Home Blog Page 89

Chuỗi sự kiện văn hóa phong phú tại Hội sách Xuân Bính Ngọ của Nhã Nam


Chào mừng Tết Nguyên đán Bính Ngọ, từ ngày 27/1 đến 1/2/2026, Nhã Nam tổ chức Chuỗi sự kiện văn hóa Hội sách Xuân Bính Ngọ, bao gồm 9 sự kiện ra mắt sách mới, gặp gỡ tác giả, các buổi trò chuyện chuyên đề và workshop tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Dọn kho đón Tết là một sự kiện quen thuộc với bạn đọc của Nhã Nam trong những năm qua, chương trình lần này sẽ có một số thay đổi về mặt nội dung và cách thức tổ chức, nhằm đem lại những trải nghiệm ý nghĩa, giàu giá trị tri thức cho độc giả.

Tham gia chương trình Dọn kho đón Tết, độc giả không chỉ được hưởng nhiều mức ưu đãi, quà tặng và tham gia các trò chơi tương tác hấp dẫn, mà điểm nhấn của mùa Tết năm nay còn nằm ở nội dung sách mới cùng chuỗi hoạt động văn hóa đi kèm.

Chuỗi sự kiện văn hóa phong phú tại Hội sách Xuân Bính Ngọ của Nhã Nam - 1

Dọn kho đón Tết của Nhã Nam đã trở thành một sự kiện quen thuộc, ghi dấu sâu đậm trong lòng độc giả mỗi dịp xuân về. Ảnh: Nhã Nam

Trong dịp này, Nhã Nam giới thiệu nhiều đầu sách đặc sắc như: Kim Vân Kiều của Nguyễn Du trong bản dịch và chú giải của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, kèm bộ tranh Kiều chưa từng công bố của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm; công trình khảo cứu Họ và Tên – Một lịch sử nhìn qua danh tính người Việt của nhà nghiên cứu Trần Quang Đức; cuốn sách thứ hai của bác sĩ Nguyễn Lân Hiếu; tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Hồ Anh Thái Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân; hay Những món ăn nuôi ta lớn – cuốn sách ẩm thực nhưng chứa đựng rất nhiều ký ức và chiều sâu văn hóa Việt.

Trong nhóm sách về lịch sử – văn hóa, Nhã Nam cũng giới thiệu các công trình mang tính khảo cứu của các học giả thời Đông Dương như: Phép thờ cúng của người An Nam của Gustav Dumoutier, Muôn hạng dân Bắc Kỳ của Louis Bonnafont; hay như cuốn sách mới của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trung Chính Quách Trọng Trà – Văn khấn cổ truyền Việt Nam

Bên cạnh đó là nhiều đầu sách dành cho các nhóm độc giả khác nhau, từ văn học kinh điển và đương đại, sách tri thức – khoa học, đến thiếu nhi như: De Profundis & Bài ballad về nhà ngục Reading của Oscar Wilde, Ánh đèn nơi bến cảng của Banana Yoshimoto, Tam Quốc Cơ Mật của Mã Bá Dung, Lược sử kinh tế của Daniel Cohen, Khoa học về dinh dưỡng của DK, hay các tác phẩm của Han Kang, Matt Haig, Kevin Chen…

Chuỗi sự kiện văn hóa phong phú tại Hội sách Xuân Bính Ngọ của Nhã Nam - 2

Hội sách Nhã Nam Dọn kho đón Tết năm nay có một số điểm mới, đánh dấu sự thay đổi nội dung và cách thức tổ chức nhằm đem đến trải nghiệm ý nghĩa nhất cho độc giả. Ảnh: Nhã Nam

Điểm đặc biệt nhất của Dọn kho đón Tết năm nay là lần đầu tiên Nhã Nam tổ chức 9 sự kiện chỉ trong năm ngày hội sách. Chuỗi sự kiện này trải dài từ nhiều lĩnh vực và chủ đề, từ giao lưu ra mắt sách với bác sĩ Nguyễn Lân Hiếu, gặp gỡ chuyên gia pháp y Trần Ngọc Sơn, workshop ẩm thực Những món ăn nuôi ta lớn, các buổi trò chuyện về kỹ năng sống, tâm lý học chữa lành, văn hóa Tết, đến những chương trình mang đậm tính học thuật và nghệ thuật như Ngày xuân kể chuyện Kiều, trưng bày tranh Nguyễn Tư Nghiêm, hay tọa đàm Sự an ủi của triết học.

Ông Vũ Hoàng Giang – Phó tổng giám đốc Nhã Nam chia sẻ: “Theo tôi, mô hình hội sách mà chúng ta nên hướng tới cần có sự cân bằng: giữa khuyến mại và các hoạt động góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành xuất bản. Đó có thể là các hoạt động trao đổi bản quyền, gặp gỡ tác giả, giao lưu với dịch giả, biên tập viên, các buổi tọa đàm giới thiệu sách, thảo luận về xu hướng mới của ngành… Khi đó, người đến hội sách không chỉ ‘được lợi về giá’, mà còn được lợi về kiến thức, về trải nghiệm, và có cơ hội gặp gỡ những con người đứng sau các cuốn sách mà trước đây họ chỉ biết qua trang in”.

Chuỗi sự kiện văn hóa phong phú tại Hội sách Xuân Bính Ngọ của Nhã Nam - 3

Các sự kiện tại Hội sách năm nay. Ảnh: Nhã Nam

Hội sách Nhã Nam dọn kho đón Tết sẽ diễn ra đồng thời tại Hà Nội (Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam, số 3 Chùa Láng) và TP.HCM (Cung Văn hóa Lao động, 55B Nguyễn Thị Minh Khai) từ ngày 27/1 đến 1/2/2026.

Với chuỗi sự kiện hấp dẫn, Ban Tổ chức mong muốn, độc giả đến với Dọn kho đón Tết Bính Ngọ sẽ cảm nhận được một bầu không khí văn hóa ấn tượng, nơi sách là trung tâm của các cuộc đối thoại, trải nghiệm và kết nối cộng đồng đọc.

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn

“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động


Đọc hết “Trường ca Hải Phòng” của nhà thơ Nguyễn Hữu Quang, chúng ta có thể còn mong muốn cầu toàn hơn đôi điều (về dung lượng, về câu chữ cùng các chi tiết…), để nó thực sự mang tầm khái quát cao, có sức vang vọng sâu xa hơn, với tư thế một tráng khúc lịch sử có tầm vóc hoành tráng; nhưng dẫu sao, với quy mô như nó hiện có, chúng ta cũng có thể nhận thấy ngay, là tác giả đã rất tâm huyết và dụng công, tạo nên một trường ca 9 chương liền mạch, mạnh mẽ trong mạch thơ, hào hùng trong chất thơ và bước đầu hình thành rõ nét một không khí sử thi tuôn chảy, sôi động, tràn ngập niềm tự hào về quê hương.

Chỉ với hai câu đề từ: “An Biên có tự thuở nào / An Biên ai đặt tên làng An Biên”, và “Hải Tần phòng thủ quê hương / Đất An Biên thấm máu xương đời đời” ở chương “Bám đất giữ làng”, tác giả đã đưa chúng ta về với lịch sử xa xưa, hình thành nên vùng đất địa linh nhân kiệt này. “An Biên” vốn là tên mảnh làng cổ, do nữ tướng Lê Chân khai phá và lập nên từ những năm đầu Công nguyên, khi bà tập hợp quân sĩ chiến đấu chống quân Đông Hán, dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Ngày nay, ở quận Lê Chân vẫn còn di tích đình An Biên, đời đời hương khói, ghi nhớ vị anh hùng cứu nước từ thuở ngàn năm Bắc thuộc của Hải Phòng.

Còn “Hải Tần phòng thủ” chính là tên một trấn, ban sơ là tiền thân của Hải Phòng. Thực ra, tên thương cảng đầu tiên trong lịch sử Hải Phòng lại là Đò Mè, người Pháp phiên âm là Domea, ở cửa sông thuộc Tiên Lãng, gần Đồ Sơn. Nhà hàng hải người Anh là William Dampier (thế kỷ XVII) đã từng nhắc đến tên cảng này trong cuốn “Du hành và khám phá” (1688), như một cảng biển nổi tiếng của xứ Tunquin (Đàng Ngoài). Trong một cuốn sách khác “Lịch sử Đàng Ngoài” mà William Damper viết chung với tu sĩ Richard (Paris, 1775), cũng mô tả chi tiết về cảng Domea như sau: “Cảng này cách cửa sông 5,6 hải lý, là một cảng nước sâu cho thuyền bè thả neo, ra vào buôn bán”. “Người Hà Lan và người Anh đã từng lập thương điếm ở đây”.

Trong bản đồ các cảng châu Á của Johann Mattheus Hase in ở Nuremberg (Đức) năm 1774, cũng có ghi tên cảng Đò Mè (Domea) là một cảng biển quan trọng của xứ Đàng Ngoài, từ đó có thể đi lên Phố Hiến và Kẻ Chợ. Đến năm 1871-1873, Bùi Viện, được Doanh điền sứ Doãn Khuê tiến cử với vua Tự Đức, đã được phép dựng nên ở khu vực này Thương cảng Ninh Hải ở cửa sông Cấm và một căn cứ phòng ngự liền với cảng Ninh Hải, gọi chung là “Hải Tần phòng thủ”, hoặc “Hải Phòng sứ”.

Bùi Viện (1839-1878) đỗ cử nhân năm 1868, rất ham thích các việc khẩn hoang và mở mang cảng biển, đã xin với vua Tự Đức cho lập ra “Thương điếm” đầu tiên ở Hải Phòng và được cử giữ chức Thương chánh Tham biện của Triều đình. Sau này, ông cũng là người đã tìm đường sang tận Mỹ, mang quốc thư của vua Tự Đức, cầu người tiến cử để được đến gặp Tổng thống Mỹ thời đó là Ulisse Grant, và xin được Mỹ viện trợ để kiềm chế thực dân Pháp và khôi phục nền độc lập. Tuy nhiên việc ấy không thành, vì Pháp và Mỹ đang giao hảo tốt đẹp, nên Mỹ không thể giúp Việt Nam mà để mất lòng Pháp, chỉ đồng ý mở rộng giao thương qua các thương cảng của Đàng Ngoài.

“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động - 1

“Trường ca Hải Phòng” của Nguyễn Hữu Quang

Tác giả Nguyễn Hữu Quang đã đưa được vào chương “Mở đất” những câu thơ gắn liền với tên đất, tên núi,… quen thuộc của Hải Phòng, những địa danh thân thương và chan chứa tự hào:“Sức người bền chặt tài tình / Quai đê lấn biển, khai sinh cội nguồn / Từ Kiến An, Thủy Nguyên xuống núi / Những cánh đồng tiếp nối sinh sôi / Tràng Kênh, Phù Liễn, Núi Voi / Từ hang đá đã cho đời đơm hoa…”.

Quê hương tươi đẹp như vậy, nhưng từ bao đời, quân giặc xâm lăng đâu có để chúng ta yên. Sau quân Đông Hán, lại đến quân Nam Hán, một lần nữa âm mưu đô hộ dân ta, ngay khi Ngô Quyền vừa giành lại quyền tự chủ. Nhưng chúng đã phải tan xác dưới lòng sông Bạch Đằng đầy cọc nhọn: “Chiến trường là một bãi chông / Chờ quân Nam Hán đùng đùng kéo sang / Cậy thế mạnh, giặc nghênh ngang đến / Lướt biển Đông, thẳng tiến xâm lăng / Thuyền ta dụ địch giữa dòng / Lừa thuyền địch đến bãi chông đang chờ!”.

Nhưng chưa hết, ba thế kỷ sau, giặc Nguyên Mông vẫn “ngựa quen đường cũ”, để lại bị phơi thây ở sông Bạch Đằng: “Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã / Thây giặc chết chất cao như núi / Xác giặc trôi chật cả dòng sông!…”. Lịch sử quả đã dành cho con sông Bạch Đằng của Hải Phòng một vị thế độc đáo, vô tiền khoáng hậu!

Hải Phòng được chính thức thành lập năm 1888, đúng 30 năm sau khi thực dân Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta (1858). Vừa thành lập, Hải Phòng đã chịu cảnh trở thành một nhượng địa của Pháp. Tuy nhiên, phong trào kháng Pháp chưa bao giờ ngừng ở đây:“Căm hờn ngút tận trời xanh / Đỏ trời phượng cháy trở thành lửa tan / Kim Sơn, Tiên Lãng chống càn / Kẻ thù khiếp đảm, dân càng hăng say / Nhà Hát Lớn, trận đánh hay / Của Thần Thành Ngọ, để đời noi gương!…”.

“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động - 2

 Bưu điện Hải Phòng. Ảnh: Nhiếp ảnh gia Hai LeCao 

Tác giả cũng không quên miêu tả một giai đoạn đau thương, Nhật hất cẳng Pháp, bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, dẫn đến nạn chết đói khủng khiếp hơn 2 triệu người năm 1945: “Bọn phát xít thay thế thực dân / Như lũ quỷ thay bầy lang sói / Bắt dân nhổ lúa trồng đay / Thóc chúng thu hết, thu đầy trong kho…”.” Thân còm xác, da bọc xương / Hàng triệu người chết đầy đường, xót đau!”.

Nhưng dân ta đã vùng lên mạnh mẽ, làm cuộc Cách mạng Tháng Tám oai hùng, tiếp đó làm cuộc Kháng chiến 9 năm oanh liệt, để kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ để đời. Cùng cả miền Bắc, Hải Phòng đã được giải phóng, tiến vào thời kỳ khôi phục kinh tế và xây dựng xã hội mới: “Những tên thực dân lấm la lấm lét / Những tên thực dân bơ phờ bạc nhược / Những tên thực dân gằm mặt cúi đầu / Xuống tàu há mồm, trở về Pháp quốc!”. Và :“Đất Cảng, mười ba thángNăm / Hoàn toàn giải phóng, mốc son sử vàng /, “Hải Phòng hoàn toàn tự do / Cả biển người vỡ òa sung sướng!”,“Cả thành phố đón làn gió mới / dựng xây trên đổ nát, hoang tàn / Nhà máy xi măng, Nhà máy đóng tàu / Những cầu cảng, kho tàng, bến bãi / Tất cả đều dần được khôi phục lại”. Và một khí thế mới được tự giác hình thành: “Mọi người làm ngày, làm đêm / Làm cho mình, làm cho đất nước / Gian nan chẳng quản, khó khăn chẳng lùi / Hải Phòng hồi sinh từng giờ từng phút!…”. Câu thơ của tác giả cũng như đang háo hức cùng khí thế mới ấy.

Nhưng rồi sau Hiệp nghị Giơnevơ, Tổng tuyển cử vẫn không đến. Đáp lại sự tráo trở của kẻ địch và âm mưu chiếm đóng, can thiệp lâu dài vào miền Nam của giặc Mỹ, Bác Hồ phải ra lời hiệu triệu lịch sử: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!”. Và Hải Phòng, lại làm trọn nghĩa vụ cao cả của một vùng đất,vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến, trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ: “Cả Hải Phòng bừng bừng khí thế / Thóc không thiếu một cân / Quân không thiếu một người / Đường bộ, đường sông, đường thủy / Mọi con đường đều hướng ra tiền tuyến!”. Và Hải Phòng cũng còn là một căn cứ của Đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển nữa: “Không dừng lại, mở tiếp đường ra biển / Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển / Một con đường huyền thoại / Một con đường chỉ có ở Việt Nam!… “Những chuyến tàu nối tiếp chuyến tàu / Bến không số, tiễn tàu không số… !”

Ngày 5-8-1964, bắt đầu cuộc Chiến tranh phá hoại của Không quân và Hải quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam. Hải Phòng chính là nơi có chiến công đầu tiên: “Tàu sống sót bay về mẫu hạm / Ba trọng thương với tám tử thương / Một phi công Mỹ đầu hàng / Quân ta thử lửa vẻ vang trận đầu!”. Ai cũng còn nhớ phi công bị bắt năm đó là Alvares, đã trở thành phi công ngồi tù ở Bắc Việt Nam lâu nhất trong Không quân Mỹ, và chỉ được trao trả năm 1973, gần 10 năm sau đó.

Chiến tranh là vô cùng khốc liệt. Bên cạnh những dòng hân hoan viết về chiến thắng, ngòi bút trung thực của tác giả không thể không chùng lại, khi nói về những mất mát đau thương: “Đau thương mất mát không kể xiết / Lớp lớp người đi không trở lại / Chiến tranh tàn khốc lạnh lùng / Biết bao người vợ tiễn chồng ra đi / Hẹn em, thắng Mỹ anh về / Tháng năm vò võ đợi chờ ngóng trông”. Và cả các em nhỏ cũng phải chịu đựng đầy dũng cảm:“ Trẻ đội mũ rơm đến trường / Buổi học nửa chừng, bom Mỹ phá tan, / Căm hờn chồng chất tầng tầng / Máu tươi nhuộm đỏ lên trang giấy đời!”.

…Qua biết bao hy sinh, thử thách, đến ngày 30-4-1975, niềm vui trọn vẹn đã đến cùng toàn dân tộc, như một giấc mơ: “Ba mươi tháng Tư, niềm vui trọn vẹn / Cả Hải Phòng vỡ òa sung sướng! / Người nhảy múa, hát ca / Người ôm nhau, người gào lên sung sướng! / Niềm vui lan ra cỏ cây / Niềm vui lan ra đất trời… / Niềm vui trào dâng ánh mắt nụ cười / Hòa bình, độc lập, tự do / Không phải trong mơ, giờ đây là thật!”. Và Hải Phòng đã được mau chóng nối liền với Thành phố Hồ Chí Minh một cách trực quan, thân thiết không ngờ: “Từ Bắc vô Nam, nối liền nắm tay / Tàu Thống Nhất, từ bến cảng Hải Phòng / Vượt biển, cập bến cảng Nhà Rồng / Nối liền hai miền thành một dải!”.

Đất nước thống nhất, tưởng chỉ tiếp đến những ngày vui trong lao động dựng xây. Nhưng bọn giặc bành trướng phương Bắc lại làm chúng ta thêm một lần gian nan vất vả: “Tháng Hai, bảy chín, vào Xuân / Phía Bắc, bành trướng lại tràn sang ta !”;“Biển người ào ạt xông vô / Hải Phòng tất cả người Hoa rút về / Chiến tranh phía trước đang chờ / Sáu tỉnh biên giới từng giờ lâm nguy!”. Nhân dân và  chiến sĩ Hải Phòng, sát cánh với quân và dân cả nước, lại lập nên kỳ tích mới: “Còn đó, truyền thống cha ông / Hán, Minh, Thanh trước, Nguyên – Mông đã từng!…/ Như đụng phải bức tường đồng / Giặc bành trướng chết, sang không lối về! Bài học xâm lược u mê! / Dạy ai, ai dạy? Thử về ngẫm xem!”. Tác giả đã đay lại lời quân địch bành trướng, khi chúng tuyên bố muốn dạy cho chúng ta một bài học. Kết cục, ai đã dạy cho ai bài học gì, đã được chứng tỏ ngay trên thực địa!

Đánh giặc xong, nhân dân Hải Phòng trở lại gây dựng cuộc đời mới, bước vào công cuộc Đổi Mới và Hội nhập. Một trong các nhiệm vụ rất cấp thiết là phải vun đắp và nâng cao các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tác giả đã dành những dòng thơ vừa trân trọng vừa cụ thể để nói về các vật phẩm, các giá trị đặc sản truyền thống của vùng quê mình: “…Cau Thủy Nguyên, trầu đỏ môi / Cùng hoa Hạ Lũng, kết đôi duyên tình / Chè Chi Mai thơm mát lành / Cam Gia Luận ngọt lòng mình, lòng ta / Tu hài, đặc sản Cát Bà / Mắm Cát Hải, vị đậm đà thơm ngon!/ Cua thịt gạch chắc Đồ Sơn / Bánh đa cua, có đâu hơn Hải Phòng!…”

Đúng là mới điểm xuyết thôi, mà ta đã thấy Hải Phòng thật giàu có và phong phú với vô vàn các sản vật truyền thống. Ấy là tác giả chưa kịp liệt kê hết những làng nghề nổi tiếng của Hải Phòng, như: Làng chiếu cói Lật Dương, làng hoa Mông Thương, làng mây tre Chính Mỹ, Tiên Cầm, làng tạc tượng Bảo Hà, làng đúc Mỹ Đồng, làng Múa Rối nước Nhân Mục, Nhân Hòa, v,v… Không muốn kéo dài hơi thơ kể lể thêm, nhà thơ  đã chấp nhận gói gọn lại trong mấy câu ngắn gọn, mang tính tổng hợp: “Những làng nghề cũng được hình thành / Những lò rèn ngày đêm đỏ lửa …/ Trai khỏe lấy gỗ đóng thuyền,/ Khai hoang, lấn biển ngày đêm chuyên cần / Trồng dâu, dệt lụa, ươm tằm / Thêu thùa, may vá, gái chăm luyện rèn!…”. Vẫn duy trì và phát triển ngành nghề truyền thống, nhưng Hải Phòng không đứng yên, mà luôn học hỏi trau dồi tay nghề, đổi mới công nghệ.

“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động - 3

Hoàng hôn trên bến cảng. Ảnh minh họa

Đất nước ta có tới trên hai ngàn cây số bờ biển, nhân dân ta mà đặc biệt là dân chài lưới, dân đi biển… từng gắn liền với môi trường kinh tế biển lâu đời, biết khai thác các thế mạnh của biển; nên càng luôn muốn mở rộng cơ hội vươn ra biển, làm sao để đất nước ta phải trở thành một quốc gia biển, thậm chí một cường quốc biển, đó là mơ ước bao đời của dân tộc ta! Con người Hải Phòng, cùng với vị thế và tâm niệm của mình, cũng sẵn sàng muốn đi đầu trong khát vọng chính đáng ấy. Tác giả đã phác họa ra một biểu tượng đẹp: “Thành phố của những cây cầu / Thành phố của những khởi đầu vươn xa”, để rồi tiếp đó, phát biểu trực diện, nói rõ lên khát vọng sâu xa của mỗi người Hải Phòng: “Phát huy truyền thống ông cha / Vươn ra biển lớn, để mà mở mang!…”Và nhà thơ minh hoạ thêm: “Đình Vũ, Lạch Huyện đổi đời / Cầu vượt ra đảo, nối dài không gian / Cát Bà, thành lũy vững bền / Lá chắn thép, tạo dựng nên cơ đồ!”, rồi kết thúc bằng một biểu tượng: “Đất nước hình tựa Con Rồng / Hải Phòng châu ngọc, miệng rồng tuôn ra… / Vươn ra, biển lớn vươn xa / Đó là ý chí, đó là niềm tin!”.

Phải ghi nhận, dù với một dung lượng còn khá khiêm tốn, mà tác giả Nguyễn Hữu Quang đã đề cập được đến hầu hết những vấn đề cốt lõi của lịch sử dựng nước và giữ nước của Hải Phòng, mở rộng ra các vấn đề về tâm linh, các giá trị tinh thần, giá trị văn hóa, học thuật của quê hương mình, mặt khác, nhà thơ cũng không quên phác họa một cách cụ thể, sinh động tâm thế của con người trong bối cảnh của đời sống kinh tế -xã hội Hải Phòng qua nhiều năm tháng đáng nhớ. Chia sẻ cùng tác giả, mỗi chúng ta càng thấy yêu mến và tự hào hơn về Hải Phòng, tin tưởng hơn vào sự trưởng thành mạnh mẽ và vững bền, sự phát triển tươi sáng và phồn vinh của vùng đất địa linh nhân kiệt này, mà mỗi người dân từng đã xây dựng, vun đắp nên nó đều rất xứng đáng được hưởng.

Chúng ta cũng thành tâm chúc mừng tác giả Nguyễn Hữu Quang đã nỗ lực tạo dựng được nhiều câu thơ, đoạn thơ khỏe khoắn, hào hùng. Ở những câu tâm huyết và hàm súc nhất, nhiều khi cũng đã kịp dội vang lên một không khí sử thi sôi động, mà có lúc có chỗ đã có thể bắt nhịp được tới khí phách anh hùng ca! Đó là phẩm chất vô cùng quý giá trong giọng điệu thơ trữ tình nội tâm, mà tác giả sẽ còn cần tiếp tục trau dồi, phấn đấu, và hoàn chỉnh trong những trường ca tới.

Bằng Việt




Nguồn: Arttimes.vn

Lòng sông gương sáng bụi không mờ (Suy nghĩ về sứ mệnh văn hóa của nhà văn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc)


Sứ mệnh văn hóa của nhà văn, đặc biệt là những nhà văn đảng viên, trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không có gì khác ngoài trau dồi bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật, nói hình tượng thì cần phải đạt tới “hồng thắm, chuyên sâu”, phấn đấu viết cho “chân thật, hùng hồn” sự nghiệp vĩ đại, vẻ đẹp của công cuộc cứu quốc và kiến quốc của dân tộc Việt Nam xây đắp nên trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhà văn dù trong hoàn cảnh nào cũng cần thực hành triệt để phương châm “sống rồi mới viết”.

Văn hóa dân tộc và văn hóa đảng

Chúng ta thường tự hào, tự tin nói và viết về văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử, về văn hóa Hồ Chí Minh được hiểu là biểu tượng của “văn hóa tương lai” như nhà thơ, nhà báo Xô – viết tài năng O. Mandenstam đã viết từ năm 1923, trong bài Đến thăm một chiến sĩ Cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc (đăng trên báo Ngọn lửa nhỏ, số 39, ra ngày 23/12/1923): “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”.

Tính đến năm 2025, Việt Nam là quốc gia thuộc số ít của nhân loại vinh dự và tự hào có 8 Danh nhân Văn hóa thế giới đã được UNESCO vinh danh đều là nhà văn: Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Chu Văn An, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Lê Quý Đôn. Danh sách này sẽ được nối thêm trong tương lai như một niềm tin tưởng có cơ sở thực tiễn vững chắc.

Nhưng vì sao chúng ta rất ít nói, viết về văn hóa Đảng? Với lực lượng hùng hậu hơn 5,6 triệu đảng viên hiện nay, trong một đất nước hơn 100 triệu dân – đó là một “con số biết nói” – là nguồn suối dồi dào chất liệu để nhà văn khám phá và phát hiện vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam thời đại mới. Nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ Kết nạp Đảng trên quê mẹ (1949) đã viết những câu thơ mở đầu chân thành và da diết: “Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn năm trời/ Kết nạp Đảng, bỗng quay về quê mẹ/ Có phải quê hương gọi ta về đấy nhỉ?/ Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm/ Trong buổi đầu ta theo Đảng đi lên”. Bài thơ kết thúc bằng những câu thơ giàu chất chiêm nghiệm: “Tôi đứng dưới cờ giơ tay tuyên thệ/ Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ/ Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu/ Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn nhau”.

Lòng sông gương sáng bụi không mờ (Suy nghĩ về sứ mệnh văn hóa của nhà văn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc) - 1

Ảnh minh họa

Trong Cách mạng tháng Tám (1945), lực lượng của Đảng lúc đó chỉ có khoảng 5.000 đảng viên ưu tú, đã lãnh đạo hơn 25 triệu người dân đứng lên đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vậy nên những câu chuyện sinh động về văn hóa Đảng hiển hiện qua những con người cụ thể, thiết nghĩ, tạo nên sự bình đẳng của văn hóa Đảng trong sự phong phú của văn hóa dân tộc nói chung.

Những câu chuyện về văn hóa Đảng được kể lại ở đây chưa phải là tất cả, song hàm chứa nhiều ý nghĩa điển hình để tất cả chúng ta củng cố niềm tin vào chân lý: Dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù ngoại bang hùng mạnh và tàn bạo chính là nhờ vào sức mạnh của văn hiến, văn hóa Việt Nam, đúng như Nguyễn Trãi minh định với tất cả niềm tự hào to lớn: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Bình Ngô đại cáo).

Đồng chí Trường Chinh (làm thơ ký bút danh Sóng Hồng, tác giả hai tập thơ – Thơ Sóng Hồng I, II, xuất bản 1966, 1974) là một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng từ trước ngày giành chính quyền, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Câu chuyện văn hóa giữa đồng chí Trường Chinh và đồng chí Tố Hữu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) cho chúng ta một cảm nhận sâu sắc về văn hóa Đảng.

Khi đang là Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, cuối năm 1947, đồng chí Tố Hữu được tổ chức điều động lên Việt Bắc làm công tác văn hóa. Cuộc gặp đầu tiên với lãnh đạo Đảng là với đồng chí Trường Chinh (trên cương vị Tổng Bí thư). Cảm giác đầu tiên của đồng chí Tố Hữu khi gặp đồng chí Trường Chinh là đang ngồi trước một con người điềm đạm, tự tại, uyên bác, anh minh. Buổi gặp gỡ, làm việc đầu tiên chỉ trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ. Đồng chí Trường Chinh chia sẻ: “Mặt trận văn hóa rất cần thiết, cần có cán bộ biết làm việc, đoàn kết được anh em, giúp họ nắm, hiểu được đường lối của Đảng. Bác Hồ nói: Phải “Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến”. Bác nói vắn tắt thế, nhưng ý nghĩa rất sâu xa đấy!”.

Một lần khác gặp gỡ, sau khi trao đổi công việc chung, đồng chí Trường Chinh bất ngờ hỏi đồng chí Tố Hữu:

“- Này! Theo ý anh thì Gorki là lãng mạn hay hiện thực?

Tôi thực sự bất ngờ, làm sao trong tình thế nguy kịch này mà anh lại điềm nhiên nghĩ về văn chương như thế được. Nhưng cũng rất thích và mừng thầm: Các đồng chí lãnh đạo Đảng mình trong tình thế hiểm nghèo mà vẫn bình tĩnh nghĩ đến cả vấn đề văn hóa. Thật là thú vị. Vì vậy quên cả mệt nhọc, tôi cũng thưa chuyện ngay:

Thưa anh, tôi đọc được ít, nhưng nói đến Gorki thì ai cũng biết, hiển nhiên ông là một nhà văn hiện thực lớn của Liên Xô, thậm chí đó là người tiêu biểu cho nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Anh Trường Chinh ngắt lời tôi:

Dĩ nhiên là thế. Nhưng tôi muốn hỏi ý anh: Cuốn Người mẹ có tính lãng mạn không?” (Tố Hữu, Nhớ lại một thời, hồi ký, NXB Hội Nhà văn, 2000, tr.186, 187, 196, 197).

Hình tượng người chiến sĩ cộng sản trong văn chương

Thiếu tinh thần lạc quan cách mạng thì không thể tự tại và an nhiên bàn luận về những vấn đề văn hóa, văn chương trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng như thế. Vì thế trong thơ Sóng Hồng, người đọc cảm nhận sâu sắc một phong thái ung dung, tự tại của một hiền nhân, hiền triết, hơn thế của một người chiến sĩ Cộng sản giàu tinh thần thực tiễn.

Bạn đọc hãy cùng chúng tôi thưởng thức bài thơ Đi họp (Việt Bắc, mùa đông, 1953): “Vút ngựa vượt qua đèo/ Rì rầm tiếng suối reo/ Xuống đèo vừa mới tối/ Vằng vặc mảnh trăng treo/ Ngựa mỏi đi bước một/Người suy nghĩ vấn vương/Nhiều khi ý kiến lớn/ Vụt đến lúc đi đường/ Đêm lạnh cành sương đượm/Long lanh bóng nguyệt vờn/ Nhà ai bếp vẫn đỏ/ Thấp thoáng ở sườn non?/ Đường xa cơn gió rít/ Xao xác chim cầm canh/ Hội nghị mai sớm họp/ Băm băm ngựa bước nhanh” (nước băm nước bổ, tức nước kiệu và nước đại, chú thích của nhà thơ).

Đọc bài thơ, chúng ta sẽ thấy thi sĩ trước hết là người có tâm hồn rộng mở, có tình yêu sâu sắc với đời, với người, với tạo vật thiên nhiên. Bây giờ nhiều người đổ cho cơ chế thị trường, tiền bạc lên ngôi giết chết cảm xúc, nên không có thơ hay (!?). Nhà bác học Lê Quý Đôn viết: “Thơ phát khởi từ trong lòng người”. Nhà thơ Tố Hữu viết: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”. Những người làm thơ hôm nay nếu thiếu hụt những phẩm tính đó thì thơ không lay động được lòng người, không “bay” lên được là điều dễ hiểu.

Một trong những học trò xuất sắc của Lãnh tụ Hồ Chí Minh là đồng chí Võ Nguyên Giáp “văn võ song toàn”. Đặc biệt tên tuổi của ông gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ oanh liệt, “Lừng lẫy  năm châu, chấn động địa cầu”, chấm dứt vĩnh viễn ách đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam hơn 80 năm.

Trong bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên (1954) nhà thơ Tố Hữu viết: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên/ Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp/ Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!/ Vinh quang Tổ quốc chúng ta/ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa/ Vinh quang Hồ Chí Minh, cha của chúng ta ngàn năm sống mãi”.

Năm 2019, đoàn nhà văn Việt Nam (gồm nhà thơ Bằng Việt và nhà văn Bùi Việt Thắng) tham dự Hội nghị Quốc tế Nhà văn Á – Phi – Mỹ Latinh tổ chức tại Islamabad (Thủ đô nước Cộng hòa Hồi giáo Pakistan) với chủ đề “Điểm gặp thẩm mỹ giữa truyền thống và hiện đại”, khi giao lưu với bạn bè quốc tế đã nhận được câu chào làm quen bằng tiếng Việt thân thương: “Việt Nam – Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ – Võ Nguyên Giáp”. Không có gì đáng tự hào hơn khi ra thế giới danh từ riêng Võ Nguyên Giáp vang lên cùng với danh từ Đất nước và Lãnh tụ. Đại tướng khoác quân phục nhưng tâm hồn nghệ sĩ, yêu say chơi đàn piano, đam mê đọc sách. Ông quan tâm đến văn hóa đất nước, đặc biệt có tình cảm sâu sắc với văn nghệ sĩ.

Năm 1987, đêm nhạc Văn Cao được tổ chức ở Hà Nội, Đại tướng và phu nhân đến dự. Khi biết tác giả Quốc ca không được khỏe (bị bệnh đau cột sống, liệt nửa người), ông đã gọi điện cho Giáo sư Lê Thế Trung đề nghị đón nhạc sĩ tài danh về Bệnh viện Quân Y 103, tạo mọi điều kiện tốt nhất chữa trị. Nhờ nghĩa cử của Đại tướng, tác giả Quốc ca thọ thêm được 8 năm. Nhà thơ Anh Ngọc đã viết bài thơ Vị tướng già (1994) được đồng bào, đồng chí của mình yêu thích với những câu thơ đi suốt thời gian “Ru giấc mơ của vị tướng già/ Có tiếng khóc xen tiếng cười nức nở/Một chân ông đã đi vào lịch sử/ Một chân còn vương vấn với mùa thu”.

Suy nghĩ về văn hóa Đảng, không có gì xa xôi trừu tượng. Văn hóa Đảng tượng hình trong văn hóa người cộng sản chân chính, trong văn hóa thời đại Hồ Chí Minh. Trong văn học Việt Nam đương đại (từ sau 1975) hình thành rõ nét một dòng sáng tác viết về các chiến sĩ cộng sản tiêu biểu – Lãnh tụ Hồ Chí Minh và những đảng viên trung kiên của Đảng với tinh thần “dĩ công vi thượng”, suốt đời hy sinh vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, mỗi đảng viên là một tấm gương sáng về đạo đức, trí tuệ, một nhân cách văn hóa tiêu biểu, tựa như “Lòng sông gương sáng bụi không mờ”.

Có thể điểm danh (tuy chưa đầy đủ) những tác phẩm tiêu biểu về chủ đề văn hóa Đảng: Trong thể loại hồi ký do Hữu Mai ghi Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử; trong thể loại tiểu thuyết của Sơn Tùng (Búp sen xanh, Bông sen vàng), Hồ Phương (Cha và con), Trần Việt Trung (Người công giáo cộng sản), Nguyễn Thế Kỷ (Hừng Đông, Nước non vạn dặm), Hoàng Quảng Uyên (Mặt trời Pác Bó, Trông vời cố quốc, Giải phóng), Nguyễn Thế Quang (Đường về Thăng Long), Thiên Sơn (Gió bụi đầy trời, Cuộc phân tranh); trong thể loại thơ có Vị tướng già của Anh Ngọc, Một người thơ – tên gọi (trường ca, hơn 12.000 câu lục bát) của Nguyễn Thế Kỷ (1935- 2021), Trăng Tân Trào (trường ca) của Hữu Thỉnh; trong thể loại ký có Bác Hồ ở Phan Thiết, Từ làng Sen đến bến Nhà Rồng, Theo dấu chân Người của Trình Quang Phú; trong thể loại kịch có Lá đơn thứ 72 (kịch bản văn học) của Hoàng Thanh Du,…

Trong trường hợp này, thiết nghĩ, không phải là câu chuyện đề tài (viết về cái gì?) mà là vấn đề cách viết (viết như thế nào?). Chúng tôi thấy cần thiết phải nhắc lại bài thơ Với Đảng mùa xuân (viết 1/1977) của nhà thơ Tố Hữu để rút ra bài học nghệ thuật “Văn học viết về văn hóa Đảng”. Có thể nói, Tố Hữu là nhà thơ hàng đầu tự nguyện, trung thành và gặt hái thành công trong thơ viết về tình yêu Dân tộc – Đất nước – Nhân dân – Đảng – Lãnh tụ – Đồng bào – Đồng chí từ trước 1945 cho đến những năm 90 của thế kỷ XX  qua các tác phẩm  thơ tiêu biểu Hồ Chí Minh, Sáng tháng năm, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Bác ơi, Theo chân Bác, Việt Nam máu và hoa, Nước non ngàn dặm, Với Đảng mùa xuân; hồi ký Nhớ lại một thời. Nhà thơ đã viết từ tấm lòng chân thành, tôn kính đối tượng với một nghệ thuật ngôn từ đẹp đẽ, giản dị và gần gũi với đại chúng nhưng vẫn giàu phẩm chất tinh hoa, theo phong cách trữ tình – chính trị, đạt tới độ cao sâu “đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ, đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim”.

Suy nghĩ về sứ mệnh văn hóa của nhà văn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Sứ mệnh văn hóa của nhà văn, đặc biệt là những nhà văn đảng viên, trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không có gì khác ngoài trau dồi bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật, nói hình tượng thì cần phải đạt tới “hồng thắm, chuyên sâu”, phấn đấu viết cho  “chân thật, hùng hồn” sự nghiệp vĩ đại, vẻ đẹp của công cuộc cứu quốc và kiến quốc của dân tộc Việt Nam xây đắp nên trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhà văn dù trong hoàn cảnh nào cũng cần thực hành triệt để phương châm “sống rồi mới viết”.

Tinh thần đối diện với đời sống, đối diện với sự thật đòi hỏi lòng dũng cảm, bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật của nhà văn ngày càng cao để tiếp cận chân lí. Trên con đường khám phá quy luật đời sống bằng nghệ thuật ngôn từ, đạt tới bản sắc dân tộc đậm đà, người nghệ sĩ  trước sau thực hành nguyên tắc “đến hiện đại từ truyền thống”. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã có ý kiến thuyết phục “Đi hết dân tộc chúng ta sẽ gặp nhân loại” – nghĩa là góp vào văn minh, văn hóa nhân loại bằng chính vốn văn hiến, văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến theo quy luật chân – thiện – mĩ. 

Lịch sử văn học Việt Nam đã cung cấp những bằng chứng sinh động về hình tượng người chiến sĩ Cộng sản trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, được đặc trưng qua đề tài truyền thống (chiến tranh cách mạng và lịch sử hiện đại). Nhưng có thể nói một cách khách quan và công bằng khi nhà văn chúng ta còn nợ Đất nước và Nhân dân những tác phẩm văn chương xứng tầm với truyền thống văn hóa dân tộc và tầm vóc của công cuộc Đổi mới được quan niệm như là nền móng, tiền đề, đà tiến của kỷ nguyên vươn mình của đất nước hiện nay.

Nếu nói nhà văn đang tụt hậu với đời sống xã hội cũng không quá khi hiện thực khách quan đang mở ra cả chiều rộng và chiều sâu trong tính gia tốc, phi truyền thống chưa từng thấy của nó. Vì thế, nếu nói cần phải có một cuộc “nhận đường” tiếp theo trong tình hình hiện nay cũng không có gì đáng ngạc nhiên và tranh luận sôi nổi trong văn giới như hồi đầu kháng chiến chống Pháp nhân việc nhà văn Nguyễn Đình Thi viết bút ký Nhận đường (31/12/1947).

Tận cùng của văn hóa là con người. Nhận diện và đón đợi con người thời đại đang phát triển theo xu hướng nào chính là thước đo tài năng và viễn kiến của nhà văn chân chính (tâm và tầm). Kỷ nguyên mới của dân tộc đòi hỏi nhà văn vượt lên chính mình, thoát khỏi những gì vốn được coi là nhất thành bất biến, vĩnh viễn có thể tạo nên “vòng kim cô” với người sáng tác theo kiểu “ăn mày dĩ vãng”. Những định đề về nhà văn là “kỹ sư tâm hồn”, là “thư ký thời đại”, là “người chắt chiu cái đẹp”, là “bạn đồng hành”, là “người tiếp lửa”… không bao giờ cũ.

Bùi Tùng Ảnh




Nguồn: Arttimes.vn

Nguyễn Xuân Tuấn – Người nặng tình với quê hương


Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn là người con xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Đồng đất quê hương đã nuôi dưỡng tâm hồn anh và cho anh những bước đi khang trang, dài rộng, sự trưởng thành để mỗi khi trở về quê hương chính là một sự hướng tới với những trọng trách trong khả năng nhiệt huyết và trí tuệ của anh.

Thuần Hưng, vùng đất cổ nơi châu thổ sông Hồng với rất nhiều di chỉ, di tích văn hoá lịch sử từ thời Hồng Bàng, tiếp đến Hùng Vương, tiếp đến Hai Bà Trưng dựng nền độc lập, tiếp đến Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và hôm nay là thời đại Hồ Chí Minh thì vẫn nguyên ở đó những vẻ đẹp thuần hậu, chất phác, thảo thơm tình nghĩa của mỗi người dân với quê hương và nguồn cội.

Quê hương đi mấy vẫn gần. Dù nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn bước chân có đặt khắp miền Tổ quốc, khắp trời Phi, trời Âu, các nước bốn biển năm châu thì tình cảm của anh, trí tuệ của nhà văn vẫn dành phần hướng về quê hương nguồn cội, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Đó chính là vẻ đẹp nhất của mỗi con người chúng ta, những đóng góp lặng thầm với quê hương đất nước.

Nguyễn Xuân Tuấn - Người nặng tình với quê hương - 1

Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhà  văn Phùng Văn Khai

Chúng tôi trong một cuộc tìm đến với mảnh đất Thuần Hưng quê hương nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn, bên gốc đa lịch sử Sài Thị, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Hưng Yên đã được nghe đồng chí Bí thư Đào Xuân Huy kể những câu chuyện về lịch sử truyền thống hào hùng của cha ông, nhất là của bảy đồng chí trong Chi bộ đầu tiên nay đã theo về thế giới người hiền.

Trong câu chuyện của đồng chí Bí thư họ Đào đã nhắc nhiều về nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn với sự trân trọng và nhất là niềm tin, sự tự hào về một người con của quê hương. Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn vốn luôn ấp ủ và thực hiện những việc làm có ích cho quê hương Thuần Hưng – Khoái Châu của mình. Anh luôn mời các nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, nhà văn, nhà thơ có tên tuổi trong cả nước về với Thuần Hưng, viết về Thuần Hưng, nói về Thuần Hưng.

Giáo sư Sử học Lê Văn Lan, khi về với Thuần Hưng đã có những phát biểu rất sâu sắc về lịch sử, về trầm tích của địa danh Lịch sử Đại Mang Bộ, nơi các vị vua Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai (1285) đã sử dụng làm hành doanh tập kết quân lương, chiến thuyền, binh lực từ các ngả để từ đó chỉ huy cuộc phản công với những chiến thắng lẫy lừng: Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương mà sau này đã thể hiện rõ trong lời thơ của Thượng tướng Trần Quang Khải:

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù

Thái bình tu trí lực

Non nước ấy ngàn thu

(Tụng giá hoàn kinh sư).

Giáo sư Lê Văn Lan đã phân tích và khẳng định địa thế chiến lược của đại mang bộ gắn liền với nhánh sông Cửu An nối thông với sông Hồng và các vùng đầm lầy liên thông xuống đầm Dạ Trạch chính là hiểm địa trời ban để quan quân nhà Trần phát huy thế mạnh thuỷ quân từng bước, từng trận đánh tan giặc phương Bắc, giành lại giang sơn gấm vóc. 

Từ vị thế và ý nghĩa văn hoá lịch sử của mỗi vùng đất, nhất là địa danh Đại Mang Bộ trên quê hương Thuần Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên, rất cần các thế hệ trẻ hôm nay tìm hiểu và khơi thông nguồn mạch bằng các việc làm cụ thể, các biểu tượng cụ thể như: xác lập và khẳng định vị trí, tầm quan trọng của các di chỉ, di tích; khơi dựng mới, trùng tu, tôn tạo các di tích văn hoá lịch sử đúng với tầm vóc của nó; thực hiện các hoạt động lễ hội trên tinh thần khoa học lịch sử để củng cố và phát huy sức mạnh văn hoá cội nguồn theo đúng tinh thần về phát triển bản sắc văn hoá dân tộc mà Đảng ta, nhà nước ta đã chỉ rõ góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân trong đó có bà con nhân dân đất Thuần Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên. 

Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, các đồng chí lãnh đạo địa phương, nhất là nhân dân địa phương đều mong muốn những việc làm thiết thực về văn hoá lịch sử sẽ ngày càng được quan tâm nhiều hơn nữa, thiết thực hơn nữa. Bí thư xã Đào Xuân Huy khi trao đổi với nhà văn Phùng Văn Khai – Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội và đạo diễn truyền hình tỉnh Hưng Yên Trần Ngọc Anh đã rất phấn khởi cho biết khu di tích cây đa Sài Thị gắn với sự ra đời của chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Hưng Yên từ khi được xây dựng khang trang với một số hạng mục trong đó có Nhà lưu niệm chính là địa điểm giáo dục truyền thống giàu ý nghĩa với thế hệ trẻ.

Mỗi dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn, các thế hệ học sinh, các đoàn thể thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, phụ lão đều tới đó ôn lại truyền thống văn hoá lịch sử, ôn lại truyền thống quê hương cách mạng cũng chính là làm giàu tri thức của mình, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của các tầng lớp nhân dân.

Từ thực tiễn ấy, nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn trong các cuộc trở về quê hương, làm việc với chính quyền địa phương, anh đều ấp ủ phải làm điều gì đó có ích, nhất là phải khơi dậy các giá trị truyền thống văn hoá lịch sử một cách bền vững nhất. Anh thường xuyên trao đổi với lãnh đạo địa phương, với nhà báo Trần Ngọc Anh, nhà văn Phùng Văn Khai về những trăn trở của mình và động viên, khích lệ, thậm chí là “giao nhiệm vụ” tới các bạn đồng nghiệp để họ chung tay góp sức với vùng quê xứ nhãn.

Nguyễn Xuân Tuấn - Người nặng tình với quê hương - 2

Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn.

Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn luôn đau đáu nhiều công việc với cộng sự ở các mảng khác nhau. Anh không chỉ tham gia tích cực và có những đóng góp thiết thực với quê hương mà còn giành nhiều tâm huyết và tình cảm với các vấn đề văn hoá lịch sử trên cả nước trong đó có việc hỗ trợ các chương trình, các cá nhân giới thiệu và xuất bản các tác phẩm có giá trị góp vào đời sống văn hoá, văn học nghệ thuật thời gian vừa qua.

Đó là những tác phẩm: Kẻ thù vô hình Covid 19; Làm giàu muôn đời; Nhà văn Lê Lựu – Văn chương và số phận; Nhạc sĩ Đoàn Bổng – Bắt đầu từ đôi mắt; Triệu Vương phục quốc; Trưng Nữ Vương; PGS.TS.Phùng Minh Hiến – Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam thời hiện đại… đã cho thấy tấm lòng thơm thảo và tầm nhìn, biên độ khoa học xã hội nhân văn sâu sắc của nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn.

Dành lời tri ân, nhạc sĩ Đoàn Bổng đã xúc động viết: Gần đây, tôi được biết đến nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhà văn Phùng Văn Khai với tấm lòng thơm thảo, tri ân đến các văn nghệ sĩ đã có công lao và đóng góp nhất định đối với văn hóa, văn học nghệ thuật nước nhà, ví như việc hai nhà văn tổ chức xuất bản cuốn sách “Nhà văn Lê Lựu – văn chương và số phận” vừa ra mắt rất thành công.

Tôi cũng được biết, hai nhà văn có ý tưởng sẽ cùng nhau hợp tác và liên hệ từ các nguồn tài trợ xã hội để xuất bản những cuốn sách, các tập thơ có giá trị  của các nhà văn, nhà thơ, góp phần đóng góp thiết thực cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà và phong trào văn hóa đọc của mọi người dân. Lan tỏa hơn nữa tinh thần nhiệt huyết, đam mê, dũng cảm, dấn thân trong việc học tập, đọc sách suốt đời cho thế hệ trẻ tương lai của đất nước, chung tay xây dựng Tổ quốc Việt Nam khang trang, bền vững.

Đó cũng là sự chân thành của nhạc sĩ với các nhà văn.

Chúng tôi tạm dời mảnh đất Thuần Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên giữa lúc tiết trời mùa thu dịu nhẹ cao xanh thoáng rộng thoang thoảng hương sen độ cuối mùa. Dọc đường, vô vàn sắc hoa khoe hương thơm nhuỵ thắm dọc các triền đê bờ bãi sông Hồng cho chúng tôi cảm giác như bơi trên sóng lúa mênh mang. 

Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn, anh như con đường làng thầm lặng đã bao năm, như vạt lúa đồng trĩu hạt, như vạt ngô đất bãi trổ cờ mướt mát, như những con thuyền ngoài sông phấp phới cờ đỏ sao vàng đang thì thầm chuyển động cùng đất đai nguồn cội tạo nên sắc vóc mới cho quê hương, đất nước đang đổi mới từng ngày.

Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn với quê hương nguồn cội Thuần Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên đã cho chúng tôi cảm nhận thêm về vẻ đẹp của con người bình dị, thiết thân.

Nguyễn Thị Bích Ngọc




Nguồn: Arttimes.vn

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”: Gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân


“Nhâm nhi Tết Bính Ngọ” do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành là một tuyển tập đặc sắc, quy tụ truyện ngắn, thơ, tản văn cùng các bài khảo cứu về lịch sử, mỹ thuật, âm nhạc, được sáng tác bởi nhiều tác giả, họa sĩ đã dành trọn cảm hứng cho mùa xuân và linh vật Ngựa – biểu tượng của năm Bính Ngọ.

Cuốn sách mở ra một không gian Tết Việt Nam đa thanh sắc: từ bếp lửa, bánh chưng, chén chè xanh ngày Tết, những kí ức tuổi thơ êm đềm, đến tranh dân gian, lễ hội đua ngựa và những dấu mốc lịch sử của dân tộc gắn với năm Ngọ.

Xuyên suốt các trang sách là hình ảnh con ngựa, biểu tượng của sự bền bỉ, tự do, trung thành và khát vọng vươn xa, được thể hiện sinh động qua văn chương, hội họa và từ vốn cổ cha ông.

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”: Gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân - 1

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”. Ảnh: NXB Kim Đồng

Bạn đọc sẽ gặp lại không khí Tết thân thương qua những câu chuyện ấm áp, nhân văn trong Khách lạ đêm giao thừa (Cao Nguyệt Nguyên), Dừa cạn ở nhờ (Mộc An), Kỉ niệm của bé Xí (Đỗ Thị Phương Nhi), hay giàu chất tưởng tượng, xúc cảm gia đình trong Chú ngựa có cánh (Nguyễn Dương Quỳnh), truyện tranh Bánh Tết của Ngựa Bơ (Múc).

Chùm thơ Tết tạo nên nhịp điệu xuân trong trẻo với những sáng tác quen thuộc và mới mẻ như: Tuổi Ngựa (Xuân Quỳnh), Mùa xuân trong mắt bé (Hương Minh Tuyết), Nắng xuân (Bùi Minh Huế), Xuân này, lần đầu mặc áo dài (Lê Minh Quốc), Vè năm mới (Nguyễn Quỳnh Mai), cùng bản dịch thơ Bồ công anh xinh xắn (Frances Ellen Watkins Harper, Hoàng Thu Phương dịch).

Ấn phẩm cũng đưa người đọc trở về với những phong vị Tết truyền thống qua các tản văn, truyện kí giàu chiều sâu cảm xúc như: Đã nghe hương cốm tan vào gió xuân (Trần Văn Thiên), Chén chè xanh, Tết ngọt lành (Hàn Dương), nơi kí ức gia đình, ẩm thực Tết và nếp sống Việt được khắc họa tinh tế, chậm rãi.

Độc giả cũng được tham gia hành trình khám phá di sản qua: Đặc sắc bao điệu múa ngựa dọc miền đất nước (Phạm Ngọc Tuân), Độc đáo tranh dân gian Bắc Bộ (Nguyễn Thị Thu Hòa), Kị sĩ chân đất ở Bắc Hà (Mỹ Hạnh), hay những câu chuyện lịch sử như Lam Sơn thần mã (Thành Châu), Ngày xưa có một thần đồng (Lê Vân).

Bên cạnh đó tuyển tập còn mở ra không gian thưởng xuân qua âm nhạc, hội họa trong các bài kí: Một mùa xuân nho nhỏ (Phạm Xuân Dũng), Tranh vẽ trẻ em của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm (Vũ Thị Hằng), và những lát cắt lịch sử giàu giá trị giáo dục trong Những năm Ngọ kể chuyện: Từ cậu bé Cung đến Chủ tịch Hồ Chí Minh (Thu Huyền).

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”: Gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân - 2

Cuốn sách mở ra một không gian Tết Việt Nam đa thanh sắc. Ảnh: NXB Kim Đồng

Điểm nổi bật của Nhâm nhi Tết Bính Ngọ nằm ở cách tiếp cận đa thế hệ, tác phẩm lấy bạn đọc nhỏ tuổi làm trung tâm nhưng đồng thời cũng mở ra không gian đọc chung cho cả gia đình. Mỗi tác phẩm không chỉ mang đến cho trẻ em những trải nghiệm mới mẻ, mà còn khẽ khàng đánh thức trong người lớn những ký ức Tết trong trẻo, thân thương đã lắng sâu theo năm tháng.

Với hình thức ấn phẩm sang trọng gồm bìa cứng, bìa áo, hộp quà Tết kèm mô hình ngựa hoa xinh xắn, Nhâm nhi Tết Bính Ngọ là món quà Tết tinh tế, giàu giá trị tinh thần, góp phần gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân, bồi đắp văn hóa đọc trong mỗi gia đình Việt.

Bạch Dương




Nguồn: Arttimes.vn

Tâm hồn bạn trên câu chữ vừa rốt ráo (Đọc tập thơ “Cúi mình xuống lượm hột cơm rơi” của Nguyễn Thị Kim Tuyến, NXB Văn học 2025)


39 bài thơ không ngắn cũng không dài, vừa đủ chạm tới sự thanh lắng, day dứt, miên man trong cái tôi và chúng ta, đi qua châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, đi qua những cảm thức sống quanh mình, để rồi thơ bật dậy, nảy mầm. Tập thơ đầu tay của tác giả Nguyễn Thị Kim Tuyến xứ Đồng Tháp có tiêu đề “Cúi mình xuống lượm hột cơm rơi” – Nhà xuất bản Văn học, vừa in xong hồi quý II năm 2025.

Bìa thơ màu váng phèn của đất quê, tàu dừa xoã mình như cây lược mẹ chải đầu cho con gái những năm bé bỏng, những ngày tháng thần tiên. Chính đó là chất liệu sống cho ra dữ liệu thông tin trên ngôn bản thơ. Trập trùng thương nhớ mà không bi luỵ, trập trùng khát vọng mà không hô hào, trập trùng yêu quê nhà bổn xứ bằng một tình yêu công dân chuộng hoà bình, giữ gìn hồn cốt của quê cha đất mẹ. Thơ Tuyến bay lên hay đằm sâu trong lấp lánh vảy sáng đi qua lòng người… 

“Nhà chật” vì sân vườn chim hót, lá hoa reo nở, giá sách đầy sách, bếp đang sôi lửa chờ rót ấm trà đãi đằng nhau chân chất. Tới với nhau chớ mang theo quà khách sáo, giữ trong nhau bao điều chân thật như tình bạn mãi sáng trong, đó là điều mong mỏi “giữa ngổn ngang đời”. “Cảm ơn bạn đến thăm nhà/dẫu nhà có chật/bạn mang cho tôi một điều chân thật/một vạt cười/một vạt người”.

Tâm hồn bạn trên câu chữ vừa rốt ráo (Đọc tập thơ “Cúi mình xuống lượm hột cơm rơi” của Nguyễn Thị Kim Tuyến, NXB Văn học 2025) - 1

Tập thơ “Cúi mình xuống lượm hột cơm rơi”.

Bạn hãy nán lại chút nữa cùng tôi, nghe nhịp thở mình với trời xanh lộng gió có hoà điệu hay chăng? “một chút bếp lâu ngày quên ấm lửa/bạn ngồi thêm chút nữa/khói bay lên vạt trời mông minh”. Đừng để chủ quan tư duy nghĩ về nhau khi: “Ngoài bậc cửa kia lắm thứ rộng rinh/đứng bên đó bạn nghĩ tôi phải thế này thế khác/bước vào đây chột lòng thấy nhà tôi chật”. Và rồi tâm thế rỗng rang bay lên trên tất cả vật thể. Họ đã tìm thấy nhau trong bộn bề xúc cảm, bước vào cõi vô ngôn tịch lặng vỡ oà “vẫn có chỗ bạn ngồi / chưa bao giờ tôi thấy nhà rộng thế / có nhiều thứ đâu phải khi nào nói ra cũng dễ”.

Đi qua ngày bộn bề việc, gói trong tâm tư khoảnh khắc riêng mình, nhân vật trữ tình Cuối năm ngồi vấn mình: “Mệt rồi tựa lưng vào ngọn bấc/lạnh cũng vừa ran rát vết chai/làng nhàng sống hay ào ạt chết/chuyện của mình ở đó trách hờn ai/Thử ngồi đếm ngón chân mấy lóng/Buông cho rồi xuôi ngược dọc ngang/được mất thì cũng như bong bóng/ta còn gì ta son sắt hợp tan?”.

Tiếng của đêm trùm lên nỗi niềm rất thật trong nữ tính, cô đơn lạc lõng vô cùng, trỗi dậy cũng không cùng – Đêm: “giọt mưa hát bên thềm/bảo ta muốn bật khóc thì hãy trùm mền/giấu riêng niềm kiêu hãnh/nỗi buồn lóng lánh/soi đường đi về phía cô đơn/ta khóc rồi lại thấy thật hơn/chiếc áo chật tị hiềm hờn ghen đua chen lầm lỗi/giọt nước vừa đẫm gối/trôi tuột vào đêm/ta mập mờ ta/lại thấy dáng hình quen”.

Thơ Nguyễn Thị Kim Tuyến đa sắc màu, ngôn ngữ Nam phương, chất tự sự trữ tình khắc những câu chuyện về thân quyến cha và mẹ; về xứ sen bồi bãi tình đất tình người; về những con người giản dị vượt lên chính mình góp phần làm nên kỳ tích cùng quê hương quốc thổ trong bảo vệ, đấu tranh, giải phóng, hoà bình; về những địa danh mà triệu triệu con dân nước Việt giơ cánh tay lên chào và cúi mình thật thấp tri ân Trường Sa, người lính biên phòng, bước chân những cựu lính đi qua chiến tranh và hoà bình… Họ vẫn đang hát khúc quân hành ngày đêm trên sóng biển, trên vạch mốc biên cương, trên từng thảm lúa, bờ đê, ngọn cỏ, rừng tràm, con rạch, bầu trời quê sừng sững, dõng dạc và đậm đà ngọt lịm câu vọng cổ miền Tây sông nước Nam bộ, hôm nào đó cá tôm trù phú, hôm nào đó nước lũ phù sa, hôm nào đó vang vọng… cho hôm nay từng rãnh nhớ từng vạt thương từng phiến tri ân bay lên theo tiếng sếu… Viết di chúc cho cha là bài thơ lấy đi những giọt nước mắt của những ai con thảo, dâu hiền, rể quý: “Cha kêu về thảo di chúc cho cha/ông bảo thích thứ gì cứ ghi vào đấy/chưa viết được chữ nào mà ngòi chì đã gãy/(tại con gà mắc dịch cất tiếng gáy bâng quơ!)/cần gì đâu cha ơi/cho con một ngày im lặng/trút áo cơm nằm nghe cha kể chuyện cánh đồng chứa bao nhiêu giọt mồ hôi… Cần gì đâu, cha ơi/chỉ cần cha ngồi đó, vậy thôi/ngồi đó, đợi con về.”

Hình ảnh mẹ được tác giả thốt lên: “mẹ là nhà/là cội/quê hương!” (Mẹ). Xứ Cao Lãnh đọng trong lòng tác giả bằng nỗi tình – Ta yêu Cao Lãnh bằng tình yêu người dưng. Bài thơ xinh xắn, hoài nhớ, thân thuộc mà vẫn khách quê: “chuyến phà đêm chở ký ức tình yêu đi hoài không khẳm/trên bến sông Tiền còn đâu đây hình bóng/mẹ quấn khăn rằn tiễn cha đi đằng đẵng mấy mươi năm”. “Ta yêu người bằng tình yêu của người dưng/để sâu thẳm ruột rà máu mủ/dẫu lạ dẫu quen mà không bao giờ cũ/con nước dẫu lớn ròng mà ấp ủ phù sa”.

Trang thơ tự do cho con chữ tung tẩy phóng khoáng như hồn người Nam bộ, dung dị mà vào lòng nhau trong sâu thẳm đợi chờ. Tôi dừng lặng thật lâu trước bài thơ cuối của tập thơ, cũng là tiêu đề cho cả tập thơ đầu tay của Kim Tuyến, Cúi mình xuống lượm hột cơm rơi. Hình ảnh đó là sự khiêm cung, chắt chiu, trân trọng sức lao động và tôn vinh người nông dân. Thấy đâu đó dáng ba má mình, dáng anh chị mình, in như cô ba cậu bảy hàng xóm, lành tính, chịu khó… Câu thơ rung lên lòng ta, thấy được tâm hồn đẹp biết cúi xuống nỗi đau của người khác, dìu họ đứng dậy và đi trong vui cười. 

Trần Huy Minh Phương




Nguồn: Arttimes.vn

“10h sáng Chủ Nhật” – tìm về yêu thương giữa dòng đời xô đẩy…


“10h sáng Chủ Nhật” của nhà báo Tô Phán là tập tản văn chứa đựng tình người qua những câu chuyện đời thường giản dị nhưng sâu sắc mà chính tác giả đã trải qua. Mỗi trang sách là một lát cắt của cuộc sống, nơi yêu thương và sẻ chia luôn hiện diện. Đó cũng chính là thông điệp về một lối sống xanh – con người luôn muốn sống nhân văn, tử tế, bao dung và gắn bó với nhau – điều mà xã hội văn minh, hiện đại hôm nay đang coi đó là vấn đề rất… thời sự.

Cầm cuốn sách trên tay, độc giả như được mời gọi bước vào một không gian khác – không gian của sự tĩnh lặng nội tâm. Tựa như giữa phố xá ồn ào, chợt có tiếng nói ấm áp vang lên  bên tai ta, nhắc nhở ta hãy đi chậm lại, hít một hơi thật sâu để thấy lòng bình yên. Những trang viết ấy không ồn ào, không gấp gáp, mà khe khẽ và ấm áp như ánh nắng còn sót lại cuối ngày, dịu dàng nhưng đủ sức làm ấm đối tay giữa thời tiết giá lạnh. Giữa thế giới quay  ồn ã, lối sống xanh như chiếc chiếc neo níu giữ con người ở lại với tình thân, với lòng yêu thương, với sự nhân ái và biết ơn.

Trong sách 10h sáng Chủ Nhật, tác giả khắc họa tình thân (tình bạn, tình gia đình) những sợi dây cảm xúc gắn kết con người trong xã hội hiện đại qua hơn 400 trang sách, được chia làm bốn phần với 49 câu chuyện lắng đọng tình người, nhân văn và rất đáng suy ngẫm. Bố cục bốn phần của sách 10h sáng Chủ Nhật là bốn lát cắt phong phú nhưng nhất quán, mỗi phần mang màu sắc riêng biệt nhưng lại tạo nên một tổng thể hòa quyện, đầy cảm xúc và ý nghĩa.

“10h sáng Chủ Nhật” – tìm về yêu thương giữa dòng đời xô đẩy… - 1

10h sáng Chủ Nhật” của Nhà báo Tô Phán.

Phần một – “Miền ký ức” là hành trình trở về với những tháng ngày đã xa nhưng luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người. Từ những câu chuyện chưa bao giờ được tiết lộ như Tiền sự đến cảm xúc day dứt trong Ám ảnh nợ nần, tác giả vẽ nên những bức tranh ký ức bằng lời văn đầy hoài niệm, có lúc tinh khiết, có lúc xót xa, trầm đục, về tuổi thơ và những kỷ niệm đã góp phần hình thành nên bản thân một con người.

Phần hai – “Nơi luôn chờ ta về”-  Nơi đong đầy tình cảm gia đình thiêng liêng và sâu sắc. Những bài viết như Vi diệu, Ba người đàn bà trong đời tôi, Nhà của bố mẹ, hay Với tôi – bố là người cha hoàn hảo nhất khiến người đọc là người thân, là bạn bè của tác giả không khỏi xúc động trước tình cảm mà tác giả dành cho những người thân yêu nhất, đặc biệt là hình ảnh người mẹ (Mái tóc của mẹ) và bà nội (Hai chỉ vàng của mẹ)… Đây cũng là những người thân để tác giả níu đậu tình yêu thương và là những người để tác giả  thông qua đó truyền tải quan điểm về tầm quan trọng của tình yêu gia đình.

Phần ba – “Hương vị cuộc sống” phản ánh cuộc sống đô thị với những góc khuất đời thường. Câu chuyện mang tên cuốn sách 10h sáng Chủ Nhật chính là tâm điểm của phần này, đưa người đọc trở về với những năm tháng cơ cực của tác giả khi bước chân vào đời, trải qua đói khổ, không việc làm nhưng vẫn kiên trì vượt qua. Những trang viết về thời bao cấp cho thấy tinh thần sống lạc quan, nghị lực vượt lên nghịch cảnh.

Phần bốn – “Những lát cắt” là những suy tư, trăn trở của tác giả trước những vấn đề xã hội hiện đại. Nhà báo Tô Phán không ngần ngại chỉ ra những điều tiêu cực qua các bài viết như Một kiểu háo danh hay Có một thứ tư duy vô ơn… Hoặc tác giả có cách nhìn khách quan, đa chiều về một giai đoạn lịch sử ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) “thay trời đổi đất…”. Những bài viết như vậy là những lời như để tỉnh thức về sự nhiệt tình với tư duy ngây thơ và ấu trĩ một thời, là lời tỉnh thức về lòng trắc ẩn, sự tử tế cần có trong cuộc sống này.

Những câu chuyện ấy giống như những hạt mưa rơi xuống đám đất đang khát cháy, làm nảy mầm sự sống trong lòng tác giả. Đó là ký ức về một mái nhà đơn sơ mà ấm áp, là lời dạy của cha, là vòng tay của mẹ, là ánh mắt sẻ chia của bạn bè. Có câu chuyện mang lại nụ cười, có câu chuyện khiến ta thổn thức, nhưng tất cả đều khiến ta thêm trân trọng những giá trị bình dị mà sâu sắc.

Có lẽ trong tập tản văn lần này, nhà báo Tô Phán như có nhiều thời gian suy ngẫm hơn, có độ lùi sâu hơn… để chậm rãi kể về những ký ức hạnh phúc cũng như đau buồn trong hành trình sống tưởng như đơn giản nhưng rất ý nghĩa. Soi chiếc gương cuộc đời nên những kỷ niệm được lần giở tới từng ngóc ngách trong quá khứ mà tác giả đã trải qua, từng đau đớn, từng hạnh phúc. Đây chính là lúc anh trải lòng rất thật về quan niệm giá trị sống, trân quý tình người qua những khúc quanh co của cuộc đời. 

Những lời kể ấy không khô cứng như một bản hồi ký, mà đậm chất nhân văn và trữ tình. Người đọc thấy ở đó nỗi đau như một những vết sẹo tâm hồn, nhưng cũng thấy hạnh phúc le lói như một vầng sáng trong dự cảm. Sự đan xen ấy chính là hơi thở của cuộc đời – nơi cơ cực và vui vẻ, nơi khổ đau và hạnh phúc hòa quyện để hình thành cả hành trình của đời một người biết yêu thương, biết trân trọng và cũng biết căm ghét cái xấu, cái tồi tệ.

Tác giả đã chọn thời khắc 10h sáng Chủ Nhật làm điểm khởi đầu cho hành trình khám phá và kết nối với những góc sâu kín trong con người tác giả, để mở lòng lắng nghe và suy ngẫm về những gì tác giả may mắn thấy được và có được.

10h sáng Chủ Nhật không chỉ là một mốc thời gian cụ thể, mà còn là biểu tượng cho sự dừng lại, cho khoảnh khắc mà con người tạm gác đi những bộn bề, để  tĩnh tâm với chính mình, để nghe tiếng lòng mình thổn thức. Đó có thể là khi phố phường vơi đi tiếng ồn, khi ánh nắng đã bớt đi độ gắt, khi lòng ta kịp lắng xuống để nhận ra nhiều điều ta từng lãng quên. Ở khung giờ ấy, tác giả đã chọn lắng nghe và viết ra, để từ trang sách đánh thức chính tâm hồn mình đang mơ màng hoặc đang chộn rộn.

Với lăng kính của một nhà báo nhiều kinh nghiệm, tên sách 10h sáng Chủ Nhật được tác giả lấy từ tên bài viết cùng tên đăng trên Tạp chí điện tử Công dân và Khuyến học, và bài báo đó cũng được in trong cuốn sách. Cũng như thông điệp chung của bài viết này, tác giả muốn tổng hợp lại, đúc kết lại để chia sẻ về một quá khứ có những quãng đời cơ cực, từng bế tắc, nhưng đọng lại là tình người, và chính tình người mới cho tác giả niềm tin và nghị lực sống, để sống cho tử tế.

Giữa những dòng chữ giản dị, người đọc thấy thấp thoáng hình bóng của một thời đói nghèo, thất nghiệp, lo âu… nhưng cũng thấy sáng lên những tia hy vọng mong manh mà kiên định. Chính sự chắt lọc từ trải nghiệm rất thật đó đã làm nên sự chân thành, khiến mỗi trang viết không chỉ là kỷ niệm, mà còn là lời nhắn gửi: hãy giữ lấy lòng nhân ái, vì đó là thứ duy nhất cứu rỗi con người giữa giông bão đời sống.

Với phong cách viết chân thực, dung dị, mỗi câu chuyện trong cuốn sách đều chứa đựng những trăn trở của tác giả về con người, về những giá trị tinh thần trong xã hội hiện đại. 10h sáng Chủ Nhật trân trọng những niềm vui nhỏ bé, những giá trị sống ẩn chứa trong những điều bình dị. Tác giả muốn gửi gắm thông điệp ý nghĩa: Dù cuộc sống có bận rộn hay áp lực tới đâu, hãy dành những khoảnh khắc để lắng nghe chính mình, để hiểu và để yêu thương người thân nhiều hơn; hãy sống chậm lại để hiểu thêm rằng, giữa cuộc đời vội vã, ồn ào, đôi khi điều ta cần nhất chỉ là những phút lặng yên, lắng nghe lòng mình và trân quý hơn những điều giản dị xung quanh. Vì thế,  cuốn sách giống như một khoảng sân nhỏ có nắng, nơi  tác giả có thể bước vào nghỉ chân, để thấy mình vẫn còn khả năng yêu thương, vẫn còn chỗ để bình yên neo đậu.

Mỗi chúng ta đều mang trong mình một câu chuyện riêng, những ký ức không phai mờ theo thời gian, những cảm xúc mà đôi khi chúng ta không thể diễn đạt hết bằng lời. Cuốn tản văn 10h sáng Chủ Nhật của tác giả Tô Phán là một hành trình như thế, nó đi qua những cung bậc cảm xúc chân thực và sâu lắng.

Có khi đó là tiếng khóc khẽ của người mẹ, có khi là ánh mắt nhìn bao dung của người cha, cũng có khi là sự day dứt khôn nguôi của những tháng ngày nợ nần, bế tắc. Tất cả đan xen, kết thành một bản nhạc đời sống lầm lũi nhưng cũng ẩn chứa nhiều điều tốt đẹp mà ai từng đi qua những thăng trầm đời sống đều nhận ra giai điệu quen thuộc.

Qua những câu chuyện dung dị, tác giả Tô Phán mang đến không chỉ sự chiêm nghiệm về đời sống mà còn là những bài học giá trị về sự sẻ chia, lòng nhân ái và niềm hy vọng, ngay cả khi bị ép vào căn hầm tăm tối. Chính ở những góc khuất, trong bóng tối của thất vọng, tia sáng của tình người mới đáng trân trọng biết bao. Người đọc, khi theo chân tác giả, sẽ thấy rằng: ngay cả khi cuộc đời vùi dập ta xuống tận đáy, thì sự hiện diện của một bàn tay chìa ra, một lời an ủi, một nghĩa cử bao dung… vẫn đủ sức nâng ta đứng dậy. Đó chính là “chìa khóa” mà tác giả đã tìm được, và nay muốn trao lại cho bạn bè, người thân.

Hầu hết các bài tản văn trong sách 10h sáng Chủ Nhật đều dành cho cái đẹp của cuộc sống. Đó là tình thân – tình thân gia đình, tình thân bạn bè, tình người… Nhưng cũng trong cuốn sách tác giả dành một số bài viết cho những căn bệnh tinh thần trong đời sống. Có thể những bài viết đó toát lên nỗi buồn, trong đó có niềm tin bị sứt mẻ, quan hệ con người với con người bị thương mại hóa… Song, cũng chính từ những bài viết ấy, tác giả lại đưa ra thông điệp: cuộc đời đau buồn nhưng về cơ bản cuộc đời vẫn rất đẹp, bởi vì con người ta phải sống, sống để cuộc đời đẹp hơn, trong sáng hơn.

Đó là một cái nhìn không tô hồng, cũng không bi quan, mà đủ tỉnh táo và đủ nhân văn. Tác giả không né tránh cái xấu, nhưng chọn cách soi chiếu nó bằng ánh sáng của hy vọng, để từ bóng tối vẫn có khát vọng làm cho đời sống của chính mình tốt hơn.

Cuốn sách này, xét cho cùng, là một hành trình trải nghiệm sâu sắc, nhân văn của một cây bút dày dạn kinh nghiệm, chạm đến trái tim bạn bè, người thân bằng sự chân thật và giản dị. Nó giống như một người bạn đồng hành, lặng lẽ ngồi bên, không hô hào, chỉ  khẽ khẽ kể lại những chuyện đã qua, nhưng đủ để người nghe bồi hồi, xúc động. Và chính trong sự lặng lẽ ấy, tác giả đã gửi gắm:  không ai đơn độc, vì quanh ta vẫn luôn có tình người.

Động lực nào đã thôi thúc nhà báo Tô Phán cho ra đời cuốn sách 10h sáng Chủ Nhật?  Tác giả đã từng chia sẻ: “Không trải qua những sự cố, những sự việc bất thường với tư cách là người trong cuộc, không trải nghiệm với tư cách là nhân chứng, thì không có những niềm vui, những niềm đau như những vết sẹo hằn trong tâm hồn. Không có những niềm vui, niềm đau đó thì không suy ngẫm được. Không suy ngẫm thì không viết được. Nó như sự thúc ép tự thân: Phải viết, viết cho chính mình để như một món quà tri ân người thân và bạn bè từng chia ngọt sẻ bùi và cả chung những nỗi đau!”. 

Lời tự sự ấy không chỉ là sự giãi bày, mà còn là lời khẳng định về trách nhiệm của một người cầm bút: viết là để nhớ, để trả ơn, để nối lại những sợi dây tình cảm tưởng chừng đã đứt đoạn. Trong từng dòng chữ có thể cảm nhận được sự thôi thúc từ bên trong, buộc tác giả phải biến nó thành ngôn từ.

“10h sáng Chủ Nhật” – tìm về yêu thương giữa dòng đời xô đẩy… - 2

Từ phải sang trái: Nhà báo Tô Phán; Nhà văn, nhà báo Hoàng Dự; Nhà báo Hoàng Văn Ân tại buổi lễ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước gặp mặt, tuyên dương người làm báo tiêu biểu nhân kỷ niệm 100 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6/2025.

Tác giả thẳng thắn khẳng định một quan điểm nhất quán xuyên suốt tác phẩm: “Ai không yêu thương gia đình của mình, không yêu thương người thân của mình mà lại vỗ ngực rằng mình yêu nhân dân, yêu đất nước, thì tình yêu đó là đồ giả!”. Ông nhấn mạnh rằng con người phải biết yêu người thân của mình mới có tình yêu đất nước thật sự, và đó mới là người có giáo dục.

Quan điểm ấy tưởng chừng giản đơn, nhưng lại hàm chứa triết lý về gốc rễ của tình yêu thương. Một người không biết cúi xuống trước mẹ già, không biết trân trọng từng giọt mồ hôi của cha, thì làm sao có thể hiểu và sống hết mình cho đất nước. Tác giả cũng gửi gắm quan niệm mạnh mẽ về lòng biết ơn: “Ai không có lòng biết ơn thì không đáng được hưởng trái ngọt của đời, dù cả khi họ sống trong nhung lụa!”.

Lòng biết ơn – nghe tưởng chừng như một đức tính cũ kỹ, nhưng qua lời tác giả, nó trở thành ngọn đèn soi đường. Trong một xã hội hiện đại, nơi nhiều giá trị bị xô lệch, thậm chí bị biến mất thì lòng biết ơn chính là thứ giúp con người giữ được sự cân bằng, giúp ta không mất phương hướng. Đó cũng là cội nguồn của niềm hạnh phúc bền lâu của con người.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Mậu (Viện Văn học Việt Nam), người bạn tri kỷ suốt 45 năm của tác giả, đã nhận xét: “Đó là kinh lịch cuộc đời, cuộc sống, nội dung của một quá trình trải nghiệm đau đớn và hạnh phúc, biết và thấy, nghe và hiểu, giao du và giao tiếp mà ta đọc được ở đây có thể sẽ thú vị cho cả những người không phải là bạn, không là người thân thiết của tác giả”.

Nhận định ấy không chỉ là lời khen, mà còn là sự xác nhận: cuốn sách này không dừng lại ở phạm vi riêng tư, mà có những giá trị chung của những người cùng thế hệ tác giả, chạm đến những suy tư những người cùng thế hệ đã từng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống vốn phức tạp và cực nhọc.

TS. Nguyễn Đức Mậu coi những gì Tô Phán viết là “tư liệu sống động” của một thời, giúp bù đắp những khoảng trống ký ức mà ta chưa kịp trải qua hoặc đã vô tình bỏ quên. Đặc biệt, ông khẳng định điểm lấp lánh xuyên suốt tập sách chính là “tình người” – thứ gắn bó, bền lâu và thiêng liêng nhất trong mọi mối quan hệ. Ở chỗ này, nhà nghiên cứu văn học và tác giả có điểm chung: cả hai đều tin rằng, dẫu thời cuộc biến đổi, dẫu những thang  bậc giá trị xã hội có lên xuống, thì “tình người” vẫn là ánh sáng luôn lấp lánh.

10h sáng Chủ Nhật – vì vậy – không chỉ là tập hợp những câu chuyện đời thường. Nó là sự kể lại hành trình của tác giả đi tìm hạnh phúc. Qua giọng văn giản dị nhưng cũng triết lý, tác giả cho thấy những khoảng lặng của tâm hồn để chiêm nghiệm và đúc kết chuyện không bao giờ cũ: gia đình là nơi thiêng liêng nhất, tình yêu thương là món quà lớn nhất, và sống chậm chính là con đường ngắn nhất để ta tìm về sự an yên.

Cuốn sách như một món quà nhỏ cho bạn đọc trong những ngày nhiều lo toan. Món quà đó là lời nói nhẹ nhàng: hãy yêu thương con người nhiều hơn, hãy trân trọng từng phút giây ta đang sống, và hãy dành cho gia đình – cho những người thân yêu – phần đẹp nhất của trái tim mình.

Bùi Phan Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Trào dâng cảm thức trước “Cuồn cuộn Sê Pôn”


Tiểu thuyết là một loại văn xuôi đặc biệt, nó được ví như vũ khí trọng pháo của quân đội. Với cả một sư đoàn chữ nghĩa hùng hậu, nhà văn có thể triển khai các phương án tác chiến để giành lấy cứ điểm, mục tiêu đã định của mình. Nhà văn Ma Văn Kháng đã từng nói đại ý nếu chưa viết được một cuốn tiểu thuyết thực sự, có chất lượng cả về nội dung sâu sắc và nghệ thuật hấp dẫn được bạn đọc công nhận thì chưa phải là nhà văn thực sự.

Quả đúng là như vậy. Là nhà văn ai chẳng đã từng mơ viết được một cuốn tiểu thuyết như thế. Vậy mà nhà văn Vũ Quốc Khánh ở Phú Thọ đã có tới 7 cuốn tiểu thuyết, cuốn nào cũng sừng sững, đồ sộ và ông đã ẵm nhiều giải của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an qua các cuộc thi sáng tác tiểu thuyết. Mới đây, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân lại tiếp tục cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết Cuồn cuộn Sê Pôn là cuốn tiểu thuyết thứ 8, mới nhất của nhà văn Vũ Quốc Khánh.   

Với 264 trang sách, Cuồn cuộn Sê Pôn đã thực sự cuốn hút tôi từ trang đầu cho đến trang cuối. Tôi đã đọc ngấu nghiến trọn vẹn cuốn sách này rồi sững sờ thốt lên: Lão này kiến văn khủng khiếp thật! Không đi vào những câu chuyện, chi tiết đời thường trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu của người lao động và chiến sỹ như những cuốn tiểu thuyết trước, Cuồn cuộn Sê Pôn đã nâng lên ở tầm cao mới. Cũng viết về chiến tranh cách mạng nhưng ở tầm vĩ mô, chiến dịch và chiến lược. Để viết được điều này, tác giả phải có bộ óc tổng hợp, đứng cao nhìn rộng, bao quát khá toàn diện, phải ghi chép tỉ mỉ, dày công sưu tầm tư liệu và đặc biệt phải trải nghiệm, là người trong cuộc, am hiểu người lính cả hai phía mới có được những trang văn sống động, tái hiện lại cuộc chiến địch – ta trong một chiến dịch lớn như thế – Chiến dịch đường 9 Nam Lào.

Trào dâng cảm thức trước “Cuồn cuộn Sê Pôn” - 1

“Cuồn cuộn Sê Pôn” là cuốn tiểu thuyết thứ 8 của nhà văn Vũ Quốc Khánh.   

Cuồn cuộn Sê Pôn kể về Chiến dịch phản công đường 9 Nam Lào của Quân giải phóng miền Nam được mở ra nhằm đánh bại cuộc “Hành quân Lam Sơn 719” của Mỹ ngụy. Đó là cuộc đối đầu lịch sử giữa những bộ óc hiếu chiến, đại diện cho thế lực của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy với dân tộc chúng ta. Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận tải chiến lược, mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ. 

Không gian tiểu thuyết trải rộng từ bản Seo Sơn, Bách Thanh, từ trường dành cho du học sinh nước Lào tại một tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam đến các tỉnh Trung bộ, Tây Nguyên, sang cả miền Nam nước Lào, cả thủ đô Viêng Chăn bên đó nữa và tập trung nhất là mặt trận Đường 9, Nam Lào. Nó được trải dài từ giữa những năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược cho đến tận sau này, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, hòa bình. 

Nhà văn đã mô tả chi tiết, hành trình chiến dịch với những số liệu, địa danh của cả 2 bên với góc nhìn chiến lược; phân tích tỉ mỉ địch ta, tâm lý nhân vật rất sống động, cuốn hút. Vấn đề không chỉ dừng lại ở đó, nhà văn đã đẩy lên một bước, đi sâu, làm rõ căn cốt, nguyên do của chiến thắng chiến dịch này. 

Vũ Quốc Khánh rất cao tay khi để vấn đề cốt lõi đó cho chính những người phía bên kia bàn luận. Tại trường võ bị Đà Lạt, trong một buổi thuyết trình, vị “trình luận viên” nêu ra vấn đề và yêu cầu các học viên tranh luận. Đó là tại sao các tướng lĩnh và sĩ quan được đào tạo tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, hoặc chí ít cũng như trường võ bị Đà Lạt này, với cách huấn luyện chu đáo, giáo trình chiến thuật tinh túy, trải qua thực tế tại các sư đoàn thiện chiến có đủ lực lượng, phương tiện hiện đại, được các nhà hoạch định chiến tranh tài ba ở Lầu Năm góc dày công nghiên cứu như “Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” vẫn không thắng được Cộng sản Bắc Việt? Tại sao lời thề “Tổ quốc, danh dự, trách nhiệm” được tuyên thệ luôn luôn là khẩu hiệu hành động, là phương châm chiến đấu đã ngấm vào máu thịt mỗi sĩ quan và binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, thế mà khi ra trận lại chưa làm chủ được chiến trường trước Quân giải phóng? 

Rất nhiều ý kiến tham gia. Có ý kiến đưa ra “họ thắng vì có chiến lược “Chiến tranh nhân dân”. 

Để minh chứng cho điều này, nhà văn dẫn dắt độc giả qua chiến dịch “Đường 9 Nam Lào”. Từ công tác xây dựng thế trận lòng dân, đoàn kết quốc tế Việt Lào, khơi dậy lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, đến việc tổ chức quán triệt, triển khai chiến dịch. Các phương án tác chiến, trinh sát trận địa, sử dụng lực lượng, các chiến thuật đánh địch được bàn thảo kỹ càng. Nào là “bám thắt lưng địch mà đánh”, “đánh điểm, diệt viện”, nào là “phân tán pháo binh, tập trung hỏa lực”, rồi “tiền pháo hậu xung”… Tất cả được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Chính những chiến thuật này cùng với thế trận lòng dân vững chắc, chiến tranh nhân dân toàn diện, “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của ông cha ta ngày trước mà ta đã đánh thắng kẻ thù. 

Các chương 11, 12, 13 được nhà văn Vũ Quốc Khánh miêu tả thật sâu sắc, kỹ càng. Từng trận đánh trong chiến dịch hiện lên sống động trên từng trang viết. Khốc liệt, cam go, đấu trí, đấu lực biết chừng nào. 

Như vậy là “chiến tranh nhân dân” của ta đã chiến thắng các loại chiến lược của địch bằng sức mạnh của toàn dân tộc, của sức mạnh đoàn kết quốc tế (mà ở đây là mối tình thuỷ chung chiến đấu keo sơn son sắt của 2 nước Việt – Lào), của lòng yêu nước quật cường và lý tưởng cách mạng trong sáng cùng với tầm nhìn chiến lược và cách đánh chiến thuật của ta.

Không chỉ ngoan cường, dũng mãnh trong chiến đấu, Vũ Quốc Khánh còn vẽ lên khung cảnh lãng mạn, đầy chất thơ trong tình yêu của người lính cách mạng. Tình yêu quê hương đất nước, tình đồng đội sống chết có nhau, tình hậu phương với tiền tuyến lớn, giữa quân với dân và tình yêu lứa đôi, tình yêu của nhân dân các bộ tộc Lào với bộ đội và nhân dân Việt Nam. Tôi rất ấn tượng với mối tình của chàng trai nước Lào tên là Hoàng với cô gái nước Việt tên là Hà Minh Thảo. Cuộc tình này xuyên suốt cuốn tiểu thuyết.

Hoàng là lưu học sinh nước Lào học tại Việt Nam. Thảo là cô gái Mường ở vùng thượng huyện xuống học cùng lớp với Hoàng và được bầu làm lớp trưởng. Trai tài gái sắc gặp nhau. Hoàng học tập tiến bộ trở về nước hoạt động tích cực, giúp cho cách mạng Lào và bộ đội Việt Nam những tin tức quan trọng, góp phần cho thắng lợi của chiến dịch “Đường 9 Nam Lào”. Hai người cùng chiến đấu mà không hề biết tin tức của nhau nhưng vẫn luôn hướng về nhau. 

Thế rồi để cứu một anh lính Pa thét Lào, Thảo đã lấy thân mình đỡ đạn cho anh và “Thảo bị trúng nguyên cả một trái toóc-đùng, chém đứt một vai phải”, “hớt đi toàn bộ phần bả vai và cánh tay phải”, “một phần lá phổi lộ ra, nâng lên xẹp xuống, phập phồng theo từng nhịp thở”. Cả bệnh viện tập trung cứu chữa cho Thảo nhưng không được. 

Tôi đã rơi nước mắt khi đọc những trang viết đầy xúc động này của Vũ Quốc Khánh, nhất là khi anh trai Thảo đến lấy máu truyền cho cô và khi cô nhờ Xổm Khít nhẹ nhàng lấy ở túi áo ngực trái của Thảo ra một chiếc túi nhỏ màu đỏ, trong đó có tấm ảnh được ép nilon đưa cho tỉnh đội trưởng Thu Giang – cha đẻ của Hoàng. Thảo thều thào nói: “Ba… chuyển… tấm hình… này… cho… anh Hoàng hộ con… nhé…”. Hà Minh Thảo đã hy sinh anh dũng. Cô đã nằm lại trên đất nước Lào, đất nước hoa Chăm-pa tươi đẹp của người yêu của mình.     

Mối tình chiến đấu Việt – Lào qua đôi trai gái này rất lãng mạn, thuỷ chung. Họ đã hy sinh tất cả cho nhau, vì đất nước, như hai dân tộc Việt – Lào sát cánh bên nhau, đoàn kết cùng chống Mỹ. Phải chăng đó cũng là nhân tố cùng với chiến lược chiến tranh nhân dân để làm nên chiến thắng trong cuộc chiến vĩ đại này?  

Tiểu thuyết đầy ắp những tư liệu quân sự, những địa danh địa lý, cả không gian và thời gian, rất chân thực và cụ thể. Nghệ thuật dựng chuyện, tái hiện các trận chiến vừa ở tầm vĩ mô, lại vừa chi tiết ở vi mô. Từ tiếng nổ bom đạn, lửa cháy, khói súng đến tính năng, công dụng của mỗi loại vũ khí, trang bị quân sự. Từ tư thế, tác phong của người lính trong trận chiến đến tâm lý, tình cảm của hai bên địch ta trong cuộc sống, khi lâm trận và trước thời khắc sinh tử; từ tướng lĩnh đến chiến sỹ, cả bên ta và bên địch trước, trong và sau mỗi trận đánh cùng số liệu, thời gian, địa điểm… Tất cả đều ngồn ngộn hiện lên. Mỗi trang tiểu thuyết này như một trang sử thi. Không phải là người trong cuộc, không đủ tư liệu, không có tài dựng chuyện, bố cục, dẫn dắt thì không thể viết được như Vũ Quốc Khánh. Ông biết thắt mở câu chuyện, giấu chi tiết và cho nó xuất hiện đúng lúc nhất. Chính điều này đã tạo nên sự hấp dẫn của trang văn. 

Đi từ ngạc nhiên này đến ngỡ ngàng khác, tôi đã bừng thức trước Cuồn cuộn Sê Pôn. Đề tài chiến tranh cách mạng được Vũ Quốc Khánh thể hiện thật thấu đáo, sống động. Gấp cuốn sách lại mà những hình ảnh về chiến dịch đường 9 Nam Lào và lời thoại của các nhân vật vẫn cứ hiện lên văng vẳng ở trong đầu. Trước mắt tôi, dòng sông Sê Pôn như vẫn đang cuồn cuộn chảy. 

Vũ Quốc Khánh xứng đáng là nhà văn hàng đầu của Phú Thọ viết tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng. 

Phi Đông Hạ




Nguồn: Arttimes.vn

Mổ cắt bàng quang, người đàn ông “để quên” ống thông suốt 2 năm


Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương vừa tiếp nhận và xử trí thành công trường hợp bệnh nhân L. K.T, 64 tuổi (Hà Nội), gặp biến chứng nặng nề do để “quên” sonde JJ quá hạn 2 năm.

Trước đó 2 năm, ông T. được chẩn đoán mắc ung thư bàng quang, đã mổ cắt bàng quang toàn bộ và được đưa 2 đường niệu quản qua da. Sau mổ, ông T được đặt sonde JJ (hay còn gọi là ống thông JJ, ống thông niệu quản đôi chữ J- là một loại ống thông mềm, hình cong ở hai đầu giống chữ J) từ bể thận xuống niệu quản để dẫn lưu nước tiểu ra ngoài, trong thời gian chờ niệu quản hồi phục tổn thương. Theo chỉ định, sonde JJ cần được rút ra trong vòng 3 tháng. Tuy nhiên, ông T. không đi tái khám để rút sonde vì cho rằng sức khỏe bình thường, dù được bác sĩ và gia đình nhắc nhở nhiều lần.

Mổ cắt bàng quang, người đàn ông "để quên" ống thông suốt 2 năm - 1

Bác sĩ phẫu thuật lấy ống thông cho bệnh nhân. 

Khoảng 2 tuần gần đây, ông T cảm thấy người mệt mỏi, sốt nhẹ và phát hiện một mảnh sonde JJ bị mục gãy, đào thải ra ngoài túi hậu môn nhân tạo hứng nước tiểu. Hoảng hốt, ông mới đến bệnh viện kiểm tra.

“Qua thăm khám, chúng tôi không thể rút sonde JJ bằng biện pháp thông thường. Do thời gian lưu sonde quá lâu, bệnh nhân được chỉ định chụp CT. Kết quả cho thấy sỏi bám vòng quanh sonde JJ chiếm gần như hết diện tích đài bể thận 2 bên. Thận phải có viên sỏi lớn 34x29mm, thận trái 20x13mm kèm nhiều viên nhỏ rải rác. Sỏi ở trên thận gây ứ nước thận độ 3. Đặc biệt, chỉ số Kali trong máu của bệnh nhân lên đến 6.9 mmol/L (bình thường Kali máu từ 3.5 mmol/L -5.0 mmol/L), có nguy cơ ngừng tim bất cứ lúc nào. Vì vậy, bệnh nhân được đưa đi lọc máu cấp cứu ngay lập tức,” Bác sĩ Trần Duy Hiến, Khoa Ngoại Tổng hợp, Tiết niệu và nam học cho biết.

“Sau quá trình lọc máu đưa chỉ số Kali trở về bình thường, bệnh nhân được dùng kháng sinh để kiểm soát nhiễm khuẩn. Ngay sau đó, ông T. được tiến hành nội soi tán sỏi qua da hai bên thận. Sau tán sỏi, kiểm tra lại cho thấy thận vẫn bị viêm, phù nề nặng. Trước đây, với trường hợp như T sẽ buộc phải hành mổ mở cả 2 bên thận để lấy sonde JJ – phương pháp gây tổn thương rất lớn chức năng thận và ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh. Ngày nay, nhờ kỹ thuật hiện đại, bệnh nhân được tiến hành nội soi tán sỏi thận qua da, giúp loại bỏ sỏi hiệu quả, ít xâm lấn. Nhờ đó, bệnh nhân phục hồi rất tốt, không phải lọc máu lại, chức năng thận cải thiện rõ rệt. Chỉ sau 5 ngày, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định và chuẩn bị được xuất viện.” Bác sĩ Hiến chia sẻ.

Bác sĩ Hiến khuyến cáo, bệnh nhân sau can thiệp tán sỏi tiết niệu, niệu quản, thận thường được đặt sonde JJ tạm thời. Việc rút sonde JJ đúng hẹn là rất cần thiết. Người bệnh cần thiết phải tuân thủ lịch hẹn của bác sĩ để rút sonde. Trong trường hợp sau đặt sonde có bất thường hoặc người bệnh chưa rút sonde đúng hẹn thì cần liên hệ ngay với cơ sở y tế, tránh để sonde quá lâu.



Nguồn: Arttimes.vn

Chế Lan Viên trong tôi


Các nhà thơ thời Thơ Mới 1930 – 1942 tôi yêu nhất Chế Lan Viên, tôi yêu chất trí tuệ, tầm khái quát rộng và sâu… Từ yêu thơ Chế Lan Viên mà tôi khao khát mơ ước được gặp Chế Lan Viên. Dẫu biết rằng ước mơ ấy chỉ là viển vông, khó mà thành sự thật bởi năm đó tôi là một cậu học sinh cấp ba mới tập tọe làm thơ dù lúc đó tôi đã có thơ đăng ở báo tỉnh, tập san Văn nghệ của Ty văn hóa Hưng Yên ở dạng thơ câu lạc bộ.

Tôi nhớ khoảng năm 1962, một hôm tôi xuống thư viện tỉnh đọc sách báo, tạp chí thấy trên tấm bảng có ghi thông báo: “Kính mời độc giả tối nay 7h30′ tới Hội trường tỉnh, cạnh Hồ Bán Nguyệt, nghe nhà văn Đào Vũ – tác giả tập tiểu thuyết Cái sân gạch nói chuyện“. 

Đọc xong thông báo trên tôi mừng quá, chỉ mong chóng tối để đến địa điểm trên gặp nhà văn Đào Vũ. Ông là người quê Hưng Yên lại về nói chuyện về tiểu thuyết Cái sân gạch, một cuốn tiểu thuyết về đề tài xây dựng hợp tác xã nông nghiệp gây nhiều bàn luận trên báo chí thời đó, nhất là nhân vật Lão Am gây tranh cãi về tư tưởng cá nhân bảo thủ và không bảo thủ.

Chế Lan Viên trong tôi - 1

Tối hôm đó, tôi được gặp nhà văn Đào Vũ, ông lên đăng đàn, nói về quá trình ông viết Cái sân gạch sau chuyến đi thực tế một năm ở Vũ La (Hải Dương cũ). Trước khi nói chuyện, nhà văn Đào Vũ giới thiệu: “Về dự buổi nói chuyện của tôi còn có nhà thơ Chế Lan Viên”. Từ hàng ghế đầu, nhà thơ Chế Lan Viên đứng dậy, ông quay người xuống phía sau chào mọi người. Thấy có Chế Lan Viên, tôi từ cuối phía hội trường cố len lỏi cho bằng được lên phía trên để nhìn được rõ nhà thơ. 

Thấy tôi cứ nhìn ngó ngắm nghía Chế Lan Viên, anh Đồng Bằng cán bộ phòng văn nghệ Ty văn hóa nói: “Đấy, ông ấy là tác gia Điêu tàn đấy. Cậu ngắm kỹ đi”.

Thật ngạc nhiên đến kỳ diệu, trưa hôm sau tôi đi học về thì thấy Chế Lan Viên đang ngồi nói chuyện với bố tôi. Tôi nhìn anh chào, rồi hỏi luôn:

– Anh là Chế Lan Viên ạ?

Nhà thơ Chế Lan Viên cười, bắt tay tôi rồi hỏi lại. 

– Sao em biết anh là Chế Lan Viên?

Tôi trả lời:

– Tối hôm qua anh ở Hội trường tỉnh cùng với nhà văn Đào Vũ!

Nhà thơ đáp:

– Đúng rồi 

Anh bắt tay tôi, tôi nhìn anh, thốt: 

– Anh trẻ thế, em tưởng anh già, thơ anh uyên bác, sâu sắc lắm ạ! Như người cao tuổi, từng trải thì phải ở tuổi ngoài sáu mươi ấy. 

Thực ra, Chế Lan Viên năm đó mới có 43 tuổi… Chế Lan Viên sinh năm 1920, trước đó một năm Chế Lan Viên ra tập thơ Ánh sáng và phù sa, gây sự chú ý về tài năng sáng tạo thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Kế hoạch 5 năm. Đây là bước tiến mới sáng tác của anh nổi nhất, sau tập thơ Điêu tàn viết năm 17 tuổi.

Cũng từ hôm ấy, Chế Lan Viên ở nhà tôi gần một tháng. Tối đó hai anh em trò chuyện vui vẻ lắm. Anh kể rằng, gần ba năm trước anh đi chữa bệnh ở Trung Quốc, anh tự thấy mình về nước cần phải đi thực tế tìm hiểu phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở nông thôn, nên anh đề nghị lãnh đạo Hội Nhà văn cho anh đi thực tế. Những năm ấy tỉnh Hưng Yên có phong trào làm thủy lợi khá nhất miền Bắc, được Bác Hồ về tặng cờ thi đua làm thủy lợi giỏi, anh liền về Hưng Yên. Năm ấy xã Lam Sơn của tôi cũng là một trong những xã làm thủy lợi giỏi của tỉnh, vì thế Chế Lan Viên chọn xã tôi là nơi anh đi thực tế, mà nơi anh lưu trú chính là nhà tôi, do cán bộ địa phương chọn. 

Trong thời gian gần một tháng anh ở nhà tôi, các buổi họp của bà con xã viên buổi nào anh cũng có mặt, chăm chú nghe bà con phát biểu, rồi ghi chép vào sổ tay. 

Chế Lan Viên trong tôi - 2

Cuốn sách “Chế Lan Viên trong tôi”.

Sau đó ít ngày anh có bài đăng trên báo Văn học (nay là báo Văn nghệ) nhan đề: Ngôn ngữ của quần chúng ký tên Chàng Văn. Trong bài anh nêu: “Gần đây tôi có về một hợp tác xã nông nghiệp, được nghe bà con nông dân nói những câu như thành ngữ ca dao về sức lao động vất vả, đại để: “Cái áo mà ráo mồ hôi thì không có ăn! Đòn gánh mà lìa khỏi vai thì đói”.

Có những buổi tối, anh rủ tôi đi thăm các gia đình có công với cách mạng trong kháng chiến chống Pháp hoặc lên đê sông Hồng, anh kể cho tôi về đời tư xưa và nay của anh. Về thơ anh nói tôi nghe về tư duy hình, tư duy lý…

Anh khuyên tôi, sau này học hết cấp ba, Thiện phải cố gắng học lấy một ngoại ngữ, Pháp hoặc Nga chẳng hạn. Không biết một ngoại ngữ thì coi như ta có hai mắt mà chột một mắt đấy. Có ngoại ngữ mới đọc văn học thế giới… hay vô cùng đấy. Có tầm nhìn về tri thức của nhân loại. 

Thấm thoắt gần một tháng trời đã qua. Anh lên đường về Hà Nội. Trước lúc đó, anh thanh toán tiền ăn cho bố tôi, bố tôi nhất định không lấy và chỉ nói là: “Bác cố gắng giúp đỡ cháu Thiện, nó thích văn chương lắm đấy – cháu nó muốn đi theo bác”.

Anh Viên nhìn bố tôi, chỉ vâng!

Năm 1969, tôi có lên Hà Nội vào thăm Chế Lan Viên, gia đình anh ở hai gian nhà cấp bốn, trong khu cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam số 51 Trần Hưng Đạo. Nhà anh quá sơ sài, chỉ toàn sách, ở đây lại lắm khách ra vào với 10 cơ quan thuộc Liên hiệp nên anh phải đề tấm biển “Thời gian chúng tôi có ít, xin miễn nói chuyện nhiều”. Nhiều lúc anh trốn khách, phải lên Quảng Bá viết. Các bài viết ở Quảng Bá, anh đều ghi dưới bài “Nhà viết Hồ Tây”.

Hôm ấy lúc chia tay, anh tặng tôi một số sách, chủ yếu là các tập ca dao, gồm các tập: Ca dao vùng mỏ, ca dao ngoại thành, ca dao Hà Tây: Anh bảo tôi: “muốn làm thơ hay một yếu tố quan trọng là đọc và học ca dao từ cổ chí kim”…

Sau này Chế Lan Viên còn về công tác ở tỉnh ủy Hưng Yên một hai lần, lần nào anh cũng ghé qua thăm bố tôi, tặng sách của anh cho tôi các cuốn như: Tuyển tập thơ Tố Hữu (Chế Lan Viên viết lời giới thiệu và chọn), Tuyển tập thơ Chế Lan Viên, do Hà Minh Đức giới thiệu và tuyển chọn. 

Khi Chế Lan Viên về Hà Nội gặp Xuân Diệu có kể: “Mình về Hưng Yên ở nhà một cậu học sinh cấp ba, mê Xuân Diệu quá, ở trên bàn học của cậu ấy có treo một bức chân dung Xuân Diệu trong khung rất trang trọng, coi như một thần tượng. 

Xuân Diệu nghe Chế Lan Viên kể vậy cũng muốn về nhà tôi xem mặt cậu học trò. Sau đó tôi cũng viết thư mời anh Diệu đã về nhà tôi bẩy ngày và ít tháng sau tôi lên ở nhà anh Xuân Diệu ba ngày. Anh chỉ khuyên tôi muốn viết văn thì trước mắt Thiện phải có một nghề có lương để sống mà viết, Thiện nên đi vào nghề sư phạm, vì ở nước ta từ trước đến nay chưa có nhà văn nào sống bằng nghề viết văn đâu em ạ!

Như vậy, trong thời học sinh trung học của tôi, tôi đã được ăn, ngủ sống với hai nhà thơ lớn, ít nhiều hai anh đã ảnh hưởng cho đời thơ tôi sau này. Riêng Chế Lan Viên tôi cảm phục anh trên nhiều lĩnh vực: viết tùy bút, bình văn và thơ đều giàu chất trí tuệ, thông minh, tài ba mà rất giản dị, trữ tình mà uyên bác. Biết ơn anh, trân quý anh, anh Chế Lan Viên. Anh là nhịp cầu tôi đến với Xuân Diệu, đến với chân trời thơ, thế giới thơ ca. 

Tôi đã sưu tầm các mẩu chuyện, giai thoại về anh. Các bài viết của tôi về anh, về thơ anh với một tấm lòng trân quý, với tên sách Chế Lan Viên trong tôi để bạn đọc thêm hiểu và yêu Chế Lan Viên – Đó là mong muốn của tôi trả ơn anh – Một Chế Lan Viên, không của riêng ai!

Lê Hồng Thiện




Nguồn: Arttimes.vn