóng cây (Thái Vĩnh Linh) không rõ in ở đâu. Nguyên văn Cây bên đường: “Con đường nằm ở giữa/ Hai hàng cây hai bên/ Buổi sáng, khi mặt trời lên/ Hàng cây bên này/ Ngả bóng sang che cho bạn// Buổi chiều, khi mặt trời chưa lặn/ Hàng cây bên ấy/ Lại rủ bóng sang bên này// Ngày lại ngày/ Con đường nằm ở giữa/ Nhìn hàng cây che bóng mát cho nhau”. Bóng cây: “Hòn đảo không có cây, Trắng một màu đất, cát /Cầm súng gác đêm ngày/ Bố là cây bóng mát// Mênh mông bên bờ biển/ Trời xanh không gợn mây/ Giữa trưa hè đồng muối, Mẹ cũng là bóng cây…”

Chúng tôi chú ý đến thơ viết cho trẻ em của nhà thơ Lê Thị Mây. Trong tập thơ chọn lọc Hoa phượng sân trường (Nxb Văn học, 2024) bà gửi đến các em 259 bài thơ. Số bài thật hay một cách trọn vẹn không nhiều như mong đợi (nếu muốn chọn một số bài thì phải sửa câu, cắt đoạn…), nhưng phải nói rằng đó là thơ của một tác giả tài hoa. Bà có nhiều câu thơ hay. Chẳng hạn: “Bếp tro nhóm lửa tưng bừng/ Mùa đông ngậm một củ gừng xuýt xoa, hoặc Sao mai ướt đẫm tiếng gà/ Trắng đêm mẹ thức bóng nhòa ngọn cau hoặc Mẹ ơi áo mẹ nắng mưa/ Đầu hôm mẹ giặt vạt vừa nhúng trăng/ Sâu thơi miệng giếng no rằm/ Dây tình con nối tháng năm múc đầy”. Thơ Lê Thị Mây gián tiếp nhắc bạn nghề nên chú ý đến câu thơ, dẫu rằng làm được câu thơ hay cho trẻ em là rất khó. Một số câu thơ hay của tác giả này hướng đến độc giả lớn tuổi. 

Riêng trường hợp cá nhân tôi, xét về thơ hay, tôi tự loại bỏ bài Tắc kè hoa, mặc dù đã được tuyển chọn vào sách giáo khoa tiểu học, lại trùng tên với một tập thơ cùng tác giả, kể cả bài Mượn ông cái kính, bởi đó là những bài thơ bình thường. Không bàn đến thơ đố, thì ngoài một số bài thơ hay, khi nói đến thơ trên mức hay (ít ra là đối với riêng một tác giả) thì tôi thấy, trong khoảng ba trăm bài thơ đã xuất bản trong năm mươi năm qua, có các bài: Quà của bố, Đất đi chơi biển, Cỏ may bền bỉ, Bạn cõng thầy cõng, Kỉ niệm hiếm có, Đường trên suối dưới, Ngẫu nhiên gặp gỡ, v.v. (trong các tập thơ Đất đi chơi biển – 2007, Thềm trăng trải chiếu – 2020, Tay con tay mẹ – 2024),.v.v. Mong được bạn đọc minh định.

Lời kết

Qua khảo sát tìm thơ hay dành cho trẻ em, chúng tôi thấy khoảng cách từ tổng số các bài thơ (trong đó có thơ hay) đến số lượng bài thơ hay nhất là rất xa: 1.699 lượt bài → khoảng 70 bài. Đã nói đến thơ hay thì nên có ít dòng nói đến thơ yếu kém, để tìm ra nguyên nhân để tránh, nhằm tăng số lượng thơ hay và thơ hay nhất.

Một là, thơ tả cảnh thiên nhiên, kể việc quen mòn, lặp lại quá nhiều, ít mạnh dạn sáng tạo, đổi mới. Tràn lan hình ảnh mùa hè với tiếng ve, hoa phượng đến trăng sáng, cơn mưa, sóng biển… Bằng biện pháp nghệ thuật đồng thoại truyền thống ít đổi mới, hình ảnh những con vật: khỉ, hổ, sóc, cáo… (thú hoang) đến gà, chó, mèo, thỏ, lợn, chuột… hoạt động sôi nổi – như người có mặt thường xuyên trên nhiều trang thơ. Trong khi đó, thơ về đời sống hiện thực, các quan hệ gia đình, nhà trường, xã hội đầy ấm áp hoặc xót thương lại không được chú ý một cách thỏa đáng. 

Hai là, thơ có tính giáo dục, nhưng nhiều khi khuyên răn lộ liễu, mang tư tưởng chính trị khô khan mà xem nhẹ tư tưởng nghệ thuật (hoặc không có tư tưởng gì), dẫn đến thơ chỉ tả suông, kể nhạt, ngay cả chức năng giải trí vừa chơi vừa học cũng không đạt.

Ba là, người viết không xác định rõ ràng nấc bậc lứa tuổi bạn đọc trẻ thơ, để hướng đến khi suy nghĩ và sáng tạo. Sách tuyển xếp chung thơ dành cho tuổi rất bé vào thơ tuổi đã lớn. Tác giả đưa vào sách riêng cũng lầm lẫn như thế. Nên hiểu rằng, cùng một bài thơ, có thể sẽ chẳng hấp dẫn gì đối với lứa tuổi bé nhất mà lại cuốn hút trẻ tuổi mười hai, mười bốn.

Bốn là, nhiều tác giả ít duyên với thơ viết cho trẻ em, nghèo về tâm hồn, không chăm chút kỹ năng, đôi khi có viết (hoặc viết nhiều đi nữa), vẫn chỉ cho ra sản phẩm yếu hoặc trung bình, nhưng hễ có dịp nhà xuất bản hoặc hội đoàn nào ra “tuyển thơ thiếu nhi” là ông/ bà hăng hái gửi bài. Bài yếu kém, choán phần lớn là vậy.

Năm là, hiện nay, tác giả thơ viết cho trẻ em hầu hết là người trẻ, rất trẻ xuất hiện nhiều do xã hội, hội đoàn kêu gọi, cỗ vũ. Đáng mừng, nhưng cũng nên bình tĩnh xem xét lại. Sách bây giờ dễ in. Báo ở trung ương không nhiều thì thơ rút về công bố ở báo, tạp chí tỉnh nhà. Tác phẩm yếu kém và trung bình là chính. Phải chăng viết thơ hay cho trẻ thơ, phần lớn lại vẫn là những tác giả trên trung niên và đứng tuổi?

Phạm Đình Ân




Nguồn: Arttimes.vn

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng “chuyện ấy” sẽ tăng đáng kể


Testosterone là hormone quan trọng đối với sức khỏe nam giới, ảnh hưởng đến mọi thứ, từ khối lượng cơ bắp, mật độ xương đến ham muốn tình dục và tâm trạng. Vì vậy, hãy làm 10 điều dưới đây thường xuyên để cải thiện “bản lĩnh” phái mạnh.

1. Tập thể dục

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 1

Theo trang Northwestern Medicine, nghiên cứu cho thấy, nồng độ testosterone tăng trong thời gian ngắn sau khi tập thể dục từ 15 phút đến 1 giờ, tùy theo thể trạng của từng người. Nam giới trẻ tuổi sẽ đạt được mức tăng cường sinh lý mạnh hơn sau khi tập thể dục. Nồng độ testosterone cũng thay đổi theo thời gian trong ngày, thường cao hơn vào buổi sáng và thấp hơn vào buổi chiều.

Đi bộ hoặc tập một số bài tập vận động hằng ngày ngoài tác dụng giảm viêm, cải thiện lưu lượng máu còn giúp tăng ham muốn tình dục. Tập thể dục cũng có thể làm tăng sản xuất endorphin tự nhiên, giúp nam giới cảm thấy bình tĩnh hơn.

Nam giới nên cố gắng duy trì tập thể dục 30 phút các ngày trong tuần. 

2. Ăn sô cô la đen

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 2

Cacao giàu magie và chất chống oxy hóa flavonoid, có thể giúp tăng cường testosterone. Ngoài ra, sô cô la chứa nhiều chất có tác dụng cải thiện tâm trạng và sản sinh năng lượng. 

3. Giảm căng thẳng

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 3

Căng thẳng mãn tính khiến nồng độ testosterone thấp. Cách tốt nhất để khắc phục tình trạng này là học cách kiểm soát tâm trạng.

Nam giới hãy duy trì các thói quen hằng ngày như viết nhật ký, tập hít thở đều, thực hành chánh niệm, thiền định, yoga nhẹ nhàng và thậm chí cầu nguyện. Những điều này đã được chứng minh là có thể làm giảm đáng kể trạng thái hoạt động quá mức của hệ thần kinh giao cảm và tạo ra cảm giác thư giãn.

4. Ngủ đủ giấc

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 4

Giấc ngủ rất quan trọng. Đã có một số nghiên cứu cho thấy, thiếu ngủ ảnh hưởng tiêu cực đến testosterone. Vì vậy, hãy đảm bảo bạn được nghỉ ngơi đầy đủ. Các chuyên gia khuyên bạn nên ngủ đủ 7-9 giờ mỗi đêm để tim, não, quá trình trao đổi chất và ham muốn tình dục hoạt động tối ưu.

5. Giảm cân

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 5

Những người thừa cân và béo phì có tình trạng viêm nhiễm gia tăng gây mất cân bằng hormone và do đó có thể dẫn đến giảm ham muốn tình dục. Lời khuyên của chuyên gia là duy trì cân nặng ở mức khỏe mạnh bằng cách tập thể dục thường xuyên và áp dụng chế độ ăn uống cân bằng.

6. Tránh thực phẩm chế biến sẵn

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 6

Hầu hết các loại thực phẩm chế biến sẵn đều chứa hóa chất làm thay đổi hormone có thể gây hại cho testosterone.

Thay vì ăn thực phẩm đóng gói, quý ông nên bổ sung vào chế độ ăn các thực phẩm lành mạnh như củ cải đường, rau bina; thực phẩm giàu lycopene như cam quýt và cà chua; thực phẩm giàu flavonoid như sô cô la đen, quả việt quất, dâu tây và trà xanh.

7. Ăn hàu và bơ

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 7

Hàm lượng kẽm cao trong hàu có thể làm tăng testosterone. Hàu còn chứa dopamine, một loại hormone được biết đến với tác dụng tăng ham muốn tình dục. Hàu và hầu hết các loại động vật có vỏ cũng chứa arginine, một loại axit amin mà cơ thể sử dụng để sản xuất oxit nitric. Oxit nitric sẽ làm giãn nở mạch máu, tương tự như thuốc điều trị rối loạn cương dương Viagra, từ đó làm tăng ham muốn tình dục.

Ngoài ra, quả bơ cũng rất giàu vitamin B6, giúp tăng sản xuất hormone và tăng cường ham muốn tình dục cho cả hai giới.

8. Giảm tiếp xúc với độc tố

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 8

Độc tố là một tác nhân khác có thể ảnh hưởng đến việc sản xuất hormone của cơ thể. Hãy loại bỏ các hóa chất độc hại khỏi các thói quen chăm sóc bản thân và nhà cửa của bạn.

Một trong những chất độc phổ biến là nhựa. Nhựa thường chứa bisphenol A (BPA), một chất gây rối loạn nội tiết có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến cơ quan sinh sản và hormone của chúng ta, đặc biệt là ngực ở phụ nữ và tuyến tiền liệt ở nam giới. Một số sản phẩm chăm sóc cá nhân cũng chứa paraben và phthalate, vì vậy hãy đọc kỹ nhãn và tránh các sản phẩm chỉ ghi “hương liệu”, vì thuật ngữ chung này đôi khi có nghĩa là phthalate.

9. Ăn rau lá xanh đậm

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 9

Chế độ ăn nhiều rau lá xanh, củ cải đường, trái cây họ cam quýt là cách tuyệt vời để tăng sản xuất testosterone.

10. Lựa chọn sử dụng thực phẩm bổ sung

Quý ông làm được 10 điều này, khả năng "chuyện ấy" sẽ tăng đáng kể - 10

Mặc dù tốt hơn hết là nên bổ sung chất dinh dưỡng từ thực phẩm, nhưng nếu bạn cảm thấy chế độ ăn uống không đủ thì axit D-aspartic, kẽm và magiê đã được chứng minh là có thể giúp tăng nồng độ testosterone.

Thực phẩm bổ sung vitamin tổng hợp, vitamin D và K, kẽm, magie, omega-3, men vi sinh, B12, folate và vitamin nhóm B sẽ giúp ích cho bạn. Tuy nhiên, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.



Nguồn: Arttimes.vn

Phác họa diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam


Bộ sách “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” gồm 5 quyển, do nhóm tác giả Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hồng Phong, Vũ Ngọc Phan biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản, phát hành là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học bền vững, hệ thống hóa một cách sâu sắc diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX.

Văn học, nghệ thuật là một thành tố thiết yếu của văn hóa, có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của cộng đồng. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng ta đã luôn đề cao vị trí đặc biệt của văn học, nghệ thuật trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời kiên trì quan điểm phát triển lĩnh vực này trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, gắn liền với việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong tiến trình ấy, công tác nghiên cứu và hệ thống hóa lịch sử văn học Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng nền tảng tinh thần của xã hội.

Xuất phát từ nhận thức ấy, nhiều công trình nghiên cứu lịch sử văn học đã ra đời nhằm khái quát tiến trình hình thành, phát triển, đồng thời đánh giá những thành tựu và hạn chế của nền văn học nước nhà.

Phác họa diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam - 1

Bộ sách “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản, phát hành gồm 5 quyển. Ảnh: NXB Chính trị quốc gia Sự thật

Trong đó, “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” là một trong những công trình tiêu biểu. Bộ sách là kết quả của quá trình khảo cứu công phu cả văn học thành văn và văn học truyền miệng, đặt các tác phẩm trong mối quan hệ chặt chẽ với bối cảnh lịch sử, đời sống xã hội và nền tảng văn hóa dân tộc. Qua đó, công trình làm nổi bật bản sắc, sức sống và nguồn nội lực văn hóa Việt Nam được bồi đắp qua nhiều thế kỷ.

Dù mang tên “sơ thảo” nhưng bộ sách không giản lược, mà thể hiện một tầm vóc học thuật lớn, với nhiều điểm khác biệt căn bản so với các sách lịch sử văn học cùng nội dung xuất hiện trước và sau đó.

Bộ sách gồm 5 quyển, mỗi quyển đảm nhiệm một giai đoạn hoặc một phương diện quan trọng của lịch sử văn học dân tộc.

Quyển I “Phần ngữ ngôn văn tự và văn học truyền miệng” tập trung khảo cứu những thành tố khởi nguyên của văn học Việt Nam. Trong đó, phần thứ nhất trình bày lịch sử hình thành và phát triển của tiếng nói, chữ viết Việt Nam – chất liệu căn bản của văn học, gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của người dân. Phần tiếp theo khảo cứu văn học truyền miệng – bộ phận cổ xưa nhất và giàu tính nhân dân nhất của văn học Việt Nam, với các thể loại như ca dao, tục ngữ, thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn…

Quyển II “Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVI” chia thành hai thời kỳ: từ thế kỷ XV trở về trước và từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII, tập trung làm rõ bối cảnh lịch sử, đặc điểm văn học từng thời kỳ, cũng như sự phát triển của văn học chữ Hán và chữ Nôm.

Phác họa diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam - 2

Đây là công trình hệ thống hóa toàn diện diện mạo và dòng chảy văn học Việt Nam từ khởi từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX. Ảnh: NXB Chính trị quốc gia Sự thật

Quyển III và Quyển IV tiếp tục phác họa diện mạo văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – một giai đoạn rực rỡ nhưng đầy biến động. Trong bối cảnh xã hội phong kiến khủng hoảng, nhiều tác gia lớn đã để lại những đỉnh cao nghệ thuật, phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội với những mâu thuẫn, bất công. Tiêu biểu là các truyện Nôm khuyết danh như: “Thạch Sanh”, “Phạm Tải – Ngọc Hoa”, “Quan Âm Thị Kính”; các tác phẩm văn học dân gian như “Trạng Quỳnh”, “Trạng Lợn”; cùng những tác phẩm nổi bật như “Hịch Tây Sơn”, “Phú Hầu Tạo”, “Chinh phụ ngâm khúc”, “Cung oán ngâm khúc”, “Truyện Hoa Tiên”, các tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương và đặc biệt là “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du.

Quyển V tập trung vào nửa đầu thế kỷ XIX, thời kỳ triều Nguyễn mới thành lập. Qua việc phân tích các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Lý Văn Phức, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu… như “Mai đình mộng ký”, “Truyện Bích Câu kỳ ngộ”, “Đại Nam quốc sử diễn ca”, “Lục súc tranh công”, “Tự tình khúc”, “Trần tình văn”… bộ sách cho thấy sự phong phú về thể loại và sự tiếp nối, phát triển bền bỉ của các hình thức văn học dân tộc như thơ lục bát, song thất lục bát, truyện Nôm.

Dù do nhiều học giả khác nhau biên soạn, nhưng các công trình đều thống nhất ở quan điểm tôn vinh tinh hoa văn học gắn với ý thức dân tộc. Bên cạnh đó là sự nghiêm cẩn khoa học và cách đặt văn học Việt Nam trong đối sánh với văn học thế giới, qua đó khẳng định bản sắc riêng trong dòng chảy chung của văn minh nhân loại.

Với cấu trúc khoa học, mạch lạc và tinh thần học thuật nghiêm túc, “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” không chỉ là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập, mà còn góp phần khơi dậy niềm tự hào, ý thức gìn giữ và phát huy di sản văn hóa, văn chương của dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Ngụm chiều vàng óng


Những mùa hè thơ ấu, hôm nào nhìn thấy bóng bà ngoại đi chợ về từ đầu phố, một tay xách làn mây hình tròn có nắp đậy, tay kia cầm hai xóc cua đồng, là tôi nhảy chân sáo ríu rít ra đón, cầm giúp bà hai xóc cua. Tôi quan sát bọn cua xếp hàng theo thứ tự con bé ở trên, con to dần ở dưới, giương mắt thao láo. Chắc chúng ấm ức, khó chịu lắm, vì con nào con nấy bị kẹp chặt giữa hai cặp que tre nhỏ như đôi đũa, buộc chắc bằng rơm hoặc lạt mềm. Lũ cua đồng màu nâu ánh vàng, chắc nịch, vẫn còn lấm bùn, cứ cố gắng ngọ nguậy, hòng thoát thân.

Tôi mê món canh cua khoai sọ rau muống rau rút của bà tôi. Thích ăn đã đành, nhưng thích hơn là được nhìn bà chế biến món canh có vẻ đơn giản mà khá mất công và tuyệt ngon này. Bà có một cái cối đá xanh to, lòng cối nhẵn bóng, phía ngoài xù xì, nằm úp vào viên gạch gần bể nước. Nó nặng đến nỗi, mỗi khi lật lên, rửa sạch rồi vần ra để giã cua bằng một cái chày gỗ nâu bóng, bà vẫn phải nhờ ai đó giúp một tay.

Tôi thường được bà phân công khều gạch từ mai cua ra cái bát ăn cơm sứ Hải Dương cũ kĩ, miệng bát mẻ một miếng tí xíu. Ngày xưa, những cái bát mẻ thường chưa bị vứt đi ngay, mà được bà tôi giữ lại dùng vào vô số việc linh tinh, như thay cái cối nhỏ để giã mấy nhánh tỏi hay miếng nghệ, miếng gừng bằng chuôi con dao bài, hoặc đựng gạch cua thế này. Tôi chọn que tăm cật thật cứng, kì cạch ngồi khều gạch từ những mai cua vàng ú ụ. Bà bảo, con nào gạch vàng sẫm là con ấy béo. Tôi tự hỏi, không hiểu tại sao con cua chả có tí mỡ nào lại được gọi là béo nhỉ?! Bà phi hành mỡ, chưng gạch cua lên thơm lừng. Sau đó, bà cẩn thận lọc nước cua mấy lần qua cái rá, để khi ăn miếng gạch cua mịn như miếng thạch mới ưng. Trước khi bắc nồi nước cua lên bếp, phải chuẩn bị rau ríu sẵn sàng. Bà thường chọn rau muống cạn, cọng nhỏ, lá thon, rửa sạch rồi vặn ra đôi ba khúc. Khi chín tới, rau muống giòn, ngọt, xanh mướt. Rau rút chỉ nhặt lấy đọt và lá non. Lột lớp vỏ bông mềm bao quanh cuống, lộ ra đọt rau xanh nhạt như được phủ phấn mỏng, khẽ ngắt ra, kêu “tách” một tiếng, tức là đọt rau ấy “báo cáo” nó đủ tiêu chuẩn góp mặt. Nếu ẩu, nhặt qua loa, hoặc tiếc của lấy cả đọt già, nấu lên sẽ dai ngoách. Khoai sọ nên chọn củ cái, mỗi củ mẹ đẻ thêm vài nhánh con, thì chắc thơm dẻo. Luộc khoai nguyên vỏ với mấy hạt muối. Bóc vỏ khi khoai chín sẽ không bị ngứa.

Tôi chăm chú quan sát gạch cua lững thững nổi lên từ đáy nồi khi nước bắt đầu sôi tăm tăm. Chẳng mấy chốc, đám gạch xôm xốp màu nâu nhạt đã kết vào nhau quánh đặc. Bà dặn, để nhỏ lửa thôi, kẻo gạch cua nát, bát canh nhìn mất ngon. Món nào cũng thế, không chỉ ngon miệng, mà còn phải ngon mắt nữa. Rất khẽ khàng, bà dùng đũa gạt lớp gạch sang một bên, khéo léo thả các thứ vào nồi canh, dìm xuống dưới lớp gạch, theo thứ tự: khoai sọ, rau muống trước; rau muống gần chín mới cho rau rút vào; nêm nếm vừa miệng, để sôi một tẹo nữa, rồi đổ gạch cua chưng hành mỡ lên trên cùng, là xong. Tôi thắc mắc: “Bà ơi, sao cái màu vàng chưng với hành mỡ cũng gọi là gạch cua, mà cái nâu nâu trong nồi canh cũng gọi là gạch cua hở bà?”. Bà cười, giải thích: “À, thực ra cái chưng hành mỡ mới chính là gạch cua, còn kia là thịt cua đấy, con ạ”. 

Bữa cơm mùa hè của nhà tôi giản dị mà thật ngon. Một đĩa đậu Mơ rán béo ngậy, chấm mắm dấm tỏi ớt; một bát cà pháo muối xổi giòn tan; bát canh cua khoai sọ, rau muống, rau rút thơm ngọt mát lành. Rau muống xanh thẫm; rau rút xanh nhạt; khoai sọ trắng ngà; gạch cua nâu xốp; gạch chưng vàng óng. Tất cả hoà sắc bên nhau tươi vui sinh động. Những hôm quá nóng nực, cả nhà ăn cơm chiều trên cái phản gỗ kê ngoài hiên, đón cơn gió cái thỉnh thoảng lùa tới, bứt theo vài chiếc lá sấu xanh thẫm từ vòm cây sấu già, rải lắc thắc xuống sân, rơi cả vào bể nước, bồng bềnh trôi như những con thuyền nhỏ. Trời thẫm dần sau vòm lá, từ đỏ rực, tím hồng chuyển sang tím biếc rồi ngả xám tro bảng lảng…

Cũng có lúc đổi bữa, bà tôi nấu bún riêu. Nước cua sau khi đã lọc kĩ, đun liu riu, gạch nổi bồng hết lên thì nhẹ nhàng dùng thìa vớt ra một cái bát to. Phải khéo, sao cho gạch còn nguyên miếng. Rưới gạch cua chưng hành mỡ lên bát gạch nâu. Tiếp tục phi hành mỡ, chưng một phần cà chua bóc vỏ dầm nhuyễn làm màu cho riêu; phần còn lại bổ cau, đảo sơ trong dấu chảo để lớp vỏ cà chua đỏ thắm bóng láng, sau còn làm duyên cho bát bún. Nêm dấm bỗng chua dìu dịu, mắm muối đậm đà, rồi cho cà chua chưng và những miếng cà chua bổ cau vào, đun thêm chút nữa là được. Bày bún tươi trắng ngần trong bát, xắn thìa gạch cua, thêm vài miếng đậu thái quân cờ, rán giòn, rắc hành tăm xắt nhỏ, đầu hành chẻ cong cong, chan nước riêu cua, ăn kèm với rau diếp, tía tô, húng Láng, mùi ta thái rối, rau muống chẻ, hoa chuối non bào mỏng. Ai thích có thể hòa thêm một đầu đũa mắm tôm, một chút ớt bột chưng rồi hẵng xuýt xoa thưởng thức. Nếu không ăn bún, thì ăn cơm. Múc riêu ra bát tô, gạch bồng bềnh, lấp lánh như sao sa; những miếng cà chua đỏ loang loáng ẩn hiện; những đốm hành xanh thắm tung tăng. Lại đĩa đậu rán vàng ươm bên đĩa rau sống non mướt. Thế là thành mâm cơm thanh mát, xua đi cái nóng nôi ngày hè. Chao ôi là ngon! Nhìn bát riêu cua mới thực hiểu cụm từ “màu mỡ riêu cua” khi đặt trong một ngữ cảnh nào đó. Nó lúng liếng, hấp dẫn, mời mọc, khó mà từ chối được. Ăn một muốn ăn hai; no kềnh càng ra rồi vẫn xin thêm bát nữa. 

Ngụm chiều vàng óng - 1

Ảnh minh họa.

Mùa hè ấy ở Paris nóng hầm hập bất thường. Người Paris không kịp chuẩn bị gì cho cái nóng. Hầu như chẳng nhà ai lắp điều hoà nhiệt độ hay quạt máy. Họ lao về những bãi biển miền Nam. Ai không có điều kiện đi nghỉ thì ra bãi cát nhân tạo bên sông Seine hóng gió. Paris trở nên yên vắng. Tôi mượn được một chiếc xe đạp Pegeuot màu xanh đã cũ. Từ chỗ tôi ở, guồng dăm bảy phút là ra đến sông Seine. Buổi sáng, tôi thường đạp xe dọc bờ sông. Thấy nhớ Hà Nội vô cùng, vì đường phố Paris có nhiều góc gợi về Hà Nội. Tôi đã đạp xe miên man qua bao dấu vết quá khứ, qua những hoài niệm dịu dàng, mà day dứt không nguôi. Cái nóng khiến tôi bỗng thèm một bát canh cua đến thế! Đương nhiên là chẳng lấy đâu ra cua đồng.

Tôi từng được Thuỷ, cô bạn thân từ thời sinh viên, giờ sống ở Boulogne Billancourt, nấu riêu cua cho ăn. Thuỷ theo chồng sang Paris từ năm 1996. Cô ấy vốn tháo vát, nhanh nhẹn, nhưng hồi ở Việt Nam chỉ nấu nướng đơn giản. Từ ngày xa quê, Thuỷ trở thành đầu bếp Michelin tại gia, tỉ mẩn cầu kì. Thuỷ trồng tía tô, rau răm trong hộp xốp ngoài ban công, tráng bánh cuốn bằng chảo mỏng chuyên để rán bánh creepe, nấu phở, làm giò chả rất ngon… Thuỷ xoay đủ cách nấu những bữa ăn đúng hương vị Việt. Thuỷ mách tôi, ở Tang Frères quận Mười Ba có bán hộp vị cua Thái Lan, cũng tạm được. Rồi cô ấy bày cho tôi cách nấu riêu cua không cua, thay bằng tôm, khá ổn. Mua tôm biển đồ sẵn ở siêu thị về, bóc vỏ bỏ đầu. Phần nõn tôm để trộn salad hoặc xào rau xào miến. Vỏ tôm và đầu tôm xay ra, lọc lấy nước. Nước đầu tôm ngọt lừ, khi đun sôi lim dim, gạch tôm đỏ hồng cũng nổi lên, tuy không thể nhiều như gạch cua được. Hớt váng gạch ra trộn cùng thịt xay, óc đậu, một quả trứng gà, vị cua Thái Lan, rồi chưng với hành mỡ là được một hỗn hợp gần giống gạch cua. Nước đầu tôm cho cà chua chưng, sấu đông lạnh vì không có dấm bỗng. Hành xanh bên tây lá hơi to, có khi bằng cái đũa, nhưng rắc chút màu xanh ấy loáng thoáng là thấy bóng hình bát riêu duyên dáng của bà ngoại tôi rồi. Rau xà lách tây cứng quèo; tía tô tây lá chỉ hồng hồng; mùi tây cọng dài lộ cộ; lá bạc hà thay cho húng Láng; không bói đâu ra rau muống chẻ. Thôi đành! Cuối cùng cũng được một bát canh riêu, đĩa rau sống thái rối, gần giống phiên bản Hà Nội, ăn được, và quan trọng là nó làm đỡ cơn “nghiền” quá khứ, xoa dịu nỗi nhớ nhà. Tôi đạp xe vòng ra tận chợ Tầu, tìm mua được hộp vị cua Thái Lan cùng đủ thứ gia vị nấu một bữa canh riêu cho bữa tối, cứ thấy vui vui, khấp khởi, như sắp gặp lại bạn hiền. 

Trong một bài thơ về Paris, tôi viết: “Trên căn áp mái/ áp má mặt trời áp gió/ hướng Tây cửa sổ mở chạm mây hôi hổi/ bữa tối đầy nắng/ nhấp hoàng hôn/ ngụm chiều vàng óng…”. Mùa hè Paris, tám giờ tối nắng còn tràn lênh láng. Thêm món nắng chiều đầy ắp bữa tối của chúng tôi. Một luồng sáng rọi tới cõi xưa, nơi cái Na ngồi thích thú ngắm món riêu lấp lánh bà ngoại vừa dọn ra, quên cả ăn, khiến bà phải giục: “Ăn đi con, để nguội là mất ngon!”. Cái Na vâng dạ đấy, mà vẫn nhẩn nha nâng niu một góc trời chiều trên tay. Nó mơ màng tự nhủ: “Mình được nếm hoàng hôn”.

Tản văn của Nguyễn Bảo Chân




Nguồn: Arttimes.vn

Phác họa diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam


Bộ sách “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” gồm 5 quyển, do nhóm tác giả Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hồng Phong, Vũ Ngọc Phan biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản, phát hành là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học bền vững, hệ thống hóa một cách sâu sắc diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX.

Văn học, nghệ thuật là một thành tố thiết yếu của văn hóa, có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của cộng đồng. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Đảng ta đã luôn đề cao vị trí đặc biệt của văn học, nghệ thuật trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời kiên trì quan điểm phát triển lĩnh vực này trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, gắn liền với việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong tiến trình ấy, công tác nghiên cứu và hệ thống hóa lịch sử văn học Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng nền tảng tinh thần của xã hội.

Xuất phát từ nhận thức ấy, nhiều công trình nghiên cứu lịch sử văn học đã ra đời nhằm khái quát tiến trình hình thành, phát triển, đồng thời đánh giá những thành tựu và hạn chế của nền văn học nước nhà.

Phác họa diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam - 1

Bộ sách “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản, phát hành gồm 5 quyển. Ảnh: NXB Chính trị quốc gia Sự thật

Trong đó, “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” là một trong những công trình tiêu biểu. Bộ sách là kết quả của quá trình khảo cứu công phu cả văn học thành văn và văn học truyền miệng, đặt các tác phẩm trong mối quan hệ chặt chẽ với bối cảnh lịch sử, đời sống xã hội và nền tảng văn hóa dân tộc. Qua đó, công trình làm nổi bật bản sắc, sức sống và nguồn nội lực văn hóa Việt Nam được bồi đắp qua nhiều thế kỷ.

Dù mang tên “sơ thảo” nhưng bộ sách không giản lược, mà thể hiện một tầm vóc học thuật lớn, với nhiều điểm khác biệt căn bản so với các sách lịch sử văn học cùng nội dung xuất hiện trước và sau đó.

Bộ sách gồm 5 quyển, mỗi quyển đảm nhiệm một giai đoạn hoặc một phương diện quan trọng của lịch sử văn học dân tộc.

Quyển I “Phần ngữ ngôn văn tự và văn học truyền miệng” tập trung khảo cứu những thành tố khởi nguyên của văn học Việt Nam. Trong đó, phần thứ nhất trình bày lịch sử hình thành và phát triển của tiếng nói, chữ viết Việt Nam – chất liệu căn bản của văn học, gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của người dân. Phần tiếp theo khảo cứu văn học truyền miệng – bộ phận cổ xưa nhất và giàu tính nhân dân nhất của văn học Việt Nam, với các thể loại như ca dao, tục ngữ, thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn…

Quyển II “Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVI” chia thành hai thời kỳ: từ thế kỷ XV trở về trước và từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII, tập trung làm rõ bối cảnh lịch sử, đặc điểm văn học từng thời kỳ, cũng như sự phát triển của văn học chữ Hán và chữ Nôm.

Phác họa diện mạo và tiến trình phát triển của văn học Việt Nam - 2

Đây là công trình hệ thống hóa toàn diện diện mạo và dòng chảy văn học Việt Nam từ khởi từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX. Ảnh: NXB Chính trị quốc gia Sự thật

Quyển III và Quyển IV tiếp tục phác họa diện mạo văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – một giai đoạn rực rỡ nhưng đầy biến động. Trong bối cảnh xã hội phong kiến khủng hoảng, nhiều tác gia lớn đã để lại những đỉnh cao nghệ thuật, phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội với những mâu thuẫn, bất công. Tiêu biểu là các truyện Nôm khuyết danh như: “Thạch Sanh”, “Phạm Tải – Ngọc Hoa”, “Quan Âm Thị Kính”; các tác phẩm văn học dân gian như “Trạng Quỳnh”, “Trạng Lợn”; cùng những tác phẩm nổi bật như “Hịch Tây Sơn”, “Phú Hầu Tạo”, “Chinh phụ ngâm khúc”, “Cung oán ngâm khúc”, “Truyện Hoa Tiên”, các tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương và đặc biệt là “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du.

Quyển V tập trung vào nửa đầu thế kỷ XIX, thời kỳ triều Nguyễn mới thành lập. Qua việc phân tích các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Lý Văn Phức, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu… như “Mai đình mộng ký”, “Truyện Bích Câu kỳ ngộ”, “Đại Nam quốc sử diễn ca”, “Lục súc tranh công”, “Tự tình khúc”, “Trần tình văn”… bộ sách cho thấy sự phong phú về thể loại và sự tiếp nối, phát triển bền bỉ của các hình thức văn học dân tộc như thơ lục bát, song thất lục bát, truyện Nôm.

Dù do nhiều học giả khác nhau biên soạn, nhưng các công trình đều thống nhất ở quan điểm tôn vinh tinh hoa văn học gắn với ý thức dân tộc. Bên cạnh đó là sự nghiêm cẩn khoa học và cách đặt văn học Việt Nam trong đối sánh với văn học thế giới, qua đó khẳng định bản sắc riêng trong dòng chảy chung của văn minh nhân loại.

Với cấu trúc khoa học, mạch lạc và tinh thần học thuật nghiêm túc, “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” không chỉ là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập, mà còn góp phần khơi dậy niềm tự hào, ý thức gìn giữ và phát huy di sản văn hóa, văn chương của dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Trào dâng cảm thức trước “Cuồn cuộn Sê Pôn”


Tiểu thuyết là một loại văn xuôi đặc biệt, nó được ví như vũ khí trọng pháo của quân đội. Với cả một sư đoàn chữ nghĩa hùng hậu, nhà văn có thể triển khai các phương án tác chiến để giành lấy cứ điểm, mục tiêu đã định của mình. Nhà văn Ma Văn Kháng đã từng nói đại ý nếu chưa viết được một cuốn tiểu thuyết thực sự, có chất lượng cả về nội dung sâu sắc và nghệ thuật hấp dẫn được bạn đọc công nhận thì chưa phải là nhà văn thực sự.

Quả đúng là như vậy. Là nhà văn ai chẳng đã từng mơ viết được một cuốn tiểu thuyết như thế. Vậy mà nhà văn Vũ Quốc Khánh ở Phú Thọ đã có tới 7 cuốn tiểu thuyết, cuốn nào cũng sừng sững, đồ sộ và ông đã ẵm nhiều giải của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an qua các cuộc thi sáng tác tiểu thuyết. Mới đây, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân lại tiếp tục cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết Cuồn cuộn Sê Pôn là cuốn tiểu thuyết thứ 8, mới nhất của nhà văn Vũ Quốc Khánh.   

Với 264 trang sách, Cuồn cuộn Sê Pôn đã thực sự cuốn hút tôi từ trang đầu cho đến trang cuối. Tôi đã đọc ngấu nghiến trọn vẹn cuốn sách này rồi sững sờ thốt lên: Lão này kiến văn khủng khiếp thật! Không đi vào những câu chuyện, chi tiết đời thường trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu của người lao động và chiến sỹ như những cuốn tiểu thuyết trước, Cuồn cuộn Sê Pôn đã nâng lên ở tầm cao mới. Cũng viết về chiến tranh cách mạng nhưng ở tầm vĩ mô, chiến dịch và chiến lược. Để viết được điều này, tác giả phải có bộ óc tổng hợp, đứng cao nhìn rộng, bao quát khá toàn diện, phải ghi chép tỉ mỉ, dày công sưu tầm tư liệu và đặc biệt phải trải nghiệm, là người trong cuộc, am hiểu người lính cả hai phía mới có được những trang văn sống động, tái hiện lại cuộc chiến địch – ta trong một chiến dịch lớn như thế – Chiến dịch đường 9 Nam Lào.

Trào dâng cảm thức trước “Cuồn cuộn Sê Pôn” - 1

“Cuồn cuộn Sê Pôn” là cuốn tiểu thuyết thứ 8 của nhà văn Vũ Quốc Khánh.   

Cuồn cuộn Sê Pôn kể về Chiến dịch phản công đường 9 Nam Lào của Quân giải phóng miền Nam được mở ra nhằm đánh bại cuộc “Hành quân Lam Sơn 719” của Mỹ ngụy. Đó là cuộc đối đầu lịch sử giữa những bộ óc hiếu chiến, đại diện cho thế lực của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy với dân tộc chúng ta. Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận tải chiến lược, mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ. 

Không gian tiểu thuyết trải rộng từ bản Seo Sơn, Bách Thanh, từ trường dành cho du học sinh nước Lào tại một tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam đến các tỉnh Trung bộ, Tây Nguyên, sang cả miền Nam nước Lào, cả thủ đô Viêng Chăn bên đó nữa và tập trung nhất là mặt trận Đường 9, Nam Lào. Nó được trải dài từ giữa những năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược cho đến tận sau này, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, hòa bình. 

Nhà văn đã mô tả chi tiết, hành trình chiến dịch với những số liệu, địa danh của cả 2 bên với góc nhìn chiến lược; phân tích tỉ mỉ địch ta, tâm lý nhân vật rất sống động, cuốn hút. Vấn đề không chỉ dừng lại ở đó, nhà văn đã đẩy lên một bước, đi sâu, làm rõ căn cốt, nguyên do của chiến thắng chiến dịch này. 

Vũ Quốc Khánh rất cao tay khi để vấn đề cốt lõi đó cho chính những người phía bên kia bàn luận. Tại trường võ bị Đà Lạt, trong một buổi thuyết trình, vị “trình luận viên” nêu ra vấn đề và yêu cầu các học viên tranh luận. Đó là tại sao các tướng lĩnh và sĩ quan được đào tạo tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, hoặc chí ít cũng như trường võ bị Đà Lạt này, với cách huấn luyện chu đáo, giáo trình chiến thuật tinh túy, trải qua thực tế tại các sư đoàn thiện chiến có đủ lực lượng, phương tiện hiện đại, được các nhà hoạch định chiến tranh tài ba ở Lầu Năm góc dày công nghiên cứu như “Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” vẫn không thắng được Cộng sản Bắc Việt? Tại sao lời thề “Tổ quốc, danh dự, trách nhiệm” được tuyên thệ luôn luôn là khẩu hiệu hành động, là phương châm chiến đấu đã ngấm vào máu thịt mỗi sĩ quan và binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, thế mà khi ra trận lại chưa làm chủ được chiến trường trước Quân giải phóng? 

Rất nhiều ý kiến tham gia. Có ý kiến đưa ra “họ thắng vì có chiến lược “Chiến tranh nhân dân”. 

Để minh chứng cho điều này, nhà văn dẫn dắt độc giả qua chiến dịch “Đường 9 Nam Lào”. Từ công tác xây dựng thế trận lòng dân, đoàn kết quốc tế Việt Lào, khơi dậy lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, đến việc tổ chức quán triệt, triển khai chiến dịch. Các phương án tác chiến, trinh sát trận địa, sử dụng lực lượng, các chiến thuật đánh địch được bàn thảo kỹ càng. Nào là “bám thắt lưng địch mà đánh”, “đánh điểm, diệt viện”, nào là “phân tán pháo binh, tập trung hỏa lực”, rồi “tiền pháo hậu xung”… Tất cả được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Chính những chiến thuật này cùng với thế trận lòng dân vững chắc, chiến tranh nhân dân toàn diện, “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của ông cha ta ngày trước mà ta đã đánh thắng kẻ thù. 

Các chương 11, 12, 13 được nhà văn Vũ Quốc Khánh miêu tả thật sâu sắc, kỹ càng. Từng trận đánh trong chiến dịch hiện lên sống động trên từng trang viết. Khốc liệt, cam go, đấu trí, đấu lực biết chừng nào. 

Như vậy là “chiến tranh nhân dân” của ta đã chiến thắng các loại chiến lược của địch bằng sức mạnh của toàn dân tộc, của sức mạnh đoàn kết quốc tế (mà ở đây là mối tình thuỷ chung chiến đấu keo sơn son sắt của 2 nước Việt – Lào), của lòng yêu nước quật cường và lý tưởng cách mạng trong sáng cùng với tầm nhìn chiến lược và cách đánh chiến thuật của ta.

Không chỉ ngoan cường, dũng mãnh trong chiến đấu, Vũ Quốc Khánh còn vẽ lên khung cảnh lãng mạn, đầy chất thơ trong tình yêu của người lính cách mạng. Tình yêu quê hương đất nước, tình đồng đội sống chết có nhau, tình hậu phương với tiền tuyến lớn, giữa quân với dân và tình yêu lứa đôi, tình yêu của nhân dân các bộ tộc Lào với bộ đội và nhân dân Việt Nam. Tôi rất ấn tượng với mối tình của chàng trai nước Lào tên là Hoàng với cô gái nước Việt tên là Hà Minh Thảo. Cuộc tình này xuyên suốt cuốn tiểu thuyết.

Hoàng là lưu học sinh nước Lào học tại Việt Nam. Thảo là cô gái Mường ở vùng thượng huyện xuống học cùng lớp với Hoàng và được bầu làm lớp trưởng. Trai tài gái sắc gặp nhau. Hoàng học tập tiến bộ trở về nước hoạt động tích cực, giúp cho cách mạng Lào và bộ đội Việt Nam những tin tức quan trọng, góp phần cho thắng lợi của chiến dịch “Đường 9 Nam Lào”. Hai người cùng chiến đấu mà không hề biết tin tức của nhau nhưng vẫn luôn hướng về nhau. 

Thế rồi để cứu một anh lính Pa thét Lào, Thảo đã lấy thân mình đỡ đạn cho anh và “Thảo bị trúng nguyên cả một trái toóc-đùng, chém đứt một vai phải”, “hớt đi toàn bộ phần bả vai và cánh tay phải”, “một phần lá phổi lộ ra, nâng lên xẹp xuống, phập phồng theo từng nhịp thở”. Cả bệnh viện tập trung cứu chữa cho Thảo nhưng không được. 

Tôi đã rơi nước mắt khi đọc những trang viết đầy xúc động này của Vũ Quốc Khánh, nhất là khi anh trai Thảo đến lấy máu truyền cho cô và khi cô nhờ Xổm Khít nhẹ nhàng lấy ở túi áo ngực trái của Thảo ra một chiếc túi nhỏ màu đỏ, trong đó có tấm ảnh được ép nilon đưa cho tỉnh đội trưởng Thu Giang – cha đẻ của Hoàng. Thảo thều thào nói: “Ba… chuyển… tấm hình… này… cho… anh Hoàng hộ con… nhé…”. Hà Minh Thảo đã hy sinh anh dũng. Cô đã nằm lại trên đất nước Lào, đất nước hoa Chăm-pa tươi đẹp của người yêu của mình.     

Mối tình chiến đấu Việt – Lào qua đôi trai gái này rất lãng mạn, thuỷ chung. Họ đã hy sinh tất cả cho nhau, vì đất nước, như hai dân tộc Việt – Lào sát cánh bên nhau, đoàn kết cùng chống Mỹ. Phải chăng đó cũng là nhân tố cùng với chiến lược chiến tranh nhân dân để làm nên chiến thắng trong cuộc chiến vĩ đại này?  

Tiểu thuyết đầy ắp những tư liệu quân sự, những địa danh địa lý, cả không gian và thời gian, rất chân thực và cụ thể. Nghệ thuật dựng chuyện, tái hiện các trận chiến vừa ở tầm vĩ mô, lại vừa chi tiết ở vi mô. Từ tiếng nổ bom đạn, lửa cháy, khói súng đến tính năng, công dụng của mỗi loại vũ khí, trang bị quân sự. Từ tư thế, tác phong của người lính trong trận chiến đến tâm lý, tình cảm của hai bên địch ta trong cuộc sống, khi lâm trận và trước thời khắc sinh tử; từ tướng lĩnh đến chiến sỹ, cả bên ta và bên địch trước, trong và sau mỗi trận đánh cùng số liệu, thời gian, địa điểm… Tất cả đều ngồn ngộn hiện lên. Mỗi trang tiểu thuyết này như một trang sử thi. Không phải là người trong cuộc, không đủ tư liệu, không có tài dựng chuyện, bố cục, dẫn dắt thì không thể viết được như Vũ Quốc Khánh. Ông biết thắt mở câu chuyện, giấu chi tiết và cho nó xuất hiện đúng lúc nhất. Chính điều này đã tạo nên sự hấp dẫn của trang văn. 

Đi từ ngạc nhiên này đến ngỡ ngàng khác, tôi đã bừng thức trước Cuồn cuộn Sê Pôn. Đề tài chiến tranh cách mạng được Vũ Quốc Khánh thể hiện thật thấu đáo, sống động. Gấp cuốn sách lại mà những hình ảnh về chiến dịch đường 9 Nam Lào và lời thoại của các nhân vật vẫn cứ hiện lên văng vẳng ở trong đầu. Trước mắt tôi, dòng sông Sê Pôn như vẫn đang cuồn cuộn chảy. 

Vũ Quốc Khánh xứng đáng là nhà văn hàng đầu của Phú Thọ viết tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng. 

Phi Đông Hạ




Nguồn: Arttimes.vn

3 triệu chứng khi uống nước dễ nhận thấy ở người bị tiểu đường giai đoạn đầu


Bác sĩ chỉ ra 3 tín hiệu từ việc uống nước có thể tiết lộ bệnh tiểu đường, mọi người cần chú ý.

Tiểu Tô (Trung Quốc) gần đây thường xuyên cảm thấy khát nước một cách bất thường. Dù uống bao nhiêu nước, anh vẫn thấy khát không chịu nổi, cân nặng lại ngày một giảm. Lo lắng cho sức khỏe, anh đi khám và được chẩn đoán mắc tiểu đường.

Bác sĩ cho biết, những triệu chứng ban đầu của tiểu đường thường sẽ biểu hiện qua hành vi uống nước đơn giản này, đặc biệt là sau bữa ăn, khi cơ thể có nhu cầu bất thường đối với nước, sẽ xuất hiện một số triệu chứng rõ ràng.

3 dấu hiệu cảnh báo tiểu đường từ hành vi uống nước

Nếu có 3 triệu chứng bất thường khi uống nước dưới đây, bạn cần sớm đến bệnh viện để kiểm tra đường huyết, xác nhận xem mình có mắc tiểu đường hay không.

– Khát nước liên tục

Khát nước là một trong những triệu chứng phổ biến nhất của bệnh nhân tiểu đường, đặc biệt là khi bệnh chưa được kiểm soát, bệnh nhân sẽ phát hiện mình luôn cảm thấy khát nước.

Để duy trì cân bằng nước trong cơ thể, cơ thể sẽ tăng lượng nước tiểu để đào thải đường dư thừa, tiểu nhiều khiến lượng nước trong cơ thể mất đi, cơ thể rơi vào trạng thái mất nước, từ đó gây ra cảm giác khát.

3 triệu chứng khi uống nước dễ nhận thấy ở người bị tiểu đường giai đoạn đầu - 1

– Tiểu nhiều đi kèm khát nước

Đặc biệt là ở giai đoạn đầu của bệnh tiểu đường, cảm giác khát nước này thường rất rõ ràng, cho dù uống nhiều nước, vẫn cảm thấy khát, uống nước xong không lâu lại muốn uống nữa, đây là một triệu chứng điển hình.

Nếu bạn phát hiện mình thường xuyên xuất hiện tình trạng này, đặc biệt là kèm theo đi tiểu nhiều, cần đặc biệt cảnh giác. Lúc này, tốt nhất bạn nên đến bệnh viện kiểm tra đường huyết để loại trừ khả năng mắc tiểu đường.

– Khát nước kèm sụt cân nhanh

Sụt cân cũng là một triệu chứng điển hình của bệnh tiểu đường, đặc biệt là trong trường hợp bệnh không được kiểm soát hiệu quả, cân nặng của bệnh nhân thường sẽ giảm đáng kể.

Khi đường huyết quá cao, cơ thể không thể sử dụng hiệu quả glucose làm nguồn năng lượng. Do chức năng của insulin bị tổn hại, glucose không thể được hấp thu đầy đủ vào tế bào, khiến tế bào rơi vào trạng thái “đói năng lượng”.

Để đáp ứng nhu cầu năng lượng, cơ thể bắt đầu phân giải chất béo và cơ bắp để tạo năng lượng thay thế. Sự tiêu hao năng lượng do rối loạn chuyển hóa này khiến bệnh nhân tiểu đường xuất hiện tình trạng sụt cân.

Quá trình sụt cân này thường tiến triển dần dần, có thể ban đầu không rõ rệt, nhưng khi bệnh trở nặng, tốc độ sụt cân sẽ tăng nhanh. Nếu bệnh nhân không kịp thời điều trị, sụt cân kéo dài sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sức khỏe.

Do tiểu đường ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa chất béo, bệnh nhân có thể cảm thấy mệt mỏi, suy nhược, thể lực giảm, thậm chí toàn thân yếu ớt.

Vì vậy, nếu bạn trong thời gian ngắn bị sụt cân mà không rõ nguyên nhân, kèm theo triệu chứng khát nước, nhất định phải chú ý, lúc này nên sớm đến bệnh viện để kiểm tra đường huyết, để kịp thời phát hiện bệnh tiểu đường và có biện pháp can thiệp.

Những biểu hiện khác cần lưu ý

Khi đường huyết tăng cao, cơ thể bệnh nhân tiểu đường cũng sẽ xuất hiện một loạt triệu chứng khó chịu. Đường huyết cao không chỉ gây khát nước và sụt cân, mà còn có thể dẫn đến hàng loạt vấn đề khác.

Đường huyết tăng cao ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa bình thường của cơ thể, khiến năng lượng không thể đi vào tế bào, từ đó gây ra cảm giác mệt mỏi toàn thân.

3 triệu chứng khi uống nước dễ nhận thấy ở người bị tiểu đường giai đoạn đầu - 2

Lúc này, bệnh nhân tiểu đường có thể xuất hiện tình trạng thèm ăn tăng nhưng vẫn cảm thấy mệt mỏi, thậm chí ngay cả các hoạt động thường ngày đơn giản cũng thấy bất lực. Đường huyết cao còn ảnh hưởng đến sức khỏe của mắt, gây mờ mắt.

Nguyên nhân là do đường huyết cao khiến thủy tinh thể mắt bị phù, ảnh hưởng đến độ trong suốt của thị lực. Nếu không được kiểm soát lâu dài, thậm chí có thể gây ra bệnh võng mạc tiểu đường, cuối cùng dẫn đến mù lòa.

Nếu trong cuộc sống hằng ngày bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi yếu ớt, hoặc thị lực thường xuyên mờ đi, đặc biệt là sau bữa ăn hoặc sau một thời gian dài không ăn, có thể là tín hiệu đường huyết tăng cao.

Nếu có thể phát hiện và can thiệp sớm, bệnh nhân tiểu đường hoàn toàn có thể duy trì chất lượng cuộc sống bình thường, và giảm nguy cơ mắc các biến chứng như bệnh tim mạch, bệnh thận, bệnh mắt…



Nguồn: Arttimes.vn

Trần Anh Thơ: 35 năm hành trình văn hóa, ngôn ngữ, giáo dục


Buổi đầu tôi vinh hạnh được gặp ông từ quãng năm 1973 khi ông đang là giảng viên Tiếng Anh tại Đại học Sư phạm Hà Nội, được mời đến dạy môn ngoại ngữ tại lớp đại học báo chí ở Báo Nhân Dân, mà tôi là đang là biên tập viên trẻ tại đây, đồng thời là sinh viên của lớp này. Tôi bước sang tuổi hai mươi bảy, thầy hơn tôi 8 tuổi. Chẳng mấy chốc thầy – trò thân nhau. Càng về sau càng thân hơn, gắn bó như anh em, luôn luôn liên hệ, cùng trải qua mọi vui buồn chẵn tròn năm mươi năm đằng đẵng nghĩa tình. Tôi học được rất nhiều ở ông, một bậc trên hiểu sâu rộng về đời sống, lịch lãm, tài hoa, giàu kiến thức, giỏi kỹ năng về chuyên môn.

Quyển Tuyển tập nghiên cứu và khảo luận “35 năm hành trình văn hóa, ngôn ngữ, giáo dục” (Nxb Thanh niên, 2023) của tác giả Trần Anh Thơ hôm nay đến với độc giả đã từng được hai anh em – thầy trò bàn bạc với nhau từ trước. Tác giả tính gọn chẵn 35 năm, thật ra ông đã có nhiều sách, bài báo in từ trên bốn mươi năm trước. Tuyển tập chọn in những bài giảng, bài báo, khi tác giả đang là Phó chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ Anh Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội (HUBT: Hanoi University of Business and Technology). Sách khổ 16 x 24 cm, 430 trang, gồm 3 phần: Văn hóa (12 đơn vị bài), Ngôn ngữ (13 đơn vị bài), Giáo dục (28 đơn vị bài).

Trần Anh Thơ: 35 năm hành trình văn hóa, ngôn ngữ, giáo dục - 1

Tuyển tập nghiên cứu và khảo luận “35 năm hành trình văn hóa, ngôn ngữ, giáo dục”.

Nhà giáo Trần Anh Thơ tâm sự: “Về văn hóa, cuốn sách muốn góp phần trực tiếp tạo nên bản sắc của cá nhân trên nền tảng bản sắc của dân tộc là yêu nước, yêu hòa bình và phụng sự lẽ phải. Về ngôn ngữ, cuốn sách nêu lên việc học ngoại ngữ như tiếng Anh là nhằm tiến tới xây dựng một nền học vấn Anh văn ở Việt Nam, mà trên hết là để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt với kho từ vựng phong phú và những hình thức diễn đạt uyển chuyển, đáp ứng nhu cầu giao tiếp xã hội thông qua các ngôn bản và văn bản nguồn. Về giáo dục, cuốn sách ngầm định rằng đã đến lúc nền giáo dục Việt Nam cần phải mang tính quốc tế và thực tế, như coi trọng hệ thống giá trị đạo đức, ứng xử, giao tiếp; như hướng tới sự công bằng, phát huy khả năng sáng tạo và cải tiến; coi trọng tự do, lấy tự do làm nền tảng để phát triển”.

1- Văn hóa – Xã hội Việt Nam, những giá trị Việt

Thấu hiểu sâu sắc ý nghĩa soi đường của văn hóa, tác giả đã đặt vấn đề này lên đầu sách. Đây là một tập hợp bài giảng tại học đường HUBT. Những trang biên soạn với nhan đề chung: “Việt Nam văn hóa – một góc nhìn – trao đổi với sinh viên khởi nghiệp HUBT” cùng nhan đề phụ: “Tìm hiểu Tonkin – Bắc Kỳ – Bắc Bộ – Miền Bắc. Quê hương bản quán, phong tục tập quán của chúng ta”. Đó là một tập hợp bài có 5 phần. Tiếp đó là ba bài khác dưới nhan đề phụ: “Tìm hiểu Đàng Trong – Nam Hà vùng lãnh thổ Đại Việt do Chúa Nguyễn kiểm soát. Quyết tâm xây dựng một thế lực độc lập đối đầu với thế lực của vua Lê – Chúa Trịnh đến tháng  12 – 1774”.

Tác giả tiếp cận văn hóa – xã hội Việt Nam từ góc nhìn du lịch và kiến văn, đồng thời với góc nhìn Lịch sử – Địa văn hóa, đời sống thường ngày, phong tục ăn ở… Một trăm năm mươi trang sách có được do tham khảo, biên soạn, đúc kết từ nhiều nguồn tài liệu về lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế, địa lý, thuộc không gian và thời gian được xác định, đã giúp sinh viên khởi nghiệp trau dồi, kiến thức mọi mặt, bồi dưỡng lòng yêu Tổ quốc, ý thức tự hào dân tộc. Tác giả khiêm nhu tâm sự rằng, “đây là những lời nói cho nhau nghe, kể cho nhau hiểu, nhỏ to làng trên xóm dưới Xứ Bắc Kỳ quê ta”. 

Những trang viết không chỉ cần cho riêng giới trẻ mà còn có ích cho đông đảo bạn học. Người đọc có thể hiểu rằng đây là văn bản tóm tắt từ hàng chục hàng nghìn trang sách, mà tác giả đã tâm đắc, nghiền ngẫm.

2 -Văn hóa giao thoa ngôn ngữ Đông – Tây, nhìn từ Việt ngữ

Là nhà giáo dạy tiếng Anh đại học, với hơn mười đầu sách về Học và Luyện các kỹ năng ngôn ngữ Anh, nhiều năm qua Trần Anh Thơ đã nghiên cứu văn hóa Anh – Mỹ trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn liên văn hóa – ngôn ngữ – giáo dục Đông – Tây. Ông gây nên sự chú ý nhiều nhất của sinh viên, đồng nghiệp và bạn đọc rộng rãi bởi ý kiến riêng trong các bài báo, tiểu luận nêu sau đây: 1-  Không nên để việc dạy học ngoại ngữ  chao đảo trước thời cuộc. Tiếng Anh là cần thiết nhưng không phải là ngoại ngữ độc tôn; 2 – Học, dạy ngoại ngữ và văn chương; 3 – Hướng tới một đội ngũ dịch văn học; 4 – Thành ngữ, tục ngữ Anh, những điều lý thú và công việc chuyển ngữ.

Trước tình trạng “đua nhau” học tiếng Anh mà sao nhãng một số ngôn ngữ quan trọng khác, ông nhấn mạnh: “Đã đến lúc cần định hướng lại mục đích dạy và học ngoại ngữ của một quốc gia có tính chiến lược (…) chứ không đơn thuần chỉ là cho một thời cuộc”. Và khẳng định: “Để trở thành những tác giả đầy uy tín trong sự nghiệp viết sách, làm sách cho những thế hệ làm công tác ngoại ngữ ở thế kỷ XXI thì sự uyên bác vững chắc và bách khoa của người viết và người dạy hay là người viết thứ hai (dịch giả) là yêu cầu số một” (tr181).

Hướng người dạy và người học san sẻ sang tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn, ông nhận định: “Xét qua lịch sử Việt ngữ, chúng ta nhận thấy ngôn ngữ Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa chói lọi nhất trên toàn cầu, đó là nền văn hóa cổ xưa của Trung Quốc và nền văn hóa cận đại của nước Pháp. Hai nền văn hóa này không những đã làm cho tiếng Việt thêm giàu, thêm mạnh, mà còn thâu thái được tất cả các tinh hoa của hai nguồn tư tưởng Âu – Á, kim – cổ” (tr 231). Đó là suy nghĩ chân thành, sâu sắc, sáng suốt, nhạy cảm thời sự của một người thầy đã trải nghiệm một hành trình văn hóa – ngôn ngữ – giáo dục thật dài.

3- Giá trị cốt lõi giáo dục trong và ngoài HUBT

Có điều kiện đến Hoa Kỳ nhiều lần, lần nào cũng ở lại lâu và tiếp cận các trường đại học danh giá, nhà giáo Trần Anh Thơ đã học hỏi được nhiều, để rồi khi trở lại quê hương Việt Nam, ông đã truyền đạt kinh nghiệm quý báu, ứng dụng vào việc giảng dạy tại trường mình. Khi đến thăm Đại học Berkeley BUC (1876) và Đại học Stanford hay Đô thị đại học xanh, ông tự hỏi: “Phải chăng đã từ lâu nền giáo dục bậc cao Hoa Kỳ đã thổi cái hồn của triết lý Nho giáo – Tư tưởng đức trị của Khổng Tử và tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử – để đạt tới tầm cao giáo dục hiện đại thế giới cùng với phép thử mầu nhiệm về cung bậc trí tuệ  IQ – chỉ số thông minh và EQ – chỉ số xúc cảm, để đi đến một quyết định cuối cùng cho việc lựa chọn những hiền tài nguyên khí quốc gia.”

Rồi ông tự trả lời một cách rắn rỏi: “Nếu như nền giáo dục ấy không vì quyền thụ hưởng của con người có giá trị đích thực chất lượng cuộc sống, thì sau một đêm nếu phố Wall New York, cựa mình, nền tài chính chứng khoán thế giới sẽ rung chuyển, tác động cả một chuỗi, và thế giới lại rơi vào khủng hoảng tài chính và tiền tệ”. Mùa hè năm 2017, ông dự cuộc Hội thảo về tính nhân văn học tại Đại học Stamford, California. Hội thảo bàn về các vấn đề: 1- Cá nhân – khả năng học tập và phát triển; 2- Phẩm hạnh và sự tôn trọng những đức tính cá nhân; 3- Tiềm năng cá nhân và việc khởi động tính sáng tạo của chủ thể; 4 – Hạnh phúc của cá nhân và hoạt động của chủ thể trong khung tiêu chuẩn; 5 – Quyền được bảo đảm nhân phẩm tự do của mỗi cá nhân. Khi về nước, ông viết bài Nhân văn học đường, sự khởi đầu cho những ước mơ.

Mỗi lần, ra nước ngoài, nhà giáo Trần Anh Thơ lại có thêm những suy nghĩ mới áp dụng vào nền giáo dục nước nhà và góp phần cùng đồng nghiệp xây dựng định hướng HUBT qua các cuộc trao đổi để nhuần thấm về hệ giá trị văn hóa nền và giá trị xã hội HUBT. Ông nêu ra mẫu số chung cho sự tiếp biến văn hóa học đường, đó là nhân văn, hòa hiếu, trung thực, thân thiện và ở mỗi giai tầng lại có những chuẩn mực riêng về giá trị văn hóa cốt lõi. Cụ thể là tại HUBT, thì sau giá trị cốt lõi chung thể hiện ở 12 chữ vàng: Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm – Văn minh, thì sinh viên là lý tưởng ý chí, chủ động tích cực; giáo viên là lòng yêu nghề, yêu con người, trách  nhiệm, nâng cao năng lực.

Trong tiểu luận Cố vấn học tập – người tiếp lửa cho học trò, tác giả bày tỏ: “Gần sáu mươi năm qua, tôi không dành cho mình một vị trí quyền lực nào trong lòng học trò, ngoài cách hành xử rất nhân văn và rất đặc biệt, đậm lòng yêu thương, bởi cho rằng học trò là “cá thể đặc biệt”. Đó là tính chân, thiện và mỹ. Theo tôi, người thầy cần: 1 – Tìm hiểu sự hiểu biết ở con người của học sinh; 2 –  Phát hiện những giá trị cốt lõi “Tôi là ai?” của học sinh để tư vấn; 3 – Hiểu tính cách, tư tưởng, suy nghĩ, cảm xúc, thái độ, nỗi niềm của học sinh; 4 –  Khích lệ những mặt tích cực (hiểu biết, giao tiếp, năng lực, kỹ năng…) của học sinh.

Nhiều người đến Hoa Kỳ nhưng ít người để tâm đến mối liên hệ hữu cơ giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Trong tiểu luận Triết lý của một nền giáo dục, nhà giáo Trần Anh Thơ bàn đến “Xúc cảm về sự giao thoa triết lý giáo dục Đông – Tây”. Ông đã nhiều lần nhắc đến tư tưởng Khổng Tử ở mặt tích cực, tiến bộ của Người xưa. Khi bàn đến Sức lan tỏa của Nho học lấy đạo đức làm giá trị trung tâm (tr.289), tác giả đã có ý kiến rất xác đáng: “Về đặc trưng cơ bản của tư tưởng Khổng Tử mà nói đích xác thì có thể xem nó là một học vấn của cuộc sống. Nó không chú ý truy cứu một hệ thống và quy mô lý luận, mà cố gắng dừng chân ở đạo lý làm người, với tác dụng chỉ dẫn cuộc sống cho mọi người làm theo. Điều ấy đã được thể hiện ở mấy mặt sau đây trong nền giáo dục phổ thông ở Hoa Kỳ: 1 –  Lý tưởng nhân văn sinh sôi mà hài hòa; 2 –  Lý tưởng nhân cách của người có học vấn; 3 – Quy phạm hành vi nhân nghĩa 4 – Phương thức vận hành chính trị của chủ nghĩa đức trị. 5 – Tinh thần thực tiễn” (tr.289).

4- Học từ gia đình, học ra xã hội. Vừa là thầy, vừa là trò

Nhiều nhà giáo suốt đời dạy cũng là suốt đời học. Trần Anh Thơ là một trường hợp tiêu biểu. Những trang viết về gia đình, bản thân từ vị trí là người học hỏi, tác giả tạo niềm xúc động hòa cảm sâu xa đối với người đọc. Mẹ ông – bà Nguyễn Thị Liên, nữ công gia chánh tròn trặn, thông minh, kiên nghị đã ảnh hưởng sâu sắc đến con cái. Ông kể: “Ngày bé, mẹ tôi bắt tôi làm việc nhà. Mẹ bảo Bé không vin, cả gãy cành. Tôi học quét nhà, rửa bát, đi chợ, ẵm em, học thưa, học gửi (…) Đó là kỹ năng sống, rất tự nhiên và đầy thuyết phục từ chuyện dạy học làm người của mẹ” (…) Tình mẹ thật bao la, chở che trong giông bão, mưa màn. Tôi thụ hưởng đạo làm người từ những việc làm đó để lớn lên biết làm người đúng nghĩa. Trong tôi, không câu ca dao nào bằng lời mẹ ru, không lời trích dẫn nào bằng tình mẹ ấm êm, ấp ủ, dưỡng dục đến khi trở thành một giáo viên, một phiên dịch viên cho lãnh đạo cấp cao trong và ngoài nước” (…)

Lớn hơn đến tuổi mười, mười một, tôi giúp cha chuyển truyền đơn cho cán bộ Việt Minh nằm vùng trong thành phố;  đưa hàng binh “lính dõng” về làng quê để bơi qua sông ra vùng tự do. Đó là bài học vượt qua hiểm nguy. Cha dạy lòng can đảm. Mẹ thổi hồn tự tin. Kỹ năng sống và kỹ năng giao tiếp hình thành từ buổi sơ kỳ đó. Tôi lớn lên cùng với những điều hay, lẽ phải, lời hay ý đẹp từ giao tiếp xã hội, từ quan hệ cộng đồng, từ làng quê lên vùng cao, từ đồng bằng ra biển cả, từ bán báo, đan mây tre, từ gặt lúa giúp dân, từ “ba cùng” với dân những ngày ở quân ngũ”. Vậy là, bài học từ Mẹ đã giáo dưỡng con trai Trần Anh Thơ thấu hiểu một giáo lý, đó là tu tâm, dưỡng trí, hành đạo và đời cho thế thái, nhân tình  an hòa.

Ông cũng được học nhiều từ người cha – Anh vệ quốc quân và ông cai Cần – người trông coi các khách sạn, hoạt động cách mạng từ bí mật đến công khai. Cha ông từng nuôi cán bộ nằm vùng, giải cứu nhiều cán bộ Việt Minh bị giặc săn lùng, ông bao bọc cán bộ nằm hầm ngay trong nhà mình. Ông được sở Du lịch Hải Phòng bình bầu nhiều năm là chiến sĩ thi đua cấp thành phố rồi cấp quốc gia. Sau năm 1975, ông được phong tặng Huân chương chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất. Ông được nhận huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và thư của Chủ tịch nước mừng đắc thọ tuổi tròn trăm, khì ông còn minh mẫn. Ông mất khi đã ngoài trăm tuổi, quê hương như còn vang vọng mãi mãi lời điếu trong lòng dân: “Thành ủy Hải Phòng vô cùng đau buồn, thương tiếc vĩnh biệt đồng chí Trần Văn Cần, đảng viên cộng sản mẫu mực, kiên định”.

Kết thúc hồi ký “Cha và những câu chuyện chưa kể”, nhà giáo Trần Anh Thơ nói đến “Những giá trị cốt lõi”: “Những lúc cha con đàm đạo, cha thường nói: Người có chí ở sự học. Nếu cái chí mà kiên dũng thì cái khí chất không biến hóa đi được. Thấy tôi chưa tỏ, ông tiếp: Muốn biến hóa được cái khí chất thì trước hết phải có chí và có biến hóa được cái khí chất đi, thì cái tâm của mình mới thanh thư và mới hiểu được cái đạo huyền ảo của thánh hiền. Chỉ bằng ấy lẽ mà tôi tri nhận được cái giá trị sống cốt lõi – gia phong mà cha tôi đã dày công vun đắp…” Những trang hồi ký về cha và mẹ đã tôn vinh giá trị văn hóa gia đình – đơn vị tổ ấm cơ sở nhỏ nhất của xã hội. 

Nhớ lại những năm tháng cuộc sống đang đầy đủ, bình yên bỗng nhiên thời thế đổi thay khiến gia đình bị oan sai, mới chớm tuổi hai mươi ông phải ra bến phà Đen, Vĩnh Tuy, Hà Nội (gần trụ sở HUBT hiện nay) làm việc kéo than, đập nứa, đan phên để có tiền học hết tú tài (lớp 12), còn cha thì lầm lũi chịu đựng, mẹ và hai em gái tuổi 14,15 phải đi gánh đất, bán rau kiếm ăn qua ngày… Rồi sau đó trời hửng nắng, ông vào bộ đội hải quân, viết báo Hải Quân và Quân đội nhân dân. Đó là cả một quá trình để một nhà giáo tương lai học được rất nhiều ở trường đời trước khi vào trường chính quy.

Khi còn là học trò và cả khi đã là nhà giáo – nhà giáo xuất sắc, Trần Anh Thơ được thụ giáo và chịu ơn nhiều bậc thầy lớn. Trong sách này, ông nói về GS Trần Phương và GS Đặng Chấn Liêu với một thái độ, tình cảm rất ngưỡng mộ, trân quý.

Về giáo sư Hiệu trưởng HUBT, nhà giáo Trần Anh Thơ bày tỏ lòng tri ân: “GS Trần Phương là một chính nhân trí tuệ minh mẫn, học thức cao, ưa học hỏi, trọng học thức, lễ nghĩa, mến đạo đức, lấy nhân nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường cho sự hài hòa (…) Có thể tóm tắt triết lý giáo dục của GS là luôn luôn điều chỉnh chính sách giáo dục theo những giá trị bền vững. Ông đã nỗ lực đem lại cho ngôi trường phi lợi nhuận một hình mẫu nhà trường mới, tinh gọn hơn, hiện đại hơn, hiệu quả hơn, đầy các ý tưởng và chính sách thích hợp cho thời đại mới. Đặt quyền lợi của người học lên trên, tập trung xây dựng tương lai”. 

Về GS Đặng Chấn Liêu, “người sáng lập nền học vấn ngôn ngữ – văn hóa – văn minh Anh – Mỹ ở Miền Bắc một thời”, nhà giáo Trần Anh Thơ cho biết: “Chúng tôi được sự dìu dắt của ông, một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn, một lòng vị tha và bao dung lớn. Tiếc rằng thầy mất sớm khi chưa đến tuổi sáu mươi, không kịp nhìn thấy sự phát triển, trưởng thành của ngành Ngôn ngữ học và văn hóa Anh – Mỹ ở Việt Nam”.

Nếu cần nói thêm, thì thầy Trần Anh Thơ còn là môn sinh trung tín của Khổng học. Có thể thấy ở ông một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn hóa thấm đẫm tinh hoa đạo học phương Đông.

Trần Anh Thơ: 35 năm hành trình văn hóa, ngôn ngữ, giáo dục - 2

Tác giả Trần Anh Thơ

Lời kết

Rời khỏi tác phẩm, người đọc ngẫm nghĩ nhìn lại tổng thể hẳn sẽ nhận ra một chân dung nhiều dáng vẻ của chính tác giả – một nhà giáo có hạng bậc chuyên về Anh  ngữ và văn hóa Anh – Mỹ, có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục và xã hội, giàu sức sáng tạo trong nghề nghiệp. Văn của ông hàm chứa một phức hợp loại hình, thể loại: nghị luận, tiểu luận khoa học, biên soạn, hồi ký, bút ký báo chí, giáo trình đại học… Tác giả đọc nhiều, học hỏi nhiều, luôn luôn nâng cao hiểu biết về học vấn và đời sống thực tại. Ông lại yêu thích văn chương, thơ ca, có tố chất nghệ sĩ, bởi thế văn vừa chặt chẽ, khúc chiết, lại vừa tinh tế, bay bổng, dạt dào xúc cảm. Có đến hơn trăm câu danh ngôn Đông – Tây, cùng ca dao, thành ngữ, tục ngữ, lời nói dân gian Việt Nam trên khắp các trang sách, được tác giả dẫn ra rất khớp với từng văn cảnh.

Thí dụ, ngoài những lời của Khổng Tử và các danh ngôn phương Tây, còn có nhiều lời nói dân gian Việt Nam, như:” Ăn xổi ở thì”, “ Cơm sung cháo dền “, “Đồng tiền liền khúc ruột”,” Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường”, “Chết trong hơn sống đục”,”Đói cho sạch rách cho thơm”, “Gió heo may chuồn chuồn bay thì bão”, “Mèo khen mèo dài đuôi”, “Đứng núi này trông núi nọ”, “Nằm trong chăn mới biết chăn có rận”, “Gieo gió gặt bão”, “Ăn chắc mặc bền”, “Gió chiều nào che chiều ấy”, “Tre già là bà gỗ lim”, “Khéo vá vai, tài vá nách”, “Một điều nhịn, chín điều lành”, “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, “Thuận bè thuận bạn tát cạn biển Đông”, “Áo năng may năng mới, người năng nói năng thương” v.v.

Hồn cốt dân tộc Việt Nam như thấm đậm ngọt ngào, thoảng thơm trong lành  trong tâm hồn ông qua những lời dẫn. Ông đi hết biển lại về quê hương. Rồi nữa, tác  giả có một tiểu luận bàn về Thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh- Những điều lý thú và công việc chuyển ngữ của chúng ta”, trong đó tất nhiên có nhiều câu dân gian Việt Nam tương ứng làm cho vườn hoa văn hoá, văn chương  Việt Nam thêm bông thêm trái   tưới mát tâm hồn người đọc , gia tăng cảm xúc  khi tiếp cận các trang viết của ông.

Thoát ra khỏi chuyên môn hẹp là dạy ngoại ngữ, rồi đến nghiên cứu – khảo luận, văn hoá, ngôn ngữ, giáo dục, ông giúp người đọc chỉ thấy như tác giả trò chuyện thân thiện với mình. Những ưu điểm nói trên đã cuốn hút người đọc mọi lứa tuổi trong và ngoài sinh viên, tránh được lối dạy giảng quen mòn.

Ba mươi lăm năm… một quãng đời tươi sáng tu tâm dưỡng trí, học hỏi say mê, lao động không mệt mỏi, nhà giáo Trần Anh Thơ đã truyền cảm hứng sôi nổi đến người đọc mọi lứa tuổi, các thế hệ  ngay từ khi các bài viết trong sách  này lần lượt in trên báo chí trong nhiều năm, bắt rễ từ những  bài báo viết từ những tháng  năm ở Ban Tuyên huấn Cục Hải quân – Quân đội Nhân dân Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân, tạp chí Văn nghệ Quân đội (1958-1961), tiếp đó là tuần báo Nhân dân Chủ nhật , nhật báo Nhân dân, tạp chí  Ngôn ngữ và Đời sống, tuần báo Văn Nghệ , tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Bản Tin Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT). 

Quyển sách 35 năm Hành trình Văn hoá – Ngôn ngữ – Giáo dục của tác giả Trần Anh Thơ, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá là tác phẩm rất đúng với câu nói dân gian Việt Nam: “Tình trong một khắc, nghĩa đời trăm năm”.

Phạm Đình Ân




Nguồn: Arttimes.vn

11 dấu hiệu cho thấy hormone nam tính quá thấp, quý ông đừng chủ quan


Nếu bạn gặp bất kỳ triệu chứng nào dưới đây, hãy đến gặp bác sĩ để được kiểm tra nồng độ testosterone và nhận được tư vấn chuyên môn.

11 dấu hiệu cho thấy hormone nam tính quá thấp, quý ông đừng chủ quan - 1

Testosterone rất quan trọng với sức khỏe nam giới, đặc biệt trong việc thúc đẩy ham muốn tình dục. Nó cũng là thành phần thiết yếu cho việc duy trì khối lượng xương, sản xuất hồng cầu và các chức năng khác của cơ thể.

Vì vậy, nếu nồng độ hormone của nam giới thấp, cơ thể sẽ nhận rất nhiều ảnh hưởng xấu, không chỉ trong việc duy trì cơ bắp và khả năng “giường chiếu”.

Mặc dù, đa số nam giới đều nhận thấy nồng độ testosterone giảm dần theo tuổi tác, nhưng nhiều người vẫn bị suy giảm testosterone ngay ở độ tuổi 20 hoặc 30. Tiến sĩ Darshan Patel, Phó giáo sư khoa tiết niệu tại Trung tâm Sức khỏe Nam giới thuộc Đại học California San Diego cho biết, thiếu hụt testosterone có thể được coi là một tình trạng bệnh lý và hoàn toàn khác với sự suy giảm dần theo tuổi tác.

Nếu cơ thể có những dấu hiệu sau đây, bạn nên đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được làm thêm các xét nghiệm cần thiết và được tư vấn cụ thể:

1. Ham muốn tình dục giảm sút

Theo bác sĩ tiết niệu Philip Werthman, giám đốc Trung tâm Y học Sinh sản Nam giới và Phục hồi ống dẫn tinh ở Los Angeles, có lẽ tác động phổ biến nhất của tình trạng suy giảm testosterone là giảm ham muốn tình dục.

Ngoài việc giảm ham muốn tình dục, nam giới bị testosterone thấp cũng có thể thủ dâm ít hơn.

Theo chuyên gia, các vùng não liên quan đến ham muốn tình dục chứa đầy các thụ thể testosterone. Hormone này giúp khơi dậy ham muốn. Nếu không có nó, nam giới sẽ bị bỏ lỡ một bước quan trọng trong quá trình kích thích.

2. Gặp khó khăn khi cương cứng

Testosterone cần thiết cho sự phát triển và duy trì chức năng cương dương ở nam giới.

Testosterone giúp nam giới đạt được và duy trì sự cương cứng bằng cách truyền tín hiệu đến não để kích hoạt phản ứng hóa học cần thiết. Nồng độ testosterone thấp có thể khiến quý ông khó cương cứng, hoặc cương cứng không kiểm soát.

Rối loạn cương dương cũng có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh mãn tính, như bệnh tim, béo phì và tiểu đường.

3. Cơ bắp co lại

Testosterone dồi dào còn giúp cải thiện cơ bắp, bằng cách giúp cơ thể sản xuất và tổng hợp các protein tạo nên khối cơ. Khi nồng độ testosterone giảm, cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái dị hóa, phá vỡ mô cơ thay vì xây dựng nó.

Ban đầu, nam giới có thể nhận thấy việc tập nặng hoặc cải thiện cơ bắp trở nên khó khăn. Sau vài tuần nồng độ testosterone thấp, thậm chí khối cơ của bạn sẽ bị mất. Trong một nghiên cứu của Nhật Bản, những người đàn ông có nồng độ testosterone thấp có nguy cơ mất cơ theo tuổi tác cao gấp đôi đến gấp ba lần so với những người có nồng độ bình thường.

4. “Cậu nhỏ” có thể nhỏ lại

Nếu không có nồng độ testosterone ổn định, các mô ở dương vật, bìu và tinh hoàn có thể bị teo lại. Kết quả là, “cậu nhỏ” có thể bị giảm cả chiều dài lẫn chu vi.

Mặc dù liệu pháp thay thế testosterone không giúp phục hồi thể tích tinh hoàn, nhưng phương pháp điều trị này có nhiều khả năng khôi phục lại vẻ ngoài ban đầu của “cậu nhỏ”.

5. Tăng kích thước vòng bụng

Các nhà nghiên cứu Úc đã nhận thấy rằng, những người đàn ông mắc ung thư tuyến tiền liệt tăng thêm 14% mỡ cơ thể và 22% mỡ nội tạng so với lúc bắt đầu nghiên cứu sau 1 năm điều trị bằng liệu pháp ức chế androgen, một phương pháp điều trị làm mất tác dụng của testosterone.

Mỡ nội tạng là mỡ sâu ở bụng, hình thành xung quanh các cơ quan bên trong và làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và bệnh tim .

Mối liên hệ giữa béo phì và nồng độ testosterone thấp là một “vòng luẩn quẩn”. Testosterone thấp làm giảm động lực vận động, điều này có thể khiến bạn tăng cân. Ngược lại, lượng mỡ thừa trong cơ thể có thể làm giảm nồng độ testosterone.

6. Sương mù não

Nam giới có nồng độ testosterone thấp thường gặp vấn đề về tư duy và trí nhớ. Các vùng não quan trọng cho trí nhớ và sự tập trung, chẳng hạn như đại não cũng có thụ thể testosterone. Khi không có đủ hormone này, các tế bào não có thể không hoạt động tốt.

7. Tâm trạng bị ảnh hưởng

Một số tác dụng phụ của nồng độ testosterone thấp – chẳng hạn như rối loạn chức năng tình dục và tăng cân – có thể gây ra cảm giác buồn chán. Tuy nhiên, cũng có bằng chứng cho thấy nồng độ testosterone thấp ảnh hưởng trực tiếp đến tâm trạng, và các thụ thể testosterone trống rỗng ở các vùng não liên quan đến tâm trạng có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng trầm cảm.

Hơn nữa, các rối loạn tâm trạng như trầm cảm hoặc lo âu có thể khởi đầu một chu kỳ rắc rối – trầm cảm có thể ức chế khả năng sản xuất testosterone của tinh hoàn, khiến vấn đề trở nên trầm trọng hơn.

8. Xương bị yếu

Xương thực chất là mô sống, liên tục bị phá vỡ và tái tạo. Khi nồng độ testosterone giảm, xương bị phá vỡ nhanh hơn tốc độ cơ thể có thể tái tạo lại.

Kết quả là nam giới có nguy cơ cao bị mật độ xương thấp, loãng xương và gãy xương.

Mật độ xương thay đổi theo tuổi tác, kết hợp với nồng độ testosterone thấp, nó có thể khiến nam giới bị còng lưng sớm. Điều này, kết hợp với việc mất khối lượng cơ, có thể khiến bạn cảm thấy đau nhức.

Cách tốt nhất để tăng mật độ xương là tập luyện chịu lực. Thể dục đều đặn rất hữu ích để đạt được mật độ xương mong muốn.

9. Rụng tóc

Tuổi tác cao, tóc của nam giới dễ bị mỏng đi và thậm chí có thể bắt đầu hói. Nếu nồng độ testosterone thấp, các vùng lông trên cơ thể và mặt có thể rụng đi. Râu cũng mọc chậm hơn và không cần phải cạo nhiều như trước. Testosterone là một hormone quan trọng cho sự phát triển của lông mặt và cơ thể, vì vậy khi nồng độ testosterone thấp, nó sẽ cản trở quá trình mọc lông.

10. Thiếu máu

Mặc dù ít phổ biến hơn, nhưng nồng độ testosterone thấp có thể khiến nam giới bị thiếu máu. Một nghiên cứu năm 2017 cho thấy, khi những người đàn ông lớn tuổi bị thiếu máu được điều trị bằng liệu pháp cải thiện testosterone, nồng độ hemoglobin (protein trong hồng cầu, có chức năng vận chuyển oxy đi khắp cơ thể) của họ tăng lên.

Tuy nhiên, bạn có thể không biết mình có thực sự bị thiếu máu hay không trừ khi làm xét nghiệm máu. Một số dấu hiệu cần lưu ý bao gồm khó thở, chóng mặt, nhịp tim không đều, tiếng rít trong tai, đau đầu và đau ngực.

11. Chứng vú to ở nam giới

Khi nồng độ testosterone thấp và nồng độ estrogen tăng, chứng vú to ở nam giới có thể xảy ra. Tình trạng này thường xảy ra ở nam giới béo phì, mỡ trong cơ thể góp phần làm tăng nồng độ enzyme aromatase, thúc đẩy quá trình chuyển hóa testosterone thành estrogen trong cơ thể.

Theo Mayo Clinic, ngoài việc nhận thấy mô vú sưng, bạn có thể bị đau, núm vú nhạy cảm, đặc biệt là khi chúng cọ xát vào quần áo .



Nguồn: Arttimes.vn