Home Blog Page 70

Top 5 xe gầm cao bán nhiều nhất tại Việt Nam năm 2025


3 mẫu xe điện của VinFast chiếm trọn 3 vị trí dẫn đầu, Mazda CX-5 và Mitsubishi Xforce lần lượt ở các thứ hạng 4 và 5.

Thị trường ô tô Việt Nam năm 2025 ghi nhận đà tăng trưởng tích cực, với tổng dung lượng đạt khoảng 604.000 xe khi cộng gộp số liệu từ VAMA, VinFast và TC Motor, tăng hơn 15% so với năm trước. Trong bức tranh chung này, nhóm xe gầm cao tiếp tục là phân khúc chủ lực, khi các mẫu SUV/crossover chiếm tỷ trọng lớn nhờ phù hợp nhu cầu di chuyển đô thị lẫn gia đình.

Ba vị trí dẫn đầu doanh số toàn phân khúc thuộc về bộ ba xe điện VinFast gồm VF 3 với khoảng 44.585 xe, VF 5 đạt 43.913 xe và VF 6 đạt 23.291 xe, cho thấy xu hướng chuyển dịch sang xe điện giá phổ thông đang diễn ra rõ rệt.

Ở nhóm xe sử dụng động cơ đốt trong, Mazda CX-5 giữ vị trí thứ tư với khoảng 17.262 xe, tiếp tục là mẫu SUV chạy xăng bán chạy nhất thị trường, trong khi Mitsubishi Xforce đứng thứ năm với khoảng 15.254 xe, tạo dấu ấn nhờ thiết kế mới và mức giá cạnh tranh.

Kết quả này phản ánh sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu tiêu dùng, khi xe gầm cao – đặc biệt là các mẫu SUV cỡ nhỏ và xe điện đang trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng doanh số ô tô tại Việt Nam.

Dưới đây là danh sách 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tại Việt Nam năm 2025

Top 5 xe gầm cao bán nhiều nhất tại Việt Nam năm 2025 - 1

Top 5 xe gầm cao bán nhiều nhất tại Việt Nam năm 2025 - 2

Top 5 xe gầm cao bán nhiều nhất tại Việt Nam năm 2025 - 3

Top 5 xe gầm cao bán nhiều nhất tại Việt Nam năm 2025 - 4

Top 5 xe gầm cao bán nhiều nhất tại Việt Nam năm 2025 - 5



Nguồn: Arttimes.vn

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026: Hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học


Hội chữ Xuân tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ là điểm hẹn đầu năm của những người yêu chữ, mà còn góp phần gìn giữ, tiếp nối một sinh hoạt văn hóa truyền thống giàu ý nghĩa, nơi tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo được tôn vinh và lan tỏa.

Ngày 11/2, tại Không gian Hồ Văn, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026 cùng chuỗi hoạt động văn hóa – nghệ thuật chào mừng Xuân mới đã chính thức được khai mạc.

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026: Hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học - 1

Lễ khai mạc Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026 thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và du khách. Ảnh: Huyền Thương

Phát biểu tại Lễ khai mạc, TS. Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026 là hoạt động ý nghĩa chào mừng năm mới, chào mừng thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV và hướng tới kỷ niệm 950 năm ra đời Quốc Tử Giám – Trường Quốc học đầu tiên của đất nước.

“Hội chữ Xuân không chỉ là không gian thưởng thức thư pháp, xin chữ đầu năm, mà còn là hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học, trọng đạo lý, hướng con người tới những giá trị chân – thiện – mỹ.

Thông qua Hội chữ Xuân, chúng tôi mong muốn đem đến niềm vui tinh thần, sự an hòa, khởi đầu tốt đẹp cho nhân dân và du khách khi du Xuân, tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám”, ông Lê Xuân Kiêu chia sẻ.

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026: Hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học - 2

TS. Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám phát biểu khai mạc. Ảnh: Huyền Thương

Năm nay, Hội chữ Xuân mang chủ đề “Quốc học”, nhấn mạnh vai trò đặc biệt của Văn Miếu – Quốc Tử Giám trong lịch sử giáo dục nước nhà, khẳng định truyền thống tôn sư trọng đạo, trọng dụng hiền tài – những giá trị bền vững đã hun đúc nên bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội và dân tộc Việt Nam.

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026: Hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học - 3

Tiết mục nghệ thuật tại chương trình. Ảnh: Huyền Thương

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026 ghi dấu bước đổi mới rõ nét trong tổ chức không gian và nội dung hoạt động, với việc cải tạo, chỉnh trang toàn diện cảnh quan Hồ Văn, tạo nên một không gian Xuân trang nhã, hài hòa giữa yếu tố truyền thống và tinh thần đương đại.

Các khu chức năng cũng được quy hoạch khoa học, mạch lạc, bao gồm: khu triển lãm tranh, không gian trải nghiệm di sản, khu trải nghiệm làng nghề truyền thống, khu xin chữ đầu năm và khu giới thiệu văn hóa ẩm thực.

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026: Hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học - 4

Ban Tổ chức trao thẻ tham gia hoạt động viết chữ thư pháp cho các thầy đồ tại Hội chữ xuân Bính Ngọ 2026. Ảnh: Huyền Thương

Điểm nhấn xuyên suốt của Hội chữ Xuân là hoạt động xin chữ đầu năm tại 35 gian lều thư pháp của các nhà hoạt động thư pháp được lựa chọn kỹ lưỡng thông qua quy trình khảo tuyển khách quan, minh bạch.

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026: Hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học - 5

Hội chữ Xuân năm nay có 35 gian lều của các nhà hoạt động thư pháp. Ảnh: Huyền Thương

Bên cạnh đó là chuỗi hoạt động phong phú, đa dạng, hướng tới nhiều nhóm công chúng như: chương trình giáo dục di sản, không gian văn hóa đọc, trưng bày và giới thiệu sản phẩm làng nghề, các trò chơi dân gian, cờ truyền thống, múa lân cùng các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian đặc sắc như quan họ, ca trù, chèo… được tổ chức tại khu Nội tự, vườn Giám và Hồ Văn, góp phần tạo nên không khí Xuân rộn ràng, đậm đà bản sắc.

Trong khu Nội tự Di tích, bên cạnh hai không gian trưng bày thường xuyên “Trường Quốc học đầu tiên” và “Khơi nguồn đạo học”, năm nay, khách tham quan còn được thưởng thức Triển lãm “Dấu xưa Văn hiến 4” với chủ đề “Đạo học ngàn năm” tại Tiền đường nhà Thái học, cùng các trưng bày chuyên đề “Ngựa về phố” và “Sử đá lưu danh”. Các trưng bày tiếp tục khẳng định chiều sâu giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của Di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám trong dòng chảy văn hiến Thăng Long – Hà Nội.

Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026: Hoạt động văn hóa đề cao tinh thần hiếu học - 6

Du khách xin chữ thầy đồ. Ảnh: Huyền Thương

Nhằm bảo đảm cho nhân dân và du khách đón Xuân trong không khí vui tươi, lành mạnh và an toàn, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương xây dựng phương án bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ tại khu vực Hồ Văn và toàn bộ Di tích trong suốt thời gian diễn ra Hội chữ Xuân.

Thông qua Hội chữ Xuân Bính Ngọ 2026 cùng chuỗi hoạt động văn hóa – nghệ thuật chào mừng Xuân mới, cho thấy Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã từng bước đổi mới, đa dạng hóa hoạt động để Văn Miếu – Quốc Tử Giám thực sự trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn, phục vụ chu đáo công chúng Thủ đô và du khách trong dịp Tết Nguyên đán.

Các hoạt động góp phần mang lại cảm xúc vui tươi, bình an, hạnh phúc và sự kết nối trong những ngày đầu Xuân, chào đón năm Bính Ngọ 2026 với niềm tin vào sự bứt phá mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Hội chữ Xuân diễn ra từ ngày 11/2 đến ngày 1/3/2026 (tức từ ngày 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ đến ngày 13 tháng Giêng năm Bính Ngọ), mở cửa phục vụ khách tham quan hàng ngày từ 8h00 đến 22h00.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Truyện ngắn năm 2025, từ một cái đọc chủ quan


Nói đến văn xuôi nghệ thuật, người vốn ít có thời gian đọc và lại quen đọc theo cách không cần bao quát kỹ càng lắm, có thể tạm bỏ qua các thể loại như ký, nhất là cái thứ mới nổi và đang ngày một chiếm lĩnh mặt báo: tản văn. Nhưng với tiểu thuyết và truyện ngắn thì không, vì đây là hai thể loại quan trọng nhất để định hình diện mạo một nền văn xuôi nghệ thuật, cho dẫu cái nền ấy có thể tính bằng giai đoạn vài chục năm, hoặc thậm chí chỉ là một năm. Ở bài viết này, vì nhiều lý do, tôi tạm bỏ qua tiểu thuyết – thể loại tôi vẫn theo dõi suốt nhiều năm nay – để chỉ quan tâm đến truyện ngắn. Câu hỏi đặt ra khá đơn giản: truyện ngắn Việt Nam năm 2025 có gì đáng chú ý?

Trước hết, nói về các hoạt động mang tính chất phong trào, bề nổi. Năm 2025 là năm báo Văn Nghệ tổng kết và tổ chức trao giải cuộc thi truyện ngắn 2022 – 2024. Xét từ chiều sâu quá khứ, đây là một cuộc thi sáng tác văn chương quan trọng của báo Văn Nghệ nói riêng và của cả nước nói chung. Nhiều tác giả sáng giá đã được phát hiện hoặc tái khẳng định tên tuổi từ cuộc thi có bề dày truyền thống này. Sau hai năm phát động, ban tổ chức cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ 2022 – 2024 đã nhận về trên hai nghìn tác phẩm, và rồi một danh sách giải thưởng được công bố: không có giải nhất, cao nhất là hai giải nhì, vài giải ba và cuối cùng là mấy giải khuyến khích hay tặng thưởng gì đó. Sóng gió dư luận nổi lên: các giám khảo đọc truyện công tâm hay không/ chưa công tâm? Các tác phẩm được giải là xứng đáng hay không/ chưa xứng đáng? Giải thưởng đã phản ánh chất lượng sáng tác đúng như nó vốn có hay chưa?

Truyện ngắn năm 2025, từ một cái đọc chủ quan - 1

Ảnh minh họa

Tránh sa đà vào những câu hỏi rắc rối, khi viết bài về các tác phẩm đoạt giải của cuộc thi này, tôi chỉ nhấn hai ý: 1 – với hơn hai nghìn truyện ngắn dự thi mà ban giám khảo không tìm ra nổi một giải nhất, nghĩa là đang phổ biến tình trạng bình bình, sàn sàn, không có sự đột xuất, nhìn mãi cũng không thấy ngọn cô sơn trên cả một bình nguyên rộng lớn; và 2 – hiện tượng “ngả mũ chào người quen”: nhiều truyện ngắn đoạt giải cứ nhang nhác giống, ở những điểm nào đấy, các truyện ngắn đã có từ trước của những cây bút thành danh (Nguyễn Huy Thiệp, Cao Duy Sơn, Nguyễn Ngọc Tư v.v…), nghĩa là các tác giả ấy vẫn chưa hoàn toàn vượt qua được những mốc giới nghệ thuật truyện ngắn đã cắm sẵn. Tất nhiên, nếu nhìn rộng hơn nữa, thoát ra ngoài cuộc thi này và những tác giả dự thi này, thì cái panorama của truyện ngắn Việt Nam đương đại không hẳn đã kém sắc sáng. Các tập truyện ngắn gần đây, như Một mùa hè dưới bóng cây của Nguyễn Tham Thiện Kế hay Trên đỉnh giời của Y Ban chẳng hạn, là những ví dụ. Tuy nhiên đó là những tập truyện ngắn xuất bản trước năm 2025, các tác giả thì đều là những nhà văn nhiều thành tựu và đã/ đang ở sườn phía bên kia của đời sáng tác, nên chỉ e đây là những cú vùng quẫy đẹp đẽ cuối cùng của một thế hệ.

Mặt khác, ngay cả những truyện ngắn được cuộc thi báo Văn nghệ gọi tên, trao giải năm 2025 cũng là những truyện ngắn đã sáng tác và được công bố trước năm 2025 (2022 – 2024). Bởi vậy, nếu căn cứ theo năm xuất bản, tức năm 2025 đang nói đây, và căn cứ theo đơn vị tập truyện (tôi nhấn mạnh: tập truyện) chứ không phải những truyện ngắn đơn lẻ – vì chúng được viết được in nhiều đến mức không ai có khả năng đọc cho xuể – thì thật ra cũng… không có nhiều. Nếu buộc phải trả lời ngay thì, theo sự đọc chủ quan, tôi nghĩ đến bốn tập truyện ngắn mà tôi cho là đáng kể: Thị trấn cá bông của Đinh Phương, Bầy người cưỡi khói của Nguyễn Thị Kim Hòa, Con rối hát ngoài rừng xa của Khải Đơn, và Mưa ngang của Trung Sỹ.

Truyện ngắn năm 2025, từ một cái đọc chủ quan - 2

Tập truyện ngắn “Con rối hát ngoài rừng xa” của Khải Đơn.

Mưa ngang là tập truyện ngắn đầu tay của tác giả Trung Sỹ, những truyện ngắn ở đây nối mạch với những hồi ức về chiến trường K mà ông từng kể lại rất sinh động trong tác phẩm phi hư cấu có tên Chuyện lính Tây Nam, xuất bản dăm bảy năm trước. Với cá nhân tôi, tập truyện ngắn này không mang đến thêm những ấn tượng mới mẻ hơn. Còn Nguyễn Thị Kim Hòa, hiện đang sống và viết ở Ninh Thuận, là nhà văn nữ từng khiến tôi rất thích thú với những truyện ngắn lịch sử in trong tập Con chim phụng cuối cùng, nhất là truyện có tên Nắng quái Tây Nam thành, viết về những giờ phút cuối cùng, trên pháp trường, của nữ tướng Bùi Thị Xuân nhà Nguyễn Tây Sơn. Ở tập Bầy người cưỡi khói Kim Hòa không tự sự lịch sử/ quá khứ nữa mà tự sự hiện tại, tập trung vào những chuyển vận trong cuộc sống xã hội và thế giới tinh thần của con người trên vùng đất của những động cát, những cổ tháp, những hầm nho, những đàn dê chăn thả bốn mùa. Bút pháp vẫn chắc tay, truyện ngắn vẫn gợi mở và có chiều sâu suy tưởng, nhưng cái liều lượng phương ngữ Nam Trung Bộ mà Nguyễn Thị Kim Hòa sử dụng lại có vẻ hơi… quá tay, nên khá trúc trắc. (Nhà văn giàu kinh nghiệm Hồ Anh Thái từng nhiều lần nói về vấn đề sử dụng phương ngữ trong văn xuôi nghệ thuật: vừa đủ, thì nó mang lại cho tác phẩm một vi khí hậu văn hóa vùng miền đặc trưng, nhưng hễ vượt qua cái vừa đủ ấy, nó dễ biến tác phẩm thành một kho “tiếng lóng” với người đọc phổ thông ngay lập tức, đọc cứ như đánh đố).

Vậy là chỉ còn lại Thị trấn cá bôngCon rối hát ngoài rừng xa – xin nhắc lại: với tôi – như là hai tập truyện ngắn đã neo giữ cho một năm truyện ngắn 2025 thành một năm được mùa. Điều đáng nói đầu tiên ở hai tập truyện ngắn này, là mối liên kết bên trong, là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt” giữa các truyện trong tập (cả hai tập đều gồm mười bốn truyện). Ở tập truyện Thị trấn cá bông của Đinh Phương – tác phẩm đã được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải văn xuôi năm 2025 – mối liên kết ấy là không gian nghệ thuật: thị trấn Mạo Khê thuộc tỉnh Quảng Ninh, nơi các nhân vật sinh ra, lớn lên, từ đó ra đi nơi khác, hoặc từ các nơi khác lại trở về đó, sống một đời trong một trời than bụi mù mịt và những tán bàng nhung nhúc sâu róm, sống với những đoàn xe ben rầm rập chạy đi chạy lại suốt ngày đêm trên những con đường lồi lõm khúc khuỷu và nằm chết dưới ba tấc đất trong những nghĩa địa thê lương giữa lòng thị trấn. Tất nhiên, cái không gian nghệ thuật của các truyện ngắn ấy dẫu có được Đinh Phương gọi tên thì cũng chỉ là một không gian giả định thế thôi, nó không nhất thiết phải trùng khớp với thị trấn mỏ Mạo Khê, quê hương chôn nhau cắt rốn ngoài đời thực của Đinh Phương. Còn ở tập truyện ngắn Con rối hát ngoài rừng xa của Khải Đơn – đây là tập truyện đầu tay của tác giả, sau khi đã xuất bản một số sách tản văn, ký và thơ – thì không gian nghệ thuật, nếu không phải là những cánh rừng nguyên sinh hoặc những vùng biển còn ít ai biết đến, nơi cư trú của những cộng đồng thiểu số biệt lập đang chảy tràn chất man dã mông muội trong huyết quản, thì cũng là những vùng đất của một thuở hồng hoang mờ mịt, vốn rất xa lạ với ánh sáng văn minh rực rỡ và tàn nhẫn máu lạnh, thậm chí có thể xem đó là cõi phi thực.

Điều đáng nói thứ hai, là kiểu nhân vật/ con người trong truyện ngắn. Ở cả hai tập truyện, đa phần là những nhân vật dị thường, kỳ lạ, những nhân vật mà người đọc quen với văn chương hiện thực truyền thống theo cách soi gương khó mà tìm thấy hình mẫu của chúng trong thế giới con người rộng lớn ngoài kia. Tập truyện Thị trấn cá bông có những nhân vật mà suy nghĩ và hành động của họ thì không ai, không cách nào lý giải được. Truyện Cá bông có đoạn kể về ông bố của nhân vật Tôi: “Ông giết người bạn cùng đứa con trai chín tuổi của ông ta bằng một con dao quắm sắc lẹm, trên chuyến xe khách về thị trấn chỉ vì họ nói ông là con hoang của chó lợn đẻ ra… Ông sống trong khoảnh khắc điên rồ ấy đầy tỉnh táo. Hai nhát chém dứt khoát trong lúc xe vẫn rì rì chạy”. Truyện Những buổi chiều màu cam có những hồi ức đứt đoạn về nhân vật Hòa, chàng sinh viên bạn của Tôi, kẻ giàu nhất trong đám bạn bởi có nhà trên Hà Nội – được ông bố vượt biên thành công cho tiền mua – đang hai mươi lăm tuổi rực rỡ, sau khi hỏi: “Từ tầng bảy gieo xuống chết không?” thì đã nhảy cầu tự tử, chẳng ai biết là vì sao? Truyện Chú Phù kể về cuộc đời của chú Phù, người đàn ông vì dị tật mà bao lần đăng ký đi bộ đội cũng đều bị loại. Chú khao khát vào lính – không hiểu lý do gì mà lại khao khát đến thế? – tới mức thành ra chán đời, bán nhà lên núi ở một mình, tránh gặp mặt người, quanh năm suốt tháng đánh bộ quân phục dù chẳng một ngày vào lính. Nhiều nhân vật trong tập truyện Con rối hát ngoài rừng xa thậm chí còn kinh khủng hơn. Cảm xúc, suy nghĩ, hành động và số phận của họ, đặt trong những mối quan hệ nhân tính và hoàn cảnh xã hội bình thường, đều chỉ có thể khiến người bình thường phải tắc nghẹn bởi sự khiếp hãi và tính tàn bạo vượt ngưỡng của nó. Truyện Bụi mùa hạn trong tập kể chuyện đời nhân vật Tháu: cha Tháu bảo với dân làng là mẹ anh “bị ma làm”, rượt đuổi, rũ bỏ mẹ con anh vào rừng sâu để cưới vợ mới. Khi ấy Tháu còn quá nhỏ nên đoạn đời đó như bị vùi lấp, không có một ký ức nền tảng để neo bám. Nhưng, như nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Anh của trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh viết trong bài phê bình có tên Những con sâu ngủ trong ký ức, in trên Tạp chí Người đô thị đầu năm 2025: “Chính khoảng trống ấy lại tạo ra một “khao khát trượt về nguồn gốc” mãnh liệt đến mức, trong một cảnh truyện được viết đầy ảo ảnh, Tháu như nhập vai vào chính quá khứ giấu kín kia: anh đánh cha mình, quật cho thân thể ấy ra nhừ nát, một hành vi vừa mang tính báo oán vừa mang tính tự hủy. Và rồi thân thể người cha hóa thành một đầm lầy nuốt chửng anh”.

Truyện ngắn năm 2025, từ một cái đọc chủ quan - 3

Tập truyện ngắn “Thị trấn cá bông” của tác giả Đinh Phương

Ở một vài truyện khác, như Mất ngủ, Rừng Đỏ, hay Khung trời vô cực, nhân vật của Khải Đơn luôn tồn tại trong sự rối lẫn hoặc chập chờn giữa một thực tại giả dối đầy nghẹt thở, một ký ức nhiều khoảng trống nhưng không ngừng hiện diện bằng những nỗi đau có thật, những cơn sang chấn tinh thần dai dẳng. Nhân vật Anh trong truyện Mất ngủ là kiểu người trượt dốc sự nghiệp, bị nỗi ám ảnh rằng vợ mình có nhân tình lớn đến mức thành ra mắc chứng nhiễu tâm, và anh ta chỉ có thể tự giải thoát mình khỏi nỗi ám ảnh đó bằng hành vi sát nhân đầy sự tính toán thận trọng: “Anh chui vào chăn ấm cạnh vợ. Anh quỳ lên thân thể nàng như khi họ làm tình. Anh đã đo khá kỹ. Anh nhẹ nhàng cắm con dao dài và có mũi nhọn từ trên xuống ngực nàng, phía của trái tim. Anh nằm xuống cạnh nàng. Người nàng sau khi tắm vẫn còn hương thơm cam quýt của nước hoa Jo Malone anh mua. Anh hít một hơi thật sâu”. Cậu bé tên Đạt trong truyện Khung trời vô cực sống trong bầu khí gia đình thượng lưu lạnh toát và những quy tắc bảo vệ mang tính đặc quyền chỉ giành riêng cho giới nhà giàu. Cậu được hưởng cái phúc ấy thừa mứa đến mức luôn không thôi thèm khát những quan hệ bình thường, hài hòa với thế giới xung quanh. Rốt cuộc tới một lúc, khi Đạt nhảy lầu tự tử, bà lao công nhân hậu, luôn quan tâm đến cậu đã phải thương cảm băn khoăn: “Có khi nào Đạt đã tìm cách bay khỏi cái bóng tòa nhà ghì lên sự tồn tại của nó?”.

Đặc điểm đáng nói nữa ở cả hai tập truyện ngắn khác biệt này, là tính đa hướng. Một mặt, các tác giả vươn tới chiếm lĩnh khuynh hướng thẩm mỹ về cái huyễn tưởng, kinh dị. Mặt khác, họ lại có những truyện có thể quy chiếu về những vấn đề của lịch sử cộng đồng, những mối bận tâm của đời sống xã hội thực tại (như môi trường, sinh thái, chủng tộc, các giá trị di sản văn hóa). Đinh Phương có một truyện ngắn nhan đề Phép cộng của một người béo, kể chuyện một gã trai sống độc thân trong căn phòng trọ khoảng thời gian cách ly vì dịch bệnh bùng phát. Gã ăn mỳ gói, uống nước trắng cầm hơi, nhưng cứ lên cân vù vù và trong lúc không ngừng lên cân ấy thì gã cũng không ngừng nghĩ về lũ lợn tăng gia: “đối tượng chính trong các nghiên cứu về văn học dân gian, dân tộc học, sử học, sinh học, đạo đức học, và cả toán học cũng nhắc đến”. Và không ngừng nghĩ về lũ chuột, những con chuột tinh, những con chuột ăn thịt người và bị người ăn thịt, những con chuột “rùng rùng từ trong làng chạy ra nghĩa địa nhảy xuống tự thiêu theo con chuột tinh đầu đàn, mùi khét lẹt của chuột cháy luẩn quẩn vài năm sau chưa hết”. Dòng tưởng tượng  phóng cuồng kinh dị của chàng Raskolnicov Việt Nam ấy chắc chắn sẽ trôi tuột đi, chẳng để lại gì đáng kể nếu trong một vài nếp gấp của nó không trồi lên những mảnh ký ức về ông bố, bà mẹ, bi kịch gia đình và một tuổi thơ bất hạnh. Sự chồng chéo, xuyên thấm giữa hư và thực nằm ở đó. Khải Đơn cũng có một truyện ngắn mang hơi hướng tương tự, nhan đề Nữ thần trôi dạt. Một câu chuyện kỳ lạ, kể về cái xác một người đàn bà nằm úp mặt ngay giữa đoạn sông cạn đổ ra biển. Cái xác nằm đó, nhiều ngày, nhưng không một ai muốn chạm vào, lật lên xem mặt hay đưa lên bờ. Người làng chài ai cũng tin, ai cũng tự thuyết phục rằng mình “không can dự gì” vào đó, thậm chí họ còn tận dụng cái xác ấy, mỗi ngày một trương phình lên đến cực đại, làm điểm thu hút khách du lịch bằng cách dựng lên một huyền thoại. Hình ảnh kinh dị ấy, dưới nó, chính là một hiện thực vô tâm tàn nhẫn, như nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Anh bình luận: “Họ đồng lòng xóa bỏ danh tính của người đã chết, từ chối truy tìm lai lịch, nhân dạng, hay quá khứ của cô. Cái xác – không tên, không mặt – trở thành biểu tượng cho ký ức bị tẩy xóa, một con người đã từng hiện hữu nhưng bị cộng đồng từ chối ghi nhớ” (Bài đd).

Nhưng ở chiều ngược lại, Đinh Phương còn có truyện ngắn Quỷ ngắm trăng, mà mạch chính là mạch chứa đựng hồi ức về sự kiện quân Khmer Đỏ đánh sang thị trấn Ba Chúc, tỉnh An Giang suốt mười hai ngày của năm 1978, giết hại 3157 mạng người Việt Nam. Vụ thảm sát khủng khiếp đến mức kể từ đó, những người còn sống – tức người nhà hoặc con cháu của những người đã chết – chỉ sống với quá khứ: “Ba Chúc có cộng thêm bao nhiêu năm tháng vào phía sau vẫn chỉ là Ba Chúc thảm sát”. Hoặc truyện ngắn Cá bông, kể chuyện người Mạo Khê, trong cái dòng chảy của người miền Bắc vượt biển, đã vượt biên sang Hồng Kông sau năm 1975. Không có gì đáng nói nếu thuyền vượt biên không vớ phải một tài công chưa từng đi biển, không hề biết gì về hải trình. Con thuyền bị lạc, lênh đênh nhiều ngày trên biển. Mọi người bị đói, bị cái nắng nóng thiêu đốt và bị rơi vào nỗi hoảng sợ không kiểm soát được. Con cá bông – như nhan đề của truyện – là con cá bằng bông, một món đồ chơi của trẻ con, xuất hiện trong chập chờn mê tỉnh, nhập nhòa xáo lộn các hình ảnh ảo giác của nhân vật Tôi, lúc đã vô cùng rã rời kiệt quệ. Trong truyện, Đinh Phương đã bỏ ra cả năm trang kín đặc chữ để bám vào cái dòng chảy hình ảnh đậm chất siêu thực này: “Con cá mơ hồ đổ vào ngày lửa. Nắng trưa, nắng chiều, nắng tối. Nắng từ đâu đến như tiếng thở dài. Tôi thở theo nhịp cá, nhịp một nhịp hai, tôi là cá… Là cá vẫn cứ phải mơ và ngày vẫn cứ phải lửa… Con bướm ma đen đen bay qua đậu vào mõm con chó đốm. Chó đốm đớp hụt, tôi là cá, tôi ngủ giấc ngủ của chó đốm. Ăn xương gà, xương lợn, xương bò như mồm chó đốm. Làm chó đốm chán tôi lại thành cá bông…” Cùng motif này, tuy không cụ thể về không gian, thời gian, địa điểm, Khải Đơn có truyện ngắn Sâu của biển, kể về những con người “hiến mình cho biển những mong tìm được một định mệnh khác với hiện hữu quá sức chịu đựng”. Họ đã phải “rời lìa mái nhà và câu kinh của má”, họ đã phải “bỏ lại thị trấn nhỏ xíu với súng ống vương vãi trên đường, quân phục nằm la liệt như giẻ rách”, để lên những con tàu chất đầy người, và chết máy, và cướp biển, và thủy táng. Ấy chính là những “thuyền nhân” (boat people) – cái từ sinh ra để chỉ/ trỏ một hiện tượng đặc hữu Việt Nam – một thân phận lịch sử từng bị lãng quên, một nỗi đau từng bị chối từ, mà việc của nhà văn chân chính là phục dựng nỗi đau ấy, biến nó thành ký ức của cộng đồng bằng cách hình tượng hóa nó thành “sâu của biển”. 

Còn có thể nói nhiều, nhiều nữa về những phương diện, những cạnh khía khác của hai tập truyện ngắn Thị trấn cá bôngCon rối hát ngoài rừng xa. Nhưng để cho ngắn gọn, thì chỉ cần phát biểu rằng chúng rất khác biệt, khác biệt đến mức gây cảm giác bàng hoàng. Chúng khiến cho người ta phải bổ sung thêm vào quan niệm “truyện ngắn là gì?”, nếu không muốn phải quan niệm khác đi. Năm 2025 là một năm được mùa của truyện ngắn Việt Nam, với tôi, là theo nghĩa ấy.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Ninja đứng chờ người xin đường & pha xử lý khiến ai cũng ngỡ ngàng


Pha xử lý khó hiểu của hai người phụ nữ đi xe máy đã dẫn đến va chạm ngay sau đó, khiến nhiều người không khỏi ngán ngẩm.




Nguồn: Arttimes.vn

Những điểm mới của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn đòi hỏi tư duy lãnh đạo và mô hình quản trị quốc gia phải được nâng lên tương xứng với khát vọng vươn mình của dân tộc.

Những biến động sâu sắc của tình hình thế giới, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, cùng những vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức cầm quyền, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV đã kế thừa và phát triển tư duy về phát huy vai trò của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và đại đoàn kết toàn dân tộc lên một tầm cao mới, thể hiện rõ bước chuyển từ tư duy “ứng phó” sang tư duy “kiến tạo phát triển”, từ vận động chính trị – xã hội sang thiết kế thể chế và quản trị hiện đại, từ khẳng định vị trí trung tâm của Nhân dân sang xác lập Nhân dân là chủ thể của toàn bộ tiến trình đổi mới.

Những điểm mới trong quan điểm chỉ đạo và các định hướng lớn về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ mang ý nghĩa lý luận sâu sắc, mà còn có giá trị thực tiễn trực tiếp, tạo nền tảng quan trọng để củng cố “thế trận lòng dân”, khơi dậy khát vọng cống hiến, huy động và chuyển hóa sức mạnh toàn dân tộc thành nguồn lực phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Những điểm mới của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc - 1

Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội của Đảng, sáng 20/1. Ảnh: TTXVN

Kỳ 1: NHỮNG QUAN ĐIỂM MỚI VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Bước sang nhiệm kỳ Đại hội XIV, đất nước đứng trước một bối cảnh lịch sử mới. Việt Nam đã cơ bản vượt qua giai đoạn ứng phó khủng hoảng, bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững hơn, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, cạnh tranh chiến lược gay gắt hơn; đồng thời, phải giải quyết ngày càng nhiều vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV đã kế thừa và phát triển tư duy về phát huy vai trò của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và đại đoàn kết toàn dân tộc lên một tầm cao mới. Sự phát triển này không chỉ thể hiện ở nhận thức lý luận, mà quan trọng hơn, phản ánh bước chuyển sâu sắc về tư duy cầm quyền, phương thức lãnh đạo và mô hình quản trị quốc gia.

1. Khẳng định Nhân dân là chủ thể trung tâm của toàn bộ tiến trình đổi mới, không chỉ là mục tiêu hay động lực

Đại hội XIII xác lập bước tiến quan trọng khi nhấn mạnh Nhân dân là trung tâm, là mục tiêu, là động lực của phát triển. Tuy nhiên, cách diễn đạt này vẫn chủ yếu đặt Nhân dân ở vị trí định hướng và thụ hưởng, trong khi vai trò chủ thể trực tiếp tham gia kiến tạo, kiểm soát và đồng hành với quá trình phát triển chưa được nhấn mạnh đầy đủ.

Đại hội XIV phát triển rõ hơn khi xác định: Nhân dân là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh về ngôn từ, mà là bước chuyển quan trọng về tư duy cầm quyền. 

Quan điểm này hàm ý rằng Nhân dân không chỉ “được phục vụ” mà còn được trao quyền tham gia thực chất; sự phát triển của đất nước không chỉ do hệ thống chính trị dẫn dắt, mà là quá trình đồng kiến tạo giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; quyền làm chủ của Nhân dân luôn gắn chặt với trách nhiệm công dân và nghĩa vụ đối với cộng đồng, quốc gia.

So với Đại hội XIII, đây là sự phát triển từ tư duy “lấy dân làm trung tâm” sang tư duy quản trị dựa trên chủ thể xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong điều kiện hội nhập sâu rộng.

2. Nâng tư tưởng “Dân là gốc” thành nguyên tắc chi phối toàn bộ hoạt động lãnh đạo, quản lý và đánh giá hiệu quả cầm quyền

Ở Đại hội XIII, tư tưởng “Dân là gốc” được nhấn mạnh như một giá trị nền tảng, một bài học xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIV phát triển tư tưởng này lên một tầng nấc mới khi coi đó là chuẩn mực chính trị – đạo lý – quản trị để đánh giá năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Việc Đại hội XIV nhấn mạnh: mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy hạnh phúc, sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư duy cầm quyền. Đảng ta không chỉ nhấn mạnh “đúng đường lối”, mà đặt yêu cầu “đúng và trúng với Nhân dân”; hiệu quả cầm quyền không chỉ được đo bằng tăng trưởng hay ổn định, mà còn bằng niềm tin xã hội và mức độ đồng thuận; quyền con người, quyền công dân được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với mục tiêu phát triển xã hội chủ nghĩa.

So với Đại hội XIII, đây là bước phát triển về chất trong nhận thức về bản chất quyền lực chính trị trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Quan điểm mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa: dân chủ không tách rời trách nhiệm, kỷ cương và lợi ích quốc gia – dân tộc

Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, coi đó là động lực quan trọng của phát triển. Đại hội XIV kế thừa quan điểm này, đồng thời điều chỉnh trọng tâm khi đặt dân chủ trong chỉnh thể thống nhất với trật tự, kỷ cương xã hội; trách nhiệm công dân; ổn định chính trị và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Điểm mới căn bản là Đại hội XIV làm rõ ranh giới chính trị – pháp lý giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa với dân chủ hình thức; giữa quyền làm chủ với các hành vi lợi dụng dân chủ; giữa phát huy dân chủ với bảo vệ chế độ và giữ vững ổn định xã hội. Dân chủ được nhìn nhận không chỉ như một giá trị, mà còn là một phương thức quản trị xã hội đòi hỏi kỷ luật, trách nhiệm và tuân thủ pháp luật.

Điều này phản ánh sự trưởng thành về tư duy dân chủ của Đảng trong bối cảnh đấu tranh tư tưởng, thông tin ngày càng phức tạp, đòi hỏi dân chủ phải đi đôi với quản trị xã hội hiệu quả và bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

4. Đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng lên thành nguồn lực chiến lược và “thế trận lòng dân” bền vững

Nếu Đại hội XIII khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, thì Đại hội XIV phát triển thêm một bước quan trọng khi gắn đại đoàn kết với phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Đại đoàn kết không chỉ được nhìn nhận như một giá trị truyền thống hay một yêu cầu chính trị – xã hội, mà được nâng lên thành nguồn lực chiến lược quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia, gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và biến động toàn cầu.

So với Đại hội XIII, quan điểm này thể hiện bước phát triển rõ rệt khi đặt đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư duy an ninh – phát triển tổng thể, coi “lòng dân” là nền tảng bền vững nhất của ổn định chính trị và phát triển lâu dài.

5. Phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân và đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn chặt với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực và quản trị quốc gia hiện đại

Đại hội XIII đã đề cập yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân; tuy nhiên, các nội dung này chủ yếu được trình bày song song, chưa được đặt trong một chỉnh thể thống nhất như một quan điểm chỉ đạo xuyên suốt.

Đại hội XIV có bước phát triển quan trọng khi gắn phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. 

Quan điểm này khẳng định rằng quyền lực nhà nước thực chất phải thuộc về Nhân dân, được tổ chức, thực thi và kiểm soát bằng Hiến pháp và pháp luật; quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ được khẳng định về chính trị, mà phải được bảo đảm bằng thiết chế, cơ chế và trách nhiệm giải trình cụ thể; đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ có thể bền vững khi được đặt trên nền tảng pháp quyền, kỷ cương, công bằng và minh bạch.

So với Đại hội XIII, đây là sự phát triển từ cách tiếp cận phát huy Nhân dân chủ yếu dựa trên vận động chính trị – xã hội sang cách tiếp cận thiết kế thể chế để Nhân dân thực sự làm chủ; từ nhấn mạnh mở rộng dân chủ sang nhấn mạnh dân chủ gắn với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm cầm quyền và quản trị quốc gia hiện đại.

Những quan điểm mới của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã khẳng định một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và nghệ thuật cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Trọng tâm xuyên suốt là xác lập Nhân dân là chủ thể của tiến trình đổi mới; nâng “Dân là gốc” thành chuẩn mực đo lường năng lực lãnh đạo và hiệu quả quản trị; đặt dân chủ trong chỉnh thể thống nhất với kỷ cương, trách nhiệm và lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời nâng đại đoàn kết lên thành nguồn lực chiến lược gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” bền vững. 

Trên nền tảng đó, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo thành cơ chế, chính sách và phương thức tổ chức thực hiện đủ mạnh, đủ thực chất, đủ thuyết phục, để đại đoàn kết toàn dân tộc thực sự trở thành động lực nội sinh quyết định của phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

*Bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Minh Chung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương




Nguồn: Arttimes.vn

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất thị trường Việt năm 2025


Toyota Innova Cross dẫn đầu nhóm xe hybrid bán chạy với hơn 3.000 xe, xếp sau là Toyota Corolla Cross và Suzuki XL7 Hybrid.

Năm 2025, phân khúc xe hybrid tại Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh và trở thành một trong những mảng phát triển nhanh nhất trong nhóm xe sử dụng động cơ đốt trong kết hợp điện. Theo thống kê từ nhiều nguồn thị trường, chỉ riêng Toyota đã bàn giao khoảng 8.474 xe hybrid trong năm 2025, tăng 58% so với năm trước, cho thấy sức hút ngày càng lớn của dòng xe này tại Việt Nam.

Xét theo nhóm sản phẩm chủ lực, 5 mẫu hybrid bán chạy nhất thị trường năm 2025 gồm Toyota Innova Cross HEV, Toyota Corolla Cross HEV, Suzuki XL7 Hybrid, Honda CR-V e:HEV và Toyota Camry HEV.

Tổng thể toàn thị trường, doanh số hybrid năm 2025 ước đạt trên 10.000 xe, tăng mạnh so với giai đoạn trước nhờ xu hướng tiêu dùng chuyển dần sang các dòng xe tiết kiệm nhiên liệu và thân thiện môi trường. Toyota vẫn là hãng thống trị phân khúc này, khi thường xuyên chiếm hơn một nửa doanh số hybrid bán ra theo từng giai đoạn trong năm.

Sự tăng trưởng của xe hybrid cũng phản ánh thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam, khi dòng xe này được xem là bước chuyển tiếp hợp lý giữa xe xăng truyền thống và xe thuần điện. Nhờ ưu điểm tiết kiệm nhiên liệu, không phụ thuộc hạ tầng sạc và chi phí sử dụng dễ tiếp cận hơn xe điện, hybrid được dự báo sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong vài năm tới.

Dưới đây là danh sách 5 mẫu xe hybrid bán chạy nhất tại Việt Nam năm 2025

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất thị trường Việt năm 2025 - 1

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất thị trường Việt năm 2025 - 2

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất thị trường Việt năm 2025 - 3

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất thị trường Việt năm 2025 - 4

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất thị trường Việt năm 2025 - 5



Nguồn: Arttimes.vn

Xuân về trên quê hương cố Tổng Bí thư Trường Chinh


Những ngày cuối năm Ất Tỵ, theo lời mời của đồng chí Trần Văn Vỵ, Bí thư Đảng ủy xã Xuân Hưng (nguyên là Chủ tịch UBMTTQ huyện Xuân Trường, Phó Chủ tịch UBND huyện Xuân Trường, Nam Định), đoàn các nhà báo chúng tôi về lại Nam Định (cũ) để kiểm chứng những đổi thay sau 6 tháng chuyển đổi mô hình chính quyền từ 3 cấp thành 2 cấp.

Xuân về trên quê hương cố Tổng Bí thư Trường Chinh - 1

Đoàn phóng viên, nhà báo Thời báo Văn học nghệ thuật dâng hương cố Tổng bí thư Trường Chinh. Ảnh Hoàng Phúc

Xuân Trường xưa là vùng đất cách mạng, nơi sinh ra những lãnh tụ của Đảng, của đất nước, tiêu biểu là cố Tổng Bí thư Trường Chinh. Với bề dày lịch sử hào hùng, truyền thống yêu nước của các thế hệ tiền nhân, Xuân Trường ngày nay đã và đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với tâmthế mới.

Chia sẻ với đoàn báo chí trung ương, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã bày tỏ: “Đúng như chỉ đạo của Trung ương, của Tổng Bí thư Tô Lâm, sáp nhập để gần dân hơn, lo cho dân được đầy đủ hơn. Đặc biệt là sau sáp nhập, bức tranh kinh tế của xã Xuân Hưng đã có những thay đổi theo hướng chuyên sâu và đạt hiệu quả cao hơn”.

Đồng chí Vũ Trường Khánh, Chủ tịch xã cho biết: “Toàn xã đã tái cơ cấu nông nghiệp với việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất “cánh đồng liên kết”, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản phát triển theo hướng trang trại. Toàn xã đã có 15 mô hình cánh đồng lớn với diện tích gần 400ha. Chương trình mỗi xã một sản phẩm OCOP, thì đến nay xã Xuân Hưng đã có 19 sản phẩm OCOP. Về kinh tế, Xuân Hưng là địa phương có cơ cấu ngành nghề đa dạng, phát triển mạnh cả công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Trên địa bàn xã có những làng nghề truyền thống như vận tải thủy, chế biến lâm sản, thực phẩm, mây tre đan, thêu ren, thủ công mỹ nghệ; có nhiều sản phẩm tinh xảo, đạt chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Người dân Xuân Hưng đi “làm – ăn” ở nhiều nơi trên khắp mọi miền Tổ quốc. Tiêu biểu như Tập đoàn Nam Cường, Tập đoàn “5 sao”, Công ty CCI Hooding 5; nhiều doanh nghiệp khác có tổng tài sản hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng”.

Xuân về trên quê hương cố Tổng Bí thư Trường Chinh - 2

Xuân về trên quê hương cố Tổng Bí thư Trường Chinh - 3

Trên địa bàn xã có những làng nghề truyền thống như vận tải thủy, chế biến lâm sản, thực phẩm, mây tre đan, thêu ren, thủ công mỹ nghệ; có nhiều sản phẩm tinh xảo, đạt chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.

Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Trần Văn Vỵ nhận định: “Xã Xuân Hưng hiện chưa giàu, nhưng người dân Xuân Hưng thì giàu”. Từ nền tảng sức bật trong dân như vậy: Vốn liếng, kinh nghiệm đầu tư và phát triển hàng chục năm. Lãnh đạo xã đang kêu gọi người thành đạt quay về quê hương đầu tư giúp giải quyết việc làm. Thực hiện bằng được mục tiêu “Dân giàu và xã giàu”.

Dẫn chúng tôi ra khu đất được quy hoạch xây dựng trung tâm cụm công nghiệp xã Xuân Hưng rộng hơn 56ha, đồng chí Bí thư nói thêm: “Đã có nhiều nhà đầu tư trong xã, ngoài xã đến tìm hiểu đăng ký đầu tư, để phát triển các ngành nghề có chất lượng cao của tỉnh”.

Xuân Hưng đang đứng trước những thách thức, khó khăn đan xen nhưng cũng đang đứng trước cơ hội để chuyển mình. Chỉ 6 tháng sau ngày sáp nhập, các chỉ tiêu kinh tế – xã hội đều đạt và vượt kế hoạch được tỉnh giao. Ước thu ngân sách của năm 2025 đạt 72 tỷ đồng; trong đó thu thường xuyên đạt 27 tỷ đồng, bằng 123% dự toán…

Về Xuân Hưng những ngày này khí thế thi đua “Mừng Đảng – mừng Xuân” đang dâng tràn trên những xóm làng, cờ Đảng, cờ Tổ quốc tung bay phấp phới, làng quê nào của xã đều sạch sẽ, khang trang đón mùa Xuân mới.

Xuân về trên quê hương cố Tổng Bí thư Trường Chinh - 4

Bí thư Đảng uỷ xã Trần văn Vỵ trao nhà tình nghĩa cho gia đình bà Đỗ Thị Thơm. Ảnh Hoàng Phúc

Chia sẻ với đoàn báo chí chúng tôi, đồng chí Chủ tịch UBND xã Vũ Trường Khánh cho biết: “Hiện xã đã hoàn thành công tác quy hoạch và quy hoạch chi tiết các cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề, các khu dân cư tập trung. UBND xã đã phê duyệt chủ trương đầu tư 10 dự án xây dựng, gồm 6 công trình trường học, 3 công trình trụ sở và công trình công cộng, một công trình nâng cấp đường nội đồng. Sửa chữa 16 biển báo giao thông, lắp 04 cột đèn và hệ thống camera. Hướng đi tới của Xuân Hưng là phát triển đồng bộ, xanh, sạch, đẹp và an toàn. Xây dựng Xuân Hưng trở thành một vùng quê đáng sống”. 

Cầm trên tay báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ xã, chúng tôi đã thấy hiện hữu những mục tiêu “Gần Dân, cho Nhân dân” của Đảng bộ và chính quyền xã Xuân Hưng. Đó là những mục tiêu không ít địa phương khác phấn đấu nhưng khó đạt được trong một vài năm. Thế mà Xuân Hưng đã vươn tới, ví dụ: 100% người dân được sử dụng nước sạch. 100% được sinh sống trong các khu dân cư văn hóa và kiểu mẫu. Tỷ lệ kiên cố hóa phòng học đạt 100%. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế xấp xỉ 100%. Những con số đó nói lên khát vọng vươn lên của Xuân Hưng. Bằng các quyết sách: Tổ chức lại không gian, định hình lại các động lực phát triển. Phát huy mọi tiềm năng thế mạnh, sớm đưa Xuân Hưng trở thành xã có công nghiệp hiện đại vào năm 2030; Có giá trị sản xuất công nghiệp dịch vụ đạt 3.200 tỷ đồng. Được công nhận là phường để cùng toàn tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương…

Xuân về trên quê hương cố Tổng Bí thư Trường Chinh - 5

Đoàn công tác Thời báo Văn học nghệ thuật chúc Tết Đảng ủy, UBND xã Xuân Hưng. Ảnh Hoàng Phúc

Ấn tượng với anh em chúng tôi khi về thăm xã Xuân Hưng là đội ngũ lãnh đạo khá trẻ, năng động đều được đào tạo bài bản và đã được “thử sức” trui rèn trong công tác; xây dựng chính quyền 2 cấp với ước mơ và khát vọng vươn lên, tập thể lãnh đạo trẻ đó sẽ một lòng đoàn kết, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Xuân Hưng lần thứ nhất (nhiệm kỳ 2025-2030) thắng lợi toàn diện cùng với tỉnh Ninh Bình bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.



Nguồn: Arttimes.vn

Hình tượng người vợ lính trong thi ca Việt


Trong thi ca Việt từ xưa đến nay, chiến tranh và con người trong chiến tranh luôn là một mảng đề tài quan trọng, được mọi thế hệ cầm bút tập trung khai thác. Bên cạnh nhiều trang viết về người lính, hình ảnh người vợ lính cũng hiện lên qua không ít tác phẩm với rất nhiều cảm xúc, nhiều cung bậc nỗi niềm. Người vợ như một hậu phương yên ổn và vững vàng cho người lính yên tâm chiến đấu, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người lính. Người vợ cũng phải cáng đáng đủ mọi việc ở hậu phương, phải lo toan, lo lắng, chịu đủ những thiệt thòi khi vắng chồng. Trong mỗi thời kỳ văn học sử, người vợ lính lại hiện lên trong thi ca Việt với những nét riêng biệt.

1. Từ kiệt tác Chinh phụ ngâm (nguyên tác Đặng Trần Côn, bản dịch Đoàn Thị Điểm) ở thế kỷ 18, người vợ trở thành hình tượng trung tâm, xuyên suốt từ đầu tới cuối tác phẩm. Người phụ nữ ấy thay chồng chăm sóc mẹ già, nuôi dạy con nhỏ: Lòng mẫu thân buồn khi tựa cửa/ Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm/ Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam/ Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân. Người phụ nữ ấy phải chịu nỗi cô đơn xuân sắc trong canh trường vò võ: Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu/ Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong/ Cảnh buồn người thiết tha lòng/ Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Người phụ nữ ấy hối hận vì khi trước đã để chồng đi lính: Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu/ Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong. Lòng người chinh phụ ấy xót xa khi những tháng năm tuổi trẻ đẹp nhất của hai người phải sống trong nỗi xa cách, nàng chỉ biết ước mong sớm đến ngày đoàn tụ: Xin vì chàng xếp bào cởi giáp/ Xin vì chàng rũ lớp phong sương/ Vì chàng tay chuốc chén vàng/ Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng. Tiếng lòng của người chinh phụ vì thế cũng là lời phản kháng lên án chiến tranh, chống lại sự thối nát của xã hội phong kiến đương thời, khi mà các cuộc khởi nghĩa của phong trào nông dân chống lại triều đình phong kiến đang dâng lên mạnh mẽ, còn tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh lúc ấy đang ra sức để đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân.

2. Thế kỷ XX với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ càng như chất xúc tác khiến cho thơ Việt có thêm nhiều tác phẩm in dấu hình ảnh những người vợ chiến sĩ. Có những người vợ hiện lên trong nỗi nhớ của người đi chiến đấu: Ba năm rồi gửi lại quê hương/ Mái lều gianh, tiếng mõ đêm trường/ Luống cày đất đỏ/ Ít nhiều người vợ trẻ/ Mòn chân bên cối gạo canh khuya (Nhớ – Hồng Nguyên). Có những cuộc chia tay của hai vợ chồng trong thời chiến đầy xúc động, hai người đều nén lại cái tình riêng trong lòng vì nghĩa lớn: Em đi đường đất mưa rơi/ Bùn non son quánh chân đồi Phù Ninh/ Em đi anh nhớ dáng hình/ Cái khăn mỏ quạ, cái mình áo nâu/ Chiều nay heo hút rừng sâu/ Mưa nguồn suối lũ biết đâu mà tìm/ Ước gì anh hóa thành chim/ Bay theo em hót cho tim đỡ buồn (Mưa rơi – Tố Hữu), Dừng chân trong mưa bay/ Liếp nhà ai ánh lửa/ Yên lặng đứng trước nhau/ Em em nhìn đi đâu/ Em sao em không nói/ Mưa rơi ướt mái đầu/ Mỗi đứa một khăn gói (Không nói – Nguyễn Đình Thi). Cả hai bài thơ đều được viết năm 1948, gắn với những cuộc chia tay có thật của hai nhà thơ với người bạn đời của mình. Hai cuộc chia tay đều diễn ra trong mưa, đều ẩn sau mỗi câu chữ tình yêu thương vô hạn của một người chồng – chiến sĩ với người vợ lính.

Hình tượng người vợ lính trong thi ca Việt - 1

Món quà “Chiếc gậy Trường Sơn” tặng trai làng nhập ngũ ở huyện Văn Giang, Hưng Yên, năm 1967. Ảnh Mầu Hoàng Thiết

Và khi người vợ lính ấy, người phụ nữ ấy trở về với hậu phương/ ở lại hậu phương, sẽ có đủ những câu chuyện vui buồn. Người vợ lính có thể sẽ tham gia lao động sản xuất với niềm hân hoan phấn khởi, mong ngày chồng chiến thắng trở về như trong bài thơ Thăm lúa của nhà thơ Trần Hữu Thung, tác phẩm đã dành giải thưởng thơ tại Liên hoan thanh niên thế giới ở Bucaret năm 1953: Tiếng chim nghe thánh thót/ Văng vẳng khắp cánh đồng/ Đứng chống cuốc em trông/ Em thấy lòng khấp khởi/ Bởi vì em nhớ lại/ Một buổi sớm mai ri/ Anh tình nguyện ra đi/ Chiền chiện cao cùng hót/ Lúa cũng vừa sẫm hột/ Em tiễn anh lên đường. Nhưng người vợ ấy cũng có thể không may qua đời, để lại nỗi đau khôn nguôi trong lòng người lính: Nhưng không chết người trai khói lửa/ Mà chết người gái nhỏ hậu phương/ Tôi về/ không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối/ Chiếc bình hoa ngày cưới/ thành bình hương/ tàn lạnh vây quanh (Màu tím hoa sim – Hữu Loan). Những nỗi xót xa vì lứa đôi kẻ còn người mất ấy, sẽ còn gặp lại trong những bài thơ nổi tiếng của thời chống Pháp và chống Mỹ như Núi Đôi của Vũ Cao hay Quê hương của Giang Nam: Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em (Núi Đôi – Vũ Cao), Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm/ Có những ngày trốn học bị đòn roi/ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi (Quê hương – Giang Nam).

Trong một giọng điệu khác, Nhớ vợ của Cầm Vĩnh Ui là tiếng thơ hồn nhiên và độc đáo của người lính thời chống Pháp. Người vợ hiện ra gián tiếp qua lời xin phép của chồng với cấp trên cho mình được về thăm vợ. Vợ không chỉ là hậu phương vững chắc mà còn góp phần làm nên chiến công cho người chồng ngoài mặt trận: Ngày kia tôi sẽ đến/ Lại cầm súng được ngay/ Tôi sẽ bắn đúng Tây/ Vì tay có hơi vợ/ Cho tôi đi anh nhé/ Tôi không chết được đâu/ Vì vợ tôi lúc nào/ Cũng mong chồng mạnh khỏe/ Cho tôi đi anh nhé/ Về ôm vợ hai đêm/ Vợ tôi nó sẽ khen/ Chồng em nên người giỏi/ Ngày kia tôi về tới/ Được đi đánh cái đồn/ Hay được đi chống càn/ Là thế nào cũng thắng/ Nếu có được trên tặng/ Cho một cái bằng khen/ Tôi sẽ rọc đôi liền/ Gửi cho vợ một nửa. Khép lại bài thơ, người đọc cảm thấy thật thích thú về cách tư duy mộc mạc, chất phác nhưng chân thật của một người lính dân tộc thiểu số. Đồng thời chúng ta cũng cảm nhận được tình yêu của người chồng đối với vợ, của vợ dành cho chồng. Chồng tin mình không chết là nhờ có tình yêu của vợ. Cách nghĩ này ta còn gặp lại trong bài thơ Đợi anh về của Xi-mô-nốp qua bản dịch Tố Hữu: Vì sao anh chẳng chết/ Nào bao giờ ai biết?/ Có gì đâu em ơi/ Chỉ vì không ai người/ Biết như em chờ đợi.

3. Người phụ nữ Việt Nam nói chung, những người vợ lính nói riêng, trong thời chiến thật xứng đáng với 8 chữ vàng mà chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng: Anh hùng – bất khuất – trung hậu – đảm đang. Những người vợ lính còn mang bao nỗi hy sinh thầm lặng. Những hy sinh ấy kéo dài sang cả thời hậu chiến với bao nỗi niềm. Nhà thơ Hồ Anh Tuấn đã nói giúp tấm lòng người vợ lính qua những dòng lục bát ngọt ngào mà day dứt: Ra sông giặt áo cho chồng/ Mây xanh thả xuống một dòng sông xanh/ Áo đạn xé, người đâu lành/ Trường Sơn một cánh tay anh gửi rừng/ Bến sông bóng chị rưng rưng/ Sông bao nước mắt dửng dưng được nào/ Gái quê như hạt mưa rào/ Đã vào tay lính là trao trọn đời/ Mỗi năm chỉ một lần thôi/ Áo Trường Sơn giặt lại phơi nắng hồng/ Ra sông giặt áo cho chồng/ Thời gian vò rối bòng bong tay người/ Súng gươm một trận khóc cười/ Gái quê buồn thả sông trôi se lòng/ Ra sông giặt áo cho chồng/ Vắt vai cả một dòng sông mang về. Câu thơ cuối bài đã chạm vào siêu thực. Dường như tất cả những mất mát, xót xa và yêu thương, người phụ nữ ấy đều gửi cả vào dòng sông. Dòng sông cũng thấu hiểu cái tình của con người mà vỗ về xoa dịu bớt thương đau. 

Thế nhưng còn có những người phụ nữ là vợ lính mà chưa một ngày được làm vợ. Chưa một ngày được làm vợ mà vẫn là vợ lính bởi đã hứa hôn. Hứa hôn rồi thì mãi mãi đợi chờ, dù người lính ấy chẳng bao giờ về nữa. Cũng với thể thơ lục bát, nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết nên những câu thơ khắc khoải, quặn thắt của một thân phận con người: Chị làm dâu cuộc chiến tranh/ Hòa bình khóc kẻ chưa thành lứa đôi/ Hứa hôn với lính lâu rồi/ Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu/ Giá ngày xưa kịp lấy nhau/ Giờ này chắc đã con đầu bằng anh/ Đất sâu đợi rỗng tiểu sành/ Mộ chưa có cốt rừng xanh gửi hồn/ Mỗi khi chim lợn kêu dồn/ Khói hương khấn gió Trường Sơn tìm mồ/ Đêm về đội lén khăn xô/ Thương người nằm khoác ba lô mối đùn/ Tay sờ ảnh mộ còn run/ Xin thương rế rách chổi cùn chiến tranh/ Gọi thầm nấm đất bằng anh/ Chị xin nhận tấm cỏ xanh làm chồng (Làm dâu). Nếu như người lính trong bài thơ của Hồ Anh Tuấn chỉ gửi lại một phần thân thể ở chiến trường thì người lính trong bài thơ của Trần Mạnh Hảo đã hòa tan thân mình vào đất mẹ, chẳng thể có một nắm hài cốt về lại quê nhà. Nỗi đau của hai người phụ nữ trong hai bài lục bát chẳng thể nói được hết bằng lời.

Những người vợ lính, hay rộng hơn là những người yêu của lính đã trở thành nguồn cảm hứng không chỉ cho nhiều bài thơ mà còn cho nhiều tác phẩm âm nhạc. Có thể kể đến hàng loạt ca khúc nổi tiếng như Tình ca (Nhạc và lời Hoàng Việt), Gửi em ở cuối sông Hồng (thơ Dương Soái, nhạc Thuận Yến), Tình ca mùa xuân (thơ Nguyễn Loan nhạc Trần Hoàn), Mùa xuân bên cửa sổ (thơ Song Hảo, nhạc Xuân Hồng), Thư cho vợ hiền (Nhạc và lời: Song Ngọc)… Những người phụ nữ trong các ca khúc vừa nhắc luôn hăng say lao động sản xuất trong đời sống hàng ngày, luôn dành một tình yêu thủy chung son sắt cho chồng/người yêu, luôn lạc quan tin tưởng về ngày đoàn tụ, tiếp thêm sức mạnh vô bờ cho người lính. Và tình yêu của người lính ở mặt trận với người vợ/người yêu ở quê nhà luôn là tình yêu đẹp nhất được tụng ca, bởi ta thấy trong đó cả tình yêu và sự hy sinh lớn lao dành cho quê hương xứ sở.

Đỗ Anh Vũ




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Hai mẹ con sang đường thiếu quan sát, suýt chui gầm ô tô trong tích tắc


Một tình huống giao thông nguy hiểm khiến nhiều người không khỏi rùng mình khi gười phụ nữ chở con nhỏ sang đường thiếu quan sát đã gặp tai nạn.




Nguồn: Arttimes.vn

Ra mắt bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân”


Chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp Tổng công ty Bưu điện Việt Nam phát hành đặc biệt bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân”. Đây là hai sản phẩm văn hóa giàu giá trị thẩm mỹ, mang dấu ấn mỹ thuật dân gian đương đại, gửi gắm thông điệp “Mã đáo thành công” và tinh thần “Vạn dặm quang minh”, hướng tới năm mới an khang, hanh thông và bứt phá.

Bộ tem “Tết Bính Ngọ” do họa sỹ Nguyễn Quang Vinh thiết kế, gồm 2 mẫu tem và 1 blốc, truyền tải thông điệp “Mã đáo thành công”, lời chúc quen thuộc nhưng sâu sắc, gửi gắm niềm tin về một hành trình mới khởi sắc, bền bỉ và thành công.

Ra mắt bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân” - 1

Bộ tem “Tết Bính Ngọ” truyền tải thông điệp “Mã đáo thành công”.

Trong văn hóa phương Đông, ngựa là linh vật biểu trưng cho sức mạnh, trung thành, kiên nhẫn và may mắn. Từ cảm hứng đó, bộ tem được thể hiện theo phong cách dân gian đương đại, lần đầu tiên đưa hình tượng “Ngựa 9 Hồng Mao” trong truyền thuyết lên tem Tết Việt Nam.

Hai mẫu tem khắc họa cặp song mã gồm ngựa bạch và ngựa tía mang dàn trống hội đón Xuân. Ngựa bạch với dáng vẻ thanh thoát, bờm dài, cõng dàn trống con, đại diện cho tính âm. Ngựa tía có vóc dáng khỏe khoắn, cõng trống lớn, biểu trưng cho tính dương.

Sự kết hợp của hai hình tượng tạo nên hài hòa âm dương, tượng trưng cho cân bằng và khởi đầu thuận lợi. Dáng ngựa cúi chào nhau gợi nhắc tinh thần khiêm nhường, gắn kết, lan tỏa không khí sum vầy trong những ngày đầu năm.

Mẫu blốc mở rộng câu chuyện với hình ảnh đàn ngựa 8 con phi nước đại, nổi bật ở trung tâm là hình tượng “Thiên lý mã” được chắp thêm đôi cánh phượng hoàng. Chi tiết một chú ngựa ngoái đầu khích lệ đồng đội phía sau nhấn mạnh thông điệp đồng hành, cùng tiến, làm rõ ý nghĩa của “mã đáo thành công” như một hành trình sẻ chia và bền bỉ.

Ra mắt bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân” - 2

Đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân” truyền tải tinh thần dẫn đầu, bứt phá, gắn với thông điệp “Vạn dặm quang minh”.

Cùng với bộ tem Tết, Công ty Bưu điện Việt Nam và Công ty Tem Bưu chính giới thiệu đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân” – sản phẩm kết hợp giữa mỹ thuật tem bưu chính truyền thống và phong cách thiết kế hiện đại.

Lấy cảm hứng từ hình tượng Ngựa Mặt trời phi vân, đồng xu truyền tải tinh thần dẫn đầu, bứt phá, gắn với thông điệp “Vạn dặm quang minh”. Hình ảnh ngựa sải bước giữa tầng mây tượng trưng cho vận hội mới, cho khát vọng vươn tới những chân trời rộng mở. Các chi tiết được xử lý tinh tế về bố cục, màu sắc và chất liệu, tạo nên tổng thể sang trọng, giàu chiều sâu văn hóa.

Sản phẩm được đặt trong hộp thiết kế riêng với sắc đỏ chủ đạo, gam màu của may mắn và thịnh vượng trong văn hóa Á Đông, phù hợp làm quà tặng dịp Tết hoặc vật phẩm lưu giữ mang ý nghĩa phong thủy đầu năm.

Bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu “Nhật Mã Phi Vân” không chỉ là những sản phẩm chào Xuân, mà còn là những tác phẩm văn hóa, nơi truyền thuyết, mỹ thuật, âm thanh lễ hội và khát vọng hội tụ. Qua đó, tinh thần của tem bưu chính, một phần di sản văn hóa được tái hiện trong hình thức sáng tạo mới, gần gũi hơn với đời sống hiện đại và công chúng.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn