Home Blog Page 63

Toyota RAV4 Hybrid 2026 sắp trình làng, giá dự kiến từ 978 triệu đồng


Thế hệ mới của Toyota RAV4 được kỳ vọng sẽ trở thành “quân bài chiến lược” của Toyota Motor Corporation tại Đông Nam Á, đặc biệt trong bối cảnh phân khúc SUV cỡ C điện hóa đang cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Toyota RAV4 Hybrid 2026 sắp ra mắt thị trường Philippines vào tháng 3/2026 nhưng những thông tin quan trọng về giá bán và cấu hình đã sớm lộ diện thông qua bảng chào giá từ đại lý.

Toyota RAV4 Hybrid 2026 sắp trình làng, giá dự kiến từ 978 triệu đồng - 1

Theo thông tin rò rỉ, mẫu crossover hybrid này sẽ được phân phối với hai phiên bản gồm ADV và LTD. Bản RAV4 ADV HEV AWD CVT có giá 2.183.000 peso, tương đương khoảng 978–989 triệu đồng, trong khi bản cao cấp RAV4 LTD HEV AWD CVT được chào bán ở mức 2.499.000 peso (khoảng 1,12–1,13 tỷ đồng).

Riêng tùy chọn sơn Platinum White Pearl trên bản LTD có giá 2.514.000 peso, nhỉnh hơn đôi chút so với các màu tiêu chuẩn. Với mặt bằng giá này, RAV4 Hybrid được đánh giá cạnh tranh hơn một số đối thủ cùng phân khúc như Honda CR-V Hybrid hay Subaru Forester e-Boxer tại Philippines.

Toyota RAV4 Hybrid 2026 sắp trình làng, giá dự kiến từ 978 triệu đồng - 2

Cả hai phiên bản đều sử dụng hệ truyền động hybrid gồm động cơ xăng 2.5L 4 xi-lanh kết hợp hai mô-tơ điện và bộ pin dung lượng 1,09 kWh, đi kèm hệ dẫn động 4 bánh toàn thời gian AWD và hộp số CVT. Thông số công suất dành riêng cho thị trường Philippines hiện chưa được công bố, song cấu hình này về cơ bản tương đồng với các thị trường quốc tế, hướng đến sự cân bằng giữa hiệu suất vận hành và khả năng tiết kiệm nhiên liệu.

Về thiết kế, bản ADV theo đuổi phong cách mạnh mẽ, đậm chất dã ngoại với phần đầu xe cao, ốp vòm bánh lớn, giá nóc nâng cao cùng các chi tiết nhựa đen tạo cảm giác cứng cáp. Các tùy chọn màu như Urban Rock, Massive Gray hay Ever Rest càng nhấn mạnh tinh thần khám phá. Trong khi đó, bản LTD thiên về sự lịch lãm với cản trước/sau đồng màu thân xe, lưới tản nhiệt họa tiết 3D và các gam màu cao cấp như Attitude Black, Dark Blue Mica hay Avantgarde Bronze.

Toyota RAV4 Hybrid 2026 sắp trình làng, giá dự kiến từ 978 triệu đồng - 3

Khoang nội thất được thiết kế theo hướng hiện đại và thân thiện với người dùng, nổi bật với cụm đồng hồ kỹ thuật số 12,3 inch và màn hình trung tâm 12,9 inch. Cả hai phiên bản đều có ghế trước chỉnh điện nhớ vị trí và điều hòa tự động hai vùng. Bản LTD được bổ sung mâm 20 inch, cửa sổ trời toàn cảnh, ghế da cao cấp có thông gió, hệ thống âm thanh JBL 9 loa và màn hình HUD. Đáng chú ý, RAV4 Hybrid 2026 là mẫu xe đầu tiên được trang bị gói an toàn Toyota Safety Sense 4.0 mới nhất, bổ sung hàng loạt tính năng hỗ trợ lái tiên tiến.

Toyota RAV4 Hybrid 2026 sắp trình làng, giá dự kiến từ 978 triệu đồng - 4

Với mức giá khởi điểm dưới 1 tỷ đồng quy đổi cùng trang bị dồi dào và công nghệ an toàn thế hệ mới, Toyota RAV4 Hybrid 2026 được dự báo sẽ tạo sức ép đáng kể lên các đối thủ trong phân khúc crossover điện hóa cỡ C tại Philippines nói riêng và Đông Nam Á nói chung.



Nguồn: Arttimes.vn

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện


Mercedes-AMG GLC 53 4MATIC+ sở hữu động cơ I6, 3.0L và trải nghiệm lái thể thao đặc trưng.

Mercedes-Benz trở lại với dòng xe SUV/crossover bằng cách ra mắt phiên bản nâng cấp Mercedes-AMG GLC 53 4MATIC+ hứa hẹn mang đến trải nghiệm lái đặc trưng AMG với niềm vui lái xe tăng cường trên những cung đường đèo ngoằn ngoèo.

Xe có gói tuỳ chọn Golden Accents mang đến màu sơn Đen – obsidian black metallic hoặc Xám – graphite grey magno kết hợp với nhiều chi tiết tạo điểm nhấn bên ngoài. Các trang bị nhấn mạnh vẻ ngoài đặc biệt. Lớp decal tinh tế trên sườn xe với logo AMG là tùy chọn. Bộ mâm rèn AMG kích thước 21 inch sơn màu đen mờ.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 1

Với gói AMG Night các chi tiết như vỏ gương, viền trang trí sơn đen bóng cao cấp.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 2

Với gói AMG Night các chi tiết như vỏ gương, viền trang trí sơn đen bóng cao cấp. Kết hợp với ống xả và tay nắm cửa chrome đen. Gói AMG Night Package II dành cho những người yêu thích chi tiết cao cấp với thanh lưới tản nhiệt, logo AMG trên nắp capo. Gói AMG Design Plus gồm, cản trước với các hốc gió được làm lớn cùng nhiều chi tiết sơn đen, cánh gió sau AMG đặt trên mui (đối với SUV) và cốp sau (Coupé).

Nội thất gói của Golden Accents nổi bật với ghế thể thao AMG bọc da màu đen sang trọng, điểm nhấn là tựa lưng ghế và chỉ khâu trang trí màu tương phản với ngoại thất, tạo độ tương phản hấp dẫn. Vô-lăng AMG Performance với 3 cấp độ được bọc microfiber với nút điều khiển nhanh cho chế độ lái. Kẹp phanh hiệu suất cao AMG sơn đỏ với chữ AMG ở cả hai trục nhấn mạnh tính thể thao.

Các tấm tapi cửa và bảng táp-lô cũng có chỉ khâu tương phản cùng màu. Các chi tiết carbon AMG dệt sợi kim loại phù hợp với techgold của gói. Bậc cửa AMG có họa tiết AMG đen và chiếu sáng logo AMG trắng. Thảm sàn AMG với chỉ khâu beige hoàn thiện nội thất.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 3

Bộ mâm rèn AMG kích thước 21 inch sơn màu đen mờ.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 4

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 5

Mẫu xe mới là động cơ xăng I6, dung tích 3.0L với hệ thống tăng áp kép gồm: turbo và máy nén phụ trợ điện. Động cơ có đầu xi-lanh mới với cổng nạp/xả cải tiến và trục cam nạp mới. Hệ thống mild-hybrid 48V thế hệ hai bổ sung 17 kW và 205 Nm

Cho công suất 449 mã lực và mô-men xoắn 600Nm (nhờ overboost có thể tăng lên 640Nm. Động cơ I6 hiệu suất cao đã được nâng cấp toàn diện, mang đến mức độ phản hồi nhanh và nhạy hơn cùng dải vòng tua cao ấn tượng.

Xe tăng tốc từ 0-100 km/h chỉ 4,2 giây với chức năng Race Start từ gói AMG Dynamic Plus tùy chọn. Tốc độ tối đa giới hạn 250 km/h, có thể nâng lên 270 km/h với gói tùy chọn AMG Driver’s. Động cơ I6 kết hợp với hộp số AMG SPEEDSHIFT TCT 9G cùng hệ dẫn động bốn bánh AMG Performance 4MATIC+ hoàn toàn biến thiên.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 6

Nội thất gói của Golden Accents nổi bật với ghế thể thao AMG bọc da màu đen sang trọng.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 7

Vô-lăng AMG Performance với 3 cấp độ được bọc microfiber.

Xe còn có vi sai hạn chế trượt cầu sau điều khiển điện tử với Drift Mode, lần đầu tiên xuất hiện trên chiếc SUV AMG. Điều này cho phép người lái khám phá toàn bộ sức mạnh trên đường đua. Âm thanh động cơ mạnh mẽ và đầy cảm xúc nhờ hệ thống xả mới với bộ cộng hưởng đặc biệt. Tiếng nổ đặc trưng AMG và âm bass sâu khi tăng tốc mạnh tạo nên khoảnh khắc ấn tượng đằng sau tay lái.

Mỗi chế độ lái sẽ thay đổi mức độ mạnh của âm thanh. Ngoài ra còn có hệ thống AMG Real Performance Sound với van xả điều chỉnh thủ công. Mercedes-AMG GLC 53 4MATIC+ có 5 chế độ lái (Slippery, Comfort, Sport, Sport+, Individual). Với gói AMG DYNAMIC PLUS tùy chọn còn có chế độ “RACE”, các thông số quan trọng như phản hồi động cơ, hộp số, hệ thống treo và vô-lăng đều được điều chỉnh.

Hệ thống kiểm soát AMG Dynamics tích hợp trong các chế độ lái, với các mức “Basic”, “Advanced”, “Pro” tác động trực tiếp đến việc kiểm soát ESP và hệ dẫn động bốn bánh. Hệ thống dự đoán hành vi xe mong muốn dựa trên dữ liệu cảm biến và thao tác tài xế.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 8

Hệ thống treo AMG Ride Control được phát triển tại Affalterbach mang lại khả năng xử lý linh hoạt.

Mercedes-AMG GLC 53 bản nâng cấp lộ diện - 9

Gói AMG Design Plus gồm, cản trước với các hốc gió được làm lớn cùng nhiều chi tiết sơn đen.

Hệ thống treo AMG Ride Control được phát triển tại Affalterbach mang lại khả năng xử lý linh hoạt, vào cua trung tính và độ bám cao. Hệ thống treo thép được điều chỉnh mới với bộ giảm chấn thích ứng mang lại khoảng cách lớn giữa lái xe năng động và thoải mái đường dài. Đặc tính giảm chấn có thể tuỳ chọn 3 mức: “Comfort”, “Sport” và “Sport+”, tạo sự khác biệt rõ rệt giữa thoải mái và thể thao.

Hệ thống đánh lái bánh sau trang bị tiêu chuẩn với góc tối đa 2,5 độ khi xe di chuyển dưới 100 km/h và trên 100 km/h bánh lái sẽ xoay cùng chiều tối đa 0,7 độ, tăng sự ổn định, phản ứng nhanh hơn khi chuyển hướng.

Để trải nghiệm lái thể thao hơn nữa, gói tùy chọn AMG Dynamic Plus tích hợp các trang bị hiệu suất cao như vi sai hạn chế trượt cầu sau điều khiển điện tử, chế độ lái “RACE” với Drift Mode. Giá đỡ động cơ chủ động tối ưu hóa kết nối động cơ với thân xe, cải thiện động lực ở tốc độ cao.



Nguồn: Arttimes.vn

Đám cưới của Thúy Kiều


Dường như Nguyễn Du chỉ tổ chức đám cưới cho Thúy Kiều hai lần…

Thơ đi theo tình và theo cảm xúc

Bồi hồi quanh bút nghiêm (1)

Vua Tự Đức (1829 – 1883)

Dường như Nguyễn Du chỉ tổ chức đám cưới cho Thúy Kiều hai lần…

Với Từ Hải thì cuộc sống vợ chồng cùng Thúy Kiều không có chuyện cưới xin. Từ Hải yêng hùng ngay từ buổi đầu gặp mặt. “Lại đây xem lại cho gần”. Rồi ngỏ lời với bà mối và bỏ tiền ra chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh. Nguyễn Du không nói rõ số tiền chuộc là bao nhiêu. Chỉ nói là tiền trăm. Còn Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện thì nói số tiền chuộc Kiều của Từ Hải là 200 lạng vàng. Thuê một chỗ rồi sau đó dựng một tòa nhà cho Thúy Kiều ở. Nguyễn Du làm lại cuộc đó bằng những câu lục bát sang trọng hơn nhiều. Mang đậm dấu ấn nghi lễ của người phương Bắc: “Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn/ Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên”.

Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện còn tổ chức đám cưới thứ 3 cho Kim Trọng – Thúy Kiều sau 15 năm đoạn trường của Kiều. Vị Tài Nhân này miêu tả khá chi tiết đám cưới ấy. Từ lúc Vương ông muốn chọn ngày tốt làm lễ thành thân. Rồi Vương quan làm lễ hợp cẩn. Kim Trọng thì thích lắm. Còn Kiều cũng nhận rằng việc đuốc hoa không dám trái lời và phận chăn gối cũng xin tuân mệnh. Nhưng dứt khoát không tuân mệnh việc mây mưa! Thế là Tài Nhân đã cho sửa soạn đuốc hoa. Trải chiếu nệm hồng để vợ chồng Kiều Kim vào hành lễ tế trời đất. Rồi mọi người dìu hai vợ chồng vào phòng ngủ, chờ cho họ uống rượu hợp cẩn mới lui ra. Rõ ràng là một đám cưới. Chỉ không có chuyện mây mưa thôi.

Nguyễn Du không tổ chức đám cưới cho họ. Cụ Nguyễn chủ yếu dùng lục bát miêu tả sự giằng co giữa Kim Trọng với lý thuyết “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”, Kiều thì trái lại cho là “chữ trinh đáng giá nghìn vàng” trong khi “Thiếp từ ngộ biến đến giờ/ Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa” để một mực từ chối. Bởi vậy Nguyễn Du chỉ mở tiệc đoàn viên giao bái một nhà. Lễ đủ lễ. Đôi đủ đôi. Dù có “động phòng dìu dặt chén mồi”. Cụ Nguyễn đã cố gắng làm mờ đi cái nghi thức đám cưới. Đêm ấy, Kiều Kim chỉ gảy đàn cho nhau nghe đến sáng! Và việc làm đó là đúng với chủ trương “Đem tình cầm sắt” (vợ chồng) “đổi ra cầm cờ” (bạn tri âm). Có người nói cả Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du đều cải lương trong việc hôn nhân Kim Trọng – Thúy Kiều không biết có đúng không? Tôi cho rằng cả hai ông không tuân theo logic của đời thường là vì muốn đề cao phẩm hạnh của Thúy Kiều, một người đã trải qua 15 năm ở chốn lầu xanh. Kết thúc câu chuyện hôn nhân này, Thanh Tâm Tài Nhân viết: “Kim Trọng một chồng hai vợ không phân chia lớn bé, khi chăn gối lúc cầm thi”. Nguyễn Du cũng kết thúc có hậu. Nhưng là hậu khác: “Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thi”, và ông cho lập một am này để Kiều “trên am cứ giữ hương dầu hôm mai”. Một lần nữa ông lại đứng về phía Kiều để ca ngợi sự hoàn lương.

Kim Vân Kiều truyện dành tới 5 hồi từ hồi thứ tư đến hồi thứ tám để miêu tả đám cưới giữa Thúy Kiều với Mã Giám Sinh. Còn Nguyễn Du cho tổ chức đám cưới ấy với 234 câu thơ, từ câu thứ 686 đến câu thứ 920. Tính từ lúc Mã Giám Sinh đến “mái ngoài họ Mã vừa sang/ tờ hoa đã ký cân vàng mới trao”. Đến khi về đến Lâm Truy “Những là lạ nước lạ non/ Lâm Truy vừa một tháng tròn tới nơi”. Cả hai ông, theo đuổi lý tưởng thẩm mĩ khác nhau, thậm chí cả triết lý nhân sinh khác nhau, thể hiện lối văn và thể văn khác nhau, và Nguyễn Du với sự thấm nhuần sâu sắc văn hóa, xã hội Trung Hoa, mà đôi khi cảm tưởng ông sâu sắc hơn cả Thanh Tâm Tài Nhân. Và do đó khoảng cách tài năng giữa hai người khác nhau.

Với việc sử dụng thể tiểu thuyết chương hồi, càng chi tiết sự việc bao nhiêu càng tốt và không ngại ngần những yếu tố tự nhiên, tính dục… Thanh Tâm Tài Nhân đã dựng lên một cô Kiều khác. Đôi khi ta thấy sợ. Khi mụ mối đưa ra giá bán Kiều là 500 lạng. Họ Mã lúc đầu xin 300 lạng vì tiền lễ nhiều quá. Thúy Kiều nói: Bán mình mà không được việc thì bán làm gì. Mã lại nói: Thôi xin đưa 400 lạng! Thúy Kiều nói: không 500 lạng là không được. Sau cùng Mã Giám Sinh phải chịu thêm 50 lạng nữa tổng là 450 lạng bạc… Kiều ơi là Kiều! 

Nguyễn Du khác hẳn. Với một tâm hồn của người thi sĩ, ông đã đứng hẳn về  phía Thúy Kiều nên Nguyễn Du đã lược bỏ những chi tiết ở trên để độc giả thấy nàng là một người thục nữ đoan trang phẩm hạnh. Thiên tài của Nguyễn Du ở chỗ ông dám bỏ những chi tiết gây cấn, không sa vào tự sự, vốn là truyền thống mạnh mẽ của thi ca phương Đông để bằng một trái tim nhân hậu của người thi sĩ, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp mà có người gọi là gợi và tả để dựng lên những tâm trạng đầy cá tính với những vần thơ lục bát tả tình siêu việt. Đồng thời là những bức tranh thiên nhiên kỳ diệu mà chính Thanh Tâm Tài Nhân là người Trung Quốc cũng không có. Cứ như là Nguyễn Du hòa mình sống trong thiên nhiên ấy, trên nền tảng lấy tâm tình là chủ đạo.

Đám cưới với họ Mã thực chất là một đám cưới giả. Nguyễn Du cho tổ chức vào ban đêm. “Tinh kỳ giục dã đã mong trở về”. Tinh kỳ là giờ dẫn hôn. Nghĩa là đám cưới trông thấy sao mới đi. Khúc 1 mở đầu bằng 10 câu lục bát tự sự và bình luận. Khúc 2 là tâm trạng của Thúy Kiều nhớ Kim Trọng, không biết đất Liêu Dương nơi chàng Kim về hộ tang chú bao xa. Nỗi riêng bàn hoàn lưu luyến để dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn. Khúc 3 với 46 câu lục bát Kiều dặn dò Thúy Vân thay chị nối tiếp đường tình với Kim Trọng. Lời thơ vừa đau đớn, vừa thiết tha nhân hậu cùng đức hy sinh.

“Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”.

Nguyễn Du không kìm lòng được nữa vì ông đâu phải là nhà tiểu thuyết, ông đã kêu lên cùng Thúy Kiều. Tiếng kêu ai oán của tình yêu trong sạch và phẩm giá làm người.

“Ôi! Kim lang! Hỡi Kim lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.

Khúc 3 với 18 câu tiếp theo kể chuyện cả nhà họ Vương kẻ thuốc người thang cứu Kiều thoát khỏi cơn sốc để dẫn đến cái chốt vẫn là tấm lòng và tâm trạng của Thúy Kiều.

“Sá chi thân phận tôi đòi

Dẫu rằng xương trắng quê người quản chi”.

Khúc 4 với 28 câu tả cảnh và tâm trạng của Thúy Kiều khi bị Mã Giám Sinh chiếm đoạt. Kiều xót xa khi “Phẩm tiên rơi đến tay hèn” và tiếc không hết lòng với Kim Trọng “Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”. Những câu tả cảnh tuyệt vời mà Thanh Tâm Tài Nhân không viết. Cảnh và người trong Đoạn Trường tân thanh của Nguyễn Du như lồng với nhau, đồng cảm với nhau như người ta nói thiên nhiên cũng là một nhân vật trữ tình vốn được coi là thế mạnh của thi pháp thi ca phương Đông.

“Trời hôm mây kéo tối rầm

Dầu dầu ngọn cỏ, dầm dầm cành sương

… Đêm thu một khắc canh chầy

Bâng khuâng như tỉnh như say một mình”.

Khúc 5 – 48 câu thơ, trở lại tự sự là chủ yếu kể về thân thế sự nghiệp nhơ nhuốc của Mã Giám Sinh và Tú Bà. Nguyễn Du đã bỏ đi rất nhiều chi tiết tự nhiên chủ nghĩa của Thanh Tâm Tài Nhân về thủ đoạn lừa lọc, bẫy tình của chủ chứa Tú Bà. Ông cũng đã phá vỡ tính trình tự thời gian của một đám cưới để kể chuyện.

Khúc 6, chừng 14 câu thơ mô tả tâm trạng của Thúy Kiều sau khi bị Mã Giám Sinh chiếm đoạt như sau một cơn mưa gió nặng nề khiến Kiều đã định cầm dao toan bài quyên sinh.

Khúc 7 với 36 câu thơ, một lần nữa làm phép đảo về trật tự thời gian để có một không gian cho Vương ông tiễn đưa 10 dặm trường đình. Để Thúy Kiều bày tỏ tâm trạng với cha mẹ và chia sẻ lời dặn dò của họ.

Khúc 8 chỉ với 14 câu thơ nhưng là đoạn thơ hay nhất trong đám cưới của Thúy Kiều. Nguyễn Du đã viết những câu thơ lục bát tuyệt vời tả cảnh tả tình đan xen vào nhau đặc sắc mà tiếc thay Thanh Tâm Tài Nhân đã bỏ qua, mặc dù ông ấy bị ràng buộc bởi tiểu thuyết chương hồi. Nhưng có ai ngăn cản ông đâu về miêu tả thiên nhiên kia chứ. Điển hình nhất là đoạn chia tay Kiều – Thúc, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ viết có một dòng: “Thúy Kiều không theo tiễn được xa, chỉ đứng sau bình phong gạt lệ mà thôi”. Nguyễn Du thì vẽ một bức tranh mùa thu mà đến nay vẫn chưa có ai viết được như thế. 

“Người lên ngựa kẻ chia bào

Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san

Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Đó là cảnh trong khi đùng đùng gió giục mây vần, có một cỗ xe lặn lội cõi hồng trần vô định và bất an của con người như bay trong đó. Nàng Kiều của chúng ta giọt lệ chia tay nơi góc trời thăm thẳm đăm đắm ngày lại qua ngày khởi đầu đoạn trường 15 năm lưu lạc. Và:

“Vi lô san sát hơi may

Một trời thu để riêng ai một người

Dặm khuya tạnh ngắt mù khơi

Thấy trăng mà thẹn những lời non sông!”.

Đoạn trường Tân Thanh của Nguyễn Du chủ yếu lược bỏ và làm mờ đi các chi tiết của tiểu thuyết chương hồi để hướng tới việc khắc họa những bức tranh sinh động về tình người gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên, đặc biệt là những dòng thơ viết về mùa thu, làm nên những câu thơ lục bát tuyệt đỉnh. Thiên tài của Nguyễn Du ở chỗ ông tôn trọng yếu tố tự sự của câu chuyện để tái sinh lại câu chuyện về tâm trạng và tính cách con người trên nền lục bát truyền thống đẹp về nhạc điệu, trau chuốt về ngôn từ, khó có người lặp lại được.

Đám cưới của Thúy Kiều - 1

Tranh minh họa Truyện Kiều của họa sĩ Lê Trí Dũng.

Đám cưới thứ hai với Thúc Sinh, sau khi Thúc Sinh ở với Thúy Kiều được gần một năm và Nguyễn Du đã dành cho chàng quá nhiều ưu ái, sau khi Thúc ông thua kiện đòi tòa buộc Kiều phải trở lại lầu xanh, Nguyễn Du đã tổ chức đám cưới cho họ – vẻn vẹn chỉ có 8 câu tự sự. Không ai được như Thúc Sinh được Nguyễn Du tặng nhiều bức tranh đẹp nhất về thiên nhiên mà ngay cả người viết Kim Vân Kiều truyện cùng dòng máu chủng tộc với chàng cũng không làm được. “Nửa năm hơi tiếng vừa quen, sân ngô cành biếc đã chen lá vàng”. Một mùa thu bước tới sau khi mùa hè đã đánh thức dậy thiên nhiên. “Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”…

Lịch sử văn chương Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XVI, XVII người Việt Nam thích làm đoản thi nhiều hơn cả. Phần lớn viết bằng chữ Hán. Đến thế kỷ XVIII, hình thành một dòng chảy văn học đặc sắc – những tác phẩm truyện thơ Nôm phần nhiều là lục bát và những khúc ngâm được viết bằng chữ Hán rồi phổ cập bằng chữ Nôm như Chinh Phụ ngâm và viết bằng chữ Nôm như Cung oán ngâm khúc sử dụng thể song thất lục bát.

Chữ Nôm là chữ của người Việt dựa trên ký tự chữ Hán để biểu thị âm Việt ra đời từ thế kỷ XIII. Truyện thơ Nôm với những tác phẩm nổi tiếng như Hoa Tiên 1826 câu của Nguyễn Huy Tự viết và Nguyễn Thiện nhuận sắc. Nhị độ mai – khuyết danh 2826 câu. Tống Trân Cúc Hoa – khuyết danh 1689 câu. Phạm Tải Ngọc Hoa – khuyết danh 926 câu và Kiều 3254 câu. Trong đó có 3 truyện thơ lấy gốc gác cốt truyện từ Trung Quốc là Kiều, Hoa Tiên, Nhị Độ Mai thì Truyện Kiều của Nguyễn Du là thành công hơn cả và là tác phẩm đỉnh cao của văn học trung đại. Có được điều đó do nhiều yếu tố, Nhưng có thể kể thành công của Nguyễn Du là ở chỗ ông kết hợp được nghệ thuật tự sự của Truyện Nôm và sự mô tả sâu sắc tâm trạng nhân vật của thể khúc ngâm để tạo nên những phẩm chất vượt trội của Đoạn Trường Tân Thanh, tạo nên đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại. Nếu không muốn nói là đỉnh cao nhất. Không thể không thừa nhận rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều không chỉ trên nền tảng đồng cảm sâu sắc với thân phận Thúy Kiều mà còn dựa trên sự hiểu biết lịch lãm của ông về văn hóa, phong tục, xã hội, cảnh sắc thiên nhiên của người Trung Quốc.

Có người nói: văn là yếu tố then chốt của chính trị. Thời đại đã đổi thay. Lý tưởng thẩm mỹ và triết lý nhân sinh đã có nhiều biến động. Bước sang thế kỷ XX, truyện thơ ít được dùng. Thể trường ca đã có bước phát triển mạnh mẽ. Phần nhiều trường ca nổi tiếng nửa sau thế kỷ XX được kết cấu theo chương mục không tổ chức theo một câu chuyện cụ thể mà đề cập đến tâm trạng của thời cuộc, của một lớp người; Đặc biệt là của những người lính ra trận, những phụ nữ ở hậu phương… Những người mang tên anh hùng của thời đại mới. Và do đó trường ca mang âm hưởng sử thi, đưa đến diện mạo mới của thi ca so với 50 năm đầu thế kỷ. Từ đêm mười chín – Khương Hữu Dụng – 1951. Những người trên cửa biển – Văn Cao – 1956. Tiếng hát người quan họ – Hoàng Cầm – 1956. Bài ca chim Chơ rao – Thu Bồn – 1962. Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm – 1974. Những người đi tới biển – Thanh Thảo – 1977. Đường tới thành phố – Hữu Thỉnh – 1978. Trường ca sư đoàn – Nguyễn Đức Mậu – 1980. Tiếng bom và tiếng chuông chùa – Phạm Tiến Duật – 1997 v.v… Trường ca trở thành một bức tranh lịch sử về số phận của con người gắn bó với vận mệnh của đất nước, với thăng trầm đầy bi tráng của lịch sử, hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và bản tính của người Việt Nam. Đất nước – người mẹ – người lính là những nhân vật chủ đạo của trường ca nửa sau thế kỷ 20. Thành tựu là rất lớn. Nhưng chưa có tác phẩm thơ nào ở dòng văn chương bác học lại được phổ cập và bình dân như Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Năm mươi năm chiến tranh đã đi qua. Biết bao số phận của con người đã đi qua. Đọc lại Truyện Kiều gợi cho nhiều suy ngẫm. Không còn gì nghi ngờ nữa. Truyện Kiều là biểu tượng rõ rệt của sự giao thoa văn hóa Việt Nam và Trung Hoa. Thiên tài Nguyễn Du đã mang đến một diện mạo khác, một tầm vóc khác cho Kim Vân Kiều truyện, vốn là một tiểu thuyết không phải được xếp hàng đầu ở Trung Quốc. Các nhân vật cụ thể trong Truyện Kiều được sống một đời sống khác trong văn mạch dân tộc của người Việt Nam, trong không gian thơ lục bát kỳ diệu của đất nước Việt Nam. Thiên tài của Nguyễn Du đã xây dựng được những trường đoạn về tâm trạng nhân vật đầy tinh tế và sắc sảo cùng với thiên nhiên như là một nhân vật trữ tình tuyệt vời thầm thì trải rộng trước Đoạn Trường Tân Thanh mấy thế kỷ nay mà chưa hề xưa cũ. Sẽ không phải điều gì quá đáng khi chúng ta mong mỏi có một tác phẩm văn học xứng tầm với thời đại mới, với những vinh quang và thách thức của số phận con người như Nguyễn Du đã từng làm được ở một thời vang bóng đã qua.

(1) Người xưa bàn về văn chương, tập 1 – NXB Khoa học xã hội – 1993, trang 92.

Khuất Bình Nguyên




Nguồn: Arttimes.vn

Ra mắt Nissan Gravite, MPV 7 chỗ giá từ 161 triệu đồng


Tại thị trường Ấn Độ, Nissan vừa chính thức giới thiệu mẫu MPV 7 chỗ hoàn toàn mới mang tên Gravite, định vị ở nhóm xe gia đình giá rẻ dưới 4 mét.

Gravite được phát triển trên nền tảng CMF-A+ dùng chung với Renault Triber. Tuy nhiên, Nissan đã tái thiết kế đáng kể phần ngoại thất nhằm tạo dấu ấn riêng. Đầu xe nổi bật với lưới tản nhiệt họa tiết tổ ong cỡ lớn, cản trước tạo hình góc cạnh cùng các chi tiết hình chữ C đặc trưng. Dải đèn LED ban ngày được làm mới để đồng bộ với ngôn ngữ thiết kế hiện tại của hãng xe Nhật. Ở phía sau, dòng chữ “Gravite” dập nổi trên cửa cốp và cản sau hầm hố hơn giúp tổng thể mang hơi hướng lai crossover rõ nét.

Ra mắt Nissan Gravite, MPV 7 chỗ giá từ 161 triệu đồng - 1

Dù sở hữu kích thước nhỏ gọn, Gravite vẫn gây chú ý khi được bố trí ba hàng ghế tiêu chuẩn, hướng đến nhóm khách hàng cần một phương tiện thực dụng, linh hoạt nhưng có chi phí sở hữu thấp.

Ra mắt Nissan Gravite, MPV 7 chỗ giá từ 161 triệu đồng - 2

Xe có chiều dài tổng thể dao động quanh mức 3.987–3.991 mm, chiều dài cơ sở 2.636 mm và khoảng sáng gầm 182 mm. Thông số này khiến Gravite có chiều dài tương đương các mẫu SUV đô thị hạng A như Toyota Raize hay Kia Sonet, nhưng trục cơ sở lại tiệm cận nhóm SUV hạng B như Hyundai Creta. Nhờ vậy, không gian nội thất được tối ưu đáng kể. Hàng ghế thứ ba có thể tháo rời hoàn toàn, cho phép mở rộng dung tích khoang hành lý lên tới 625 lít khi cần chở nhiều đồ.

Ra mắt Nissan Gravite, MPV 7 chỗ giá từ 161 triệu đồng - 3

Bên trong khoang lái, Gravite kế thừa phần lớn bố cục từ Triber với màn hình giải trí 8 inch hỗ trợ kết nối không dây Android Auto và Apple CarPlay, đi kèm bảng đồng hồ kỹ thuật số 7 inch trên các bản cao. Tùy phiên bản, xe được bổ sung hệ thống âm thanh JBL, camera hành trình kép, sạc không dây, máy lọc không khí, đèn viền nội thất, ga tự động, cảm biến đỗ xe trước/sau và gạt mưa tự động. Trang bị an toàn tiêu chuẩn gồm 6 túi khí, cân bằng điện tử ESP, kiểm soát lực kéo, hỗ trợ khởi hành ngang dốc và hệ thống phanh ABS/EBD.

Cung cấp sức mạnh cho Nissan Gravite là động cơ xăng 1.0L, 3 xi-lanh hút khí tự nhiên, cho công suất 71 mã lực và mô-men xoắn 96 Nm, kết hợp hộp số sàn 5 cấp hoặc tự động EZ-Shift (AMT). Mức tiêu thụ nhiên liệu công bố khoảng 5,1 lít/100 km tùy phiên bản.

Ra mắt Nissan Gravite, MPV 7 chỗ giá từ 161 triệu đồng - 4

Tại Ấn Độ, Nissan Gravite có giá khởi điểm từ 565.000 rupee (khoảng 161 triệu đồng), trong khi bản cao nhất Tekna Launch Edition với trang bị đầy đủ cũng chỉ ở mức dưới 900.000 rupee, trở thành một trong những mẫu xe 7 chỗ có giá dễ tiếp cận nhất phân khúc.



Nguồn: Arttimes.vn

Khúc hát gọi mùa xuân đại ngàn


Trong mạch nguồn sáng tác bền bỉ và giàu bản sắc của nhà báo – nhạc sĩ Tào Khánh Hưng, ca khúc “Bên em mùa xuân Tây Bắc” xuất hiện như một bông hoa ban nở đúng độ xuân về. Đây không chỉ là một tác phẩm viết về mùa xuân, về miền Tây Bắc, mà còn là một khúc tình ca đậm chất văn hóa dân tộc, nơi thiên nhiên, con người, âm nhạc và phong tục hòa quyện trong một không gian nghệ thuật vừa nên thơ, vừa rộn ràng sức sống.

Được sáng tác dành riêng cho ca sĩ Lò Thu Hương – cô gái Thái tỉnh Điện Biên, giọng ca trẻ đang theo học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, ca khúc dự kiến vang lên trong các chương trình nghệ thuật Tết Nguyên đán 2026, như một lời chào xuân nồng ấm từ đại ngàn Tây Bắc gửi tới công chúng cả nước.

Khúc hát gọi mùa xuân đại ngàn - 1

Nhà báo – Nhạc sĩ Tào Khánh Hưng tác giả ca khúc “Bên em mùa xuân Tây Bắc”

Không gian Tây Bắc – vẻ đẹp mở ra từ những câu hát đầu tiên

Ngay từ những dòng đầu của A1, người nghe đã được dẫn vào một bức tranh xuân Tây Bắc đặc trưng:

“Xuân về trắng núi hoa ban,

Đào phai khoe sắc, mận tràn sườn nương”

Hoa ban – biểu tượng linh hồn của núi rừng Tây Bắc – được đặt ở vị trí trung tâm, “trắng núi”, mở ra một không gian khoáng đạt, tinh khôi. Hoa đào phai, hoa mận không chỉ là sắc xuân mà còn là dấu hiệu của mùa yêu, mùa hội. Những hình ảnh ấy không lạ, nhưng dưới ngòi bút của Tào Khánh Hưng, chúng hiện lên với cảm xúc sống động, không mang tính minh họa mà giàu rung động thẩm mỹ.

Khúc hát gọi mùa xuân đại ngàn - 2

Trên khắp các nẻo đường Tây Bắc du khách có thể dễ dàng bắt gặp sắc trắng tinh khôi của bạt ngàn hoa mận đang bung nở trên các triền đồi. Ảnh: Báo Lao động

Câu hát tiếp:

“Sương giăng triền núi, gió vương đại ngàn”

không chỉ tả cảnh mà còn gợi nhịp thở của núi rừng. “Sương giăng”, “gió vương” là những động từ mềm mại, tạo nên cảm giác bảng lảng, mơ hồ, rất hợp với tiết xuân vùng cao – nơi đất trời giao hòa, nơi con người dễ mở lòng trước thiên nhiên.

Đặc biệt, tiếng gọi:

“Inh lả ơi… gọi bước anh tìm em”

là điểm nhấn mang tính văn hóa. “Inh lả” không chỉ là thán từ dân gian mà còn là âm thanh bản địa, gợi tiếng gọi tình yêu, tiếng gọi hội hè, tiếng gọi mùa xuân. Nó làm cho ca khúc mang đậm hơi thở dân tộc, không thể nhầm lẫn với bất cứ vùng miền nào khác.

Hình tượng cô gái Thái – trung tâm của bức tranh mùa xuân

Khúc hát gọi mùa xuân đại ngàn - 3

Ca sĩ Lò Thu Hương dân tộc Thái với váy xòe, khăn piêu – những chi tiết trang phục truyền thống

Nếu A1 là bức tranh thiên nhiên, thì A2 là chân dung con người, cụ thể là hình ảnh cô gái Thái Tây Bắc – linh hồn của mùa xuân đại ngàn:

“Em về thắm sắc váy xoè,

Khăn piêu nghiêng nắng lưng đèo ban mai.”

Váy xòe, khăn piêu – những chi tiết trang phục truyền thống – được đưa vào ca từ một cách tự nhiên, tinh tế. Không cần miêu tả dài dòng, chỉ vài nét chấm phá, người nghe đã hình dung ra dáng em mềm mại, duyên dáng giữa không gian núi đèo.

Hình ảnh “Mắt cười lấp lánh, nhịp cồng chiêng say” là một liên tưởng đẹp. Ánh mắt con gái hòa vào nhịp cồng chiêng – tức là cái đẹp cá nhân hòa trong cái đẹp cộng đồng. Con người không tách rời lễ hội, không đứng ngoài văn hóa, mà chính là chủ thể làm nên không khí mùa xuân Tây Bắc.

Và rồi:

“Sao noọng ời… vòng xoè se duyên.”

Câu hát như một lời tỏ tình mộc mạc, chân thành. “Vòng xoè” không chỉ là điệu múa mà là không gian kết nối, nơi trai gái gặp gỡ, nơi tình yêu nảy nở, nơi mùa xuân trở nên có hồn.

Điệp khúc – khúc gọi mùa xuân và lời hẹn ước tình yêu

Hai đoạn điệp khúc B1 và B2 được xây dựng theo kết cấu mở rộng dần cảm xúc, tạo nên cao trào cho ca khúc.

Ở B1:

“Tây Bắc ơi, mùa xuân bừng nắng,

Gọi hoa đào nở giữa ngàn mây”

Tiếng gọi “Tây Bắc ơi” mang sắc thái thân thương, gần gũi, như gọi một người bạn, một miền quê ruột thịt. Mùa xuân “bừng nắng” không chỉ là ánh sáng thiên nhiên mà còn là ánh sáng của niềm vui, của khát vọng sống.

Câu hát:

“Inh lả ơi… anh theo câu hát,

Về bên em qua dốc, ngàn xa.”

là hình ảnh của hành trình. Con đường “qua dốc, ngàn xa” vừa là con đường địa lý, vừa là con đường của tình yêu – nơi người trai sẵn sàng vượt núi băng rừng để tìm đến người mình thương.

Sang B2, cảm xúc trở nên tròn đầy hơn:

“Tây Bắc ơi, hoa ban hoa mận,

Trắng núi đồi say gió say mơ.”

Không gian được mở rộng, sắc màu đậm hơn, cảm xúc cũng say hơn. Và cao trào được đẩy lên ở hình ảnh:

“Tay trong tay xoè,

Một vòng xuân ấm trọn tình thơ.”

“Vòng xuân” ở đây không chỉ là vòng xoè múa hát mà còn là vòng tròn hạnh phúc, vòng tròn của yêu thương, của gắn bó bền chặt.

Đoạn kết – hơi ấm nhà sàn và khát vọng gắn bó lâu dài

Đoạn C – kết bài – mang màu sắc trầm ấm, đời sống:

“Men rượu cần ấm bếp nhà sàn,

Lửa bập bùng hong má em ửng hồng”

Đây là không gian rất “Tây Bắc”: nhà sàn, bếp lửa, rượu cần. Không còn là hội hè ngoài trời, mà là sự sum vầy, ấm cúng, nơi tình yêu được nuôi dưỡng trong đời sống thường ngày.

Câu hát:

“Vòng xoè rộng mãi”

mang ý nghĩa biểu tượng – vòng xoè không chỉ rộng trong không gian mà rộng trong lòng người, rộng trong tương lai.

Và lời nhắn nhủ cuối cùng:

“Đừng đi xuân nhé

Cho anh về Tây Bắc cùng em.”

là một lời cầu mong giản dị mà sâu sắc. Đó không chỉ là mong mùa xuân ở lại, mà là mong tình yêu, văn hóa, bản sắc Tây Bắc được giữ gìn, tiếp nối, lan tỏa.

Lò Thu Hương – giọng ca bản địa thổi hồn cho tác phẩm

Khúc hát gọi mùa xuân đại ngàn - 4

Ca sĩ Lò Thu Hương hiện đang là sinh viên Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam

Lò Thu Hương là cô gái dân tộc Thái đến từ Điện Biên, vùng đất giàu truyền thống văn hóa và âm nhạc. Hiện nay, Thu Hương đang là sinh viên Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, được đào tạo bài bản về thanh nhạc, đồng thời vẫn giữ được chất mộc mạc, trong trẻo của giọng hát miền núi.

Trước đó, Thu Hương đã thể hiện thành công nhiều ca khúc của nhạc sĩ Tào Khánh Hưng viết về Tây Bắc, để lại dấu ấn bởi cách hát tự nhiên, không phô trương kỹ thuật, nhưng giàu cảm xúc và bản sắc. Giọng hát của cô có độ sáng, độ vang vừa phải, đặc biệt phù hợp với những giai điệu mang âm hưởng dân gian – dân tộc.

Trong “Bên em mùa xuân Tây Bắc”, Lò Thu Hương không chỉ là người hát, mà như hóa thân thành nhân vật trữ tình – cô gái Thái trong ca khúc. Chính xuất thân, trải nghiệm văn hóa và tình yêu quê hương giúp Thu Hương truyền tải trọn vẹn tinh thần tác phẩm, từ tiếng gọi “Inh lả”, “Sao noọng ời” cho đến cảm xúc yêu thương, gắn bó với núi rừng.

Một ca khúc mang giá trị văn hóa và sức sống lâu bền

“Bên em mùa xuân Tây Bắc” không chỉ là một bài hát mùa xuân, mà là một tác phẩm nghệ thuật giàu giá trị văn hóa, góp phần làm phong phú thêm dòng ca khúc viết về miền núi phía Bắc.

Với ca từ giàu hình ảnh, giai điệu đậm âm hưởng dân gian, cùng sự thể hiện của giọng ca bản địa Lò Thu Hương, ca khúc hứa hẹn sẽ trở thành một điểm nhấn trong các chương trình nghệ thuật Tết Nguyên đán 2026, đồng thời có đời sống lâu dài trong lòng công chúng yêu nhạc. Ở đó, mùa xuân không chỉ đến trong khoảnh khắc, mà ở lại – bên em, bên người, bên Tây Bắc yêu thương./.

Bên em mùa xuân Tây Bắc

Tào Khánh Hưng

A1

Xuân về trắng núi hoa ban,

Đào phai khoe sắc, mận tràn sườn nương

Sương giăng triền núi, gió vương đại ngàn, 

Inh lả ơi… gọi bước anh tìm em.

A2

Em về thắm sắc váy xoè,

Khăn piêu nghiêng nắng lưng đèo ban mai.

Mắt cười lấp lánh, nhịp cồng chiêng say,

Sao noọng ời… vòng xoè se duyên.

B1

Tây Bắc ơi, mùa xuân bừng nắng,

Gọi hoa đào nở giữa ngàn mây

Inh lả ơi… anh theo câu hát,

Về bên em qua dốc, ngàn xa.

B2

Tây Bắc ơi, hoa ban hoa mận,

Trắng núi đồi say gió say mơ.

Sao noọng ời… tay trong tay xoè,

Một vòng xuân ấm trọn tình thơ.

C – Đoạn kết

Men rượu cần ấm bếp nhà sàn,

Lửa bập bùng hong má em ửng hồng

Inh lả ơi… vòng xoè rộng mãi

Sao noọng ời… đừng đi xuân nhé

Cho anh về Tây Bắc cùng em./.

Hà Khánh Linh




Nguồn: Arttimes.vn

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026: Sự kết hợp của thi ca và biển cả


Với chủ đề “Trước biển lớn”, Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026 sẽ được tổ chức tại phường Bãi Cháy và phường Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh vào ngày Rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ. Sự kiện được Hội Nhà văn Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh kỳ vọng là sự kết hợp tuyệt vời của thi ca và biển cả.

Tiếp nối thành công của Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 23 năm 2025 tổ chức tại tỉnh Ninh Bình, Hội Nhà văn Việt Nam tiếp tục triển khai chủ trương đưa Ngày Thơ quốc gia đến với công chúng cả nước qua hình thức tổ chức luân phiên tại các địa phương khác nhau, tùy thuộc vào chủ đề ngày thơ của năm đó.

Ngày Thơ năm nay do tỉnh Quảng Ninh là đơn vị đăng cai tổ chức, đây là địa phương đầu tiên tổ chức sự kiện Ngày Thơ trên quy mô tỉnh vào năm 1988, nhân kỷ niệm 520 năm nhà vua Lê Thánh Tông đề thơ trên vách núi Bài Thơ, trước khi Ngày Thơ Việt Nam ra đời trên phạm vi toàn quốc năm 2003, do Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì.

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026: Sự kết hợp của thi ca và biển cả - 1

Sự kiện họp báo cung cấp thông tin về Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24.

Ảnh: Huyền Thương

Tại buổi họp báo cung cấp thông tin về Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24, sáng 25/2, tại Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho biết, Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 diễn ra trong bối cảnh Đảng ta vừa tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đánh dấu bước chuyển mình đặc biệt của đất nước, mở đầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với tầm nhìn chiến lược dài hạn, khát vọng và quyết tâm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phát triển mọi mặt kinh tế – xã hội, nâng cao hình ảnh, vị thế và sức mạnh Việt Nam trong thời đại mới.

Vào thời điểm này, có thể nói đất nước và dân tộc ta đang đứng “Trước biển lớn” toàn cầu và nhân loại, với quyết tâm và khát vọng lớn lao, cùng với đó là những khó khăn, thách thức phải vượt qua để con tàu Việt Nam vững vàng tiến ra đại dương bao la của thế giới, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, dân chủ, công bằng, văn minh vào năm 2045 – dấu mốc kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong cuộc trường chinh đó, theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, văn học và thi ca, các nhà thơ và văn nghệ sĩ sẽ luôn đồng hành cùng nhân dân cả nước như đã từng đồng hành trong quá khứ, góp phần phát huy giá trị và sức mạnh văn hoá, con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ và tự cường dân tộc, vì sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026: Sự kết hợp của thi ca và biển cả - 2

Ban Tổ chức thông tin về Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026.

Ảnh: Huyền Thương

Chia sẻ về các hoạt động sẽ diễn ra tại Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24, nhà thơ Hữu Việt, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cho biết, đêm thơ Nguyên tiêu “Trước biển lớn” sẽ gồm những bài thơ về biển của các nhà thơ thuộc nhiều thế hệ.

Tại đây, công chúng sẽ được lắng nghe và thưởng thức tác phẩm của các nhà thơ nổi tiếng và những nhà thơ có những bài thơ hay viết về biển như: Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Trần Nhuận Minh, Trần Đăng Khoa, Thuận Hữu, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Nguyễn Việt Chiến, Đặng Huy Giang, Phạm Đương… và các nhà thơ trẻ đang tạo được ấn tượng trên văn đàn: Trang Thanh, Lữ Mai, Nguyễn Thị Kim Nhung…

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026: Sự kết hợp của thi ca và biển cả - 3

Nhà thơ Hữu Việt chia sẻ về các điểm mới sẽ diễn ra trong khuôn khổ Ngày Thơ Việt Nam năm nay.

Ảnh: Huyền Thương

Nhà thơ Hữu Việt chia sẻ, có nhiều bài hát hay về biển đã được phổ nhạc từ những bài thơ xuất sắc của các nhà thơ, chính vì vậy, điểm mới của đêm thơ năm nay là công chúng sẽ được lắng nghe các nhà thơ – tác giả nói về hoàn cảnh ra đời và trực tiếp đọc bài thơ gốc, sau đó sẽ thưởng thức một số bài hát phổ thơ do các ca sĩ thực hiện.

Trong khuôn khổ chương trình, bên cạnh tiết mục mở màn ngâm bài thơ “Nguyên Tiêu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo truyền thống, công chúng còn được thưởng thức một số tiết mục nghệ thuật đặc sắc về mảnh đất, con người Quảng Ninh do chính các nghệ sĩ tỉnh Quảng Ninh thực hiện, được nghe những bài hát thay về biển đã làm xúc động biết bao thế hệ.

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026: Sự kết hợp của thi ca và biển cả - 4

Nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ về việc tuyển chọn những bài thơ hay viết về biển sẽ được thể hiện trong đêm thơ.

Ảnh: Huyền Thương 

Diễn đàn trao đổi học thuật năm nay là tọa đàm với chủ đề “Phẩm giá của thơ ca”, do nhà thơ Nguyễn Bình Phương, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì. Tọa đàm sẽ mang đến cho các nhà thơ và công chúng yêu thơ nhiều ý kiến sâu sắc về thơ ca trong thời đại ngày nay. Đặc biệt, các nhà thơ sẽ cùng thảo luận về vấn đề: với tư cách người cầm bút, dưới sự phát triển, lan tỏa của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo, nhà thơ sẽ làm gì để giữ được bản lĩnh, nhân cách, bảo vệ và sáng tạo những giá trị thơ ca đích thực, làm nên phẩm giá của nhà thơ.

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026: Sự kết hợp của thi ca và biển cả - 5

Nhà thơ Nguyễn Bình Phương thông tin về tọa đàm “Phẩm giá của thơ ca”.

Ảnh: Huyền Thương

Một nét mới khác của Ngày Thơ năm nay là Ban Tổ chức chủ động mang thơ ra ngoài không gian của hội trường và sân khấu, trực tiếp đến với công chúng yêu thơ rộng rãi bằng việc thành lập một số nhóm các nhà thơ đi thực tế tại các hầm mỏ, đến với học sinh, sinh viên các trường đại học, các nhà máy và đơn vị bộ đội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh để đọc thơ, giao lưu và nói chuyện về thi ca.

Theo Ban Tổ chức, Chủ trương này sẽ được tiếp tục thực hiện trong những lần tổ chức tiếp theo của Ngày Thơ Việt Nam.

Trong không gian mở của Ngày Thơ năm nay sẽ trưng bày 50 câu thơ về biển do Ban Tổ chức lựa chọn từ các nhà thơ cổ đại, trung đại đến hiện đại, được trình bày trên các cánh buồm thơ, do nhiếp ảnh gia Dương Minh Long thiết kế. Ông cũng đồng thời là người thiết kế toàn bộ không gian mỹ thuật Ngày Thơ Việt Nam năm nay.

Cũng trong dịp này, Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ấn hành tập thơ “Trước biển lớn”, lấy theo tên chủ đề Ngày Thơ với những bài thơ trọn vẹn có 50 câu thơ của các tác giả được lựa chọn và những bài thơ khác.

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026 dự kiến được tổ chức trong ngày 3/3/2026. Tọa đàm “Phẩm giá của thơ ca” diễn ra lúc 8h30, tại Khách sạn Grand Hạ Long, số 138, đường Hạ Long, Phường Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh. Các nhà thơ sẽ đi thực tế, giao lưu, đọc thơ với độc giả tại một số địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào buổi chiều ngày 3/3. Vào buổi tối cùng ngày, đêm thơ “Trước biển lớn” sẽ được diễn ra tại Cung quy hoạch, Hội chợ và Triển lãm tỉnh Quảng Ninh, đường Trần Quốc Nghiễn, phường Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Không làm chủ tốc độ, xe ba gác suýt lao thẳng xuống mương


Xe tải phía trước tránh nhau trên đoạn đường hẹp, tài xế xe ba gác đánh lái gấp khiến phương tiện suýt lao xuống mương bên đường.




Nguồn: Arttimes.vn

Phiếm luận về nhan đề


“Tác phẩm bắt đầu từ cái tên”

1. “Tác giả nên biến mất sau khi viết xong để khỏi làm phiền bước đi của văn bản”. Đó là một câu mà nhà văn, nhà ký hiệu học nổi tiếng người Italia, ông Umberto Eco, đã viết trong “Lời tái bút cho Tên của đóa hồng” (Tên của đóa hồng – một tiểu thuyết của U.Eco).

Ông lập luận: “Người viết truyện không nên cung cấp những diễn giải cho tác phẩm của mình, nếu không, họ đã không viết tiểu thuyết – một cỗ máy nhằm sản sinh những diễn giải”. Là tác giả của tập tiểu luận có tên Tác phẩm mở, Umberto Eco chủ trương nhường quyền tạo nghĩa tác phẩm cho độc giả: chính là từ quá trình đọc văn bản mà mỗi cá nhân người đọc, bằng sự tích lũy văn hóa, bằng vốn sống, bằng gu thẩm mỹ riêng… sẽ có được tác phẩm cụ thể của mình, không phải ai cũng giống ai, và càng không cần thiết phải giống với dự đồ ý nghĩa của chính tác giả. Nhà văn hoàn thành tác phẩm, thế là xong. Anh ta không cần phải nói gì thêm nữa, chuyện còn lại là của người đọc.

“Nhưng một trong những ngăn trở chính cho việc thực hiện nguyên tắc đạo đức này, chính ở sự thể là một cuốn tiểu thuyết phải có một nhan đề. Một nhan đề, khổ thay, đã là một chìa khóa diễn giải”. Umberto Eco than phiền như vậy. Vấn đề nằm ở đây: cái nhan đề có phải bao giờ cũng là chìa khóa tốt giúp giải mã tác phẩm hay không? Câu trả lời: Có và không.

2. Có, trong trường hợp nhan đề tác phẩm giống như sự rút gọn đến cùng toàn bộ nội dung tác phẩm. Hãy cứ tưởng tượng câu chuyện mà nhà văn viết ra là một khối dung dịch. Vậy là qua bao màng lưới của sự sàng lọc tính toán từ phía tác giả, khối dung dịch ấy keo dần lại, cuối cùng nó kết tinh trong một cái tên mà tác giả chọn làm nhan đề cho tác phẩm (cũng có không ít trường hợp nhan đề được hình thành ngay từ đầu, như một y hướng chủ đạo, và toàn bộ tác phẩm được viết theo ý hướng chủ đạo ấy. Trên thực tế, không mấy người đọc lại bỏ qua gợi ý từ những cái tên như Đỏ và đen, Chiến tranh và hòa bình, nếu họ muốn thực sự giải mã tác phẩm của Stendal và Lev Tolstoy (có thể xếp vào đây cả các nhan đề tác phẩm thuộc văn học Việt Nam – số lượng sẽ là rất lớn – ví như Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, hoặc Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh…).

Thường thì đây là những tác phẩm ít nhiều đều mang tính luận đề – từ một cốt truyện cụ thể với những hoàn cảnh xã hội cụ thể, những số phận con người cụ thể, tác giả muốn hướng tới một nhận thức khái quát: một vấn đề của dân tộc, thời đại, thậm chí toàn nhân loại. Trong những trường hợp như vậy, một nhan đề vừa sát hợp với nội dung tác phẩm, vừa độc đáo, sẽ thực sự là một chìa khóa diễn giải quan trọng mà tác giả trao cho người đọc để họ vững tin bước vào thế giới của tác phẩm.

Phiếm luận về nhan đề - 1

Ảnh minh họa

3. Nhưng đôi khi nhan đề tác phẩm lại giống như một sự lộn trái của cái nội dung mà nó thâu tóm. Mặt trận miền Tây yên tĩnh (bản tiếng Việt là Phía Tây không có gì lạ) của Eric Maria Remarque và Sông Đông êm đềm của Mikhail Solokhov hẳn sẽ là hai trong số những ví dụ tốt nhất để bàn về khía cạnh này. Có cái gì là êm đềm ở vùng sông Đông trong cơn bão táp cách mạng? Có ai trong số những người lính tham chiến trong Đại chiến thế giới thứ nhất lại cảm thấy yên tĩnh hay quen thuộc đến bình thản với cảnh chết chóc khủng khiếp? Không gì cả. Không ai cả. Đó là câu trả lời dứt khoát của bất cứ ai đã đọc hai tác phẩm nói trên. Họ sẽ thấy cái nhan đề là đối nghịch – thậm chí là sự giễu nhại – với nội dung tác phẩm. Và nó là một điều gì đó thật ấn tượng: nó găm chặt trong ký ức của họ, một lần cho mãi mãi.

Phải chăng, cách đặt nhan đề kiểu này lại không phải là biểu hiện cho một phần tài năng của các bậc thầy? Tất nhiên, nhiều văn gia làng nhàng cũng đã học lỏm “độc chiêu” này. Song cái nhăn mặt của Đông Thi thì có bao giờ giống với cái nhăn mặt của Tây Thi. Nguyên nhân là ở chỗ: tác phẩm của họ chán phè, và khi mà nội dung đã không có gì đáng nói, thì việc loay hoay đi tìm một cái tên ấn tượng cho tác phẩm chắc chắn sẽ chẳng có nghĩa lý gì hết (điều này đúng trong mọi trường hợp của câu chuyện về nhan đề tác phẩm mà chúng ta đang bàn).

4. Trong cả hai trường hợp nói trên – nhan đề phản ánh thuận chiều và nhan đề phản ánh nghịch chiều với nội dung tác phẩm – dù sao, cái nhan đề vẫn cứ là một gợi ý cho việc đọc tác phẩm. Và điều đó hẳn khiến Umberto Eco thấy phiền lòng. Ông thích những nhan đề “vô tư” hơn – những nhan đề đã bị tước đi mọi ý nghĩa chìa khóa, những nhan đề tồn tại chỉ đơn giản để người ta tiện gọi tên tác phẩm và không lầm lẫn giữa nó với các tác phẩm khác. Ông viết: “Những nhan đề tôn trọng người đọc nhất chính là những nhan đề rút lại chỉ còn là cái tên riêng đặt cho nhân vật chính, như kiểu David Copperfiel hoặc Robinson Crusoe…”.

Có thể mở rộng kiểu nhan đề này bằng cách dung nạp thêm các nhan đề vẫn có tên nhân vật chính của truyện trong đó, nhưng đã được bổ sung thông tin về nghề nghiệp của nhân vật (Bác sĩ Zhivago), về gia thế của nhân vật (Con gái viên đại úy), về hành động của nhân vật (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn), hoặc nhiều hơn nữa (Don Quijotte – nhà quý tộc tài ba xứ Mantra)…

Quả thực, có đem kính hiển vi ra soi những nhan đề kiểu này, người ta cũng khó mà tìm thấy giữa chúng và nội dung tác phẩm một gợi ý để đọc, dù là mỏng manh nhất. Nhiều khi ta còn phải “ngã ngửa” vì hình như nhan đề đã đánh lừa chúng ta, “một sự can thiệp không vô tư dành cho độc giả” – như Umberto Eco nhận xét. Này nhé: Lão Gorio thì chủ yếu là thiên anh hùng ca về Rastinag, Anna Karenina thì bỏ sót mất triết gia Levin – nhân vật phát ngôn cho tư tưởng của bá tước Tolstoy, Ba người lính ngự lâm thì té ra là câu chuyện về chàng ngự lâm thứ tư! Đây là “một sự nhầm lẫn sang cả”, hay phải chăng là cách “tung hỏa mù” của tác giả đối với người đọc?

5. Câu chuyện nhan đề còn nhiêu khê hơn nữa khi mà cái tên đóng đanh vào cuốn sách lại không phải do tác giả quyết định (nghĩa là anh ta sẽ không phải chịu trách nhiệm về vấn đề này trước dư luận: anh bảo nhan đề của tôi dở ư? Xin hãy hỏi ông xuất bản). Trường hợp này thì đúng là đã thỏa mãn Umberto Eco một cách “hoàn toàn”: tác giả đã biến mất, cái nhan đề – chìa khóa đâu phải của anh ta! Mà thường thì đây là câu chuyện về một nhan đề B (của ông chủ xuất bản) thay thế cho một nhan đề A trước đó (của tác giả). Để làm gì? Để đánh vào tâm lý tò mò của số đông độc giả, để sách bán chạy hơn và đem lại doanh thu cao hơn.

Có cái lạ là “tập đoàn” những nhan đề B này rất thường khi bốc lên mùi vị của chuyện tình ái. Thì đây: Cái lò gạch cũ của Nam Cao bị biến thành Đôi lứa xứng đôi, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lại thành ra Thân phận của tình yêu (sau này mới lấy lại tên Nỗi buồn chiến tranh), và còn vô số ví dụ tương tự khác nữa (có lẽ chăng, giống như chất muối trong bữa ăn hàng ngày, gia vị ái tình chưa bao giờ khiến cho thiên hạ phát ngán?).

6. Có thể nói về chuyện nhan đề của tác phẩm văn học ở nhiều chi tiết hơn nữa. Thậm chí có khi còn phải coi nó là một câu hỏi lớn đối với các nhà văn. Thực tế của nhiều năm nay cho thấy, một bộ phận không nhỏ trong giới sáng tác văn chương ở Việt Nam tỏ ra khá lười nhác và cẩu thả trong việc đặt tên cho tác phẩm: Anh đẻ ra một đứa con, song anh nóng vội vơ váo một vài chữ nghĩa để định danh cho đứa con ấy, không cần biết cái tên có hay không, có ý nghĩa không, có “độc” không. Hẳn nhiều người sẽ bào chữa: cốt yếu là tác phẩm có hấp dẫn không, có giá trị không, có neo lại trong bộ nhớ của người đọc không; còn cái nhan đề ư, không quan trọng, vì đôi khi chúng ta nhớ rất rõ một cốt truyện, một chi tiết mà chịu không thể nào nhớ được tên tác phẩm là gì? Thật ra, đây là biểu hiện của thái độ chạy trốn lao động đặt tên.

“Tác phẩm văn học bắt đầu từ cái tên” – hình như Puskin đã nói câu này. Nhận định ấy cho thấy rất rõ một điều: nhan đề của tác phẩm, ấy chính là một bộ phận không thể tách rời khỏi chỉnh thể tác phẩm. Do vậy mà tìm nhan đề cho tác phẩm cũng chính là một phần hữu cơ trong việc tác giả trình tác phẩm của mình ra với công chúng. Coi nhẹ hay trăn trở với việc đặt tên, ở một phương diện nào đó, là dấu hiệu cho biết về mức độ đậm nhạt trong tính chuyên nghiệp của một nhà văn.

Trân Khanh




Nguồn: Arttimes.vn

Honda “khai tử” Civic 2026 bản xăng, chuyển sang hybrid toàn bộ


Thị trường Thái Lan đang trở thành điểm nhấn đáng chú ý của Honda khi hãng chính thức tái cấu trúc toàn bộ dải sản phẩm Honda Civic theo hướng điện hóa hoàn toàn.

Kể từ phiên bản 2026, Honda Civic tại Thái Lan không còn các biến thể sử dụng động cơ xăng tăng áp 1.5L, thay vào đó toàn bộ lineup được chuyển sang hệ truyền động hybrid e:HEV.

Honda “khai tử” Civic 2026 bản xăng, chuyển sang hybrid toàn bộ - 1

Danh mục mới gồm ba phiên bản e:HEV EL, e:HEV EL+ và e:HEV RS với giá niêm yết lần lượt 949.000 baht, 1.099.000 baht và 1.239.000 baht (tương đương khoảng 790 triệu đến hơn 1 tỷ đồng). Đáng chú ý, sự xuất hiện của bản EL đóng vai trò cấu hình “hybrid giá dễ tiếp cận”, thay thế vị trí của các bản xăng trước đây và giúp Civic mở rộng tệp khách hàng trong bối cảnh xu hướng xe xanh ngày càng rõ nét.

Cả ba phiên bản đều sử dụng chung hệ truyền động gồm động cơ xăng 2.0L kết hợp hai mô-tơ điện, hộp số E-CVT và pin lithium-ion. Nhờ đó, khác biệt giữa các cấu hình gần như không nằm ở khả năng vận hành mà chủ yếu tập trung vào thiết kế và trang bị. Điều này đồng nghĩa ngay cả phiên bản tiêu chuẩn vẫn mang lại trải nghiệm lái tương đồng bản cao cấp.

Honda “khai tử” Civic 2026 bản xăng, chuyển sang hybrid toàn bộ - 2

Sự khác biệt rõ nét nhất giữa các phiên bản nằm ở diện mạo bên ngoài. Thay vì vẻ hầm hố của bản RS với mâm 18 inch, hai bản EL và EL+ sở hữu mâm hợp kim 17 inch có thiết kế thanh lịch hơn, đồng thời lược bỏ một số chi tiết mang tính thể thao như cánh gió sau hay ốp chụp ống xả.

Không gian nội thất cũng được phân cấp rõ ràng: bản EL dùng ghế nỉ chỉnh cơ, EL+ nâng cấp lên ghế da, trong khi một số tiện nghi như vô-lăng bọc da, sạc không dây hay đèn viền nội thất không còn xuất hiện trên hai phiên bản thấp. Tuy nhiên, màn hình giải trí trung tâm 9 inch vẫn được giữ lại và gói an toàn Honda Sensing tiếp tục trang bị tiêu chuẩn trên toàn bộ dòng xe.

Honda “khai tử” Civic 2026 bản xăng, chuyển sang hybrid toàn bộ - 3

Việc loại bỏ hoàn toàn phiên bản thuần xăng và chuyển sang chiến lược “hybrid hóa toàn bộ” cho thấy định hướng điện hóa rõ ràng của Honda tại Thái Lan. Động thái này đồng thời đặt ra câu hỏi liệu thị trường Việt Nam có sớm chứng kiến bước đi tương tự, khi xu hướng giảm phát thải và tiết kiệm nhiên liệu ngày càng trở thành ưu tiên trong phân khúc sedan hạng C.



Nguồn: Arttimes.vn

Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thành lập 5 đoàn giám sát thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động bầu cử


Ngày 26/2, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam ban hành Quyết định 959/QĐ-MTTW-BTT thành lập Đoàn công tác của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam giám sát thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Theo Quyết định, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thành lập 5 Đoàn công tác của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam giám sát thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 tại các tỉnh, thành phố: Phú Thọ, Lai Châu, Đắk Lắk, Hải Phòng, An Giang.

Thời gian từ ngày 27/2/2026 đến ngày 14/3/2026.

Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thành lập 5 đoàn giám sát thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động bầu cử - 1

Hội nghị tập huấn kỹ năng vận động bầu cử cho người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức, diễn ra vào sáng 24/2/2026, tại Hà Nội. Ảnh: Hoài Nam

Các đoàn công tác có trách nhiệm giám sát theo nội dung được Quy định tại Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015; Luật MTTQ Việt Nam; Thông tri Hướng dẫn số 04/TT-MTTQ-BTT, ngày 4/11/2025 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các văn bản liên đến công tác bầu cử. Thành viên thuộc các Đoàn Công tác thực hiện nhiệm vụ theo phân công của đồng chí Trưởng đoàn.

Theo Quyết định, Đoàn công tác tại tỉnh Phú Thọ do đồng chí Nguyễn Bình Minh, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chánh Văn phòng cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam làm tổ trưởng.

Đoàn công tác tại tỉnh Lai Châu do đồng chí Cao Xuân Thạo, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Trưởng ban Công tác xã hội, Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam làm tổ trưởng.

Đoàn công tác tại tỉnh Đắk Lắk do đồng chí Nguyễn Minh Chung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương làm tổ trưởng.

Đoàn công tác tại Thành phố Hải Phòng do đồng chí Nguyễn Minh Dũng, Cục Trưởng cục Tài chính – Kế hoạch, Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam làm Tổ trưởng.

Đoàn công tác tại tỉnh An Giang do đồng chí Lưu Thị Hồng Mơ, Phó Trưởng ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam làm tổ trưởng.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn