Home Blog Page 71

Diễn ngôn về văn hóa Việt Nam và những đối thoại xuyên thời từ một tiểu thuyết du ký


Cuốn sách “Hồ Xuân Hương và Tôi” (Nxb Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đông Di được xếp – có lẽ do chính tác giả xếp – vào thể loại tản văn. Nhưng khi đọc xong và nghĩ sâu về tác phẩm này, tôi vẫn cứ muốn xem nó là một tiểu thuyết, chính xác là một tiểu thuyết du ký. Bởi qua vài trăm trang văn bản, tôi nhận ra, dưới hình thức kể lại những điều mắt thấy tai nghe, những cuộc gặp gỡ trò chuyện, những cảm xúc và suy nghĩ về một cuộc đi du lịch nước ngoài, đất nước Nepal, của chính người viết, thì cuốn sách không phải tổng số của những phiến đoạn ghi chép rời rạc, phân tán – như các tập tản văn thông thường vẫn vậy – mà là một dòng chảy truyện kể liên tục, mang tính hướng tâm mạnh mẽ, càng về cuối càng bộc lộ rất rõ chủ đề cốt lõi.

Như vài đoạn mà tác giả viết trong Lời giới thiệu đặt ở đầu sách: “Nepal, với sự đơn sơ nhưng đầy huyền bí, đã trở thành bối cảnh cho câu chuyện của tôi, một người phụ nữ hiện đại nhưng luôn tìm kiếm những giá trị cổ xưa. Trong chuyến đi ấy, cuốn sách “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương” của tác giả Kiều Thu Hoạch như một chiếc cầu nối, đưa tôi về với những cảm xúc nguyên sơ, những bài học thâm thúy từ nữ sĩ tài hoa của đất Việt. Thơ ca của Hồ Xuân Hương không chỉ mang đến cái nhìn sâu sắc về đời sống, mà còn mở ra một con đường để tôi hiểu hơn về chính mình trong nhịp sống hiện đại đầy xô bồ… Qua từng trang viết, tôi hy vọng các bạn – những độc giả trẻ tuổi – sẽ cảm nhận được sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong việc giúp chúng ta định hình bản sắc, ngay cả khi chúng ta bước chân ra ngoài thế giới rộng lớn”.

Ở đây có hai tự sự: 1, tự sự du hành của nhân vật người kể chuyện xưng Tôi, tên Đông Di (không nhất thiết trùng khít, nhưng cũng có thể là chính tác giả của cuốn sách này) – một người phụ nữ Hà Nội gốc, kinh tế khá giả, học vấn cao, tính phóng khoáng, lại ham tìm biết những giá trị văn hóa cổ của dân tộc, từng có kinh nghiệm sống và làm việc tại nhiều quốc gia khác nhau – trên hành trình đến với Nepal và trong quá trình thăm thú nơi này nơi khác tại xứ sở mà Đức Phật đản sinh. Và 2, tự sự về việc trong chuyến du hành ấy, chị đã có cơ hội đọc lại nhiều bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương và phát hiện ra một Hồ Xuân Hương nữ sỹ – mà chị luôn gọi là “Nữ thần của tôi” – với chiều sâu tâm giới, tài năng, bản lĩnh và tầm vóc văn hóa khác biệt đến như thế nào nếu so với những gì người ta đã nói và viết về bà từ trước đến nay. 

Tự sự thứ nhất, về cơ bản, cũng như hầu hết tác phẩm du ký mà các tác giả Việt Nam từng viết về những chuyến đi ra thế giới bên ngoài lãnh thổ hình chữ S của họ – có thể là đi công tác, đi lao động mưu sinh, hoặc đơn giản là đi thăm thân, đi du lịch – sự tiếp xúc với vùng đất mới lạ đã giúp cho tiểu thuyết du ký Hồ Xuân Hương và Tôi của tác giả Đông Di có được một màu sắc “hương xa” khá đặc biệt.

Không chỉ là diện mạo thiên nhiên biến đổi khác nhau lúc sớm lúc chiều ở dãy Himalaya hùng vỹ khiến người thưởng lãm vô cùng ngây ngất. Không chỉ là những ngôi đền Hindu, các bảo tháp, những ngôi chùa hay tự viện Phật giáo với kiến trúc khi lộng lẫy uy nghiêm, khi thâm trầm cổ kính, khiến khách lữ hành phải trầm trồ thán phục. Không chỉ là các sắc dân bản địa sống trên dãy Himalaya với những tập tục đời sống và văn hóa khác biệt của họ khiến những người quan sát cảm thấy thích thú. Tất cả những cái đó có, nhưng chưa đủ. Đọc tác phẩm của Đông Di, tôi thấy cái màu sắc “hương xa” còn được thể hiện rất đậm qua việc tác giả dựng lên những đối thoại giữa Đông Di (nhân vật) với cô bạn đồng hành Mỹ Lai – người chuyên trêu chọc, phản biện hoặc tung hứng cùng Đông Di, qua đó đẩy mạch truyện phát triển tiếp tục – hoặc những cuộc trò chuyện giữa Đông Di với các nhân vật khác, như chàng hướng dẫn viên du lịch tên Ram, người thuộc đẳng cấp Bà la môn, thành viên của một gia tộc lâu đời và đầy quyền lực ở Katmandu; hay với bạn trai cũ Pierre de G, người Pháp, có cái hỗn danh Việt Nam là Tây Độc, đang tu tập ở Nepal; hoặc với Ả Trần, biệt danh do Đông Di đặt cho Jacque, chàng trai Pháp từng theo học đại học Yale (Hoa Kỳ), có ông nội là người Việt, và hiện đang là một tu sỹ Phật giáo Mật tông thuần thành. Từ những cuộc gặp gỡ và trò chuyện này, cả một thế giới những huyền thoại cổ xưa, những truyền thống tâm linh bí ẩn, những niềm tin và sự thực hành tín ngưỡng kỳ lạ, đôi khi chứa đầy mâu thuẫn nội tại, của người Tây Tạng, của Hindu giáo và Phật giáo Mật tông trên dãy Himalaya đã ùa về, trào lên, mang lại cho người đọc – chí ít là có tôi – cái cảm giác kỳ thú.

Diễn ngôn về văn hóa Việt Nam và những đối thoại xuyên thời từ một tiểu thuyết du ký - 1

Cuốn sách “Hồ Xuân Hương và Tôi”.

Một trong những điểm khác biệt giữa Hồ Xuân Hương và Tôi của Đông Di với nhiều tác phẩm du ký khác, theo tôi, có lẽ là ở đây: cái chất “hương xa” rất cần thiết trong du ký không chỉ thể hiện bằng những gì lữ khách mắt thấy tai nghe, mà chủ yếu, nó nằm trong những liên tưởng và suy ngẫm về văn hóa, văn hóa tinh thần, văn hóa tâm linh, những kiến tạo từ sự tin tưởng vào cái thiêng liêng, cái thần thánh, cái mang lại tính bản sắc cho tồn tại của một xứ sở. Về phương diện này, phải ghi nhận rằng nhân vật Đông Di – hay là chính tác giả Đông Di – là một người kể chuyện rất giàu kiến thức và luôn tràn đầy niềm hứng khởi của sự được tự mình khám phá và kể lại.

Cũng từ đây mà diễn ngôn về văn hóa Việt Nam được kiến tạo. Chúng ta đều biết một ý của Karl Marx: khi nhìn vào người khác ta không chỉ thấy người khác, mà ta còn thấy chính mình. “Kẻ khác” như một điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và tự thức nhận của ta. Hoặc, diễn đạt theo cách của triết gia Pháp Michel Foucault: nếu “kẻ khác” là một quyền lực/ tri thức, ta là một quyền lực/ tri thức, thì cái tương quan/ tương tác quyền lực/ tri thức ấy sẽ là cơ sở để hình thành một diễn ngôn. Ở tiểu thuyết du ký Hồ Xuân Hương và Tôi cũng vậy. Đi du lịch Nepal, đất phát tích của Phật giáo thế giới, thì dù mới chỉ ở chặng trung chuyển Bangkok (Thái Lan) thôi, nhân vật Đông Di đã có một phác thảo về văn hóa Phật giáo Việt Nam. Chị nói với Mỹ Lai: “Em có biết không? Mỗi khi chị tới chùa Dâu lễ Phật, chị lại tưởng tượng ra hàng ngàn năm qua biết bao nhiêu thế hệ người Việt, bao nhiêu đời tổ tiên của chị đã tới mảnh đất đó cùng một lòng thành kính chắp tay bái lạy như vậy. Chị luôn cảm thấy linh thiêng lắm”. Và chị tự thắc mắc về một hình thái đương đại của văn hóa Phật giáo Việt Nam: “Không có chùa mới làm sao có chùa cũ, nhưng tôi vẫn thích chùa cổ hơn. Hơn nữa tôi thấy ở miền bắc Việt Nam đã có quá nhiều các chùa cổ rồi, hầu như mỗi làng xã đều có một ngôi chùa để người dân bái Phật nên nhiều khi tôi cứ tự hỏi có cần phải xây dựng những ngôi chùa mới quá to lớn mang tầm kỷ lục không? Có cần phải đi loanh quanh mang xá lợi Phật đem về thờ cúng mà còn không biết chắc là hàng thật hay hàng giả, trong khi theo lịch sử thì Việt Nam đã có 5 hòm xá lợi Phật đặt ở trong các ngôi chùa từ hơn 1400 năm trước”.

Rồi, tới thung lũng Katmandu, ở bảo tháp Phật giáo Boudhanath, khi Ram nói chuyện về Shambhala thần thánh, nơi linh thiêng duy nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay sau những lần trái đất bị hủy diệt hoàn toàn, Đông Di đã phát biểu chính xác về một nét ứng xử khá thực dụng trong văn hóa truyền thống của người Việt: “Cha ông chúng tôi thông thái lắm. Họ sợ chúng tôi đánh mất những năm tháng thanh xuân của cuộc đời để mải mê tìm kiếm những điều vẩn vơ, nên ngay từ lúc chúng tôi còn nằm trong nôi đã dạy chúng tôi rằng hãy tu thân, lao động chăm chỉ, thành kính niệm Phật sẽ được vãng sanh về cõi Tây phương cực lạc, cõi tịnh độ”.

Hoặc, ở một đâu đó trên dãy Himalaya, khi Tây Độc đưa Đông Di và Mỹ Lai đi thăm một ngôi đền Hindu giáo, nhìn cảnh tín đồ đạo Hindu chặt đầu động vật để lấy máu hiến tế các vị thần, câu chuyện của họ chuyển qua nội dung xung đột và các cuộc chiến tranh tôn giáo, thì đây là phát biểu của Đông Di về sự khoan dung tôn giáo như một đặc điểm tích cực trong văn hóa Việt Nam: “Nếu có dịp mọi người nên tới thăm một trong nhiều ngôi làng cổ ở ven biển miền bắc Việt Nam. Mọi người sẽ thấy ở đầu làng là một ngôi chùa Phật giáo, tới giữa làng cách đó vài trăm mét sẽ có một nhà thờ Thiên Chúa giáo. Người dân trong làng vẫn uống chung một nguồn nước, cày cấy trên cùng một cánh đồng, sinh sống bình yên bên nhau đời này nối tiếp đời khác”…

Trong suốt cuộc du hành trên đất Nepal, vật bất ly thân của nhân vật người kể chuyện Đông Di là cuốn biên khảo Thơ Nôm Hồ Xuân Hương của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch. Nhiều bài thơ trong cuốn biên khảo đó, ngay từ những chương đầu của cuốn tiểu thuyết du ký này, tùy từng thời điểm và hoàn cảnh thích hợp, đã được Đông Di và Mỹ Lai đọc lên, đầy tâm đắc. Thơ như để diễn giải cho cảnh và tình, cảnh và tình lại như sự minh họa cho thơ. Đến mấy chương cuối: Từ Mật tông đến thánh chiến, Ả Trần, Công chúa của vương triều Lê, Thăng Long thuở ấy, Cố nhân thì mật độ những bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương được sử dụng lại càng nhiều lên, dày đặc. Chúng không chỉ do Đông Di và Mỹ Lai ngâm đọc, mà cả hai “ông Tây” là Tây Độc và Ả Trần cũng ngâm đọc.

Trong trường hợp này, nhân vật Ả Trần là một sáng tạo đặc biệt của tác giả Đông Di, bởi tác giả đã để cho nhân vật ngâm đọc và bình luận về thơ Nôm Hồ Xuân Hương, trò chuyện, kể về lịch sử cuộc đời Hồ Xuân Hương với nhân vật người kể chuyện Đông Di khi đang trong trạng thái “hồi quy tiền kiếp”, một pháp môn bí truyền của Phật giáo Mật tông Tây Tạng. Lúc này anh ta không còn là Ả Trần nữa, mà là Mộng Lan nữ sỹ, công chúa của vương triều Lê, bạn từ thuở thanh mai trúc mã, bạn xướng họa thơ văn tâm đầu ý hợp, bạn tri kỷ trọn kiếp của Hồ Xuân Hương nữ sỹ, người yêu thương và hiểu về cuộc đời, con người, tác phẩm của Hồ Xuân Hương hơn ai hết.

Từ lời kể của Mộng Lan – nữ sỹ được triệu hồi từ tiền kiếp – nên cuộc trò chuyện với Đông Di có thể được xem là một cuộc đối thoại xuyên thời – thật bất ngờ là cuộc đời và thơ ca của bà chúa thơ Nôm (chữ của Xuân Diệu) đã được diễn giải – đúng hơn là tái diễn giải – theo một cách mang rất nhiều khác lạ so với những cách diễn giải mà các nhà “Hồ Xuân Hương học” ở Việt Nam từng thực hiện.

Một cách đọc khác về thơ Nôm Hồ Xuân Hương, có thể nói như vậy, một cách đọc loại trừ những nghi vấn văn bản học, loại trừ cả khái niệm “mặt nạ tác giả” vốn đã được giới nghiên cứu Hồ Xuân Hương hầu như nhất trí. Cách đọc này, từ quan điểm của nhân vật người kể chuyện Đông Di, và cả tác giả Đông Di nữa, làm bật lên Hồ Xuân Hương như một người phụ nữ Việt Nam, một nhà thơ nữ Việt Nam vĩ đại, vô tiền khoáng hậu về tài năng và nhân cách, một thiên tài mà cả nhân loại đã biết ơn bằng cách liên tục hiểu nhầm hoặc hiểu sai. Và theo mạch chủ ý của tác giả, tôi cho rằng khẳng định về Hồ Xuân Hương nữ sỹ cùng thơ ca của bà, như một đỉnh cao chói lóa, một giá trị trường tồn, thì cũng chính là cách tác giả hoàn thiện diễn ngôn về văn hóa Việt Nam trong tác phẩm tiểu thuyết du ký của mình.

Như chính tác giả đã tâm sự trong Lời giới thiệu: “Dành riêng cho các bạn học sinh, sinh viên, cuốn sách này được viết bằng ngôn ngữ giản dị nhưng đong đầy cảm xúc, để các bạn không chỉ thấy hình ảnh của những miền đất xa xôi, mà còn nhận ra rằng văn hóa Việt Nam chính là hành trang quý giá mà mỗi chúng ta mang theo suốt đời”.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Cảm nhận về thơ Đặng Quốc Việt


Nhà thơ Đặng Quốc Việt tuổi Đinh Hợi, là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Tôi quen biết anh năm 2018, ngày cùng nhau học lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa 12. Hai anh em sêm sêm tuổi nhau, cùng lớn lên gần hai bờ sông Ninh quê hương. Anh sống chất phác, hiền lành, dễ hòa đồng nên được nhiều bạn bè quý trọng. Anh phát lộ năng khiếu thơ khá sớm.

Ngày “lọt cửa” trường Đại học Bách khoa, anh đã đăng ký cuộc thi thơ của nhà trường, ông hoàng thơ tình Việt Nam Xuân Diệu khi ấy đã chấm bài thơ “Tấm lòng sinh viên” của anh giải nhất (bài được đăng trên Báo Văn nghệ – 1968). Hàng tháng, anh rong ruổi con đường thơ, trên những chuyến xe buýt gần xa, đến giao lưu nhiều CLB thơ trong và ngoài thành phố. Tới đâu, tình thơ của anh đều để lại dấu ấn, được bạn thơ ghi nhận. Quãng đời thơ đến nay anh đã in được 7 tập (6 tập thơ và 1 tập tiểu luận).

Đặng Quốc Việt vốn xuất thân là kỹ sư Bách khoa (ngành khoa học tự nhiên) với bản tính không thích giãi bày dài dòng nên thơ anh khúc triết, kiệm lời song chiều sâu từng con chữ vô cùng dài rộng. Thơ anh, phải đọc đi đọc lại mới vỡ ra… mới hiểu anh đang chuyển tải đến công chúng nghĩ suy gì.

Tôi may mắn làm biên tập thơ văn, quyển 10 -11 -12 “Tiếng Vọng Thành Nam” nên được biên tập những tác phẩm của anh gửi in, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần để cảm thụ. Gần đây anh gửi cho tôi 2 tác phẩm mới: “Cãi Trời” (Thơ – NAM KAU) gồm 89 bài, “Chân trời tối sáng” (tập thơ – 50 bài). Tôi xin nói về nghệ thuật thơ của Đặng Quốc Việt.

Cảm nhận về thơ Đặng Quốc Việt - 1

Nhà thơ Đặng Quốc Việt

Tình yêu quê hương trong thơ Đặng Quốc Việt

Mọi nhà thơ, ai cũng có miền thơ viết về quê hương, mạch nguồn cảm xúc gần gũi thương yêu nhất. Bằng cách tả thực, Đặng Quốc Việt đã viết về quê hương như sau:

“Đê. Chiều. Ma võng rễ Đa

Gánh gồng vài chị, rề rà dăm trâu

Mương in bóng lật cây cầu”…

 (Cãi Trời – trang 68)

Câu thơ hay quá! Ví von, hình ảnh thật sinh động. Quê hương Việt Nam ở đâu cũng có cây đa cổ thụ trồng ở đầu làng. Người dân đi xa về gần, cách khoảng 2 cây số đã nhìn thấy dáng hình làng quê mình. Cây đa đóng đinh địa giới, người thợ cày giữa mùa nắng lửa nép dưới gốc đa nghỉ ngơi, lũ trẻ con mọi thời đều bám rễ cây đánh đu, trai gái trong làng đêm trăng hò hẹn, cây đa là hồn cốt của làng. Nhà thơ đã viết về cây đa làng mình:

… “Võng đu râu cụ đa xanh dai bền

Người đi săn vận đỏ đen

Gù lưng… đa giữ đất phèn mặn chua”

 (Chân trời tối sáng, trang 34)

Đặng Quốc Việt còn cho ta được thưởng thức âm thanh quê hương qua tiếng chuông. Anh rành rọt kể đâu là tiếng chuông nhất, chuông nhì của 2 giáo phận Phú Nhai, Bùi Chu cùng tiếng chuông nhà thờ đổ hồi làm sóng sánh dòng sông Ninh, khuấy động làng quê yên tĩnh. Thuở chúng ta còn ở quê hương, nghe chuông mà tính giờ đi học, đi làm. Cảm xúc tiếng chuông trong thơ anh…

“Thao thức

Chập chờn… mộng mị

Rộn hồi chuông

Giáo phận Phú Nhai”

(Chân trời tối sáng, trang 9)

Hay!

“Nghĩ ngợi miên man vừa chợt thiếp

Bùi Chu chuông nhất giọng rầu rầu”…

(Chân trời tối sáng, trang 58)

Thực ra, chuông nhà thờ luôn rộn rã. Song thời cắp sách, thế hệ chúng ta, làng quê, gia đình nghèo đói nên tiếng chuông cũng bị buồn theo. Miền quê ta, ngàn năm nay vẫn thong thả tiếng chuông chùa, điểm hai lần sáng, tối. 108 tiếng buồn thả vào lòng nhân thế, ngấm sâu vào hồn cốt quê hương để người Việt giữ mãi được tên làng, tên xã đến tận ngày nay. Quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, dẫu đi xa vạn dặm nhớ tìm về. Quê hương ngày nay đã hết đói nghèo, làng quê rất gần với phố thị, cảnh cũ mất dần, chạnh lòng người đi xa.

Tiếng lòng, Đặng Quốc Việt da diết. Song phải yêu thương quê nhiều lắm mới viết được tứ thơ hay.

“Quê nhà nay vãn bóng tre

Diều ngân méo tiếng

Nắng nhòe bến sông”

Xin thưa: Đề tài viết về quê hương của anh còn nhiều câu thơ thú vị lắm. Tôi chỉ nhặt ra một vài ví dụ để cảm nhận.

Tình yêu lứa đôi trong thơ Đặng Quốc Việt

“Cấp Một chung bàn, chúa lườm nguýt

Nhát gan, ta không dám che bài

Thua – tay em cố khuỳnh choán chỗ

Tảng lờ đuôi tóc hất sang vai”

(Chân trời tối sáng, trang25).

Một sự nhường nhịn thú vị. Nhà thơ vốn hiền lành, đôi lần anh bảo: Ngày xưa, anh khờ khạo nhát gái.

“Đâu rồi bàn ghế thân thương

Đèn dầu học nhóm, chân vương dưới gầm

Anh giả điếc, em giả câm

Tay quờ bóng tối. Dõi ngầm ma trơi”

(Cãi Trời, trang 67)

Thật tinh nghịch, bố mẹ cô bạn gái mà biết… chắc chẳng dám cho con đi học nhóm.

Thời cấp Ba “guốc mộc” mấy xã mới có một trường, phải ở trọ cùng nhau, rồi đến thời sinh viên ở ký túc xá… Thuở ấy, sinh viên chưa dám sống chung, sống thử như bây giờ. Tình yêu trai gái thời nào cũng có nhưng đa số không thành vợ thành chồng bởi hầu hết bạn trai ra trường chưa có sự nghiệp nên các em phải tìm nơi có điểm tựa.

“Nhớ hôm xưa vai áo rách

Ngượng ngùng xin mẹ vá cho anh

Trễ giờ đi học, đường kim lệch

Phấp phỏm anh mơ áo đã lành”

(Chân trời tối sáng, trích Tim Vỡ trang 16)

Một mối tình thật đẹp. Nhưng trong thời chiến chẳng nói trước được điều gì. Anh vào giảng đường đại học, em đi miền khói lửa, sau đó hy sinh trên trận tuyến đánh quân thù. Nhà thơ đau buồn trái tim như bị vỡ ra.

Năm tháng đi qua, cuộc sống sôi nổi thời sinh viên giúp anh trưởng thành, lời thơ đằm hơn, sâu sắc hơn.

Hiếu nghĩa – tình người

Phải đợi tới độ tuổi nhất định người ta mới có thời gian chiêm nghiệm. Đầu những năm 2000, Đặng Quốc Việt sang Tây Đức công tác. Xa quê hương, gia đình, bạn bè cùng cơ quan, nên đã khắc sâu nỗi nhớ. Tha hương, quăng quật nơi xứ người, lăn lộn kiếm sống anh mới ngộ ra… “Trong tiền có xương”. Ngày tháng buồn xa Tổ quốc, anh đã cho ra lò, một series tác phẩm như: “Tha hương”, “Nhớ U – Vơ”, “Bức tường Berlin”, “Cầu iình”, “Thiêng liêng”, “Khóc muộn”, “Cãi Mẹ”, “Gối đầu tay Mẹ”…

Một ngày buồn trên đất khách, nhận tin sét đánh cha mẹ không còn. Đau thương quằn quại đưa anh về quá khứ. Anh tìm lại tình mẹ, nghĩa cha ngày xưa:

“Mẹ với mo cau đêm hè dành mát cho tôi

Mắt Mẹ quầng thâm mo cau héo một đời”

(Cãi Trời, trang7 tập)

Tôi cùng nhà thơ chung một nỗi đau. 56 tuổi mẹ qua đời. Tôi mất mẹ năm 1971 khi đang ở chiến trường miền Nam. Anh Việt mất mẹ những năm 2000 sống ở nước ngoài. Kiếm được đồng tiền xứ trời Tây bỗng thương cha mẹ vô cùng:

“Nhà nông tiền bói không ra

Mẹ nhịn ăn, cha ngầm cõng nợ”…

Nhà thơ tự dằn vặt mình:

“Tưởng lớn khôn đỡ đần đôi nhẽ

Chỉ quàng thêm cho cha bẽ mẹ rầu

Mong gắng học, mở mày mở mặt

Nợ cơm áo lút cổ ngập đầu

Vận hạn đến gặp cơn “bĩ cực”

Xếp mảnh bằng, con lang thang bán sức trời Âu!”

Xa cách biển trời, dù có gào thét đau thương, vòm cao vẫn lặng thinh:

“Hai nấm đất quê nhà biền biệt

Đốt lòng con nắng lửa

Héo lòng con mưa buồn”

Mất cha mẹ rồi mới hiểu công lao trời bể. Anh đã sám hối, khi có lần dám cãi mẹ…

“Ôi tội lỗi tuổi thơ cạn nghĩ

Ngộc nghệch rồi không bẻ nổi sừng trâu”

Nhớ về thuở ngày xưa được gối đầu tay mẹ.

“Quặn lòng, vẳng tiếng Mẹ ho

Cơn đau hành Mẹ, đến giờ con mang

Mẹ coi con tựa cục vàng

Đến ơn nắm đất tuyềnh toàng mé mương”.

Đặng Quốc Việt kiệm viết lời viết về cha. Một chi tiết thơ cho ta hiểu: Bố anh là người dạy con nghiêm khắc: “Roi tre cha giắt mái gianh nảy chồi mọc rễ” (Cãi Trời, trang 8). Chiếc roi không rút ra nên đâm chồi mọc rễ nhưng con cái nhìn lên mái gianh để mà tu dưỡng.

Nhà thơ còn viết rất rộng, chan chứa tình cảm yêu thương với người xung quanh như cụ tôi, cô tôi, anh tôi, thầy cô, bạn bè các cấp học. Tôi xin ghi lại tình cảm của nhà thơ viết cho vợ yêu của mình:

“Mấy mươi năm bể đông lúc cạn lúc đầy

Muối mặn gừng cay, nay mật ngọt

Vượt suối sông, biển cả cũng đến bể bơi

Chẳng mơ ước chồng vua vợ hậu

Thỏa lòng, các con đã “lên ngôi”

Tuổi xế chiều thật viên mãn. “Thuận vợ, thuận chồng, bể đông tát cạn”. Con cháu thành đạt trưởng thành là do giáo dục, truyền thống gia đình.

… “Dựng nhà cho cháu, cây roi xưa làm trụ

Giấy khen hong khô, cuộn lại làm roi”.

Xin chúc mừng thành quả của nhà thơ, gừng càng già càng cay.

Vũ Viết Ngà




Nguồn: Arttimes.vn

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn


Chưa đến ngày 23 tháng Chạp, dàn sao Việt đã rộn ràng khoe những mâm cỗ cúng ông Công ông Táo sớm đầy tâm huyết.

Dạo một vòng mạng xã hội, công chúng không khỏi trầm trồ trước sự đảm đang của các “nữ công gia chánh” và cả những quý ông của showbiz. Từ những mâm cỗ truyền thống đậm chất Bắc Bộ đến những bàn tiệc hiện đại, tất cả đều thể hiện lòng thành kính và sự khéo léo của các nghệ sĩ dành cho ngày lễ quan trọng cận kề Tết Nguyên đán.

Nếu như vợ NSND Tự Long gây ấn tượng bởi sự tươm tất, chuẩn mực của người phụ nữ quân đội, thì Minh Hương “Nhật ký Vàng Anh” lại khiến fan xuýt xoa bởi gu thẩm mỹ tinh tế. Đặc biệt, sự xuất hiện của các mâm cỗ từ MC Nguyên Khang hay ca sĩ Phạm Quỳnh Anh cho thấy dù bận rộn đến mấy, họ vẫn dành thời gian gìn giữ nét đẹp văn hóa dân tộc. 

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 1

Vợ NSND Tự Long sửa soạn hương hoa lễ vật cầu mong “giữ bếp ấm, giữ nhà yên”. Bên cạnh cỗ cúng, cá chép, cô còn bài trí hoa quả, trang trí ban thờ đẹp mắt.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 2

Mâm cỗ của mẹ 3 con Minh Nguyệt đơn giản nhưng chỉn chu với tâm điểm là con gà luộc buộc cánh tiên, giò lụa và đĩa xôi gấc, đúng phong cách truyền thống Bắc Bộ.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 3

Quý ông độc thân đắt show của Vbiz – MC Nguyên Khang tự tay chuẩn bị mâm cỗ rất trang trọng với gần chục món ngon, nào xôi gấc, bánh trưng, chả giò, giò lụa, canh và món xào rất đủ đầy…

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 4

Những món ăn được MC Nguyên Khang chăm chút từng chút một, thể hiện sự thành tâm và lối sống lành mạnh.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 5

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 6

Gia đình nam MC tụ họp bên mâm cỗ vừa truyền thống vừa hiện đại. Anh bày tỏ: “Mâm cỗ tiễn ông Táo về trời. Gia đình có dịp quây quần hàn huyên”.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 7

Mẹ bỉm sữa Vân Hugo khoe mâm cỗ hiện đại, gọn gàng được cúng trong gian bếp, vẫn đảm bảo đầy đủ các lễ vật truyền thống cho ngày Tết ông Táo.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 8

Dù trải qua một năm mất mát và có nhiều cảm xúc khi đứng trước ban thờ nhưng Minh Hương “Nhật ký Vàng Anh” vẫn chu toàn, chuẩn bị cỗ cúng rất nhiều món.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 9

Cô tâm sự: “Nhà vẫn có hương, có hoa, có mâm cơm quen thuộc, nhưng lòng người thì không còn nguyên vẹn như những năm trước…”

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 10

Nàng BTV kiêm Đại úy công an thể hiện tài nội trợ với mâm cỗ hài hòa về màu sắc, từ màu xanh của bánh chưng, hành lá đến sắc vàng của gà luộc, nem rán, màu cam của xôi gấc, tôm chiên… Cách bài trí của cô vô cùng đẹp mắt, thanh tao.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 11

Siêu mẫu 3 con Hạ Vy gây bất ngờ với khả năng nấu nướng đảm đang qua lời kể đầy tự hào của ông xã. Mâm cỗ đầy đặn với những món ăn dân dã nhưng được bày biện rất chuyên nghiệp.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 12

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 13

Ông xã Hạ Vy khen: “Nay có bàn tay của Kều vào bếp nhìn khác ngay. Ban thờ lúc nào cũng sạch sẽ, ấm cúng, hương thơm, hoa tươi. Kều lúc nào cũng gọn gàng, chỉn chu lắm”.

Chiêm ngưỡng mâm cỗ cúng ông công ông Táo của sao Việt: Người cầu kỳ gần chục món, người giản đơn - 14

Nữ ca sĩ Phạm Quỳnh Anh chọn phong cách giản dị, ấm cúng với lễ vật cúng trong gian bếp. Cô dí dỏm bày tỏ: “Năm nay con xin cúng ông về sớm cho đỡ tắc đường ạ”.

Xem video: Món ăn giàu dinh dưỡng, dễ làm trên mâm cỗ cúng ông Công ông Táo (Nguồn: Sức khỏe đời sống).

Trong văn hóa Việt Nam, lễ cúng ông Công ông Táo (23 tháng Chạp) là một trong những nghi lễ quan trọng nhất năm, đánh dấu thời điểm các vị thần bếp về trời báo cáo việc hạ giới. Tùy theo vùng miền và điều kiện mỗi nhà mà mâm cỗ có sự khác biệt, nhưng về cơ bản thường bao gồm các thành phần sau:

1. Lễ vật bắt buộc (Đồ mã và cá sống)

Đây là phần đặc trưng nhất của ngày lễ này để các Táo có phương tiện về trời:

Bộ mã ông Công ông Táo: Gồm ba chiếc mũ (hai mũ có cánh chuồn cho Táo ông, một mũ không có cánh chuồn cho Táo bà), ba đôi giày và ba bộ áo quần.

Cá chép: Miền Bắc: Thường cúng 3 con cá chép đỏ sống thả trong chậu nước, sau khi cúng sẽ đem phóng sinh.

Miền Trung & Nam: Có thể thay bằng cá chép giấy hoặc ngựa giấy.

2. Mâm cỗ mặn truyền thống

Một mâm cỗ mặn đầy đủ thường có “hệ sinh thái” món ăn đa dạng, tượng trưng cho sự sung túc:

Gà luộc: Thường là gà trống thiến, buộc cánh tiên đẹp mắt, miệng ngậm hoa hồng.

Bánh chưng/Bánh tét: Đại diện cho đất trời, sự no đủ.

Xôi gấc: Màu đỏ của gấc tượng trưng cho sự may mắn, khởi đầu tốt đẹp.

Giò lụa/Chả quế: Món ăn không thể thiếu trong các dịp lễ Tết miền Bắc.

Thịt đông (Miền Bắc): Món ăn đặc trưng của mùa đông Bắc Bộ.

Nem rán (Chả giò): Giòn rụm, là món ăn quốc hồn quốc túy trong mâm cỗ.

Canh măng hoặc canh mọc: Giúp mâm cỗ thêm phần ấm áp và cân bằng vị.

Đĩa xào thập cẩm: Thường gồm su hào, cà rốt, mộc nhĩ, nấm hương xào lòng gà hoặc thịt bò.

3. Mâm cỗ chay (Xu hướng hiện đại)

Nhiều gia đình hiện nay chọn cúng cỗ chay để thanh tịnh:

Xôi đậu xanh hoặc xôi ngũ sắc.

Giò lụa chay, nem chay.

Canh nấm, rau củ luộc.

Đậu phụ sốt nấm.

4. Hương hoa và trà quả

Trầu cau: Phải có một đĩa trầu cau tươi.

Hoa tươi: Thường là hoa cúc vàng hoặc hoa hồng.

Mâm ngũ quả: Các loại quả có màu sắc rực rỡ.

Rượu, trà, nước trắng: Để mời các vị thần linh.

Chú ý về phong tục:

Theo quan niệm dân gian, lễ cúng nên được thực hiện trước 12 giờ trưa ngày 23 tháng Chạp vì đây là thời điểm các Táo chính thức thăng thiên. Sau khi cúng xong, gia chủ sẽ hóa vàng (đốt đồ mã) và đem cá chép đi phóng sinh tại các sông, hồ, ao có nguồn nước sạch.




Nguồn: Arttimes.vn

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại “trách”


Hoa hậu vừa ăn vừa tấm tắc với thành quả của mình: “Ngon quá! Thơm ngon, ốc giòn, ngọt lịm hòa tan vào trong nước ốc. Tuyệt vời!”

Mới đây, nhân dịp Sài Gòn trở nên mát mẻ, Hoa hậu Hà Kiều Anh đã vào bếp làm một món đặc sản trứ danh của Hà Nội. Nàng hậu tâm sự: “Mấy ngày nay, miền Nam bỗng se se lạnh làm mình chợt nhớ về những buổi sáng Hà Nội, khi hơi sương còn vương trên mái ngói và mùi bún ốc nóng hổi thơm nhè nhẹ của chị bán hàng gánh bên đường…

Để có một bát bún ốc tròn vị, sự chỉn chu bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Ốc phải được chọn kỹ để giữ độ giòn tự nhiên, nước dùng trong veo nhưng vẫn đậm đà, vị chua vừa đủ để thanh mát chứ không lấn át. Cà chua chín đỏ xào mềm, tía tô thái sợi xanh tím điểm xuyết, thêm chút ớt chưng cay nhẹ… tất cả hòa quyện lại, không vội vàng, không phô trương, chỉ đủ để đánh thức cả vị giác lẫn ký ức. Nếu có dịp, mọi người hãy thử nấu một nồi bún ốc cho cả nhà theo cách của Kiều Anh xem sao nhé”.

Người đẹp 7x thực hiện từng thao tác sơ chế đến nấu nướng rất kỹ tính. Thành quả khiến chính cô phải khen ngợi. Bên dưới bình luận, nhiều nghệ sĩ, bạn bè và người hâm mộ cũng “phát thèm”. Ca sĩ Quang Linh nhắc đến biệt danh thân thuộc của Hà Kiều Anh và thốt lên: “Ối! Phải bún Ốc cô Bê thôi”. Ca sĩ Tùng Dương, Hoa hậu Dương Mỹ Linh, đạo diễn Hoàng Nhật Nam cũng mê. Trong khi Anh Thơ – bà xã Bình Minh bày tỏ: “Ủa rồi sao không gọi tui qua hưởng thành quả vậy nè. Ngon thế cơ mà”. Hà Kiều Anh cho rằng người bạn thân không thích bún ốc, tuy nhiên vợ Bình Minh khẳng định đó là món ruột của mình.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 1

Hà Kiều Anh tâm sự: “Nhắc đến mùa thu là chúng ta sẽ nghĩ ngay đến món bún ốc Hà Nội, mà công nhận ẩm thực của Việt Nam mình vô cùng phong phú luôn. Mỗi một vùng miền đều có một món ăn đặc trưng riêng mà ăn một lần rồi sẽ nhớ mãi luôn. Chẳng hạn như là món bún ốc này nè”.

Xem video Hoa hậu Hà Kiều Anh trổ tài làm bún ốc Hà Nội.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 2

Cô đã chuẩn bị sẵn các nguyên liệu cho món bún ốc Hà Nội chuẩn vị: “Nguyên liệu thì vô cùng đơn giản, chỉ có ốc rồi cà chua, giấm bỗng…” Không thể thiếu các loại rau và gia vị đặc trưng ăn kèm.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 3

Hoa hậu bắt đầu sơ chế. Cô làm từng bước rất cẩn thận. Đầu tiên là rửa ốc, rồi ngâm ốc trong chậu nước, nếu con ốc nào nổi lên trên thì sẽ lấy ra ngoài nếu không nấu lên sẽ có mùi thum thủm. Sau đó, cô bỏ ớt và vắt chanh vào, ngâm nửa ngày. Luộc ốc bằng nước sôi chứ không luộc ốc bằng nước lạnh. Khi nước sôi bùng lên thì thả ốc vào, luộc 5 phút rồi vớt ốc ra.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 4

Người đẹp tiết lộ: “Mọi người biết không? Bình thường Kiều Anh rất là xuề xòa, nhưng mà khi nấu ăn rất kỹ tính luôn. Bởi vì đối với Kiều Anh, nếu muốn có một món ăn ngon thì chúng ta cần phải có nguyên liệu thật là tươi ngon, sơ chế phải thật là kỹ càng. Không bao giờ mình có thể ẩu tả để bỏ qua các bước được. Và khi nấu, tất cả các bước cần phải thật là kỹ lưỡng thì mới có được một món ăn ngon và chuẩn vị”.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 5

Chỉ luộc ốc từ 5 đến 6 phút, nếu không ốc sẽ bị dai và không còn độ giòn nữa. Luộc xong, Hà Kiều Anh làm sạch ốc, bỏ phân ở trên đầu ốc. Cô cho rằng: “Nếu mà đi ra ngoài tiệm ăn, ít khi nào ai có thời gian để làm sạch con ốc như mình làm ở nhà”.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 6

Làm sạch ốc rồi, cô còn rửa lại một lần nữa với một ít giấm và muối, bóp để cho ra hết những chất nhờn trong con ốc rồi rửa lại bằng nước.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 7

Tiếp đó, Hà Kiều Anh tiến hành nấu nước dùng với các nguyên liệu: Hành đỏ thái nhuyễn, cà chua xắt hạt lựu, màu điều, giấm bỗng và cà chua thái múi cau cùng với một củ hành tây. “Đầu tiên chúng ta sẽ cho một ít dầu ăn vào, sau đó cho hành vào. Chúng ta sẽ xào cà chua hạt lựu trước. Cà chua hạt lựu này khi nó mềm nát ra sẽ làm cho nước dùng ốc của chúng ta có cái màu đỏ rất là tự nhiên”, cô cho biết.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 8

Cô cho thêm một tí xíu dầu điều, một chút muối để làm cho cà chua mềm nhanh hơn. Xào đến khi mà cà chua chín và sệt sệt lại thành nước sốt màu đỏ thì cho nước ốc vào. Để cho nước dùng ngọt và thanh hơn, cô cho một củ hành tây vào nấu cùng.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 9

Ốc sau khi được làm sạch sẽ đem xào sơ qua. Kiều Anh cho một chút xíu bột nêm và chỉ xào ốc trong vòng 1 phút rồi bắc ra ngay.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 10

Nồi nước dùng được cô nêm nếm với một ít hạt nêm, chút đường, nước mắm và cuối cùng là nguyên liệu đặc biệt nhất để tạo ra chuẩn vị bún ốc Hà Nội, đó là giấm bỗng. “Nếu nấu bún ốc mà không có giấm bỗng thì coi như vứt đi, sẽ không bao giờ mình có thể có một tô bún ốc chuẩn vị Hà Nội được. Chúng ta sẽ cho hết luôn, bún ốc càng chua càng ngon”, Hoa hậu nói.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 11

Sau khi nước dùng sôi lên, Kiều Anh cho cà chua đã thái múi cau vào để trang trí lên bát bún ốc cho đẹp. Mùi thơm lan tỏa khiến cô xuýt xoa: “Tuyệt vời, thơm nức mũi”.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 12

Hoa hậu còn chuẩn bị đồ ăn kèm đầy đủ: “Khi dùng món bún ốc này thì chúng ta ăn với sợi bún nhỏ vừa, kèm với rau xà lách, tía tô, kinh giới và bắp chuối bào. Chúng ta thái nhỏ ra, trộn lẫn lên với nhau như thế này”.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 13

“Ớt xào thì Kiều Anh phi lên cùng  tỏi, ớt khô, ớt tươi và một chút xíu màu điều. Nếu ai thích ăn có đậm vị mùi mắm một chút thì chúng ta cho mắm tôm”, người đẹp chia sẻ.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 14

Hoa hậu còn chia sẻ 2 cách ăn bún ốc: Một là chúng ta xào ốc lên với hành đỏ như lúc nãy Kiều Anh vừa làm; Hoặc là sau khi luộc và làm sạch ốc thì có thể trụng qua nước ốc rồi ăn trực tiếp luôn, không cần phải xào. Món bún ốc này không ăn với hành lá mà chúng ta ăn với lá tía tô”.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 15

Vậy là tô bún ốc thơm ngon, màu sắc bắt mắt đã hoàn thành. Hà Kiều Anh tự xuýt xoa: “Mùi nước ốc thơm ngào ngạt mọi người ơi!” Cô cho ớt xào, chút mắm tôm, rau sống vào rồi trộn lên và thưởng thức.

Hoa hậu Hà Kiều Anh làm món đặc sản, Quang Linh và dàn sao Việt xuýt xoa nhưng vợ Bình Minh lại "trách" - 16

Hoa hậu nhận xét: “Ngon quá! Thơm ngon, ốc giòn, ngọt lịm hòa tan vào trong nước ốc. Tuyệt vời! Món này cực kỳ hợp với mùa thu nha! Khi nào mọi người rảnh rỗi hãy thử nấu món bún ốc này theo công thức của Kiều Anh nha! Ngon lắm đó! Chuẩn vị luôn!”

Tham khảo công thức làm bún ốc Hà Nội chuẩn vị truyền thống để bạn có thể tự làm tại nhà:

1. Nguyên liệu (cho 4-5 người)

Ốc: 2kg ốc nhồi hoặc ốc mít (chọn con béo, miệng đầy, vỏ mỏng).

Xương: 1kg xương ống heo (để nước dùng ngọt sâu).

Bún: 1-1.5kg bún rối sợi nhỏ.

Gia vị linh hồn: 300ml giấm bỗng nếp (không thể thiếu để tạo vị chua thanh đặc trưng).

Đồ kèm: 3 bìa đậu phụ, 3-4 quả cà chua.

Rau gia vị: Hành lá, tía tô (nhiều tía tô mới chuẩn vị), hành khô.

Rau sống: Xà lách, rau muống chẻ, bắp chuối bào, kinh giới, húng láng.

Gia vị khác: Mắm tôm ngon, ớt bột (để làm ớt chưng), nước mắm, muối, hạt nêm, dầu ăn.

2. Các bước thực hiện

Bước 1: Sơ chế ốc (Quan trọng nhất)

Ngâm ốc trong nước vo gạo có thêm vài lát ớt ít nhất 4-6 tiếng (tốt nhất là qua đêm) để ốc nhả hết bùn nhớt.

Rửa sạch, cho vào nồi luộc với một chút muối. Khi nước sôi bùng, vảy ốc bung ra là chín. Lưu ý: Không luộc quá kỹ ốc sẽ bị dai và teo.

Vớt ốc ra, khều lấy thịt, bỏ phần phân ở đuôi. Nước luộc ốc để lắng rồi chắt lấy phần nước trong.

Bước 2: Nấu nước dùng

Xương ống chần qua nước sôi, rửa sạch rồi đem ninh với khoảng 2-3 lít nước trong 1-2 tiếng.

Hòa nước luộc ốc vào nước hầm xương.

Cà chua bổ múi cau. Phi thơm hành khô, cho một nửa cà chua vào xào chín mềm để lấy màu tự nhiên, rồi trút vào nồi nước dùng. Một nửa cà chua còn lại để nguyên múi cau cho vào sau để đẹp mắt.

Bước 3: Chế biến đồ kèm

Đậu phụ: Cắt miếng nhỏ, chiên vàng giòn.

Ốc: Có thể để nguyên hoặc xào sơ qua với chút hành khô, nước mắm và bột nghệ cho săn và đậm đà (tùy sở thích).

Ớt chưng: Phi thơm hành tím với nhiều dầu, cho ớt bột vào đảo nhanh tay ở lửa nhỏ rồi tắt bếp ngay để có màu đỏ đẹp mà không bị cháy.

Bước 4: Hoàn thiện nước dùng

Khi nồi nước dùng sôi, nêm mắm, muối, hạt nêm cho vừa miệng.

Lên vị: Đổ từ từ giấm bỗng vào. Vừa đổ vừa nếm đến khi thấy vị chua thanh, thơm dịu là được. Cuối cùng cho nốt phần cà chua còn lại và đậu phụ vào.

3. Trình bày và thưởng thức

Trụng bún qua nước sôi, cho vào bát tô.

Xếp thịt ốc, đậu phụ lên trên. Rắc hành lá và tía tô thái nhỏ.

Chan nước dùng nóng hổi vào bát.

Cách ăn chuẩn: Khi ăn phải thêm một chút mắm tôm và một thìa ớt chưng cay nồng. Ăn kèm với đĩa rau sống tươi ngon.

Bí quyết để bún ốc ngon:

Nước dùng: Phải trong, không được đục, có màu đỏ vàng vàng của cà chua xào và dầu màu điều (nếu thích).

Giấm bỗng: Phải dùng giấm bỗng nếp mới có mùi thơm nồng nàn và vị chua thanh tao, không gắt như dùng chanh hay giấm thường.

Tía tô: Bún ốc bắt buộc phải có nhiều tía tô mới dậy mùi.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Thót tim Ninja lách giữa hai ô tô, vô tư chuyển hướng như chốn không người


Một người phụ nữ điều khiển xe máy liều lĩnh chen giữa hai ô tô đang di chuyển để chuyển hướng, buộc tài xế phải phanh lại tránh tai nạn xảy ra.




Nguồn: Arttimes.vn

Pagani Huayra phiên bản kỷ niệm 70 năm sinh nhật nhà sáng lập hãng


Pagani vừa ra mắt 3 chiếc Huayra phiên bản 70 đặc biệt để mừng sinh nhật nhà sáng lập.

Pagani vừa kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của nhà sáng lập Horacio Pagani bằng cách ra mắt 3 chiếc Huayra phiên bản 70 đặc biệt, trong đó chiếc đầu tiên mang tên Trionfo (ý nghĩa là “chiến thắng” trong tiếng Ý) và được bàn giao cho chủ nhân.

Pagani Utopia đã ra mắt hơn 3 năm trước với vai trò mẫu xe kế nhiệm Huayra, đồng thời Huayra cũng được hãng cho phép “nghỉ hưu” bằng cách ngừng sản xuất. Tuy nhiên, điều tương tự như “người anh em” Zonda, Pagani đã “hồi sinh” Huayra với phiên bản đặc biệt cực hiếm.

Pagani Huayra phiên bản kỷ niệm 70 năm sinh nhật nhà sáng lập hãng - 1

Pagani Utopia đã ra mắt hơn 3 năm trước với vai trò mẫu xe kế nhiệm Huayra.

Pagani Huayra phiên bản kỷ niệm 70 năm sinh nhật nhà sáng lập hãng - 2

Lần này, hãng siêu xe tạo ra Huayra 70 để tôn vinh cột mốc quan trọng của nhà sáng lập – Horacio Pagani, tương tự Zonda HP Barchetta từng làm cho kỷ niệm 60 năm thành lập hãng. Có tổng cộng 3 chiếc Huayra 70 được sản xuất.

Chiếc Huayra 70 Trionfo đầu tiên đã giao cho khách hàng ở Cincinnati (Mỹ) cách đây vài tuần. Xe dựa trên nền tảng Huayra Roadster BC nhưng được thiết kế lại mạnh mẽ hơn, thân vỏ gần như làm mới, chỉ giữ lại khung cửa sổ và cửa.

Pagani Huayra phiên bản kỷ niệm 70 năm sinh nhật nhà sáng lập hãng - 3

Pagani kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của nhà sáng lập bằng cách ra mắt 3 chiếc Huayra phiên bản 70 đặc biệt.

Pagani Huayra phiên bản kỷ niệm 70 năm sinh nhật nhà sáng lập hãng - 4

Ngoại thất nổi bật với sợi carbon màu xanh lá cây, điểm nhấn màu cam trên nắp capo, cửa hút gió trước, ốp sườn, bậc cửa, khe gió nóc và cản sau. Phần đầu xe tạo hình đơn giản hơn, có đèn LED chạy ban ngày bố trí dọc thay vì nằm ngang, trong khi cánh gió sau kiểu “cổ thiên nga” với các tấm ốp tùy chỉnh.

Huayra 70 Trionfo trang bị động cơ V12, dung tích 6.0L tăng áp kép từ Mercedes-AMG được tinh chỉnh, mức công suất 834 mã lực (cao hơn 791 mã lực của Huayra Roadster BC). Điểm nhấn lớn là hộp số sàn 7 cấp, loại hộp số hiếm hoi mà Pagani từng áp dụng trên chiếc Huayra Epitome độc nhất cách đây 18 tháng.

Pagani Huayra phiên bản kỷ niệm 70 năm sinh nhật nhà sáng lập hãng - 5

Pagani Huayra phiên bản kỷ niệm 70 năm sinh nhật nhà sáng lập hãng - 6

Huayra 70 Trionfo trang bị động cơ V12, dung tích 6.0L tăng áp kép từ Mercedes-AMG được tinh chỉnh.

Chưa có thông tin về hai chiếc Huayra 70 còn lại, dự kiến hai mẫu xe này cũng có ngoại thất sợi carbon và tông màu sắc tuỳ chỉnh, có nhiều chi tiết cá nhân hoá riêng biệt. Huayra 70 Trionfo không chỉ là món quà sinh nhật cho ông Horacio Pagani, mà còn khẳng định triết lý của hãng: sự hoàn hảo không có điểm dừng, ngay cả với những mẫu xe “đã nghỉ hưu”.



Nguồn: Arttimes.vn

Lễ hội Gầu Tào


Mùa xuân gọi cái Tết đến rất gần. Nụ đào núi đã chúm chím khoe màu trên những sườn núi đá, bất chấp cơn gió lạnh tái tê tràn về, qua yên ngựa rồi hút xuống thung lũng Bình Thanh. Trận gió cuối mùa rít lên từng hồi, dứt nốt những chiếc lá cuối cùng trên cành cây phong đầu bản, ném xuống đất bay lất phất.

Chưa đến ngày ông Công, ông Táo lên chầu Trời nhưng Thào Sính Lùng nghe lời giục của vợ, đã cùng em gái Lẫm đến nhà thầy mo Triệu bàn việc mở hội Gầu Tào để “cầu con”, cầu cho gia đình “người yên, vật thịnh”. 

Thầy mo Triệu thắp một tuần nhang trên bàn thờ, xin âm dương sau đó bảo:

– Năm nay nhà cô chú làm Gầu Tào là được đấy!

Nói rồi Triệu bầy cho Lùng cách thức chuẩn bị. Trước hết lễ hội sẽ quy tụ đông người nên cần chọn một địa điểm rộng rãi và tương đối bằng phẳng để có nhiều bãi vui chơi. Thầy bảo:

– Nên chọn khu đất bằng ở đầu bản Nùng Xín. Chỗ ấy gần đường đi lối lại, hợp với phong thủy người H’Mông, lại được thần rừng, thần núi ưng bụng. Tốt lắm đấy. Chú về cho người đánh bớt gốc, dọn sạch các bụi cây lúp xúp đi là đẹp.

Rồi thầy lại hỏi:

– Cô chú định tổ chức lễ hội suốt ba năm liền hay chỉ tổ chức gộp một lần?

Nghe giọng nói du dương của thầy Triệu, Lẫm vội hỏi:

– Làm suốt hoặc làm gộp thì khác nhau thế nào?

– Làm suốt ba năm liền thì mỗi năm chỉ dựng một cây nêu. Còn nếu lễ hội tổ chức gộp ba năm một lần, thì phải dựng ba cây nêu theo hình tam giác ở giữa.

Sính Lùng đưa mắt nhìn em gái rồi thống nhất:

– Làm gộp một lần thầy ạ.

– Thế thì trước tết ông Công ông Táo, phải đẵn ba cây mai to và dài để đến trước ngày 30 Tết làm lễ dựng nêu. Ba cây nêu được dựng chụm đầu vào nhau ngay trên đỉnh đồi. Trên ngọn treo 3 miếng vải lanh màu đen, trắng, đỏ khác nhau. Phía dưới treo một bầu rượu ngon và một dây tiền bằng giấy bản. Thầy sẽ giúp gia chủ chỉ đạo việc này. 

Sính Lùng vâng dạ rối rít, rồi kéo Lẫm về chuẩn bị. 

Chiều ngày 30 Tết, sau khi cúng tổ tiên trong nhà, Sính Lùng làm một mâm cỗ nhờ thầy mo Triệu đến cúng dưới gốc cây nêu, cầu xin tổ tiên, thần rừng, thần núi những điều mình cần mà chưa có. Trong lễ cúng, thầy mo Triệu dùng toàn những từ hoa mỹ, thanh cao mà người H’Mông gọi là pàng lỳ, những câu ví mỹ miều, những câu tục ngữ đẹp đẽ gọi là lù txà nghe như tiếng nước chảy róc rách, êm ru để thưa với các đấng bề trên, khiến cho anh em nhà Sính Lùng hết lòng kính phục. 

Mùng 5 Tết là ngày bắt đầu khai hội. Cô giáo Bàn Thị Liên đến rủ Phó Chủ tịch xã Trần Quốc Hoàng đi chơi từ lúc đàn gà mẹ con vừa lục tục gọi nhau đi kiếm mồi. 

Hoàng đang lưỡng lự thì Xã đội trưởng Tráng A Pinh đã giục:

– Chú đi đi. Không chối được đâu. Mất “dông” là đen đủi cả năm đấy. Có việc gì để anh trực cho. 

Được đà, Liên nói như đã cầm chắc phần thắng:

– Em đã bảo rồi. Thế nào Pinh cũng nhường Hoàng cho em mà. Hoàng chối làm sao được anh Pinh nhỉ?

Hoàng ngập ngừng như không còn cách nào đành phải nghe theo. Thấy thế Liên bấu vào tay anh nói nhỏ:

– Thích quá đi rồi lại còn làm ra vẻ điệu bộ.

Hoàng im lặng làm như chịu tội. Ra khỏi cổng Ủy ban, anh mới mạnh mồm:

– Em chỉ được cái bắt nạt anh là không ai bằng.

– Ô hay, anh chẳng để cô giáo bắt nạt thì để ai đây?

Tiếng cười của họ giòn tan, khiến đôi cu gáy trên cành cây trước mặt giật mình, vội bay vút lên, lẫn vào không gian lơ thơ mưa bụi. 

*

Hai người đến hội thì thầy mo Triệu đã lên đàn cúng tế, cầu chúc cho gia chủ “vạn sự như ý”, cho dân làng được “người yên, vật thịnh”. Từ khắp nơi, trong làng, ngoài bản, mọi người tụ tập đến bãi mở hội. Không câu nệ, khách ngoài họ đến, khách đường xa về tùy theo điều kiện người ống gạo, người thố ngô, người hũ rượu, người xách đôi gà đều vào làm lễ, cầu chúc cho dòng họ Thào nhà Sính Lùng mọi người yên vui, cho mùa màng ở bản Nùng Xín bội thu, dê lợn đầy chuồng, gà vịt đầy sân. Thào Sính Lùng thay mặt dòng họ đứng ra nói lời cảm tạ và biết ơn lòng hiếu thảo của thân bằng, sự hào phóng của khách quý.

Lễ hội Gầu Tào - 1

Minh họa: Ngô Xuân Khôi

Trên bãi cỏ anh em nhà họ Thào đã dựng nhiều căn lán lợp lá cho người già ăn uống chúc tụng. Các khu vui chơi được Trưởng bản Vương Thụ đứng ra sắp xếp, tổ chức. Là người thạo việc nên ông bố trí nơi nào ra nơi đấy, vừa gọn gàng, vừa thuận tiện. 

Bãi bằng nhất ở góc bên phải được dành cho thanh niên đánh quay. Sân ném pao, múa khèn, hát gầu plềnh, hát tình ca, đối đáp, trao duyên, hát vui hội hè được bố trí ở chính giữa. Nơi bắn nỏ, bắn cung ở bên phải. Phía trước triền đồi là những dây ống hát được chăng lên để các đôi nam thanh, nữ tú trổ tài. Còn đường đua ngựa được bố trí ở xung quanh để các kỵ sĩ thi đấu.

Gia chủ Thào Sính Lùng có quyền thống lĩnh toàn hội. Bên cạnh Sính Lùng còn có Trưởng bản Vương Thụ thạo đường ăn, tiếng nói thay mặt giải quyết các việc phát sinh. Vương Thụ cắt cử người quán xử mà người ta vẫn gọi là chủ sự để quản lý mỗi sân bãi. Ngoài ra còn bố trí xừ quan tức là người quản lý chuyên chăm lo việc ăn uống, hấu pầu tờ trông coi củi đuốc, hấu pầu giê trông nom việc xay giã dần sàng cùng với xừ quan để lễ hội diễn ra được quy củ và chu đáo. 

Khách gần, khách xa, người già, người trẻ ai thích chơi trò gì thì đến sân ấy. Sân chơi nào cũng nườm nượp. Gia chủ và thầy mo Triệu sau những cuộc đón khách thân tình đầm ấm bắt đầu công bố mở hội. Rồi họ cùng xừ quan, quán xử cùng đi đến các sân khai mạc từng đám chơi. Đến đâu thầy mo Triệu cũng tươi tỉnh khuôn mặt, nói năng dịu dàng, khiến cho anh em nhà họ Thào của Sính Lùng cũng mát lòng, mát dạ.

Trò chơi trong lễ hội có nhiều. Nào là vặn gậy, nhảy sào, chơi đu quay, nhảy ngựa, đánh yến, đánh cầu, mi-mi-nào-tẩu-si như trò bịt mắt bắt dê của nhiều dân tộc khác. Song nổi bật nhất, hào hứng nhất đối với cánh con trai vẫn là trò đánh quay. Các con quay làm bằng gỗ cứng với đủ cỡ được trưng ra, thu hút những thanh niên trong lễ hội. Thào Sính Lùng đam mê trò chơi này từ ngày còn trẻ, cả thi quay tít và chọi quay. Anh rủ người khách họ Vương cùng thả quay, chọi quay ra chiều tâm đắc lắm.

Để thi quay tít, người ta vẽ một vòng tròn trên đất bằng, cách vạch đứng thi khoảng ba sải tay. Mọi người dàn hàng ngang đứng ở vạch thi đấu. Chủ trò hô lên một tiếng, những con quay lao vút vào vòng quay, phát ra những tiếng kêu vù vù và quay tít, con quay nào quay lâu nhất sẽ thắng. 

Trò chọi quay bao giờ cũng thu hút được nhiều người chơi. Một người thả con quay ra để làm mồi. Những người khác vung tay lên, bổ quay của mình từ trên xuống, giáng mạnh vào con quay mồi khiến nó bị lảo đảo, có khi bị vỡ toác ra. Nếu chọi trúng thì thôi, còn chọi không trúng thì con quay chọi lại phải thay thế con quay mồi. 

Bàn Thị Liên rủ Hoàng sang bên sân múa khèn. Làm như mình là chủ nhà, đôi môi mịn đỏ như cánh hoa đào của Liên giảng giải cho Hoàng:

– Múa khèn được coi như môn chơi tài tử cao sang nhất, thể hiện tài kinh bang tế thế của người con trai H’Mông đấy. Anh muốn lấy vợ ở đây thì phải học cho giỏi điệu múa khèn này nhé!

– Nhưng đã có ai dạy anh đâu. Để anh nói với bố cho em dạy anh nhé?

– A, cũng bắt đầu biết dẻo cái miệng rồi đây. Kiểu này con trai người H’Mông Nùng Xín này mai kia bắt gái thua anh cho mà xem.

Liên đấm thùm thụp vào vai Hoàng, cười nghiêng ngả.

Mọi người quây quanh người khách họ Vương từ Chí Sần xuống xem anh ta múa khèn. Ai đã chiêm ngưỡng những đường lượn, đường vòng mà người khách này đang thể hiện đều trầm trồ trước những thế đi, nước lùi của Vương. Anh ta múa lúc như con nai ngơ ngác, lúc như cơn gió mát nhẹ nhàng, khi như con công chụm chân xòe cánh, khi lăn tròn, lộn nhào, quay tít như vũ bão. Người họ Vương múa xong bài khèn, đám thanh niên xô đến, tay bắt, tay mừng, rót rượu mời, lại chúc tụng anh ta bằng những lời pàng lỳ (hoa mỹ) mà người H’Mông chỉ để dành riêng cho người có tài năng, được dân bản quý trọng.

Xem hết múa khèn, hai người lại dắt tay nhau sang đám hát gầu plềnh. Liên bảo Hoàng:

– Đây là đám thường có mặt những thanh niên trai gái đang độ thanh xuân hát tình ca đối đáp. Họ hát vừa để thi thố tài nghệ, vừa để tìm hiểu nhau. Nhưng đám hát này cũng không thiếu những người đã yên nơi chốn, bởi luật chơi cho phép họ được như vậy.

– Thế vợ chồng họ không ghen nhau à?

– Ô hay. Nếu cấm thì họ mới ghen chứ, còn cuộc vui này có cấm đâu. Ở đây thoải mái như trên sân khấu ấy. Ai cũng cứ hát tự nhiên, mắt cứ đưa tình, lời cứ âu yếm. Nhưng nếu ai có ý sáp lại gần nhau thì lập tức sẽ có ngay chiếc gậy trúc của xử quan chỉ vào nhắc nhở.

Liên còn đưa Hoàng đi qua triền núi dìu dặt tiếng kèn lá bay bổng của những đôi trai gái gọi mời nhau, đến xem những người chơi nhị, thổi sáo bịt và sáo lưỡi đồng, gẩy đàn môi. Đám người này được tùy thích nhập đám hoặc chơi riêng một mình. Nghe họ thả ra những âm thanh dìu dặt, quyện vào nhau như những lời thề non, hẹn biển mà Hoàng thấy lòng mình cũng bồi hồi như đang xao xuyến cùng tâm tư, tình cảm của họ vậy. 

Đám thi bắn nỏ qui định tiêu điểm bằng một chiếc lá nhỏ, di chuyển nhanh như chim bay hay sóc lượn. Lần lượt từng người một vào bắn để phân thắng bại. Người thiện xạ sẽ được ban thưởng một bầu rượu ngon. Ở đám này người khách họ Vương cũng thể hiện tài năng xuất chúng. Anh ta bắn phát nào trúng chiếc lá phát ấy, khiến ai ai cũng ngưỡng mộ. Cả hội quây lấy người họ Vương này, mời mọc như bạn bè đồng tộc gần gũi và thân tình.

Đi vòng một lượt, Liên và Hoàng lại về chỗ ba cây nêu chụm vào nhau. Các vò, các chum rượu cần được đặt xung quanh hoặc trong những căn lều, ở những gốc cây. Có chiếc chứa rượu chua, có chiếc chứa rượu nếp thơm. Mỗi chiếc đều cắm sẵn cần, ai muốn uống bao nhiêu tùy thích. Lại có cả những chum mở nắp để ai thích thì múc ra bát mời nhau, vừa tình cảm, vừa trân trọng. 

Liên đưa cái ống hút cho Hoàng kèm theo ánh mắt tinh nghịch:

– Hai anh em mình làm một hơi nhé?

– Anh chịu thôi. Say chết.

– Rượu cần mà. Không say đâu. Anh thử đi.

Nói rồi Liên ngậm vào đầu ống hút, má hóp lại, rít một hơi. Hoàng cũng bắt chước làm theo. Cảm giác ngòn ngọt, chua chua êm ái trôi qua cuống họng khiến lòng anh lâng lâng. Hoàng không biết sự êm ái, lâng lâng ấy đến từ đâu? Từ men rượu? Từ ánh mắt, nụ cười, làn môi, khuôn mặt của người con gái đi bên anh? Hay từ tất cả? Những bụi mưa xuân ngập ngừng đậu vào má anh và ý nghĩ vui vui kia chợt đến làm Hoàng như người say rượu.

*

Đêm hôm đó những đống lửa được đốt lên tại bãi hội để mọi người tiếp tục cuộc vui. Khách đường xa được mời về gia chủ nghỉ ngơi. Liên và Hoàng theo chân đám nhảy vào nhà thầy mo Triệu làm lễ nhảy người H’Mông gọi là đha thàng hoặc nhảy đồng tức là nhảy tập thể tốp nam hoặc tốp nữ

Mở đầu thầy mo Triệu đánh chiêng phía sau lưng tốp nhảy. Khi cả tốp đã đồng loạt cùng nhảy lùi, rồi nhảy tiến theo bốn hướng thì độ nhặt khoan của tiếng chiêng càng lúc càng vang lên rộn rã, khiến đám đông cũng mỗi lúc một run rẩy nhảy theo. Trong lúc nhảy, người nam có thể nắm tay một người nữ cùng nhảy cho vui. Khi tiếng chiêng đến độ cao trào mà ai nhảy không run lên được, thầy mo Triệu sẽ phải ra tay bằng cách đệm quẻ bói dưới chân, đốt một thẻ giấy, lấy tro hòa nước, phun vào người, buộc người đó phải nhảy. Họ nhảy cho đến lúc mệt. Cánh đàn ông lần lượt quì lạy trước bàn thờ, lạy ba lạy theo ba hướng phía trước, bên phải và bên trái người lạy, cánh đàn bà chạy ra ngoài hoặc ra phía bếp lò. Lúc đó đám nhảy mới tạm dừng nghỉ. 

Thấy Hoàng ngơ ngác, Liên kéo ra một góc giảng giải:

– Nhảy đồng là điệu nhảy mang tính chất của lễ hội sa-man giáo. Đó là một hình thức tôn giáo cổ xưa thông qua những người môi giới để giao tiếp với thần linh, nhờ thần linh giúp đỡ những điều mình mong muốn. Ý nghĩa của nó là cầu mong sức khỏe, cầu mong mùa màng tốt tươi, cầu mong đất trời thuận hòa, cầu mong thần linh ma quái không gây ra những điều oan trái. Nhảy đồng làm con người như được thôi miên, hồn chập cheng ra ngoài thân xác, khiến người nhảy có cảm giác được bay bổng vào cõi mơ.

Hoàng tỏ ra khâm phục:

– Sao cái gì em cũng biết thế?

– Ô hay! Em là cô giáo mà. Với lại đây là những nét văn hóa dân tộc của em, em không biết hóa ra mất gốc à?

Hai người cùng nắm tay nhau, cười.

*

Qua ba ngày là hết hội. Thầy mo Triệu cùng gia chủ Thào Sính Lùng làm lễ hạ cây nêu xuống. Họ chọn một đôi nam nữ đứng tuổi, đông con cùng rước cây nêu về nhà Sính Lùng. Trên đường về thầy mo Triệu đốt thẻ giấy lấy than cho vào gáo nước, vừa đi vừa cầu khấn. Sau mỗi đoạn khấn vái, thầy lại nhấp một ngụm nước phun ra xung quanh. Gia chủ cầm bầu rượu hạ từ trên cây nêu đi theo thầy mo, cũng phun rượu theo. Mảnh vải đỏ được mang về treo trong nhà Thào Sính Lùng, cầu mong hồng phúc cho dân bản. Còn cây nêu được bổ ra làm giát giường cho vợ chồng nằm, để mong sang năm mới sớm có con.

Thế là kết thúc lễ hội Gầu Tào, một lễ hội mà bất cứ ai ở Nùng Xín này đều mong ngóng suốt cả một năm trời bắt đầu từ mùa hoa đào năm ngoái.

Truyện ngắn của Vũ Quốc Khánh




Nguồn: Arttimes.vn

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam


Ngày 6/2, cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức Tổng kết hoạt động năm 2025 và Gặp mặt nhân dịp mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại trụ sở số 51, Trần Hưng Đạo, Hà Nội.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 1

Chương trình Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Phát biểu tại chương trình, PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã khái quát một số nét tiêu biểu của đời sống văn học nghệ thuật nước ta trong năm 2025. Theo ông, trong bối cảnh diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm cùng các sự kiện chính trị, lịch sử có ý nghĩa quan trọng, đời sống văn hóa – văn nghệ vừa được tiếp thêm động lực phát triển, vừa đứng trước những yêu cầu ngày càng cao; qua đó đặt ra vai trò chủ động của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong công tác tham mưu, tổ chức, phối hợp triển khai các hoạt động chuyên môn và hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động sáng tạo.

Đảng ủy và Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam luôn xác định công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quán triệt chủ trương của Đảng là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng và định hướng sáng tạo. Đồng thời, tiếp tục thể hiện rõ chức năng đầu mối phối hợp, khẳng định Liên hiệp là cơ quan tham mưu chiến lược cho Đảng và Nhà nước về các chủ trương, chính sách về phát triển văn học nghệ thuật.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 2

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phát biểu.

Theo PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, Đảng ủy và Thường trực Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt là việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đầu mối bên trong cơ quan và các tổ chức Hội Văn học nghệ thuật thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý, bảo đảm tinh gọn về tổ chức, rõ chức năng, nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chung của Liên hiệp.

Về tổ chức bộ máy, cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cơ bản giữ phương thức hoạt động như hiện nay nhưng có đổi mới, tinh gọn theo hướng: sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị văn phòng, các ban chuyên môn theo hướng ghép, sáp nhập giảm số lượng phòng, ban đảm bảo đồng bộ, thống nhất cả về số lượng đơn vị và tên gọi.

Đối với cơ quan Liên hiệp, việc sắp xếp kiện toàn từ 8 đầu mối còn 3 đầu mối, gồm: Văn phòng, Ban Chuyên môn nghiệp vụ, Ban Công tác các Tổ chức thành viên. Liên hiệp có 2 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, gồm: Thời báo Văn học nghệ thuật và Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cũng cho biết, trong năm qua, các mặt công tác của Liên hiệp tiếp tục được quan tâm triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực. Hoạt động của Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học nghệ thuật được duy trì nền nếp; công tác hỗ trợ sáng tạo được triển khai đa dạng và hiệu quả; hoạt động thi đua – khen thưởng; đối ngoại nhân dân; công tác xét chọn và trao Giải thưởng Văn học nghệ thuật được tổ chức nghiêm túc, đúng quy định. Những hoạt động này đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy đời sống sáng tạo, nâng cao chất lượng tác phẩm và các công trình văn học nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bên cạnh việc chỉ đạo và tổ chức các hoạt động chuyên môn, Thường trực Đoàn Chủ tịch tiếp tục tham gia và phối hợp hoạt động với các ban, ngành, đoàn thể Trung ương về công tác Văn học nghệ thuật; tham dự một số hoạt động tiêu biểu của các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố; kịp thời có những ý kiến chỉ đạo, nắm bắt những ý kiến, kiến nghị từ cơ sở, tạo sự gắn kết giữa các tổ chức thành viên, giữa các tổ chức thành viên với Liên hiệp.

Tại chương trình, PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã thay mặt lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam công bố Quyết định “Về việc tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” cho 6 tập thể thuộc các Cụm thi đua tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Khối thi đua bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, đã có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua năm 2024. Trong đó, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vinh dự được tặng bằng khen “Đã có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua năm 2024 Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức liên hiệp”.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 3

Đại diện cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cũng tặng Bằng khen cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác năm 2025 cho 9 cá nhân là cán bộ, công chức và người lao động thuộc cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua” năm 2025 cho 3 cán bộ cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác năm 2025.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 4

TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua” năm 2025 cho 3 cán bộ cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đồng thời, tặng bằng khen cho 2 tập thể thuộc cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vì đã có thành tích xuất sắc trong năm 2025, gồm: Ban Chuyên môn nghiệp vụ và Ban Công tác Tổ chức các thành viên.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 5

TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao bằng khen cho 2 tập thể có thành tích xuất sắc trong năm 2025.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 6

Các cán bộ, nhân viên cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Nhân dịp này, trong không khí phấn khởi của Xuân Bính Ngọ 2026, Thường trực Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức buổi gặp mặt thân mật các cán bộ hưu trí Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 7

Lãnh đạo và các cán bộ hưu trí Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tại buổi gặp mặt.

PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam chủ trì buổi gặp mặt. Tham dự còn có lãnh đạo Liên hiệp, các đơn vị Văn phòng, các ban chuyên môn và đại diện đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Xe máy bị cuốn vào gầm ô tô tải khi vào cua, thoát chết trong gang tấc


Khoảnh khắc thót tim khi một xe máy va chạm với ô tô tải lúc cùng vào cua, bánh xe tải chèn qua xe máy khiến người điều khiển suýt gặp tai nạn nghiêm trọng.




Nguồn: Arttimes.vn

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới


Ngày 7/2, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bác Bùi Thị Minh Hoài – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã trình bày chuyên đề “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới”.

Thời báo Văn học nghệ thuật trân trọng giới thiệu toàn văn chuyên đề “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới” của bác Bùi Thị Minh Hoài.

CHUYÊN ĐỀ “PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI”

Kính thưa đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm,

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam;

Kính thưa các đồng chí dự Hội nghị!

Thực hiện sự phân công của Ban Tổ chức Hội nghị, sau đây, tôi xin trình bày chuyên đề “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới”.

Thưa các đồng chí,

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, là đường lối chiến lược, “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta; là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thấm nhuần lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo nên lịch sử và tư tưởng “Dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng, đưa dân tộc ta, đất nước ta làm nên những thắng lợi vĩ đại, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, từ đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đến công cuộc đổi mới đất nước. Mỗi bước ngoặt lịch sử đều in đậm dấu ấn của sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trải qua các kỳ đại hội, đặc biệt qua 40 năm đổi mới, quan điểm của Đảng ta về phát huy sức mạnh của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện ngày càng sâu sắc, toàn diện.

Đại hội XIV của Đảng trên cơ sở đánh giá sâu sắc thành tựu của đất nước qua 40 năm đổi mới, nhất là thành tựu nhiệm kỳ XIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của Nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là sức mạnh của quốc gia và đề ra những chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ để tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện mục tiêu phát triển, xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

40 năm thực hiện đường lối đổi mới, trong đó có 05 năm nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã trở thành nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao với định hướng XHCN được giữ vững; vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của quốc gia được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, nâng lên rõ rệt; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc. Những thành tựu đó là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta và là minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới, phát triển đất nước theo con đường CNXH mà Đảng ta và Nhân dân ta đã lựa chọn. Những kết quả, thành tựu phát triển đó cũng chính là kết quả của sự đóng góp công sức, trí tuệ, cống hiến của mọi tầng lớp nhân dân, của doanh nhân, trí thức, của các dân tộc, của chiến sỹ, đồng bào và kiều bào ta ở nước ngoài…

Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đã rút ra 05 bài học kinh nghiệm quý báu sau 40 năm đổi mới, trong đó bài học về phát huy sức mạnh của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được nêu rõ tại bài học thứ ba, đó là: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”. Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”. Từ bài học kinh nghiệm trên, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của Nhân dân trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới - 1

Bà Bùi Thị Minh Hoài trình bày chuyên đề tại Hội nghị.

Sau đây tôi xin trình bày những quan điểm của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng:

Bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, trong bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, chuyển biến nhanh, khó lường, khó đoán định, đất nước ta bên cạnh những thuận lợi, mở ra những cơ hội lịch sử, bước ngoặt cho sự phát triển mạnh mẽ, song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước. Trước ảnh hưởng của toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư; sự tác động đa chiều của thông tin, mạng xã hội và âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết từ các thế lực thù địch, thì việc củng cố và phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò trung tâm, vai trò chủ thể của Nhân dân trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 và khát vọng xây dựng đất nước ta hùng cường, thịnh vượng. Trong đó, quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện đại hội XIV của Đảng, đó là:

(1) Quan điểm “Dân là gốc”, dân là chủ thể, là trung tâm, là mục tiêu, là động lực của sự phát triển

Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; lấy sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu.

(2) Quan điểm “dân là chủ, dân làm chủ”

Để đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, cần xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình.

Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có cơ chế phù hợp, thuận lợi và tin cậy để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước; nêu cao trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của Nhân dân. Thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; chống các biểu hiện dân chủ hình thức.

Cấp uỷ, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, trách nhiệm, đạo đức xã hội. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể nhân dân trong đại diện thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.

Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân, lợi dụng dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước, làm mất ổn định chính trị – xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

(3) Quan điểm về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó:

(1) Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị – xã hội làm nòng cốt để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

(2) Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, thực sự là giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Cho đến nay, công nhân nước ta đã có hơn 15 triệu người, chiếm khoảng 15% dân số, 29% lực lượng lao động xã hội, tạo ra gần 70% giá trị tổng sản phẩm xã hội . Sau gần 40 năm đổi mới, trong đó có hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW, ngày 28/1/2008, về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng, chất lượng, bước đầu hình thành đội ngũ công nhân trí thức, có tay nghề, kỹ năng cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

(3) Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam văn minh, phát triển toàn diện, có ý chí, tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên; phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới”. Hiện nay, nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội, chiếm hơn 1/3 dân số cả nước và chiếm 49,17% số hộ ở nông thôn với hơn 9,1 triệu hộ nông dân . Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh là mục tiêu phát triển trong thời kỳ mới.

(4) Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam vững mạnh toàn diện, có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, giàu lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, có nhân cách và lý tưởng cách mạng, tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam.

(5) Chăm lo xây dựng phụ nữ Việt Nam thời đại mới, phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh, trí tuệ và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của phụ nữ; tích cực xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc. Chiếm 50,2% dân số, 47,4% lực lượng lao động, phụ nữ ngày càng khẳng định tiềm năng, vai trò và vị thế quan trọng trong gia đình, xã hội, đóng góp xứng đáng vào tiến trình phát triển của đất nước .

(6) Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam lớn mạnh, có tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng cống hiến, thượng tôn pháp luật, năng lực hội nhập và cạnh tranh quốc tế, góp phần phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo công ăn việc làm cho khoảng 82% tổng số lao động, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống của nhân dân.

(7) Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, ý chí, khát vọng cống hiến, nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, xã hội. Với hơn 20 triệu người, thanh niên là lực lượng sung sức nhất về thể chất và tinh thần, trí tuệ, khát vọng, đam mê, cống hiến; là lực lượng có tiềm năng và sức mạnh lan tỏa to lớn, luôn khát khao vươn lên, khẳng định mình, đóng góp cho Tổ quốc, cho nhân dân.

(8) Phát huy vai trò của Cựu chiến binh, Cựu công an nhân dân trong giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” và truyền thống “người công an cách mệnh”.

(9) Phát huy trí tuệ, uy tín, kinh nghiệm của người cao tuổi trong gia đình, cộng đồng và xã hội; bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi, nhất là trong điều kiện già hoá dân số nhanh. Năm 2023, dân số cao tuổi của Việt Nam đã vượt quá 16 triệu người, chiếm gần 17% số dân . Quá trình già hóa ở nước ta đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh hơn, đặt ra những thách thức to lớn về phát triển và cơ cấu lại hệ thống an sinh xã hội để thích ứng.

(10) Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển. Thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế – xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo đa chiều bền vững. Hiện nay, có 53 dân tộc thiểu số với dân số trên 14,4 triệu người, cư trú trên địa bàn chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước. Sau sắp xếp địa giới hành chính và tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp, cả nước có khoảng 1.516 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn các tỉnh, thành phố. Sau 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025, đời sống đồng bào đã có nhiều cải thiện . Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để phát triển kinh tế miền núi trong những năm qua, nhất là nhiệm kỳ Đại hội XIII, Nhà nước đã đầu tư phát triển hạ tầng nhằm kết nối các địa phương và trong địa phương tại điều kiện để miền núi phát triển. Đặc biệt, vừa qua, Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo xây dựng 248 trường liên cấp, nội trú cho các cháu học sinh các tỉnh miền núi, biên giới. Theo đó phấn đấu đến tháng 8/2026 sẽ hoàn thành, để năm học mới 2026 – 2027, các học sinh miền núi, biên giới sẽ thực hiện được ước mơ được học tại những ngôi trường mới khang trang, tươi đẹp, tạo ra nguồn nhân lực bền vững để xây dựng quê hương, đất nước.

(11) Bảo đảm, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước. Với 16 tôn giáo, gần 28 triệu tín đồ, các tôn giáo ở Việt Nam đã góp phần lưu giữ, bồi đắp và làm phong phú những giá trị truyền thống văn hóa, mang giá trị nhân văn, đạo đức, có ảnh hưởng tích cực trong đời sống xã hội. Những giá trị tốt đẹp, bác ái của các tôn giáo được cụ thể hóa thành những hành động thiết thực góp phần phát triển đất nước.

(12) Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, giữ gìn bản sắc và văn hoá dân tộc; tăng cường bảo hộ công dân; hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, hội nhập xã hội, đóng góp tích cực cho nước sở tại và đất nước ta. Hơn 5 triệu đồng bào Việt Nam, sinh sống, làm việc, học tập tại 130 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, là bộ phận không thể tách rời của dân tộc, luôn hướng về quê hương, đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước.

(4) Quan điểm tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, năng lực sáng tạo của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, truyền thống và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xác định cơ sở, nội dung cốt lõi, nguyên tắc và các hình thức, biện pháp liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân trong giai đoạn mới. Xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Nhằm cụ thể hoá và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược, đồng thời bảo đảm phù hợp với tình hình trong nước, quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ Tổ quốc giai đoạn 2026 – 2031, tầm nhìn đến năm 2045, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đồng bộ, trong đó, để phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới, Đảng ta đã chỉ rõ 5 giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung triển khai thực hiện:

Một là, xây dựng cơ chế, chính sách để thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Hai là, xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách để bảo đảm quyền Nhân dân được tham gia góp ý vào quá trình xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan đảng, nhà nước trước Nhân dân.

Ba là, cụ thể hoá các giải pháp, điều kiện để thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Bốn là, xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xây dựng đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân; các chính sách về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng và người Việt Nam ở nước ngoài.

Năm là, xây dựng tổ chức các đề án, đề tài nghiên cứu thực tiễn về thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Đồng thời, tăng cường công tác dân vận, thắt chặt và làm sâu sắc hơn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng:

Thứ nhất, Xây dựng và thực hiện các cơ chế để bảo đảm phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và tổ chức lấy ý kiến Nhân dân trong xây dựng luật pháp, chính sách phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường tiếp xúc, đối thoại giữa người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền với Nhân dân và kịp thời giải quyết kiến nghị chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú.

Thứ hai, Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo mô hình tổ chức mới, ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, hướng mạnh về cơ sở. Thực hiện Nghị quyết 18 về sắp xếp tổ chức bộ máy, ở Trung ương, Đảng đã quyết định thành lập Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương là một trong 6 đảng bộ trực thuộc trung ương, có chức năng lãnh đạo toàn diện việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tổ chức, cán bộ, công tác xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức và công tác quần chúng của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Sau một thời gian vận hành theo tổ chức bộ máy mới, vừa qua, Bộ Chính trị, giao Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan sơ kết, tham mưu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 304-QĐ/TW, ngày 10/6/2025 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp, sát thực tiễn, phát huy được hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và khắc phục những vấn đề bất cập, khó khăn.

Kính thưa các đồng chí,

Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của Đảng và cả hệ thống chính trị. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội giữ vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của Nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, chúng ta sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và quyết tâm xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn./.




Nguồn: Arttimes.vn