Home Blog Page 64

Văn hóa bay theo đường dân tộc đang bay (Tiếp cận Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa)


“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Bay theo đường dân tộc đang bay (in trong tập thơ Ta gửi cho mình, NXB Văn học, 1986) là thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Chế Lan Viên. Bài thơ được kiến thiết trên một cấu tứ có tính khái quát cao độ: Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng đập cùng nhịp thở với đời sống dân tộc trong mỗi thời đại lịch sử khác nhau “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/ Nhưng hào kiệt thời nào cũng có” (Nguyễn Trãi). Năm 2025, đất nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong bối cảnh mới, văn hóa được xác định là một trong bốn trụ cột kiến trúc xã hội (chính trị – kinh tế – xã hội – văn hóa) phát triển bền vững: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ, văn minh. Từng có một nhà thơ cảm khái với cảnh ngộ “Tôi khóc những chân trời không có người bay/ Lại khóc những người bay không có chân trời” (ngụ ý chỉ tình cảnh thiếu tự do sáng tạo cho nghệ sĩ). Song le, thực tiễn chứng minh, những tài năng thực sự bao giờ cũng tự mình tạo ra chân trời mới để bay. Họ cũng tự ý thức được sâu sắc chẳng nên nỉ non ngồi chờ ai khóc thương hộ mình.

Văn hóa bay theo đường dân tộc đang bay (Tiếp cận Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa) - 1

Ảnh minh họa.

Nghị quyết 80 – NQ/TW thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng khi “Trái đất là ngôi nhà chung của thế giới”, “Ngoài trời còn có trời”. Giới hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam trong thời điểm đặc biệt hôm nay có cơ hội nhận thức sâu sắc hơn về “dư địa” của văn hóa dân tộc trong bối cảnh thế giới mở, quốc gia đột phá trỗi dậy với khát vọng trở thành một con rồng châu Á, bay lên không chỉ nhờ vào hai con số của tăng trưởng, của những tập đoàn kinh tế tầm cỡ thế giới, hay những phát minh khoa học làm rung chuyển toàn cầu mà chủ yếu (nếu có) nhờ vào các giá trị văn hóa với truyền thống dân tộc hun đúc hàng ngàn năm “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Những mục tiêu cao cả ấy không phải là không có cơ sở hiện thực thuyết phục. Vấn đề cốt tử là chúng ta có đủ trí tuệ, sức lực và lòng dũng cảm để bay lên trên con đường tương lai?!

Bốn “đường bay” lớn của văn hóa theo “đường bay” của dân tộc

Tiếp cận văn bản Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa, trong sự đối chiếu và so sánh với các Nghị quyết trước đây (chẳng hạn gần nhất Nghị quyết 33-NQ/TW), những người làm công tác văn hóa, văn học nghệ thuật không thể không quan tâm đến những quan điểm khai mở, khai thông căn cốt và chính yếu có tính chất nền tảng chiến lược, định hướng lâu bền khi văn hóa được quan niệm như “hệ điều tiết” của phát triển nhanh và bền vững; “văn hóa như một hệ sinh thái” nhằm giải phóng năng lượng sáng tạo; “văn hóa định trục cho phát triển bền vững”; “văn hóa trở thành sức mạnh mềm” của quốc gia.

Theo nhận thức chung của giới hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật thì đây chính là bốn đại lộ, bốn đường bay lớn của văn hóa bay theo đường bay của dân tộc. Khi văn hóa được xác định là “hệ điều tiết” của phát triển nhanh và bền vững, tương ứng với cách ví von “kinh tế là tay ga, văn hóa là tay phanh”. Có thể nói, quan điểm này mang tính đột phá về văn hóa, từ đề cao vai trò dẫn dắt đến vai trò điều tiết của văn hóa như một phạm trù phổ quát, bao trùm.

Chẳng hạn, trong yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh đạt tới hai con số trong tương lai gần, chúng ta kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Bởi khái niệm/ phạm trù “xanh” đang phủ sóng, thấm vào tận chân tơ kẽ tóc của tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội (môi sinh xanh, y tế xanh, kinh tế xanh, công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, giao thông xanh, giáo dục xanh….). Ngay văn học xanh cũng đang vẫy gọi, kích thích sáng tạo của nhà văn hướng tới “con người là một phần của tự nhiên” (những áng văn điển hình như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa…).

Khi xác định “văn hóa như một hệ sinh thái” (một hệ thống mở, có tính quần xã/cộng sinh) là nói đến vai trò kích hoạt, giải phóng năng lượng sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần theo quy luật chân – thiện – mỹ. Năng lượng sáng tạo thuộc về tiềm năng, nó là tài sản, cái vốn văn hóa có tính pháp định, nhưng cần được khai phóng triệt để tạo nên lợi ích hữu dụng phục vụ nhu cầu đời sống có chất lượng của nhân dân. Hệ sinh thái mới của văn hóa, văn học nghệ thuật cần được mở rộng biên độ, giao diện trước yêu cầu thụ hưởng chân chính của quảng đại quần chúng. Trong hệ sinh thái này có sự hài hòa, bổ trợ giữa folklore (văn hóa dân gian) và văn hóa thời đại, giữa văn hóa bản địa và văn hóa thế giới theo tinh thần tiếp biến đúng đắn và có hiệu quả.

“Văn hóa định trục cho phát triển” được hiểu là một xã hội phát triển bền vững khi có chân tủy văn hóa hiện thực, vì phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế và phát triển xã hội, là quá trình tất yếu, hướng đích của mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình”. Văn hóa là định trục cho phát triển bởi đó là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững.

Bốn đường bay lớn của văn hóa tập trung hoàn hảo trong phẩm chất tối cao khi “văn hóa là sức mạnh mềm” của quốc gia, theo triết lý truyền thống “nhu thắng cương”. Sức mạnh mềm tạo nên nội lực, tiềm năng của văn hóa không chỉ trong phạm vi bản địa mà mở rộng kích tấc ra một giao diện rộng lớn hơn trong khu vực và toàn cầu, theo quan điểm và lý thuyết “địa – văn hóa” luôn song trùng với “địa – chính trị”. Nhiều nước ở khu vực Đông Bắc Á (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) thực sự kiến tạo được những sức mạnh mềm quốc gia thông qua các lĩnh vực của văn hóa như văn học, âm nhạc, điện ảnh, thời trang… Đặc biệt người Nhật đã tạo nên được một tấm gương của lối sống tối giản (nếu hiểu văn hóa là cách sống cùng nhau) theo quy luật “cái đẹp là sự giản dị”, thực sự có sự ảnh hưởng lớn ra thế giới.

Tận cùng văn hóa là con người

Chúng ta đang có cách quan niệm, cách nói mới về tài nguyên của đất nước không phải chỉ là tài nguyên thiên nhiên (rừng vàng biển bạc, ruộng đồng thẳng cánh cò bay, đất đai phì nhiêu, sản vật tự nhiên tươi tốt bốn mùa…), mà là con người của một quốc gia thuộc hàng cường quốc dân số (chạm mốc 102 triệu dân, tính đến năm 2025), như là nguồn tài nguyên chính, giàu tiềm năng, nền tảng của phát triển bền vững. Nguồn nhân lực con người là một trong ba điểm nghẽn hiện nay cần được khai phóng, tiềm năng con người cần được kích hoạt cấp số nhân, hiện thực hóa cả theo bề rộng, cả theo chiều sâu.

Trong phạm trù văn hóa thì người sáng tạo sản phẩm văn hóa tất nhiên là nhân tố then chốt, là chân tủy tạo nên các giá trị tinh thần và vật chất theo quy luật của cái đẹp. Nhưng người quản lý văn hóa, theo chúng tôi, hiện là một khâu đột phá, một thách thức cần vượt qua trong bối cảnh hiện nay. Họ thường bị hạn chế bởi mặc cảm về vị thế thiệt thòi của mình trong hệ thống quản lý nhà nước so với các lĩnh vực hoạt động xã hội khác.

Nhìn sâu vào nguồn nhân lực này (từ phương diện quản trị văn hóa) sẽ nhận ra vai trò dẫn dắt của họ trong thực tiễn xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ở họ đòi hỏi cả tâmtầm (nói theo cách trước đây là hồng thắm chuyên sâu). Khi nói đến nguồn nhân lực văn hóa, theo quan điểm biện chứng, cần thiết phải nói đến người thụ hưởng – công chúng nghệ thuật – trong hoàn cảnh mới. Không thể có một công chúng tự phát làm nền tảng cho một nền văn hóa, văn học nghệ thuật phát triển theo quy luật của chân – thiện – mỹ. Đại văn hào Nga M. Gorki từng khẳng định “Công chúng nghệ thuật cũng cần được giáo dục tốt”.

Con đường tương lai của văn hóa dân tộc tùy thuộc trước hết vào con người mới được xác định như là những nhân cách văn hóa hoạt động trong những không gian văn hóa nhân văn – những chân trời sáng tạo.

Bùi Tùng Ảnh




Nguồn: Arttimes.vn

Ngựa trong thi ca Việt


Trong các con vật của hệ can chi, ngựa là một trong hai con vật (cùng với chó) được đánh giá cao nhất về mức độ thủy chung tình nghĩa bởi có câu khuyển mã chi tình. Cũng có thể nói, ngựa là một trong những loài vật rất thông minh và biết bày tỏ cảm xúc của mình với con người. Đời sống của cộng đồng cư dân Việt Nam cổ truyền vốn gắn bó với trâu nhiều, thế nhưng ngựa vẫn đi vào khá nhiều thành ngữ tục ngữ ca dao và trở thành nguồn cảm hứng lớn cho văn học nghệ thuật từ xưa đến nay.

1. Con ngựa được dùng làm biểu trưng cho nhiều phẩm chất, trạng thái, kết quả tốt đẹp như: thẳng thắn (Thẳng như ruột ngựa), đoàn kết, chia sẻ (Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ), mạnh mẽ (Đường dài mới hay sức ngựa), giàu sang, được trọng vọng (Lên xe xuống ngựa), thành công (Mã đáo thành công). Ngựa cũng được dùng làm biểu trưng cho nhiều câu chuyện, tình huống phong phú khác trong đời sống như: Ngựa non háu đá (chỉ những người trẻ tuổi có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn), Cưỡi ngựa xem hoa (chỉ những người làm việc qua loa, không cẩn thận), Ngựa quen đường cũ (ý nói chứng nào tật ấy, không sửa chữa được sai lầm khuyết điểm của mình), Ngựa lồng cóc cũng lồng (chỉ sự đua đòi bắt chước một cách lố bịch), Làm thân trâu ngựa, Kiếp trâu ngựa (chỉ những người phải hầu hạ kẻ khác, cuộc sống khổ cực đọa đày).

Ngựa cũng đi vào những câu ca dao thể hiện những quan sát, kinh nghiệm cuộc sống, biểu lộ tình cảm của con người: “Ngựa hay chẳng quản đường dài/ Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng, Đường dài ngựa chạy biệt tăm/ Người thương có nghĩa, trăm năm cũng về”. Có câu ca dao về ngựa gắn với sự kiện lịch sử trọng đại. Khi nghĩa quân của Lê Lợi tiến về đóng ở bến Bồ Đề, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công đánh đuổi quân Minh, dân gian đã truyền tụng câu ca: “Nhong nhong ngựa ông đã về/ Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”.

Ngựa trong thi ca Việt - 1

Tranh ngựa của họa sĩ Lê Trí Dũng.

2. Với một đất nước phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh trong suốt chiều dài lịch sử, ngựa là phương tiện không thể thiếu trong chiến đấu, di chuyển, truyền tin. Nói đến ngựa có khi cũng là cách để tỏ rõ lòng quyết tâm chiến đấu chống quân xâm lược, như những câu trong Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt nước mắt đầm đìa. Chỉ tiếc rằng chưa được xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”. Trong Chinh phụ ngâm, hình ảnh người trai dũng mãnh lao ra trận tiền, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng được ghi lại cũng gắn với hình ảnh da ngựa:

“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

Giã nhà đeo bức chiến bào

Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu”.

Nhưng cũng trong thời trung đại, con ngựa còn đi vào thơ với những sắc thái đặc biệt khác. Trong thơ Ninh Tốn (1744 – 1795), một đại thần thời Lê Trung Hưng và Tây Sơn, hình ảnh con ngựa gắn với vẻ đẹp yêu kiều của người phụ nữ:

“Dương liễu xuân đê chính trước thiên

Vô đoan mã thượng kiến thuyền quyên

Bí trì ngọc lộ song chi duẩn

Yên cứ kim loan lưỡng ngẫu liên”

(Đang vút roi xuân đê liễu biếc

Ngựa ai chợt thoáng bóng thuyền quyên

Đôi chồi măng ngọc ghì cương lụa

Hai ngó sen vàng kẹp nép yên)

(Mã thượng mỹ nhân).

Ngựa (mã) cũng là tên một quân cờ trong trò chơi cờ tướng. Trong bài thơ Đánh cờ người được tương truyền là của Hồ Xuân Hương, hình ảnh con ngựa xuất hiện với ý nghĩa nước đôi lấp lửng, nửa nói về việc chơi cờ, nửa nói về việc luyến ái nam nữ:

“Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa/

Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên”.

Ngựa trong thơ Bà huyện Thanh Quan lại là hoài niệm về một quá vãng đã lùi xa:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

(Thăng Long thành hoài cổ).

Đại thi hào Nguyễn Du lại nhắc đến ngựa trong bài Thành hạ khí mã (Ngựa bỏ chân thành) với một nỗi niềm khác. Dù không tránh khỏi nỗi bùi ngùi vì bị bỏ rơi, bị lãng quên song con ngựa già không vì thế mà mất đi cốt cách khí chất của một thời đã từng tung hoành trận mạc:

“Ngựa già ai bỏ góc thành hoang

Lông nám đuôi cùn da bọc xương

Lạnh ấy cỏ thu đường thạch lũy

Mây un ngày tối dặm sa trường

Ơn người, đói vẫn không cầu cạnh

Nợ nước, già đâu ngớt vấn vương

Sương gió, tánh trời mừng giữ vẹn

Thân đừng vướng nữa nghiệp yên cương”

(Quách Tấn dịch).

Sang thời hiện đại, trong thơ kháng chiến, hình ảnh con ngựa con đi vào thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh và thơ Tố Hữu, đều gắn với niềm vui thắng trận:

“Tin vui thắng trận dồn chân ngựa

Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài”

(Tặng Bùi Công – Hồ Chí Minh)

“Tin về nửa đêm

Hỏa tốc hỏa tốc

Ngựa bay lên dốc

Đuốc chạy sáng rừng

Chuông reo tin mừng

Loa kêu từng cửa”

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu).

Trong thời kỳ Thơ Mới, người đưa ngựa vào thơ nhiều nhất có lẽ là Nguyễn Bính. Với 7 tập thơ xuất bản trước cách mạng, ngựa đã xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính tới 11 lần, chiếm đầu bảng so với các loài động vật khác. Bản thân Nguyễn Bính cũng là một nhà thơ tuổi Ngựa (ông sinh năm Mậu Ngọ 1918), có lẽ vì thế mà ngựa trong thơ ông được ưu ái hơn chăng. Thi sĩ từng tự ví mình là ngựa:

“Em vốn đường dài thân ngựa lẻ

Chị thì sông cái chiếc đò nan

Buổi chiều đứng ngắm mây lưu lạc

Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng”

(Xuân lại tha hương).

Ngựa trong thơ Nguyễn Bính đưa người đọc trở về một thời xưa cũ của nông thôn Bắc Bộ ngày trước, có niềm vui vinh quy bái tổ của người chồng đỗ đạt, người vợ ngóng chờ:

“Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy

Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng

Tôi ra đứng tận gốc bàng

Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem”

(Thời trước).

Ngựa gắn với bước đường giang hồ lữ thứ của người lữ khách:

“Chim nào kêu mỏi ngàn cây

Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy giong xe”

(Đường rừng chiều)

Ngựa cũng gắn với những mong ngóng, chờ đợi, ước ao trong tình yêu đôi lứa:

“Từ đấy về đây xa quá đỗi

Đường đi bằng ngựa hay bằng thuyền”

(Nhớ)

“Chua xót lòng tôi mơ ước mãi

Áo bào nguyệt bạch, ngựa kim ô”

(Một trời quan tái).

Ngựa cũng gắn cả với những câu chuyện buồn về sinh ly tử biệt:

“Một chiếc xe tang màu trắng đục

Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi”

(Viếng hồn trinh nữ)

“Chiêu Quân lên ngựa mất rồi”…

(Một con sông lạnh).

3. Trong ca khúc Việt Nam hiện đại, một số nhạc sĩ cũng đã đưa ngựa trở thành hình tượng trung tâm của ca khúc như Trần Tiến với Tùy hứng lý ngựa ô, Phạm Duy – Ngọc Chánh với Vết thù trên lưng ngựa hoang. Trần Tiến đã phát triển và sử dụng chất liệu dân ca Nam Bộ để viết tiếp câu chuyện về tình yêu: “Dưới bóng cây ngô đồng, có con ngựa dừng chân, có hai người yêu nhau… Khớp khớp khớp khớp con ngựa ô ngựa ô ngựa ô ngàn năm thương nhớ. Đất nước có bao bài ca tình yêu ngựa ô, để anh đón nàng”. Phạm Duy – Ngọc Chánh thì viết ca khúc dựa theo ý tiểu thuyết của nhà văn Duyên Anh, gửi gắm số phận bi kịch của một con người tưởng đã nắm được hạnh phúc trong tay nhưng kết thúc lại là cái chết nghiệt ngã: “Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình. Thảm cỏ tình yêu dưới chân mình. Ân tình mở cửa ra với mình. Ngựa hoang bỗng thấy mơ để quên những vết thù… Ngựa hoang về tới bến sông rồi. Cởi mở lòng ra với cõi đời. Nhưng đời làm ngựa hoang chết gục. Và trên lưng nó ôi còn nguyên những vết thù”.

Nhưng người đưa ngựa vào các ca khúc một cách đậm đặc nhất phải kể đến Trịnh Công Sơn. Ngựa trong ca từ Trịnh Công Sơn có khi diễn tả sự trôi chảy của thời gian: “Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ. Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa” (Một cõi đi về). Ngựa gắn với những đau thương, những phai tàn trong một cuộc chiến chưa đến hồi kết: “Ngựa hồng đã mỏi vó/ Chết trên đồi quê hương” (Xin mặt trời ngủ yên). Ngựa gắn với những nỗi mơ hồ khó nắm bắt, như muốn níu kéo những gì chỉ còn là hoài niệm: “Ngựa buông vó, người đi chùng chân đã bao lần” (Dấu chân địa đàng).

Ngựa cũng là tiếng reo vui trong ước mơ ngày đất nước thống nhất: “Ngựa bay trong gió lòng reo muôn vó, cho dân ta bừng lớn trong tự do” (Huế, Sài Gòn, Hà Nội). Ngựa gắn với tình yêu đôi lứa, với kỷ niệm một thời không thể nào quên: “Vó ngựa tình sâu đất nồng nỗi nhớ” (Thuở Bống là người), “Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng, nối xôn xao hàng quán đêm đêm” (Em còn nhớ hay em đã quên). Ngựa gắn với những triết lý, suy tư về đời sống, về cái hữu hạn và vô hạn, về thân phận và kiếp người: “Hay mình đã lạc loài? Vó ngựa trên đời hay dấu chim bay?” (Xa dấu mặt trời), “Người nhìn mãi, theo từng chuyến xe ngựa qua rồi. Người nhìn dấu, xe lăn đi dấu lăn trên đời. Ngựa xa rồi, người vẫn ngồi, bụi về với mây” (Phúc âm buồn).

Trong ca khúc có dung lượng dài nhất của Trịnh Công Sơn, có dáng dấp như một trường ca, bài Đóa hoa vô thường cũng có hình ảnh ngựa, cụ thể là tiếng ngựa như một nhắc nhở, một day dứt, một thức tỉnh, một đốn ngộ: “Từ đó trong hồn ta/ Ôi tiếng chuông não nề/ Ngựa hí vang rừng xa/ Vọng suốt đất trời kia”. Tóm lại, ngựa đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật nhiều mặt, đa nghĩa trong ca từ của Trịnh Công Sơn.

Ngựa còn xuất hiện trong một số ca khúc thiếu nhi đầy nhí nhảnh tươi vui mà mỗi lần nhẩm theo lời bài hát, mỗi chúng ta lại như được cầm trong tay tấm vé để trở về tuổi thơ trong trẻo. Xin được dùng phần lời của hai ca khúc để khép lại bài viết này: “Bố là tàu lửa bố là xe hơi. Bố là con ngựa em cưỡi em chơi” (Bố là tất cả – Nhạc và lời: Thập Nhất), “Nhong nhong nhong cha làm con ngựa. Để cho con lên cưỡi trên lưng. Nhong nhong nhong cha làm con ngựa. Để cho con vui thỏa tiếng cười. Nhong nhong nhong ngựa cha mệt quá. Con không biết con nói ngựa phi. Nhong nhong nhong ngựa phi tận cùng. Hai cha con cùng ngã lăn đùng” (Nhong nhong nhong – Nhạc và lời: Thế Hiển).

Đỗ Anh Vũ




Nguồn: Arttimes.vn

Bảo đảm các chương trình văn hóa, nghệ thuật lành mạnh; triển khai thiết thực các hoạt động Tết trồng cây


Chiều 22/2 (mùng 6 Tết Bính Ngọ 2026), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì họp Thường trực Chính phủ đánh giá tình hình Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm sau Tết, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Dự hội nghị có các Phó Thủ tướng Chính phủ; Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; lãnh đạo các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Hội nghị đánh giá, triển khai Chỉ thị của Ban Bí thư về tổ chức Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 1 Chỉ thị, 4 Công điện, Quyết định và nhiều văn bản chỉ đạo liên quan khác, tổ chức các hoạt động chào mừng Đại hội XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Các bộ, cơ quan, địa phương đã quán triệt và kịp thời triển khai các mặt công tác với tinh thần “không để ai không có Tết”, đạt các mục tiêu đề ra theo chỉ đạo của Ban Bí thư và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Bảo đảm các chương trình văn hóa, nghệ thuật lành mạnh; triển khai thiết thực các hoạt động Tết trồng cây - 1

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì họp Thường trực Chính phủ đánh giá tình hình Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm sau Tết

Kết luận cuộc họp, điểm lại kết quả tích cực, toàn diện, trên tất cả các mặt trong công tác phục vụ người dân vui Xuân – đón Tết, cũng như các hoạt động trong suốt những ngày Tết Nguyên đán, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, cả nước đã vui Xuân, đón Tết vui tươi, ấm cúng, an toàn, lành mạnh, nghĩa tình theo đúng Chỉ thị của Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời phục vụ tốt, hiệu quả chuyến công tác rất thành công của Tổng Bí thư Tô Lâm đến Hoa Kỳ; kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục nâng cao; độc lập, chủ quyền được giữ vững, vị thế và uy tín đất nước nâng cao.

Biểu dương các bộ, ngành, địa phương, nhất là người đứng đầu, các lực lượng y tế, công an, quân đội, công nhân, kỹ sư và các lực lượng khác đã nỗ lực, hy sinh niềm vui riêng vì đất nước, vì nhân dân, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, nhiệm vụ của năm 2026 rất nặng nề.

Thủ tướng nhắc lại mục tiêu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát; thúc đẩy tăng trưởng; đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế; kiểm soát tốt bội chi ngân sách Nhà nước, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và nâng cao vị thế đất nước; đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, an dân.

Nhấn mạnh phải bắt tay ngay vào làm việc ngay từ ngày đầu, Thủ tướng yêu cầu khẩn trương trình ban hành Chỉ thị của Thủ tướng đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau Tết với tinh thần “ăn Tết gọn, làm việc sớm, vào việc ngay” theo đúng chỉ đạo của Ban Bí thư.

Về các nhiệm vụ chung, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo dõi sát tình hình đất nước và thế giới để phản ứng linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, điều hành không giật cục; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, lao động, tài chính, ngân sách, chi tiêu, định mức, tiết kiệm chống lãng phí, cắt giảm chi không cần thiết; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu giải ngân đạt 100%; thực hiện nghiêm các chỉ đạo, quyết liệt tháo gỡ thẻ vàng IUU; tăng cường quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội; bảo đảm các chương trình văn hóa, nghệ thuật lành mạnh; triển khai thiết thực các hoạt động Tết trồng cây; thực hiện đầy đủ, hiệu quả chính sách an sinh xã hội; đẩy nhanh tiến độ xây dựng 100 trường phổ thông nội trú liên cấp biên giới, chuẩn bị khởi công 148 trường còn lại đồng loạt trong tháng 2 này.

Bảo đảm các chương trình văn hóa, nghệ thuật lành mạnh; triển khai thiết thực các hoạt động Tết trồng cây - 2

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo dõi sát tình hình đất nước và thế giới để phản ứng linh hoạt, kịp thời, hiệu quả

Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng chỉ đạo tập trung nguồn lực xây dựng, bảo đảm chất lượng các dự án luật; khẩn trương xây dựng, ban hành, trình ban hành các quy định chi tiết thi hành luật đã ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026; tập trung thực hiện kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2026-2030; làm tốt việc tổ chức tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính chính quyền địa phương 2 cấp; thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tổ chức thi hành án dân sự.

Các bộ, ngành, địa phương phải tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các nghị quyết của Quốc hội, các nghị quyết, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chuẩn bị tốt công tác bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031; tập trung phát động, triển khai sâu rộng các phong trào thi đua, khen thưởng kịp thời.

Nhấn mạnh yêu cầu thực hiện “1 mục tiêu, 2 bảo đảm, 3 có, 4 không, 5 hóa, 6 rõ” trong triển khai các nhiệm vụ, Thủ tướng Chính phủ kêu gọi cán bộ, công nhân viên trên cả nước phát huy tinh thần thi đua yêu nước, thực hiện tốt chức trách cao nhất có thể, thi đua lao động sáng tạo, đổi mới; yêu cầu các thành viên Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ động thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao với tinh thần “Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, thì chỉ bàn làm – không bàn lùi”./.



Nguồn: Arttimes.vn

Hàng loạt nhà sản xuất ô tô tính hướng phát triển mới


Các nhà sản xuất ô tô tính hướng phát triển bền vững và linh hoạt hơn.

Năm 2026, ngành công nghiệp ô tô toàn cầu đứng trước bối cảnh rất khác, khi những kỳ vọng đơn giản về việc xe điện nhanh chóng thay thế động cơ đốt trong nhường chỗ cho cái nhìn thực tế hơn, buộc mỗi thị trường, mỗi nhà sản xuất phải tự chọn con đường phù hợp nhất với năng lực và thị hiếu khách hàng.

Toyota – hãng xe có doanh số đứng đầu thế giới năm 2025 – lúc này đứng trước bước ngoặt. Loạt quyết định chiến lược mới công bố cho thấy hãng đang chủ động điều chỉnh để thích nghi với bối cảnh toàn cầu mới với những biến động sâu sắc về môi trường chính sách, công nghệ và chuỗi cung ứng, là nơi tăng trưởng không còn đến từ mở rộng ồ ạt mà từ khả năng cân bằng giữa lợi nhuận, môi trường và rủi ro hệ thống.

Chiến lược sản phẩm Toyota trong năm 2026 tiếp tục xoay quanh hybrid (HEV) – vốn là lợi thế cốt lõi đã giúp hãng vượt xa các đối thủ trong năm qua. Mục tiêu tăng sản lượng xe hybrid trên toàn cầu 30% vào năm 2028 cho thấy: Toyota không chạy theo xu hướng thuần điện bằng mọi giá, mà chọn con đường phù hợp hơn với điều kiện hạ tầng và thu nhập tại nhiều thị trường.

Hàng loạt nhà sản xuất ô tô tính hướng phát triển mới - 1

“Hybrid” sẽ là từ khóa chính của ngành công nghiệp ô tô năm nay. 

Một điểm nhấn đáng chú ý là Toyota thay đổi nhân sự cấp cao. Ngày 6/2, hãng thông báo thay thế Giám đốc điều hành (CEO) Koji Sato bằng Giám đốc tài chính (CFO) Kenta Kon. Động thái này phản ánh ưu tiên mới: Quản trị tài chính và kiểm soát rủi ro trong bối cảnh bất định gia tăng.

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, bài toán giờ đây không chỉ là bán nhiều xe hơn mà là duy trì biên lợi nhuận, phân bổ vốn hiệu quả và đảm bảo dòng tiền cho các khoản đầu tư dài hạn. Hãng cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 sử dụng khoảng 30% vật liệu tái chế trong sản xuất – bước chuẩn bị sớm trước các quy định ngày càng nghiêm ngặt của Liên minh châu Âu (EU) về kinh tế tuần hoàn và phát thải.

Tương tự “đồng hương”, Honda đang ưu tiên sự cân bằng giữa tăng trưởng, kiểm soát rủi ro và chuẩn bị cho những thay đổi dài hạn về chính sách cũng như công nghệ – là lối đi khác so với trước kia. Sau năm 2025 được đánh giá là tương đối thuận lợi nhờ nhu cầu ổn định với các dòng xe xăng tiết kiệm nhiên liệu và hybrid tại châu Á, Bắc Mỹ và một phần châu Âu, Honda tập trung hơn vào củng cố nền tảng để tránh những cú sốc từng xảy ra trong giai đoạn khủng hoảng chip và đứt gãy logistics trước đó.

Hàng loạt nhà sản xuất ô tô tính hướng phát triển mới - 2

Chiến lược sản phẩm Toyota trong năm 2026 tiếp tục xoay quanh hybrid (HEV).

Hệ quả là, năm 2026 sẽ chứng kiến Honda mở rộng danh mục xe hybrid, đặc biệt trên các dòng xe chiến lược. Bên lề Japan Mobility Show 2025 vừa qua, Honda đã trình diễn nhiều công nghệ hybrid mới, hé lộ những bước đi quan trọng trong chiến lược hybrid tiếp theo.

Các nhà sản xuất Nhật Bản năm nay – bao gồm cả Mazda, Suzuki hay Subaru – cũng đang thay đổi trong tư duy thiết lập chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị và cạnh tranh công nghệ ngày càng phức tạp, việc hợp tác ở những khâu không cạnh tranh trực tiếp – như chia sẻ nguồn cung linh kiện bán dẫn – là cách tiếp cận thực dụng, giúp nâng cao khả năng chống chịu.

Về phần mình, các nhà sản xuất Trung Quốc lúc này thể hiện sự tự tin rõ rệt. Được hậu thuẫn bởi chuỗi cung ứng pin hoàn chỉnh, chi phí sản xuất thấp và thị trường nội địa khổng lồ, BYD, SAIC hay Geely… đang đẩy mạnh xuất khẩu, coi thị trường quốc tế là động lực tăng trưởng mới.

Chiến lược mới của nhóm này không dựa vào duy nhất xe điện thuần, mà còn mở rộng sang hybrid và hybrid sạc ngoài (PHEV) nhằm thích ứng với các rào cản thương mại và thị hiếu đa dạng. Các hãng Trung Quốc cũng đang đối mặt với rủi ro từ các biện pháp bảo hộ, điều tra chống trợ cấp, và yêu cầu nội địa hóa ngày càng chặt chẽ tại châu Âu và Bắc Mỹ.

Hàng loạt nhà sản xuất ô tô tính hướng phát triển mới - 3

Năm 2026 sẽ tiếp tục chứng kiến các hãng xe Trung Quốc xuất hiện tại nhiều thị trường và có tại Việt Nam.

Với các hãng Hàn Quốc như Hyundai và KIA, 2026 là giai đoạn không còn ở vị thế “kẻ theo sau” trong cuộc đua xe điện, khi đã xây dựng được năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng tương đối hoàn chỉnh. Sự hiện diện của LG Energy Solution hay Samsung SDI cũng giúp họ chủ động hơn về pin – yếu tố sống còn trong phát triển xe điện.

Tuy nhiên, khác với giai đoạn 2022–2024, chiến lược mới của các hãng Hàn Quốc cho thấy sự thận trọng trong nhịp độ mở rộng. Xe điện vẫn là trụ cột dài hạn, nhưng các hãng đồng thời tăng cường vai trò của hybrid nhằm đảm bảo doanh số và lợi nhuận.

Về tổng thể, bức tranh năm 2026 cho thấy rủi ro lớn nhất của toàn ngành ô tô vẫn là sự thiếu chắc chắn về chính sách và nhu cầu, nhưng ở chiều ngược lại, thuận lợi trong giai đoạn này là các nhà sản xuất đã có cái nhìn thực tế hơn về quá trình chuyển đổi, không còn kịch bản “một lộ trình cho tất cả” mà phải chọn con đường phù hợp nhất để mở ra chu kỳ tăng trưởng bền vững.



Nguồn: Arttimes.vn

Đồng chí Vũ Văn Tiến ứng cử đại biểu Quốc hội tại Đơn vị bầu cử số 6, thành phố Hải Phòng


Đồng chí Vũ Văn Tiến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Chi bộ, Trưởng ban Tuyên giáo Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại Đơn vị bầu cử số 6, thành phố Hải Phòng.

Đồng chí Vũ Văn Tiến ứng cử đại biểu Quốc hội tại Đơn vị bầu cử số 6, thành phố Hải Phòng - 1

Đồng chí Vũ Văn Tiến trao tặng quà cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn xã Trần Phú, thành phố Hải Phòng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.

Theo Nghị quyết số 151 của Hội đồng Bầu cử Quốc gia công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước, đồng chí Vũ Văn Tiến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Chi bộ, Trưởng ban Tuyên giáo Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ứng cử tại Đơn vị bầu cử số 6, thành phố Hải Phòng.

Thành phố Hải Phòng có 7 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, 33 người ứng cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19 đại biểu. Đơn vị bầu cử số 6, thành phố Hải Phòng có 5 ứng cử viên, được bầu 3 đại biểu Quốc hội.

Tại Đơn vị bầu cử số 6 bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI gồm 20 xã, phường. Cụ thể như sau: Nam Sách, Thái Tân, Hợp Tiến, Trần Phú, An Phú, Lê Thanh Nghị, Thành Đông, Hải Dương, Nam Đồng, Tân Hưng, Thạch Khôi, Việt Hòa, Tứ Minh, Ái Quốc, Trần Nhân Tông, Lê Đại Hành, Chu Văn An, Chí Linh, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi.

Đồng chí Vũ Văn Tiến, sinh năm 1982, quê quán: xã Trần Phú, thành phố Hải Phòng (trước đây là xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), học vị Tiến sĩ Báo chí, Cử nhân Kinh tế, Cao cấp Lý luận chính trị.

Đồng chí Vũ Văn Tiến có nhiều năm công tác, giữ chức vụ lãnh đạo tại Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Xây dựng… Với nhiều thành tích đã đạt được trong quá trình công tác, đồng chí được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2025; 02 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ các năm: 2020, 2026 và 25 Bằng khen cấp Bộ, tỉnh, thành phố. 

Đồng chí Vũ Văn Tiến ứng cử đại biểu Quốc hội tại Đơn vị bầu cử số 6, thành phố Hải Phòng - 2

PV




Nguồn: Arttimes.vn

Văn hóa bay theo đường dân tộc đang bay (Tiếp cận Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa)


“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Bay theo đường dân tộc đang bay (in trong tập thơ Ta gửi cho mình, NXB Văn học, 1986) là thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Chế Lan Viên. Bài thơ được kiến thiết trên một cấu tứ có tính khái quát cao độ: Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng đập cùng nhịp thở với đời sống dân tộc trong mỗi thời đại lịch sử khác nhau “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/ Nhưng hào kiệt thời nào cũng có” (Nguyễn Trãi). Năm 2025, đất nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong bối cảnh mới, văn hóa được xác định là một trong bốn trụ cột kiến trúc xã hội (chính trị – kinh tế – xã hội – văn hóa) phát triển bền vững: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ, văn minh. Từng có một nhà thơ cảm khái với cảnh ngộ “Tôi khóc những chân trời không có người bay/ Lại khóc những người bay không có chân trời” (ngụ ý chỉ tình cảnh thiếu tự do sáng tạo cho nghệ sĩ). Song le, thực tiễn chứng minh, những tài năng thực sự bao giờ cũng tự mình tạo ra chân trời mới để bay. Họ cũng tự ý thức được sâu sắc chẳng nên nỉ non ngồi chờ ai khóc thương hộ mình.

Văn hóa bay theo đường dân tộc đang bay (Tiếp cận Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa) - 1

Ảnh minh họa.

Nghị quyết 80 – NQ/TW thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng khi “Trái đất là ngôi nhà chung của thế giới”, “Ngoài trời còn có trời”. Giới hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam trong thời điểm đặc biệt hôm nay có cơ hội nhận thức sâu sắc hơn về “dư địa” của văn hóa dân tộc trong bối cảnh thế giới mở, quốc gia đột phá trỗi dậy với khát vọng trở thành một con rồng châu Á, bay lên không chỉ nhờ vào hai con số của tăng trưởng, của những tập đoàn kinh tế tầm cỡ thế giới, hay những phát minh khoa học làm rung chuyển toàn cầu mà chủ yếu (nếu có) nhờ vào các giá trị văn hóa với truyền thống dân tộc hun đúc hàng ngàn năm “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Những mục tiêu cao cả ấy không phải là không có cơ sở hiện thực thuyết phục. Vấn đề cốt tử là chúng ta có đủ trí tuệ, sức lực và lòng dũng cảm để bay lên trên con đường tương lai?!

Bốn “đường bay” lớn của văn hóa theo “đường bay” của dân tộc

Tiếp cận văn bản Nghị quyết 80-NQ/TW về văn hóa, trong sự đối chiếu và so sánh với các Nghị quyết trước đây (chẳng hạn gần nhất Nghị quyết 33-NQ/TW), những người làm công tác văn hóa, văn học nghệ thuật không thể không quan tâm đến những quan điểm khai mở, khai thông căn cốt và chính yếu có tính chất nền tảng chiến lược, định hướng lâu bền khi văn hóa được quan niệm như “hệ điều tiết” của phát triển nhanh và bền vững; “văn hóa như một hệ sinh thái” nhằm giải phóng năng lượng sáng tạo; “văn hóa định trục cho phát triển bền vững”; “văn hóa trở thành sức mạnh mềm” của quốc gia.

Theo nhận thức chung của giới hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật thì đây chính là bốn đại lộ, bốn đường bay lớn của văn hóa bay theo đường bay của dân tộc. Khi văn hóa được xác định là “hệ điều tiết” của phát triển nhanh và bền vững, tương ứng với cách ví von “kinh tế là tay ga, văn hóa là tay phanh”. Có thể nói, quan điểm này mang tính đột phá về văn hóa, từ đề cao vai trò dẫn dắt đến vai trò điều tiết của văn hóa như một phạm trù phổ quát, bao trùm.

Chẳng hạn, trong yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh đạt tới hai con số trong tương lai gần, chúng ta kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Bởi khái niệm/ phạm trù “xanh” đang phủ sóng, thấm vào tận chân tơ kẽ tóc của tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội (môi sinh xanh, y tế xanh, kinh tế xanh, công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, giao thông xanh, giáo dục xanh….). Ngay văn học xanh cũng đang vẫy gọi, kích thích sáng tạo của nhà văn hướng tới “con người là một phần của tự nhiên” (những áng văn điển hình như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa…).

Khi xác định “văn hóa như một hệ sinh thái” (một hệ thống mở, có tính quần xã/cộng sinh) là nói đến vai trò kích hoạt, giải phóng năng lượng sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần theo quy luật chân – thiện – mỹ. Năng lượng sáng tạo thuộc về tiềm năng, nó là tài sản, cái vốn văn hóa có tính pháp định, nhưng cần được khai phóng triệt để tạo nên lợi ích hữu dụng phục vụ nhu cầu đời sống có chất lượng của nhân dân. Hệ sinh thái mới của văn hóa, văn học nghệ thuật cần được mở rộng biên độ, giao diện trước yêu cầu thụ hưởng chân chính của quảng đại quần chúng. Trong hệ sinh thái này có sự hài hòa, bổ trợ giữa folklore (văn hóa dân gian) và văn hóa thời đại, giữa văn hóa bản địa và văn hóa thế giới theo tinh thần tiếp biến đúng đắn và có hiệu quả.

“Văn hóa định trục cho phát triển” được hiểu là một xã hội phát triển bền vững khi có chân tủy văn hóa hiện thực, vì phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế và phát triển xã hội, là quá trình tất yếu, hướng đích của mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình”. Văn hóa là định trục cho phát triển bởi đó là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững.

Bốn đường bay lớn của văn hóa tập trung hoàn hảo trong phẩm chất tối cao khi “văn hóa là sức mạnh mềm” của quốc gia, theo triết lý truyền thống “nhu thắng cương”. Sức mạnh mềm tạo nên nội lực, tiềm năng của văn hóa không chỉ trong phạm vi bản địa mà mở rộng kích tấc ra một giao diện rộng lớn hơn trong khu vực và toàn cầu, theo quan điểm và lý thuyết “địa – văn hóa” luôn song trùng với “địa – chính trị”. Nhiều nước ở khu vực Đông Bắc Á (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) thực sự kiến tạo được những sức mạnh mềm quốc gia thông qua các lĩnh vực của văn hóa như văn học, âm nhạc, điện ảnh, thời trang… Đặc biệt người Nhật đã tạo nên được một tấm gương của lối sống tối giản (nếu hiểu văn hóa là cách sống cùng nhau) theo quy luật “cái đẹp là sự giản dị”, thực sự có sự ảnh hưởng lớn ra thế giới.

Tận cùng văn hóa là con người

Chúng ta đang có cách quan niệm, cách nói mới về tài nguyên của đất nước không phải chỉ là tài nguyên thiên nhiên (rừng vàng biển bạc, ruộng đồng thẳng cánh cò bay, đất đai phì nhiêu, sản vật tự nhiên tươi tốt bốn mùa…), mà là con người của một quốc gia thuộc hàng cường quốc dân số (chạm mốc 102 triệu dân, tính đến năm 2025), như là nguồn tài nguyên chính, giàu tiềm năng, nền tảng của phát triển bền vững. Nguồn nhân lực con người là một trong ba điểm nghẽn hiện nay cần được khai phóng, tiềm năng con người cần được kích hoạt cấp số nhân, hiện thực hóa cả theo bề rộng, cả theo chiều sâu.

Trong phạm trù văn hóa thì người sáng tạo sản phẩm văn hóa tất nhiên là nhân tố then chốt, là chân tủy tạo nên các giá trị tinh thần và vật chất theo quy luật của cái đẹp. Nhưng người quản lý văn hóa, theo chúng tôi, hiện là một khâu đột phá, một thách thức cần vượt qua trong bối cảnh hiện nay. Họ thường bị hạn chế bởi mặc cảm về vị thế thiệt thòi của mình trong hệ thống quản lý nhà nước so với các lĩnh vực hoạt động xã hội khác.

Nhìn sâu vào nguồn nhân lực này (từ phương diện quản trị văn hóa) sẽ nhận ra vai trò dẫn dắt của họ trong thực tiễn xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ở họ đòi hỏi cả tâmtầm (nói theo cách trước đây là hồng thắm chuyên sâu). Khi nói đến nguồn nhân lực văn hóa, theo quan điểm biện chứng, cần thiết phải nói đến người thụ hưởng – công chúng nghệ thuật – trong hoàn cảnh mới. Không thể có một công chúng tự phát làm nền tảng cho một nền văn hóa, văn học nghệ thuật phát triển theo quy luật của chân – thiện – mỹ. Đại văn hào Nga M. Gorki từng khẳng định “Công chúng nghệ thuật cũng cần được giáo dục tốt”.

Con đường tương lai của văn hóa dân tộc tùy thuộc trước hết vào con người mới được xác định như là những nhân cách văn hóa hoạt động trong những không gian văn hóa nhân văn – những chân trời sáng tạo.

Bùi Tùng Ảnh




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Vào cua mất lái, nữ biker bay cả người lẫn xe xuống hố sâu


Đang chạy trên đoạn đường đèo quanh co, nữ biker bất ngờ mất lái lao sang lề đất rồi bay cả người lẫn xe xuống hố sâu, khiến người xem thót tim.




Nguồn: Arttimes.vn

Vẫn sáng một cành “Mai”


Một ngày xuân sau Tết. Con đường qua Đàn Nam Giao lên chùa Từ Hiếu nườm nượp trai thanh gái lịch. Họ du xuân, lên chùa, thả tâm hồn nương theo những hàng thông vi vu êm ái trong làn gió xuân mát mẻ cho dịu bớt những vòng quay cuồng nhiệt của cuộc đua tranh sinh tồn. Bên vệ đường, rải rác những cành mai đã tàn gợi nhớ một vẻ đẹp bình dị mà vẫn có có sức cuốn hút, đồng thời nó cũng nhắc nhở cái hữu hạn của mọi sinh tồn và vòng quay nghiệt ngã của thời gian.

Những triền đồi bên con đường đi lên khu lăng tẩm các vua chúa triều Nguyễn này cũng là nơi yên nghỉ của nhiều văn nhân, chí sĩ như Hải Triều, Nguyễn Chí Diểu, Vĩnh Mai, Thanh Hải, Thanh Tịnh… Nhà thơ Vĩnh Mai quê Quảng Trị, “đồng hương” và cùng hoạt động cách mạng, hoạt động văn nghệ với các nhà thơ nhà văn Tố Hữu, Chế Lan Viên, Lương An, Hồng Chương, Trần Hữu Thung… ở Huế, Bình Trị Thiên rồi Liên khu 4 từ thời chống Pháp, nhưng năm 1984, chị Phương Chi – vợ nhà thơ Vĩnh Mai đã chọn triền đồi cạnh chùa Từ Hiếu làm nơi cải táng cho anh. Huế là nơi 60 năm trước, “cuộc gặp định mệnh” đã xảy ra giữa hai người. Huế, 70 năm trước là nơi Vĩnh Mai đến với cách mạng, với thơ… 

Vẫn sáng một cành “Mai" - 1

Văn nghệ sĩ Huế viếng mộ nhà thơ Vĩnh Mai trong Ngày Thơ Việt Nam cách đây nhiều năm.

Hai chục năm trước, khi còn công tác ở Tạp chí Sông Hương, hầu như lần nào ra Hà Nội tôi cũng ghé quán nước nhỏ bên đường Lê Trực (chỗ tạm trú cuối đời của nhà thơ Vĩnh Mai) để kể chuyện anh em văn nghệ Huế và đưa cho chị Phương Chi cuốn tạp chí mới ra; và tất nhiên để được nghe chị nhắc lại những kỷ niệm về anh Vĩnh Mai, được chị mời ăn kẹo vừng với chén trà Thái ngọt giọng cho mãi đến lúc lên tàu…

Những câu chuyện rời rạc còn rất nhiều khoảng trống và khoảng lặng ngày ấy nay đã được chị Phương Chi ghi lại trong tập hồi ký Sống với nhà thơ Vĩnh Mai (NXB Thuận Hóa, 2003). “Cuộc gặp định mệnh” giữa hai người xảy ra 60 năm trước, khi cô cán bộ phụ nữ Thanh Hoá được cử vào Huế dự khóa học “văn hoá – chính trị” do Việt Minh Trung Bộ tổ chức. Bốn thầy giáo phụ trách lớp học đều là những nhân vật nổi tiếng: Nguyễn Vịnh (tức Nguyễn Chí Thanh) – Bí thư xứ uỷ, Hải Triều – Giám đốc Nha Tuyên truyền Trung Bộ, Tố Hữu – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thừa Thiên – Huế và nhà thơ Vĩnh Mai. 80 học viên của 16 đoàn – từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, vỗ tay nồng nhiệt chào các “thầy”, nhưng chỉ riêng Vĩnh Mai đứng dậy, nói rất tự nhiên: “Xin chào các đồng chí!”.

Ông thầy với thân hình gầy đen, đôi mắt sáng nhìn thẳng, bận bộ com-lê vải tốt màu sáng, cà vạt tím, đi giầy nghiêm chỉnh lập tức được cả lớp chú ý. “Người Huế à?… Vĩnh là Hoàng phái…”. Chị em thầm hỏi nhau vậy. Nhưng thầy quê Quảng Trị, tên thật là Nguyễn Hoàng, đỗ Tú tài Tây Trường Khải Định (nay là Quốc học Huế), hoạt động trong phong trào học sinh từ 1936, bị đày lên Buôn Mê Thuột, sau Cách mạng tháng Tám 1945 ra tù làm Chủ tịch thị xã Tuy Hoà rồi được Xứ uỷ điều về Huế làm Bí thư Thành uỷ kiêm phụ trách báo Quyết Chiến. Buổi lên lớp đầu tiên, thầy Vĩnh Mai gọi từng đoàn đứng lên làm quen. “Đến đoàn Thanh Hoá, anh nhìn như thôi miên chúng tôi. Riêng tôi, đôi mắt anh như xoáy vào tận con tim đang rung lên từng cung bậc…”. Nhớ lại “cuộc gặp định mệnh” ấy, chị Phương Chi đã viết như vậy. 

Ngày ấy, thầy 30 tuổi, trò 21 xuân xanh. Thật khó biết chắc là vì số phận hay duyên phận đã gắn kết hai người với nhau. Bao nhiêu là xa cách và ngăn trở; không chỉ ngăn cách về không gian mà còn bị một số người ngăn trở, nên mặc cho chàng “tiếp tiếp thư đi” mà “thư chẳng về”. Sau này, chị Phương Chi mới biết một số chị em ở cơ quan đọc lén rồi giấu thư Vĩnh Mai gửi cho chị vì không muốn hai người nên vợ nên chồng. Có thể vì định kiến máy móc thời đó cho rằng chuyện yêu đương hãy đợi ngày kháng chiến thành công. Cũng có thể vì ảnh hưởng của “người thứ ba”. Đó là một chính trị viên trung đoàn tên là T.Q.C, thuộc loại “đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu” đã ngỏ lời cầu hôn với chị trong dịp chị về dự lớp học chính trị,  triết học do Khu uỷ Liên Khu Tư tổ chức ở Nghệ An năm 1949. Nhưng mặc cho “tổ chức” gán ghép, bố trí T.Q.C về tổ chị hướng dẫn học tập để gần gũi nhau, mặc cho C. là một chàng trai “trẻ đẹp, da trắng hồng, mũi dọc dừa, miệng rất tươi, mắt đen láy thông minh”, rút cục chị vẫn kiên quyết báo cáo với tổ chức để “từ hôn”…

Đã có lúc tôi thoáng nghĩ: Nếu như chị Phương Chi nhận lời với anh C. ngày đó thì có thể… Chỉ thoáng nghĩ vậy thôi, chứ đẩy ý nghĩ đi xa hơn thì không chừng vì cảm thương cho số phận chị, mà hoá ra xúc phạm đến những tình cảm cao quý của chị; vả lại, trong cuộc đời, nào ai học hết chữ “ngờ” và quan niệm “hạnh phúc” đâu phải ai cũng giống ai. Có điều, suy ngẫm về cuộc tình mà chị Phương Chi gọi là “định mệnh” này, tôi có cảm tưởng là chỉ riêng mối tình “sét đánh” trong khoảnh khắc “thầy” nhìn như “thôi miên” trò trong một lớp học ít ngày không đủ tạo nên sức mạnh và cả chất “kết dính” thắng được những lực cản đủ kiểu trên đường đời trắc trở. Cũng không hẳn là vì “định mệnh” nên con người ta không cưỡng lại được. Phải chăng xoắn xuýt, quyện lẫn với mối tình “sét đánh” như của bao đôi lứa trên đời, là tình thơ, tình đồng chí trắng trong, tinh khiết những ngày đầu cách mạng hào hùng mà lãng mạn.

12 năm sau, trong một đêm trăng thu thật đẹp, ông thầy – nhà thơ lãng mạn mà “cứng cổ” đang cùng chung tổ với Bùi Hiển, Yến Lan, Đào Vũ đi thực tế nông thôn ở Hải Dương, đã “kỷ niệm” 8 năm ngày cưới bằng việc ghi mấy dòng nhật ký: 

“…Huế 1946… Lớp học tổ chức ở Trường Hậu Bổ cũ, thấy nàng chăm chú theo dõi mình giảng bài, chỉ thấy nàng có cặp mắt xanh biếc và hiền. Rồi cặp mắt ấy mình đã gặp ở bệnh viện Hà Lũng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá, cùng lần gặp nàng đi thăm nhà thơ Hồng Nguyên vào mùa thu 1947. Từ đây mình đã tung dư luận: “Vĩnh Mai và Phương Chi yêu nhau”. Mình gửi thư liên tục. Ta giăng lưới bắt chim trời, biết đâu chim trời chẳng sa vào lưới…”.

Người cách mạng – dù trong kháng chiến gian khổ vẫn yêu nhau say đắm và cuồng nhiệt thế đó, chứ đâu như có thời ta lầm tưởng… Nhà thơ Hoàng Cầm, trong Lời tựa cho Vĩnh Mai tuyển tập (NXB Hội Nhà văn, 2003), trước khi trích dẫn mấy câu thơ mà ông cho là rất thật và hay (“…Bóng ai tha thướt đằng xa ấy / Bóng ghé nghiêng nghiêng bóng vội chìm…/… Thời gian như chết giữa lòng tôi / Ngong ngóng người xa mấy bữa rồi / Giá biết thế này đừng hẹn trước / Cũng đành nước chảy với mây trôi…) cũng đã viết: 

“Phải nhấn mạnh một điều: Vĩnh Mai làm thơ tình ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, giữa lúc các nhà thơ còn ngần ngại và một nhà phê bình học thường coi những bài thơ tình là biểu hiện của tư tưởng tư sản”. 

Vẫn sáng một cành “Mai" - 2

Nhà thơ Vĩnh Mai

Thực ra, trong 10 tập sách đã in, những bài thơ thành công nhất của Vĩnh Mai “đều chân thành, đôn hậu, cởi mở… khi ông viết về quê hương, về những người thân, về những đau xót, mất mát của đất nước và con người bị chiến tranh tàn phá”, như lời nhà thơ Ngô Văn Phú đã nhận xét; trong đó có những bài nổi tiếng được truyền bá rộng rãi trong kháng chiến chống Pháp như Khóc Hoài tưởng nhớ người bạn thơ trẻ vừa hy sinh. Về bài thơ này, Hoàng Phủ Ngọc Tường, sau khi nhắc đến Thơ Mới với ngôn ngữ cao sang mà ông sùng bái, đã nhận xét: 

“ Lần đầu tiên tôi biết đến một bài thơ với “thi pháp” khác lạ… Đây không phải là bắt chước giọng nông dân; đây là giọng nói nứt ra từ máu thịt nông dân. Và tôi nghĩ rằng những gì đã là máu thịt, là cội nguồn đích thực thì đều làm ra thơ hay, “hay muôn đời”…”

  “…Chiều hôm nay lật đống báo trong hầm / Tau thấy một bài thơ mi nóng hổi… /…Nghe lau lách xạc xào bên phía cửa / Nghe giun dế rì rầm tau ngờ ngợ / Như nghe mi tâm sự với lòng tau…” 

Bài thơ Người dân quân xã viết năm 1948 gồm 21 khổ dài 84 câu lại là một bức tranh sinh động, là bài học cụ thể về cuộc chiến tranh du kích độc đáo của Việt Nam: 

“…Hai bàn tay gân guốc / Sần sùi lớp chai dày / Vừa buông cuốc buông cày / Đã cầm ngay súng đạn…/…Giặc trên không đổ xuống / Giặc dưới nước ùn lên / Giặc vây chặt bốn bên / Đen dày như bổ lưới / Nhưng giặc vào xóm dưới / Anh đã tới làng trên / Giặc cất bước đi lên / Anh vòng quanh trở xuống…/ …Lô cốt cao chất ngất / Không rào được chân anh / Anh có dãy trường thành / Giữa lòng dân vững chãi…”

Kể về sự nghiệp thơ của Vĩnh Mai cũng nên nhắc đến những bài thơ trào phúng, đả kích của ông với bút danh Búa Tạ. Xin thử đọc một bài, một chân dung nay vẫn thường xuất hiện đây đó – bài Vua thơ: “Vua thơ…ông vỗ ngực là vua / Lý Bạch mà còn cũng chịu thua / Thượng cấp cũng nhiều tay nể nả / Làng thơ lại lắm đứa a dua // Xưa buồn xuân héo cùng thu lạnh / Nay tán khoai chiêm với lúa mùa / Ông mới khen rồi ông lại chửi / Rõ là ông giỏi món về hùa.” 

Mấy dòng nhật ký kể trên cũng như bài thơ trào phúng vừa dẫn đã thể hiện tính cách “một con người cương trực, thẳng thắn, hồn nhiên, nhiều lúc “ngông cuồng”, “ngạo mạn”…” – Đó là nhận xét của nhạc sĩ Trần Hoàn về người “thủ trưởng” cũ của mình trong một bài viết trên báo Văn nghệ” nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất nhà thơ Vĩnh Mai (Theo chị Phương Chi, chính Phó Ban Tư tưởng – văn hoá Trần Hoàn, trong dịp kỷ niệm sinh nhật 80 năm của nhà thơ Vĩnh Mai đã đến thắp hương và nói vui theo kiểu “văn nghệ”: “Thưa thủ trưởng, lâu nay em bận quá, nay mới đến thăm thủ trưởng, mong được thứ lỗi”. Vị nhạc sĩ đang ở bậc cao danh vọng chưa từng là thuộc cấp của Vĩnh Mai, nhưng kính trọng thưa “thủ trưởng” với ông vì ông hơn mình 10 tuổi, lại từng làm Bí thư Thành Huế khi mình còn là học sinh Quốc học). Làm “chứng” cho nhận xét nói trên, nhạc sĩ đã dẫn ra bài thơ Tự vịnh của Vĩnh Mai: 

“Ngày xưa ta ở cung trăng / Thủng trời rơi xuống hoá thằng Vĩnh Mai / Muối dưa đắp đổi qua ngày / Công danh chẳng thiết, trời đày làm thơ!” 

Bài thơ làm cho vui mà ứng nghiệm với số phận lận đận của ông. Mà tính cách “ngông cuồng” như thế, làm sao “người ta” dám giao cho những trọng trách luôn phải tỏ ra mực thước, nghiêm nghị? Vậy nên sau khi được “lên chức” Bí thư Thành uỷ Huế và Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Trị, ông cứ tụt dần trên nấc thang quyền lực: xuống làm cán bộ Ban Tuyên giáo Chi hội Văn nghệ Liên khu 4, rồi Chánh Văn phòng Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, tổ trưởng thơ báo Văn nghệ. Có lẽ cũng vì thế mà 20 năm “người ta” quên lên lương cho ông; và cũng mãi 20 năm sau khi ông mất, Hội Nhà văn mới chợt nhớ ra ông là người từng có nhiều công lao, lại hoạt động cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa, đề nghị truy tặng ông Huân chương Độc Lập hạng 2.

Đọc hồi ký của chị Phương Chi mới hiểu thêm vì sao nhạc sĩ Trần Hoàn lại “tặng” cho nhà thơ đồng hương từ “ngông cuồng” – dù là trong ngoặc kép. Trong cuộc “rèn cán chỉnh quân” năm 1953, người ta mổ xẻ phê phán nhà thơ dòng dõi Hoàng tộc Văn Tôn (tức Hải Bằng) với bài thơ Gửi em người nữ cứu thương là “mất lập trường”, sao lại “anh em” với “con y tá người Pháp là kẻ thù”… Ai cũng tưởng Vĩnh Mai là chính trị phạm từ Buôn Mê Thuột về, hẳn sẽ tuôn ra những lời rất đanh thép. Không ngờ ông nói: 

“Văn Tôn viết như vậy mới thơ… Thấy xác em nằm trên đống cỏ khô / Đắp cho em mền trấn thủ…Nhân đạo biết bao. Chẳng lẽ viết Thấy xác mi nằm…Đắp cho mi cái bao tải để tỏ ra có lập trường à?” 

Chưa hết! Thời kháng chiến chống Pháp ở Quảng Trị, trong đợt học tài liệu quan trọng “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” do Vĩnh Mai phụ trách, khi mọi người đã thông tư tưởng, bất ngờ ông nhà thơ kiêm Trưởng Ty Tuyên truyền bỗng nói: “Tôi bảo trường kỳ kháng chiến không thắng lợi”. Thế là cả trăm học viên cùng một chiến tuyến tranh luận mấy ngày với “đối phương” chính là lớp trưởng. Vậy mà số đông bị đuối lý. Lúc này ông Trưởng ty lại trở chứng nói: “Bây giờ tôi bảo trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Lại tiếp tục tranh luận và rút cục cả lớp đồng tình với ông. Cách học “kỳ quặc” này đến tai cấp trên, Vĩnh Mai bị phê bình. Ông nói: Làm tuyên truyền thì phải có lý luận vững chắc, mới “đấu” được với kẻ địch. Thật ra, chỉ vì nếp quen tuân phục nói một chiều, ca một giọng, chứ “cách học” của Vĩnh Mai là “chuyện xưa” trên thế giới. Đó là khi dạy và học phải tránh thụ động, biết lật đi lật lại vấn đề; đó là cũng là một “hạt nhân” của tư tưởng C. Mác: với người làm khoa học, nghiên cứu luôn phải biết phê phán, hoài nghi.

Vĩnh Mai còn có “nỗi oan” cười ra nước mắt. Ấy là hồi ông được cử đi làm “Cải cách ruộng đất” đợt đầu ở Thanh Hoá, về “ba cùng” với Đôn, một nông dân nghèo độc thân. Không đồng tình với cách đề “chỉ tiêu phần trăm” địa chủ ở từng xã, ông lên Đoàn uỷ báo cáo, gặp một vị chức rất to ở “Trung ương” về kiểm tra. Hai người tranh luận kịch liệt; khi biết Vĩnh Mai là Tú tài Tây, vị quan to Trung ương liền phán: “Trí thức bấp bênh” (sau “sửa sai” thì chính vị quan to lại bị kỷ luật). Ngược lại, Đôn rất quý Vĩnh Mai. Ông dạy Đôn học, làm cả một trường ca về mối tình của anh với cô Thanh – cũng từng là một đầy tớ nhà địa chủ như Đôn, mời anh nếm thử cà phê nữa! Không ngờ “tai hoạ” lại bắt đầu từ đây. Vĩnh Mai là người có thể nhịn ăn, nhưng không nhịn được cà phê. Thời ấy, chỉ có cách cho cà phê vào khăn tay buộc chặt, dầm vào nước sôi, rồi thêm chút đường đen. Do Đôn khoe với bạn chuyện uống cà phê, ông Đội Vĩnh Mai còn đọc sách Tây nữa, thế là Bí thư Đoàn uỷ triệu tập ông lên bắt làm kiểm điểm. Ông không biết vì tội gì, thẳng thừng chất vấn, liền được giảng giải:

– Tội của anh là uống cà phê, là tiểu tư sản. Nhưng nghiêm trọng hơn cả là đọc sách Tây, vậy là mất lập trường lắm!

– Lạ nhỉ? Hồi tôi hoạt động trước 1945 trong Huế, các anh Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh và cả thợ thuyền  đều vào quán uống cà phê…

– Hồi ấy còn thực dân, bây giờ đã tham gia kháng chiến mà thèm uống cà phê là tiểu tư sản.

Bị buộc phải viết kiểm điểm, Vĩnh Mai liền viết: 

A- Chữ Tây là rất hay.

B- Nhà Tây là rất sang.

C- Phụ nữ Tây là rất lịch sự.

Ba điểm ấy, tôi (Vĩnh Mai) rất thích.

Còn café giúp tôi tỉnh ngủ…

Bản kiểm điểm đến đây là đủ. 

Ký tên: Vĩnh Mai.

Một tuần sau, ông nhận được quyết định: “Trả về Chi hội Văn nghệ Khu 4”.

Được trở về gặp lại bạn bè văn nghệ, chị Phương Chi nấu nồi chè “liên hoan”. Nghe Vĩnh Mai kể chuyện “kiểm điểm”, Bùi Hiển, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung… ôm bụng cười phun cả chè!

“Tai” vừa qua thì Vĩnh Mai lại dính “nạn nghề nghiệp” hồi “56-57” do có “tội” in chung tập thơ Trên ghế đá với nhà thơ Lê Đạt, lại không chịu đấu tranh với những văn nghệ sĩ đang bị “lên án”. Lại phải đốt hết bao thuốc lá này đến bao thuốc khác, ngồi cả tuần viết kiểm điểm…

Hẳn sẽ có người dẫn câu hát “nhắc chi ngày xưa đó để xé buồn lòng ta” hàm ý rằng nên “cho qua đi”, nhất là khi nhà thơ đã được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập cao quý, rồi Tuyển tập được in sang trọng. Thì đó cũng là một nhẽ để thấy chúng ta thật may mắn được hít thở bầu không khí “Đổi mới” ngày một trong lành. Chị Phương Chi đã nhắc lại một kỷ niệm sau kỳ Đại hội “Đổi mới” của Hội Nhà văn, các bạn đồng nghiệp như Văn Cao, Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Huy Phương, Sơn Tùng, Lương An, Phan Xuân Hạt… đã đến thắp hương cho Vĩnh Mai. Xuân Tửu nói to: 

“Ông Vĩnh Mai ơi! Ông không sống đến bây giờ mà chứng kiến, những chính kiến lập luận phát biểu xưa của ông, của anh em chúng ta được đại hội chấp nhận rồi. Chúng ta đã được cởi trói…” 

Cho dù vậy, nói đến số phận một con người, làm sao có thể quên những năm tháng gian nan. Và những trang sử cũ, những bài học cũ từ ngàn xưa vẫn không ngừng được nhân loại nhắc đến để hậu thế không tái phạm sai lầm. Lại có những điều đau lòng không thể “sửa sai” được nữa. Chị Phương Chi cũng đã viết: 

“…Khổ vật chất đã đành, vì đất nước ta nghèo. Nhưng cái khổ bị dày vò tinh thần mới đau hơn. Tôi đã gắn bó với nhà thơ, người chồng bị dày vò tinh thần cho đến chết…” 

Và có phải vì vậy mà chị đã phải cam chịu nỗi bất hạnh không một lần được làm mẹ? Lại có những cái khổ vật chất nhưng lại gây chấn động tinh thần đêm nay sang đêm khác. Ấy là trong nhiều năm, hai vợ chồng luôn phải sống trong cảnh chật chội, nhất là khi ở 73 phố Thuốc Bắc; căn phòng chỉ có 7 mét vuông, “chật đến nỗi không còn chỗ làm liếp mà che cửa để người qua lại khỏi nhìn thấy, đành tạm che ri-đô vải. Người dắt xe đạp đi qua đụng vào giường, ngủ trưa không được và 11 giờ đêm, công nhân vệ sinh đổ thùng làm rơi giữa sàn, phải dùng tro mà chống hôi thối, rồi chùi sau…”

Ôi chao! Cũng đáng gọi là “Chuyện khó tin nhưng có thật”. Nhà thơ “ngông cuồng” của chúng ta thì lại tự cho mọi sự “trục trặc” là vì mình nên đã hơn một lần bàn với vợ: “…Sống với anh em sẽ không hy vọng có con đâu… Anh muốn Phương Chi có hạnh phúc hơn. Phương Chi phải li dị với anh thôi…”.

Chị Phương Chi “đã ngồi khóc ròng buổi chiều ấy”; khóc vì nỗi bất hạnh của mình mà cũng vì cảm động trước sự hy sinh cao cả của người bạn đời. Sau đó, hai người đã đi tìm con nuôi, nhưng thật không may; lần đầu, nhận một cháu gái lạc trên tàu hoả do công an đường sắt đem về cho, nuôi được một tháng thì cha mẹ cháu tìm đến, đành phải chia tay, mặc dù hai người thương cháu như con đẻ, đến mức Vĩnh Mai đã viết nên những câu thơ buồn đứt ruột: “Con bước đi lụm đụm / Chốc chốc lại nhìn lui / Lòng ba bỗng bùi ngùi / Thấy thương con thương quá”.

Lần thứ hai, nhận nuôi con của người bà con ở quê vào lúc đói kém, nhưng được mấy năm, khi đời sống khá lên, họ lại ra xin cháu về và một lần nữa, hai người lại “trắng tay”!

Cũng có thể nói, chính là với đức hy sinh cao đẹp ấy mà “cậu Tú tài Tây” mới trở thành người cộng sản không run sợ trong ngục tù đế quốc và nhiều năm sau thì bất chấp mình bị thiệt thòi, dám cất tiếng nói ngay thẳng bảo vệ đồng nghiệp; khi làm Chánh văn phòng Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, được cấp căn phòng 30m2 đầy đủ tiện nghi ở phố Phan Bội Châu, ông đã nhường cho một bạn thơ…

Vĩnh Mai tự bảo “công danh chẳng thiết”, nhưng người đời và nhất là bạn hữu đồng nghiệp không quên “ghi công” của ông. Nhà thơ Hữu Thỉnh khi là Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Tổng biên tập báo Văn nghệ đã viết: 

“… Với cương vị là Trưởng Ban biên tập Thơ, nhà thơ Vĩnh Mai hết lòng phát hiện, chăm sóc những người làm thơ trẻ. Sự ưu ái và tấm lòng bao dung của anh đã góp phần quan trọng vào việc hình thành đội ngũ các nhà thơ chống Mỹ…”.

*

Tròn 25 năm đã qua kể từ ngày Vĩnh Mai vĩnh biệt người bạn đời chung thuỷ – cô học trò nhỏ xinh xắn xứ Thanh “có cặp mắt xanh biếc và hiền” đã hút hồn “cậu Tú” Mai 60 năm trước …

Thật không ngờ, người chị – người bạn nồng nhiệt với rất nhiều anh chị em văn nghệ sĩ tưởng là vẫn mãi tươi trẻ ấy nay đang phải nương thân trong một Viện dưỡng lão ở Hà Đông. Tôi đọc lá thư từ Viện dưỡng lão của chị gửi cho anh bạn thơ Nhất Lâm ở Huế bàn chuyện tổ chức đêm thơ Vĩnh Mai tại Quảng Trị trong dịp 25 năm ngày nhà thơ qua đời (16/2/1981), lòng bồi hồi xúc động khôn nguôi. Cuộc sống đã có biết bao thay đổi, bao nhiêu là trường phái nghệ thuật nảy sinh và suy tàn, nhưng những tác phẩm như Khóc Hoài vẫn là một điểm son trong nền văn học cách mạng và kháng chiến của Việt Nam, vẫn được nhiều người nhớ đến:

“Tau với mi hẹn nhau từ Khu Bộ / Lúc trở về cố sáng tác văn chương… /…Hoài mi ơi! Mới bước được nửa đường / Răng mi chết thình lình oan uổng rứa…/…Thôi văn chương nào có thiếu chi người / Tau nói rứa mà lòng tau ứa lệ!”

Từ năm 1947, Vĩnh Mai đã kết thúc bài thơ nổi tiếng của mình như thế. Phải! Văn chương nào thiếu chi người. Nhưng chẳng ai có thể thay thế được ai. Vĩnh Mai, như “chân dung” anh tự hoạ: 

“Cuộc đời tôi mưa nắng / Suốt mấy chục năm dài / Vẫn sáng một cành mai…”.

*

Bài viết được thực hiện từ mùa xuân… gần hai mươi năm trước. Mùa xuân này, những cánh mai vàng khoe sắc càng nhiều bên những con đường của Thành phố Huế và Huế cũng như Quảng Trị – quê hương của nhà thơ Vĩnh Mai đang rực rỡ cờ hoa mừng 50 năm ngày thống nhất đất nước… Ngày vui, càng thương nhớ những người đã đi xa….

(Trích từ sách Quảng Trị – vùng đất hội tụ)

Nguyễn Khắc Phê




Nguồn: Arttimes.vn

Đây là 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tháng 1/2026


Xe điện gầm cao tiếp tục áp đảo doanh số phân khúc, vượt mặt các mẫu xăng truyền thống.

Tháng 1/2026, thị trường ô tô ở Việt Nam đạt khoảng 36.875 xe, giảm 22% so với tháng 12/2025, nhưng vẫn cao gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái (18.893 xe).

Nhóm xe gầm cao tiếp tục chiếm ưu thế trong bảng xếp hạng doanh số với sự áp đảo vẫn thuộc về những cái tên đến từ VinFast. Cụ thể, VF 3 đạt doanh số 3.185 xe, VF 5 bán 2.737 xe và VF6 bàn giao được 2.485 xe đến tay khách hàng.

Phần còn lại của bảng xếp hạng gồm những SUV/CUV truyền thống chạy xăng/dầu là Mazda CX-5 với 2.104 xe bán ra giữ vị trí thứ tư. Cuối cùng là Mitsubishi Xforce với 1.666 xe, một lựa chọn phổ biến trong phân khúc SUV đô thị.

Những con số trên phản ánh sự cạnh tranh đa dạng giữa xe điện gầm cao mới và các mẫu SUV truyền thống quen thuộc đối với người mua Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026.

Dưới đây là top 5 xe gầm cao bán chạy nhất tại Việt Nam tháng 1/2026

Đây là 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tháng 1/2026 - 1

Đây là 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tháng 1/2026 - 2

Đây là 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tháng 1/2026 - 3

Đây là 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tháng 1/2026 - 4

Đây là 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tháng 1/2026 - 5



Nguồn: Arttimes.vn

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026


Ngày 22/2/2026 (mùng 6 Tết Bính Ngọ), Lễ hội Du lịch Chùa Hương (xã Hương Sơn) với chủ đề “An toàn – Thân thiện – Chất lượng” chính thức khai mạc. Lễ hội bắt đầu từ ngày 18/2 đến hết ngày 11/5/2026 (mùng 2 tháng Giêng đến 25 tháng Ba năm Bính Ngọ), theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Dự lễ khai mạc có Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng cùng đại diện lãnh đạo các sở, ngành thành phố Hà Nội.

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 1

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND xã Hương Sơn Lê Văn Trang nhấn mạnh: “Việc tổ chức Lễ hội chùa Hương năm 2026 theo hướng đổi mới tư duy và cách làm không chỉ nhằm tổ chức một mùa lễ hội an toàn, thân thiện, chất lượng mà còn đặt nền móng cho phát triển bền vững khu di tích trong giai đoạn tiếp theo.

Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, lễ hội được tổ chức mang dấu ấn mới. Với sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xã Hương Sơn, lễ hội năm nay có nhiều đổi mới với nhiều đột phá chưa từng có, từ cảnh quan đến phong cách phục vụ, mang đến trải nghiệm mới cho du khách.

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 2

Xã Hương Sơn luôn nhận thức được tầm quan trọng của phát triển văn hóa. Trong đó, việc phát triển du lịch văn hóa được coi là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Xã đang nỗ lực xây dựng và phát triển địa phương với phương châm hướng tới đô thị hóa nông thôn giàu đẹp, văn minh, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm của xã, đặc biệt là phát huy giá trị Khu di tích và danh thắng Hương Sơn (chùa Hương).”

Lễ hội năm nay diễn ra từ ngày 18/2 đến hết ngày 11/5 (tức từ mùng Hai tháng Giêng đến ngày 25/3 năm Bính Ngọ). Theo Ban tổ chức, từ ngày mồng 1 Tết đến hết ngày mồng 5 tháng Giêng năm Bính Ngọ, tổng số khách về với chùa Hương đạt 135.895 lượt người, tăng 138% so với cùng kỳ năm trước. Dù lượng khách tăng mạnh, công tác điều tiết, phân luồng giao thông được triển khai chủ động, khoa học nên tình trạng ùn ứ kéo dài cơ bản được khắc phục; tại các điểm trọng tâm như Thiên Trù và động Hương Tích, an ninh trật tự được giữ vững.

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 3

Một điểm nổi bật của mùa lễ hội năm nay là việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và phục vụ. Ban tổ chức triển khai bán vé điện tử, bán vé trực tuyến, lắp đặt cây bán vé tự động và kiểm soát vé bằng mã QR, giúp rút ngắn thời gian chờ đợi, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, tăng tính công khai, minh bạch. Hệ thống camera AI được lắp đặt tại các khu vực trọng điểm, kết hợp flycam giám sát dọc suối Yến, hỗ trợ theo dõi mật độ khách, chủ động phương án phân luồng, bảo đảm an toàn giao thông. Cùng với đó, tổ phản ứng nhanh được thành lập để tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh, tình huống phát sinh qua đường dây nóng 19001207, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý và chất lượng phục vụ.

Công tác quản lý dịch vụ tiếp tục được chấn chỉnh theo hướng văn minh, trật tự. Các điểm kinh doanh được sắp xếp gọn gàng; hàng quán lấn chiếm được giải tỏa, trả lại không gian thông thoáng, trang nghiêm cho khu di tích. Trên tuyến suối Yến, các phương tiện được siết chặt quản lý, xuồng máy chỉ hoạt động trong trường hợp cần thiết; chủ yếu sử dụng đò chèo tay góp phần giữ gìn không gian văn hóa truyền thống, tạo điều kiện để du khách được trải nghiệm hành trình lễ hội trong sự yên tĩnh, thanh bình.

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 4

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 5

Các quy định về an toàn đường thủy được thực hiện nghiêm túc: 100% đò xuất bến phải trang bị đầy đủ áo phao; du khách bắt buộc mặc áo phao trong suốt hành trình. Lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm, kể cả đình chỉ hoạt động nếu tái phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng. Việc miễn phí toàn bộ điểm trông giữ ô tô trong suốt mùa lễ hội tiếp tục nhận được sự đồng tình, ủng hộ của người dân và du khách.

Trong khuôn khổ lễ khai mạc, chương trình nghệ thuật chào mừng được dàn dựng công phu với nhiều tiết mục đặc sắc như “Trống hội Thăng Long”, liên khúc “Hà Nội linh thiêng và hào hoa” – “Hà Nội niềm tin và hy vọng”, “Trẩy hội”, “Hương Sơn quê em”, “Chùa Hương”, “Việt Nam Phật giáo sáng ngời hào quang”… góp phần tạo không khí rộn ràng, đậm đà bản sắc văn hóa trong ngày hội đầu xuân.

Với sự chuẩn bị chu đáo, phương thức tổ chức linh hoạt cùng việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ, Lễ hội Du lịch Chùa Hương năm 2026 từng bước khẳng định hình ảnh điểm đến tâm linh an toàn, văn minh, thân thiện; đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của khu di tích trong thời gian tới.

Một số hình ảnh tại lễ khai hội chùa Hương 2026:

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 6

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 7

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 8

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 9

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 10

Chính thức khai hội Chùa Hương năm 2026 - 11



Nguồn: Arttimes.vn