Home Blog Page 88

Kéo dài Chương trình nghiên cứu, tổng hợp, công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng


Chương trình “Nghiên cứu, tổng hợp và công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, tiến tới kỷ niệm 90 năm ngày thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư” được kéo dài thời gian thực hiện đến hết năm 2026, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 139/QĐ-TTg gia hạn thời gian thực hiện Chương trình “Nghiên cứu, tổng hợp, công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, tiến tới kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Chương trình) tại Quyết định số 69/QĐ-TTg ngày 9/2/2023 của Thủ tướng Chính phủ đến hết ngày 31/12/2026.

Quyết định nêu rõ, các nội dung khác giữ nguyên theo Quyết định số 69/QĐ-TTg ngày 9/2/2023 của Thủ tướng Chính phủ.

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung báo cáo, đề xuất gia hạn thời gian thực hiện; chủ trì và chịu trách nhiệm việc thực hiện các nhiệm vụ còn lại của Chương trình theo đúng mục tiêu, nội dung tại Quyết định số 69/QĐ-TTg ngày 9/2/2023 của Thủ tướng Chính phủ; bảo đảm chất lượng, hiệu quả và quản lý, sử dụng kinh phí đúng quy định pháp luật, không thất thoát, lãng phí.

Kéo dài Chương trình nghiên cứu, tổng hợp, công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng - 1

Kéo dài Chương trình nghiên cứu, tổng hợp, công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng đến hết năm 2026

Chương trình “Nghiên cứu, tổng hợp và công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, tiến tới kỷ niệm 90 năm ngày thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 69/QĐ-TTg ngày 9/2/2023.

Theo Quyết định số 69/QĐ-TTg, Chương trình được thực hiện từ năm 2023 đến năm 2025 với mục đích công bố các tác phẩm văn học ca ngợi sự nghiệp cách mạng, phản ánh cuộc đấu tranh anh dũng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các cuộc kháng chiến thần kỳ giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ; góp phần tiếp tục kế thừa và bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước và đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái trong lĩnh vực văn học…



Nguồn: Arttimes.vn

Chiều 23/1, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV sẽ chủ trì họp báo quốc tế


Chiều 23/1, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV sẽ chủ trì họp báo quốc tế. Cuộc họp báo được tổ chức ngay sau khi bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thông tin từ Trung tâm Báo chí Đại hội XIV của Đảng cho biết chiều nay (23/1) sẽ diễn ra Họp báo quốc tế công bố kết quả Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Chiều 23/1, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV sẽ chủ trì họp báo quốc tế - 1

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. (Ảnh: TTXVN)

Theo đó, đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV sẽ chủ trì họp báo.

Cuộc họp báo được tổ chức ngay sau khi bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Địa điểm tổ chức Hội trường Trung tâm Báo chí, Trung tâm Hội nghị quốc gia.

Theo chương trình, sáng nay (23/1), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất.

Theo quy trình của các Đại hội, sau khi bầu Ban Chấp hành Trung ương, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất sẽ tiếp tục công tác nhân sự, trong đó có bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng.

Buổi chiều, Đại hội họp phiên bế mạc./.

Theo TTXVN




Nguồn: Arttimes.vn

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất


Sáng ngày 23/1/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã tổ chức Hội nghị lần thứ nhất để quyết định những vấn đề đặc biệt quan trọng, đánh dấu khởi đầu của nhiệm kỳ mới.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất - 1

Trụ sở Văn phòng Trung ương Đảng, nơi diễn ra Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, triệu tập viên Hội nghị phát biểu khai mạc và thay mặt Đoàn Chủ tịch Hội nghị điều hành chương trình Hội nghị.

Trên cơ sở thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, quy chế làm việc, quy chế bầu cử và các nội dung liên quan, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết và trách nhiệm, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã hoàn thành các nội dung đặc biệt quan trọng:

(1) Bầu Bộ Chính trị.

(2) Bầu Tổng Bí thư.

(3) Bầu Ban Bí thư.

(4) Nghe báo cáo về phương án các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và cho ý kiến về nhân sự đảm nhiệm chức danh Thường trực Ban Bí thư.

(5) Bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

(6) Bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.



Nguồn: Arttimes.vn

Danh sách Bộ Chính trị, Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV


Sáng 23/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất. Hội nghị đã bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư Trung ương khóa XIV.

Danh sách Bộ Chính trị, Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - 1

Sáng 23/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất. Hội nghị đã bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư Trung ương khóa XIV.

Danh sách Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV:

1. Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Quân ủy Trung ương.

2. Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội khóa XV.

3. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư khóa XIII, Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương.

4. Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

5. Đồng chí Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội khóa XV.

6. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

7. Đồng chí Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

8. Đồng chí Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an.

9. Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Bí thư Thành ủy Hà Nội.

10. Đồng chí Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

11. Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

12. Đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

13. Đồng chí Lê Minh Trí, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương.

14. Đồng chí Trần Lưu Quang, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

15. Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

16. Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII.

17. Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

18. Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

19. Đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Danh sách Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã biểu quyết thông qua số lượng Ban Bí thư khóa XIV gồm 13 đồng chí trong đó có 10 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sẽ phân công tham gia Ban Bí thư theo cơ cấu. Ba đồng chí sẽ bầu tại Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV.

Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ưởng Đảng khóa XIV đã bầu 3 đồng chí tham gia Ban Bí thư khóa XIV gồm:

1. Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước.

2. Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.

3. Đồng chí Nguyễn Văn Quảng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chánh án Toàn án nhân dân tối cao.

Trên cơ sở kết quả giới thiệu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XIV đã phân công đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị tái giữ chức Thường trực Ban Bí thư khóa XIV.



Nguồn: Arttimes.vn

Đồng chí Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV


Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. 

Đồng chí Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - 1

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: TTXVN

Đồng chí Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - 2

Sáng 23/1/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất để bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: TTXVNHội nghị biểu quyết thông qua danh sách bầu Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: TTXVN

Đồng chí Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - 3

Hội nghị biểu quyết thông qua danh sách bầu Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: TTXVN

Đồng chí Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - 4

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Đồng chí Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - 5

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN




Nguồn: Arttimes.vn

Công bố Danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ VHTTDL năm 2025


Thứ trưởng Trịnh Thị Thủy đã ký Quyết định số 119/QĐ-BVHTTDL về việc công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2025.

Theo đó, 45 văn bản hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2025 bao gồm:

Nghị định số 166/2018/NĐ-CP ngày 25/12/2018 Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

Nghị định số 67/2022/NĐ-CP ngày 21/9/2022 Sửa đổi, bổ sung Điều 4 Nghị định số 166/2018/NĐ-CP ngày 25/12/2018 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 08/7/2005 Quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước.

Nghị định số 109/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 Hỗ trợ đối với Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn.

Nghị định số 109/2017/NĐ-CP ngày 21/9/2017 Quy định về bảo vệ và quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam.

Nghị định số 39/2024/NĐ-CP ngày 16/4/2024 Quy định biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh sách của UNESCO và Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.

Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 Quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

Quyết định số 23/2016/QĐ-TTg ngày 07/6/2016 Quy định việc đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài có thời hạn để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản.

Thông tư số 07/2004/TT-BVHTTDL ngày 19/02/2004 Hướng dẫn trình tự, thủ tục đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2008 Ban hành quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ.

Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2010 Quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia.

Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 Quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh.

Thông tư số 22/2011/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2011 Quy định về điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giám định cổ vật.

Thông tư số 19/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 Quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài.

Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 Hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế – kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.

Thông tư số 02/2017/TT-BVHTTDL ngày 05/7/2017 Quy định tiêu chuẩn chuyên gia giám định cổ vật.

Thông tư số 18/2022/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2022 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh.

Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 Quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Quyết định số 70/2006/QĐ-BVHTTDL ngày 15/9/2006 về Quy chế kiểm kê hiện vật bảo tàng.

Quyết định số 47/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 03/7/2008 Ban hành quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của cán bộ và người thực hành bảo quản hiện vật bảo tàng.

Thông tư số 04/2017/TT-BVHTTDL ngày 15/8/2017 Quy định Chương trình bồi dưỡng kiến thức về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 Quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng.

Thông tư số 20/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 Quy định về hồ sơ và thủ tục gửi, nhận gửi tư liệu di sản văn hóa phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Quyết định số 70/2006/QĐ-BVHTT ngày 15/9/2006 Ban hành Quy chế kiểm kê hiện vật bảo tàng.

Quyết định số 13/2004/QĐ-BVHTT ngày 01/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Ban hành “Định mức dự toán bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh”.

Thông tư số 15/2019/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.

Thông tư số 11/2016/TT-BVHTTDL ngày 08/11/2016 Quy định điều kiện chuyên môn tổ chức tập luyện và thi đấu môn Yoga.

Thông tư số 12/2016/TT-BVHTTDL ngày 05/12/2016 Quy định điều kiện chuyên môn tổ chức tập luyện và thi đấu môn Golf.

Thông tư số 09/2017/TT-BVHTTDL ngày 29/12/2017 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Cầu lông.

Thông tư số 04/2018/TT-BVHTTDL ngày 22/01/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Billiards & Snooker.

Thông tư số 05/2018/TT-BVHTTDL ngày 22/01/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Bóng bàn.

Thông tư số 07/2018/TT-BVHTTDL ngày 30/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Khiêu vũ thể thao.

Thôn tư số 08/2018/TT-BVHTTDL ngày 31/01/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Thể dục thẩm mỹ.

Thông tư số 10/2018/TT-BVHTTDL ngày 31/01/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Thể dục thể hình và Fitness.

Thông tư số 12/2018/TT-BVHTTDL ngày 07/02/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Vũ đạo thể thao giải trí.

Thông tư số 18/2018/TT-BVHTTDL ngày 20/3/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Bóng đá.

Thông tư số 19/2018/TT-BVHTTDL ngày 20/3/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Quần vợt.

Thông tư số 27/2018/TT-BVHTTDL ngày 19/9/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Bóng ném.

Thông tư số 32/2018/TT-BVHTTDL ngày 05/10/2018 Quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Bóng rổ.

Thông tư số 18/2016/TT-BTTTT ngày 28/6/2016 Quy định về danh mục kênh chương trình truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu của quốc gia và của địa phương.

Nghị định số 01/2023/NĐ-CP ngày 16/01/2023 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/9/2021 Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Thông tư số 14/2022/TT-BVHTTDL ngày 14/12/2022 Quy định chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Thông tư số 14/2023/TT-BVHTTDL ngày 14/11/2023 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định công tác thi đua, khen thưởng ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

02 văn bản hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 01/01/2025: Luật Điện ảnh Số 62/2006/QH11 ngày 29/6/2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh Số 31/2009/QH12 ngày 18/6/2009.

24 văn bản hết hiệu lực một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2025 bao gồm:

Nghị định số 32/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh.

Nghị định số 105/2012/NĐ-CP ngày 17/12/2012 của Chính phủ về tổ chức lễ tang cán bộ, công chức, viên chức.

Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL ngày 06/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo.

Nghị định số 142/2018/NĐ-CP ngày 09/10/2018 sửa đổi một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Thông tư 06/2017/TT-BVHTTDL ngày 15/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2019/TTBVHTTDL, Thông tư số 13/2021/TT-BVHTTDL và Thông tư số 04/2024/TT-BVHTTDL

Thông tư số 06/2021/TT-BVHTTDL ngày 22/7/2021 Quy định tiêu chuẩn phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao.

Thông tư số 10/2017/TT-BVHTTDL ngày 29/12/2017 quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Taekwondo.

Thông tư 02/2018/TT-BVHTTDL ngày 19/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Karate.

Thông tư số 09/2018/TT-BVHTTDL ngày 31/01/2018 quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Judo.

Thông tư số 11/2018/TT-BVHTTDL ngày 31/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Lân Sư Rồng.

Thông tư số 13/2018/TT-BVHTTDL ngày 08/02/2018 quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Quyền anh.

Thông tư số 20/2018/TT-BVHTTDL ngày 03/4/2018 quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Patin.

Thong tư số 29/2018/TT-BVHTTDL ngày 28/9/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tập huấn nhân viên chuyên môn đối với môn Wushu.

Thông tư số 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02/6/2023 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.

Thông tư số 32/2021/TT-BTTTT ngày 31/12/2021 hướng dẫn thực hiện xuất bản phẩm sử dụng ngân sách nhà nước.

Thông tư số 24/2016/TT-BTTTT ngày 15/11/2016 quy định về quản lý chất lượng dịch vụ phát thanh, truyền hình.

Thông tư số 36/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 của quy định chi tiết về việc cấp phép hoạt động và chế độ báo cáo đối với loại hình báo nói, báo hình.

Thông tư số 16/2021/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2021 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành di sản văn hóa.

Thông tư số 02/2022/TT-BVHTTDL ngày 01/7/2022 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành thư viện.

Thông tư số 03/2022/TT-BVHTTDL ngày 07/7/2022 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành văn hóa cơ sở.

Thông tư số 07/2022/TT-BVHTTDL ngày 25/10/2022 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành thể dục thể thao.

Thông tư số 09/2022/TT-BVHTTDL ngày 28/10/2022 của quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành mỹ thuật.

Thông tư số 10/2022/TT-BVHTTDL ngày 28/10/2022 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn và điện ảnh.

Thông tư số 02/2023/TT-BVHTTDL ngày 21/02/2023 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương viên chức chuyên ngành tuyên truyền viên văn hóa.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/1/2026./.



Nguồn: Arttimes.vn

Tổ chức sự kiện “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026


Bộ VHTTDL vừa ban hành Kế hoạch số 305/KH – BVHTTDL về việc Tổ chức sự kiện “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, theo Cổng thông tin điện tử Bộ VHTTDL.

Chương trình được tổ chức nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi nhân dịp năm mới Bính Ngọ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua sự kiện, thiết thực chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.

Tổ chức sự kiện "Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc" năm 2026 - 1

Ảnh minh họa

Thông qua hoạt động Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thăm, chúc Tết đồng bào các dân tộc, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào đường lối của Đảng, tăng cường tinh thần yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới. Đồng thời, tôn vinh, giới thiệu giá trị văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán, nghi lễ đón tết của các dân tộc Việt Nam, tạo không gian trải nghiệm Tết cổ truyền phục vụ Nhân dân và du khách, góp phần giáo dục ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Chương trình sẽ có khoảng 300 đồng bào, 32 cộng đồng dân tộc của 15 tỉnh, thành phố đại diện cho các dân tộc, vùng miền tham dự như: Đắk Lắk; Cà Mau; Đồng Tháp; Phú Thọ; Thanh Hóa, Tuyên Quang; Lai Châu; Sơn La; Quảng Ngãi; Thái Nguyên…

“Về bản đón xuân”: Điểm hẹn văn hóa cuối tuần tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt NamĐọc ngay

Chương trình sẽ diễn ra (dự kiến) từ ngày 27/02/2026 đến ngày 01/3/2026 với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Chương trình “Bài ca mừng Đảng quang vinh, mừng xuân đất nước” – Lãnh đạo Đảng, Nhà nước chúc Tết đồng bào các dân tộc; Tái hiện nghi thức rước Tê-vê-đa của đồng bào Khmer tỉnh Cà Mau; Không gian Tết cổ truyền vùng đất Nam Bộ; Không gian văn hóa Bắc Bộ với xuân về miền di sản xứ Thanh và xuân trên đất Tổ; Không gian cồng chiêng – Mùa xuân đại ngàn Tây Nguyên; Chương trình “Hội xuân”…

Bộ VHTTDL yêu cầu các hoạt động được lựa chọn đảm bảo không khí vui tươi, phấn khởi trong những ngày đầu xuân năm mới do chính các chủ thể văn hóa thực hiện; nội dung phong phú, sáng tạo, mang đậm bản sắc vùng miền, gắn kết hài hòa trong chuỗi hoạt động của sự kiện “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”; Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ VHTTDL, các địa phương, cộng đồng dân tộc tham gia../.



Nguồn: Arttimes.vn

Thơ Trần Nhật Minh phận chữ của một “giai phố”


Trần Nhật Minh làm thơ từ khi còn là sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (cái “lò” đã xuất xưởng không ít nhà thơ nồng danh khét tiếng trên thi đàn Việt Nam kể từ giữa thế kỷ XX đến nay). Ra trường, dấn thân vào hoạt động báo chí, anh vẫn làm thơ. Lên “sếp”, gánh trách nhiệm quản lý, anh vẫn làm thơ. Khi tỉnh táo cũng thơ mà lúc ngầy ngật hơi men lại càng thơ. Với Trần Nhật Minh, có lẽ, làm thơ không phải để cho sang, cũng không phải để cho vui hay để tìm kiếm sự khuây khỏa. Mà anh làm thơ như là một thực hành sống tự nhiên nhất trên đời: ghi nhanh những ý nghĩ chợt đến, bắt chụp sự vỡ òa của cảm xúc ngay ở cái thời điểm nó vừa xảy ra, và là cách tự đào sâu mình để nhận thấy mình nhiều hơn nữa.

 Nhưng trước hết cần phải nói đến nguồn gốc xuất xứ. Trần Nhật Minh là một “chuẩn giai phố” Hà Nội, nếu sinh sớm hơn khoảng chục năm nữa thì anh đã xứng với chữ “cao bồi già phố cổ” mà các nhà văn Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà vẫn hay dùng. Điều này quan trọng: nó giúp ta hiểu vì sao trong thơ Trần Nhật Minh hầu như không có dấu vết của những tiếc nuối hay lưu luyến nhớ thương một cánh đồng, một lũy tre, một triền đê, một đường làng quanh co hay một dáng cò phân vân trong chiều quạnh…, tức những hình ảnh biểu tượng của làng quê mà các nhà thơ xuất thân từ làng vốn vẫn thường hay bám níu, thậm chí bằng trái tim da diết đau đớn.

Là giai phố, nên không gian đầu tiên, không gian thực của Trần Nhật Minh, chính là không gian phố. Không gian phố của thành phố bây giờ, thời hiện tại tiếp diễn, được anh trình hiện bằng những hình khối bạo liệt và thanh âm chát chúa: “…Băm nát ngã tư/ hỗn hào trăm ngả/ đèn xanh đèn đỏ nháo nhào/ xông lên chiếm mấy mét đường/ Còi hung hãn thốc sau lưng/ xe điên chồm chồm trước mặt/ mấy em váy cộc phừng phừng/ xiên qua tim đường/ õng ẹo/ Một rừng bụi thốc/ những tràng phụ khoa nheo nhéo tai người/ thành phố sục sôi một lò bát quái/ thiêu sống nụ cười” (Thành phố). Chính trong cái không gian hỗn tạp mà dù sao đi chăng nữa anh “vẫn không thoát khỏi vô can” ấy, là đứa con đứt ruột của phố, Trần Nhật Minh vẫn tinh tế nhận thấy những nét lặng trầm, mơ hồ, rất khó rõ nói lý do: “Bên thềm phố/ Một mảnh trai/ Nhìn hai chiều gió đổ/ Sông ngoài kia vô cớ thở dài” (Góc phố). Vẫn cảm nhận những khoảng mờ bí ẩn, lẩn khuất, như lạ như quen, nhưng rất đặc trưng của phố cũ còn sót lại tự thuở nào: “Tôi ngồi đầu ô/ vợi đêm mờ sáng/ sương khuya làn khói mơ hồ/ chợt thoáng bay qua mắt ướt/ ngỡ ai vừa nhận ra mình/ Đôi trẻ nép góc thềm/ ru nhau dưới đèn mờ mắt ngõ/ vài bạn tôi gật gù nói những gì không rõ/ thi thoảng lặng im/ thi thoảng bật cười” (Phố đợi).

Thơ Trần Nhật Minh phận chữ của một “giai phố” - 1

Nhà báo, nhà thơ Trần Nhật Minh.

Rồi Trần Nhật Minh đi làm báo, viết báo, cái nghề mà dẫu sao chăng nữa cũng tạo những điều kiện rất hữu ích để một giai phố Hà Nội được thỏa chí tang bồng, nay lên rừng mai xuống biển, đặt bàn chân quen trên những vùng đất lạ, đánh bạn với nhiều hạng người để mà thêm hiểu những vui buồn sướng khổ, nụ cười và nước mắt của lắm kiếp nhân sinh trong cõi.

Niềm háo hức “dấn thân vào đời” được Trần Nhật Minh thể hiện rất rõ trong những bài thơ (có lẽ) anh viết thuở hoa niên, lúc huyết khí đang phương cương sung mãn. Ở mảng thơ này, Trần Nhật Minh mạnh mẽ, hào sảng, câu chữ bung nở bất chấp sự chặt chẽ cần thiết của cái gọi là thi tứ. Đây là vài câu trong một bài thơ “lên núi”: “Dốc nghiêng ào ạt gió/ Đất và trời giao hoan/ Bếp hồi sinh lửa đỏ/ Rượu pha sương nồng nàn/ Hẹn một mùa tri kỷ/ Trên nẻo ngút ngàn mây/ Núi thênh thang mở lối/ Cho lòng nhau sum vầy” (Pha Đin). Và đây, vài câu trong một bài thơ “Nam tiến”, đánh dấu khoảng thời gian anh công tác ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: “Khi tôi đến miền Tây thức dậy lâu rồi/ Từng giọt phù sa đồng bằng nhấp nháy/ Nắng mới nhìn tôi những thế kỷ xa xôi/ Chợt gần gũi thuở hồng hoang mở cõi/ Tôi thênh thang chạm tới chân trời/ Tôi mải mê cuốn theo những triền sông/ Bàn tay thèm được hằn vết chai thấm vào bùn đất/ Lớp lớp kiếp người mầm sống mọc lên/ Như tràm đước qua thăng trầm được mất” (Miền Tây).

Đọc bài Miền Tây, một cách khách quan, dễ thấy sự vương vất của giọng điệu thơ mang tính khái quát hóa cao, giọng điệu sử thi mà Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang Vũ – gần đây là Nguyễn Việt Chiến – từng khá thành công mỗi khi viết về những thực thể thiêng liêng như Tổ quốc, Đất nước, Nhân dân.Nhưng có lẽ Trần Nhật Minh không cố học theo các thi sỹ tiền bối, đàn anh, mà đây là sự run rẩy kính ngưỡng chân thành, những nhịp đập bộc phát của trái tim anh khi lần đầu tiếp xúc với vùng châu thổ rộng lớn miền Nam, một phần máu thịt của đất nước, thành quả ngọt ngào mà bao lớp người mở cõi đã khổ cực làm nên. Miền Tây sẽ còn trở lại nhiều lần trong thơ Trần Nhật Minh giai đoạn sau này, trong bài Thư miền Tây chẳng hạn, như một nỗi nhớ da diết, một món nợ nghĩa tình dằng dịt, và chính vì thế mà vùng đất ấy lại càng làm phát lộ ở Trần Nhật Minh, với tư cách một người làm thơ, cái chất đa cảm và dễ cảm rất đặc trưng.

Nhưng không phải bao giờ cũng vẹn nguyên những tình cảm háo hức say mê ấy. “Năm tháng cay đắng hơn” thì chắc, nhưng chưa chắc “năm tháng ngọt ngào hơn”. Sự ma chiết của thời gian trên sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, những nhọc nhằn của đời sống cơm áo gạo tiền, những cứng nhắc của các loại công việc hành chính quan phương đè lên bản tính phóng túng và nhạy cảm của người nghệ sỹ, và nhiều nỗi khó chịu luẩn quẩn khác nữa… tất cả những điều ấy rồi sẽ, và thực tế là đã, làm hình thành trong thơ Trần Nhật Minh một mảng trộn lẫn giữa những bức bối, chán chường, thậm chí u uất, cay đắng.

Nhận xét dễ dãi, thì nói rằng đó là thái độ sống bi quan, tiêu cực. Nhưng nhận xét cẩn trọng, thì nên thấy rằng đó là thái độ mỹ học có thể cho nhà thơ cơ hội phát hiện những bất thường nghệ thuật đáng giá. Như khi Trần Nhật Minh nhìn vào mắt của những con cá và thấy bi kịch của chúng: “Kìa những con mắt cá/ Mở trừng hướng biển khơi/ Cá khóc nước mắt đắng/ Trên bờ đau nghẹn lời/ Kìa những linh hồn cá/ Oán hờn giữa biển sâu/ Cá khóc đại dương đói/ Giữa chớp giông nguyện cầu/ Kìa bạc đời như cá/ Xác vùi trong cát nghèo/ Kiếp này rồi kiếp khác/ Hồn nhằm cột buồm treo” (Nước mắt cá).

Và điều đặc biệt nữa, về phương diện này trong thơ Trần Nhật Minh, là có lúc anh chợt nhận ra sự cùn mòn, trơn chuội, trơ khấc, hoặc phù phiếm và dối trá của chữ/ ngôn ngữ trong hành vi nói/ viết của tha nhân hoặc của chính mình, như: “Khi cuộc bàn tròn còn chưa ráo mực/ Nghe ngoài cửa sổ/ Bọn chim líu lo/ Rủ rê vào một cuộc hót mừng/ Tôi xếp hàng/ Chờ đến lượt mình/ Để được hót những lời vay mượn/ Rồi chờ mãi/ gục xuống/ Những dấu chân chồng lên nhau/ Không khoan nhượng” (Hót). Hoặc: “Tôi bị cầm tù/ Trong ngôn từ rỗng tuếch/ Những trang giấy luống cày/ Không hạt chữ phì nhiêu/ Miền đất hoang/ Mối mọt xông sách vở giáo điều” (Thoát). Một cái nhìn mang tính phản tỉnh nghiêm khắc như thế cũng dễ đẫn đến một thái độ tự trào về hành vi nói/ viết, mở rộng ra là hoạt động trên chữ, với chữ của chính mình, trong đó có việc viết báo, làm thơ: “Tôi seophi thơ tôi/ tự sướng những câu để đời/ tự xếp vào hàng bán chạy/ đêm đêm chong đèn đọc đi đọc lại/ “thơ này phải xuất thị trường/ cho thiên hạ biết tỏ tường về thơ”/ Rồi người ta in/ và thiên hạ đồng loạt lấy tôi làm bia đỡ đạn/ tên tôi cả làng nhớ/ còn bài thơ, im ỉm lặng chìm” (Seophi).

Thơ Trần Nhật Minh, xét về tổng thể, đằm thắm hơn cả là khi anh viết về cha mẹ mình. Một người mẹ lành như bà vãi trên chùa: “Mẹ thuộc về im lìm sợi khói/ Lặng lẽ bay quanh bếp ấm nhà mình/ Tiếng mõ gõ đều trong cõi lặng thinh/ Trời rét giá sương sa nhòa tóc mẹ” (Thư gửi mẹ). Một người cha nghe bằng đôi mắt: “Đôi mắt nhìn âm thanh/ Mực quên lãng bừng từng con chữ/ Nghe nắng reo bóng lá/ Nhìn mưa rơi thấu tiếng đất trời” (Cha nghe bằng đôi mắt). Dường như bao nhiêu mạnh mẽ hào sảng, bao nhiêu ngùn ngụt say mê, bao nhiêu chán chường cay đắng… đều tan biến hết khi Trần Nhật Minh viết về cha và mẹ. Để chỉ còn là kính trọng, thương yêu, tin tưởng hết lòng. Có lẽ, đó cũng là một trong những dòng mạch nguồn cội để anh được tưới tắm lại, lành lại, lấy lại sức mạnh tinh thần bước tiếp vào ngày mới – “Ngày mới”, nhan đề một bài thơ của Trần Nhật Minh – sau những tan hoang âm thầm của ngày cũ. Và lại làm thơ, những bài thơ trữ tình lãng mạn như phơi mở lòng mình, bằng chữ, thật hồn nhiên giữa cuộc đời, không làm dáng triết lý, không đánh đố bí hiểm.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Một góc nhìn tỉnh táo về vai trò trung tâm của đồng USD


Trong bối cảnh thế giới liên tục xuất hiện những dự đoán về “sự cáo chung của đồng đô la Mỹ”, cuốn sách “Đô la Mỹ và quyền lực thống trị toàn cầu: Từ quá khứ đến tương lai” do Omega+ hợp tác cùng Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật xuất bản, mang đến một góc nhìn tỉnh táo, thận trọng và giàu cơ sở lịch sử về vai trò trung tâm của đồng USD trong hệ thống tài chính quốc tế.

Là một nhà báo kinh tế kỳ cựu, từng theo dõi sát các định chế tài chính toàn cầu và những cuộc khủng hoảng tiền tệ lớn, tác giả Paul Blustein không ca ngợi sức mạnh của nước Mỹ, mà đặt ra một câu hỏi then chốt: vì sao đồng đô la vẫn giữ được vị thế thống trị, bất chấp biến động địa chính trị, khủng hoảng tài chính và sự trỗi dậy của các đối thủ như euro hay nhân dân tệ?

Một góc nhìn tỉnh táo về vai trò trung tâm của đồng USD - 1

Cuốn sách gồm 11 chương, dẫn dắt người đọc đi qua toàn bộ tiến trình hình thành, củng cố và bị thách thức của quyền lực đồng Đôla Mỹ. Từ việc thiết lập vị thế trong hệ thống Bretton Woods sau Thế chiến II, giai đoạn từ bỏ bản vị vàng, đến sự mở rộng của mạng lưới tài chính toàn cầu và xu hướng “vũ khí hóa” tài chính trong thời hiện đại, Blustein cho thấy rằng sức mạnh của đồng đô la không bắt nguồn từ sự áp đặt đơn thuần, mà đến từ những lợi thế cấu trúc khó thay thế: thị trường tài chính Mỹ có độ sâu và tính thanh khoản vượt trội, vai trò trung tâm then chốt của trái phiếu Kho bạc Mỹ, cùng hiệu ứng mạng lưới khiến phần còn lại của thế giới tiếp tục lựa chọn đô la như một phương tiện an toàn và thuận tiện.

Tác giả cũng phân tích các làn sóng “phi đô-la hóa” lặp lại trong nhiều thập kỷ, đồng thời chỉ ra những hạn chế lớn của các đồng tiền thay thế. Euro thiếu một thị trường tài sản an toàn thống nhất đủ quy mô, trong khi nhân dân tệ vẫn bị ràng buộc bởi kiểm soát vốn và vấn đề niềm tin thể chế. Trong bối cảnh đó, đô la Mỹ vẫn là phương án “ít rủi ro nhất” đối với chính phủ, ngân hàng trung ương và nhà đầu tư toàn cầu.

Không chỉ dừng ở khía cạnh kinh tế, cuốn sách còn bàn sâu về quyền lực địa chính trị của đồng đôla Mỹ, đặc biệt là việc Mỹ sử dụng hệ thống tài chính toàn cầu như một công cụ trừng phạt. Tuy vậy, Blustein cũng cảnh báo rằng việc lạm dụng quyền lực này có thể tạo ra phản ứng ngược, thúc đẩy các nỗ lực giảm phụ thuộc vào đô la trong dài hạn. Nhìn về tương lai, ông cho rằng mối đe dọa lớn nhất đối với vị thế của đồng đôla không đến từ bên ngoài, mà xuất phát từ chính nước Mỹ: sự xói mòn niềm tin vào pháp quyền, bất ổn chính trị và kỷ luật tài khóa suy yếu.

\Với lối viết rõ ràng, lập luận cân bằng và nhiều dẫn chứng lịch sử, cuốn sách không chỉ là một khảo cứu về tiền tệ, mà còn là một phân tích sâu sắc về quyền lực, niềm tin và trật tự toàn cầu đương đại.

Sách do Omega+ và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật hợp tác xuất bản.

Paul Blustein là nhà báo và nhà nghiên cứu kinh tế kỳ cựu, được biết đến rộng rãi với các công trình viết về tiền tệ, tài chính quốc tế và các định chế toàn cầu. Ông từng là phóng viên kinh tế cao cấp của The Washington Post và The Wall Street Journal, chuyên theo dõi các cuộc khủng hoảng tài chính, chính sách tiền tệ và hoạt động của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới cùng các ngân hàng trung ương lớn.

Ông là tác giả của nhiều cuốn sách có ảnh hưởng về hệ thống tài chính toàn cầu, trong đó nổi bật là các công trình phân tích khủng hoảng tiền tệ, vai trò của IMF và những điểm đứt gãy trong trật tự kinh tế quốc tế. Với nền tảng báo chí điều tra kết hợp tư duy phân tích học thuật, các tác phẩm của ông được đánh giá cao nhờ khả năng làm sáng tỏ những vấn đề phức tạp bằng lối viết rõ ràng, chặt chẽ và dễ tiếp cận với độc giả phổ thông.



Nguồn: Arttimes.vn

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”: Gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân


“Nhâm nhi Tết Bính Ngọ” do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành là một tuyển tập đặc sắc, quy tụ truyện ngắn, thơ, tản văn cùng các bài khảo cứu về lịch sử, mỹ thuật, âm nhạc, được sáng tác bởi nhiều tác giả, họa sĩ đã dành trọn cảm hứng cho mùa xuân và linh vật Ngựa – biểu tượng của năm Bính Ngọ.

Cuốn sách mở ra một không gian Tết Việt Nam đa thanh sắc: từ bếp lửa, bánh chưng, chén chè xanh ngày Tết, những kí ức tuổi thơ êm đềm, đến tranh dân gian, lễ hội đua ngựa và những dấu mốc lịch sử của dân tộc gắn với năm Ngọ.

Xuyên suốt các trang sách là hình ảnh con ngựa, biểu tượng của sự bền bỉ, tự do, trung thành và khát vọng vươn xa, được thể hiện sinh động qua văn chương, hội họa và từ vốn cổ cha ông.

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”: Gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân - 1

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”. Ảnh: NXB Kim Đồng

Bạn đọc sẽ gặp lại không khí Tết thân thương qua những câu chuyện ấm áp, nhân văn trong Khách lạ đêm giao thừa (Cao Nguyệt Nguyên), Dừa cạn ở nhờ (Mộc An), Kỉ niệm của bé Xí (Đỗ Thị Phương Nhi), hay giàu chất tưởng tượng, xúc cảm gia đình trong Chú ngựa có cánh (Nguyễn Dương Quỳnh), truyện tranh Bánh Tết của Ngựa Bơ (Múc).

Chùm thơ Tết tạo nên nhịp điệu xuân trong trẻo với những sáng tác quen thuộc và mới mẻ như: Tuổi Ngựa (Xuân Quỳnh), Mùa xuân trong mắt bé (Hương Minh Tuyết), Nắng xuân (Bùi Minh Huế), Xuân này, lần đầu mặc áo dài (Lê Minh Quốc), Vè năm mới (Nguyễn Quỳnh Mai), cùng bản dịch thơ Bồ công anh xinh xắn (Frances Ellen Watkins Harper, Hoàng Thu Phương dịch).

Ấn phẩm cũng đưa người đọc trở về với những phong vị Tết truyền thống qua các tản văn, truyện kí giàu chiều sâu cảm xúc như: Đã nghe hương cốm tan vào gió xuân (Trần Văn Thiên), Chén chè xanh, Tết ngọt lành (Hàn Dương), nơi kí ức gia đình, ẩm thực Tết và nếp sống Việt được khắc họa tinh tế, chậm rãi.

Độc giả cũng được tham gia hành trình khám phá di sản qua: Đặc sắc bao điệu múa ngựa dọc miền đất nước (Phạm Ngọc Tuân), Độc đáo tranh dân gian Bắc Bộ (Nguyễn Thị Thu Hòa), Kị sĩ chân đất ở Bắc Hà (Mỹ Hạnh), hay những câu chuyện lịch sử như Lam Sơn thần mã (Thành Châu), Ngày xưa có một thần đồng (Lê Vân).

Bên cạnh đó tuyển tập còn mở ra không gian thưởng xuân qua âm nhạc, hội họa trong các bài kí: Một mùa xuân nho nhỏ (Phạm Xuân Dũng), Tranh vẽ trẻ em của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm (Vũ Thị Hằng), và những lát cắt lịch sử giàu giá trị giáo dục trong Những năm Ngọ kể chuyện: Từ cậu bé Cung đến Chủ tịch Hồ Chí Minh (Thu Huyền).

Ấn phẩm đặc biệt “Nhâm nhi Tết Bính Ngọ”: Gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân - 2

Cuốn sách mở ra một không gian Tết Việt Nam đa thanh sắc. Ảnh: NXB Kim Đồng

Điểm nổi bật của Nhâm nhi Tết Bính Ngọ nằm ở cách tiếp cận đa thế hệ, tác phẩm lấy bạn đọc nhỏ tuổi làm trung tâm nhưng đồng thời cũng mở ra không gian đọc chung cho cả gia đình. Mỗi tác phẩm không chỉ mang đến cho trẻ em những trải nghiệm mới mẻ, mà còn khẽ khàng đánh thức trong người lớn những ký ức Tết trong trẻo, thân thương đã lắng sâu theo năm tháng.

Với hình thức ấn phẩm sang trọng gồm bìa cứng, bìa áo, hộp quà Tết kèm mô hình ngựa hoa xinh xắn, Nhâm nhi Tết Bính Ngọ là món quà Tết tinh tế, giàu giá trị tinh thần, góp phần gìn giữ nếp đọc sách ngày xuân, bồi đắp văn hóa đọc trong mỗi gia đình Việt.

Bạch Dương




Nguồn: Arttimes.vn