Home Blog Page 56

Ford Territory được người dùng đánh giá ra sao sau thời gian sử dụng


Ford Territory mang lại cảm giác đẹp, rộng rãi, nhìn rất bệ vệ.

Trước khi quyết định đến với Ford Territory, bạn Nguyễn Hùng đã nghiên cứu cẩn thận nhu cầu của bản thân cũng như các dòng xe trên thị trường. Thế nhưng, mọi chuyện chỉ bắt đầu từ một cái nhìn thoáng qua trên phố. Territory là một mẫu xe đặc biệt với Ford Việt Nam. Không như Ranger và Everest nằm ở trụ cột Tough (cứng cỏi) trong danh mục sản phẩm của hãng xe Mỹ, mẫu C-SUV này là sản phẩm đầu tiên thuộc hệ Smart (thông minh).

Do đó, thiết kế của Ford Territory không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những “người anh” nhưng vẫn có nét riêng, hướng tới đối tượng khách hàng trẻ. Với định hướng marketing đúng đắn và cán cân giá bán/trang bị tốt, Territory nhanh chóng chiếm được cảm tình của người dùng Việt, kể từ khi ra mắt vào tháng 10/2022. Ford Territory liên tục có chỗ đứng vững chắc trong phân khúc C-SUV.

Ford Territory được người dùng đánh giá ra sao sau thời gian sử dụng - 1

Mới đây, hội những người sở hữu xe Ford Territory đã tổ chức buổi giao lưu cà phê để kết nối thành viên. Cũng trong sự kiện này, chúng tôi đã có dịp gặp gỡ bạn Nguyễn Đình Hùng (40 tuổi, kinh doanh tự do đến từ Hưng Yên), hiện đang sử dụng một chiếc Territory thuộc bản Titanium. 

Và dưới đây sẽ là một số chia sẻ của bạn Hùng, về chiếc xe đang có doanh số tích cực của thương hiệu Mỹ. Bạn Hùng đang thành viên của hội nhóm người dùng xe Ford Territory.

– Chào Hùng Tại sao bạn lại chọn Ford Territory làm người bạn đồng hành, trong khi phân khúc SUV cỡ C đang có nhiều cái tên khác?

Ford Territory được người dùng đánh giá ra sao sau thời gian sử dụng - 2

Ford Territory không phải là chiếc xe đầu tiên của mình, mà là chiếc thứ 2. Trước đó, mình thường sử dụng các dòng sedan. Tuy nhiên, do tính chất của công việc nên mình cần di chuyển xa mỗi ngày, cung đường đi làm hàng ngày cũng có nhiều xe tải và xe container. Nên nhu cầu của mình thay đổi, cần một chiếc SUV để an toàn và thoải mái hơn.

Đó là khoảng thời gian trước Tết, mình vô tình thấy một chiếc Ford Territory lăn bánh trên đường. Lúc đó, chiếc xe này cũng khá hiếm do mới ra mắt vào cuối năm 2022 nên những ấn tượng ban đầu của Territory để lại cho mình khá mạnh.

“Ồ một chiếc Ford mới mà đẹp, rộng rãi, nhìn rất bệ vệ” – là những cảm nhận ban đầu của bạn Hùng với Ford Territory. Sau đó, mình có về nghiên cứu dòng xe này, xem tất cả các thông tin rồi các kênh review trước khi đi đến quyết định. Thế là mình đến cọc xe luôn và lấy liên sau Tết, coi như đó là chiếc xe đầu tiên khai trương của showroom đó trong năm mới luôn. Và đến nay, Ford Territory đã đồng hành cùng mình và gia đình gần 30.000 km.

– Hùng đã sử dụng Ford Territory được hơn 1 năm nhưng đi gần 30.000 km, đây cũng không phải là con số nhỏ. Chắc hẳn bạn cũng đã có nhiều kỷ niệm du lịch đáng nhớ cùng chiếc xe này?

Ford Territory được người dùng đánh giá ra sao sau thời gian sử dụng - 3

Ford Territory đáp ứng được yếu tố đó khi sử dụng hộp số tự động ly hợp kép 7 cấp.

Ngoài việc di chuyển theo nhu cầu công việc, mình và các anh em thuộc hội nhóm cũng thường xuyên tổ chức các buổi offline, quy mô lớn có, nhỏ cũng có. Nhiều khi chỉ là anh em café cuối tuần, nhưng hứng lên là đi Vũng Tàu chơi luôn.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất với mình chính là hôm nhận xe tại đại lý, cầm trong tay bó hoa, mình bất chợt quay ra nói với vợ: “Hay là đi Đà Lạt chơi đi, test thử xe mới luôn”. Thế là ngay lập tức, vợ chồng mình về soạn đồ đi luôn, đi hẳn 1 tuần luôn. Thực ra cũng hơi liều vì đó giờ mình chỉ đi sedan thôi. Đó là lần đầu tiên mình đi một mẫu SUV và cũng là lần đầu tiên mình tự lái xe đi Đà Lạt. Chưa quen xe, cũng không quen đường nhưng cứ đi rồi quen, có gì đâu.

– Hùng có thể chia sẻ những ưu/nhược điểm của Ford Territory, những điểm bạn hài lòng hoặc không hài lòng ở mẫu xe này được không?

Ford Territory được người dùng đánh giá ra sao sau thời gian sử dụng - 4

Xe trang bị đầy đủ các tính năng an toàn ADAS.

Về ưu điểm đi. Cá nhân mình thích xe mạnh, bốc nhưng phải mượt mà trong những cú đạp ga. Ford Territory đáp ứng được yếu tố đó khi sử dụng hộp số tự động ly hợp kép 7 cấp, không bị giật thốc như những chiếc xe sử dụng hộp số thông thường.

Mình chạy mình sướng nhưng vợ mình ngồi trong xe không bị mệt mỏi, vẫn thoải mái và đó là điểm mình rất ưng ý ở khả năng vận hành của Territory. Ford Territory được trang bị động cơ xăng, dung tích 1.5L Ecoboost tăng áp, cho công suất tối đa 158 mã lực và mô-men xoắn cực đại đạt 248 Nm.

Tiếp đến, không gian bên trong của xe rất rộng nên ngồi trong xe rất thoải mái. Mình có gắn thêm 2 cái ghế nhỏ để nối thành cái giường ở phía sau, vợ mình mệt thì có thể nằm nghỉ. Chưa kể, khoang chứa hành lý của Territory cũng rất rộng rãi, không cần phải mở rộng vẫn để được đầy đủ đồ đạc của gia đình mình.

Có điểm mình chưa hẳn hài lòng lắm, đó là về hệ thống treo của Ford Territory. Đi phố thì rất êm ái nhưng đi đường trường thì hơi có sự lắc lư một chút, đây cũng là yếu tố đánh đổi thôi vì dù sao Ford tạo ra chiếc xe này cũng hướng tới mục đích sử dụng trong đô thị là chính. Nếu được, mình sẽ nâng cấp bộ phuộc của chiếc Territory cứng hơn một chút xíu, để đảm bảo được sự êm ái khi sử dụng trong phố và gia tăng sự ổn định khi đi đường trường.

– Phiên bản Titanium mà Hùng đang sử dụng cũng có khá đầy đủ trang bị tiện nghi và an toàn, bạn đánh giá thế nào về những “option” này?

Ford Territory được người dùng đánh giá ra sao sau thời gian sử dụng - 5

Hàng ghế sau thoải mái cho hai người lớn và một trẻ em.

Mình đánh giá cao hệ thống an toàn chủ động (ADAS) của xe. Trong hơn 1 năm sử dụng, công nghệ này đã giúp mình khoảng 5-6 lần, tránh khỏi những rủi ro rất lớn. Ví dụ như có một lần mình đi làm, trên đường có một gờ khá cao.

Giữa trưa đi hơi bị lóa nên khi qua gờ, mình mới thấy phía trước có xe đang dừng đèn đỏ, tự nhiên xe phanh kịch một phát, chỉ cách xe phía trước khoảng 2-3 m. Lúc đó, mình có chủ động nhả chân ga ra rồi nhưng may là xe có trang bị ADAS, nếu không đã xảy ra va chạm rồi. Và các tính năng tiện nghi, mình thấy được chiều chuộng khi xe sở hữu khá đầy đủ “option”, dù chỉ là bản giữa.

Mỗi hành trình cùng chiếc xe Territory Hùng có cảm nhận và ấn tượng gì?

Ford Territory được người dùng đánh giá ra sao sau thời gian sử dụng - 6

Nội thất rộng rãi là một điểm cộng lớn cho dòng xe Territory.

Mình thấy đây là những hành trình được đi cùng gia đình thật là tuyệt vời. Với mình, Việt Nam còn rất nhiều nơi đẹp để đi. Và còn gì tuyệt vời hơn việc mình được đi khám phá cảnh đẹp của đất nước với dòng xe mà mình yêu thích.

Bên cạnh đó, hành trình này cũng đem lại cho mình cơ hội gặp gỡ những người bạn mới, những anh chị, biết được thêm nhiều góc nhìn về xe, cũng như được chia sẻ thêm về kỹ năng lái xe an toàn. Ngoài ra, sau những ngày lao động mệt mỏi, những hành trình du lịch bên gia đình giúp mình sạc năng lượng sẵn sàng cho những khó khăn khác. 



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Mải cúi nhìn xuống xe, hai nữ sinh lao cắm mặt vào ô tô đỗ bên đường


Không quan sát phía trước, hai nữ sinh đi xe đạp điện bất ngờ lao thẳng vào đuôi ô tô đang đỗ bên lề đường khiến cả hai ngã văng xuống mặt đường.




Nguồn: Arttimes.vn

“Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng


Nhà văn, dẫu là những tài năng lớn, trước hết cũng là một con người nhưng đâu là cái tư chất riêng của nhà văn so với những người làm những ngành nghề khác? Nghề văn cũng là một nghề như trăm nghìn nghề nghiệp khác nhưng đâu là cái đặc thù của cái nghề “Ai bảo mắc duyên vào bút mực/ Sống đời mang lấy số long đong” (Nguyễn Bính – Xuân tha hương) này? Quá trình sáng tạo của một nhà văn diễn ra như thế nào, có thể tường minh được không hay còn có những góc khuất, những bí ẩn, những điều huyền diệu như là những thứ bất khả tri. Nhiều nhà lý luận văn học và cũng không ít nhà văn nổi tiếng đã viết về vấn đề này, và người đọc vẫn còn mong chờ, vẫn khao khát được đọc tiếp những công trình như thế. Vui mừng thay, cuốn sách “Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo”, tập tiểu luận và bút kí về nghề văn của nhà văn Ma Văn Kháng do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm vừa ấn hành năm 2025, đã đem đến cho bạn đọc những điều họ đang mong chờ, trong đó, có những bài đã chạm được đến vấn đề cốt lõi của lý luận văn học, về nhà văn và quá trình sáng tạo.

Đọc tiểu luận Phút giây huyền diệu, ta thấy, Ma Văn Kháng hằng chăm chú và có ý thức tổng kết kinh nghiệm sáng tác của mình, đồng thời cũng luôn quan sát, đúc rút kinh nghiệm của những nhà văn khác, đặng làm giàu cho kho tàng kiến thức của mình. Ông cho ta biết, K. Paustovsky, nhà văn Nga Xô viết “gọi cái giây phút kỳ diệu ấy là sự xuất hiện tia chớp […], điều kiện đầy đủ để tia chớp xuất hiện chính là sự ứ đầy căng thẳng bão hòa của các đám mây tích điện” (tr.42). Trong sự hình dung của K. Paustovsky, “cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ li kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những đôi mắt dang dở. Lúc đó thế giới bên trong của chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất” (tr.43 – 44). Puskin viết: “Cảm hứng là lúc tai ta nhận được lời thần. Còn Lermontov thì cho rằng, đó là lúc mối lo âu trong tâm hồn ta lắng dịu đi. Và Pau (Paustovsky) thêm: cảm hứng có màu sắc thơ riêng biệt, cảm xúc có cái ẩn ý thơ” (tr.44).

Ngòi bút Ma Văn Kháng tưởng như say sưa, nghiêng ngả tuôn trào khi viết về cảm hứng sáng tạo của nhà văn: Cảm hứng, “đó là một trạng thái thần khởi thoải mái, đến một cách bất thần và kích thích mạnh mẽ năng lực tiếp nhận hiện thực và sáng tạo bay bổng của con người. Ai trong đời mình mà đã không trải qua những giây phút cảm hứng. Turghenev, nhà văn Nga gọi cảm hứng là trạng thái Trời đến gần ta, để diễn tả cái chất hướng thượng có tính chất thần thánh trong cảm nhận và xúc động của con người. Rất đáng chú ý khi ông cho rằng, cảm hứng là một trạng thái tinh thần phức hợp, trong đó có trộn lẫn cả niềm sung sướng vô tận, niềm say mê tràn đầy với nỗi sợ hãi, dằn vặt khủng khiếp, vì ngay lúc đó, không thể buột ra khỏi tay mình miếng đất màu mỡ để gieo trồng, nhà văn bắt đầu công việc lao động nhọc nhằn của một cuồng si ngôn từ” (tr.44).

Cái hay, cái sâu sắc của Phút giây huyền diệu là ở chỗ, Ma Văn Kháng đề cao cảm hứng nhưng không tuyệt đối hóa nó, nhà văn không thể cứ đợi chờ cảm hứng đến như kẻ há miệng chờ sung. Muốn có được “phút giây thiêng”, nhà văn phải sống sâu sắc, “Sống rồi mới viết”, phải tắm mình trong bầu không khí của thời đại, phải lao động hết mình. Ma Văn Kháng say sưa mà vẫn tỉnh táo khi cho rằng, trong sáng tạo văn chương nghệ thuật “Không có sự ăn may thuần túy. Nhưng vẫn có cái gọi là may mắn, tình cờ trời cho. Và vấn đề không phải là há miệng chờ sung. Mà là hãy sống kỹ lưỡng tích cực và thật tự nhiên với tất cả cung bậc của cuộc đời” (tr.49). “Cảm hứng là một trạng thái lao động nghiêm túc. Hiển nhiên là thế rồi. Tchaikovsky cả quyết: cảm hứng là trạng thái tinh thần của con người mang hết sức mình ra làm việc như một con bò đực thiến, chứ không phải là chỉ ve vẩy tai một cách õng ẹo!” (tr.45). 

Từ những hiểu biết tinh tế, sâu sắc về cảm hứng sáng tạo, Ma Văn Kháng đã lựa chọn và phân tích, lý giải đầy thuyết phục cảm hứng sáng tạo, những phút giây kỳ diệu của Nguyễn Thành Long khi viết thiên truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, của Xuân Cang khi viết tiểu thuyết Những ngày thường đã cháy lên, của Dương Duy Ngữ viết tiểu thuyết Người giữ đình làng, của Nguyễn Trọng Tân khi viết Trang gia phả viết bằng vôi, của Nguyễn Khắc Trường khi viết tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, của Lev Tolstoy khi sáng tác Khatgi – Murat, của Pouchukinne khi sáng tác bài thơ tình nổi tiếng Phút giây huyền diệu,… Ma Văn Kháng không hề đơn giản vấn đề sáng tạo khi đưa ra nhận xét, tuy có quy luật chung nhưng mỗi nhà văn lại có con đường riêng, không ai giống ai. “Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, con đường đi từ tia chớp ban đầu tới một hình tượng văn chương hoàn chỉnh là vô cùng lắt léo, phi vật thể, phi truyền thống và phức tạp, chứ không đơn giản. Đó là chuỗi biến thể qua những chặng đường của trí tưởng tượng và những kinh nghiệm cùng những nỗ lực vô bờ bến của cá nhân” (tr.47).

Từ sự chiêm nghiệm sáng tác của mình cùng với sự quan sát, phân tích, tổng hợp kinh nghiệm sáng tác của nhiều nhà văn khác, Ma Văn Kháng đã khép lại bài tiểu luận bằng một kết luận đầy thuyết phục: Hoàn cảnh cảm hứng, tình huống sáng tạo, “cảm hứng thần tiên là tia chớp hãn hữu chỉ hiện ra trong một bầu trời ứ đầy mây tích điện để mở đầu và sau đó tiếp nối bằng cả một quá trình sáng tạo bền bỉ say mê, đó là cuộc gặp gỡ kỳ lạ và vô cùng lý thú của đời sống văn chương. Đó là điểm giao kết tài tình giữa ngẫu nhiên và tất yếu do cuộc sống tạo ra. Với tôi, đó là một kiểu hình thành tác phẩm phổ biến có tính quy luật, đó là quy trình làm nên một hợp tử, để một sự sống hoài thai, ra đời” (tr.50).

“Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng - 1

GS.TS. NGND Trần Đăng Suyền, PGS. TS Nguyễn Bá Cường – Tổng biên tập Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Th.S Hà Phương Anh, Trưởng ban biên tập Khoa học xã hội, NXB Đại học Sư phạm, người biên tập cuốn “Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo” và nhà văn Ma Văn Kháng.

Phút giây huyền diệu là một tiểu luận xuất sắc của Ma Văn Kháng, xứng đáng có mặt trong những tuyển tập hay nhất bàn về cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Ta hiểu vì sao Ma Văn Kháng lại lấy tên bài viết này đặt tên chung cho tập sách Phút giây huyền diệu trước đây, và lần này là Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo của ông.

Cũng như những ngành nghề khác, nhà văn cũng có những bạn bè, có những tình bạn cao quý, cảm động, thiêng liêng, và cũng có cả những ganh ghét, đố kỵ, hận thù. Ma Văn Kháng không che dấu mà phơi ra cái sự thật “tàn nhẫn”: “con người thì ở đâu cũng vậy thôi! Nó có đủ cả nết tốt và thói xấu. Người làm nghề văn không khác. Ai mà chẳng có niềm tự tôn về mình. Chẳng xấu gì nếu tám, chín trăm nhà văn thì có lẽ cũng từng ấy cái ảo mộng vĩ cuồng. Mỗi kẻ mang danh hiệu cao quý này, nói không ngoa đâu, đều hình thành cho mình một khái niệm về bản thân mình và thường là tự ái tự kỷ, tâng nịnh mình. Mà người xưa đã nói, đức nhỏ mà muốn ngôi cao, tài nhỏ mà muốn làm việc lớn, chính là cái mầm của họa lục đục vậy” (tr.103).

Chẳng có nghề nào sự cạnh tranh ghê gớm hơn lĩnh vực văn chương nghệ thuật. “Văn chương hơn ở đâu hết lại là nơi sự chọn lọc diễn ra thật vô cùng khắt khe, khắc nghiệt. Một thế kỷ qua, lựa đi lọc lại còn được bao nhiêu văn tài? Thêm nữa, một tác phẩm xuất sắc một khi đã xuất hiện, là lập tức có khả năng gây ra ảo giác làm lu mờ ngay những tên tuổi đang sáng giá nhất đương thời. Nghiệt ngã thay, thành công của người này dễ gây hiệu ứng làm bộc lộ sự kém cỏi, làm tủi hổ người kia. Thành ra gọi đây là nơi “trường văn trận bút” cũng có ý muốn nói về sự đua tài cùng nhau. Đua tài! Cuộc tranh đua thú vị này sao lại né tránh và sợ hãi nhỉ? Không! Đua tài là một động lực của cuộc sống chứ sao! Chỉ tiếc, cùng với đua tài là thói đố kỵ đã nảy sinh và trở thành một trạng thái tâm lý cố hữu của người bạn cùng nghề viết lách.

Xuân Diệu có lần đã tâm sự: “Hễ thấy hai nhà văn ngồi với nhau, chắc chắn sẽ nói xấu người thứ ba, tôi thường lảng tránh”. Trả lời câu hỏi của một bạn đọc: Tại sao ông cứ tự tâng bốc mình thế? Maiakovski, nhà thơ Nga Xô viết đáp: Người bạn trung học của tôi là William Shakespeare luôn luôn khuyên tôi: Chỉ nói tốt về mình, còn cái xấu về mình đã có bạn bè nói hộ rồi. “Những kẻ nguyền rủa anh sẽ buồn/ Chả còn anh cho họ giết/ Dao sẵn rồi, họ không dễ để yên”. Đó là một khổ thơ nói về sau cái chết của mình ở bài Từ thế chi ca, trong Di cảo của Chế Lan Viên. Nghĩa là nhà thơ đến tầm cỡ thi bá mà vẫn còn vấn vương lắm chuyện yêu ghét hận thù” (tr.105). Tự sự trải nghiệm và chiêm nghiệm đời sống, Ma Văn Kháng đưa ra lời khuyên chân thành: “Sống chung là cả một nghệ thuật. Quan hệ nhà văn với nhau là một quan hệ tế nhị. Cái áo ấm sặc sỡ quý phái bao giờ cũng được phủ ngoài bằng một lớp áo sa mỏng tang cho khỏi lộ liễu. Đó là phong cách thẩm mỹ của người Việt mình. Đừng để mình quá chói lọi bên bạn bè. Sống có nghĩa là để những người khác cùng sống với mình. Sống còn có nghĩa là chia sẻ tình nghĩa với bạn bè, đồng loại, sống là cho đi!” (tr.109).

Ma Văn Kháng trong tập sách Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo còn nói đến mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc. Đây là những bạn đọc không thuộc “lớp độc giả chuyên nghiệp”, “những độc giả “không quân hàm”, không quen biết, đa năng, đa thức, bách khoa toàn thư. Những độc giả thông thái. Họ biết tất. Họ biết giá trị một tác phẩm […]. Có điều là những đánh giá ấy không có diễn đàn và chỉ tồn tại ở dạng lặng thầm” (tr.213). Nhiều độc giả như thế, vì yêu quý nhà văn, sau khi đọc sáng tác của Ma Văn Kháng, đã chân thành góp ý cho ông những sai sót, những điều chưa hợp lý trong tác phẩm.

Ma Văn Kháng còn nói đến Những người bạn đồng hành, tức là những bạn đọc chuyên nghiệp, những nhà lý luận, phê bình văn học gần gũi, thân thiết với ông. Cái lớn của Ma Văn Kháng qua những trang viết này là ở chỗ ông thật sự yêu quý những cây bút phê bình đã viết về những sáng tác của ông, chân thành ghi nhận cả những lời khen cả những lời “chê” (mà chắc gì đã đúng), và vượt qua những lề thói thông thường khen là bạn, chê là thù thường thấy xưa nay. Nếu có nhà văn nào đó đầy thành kiến với giới phê bình thì Ma Văn Kháng lại quả quyết: “Trái đất này mà không còn voi thì buồn lắm! Bắt chước câu nói của nhà bảo vệ môi trường, tôi cũng muốn nói rằng, sáng tác mà không có nhà lý luận phê bình thì buồn lắm. Cứ nghĩ mà xem. Buồn lắm, buồn thật đấy! Nhà lý luận phê bình, bạn đồng hành của nhà sáng tác!” (tr.190).         

*

Ma Văn Kháng trong bài Bí thuật của nghề nghiệp, cho ta biết, hồi những năm cuối 60 đầu 70 của thế kỷ XX, Chế Lan Viên đi Liên Xô về nói với những nhà văn trẻ đang tập tọng viết: “Hội Nhà văn toàn Liên bang Xô viết có 5000 hội viên, nhưng sẽ chỉ còn lại 4 – 5 ông là may mắn rồi. Nghĩa rằng, đặc thù của nghề văn là ở nơi xuất phát thì đông nhưng chỉ rất ít người tới đích” (tr.171). Nguyễn Đình Thi, năm 1970, nói với các nhà văn trẻ từ các tỉnh về họp Hội nghị Các cây bút trẻ, nói: “Cả đời tôi chỉ mong có được một truyện ngắn, một bài thơ được mọi người nhớ. Lúc ấy tôi thấy trong lòng đầy tự ái: Các ông này ra điều ta đây, cứ hay quan trọng hóa vấn đề!” (tr.171).

“Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng - 2

Nhà văn Ma Văn Kháng

Khi đã thành nhà văn nổi tiếng, đã được tặng nhiều giải thưởng văn học cao quý, Ma Văn Kháng thực sự thấm thía tâm sự của những cây bút đàn anh nói trên. Ông viết: “Bây giờ già rồi, trải nghiệm rồi, đọc nhiều rồi, nghĩ lại mới thấy đúng là viết văn đến độ nào rồi mới biết thế nào là nghề văn, là văn chương. Lại nói câu nói của bạn tôi, Nguyễn Khắc Trường, nhà văn, tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma nổi tiếng: Nói thật là tôi đến giờ lắm lúc cũng chưa hiểu thế nào là văn chương […]. Bây giờ cuối đời rồi, viết cả mấy chục cuốn sách rồi, vậy mà viết tiếp một cái gì, vẫn thấy chả tự tin tẹo nào, vẫn thấy hoang mang lắm! Và thú thật, bây giờ mới thấy được, không phải chỉ là cái ngọt ngào, mà chính là cái cay đắng nghiệt ngã ở cái nghề văn của mình. Thú nhận này của tôi gặp cái khắc khoải của Văn Chinh, một nhà văn kỹ tính và tinh quái khi nghe anh nói rằng: Tôi học viết văn vào lúc người ta dạy cho biết văn học có thể can dự vào thế sự và vào việc hoàn thiện con người. Giờ tóc đã hoa râm, tôi thấy hiển nhiên là ngòi bút mình bất lực… Ngước nhìn lên, thấy cụ L.Tolstoy già nua khóc bảo ông M. Gorki hăm hở rằng: “Anh cứ sống đi rồi thấy rằng, nó, con người vẫn thế”. Lại toát mồ hôi nhủ rằng, phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” (tr.172).

Dẫu có chút khiêm tốn khi nói về mình nhưng cái “toát mồ hôi”, cái giác ngộ của Ma Văn Kháng “phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” là một nhận thức đúng đắn, sâu sắc, muôn thuở, muôn đời về văn chương nghệ thuật. Là một yêu cầu, đòi hỏi nghiệt ngã nhất, cao nhất trong sáng tạo của nhà văn. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tư tưởng riêng, phải tạo được cho mình một phong cách độc đáo mà biểu hiện then chốt, cốt lõi của phong cách là phải có cái nhìn riêng, có tính chất khám phá, phát hiện về thế giới và con người. Sự giác ngộ của Ma Văn Kháng đã bắt gặp quan niệm của nhà văn Pháp Marl Prust (1871 – 1922): “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (Thời gian tìm lại được). Phong cách, tính độc đáo của một nhà văn biểu hiện sâu đậm nhất ở cái nhìn, cách nghĩ hơn là ở văn phong. Với những nhà văn có phong cách, tác phẩm của họ luôn mở ra được cái gì đó về thế giới và con người mà trước đó, vẫn như là bị phong kín. Ma Văn Kháng cũng quả quyết: “Nhà văn, kẻ sáng tạo ra cái chưa hề có trong hiện thực! Chưa hề có trong hiện thực!” (tr.131). Nhà văn có tài năng lớn, có phong cách nghệ thuật độc đáo là người, qua tác phẩm của mình, tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng, một xã hội riêng, theo quy luật riêng của nó. Vì thế, người ta thường ví những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn như một tiểu hóa công. 

Đúng vậy, những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn là những tiểu hóa công. Đây là cái đam mê sáng tạo của nhà văn qua ngòi bút Ma Văn Kháng: “Đó là một quá trình nhà văn bị thiêu đốt bằng cơn nhiệt hứng để đi tìm một hình dạng có giới hạn có khả năng hàm chứa cái vô hạn. Đó là một quá trình bị mê hoặc bằng ảo ảnh thần thánh hóa trước cái kết thúc tối hậu. Đó là một cơn đam mê quăng mình vào cuộc phiêu lưu trong đám sương mù của chữ nghĩa để diễn tả cho đúng cái điều mình định nói. Đó là một công cuộc theo đuổi tận lực kiệt cùng sự hoàn thiện, trong tinh thần luôn muốn vươn tới một cái gì đó đẹp hơn cái đang hiện tồn với ảo giác rằng mình đang làm công việc vĩ đại có thể thay đổi cả thế giới…” (tr.30). Ma Văn Kháng cho ta biết: năm 1976, đạo diễn Đặng Nhật Minh đi thực tập ở Bulgari. “Hỏi, học được những gì về nghề trong thời gian đó. Nghệ sĩ nhân dân kể: Một lần trong khi một đạo diễn Bulgaria đang tập cho diễn viên, thấy bên ngoài có tiếng ồn ào, ông này bỗng bật hét: Có im đi không! Không biết là Chúa đang tạo thế à! Và những tiếng ồn ào nghe vậy liền im phắc. Đạo diễn ngoài hiện trường là Chúa Trời!” (tr.60 – 61). 

Trong bài Tôi đã học viết như thế nào, M. Gorki viết: “Con người tưởng tượng Thượng đế của mình là đấng toàn tri, toàn năng, thần thông quảng đại, nghĩa là gán cho Thượng đế những khát vọng cao cả nhất của mình. Thượng đế chỉ là một sự “bịa đặt” của loài người nảy ra  từ “cuộc đời nghèo nàn cơ cực” và nỗi lòng khao khát mơ hồ của con người muốn dùng sức mình làm cho cuộc sống phong phú hơn, nhẹ nhàng hơn, công bằng hơn và đẹp đẽ hơn. Con người đã nâng Thượng đế lên trên cuộc sống, vì những phẩm chất và ước muốn cao cả nhất của con người nảy sinh trong quá trình lao động đã không có chỗ đứng trong thực tế, nơi đang diễn ra một cuộc đấu tranh khốc liệt vì miếng ăn”  Gorki, Bàn về văn học, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.240). Những nhà văn, những nghệ sĩ vĩ đại, như trên đã nói, họ là một tiểu hóa công. M. Gorki cho ta biết về L. Tolstoy: “Xưa nay ông cụ vẫn ca ngợi hết lời sự bất tử ở thế giới bên kia, nhưng thật ra cái mà ông ham thích là sự bất tử trên thế gian này”. Hãy nghe Gorki viết về cuộc trò chuyện của ông với Tolstoy. Tác giả Chiến tranh và hòa bình nói với Gorki: “… Đấy anh vẫn nói đến cái đẹp. Nhưng cái đẹp là gì? Cái cao cả nhất và hoàn mỹ nhất là Thượng đế […]. Ông cụ ngồi trên đi – văng, hai chân gập xuống dưới gầm, trong chòm râu nở một nụ cười đắc thắng, giơ ngón tay lên dọa tôi: Chuyện này thì anh đừng hòng tảng lờ, không làm thinh được đâu!. Và tôi, người không bao giờ tin Thượng đế, không hiểu sao chợt ngước mắt lên nhìn ông một cách rất e dè, có phần sợ sệt nữa, lòng tự nhủ: “Con người này chẳng khác nào Thượng đế!”. Quả đúng vậy, những nhà văn vĩ đại, những thiên tài văn học cổ kim đông tây không phải là Thượng đế nhưng họ chẳng khác nào Thượng đế!      

Tập Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo là tác phẩm của một nhà văn đạt đến trình độ hoàn toàn tự giác, luôn có ý thức về quá trình sáng tạo của nhà văn. Qua tập sách đặc sắc này, Ma Văn Kháng hầu như đã bao quát được những bước, những khâu cơ bản của quá trình sáng tạo của nhà văn. Đây là tập tiểu luận và bút ký xuất sắc về nghề văn, với nhiều nhận xét tinh tế, sâu sắc, dẫu quen mà vẫn lạ, vẫn đầy bất ngờ, vì nó không chỉ có tầm bao quát mà còn bổ sung, khắc sâu thêm một vấn đề cốt lõi nào đó trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Nhiều đoạn văn viết tràn đầy cảm hứng, nghiêng ngả trong cơn hưng phấn, như là lên đồng, như là sự thăng hoa của cảm xúc. Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo không chỉ cung cấp những kiến thức sâu sắc, bổ ích cho bạn đọc thông thường mà còn là tư liệu quí cho những nhà lí luận, phê bình văn học; đồng thời cũng có ý nghĩa gợi mở cho các nhà văn trẻ trên con đường tìm một lối đi riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Đây là một cuốn sách hay, góp phần làm phong phú thêm sự nghiệp văn học của Ma Văn Kháng.

Trần Đăng Suyền




Nguồn: Arttimes.vn

“Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng


Nhà văn, dẫu là những tài năng lớn, trước hết cũng là một con người nhưng đâu là cái tư chất riêng của nhà văn so với những người làm những ngành nghề khác? Nghề văn cũng là một nghề như trăm nghìn nghề nghiệp khác nhưng đâu là cái đặc thù của cái nghề “Ai bảo mắc duyên vào bút mực/ Sống đời mang lấy số long đong” (Nguyễn Bính – Xuân tha hương) này? Quá trình sáng tạo của một nhà văn diễn ra như thế nào, có thể tường minh được không hay còn có những góc khuất, những bí ẩn, những điều huyền diệu như là những thứ bất khả tri. Nhiều nhà lý luận văn học và cũng không ít nhà văn nổi tiếng đã viết về vấn đề này, và người đọc vẫn còn mong chờ, vẫn khao khát được đọc tiếp những công trình như thế. Vui mừng thay, cuốn sách “Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo”, tập tiểu luận và bút kí về nghề văn của nhà văn Ma Văn Kháng do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm vừa ấn hành năm 2025, đã đem đến cho bạn đọc những điều họ đang mong chờ, trong đó, có những bài đã chạm được đến vấn đề cốt lõi của lý luận văn học, về nhà văn và quá trình sáng tạo.

Đọc tiểu luận Phút giây huyền diệu, ta thấy, Ma Văn Kháng hằng chăm chú và có ý thức tổng kết kinh nghiệm sáng tác của mình, đồng thời cũng luôn quan sát, đúc rút kinh nghiệm của những nhà văn khác, đặng làm giàu cho kho tàng kiến thức của mình. Ông cho ta biết, K. Paustovsky, nhà văn Nga Xô viết “gọi cái giây phút kỳ diệu ấy là sự xuất hiện tia chớp […], điều kiện đầy đủ để tia chớp xuất hiện chính là sự ứ đầy căng thẳng bão hòa của các đám mây tích điện” (tr.42). Trong sự hình dung của K. Paustovsky, “cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ li kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những đôi mắt dang dở. Lúc đó thế giới bên trong của chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất” (tr.43 – 44). Puskin viết: “Cảm hứng là lúc tai ta nhận được lời thần. Còn Lermontov thì cho rằng, đó là lúc mối lo âu trong tâm hồn ta lắng dịu đi. Và Pau (Paustovsky) thêm: cảm hứng có màu sắc thơ riêng biệt, cảm xúc có cái ẩn ý thơ” (tr.44).

Ngòi bút Ma Văn Kháng tưởng như say sưa, nghiêng ngả tuôn trào khi viết về cảm hứng sáng tạo của nhà văn: Cảm hứng, “đó là một trạng thái thần khởi thoải mái, đến một cách bất thần và kích thích mạnh mẽ năng lực tiếp nhận hiện thực và sáng tạo bay bổng của con người. Ai trong đời mình mà đã không trải qua những giây phút cảm hứng. Turghenev, nhà văn Nga gọi cảm hứng là trạng thái Trời đến gần ta, để diễn tả cái chất hướng thượng có tính chất thần thánh trong cảm nhận và xúc động của con người. Rất đáng chú ý khi ông cho rằng, cảm hứng là một trạng thái tinh thần phức hợp, trong đó có trộn lẫn cả niềm sung sướng vô tận, niềm say mê tràn đầy với nỗi sợ hãi, dằn vặt khủng khiếp, vì ngay lúc đó, không thể buột ra khỏi tay mình miếng đất màu mỡ để gieo trồng, nhà văn bắt đầu công việc lao động nhọc nhằn của một cuồng si ngôn từ” (tr.44).

Cái hay, cái sâu sắc của Phút giây huyền diệu là ở chỗ, Ma Văn Kháng đề cao cảm hứng nhưng không tuyệt đối hóa nó, nhà văn không thể cứ đợi chờ cảm hứng đến như kẻ há miệng chờ sung. Muốn có được “phút giây thiêng”, nhà văn phải sống sâu sắc, “Sống rồi mới viết”, phải tắm mình trong bầu không khí của thời đại, phải lao động hết mình. Ma Văn Kháng say sưa mà vẫn tỉnh táo khi cho rằng, trong sáng tạo văn chương nghệ thuật “Không có sự ăn may thuần túy. Nhưng vẫn có cái gọi là may mắn, tình cờ trời cho. Và vấn đề không phải là há miệng chờ sung. Mà là hãy sống kỹ lưỡng tích cực và thật tự nhiên với tất cả cung bậc của cuộc đời” (tr.49). “Cảm hứng là một trạng thái lao động nghiêm túc. Hiển nhiên là thế rồi. Tchaikovsky cả quyết: cảm hứng là trạng thái tinh thần của con người mang hết sức mình ra làm việc như một con bò đực thiến, chứ không phải là chỉ ve vẩy tai một cách õng ẹo!” (tr.45). 

Từ những hiểu biết tinh tế, sâu sắc về cảm hứng sáng tạo, Ma Văn Kháng đã lựa chọn và phân tích, lý giải đầy thuyết phục cảm hứng sáng tạo, những phút giây kỳ diệu của Nguyễn Thành Long khi viết thiên truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, của Xuân Cang khi viết tiểu thuyết Những ngày thường đã cháy lên, của Dương Duy Ngữ viết tiểu thuyết Người giữ đình làng, của Nguyễn Trọng Tân khi viết Trang gia phả viết bằng vôi, của Nguyễn Khắc Trường khi viết tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, của Lev Tolstoy khi sáng tác Khatgi – Murat, của Pouchukinne khi sáng tác bài thơ tình nổi tiếng Phút giây huyền diệu,… Ma Văn Kháng không hề đơn giản vấn đề sáng tạo khi đưa ra nhận xét, tuy có quy luật chung nhưng mỗi nhà văn lại có con đường riêng, không ai giống ai. “Tất nhiên, chúng ta đều hiểu, con đường đi từ tia chớp ban đầu tới một hình tượng văn chương hoàn chỉnh là vô cùng lắt léo, phi vật thể, phi truyền thống và phức tạp, chứ không đơn giản. Đó là chuỗi biến thể qua những chặng đường của trí tưởng tượng và những kinh nghiệm cùng những nỗ lực vô bờ bến của cá nhân” (tr.47).

Từ sự chiêm nghiệm sáng tác của mình cùng với sự quan sát, phân tích, tổng hợp kinh nghiệm sáng tác của nhiều nhà văn khác, Ma Văn Kháng đã khép lại bài tiểu luận bằng một kết luận đầy thuyết phục: Hoàn cảnh cảm hứng, tình huống sáng tạo, “cảm hứng thần tiên là tia chớp hãn hữu chỉ hiện ra trong một bầu trời ứ đầy mây tích điện để mở đầu và sau đó tiếp nối bằng cả một quá trình sáng tạo bền bỉ say mê, đó là cuộc gặp gỡ kỳ lạ và vô cùng lý thú của đời sống văn chương. Đó là điểm giao kết tài tình giữa ngẫu nhiên và tất yếu do cuộc sống tạo ra. Với tôi, đó là một kiểu hình thành tác phẩm phổ biến có tính quy luật, đó là quy trình làm nên một hợp tử, để một sự sống hoài thai, ra đời” (tr.50).

“Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng - 1

GS.TS. NGND Trần Đăng Suyền, PGS. TS Nguyễn Bá Cường – Tổng biên tập Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Th.S Hà Phương Anh, Trưởng ban biên tập Khoa học xã hội, NXB Đại học Sư phạm, người biên tập cuốn “Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo” và nhà văn Ma Văn Kháng.

Phút giây huyền diệu là một tiểu luận xuất sắc của Ma Văn Kháng, xứng đáng có mặt trong những tuyển tập hay nhất bàn về cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Ta hiểu vì sao Ma Văn Kháng lại lấy tên bài viết này đặt tên chung cho tập sách Phút giây huyền diệu trước đây, và lần này là Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo của ông.

Cũng như những ngành nghề khác, nhà văn cũng có những bạn bè, có những tình bạn cao quý, cảm động, thiêng liêng, và cũng có cả những ganh ghét, đố kỵ, hận thù. Ma Văn Kháng không che dấu mà phơi ra cái sự thật “tàn nhẫn”: “con người thì ở đâu cũng vậy thôi! Nó có đủ cả nết tốt và thói xấu. Người làm nghề văn không khác. Ai mà chẳng có niềm tự tôn về mình. Chẳng xấu gì nếu tám, chín trăm nhà văn thì có lẽ cũng từng ấy cái ảo mộng vĩ cuồng. Mỗi kẻ mang danh hiệu cao quý này, nói không ngoa đâu, đều hình thành cho mình một khái niệm về bản thân mình và thường là tự ái tự kỷ, tâng nịnh mình. Mà người xưa đã nói, đức nhỏ mà muốn ngôi cao, tài nhỏ mà muốn làm việc lớn, chính là cái mầm của họa lục đục vậy” (tr.103).

Chẳng có nghề nào sự cạnh tranh ghê gớm hơn lĩnh vực văn chương nghệ thuật. “Văn chương hơn ở đâu hết lại là nơi sự chọn lọc diễn ra thật vô cùng khắt khe, khắc nghiệt. Một thế kỷ qua, lựa đi lọc lại còn được bao nhiêu văn tài? Thêm nữa, một tác phẩm xuất sắc một khi đã xuất hiện, là lập tức có khả năng gây ra ảo giác làm lu mờ ngay những tên tuổi đang sáng giá nhất đương thời. Nghiệt ngã thay, thành công của người này dễ gây hiệu ứng làm bộc lộ sự kém cỏi, làm tủi hổ người kia. Thành ra gọi đây là nơi “trường văn trận bút” cũng có ý muốn nói về sự đua tài cùng nhau. Đua tài! Cuộc tranh đua thú vị này sao lại né tránh và sợ hãi nhỉ? Không! Đua tài là một động lực của cuộc sống chứ sao! Chỉ tiếc, cùng với đua tài là thói đố kỵ đã nảy sinh và trở thành một trạng thái tâm lý cố hữu của người bạn cùng nghề viết lách.

Xuân Diệu có lần đã tâm sự: “Hễ thấy hai nhà văn ngồi với nhau, chắc chắn sẽ nói xấu người thứ ba, tôi thường lảng tránh”. Trả lời câu hỏi của một bạn đọc: Tại sao ông cứ tự tâng bốc mình thế? Maiakovski, nhà thơ Nga Xô viết đáp: Người bạn trung học của tôi là William Shakespeare luôn luôn khuyên tôi: Chỉ nói tốt về mình, còn cái xấu về mình đã có bạn bè nói hộ rồi. “Những kẻ nguyền rủa anh sẽ buồn/ Chả còn anh cho họ giết/ Dao sẵn rồi, họ không dễ để yên”. Đó là một khổ thơ nói về sau cái chết của mình ở bài Từ thế chi ca, trong Di cảo của Chế Lan Viên. Nghĩa là nhà thơ đến tầm cỡ thi bá mà vẫn còn vấn vương lắm chuyện yêu ghét hận thù” (tr.105). Tự sự trải nghiệm và chiêm nghiệm đời sống, Ma Văn Kháng đưa ra lời khuyên chân thành: “Sống chung là cả một nghệ thuật. Quan hệ nhà văn với nhau là một quan hệ tế nhị. Cái áo ấm sặc sỡ quý phái bao giờ cũng được phủ ngoài bằng một lớp áo sa mỏng tang cho khỏi lộ liễu. Đó là phong cách thẩm mỹ của người Việt mình. Đừng để mình quá chói lọi bên bạn bè. Sống có nghĩa là để những người khác cùng sống với mình. Sống còn có nghĩa là chia sẻ tình nghĩa với bạn bè, đồng loại, sống là cho đi!” (tr.109).

Ma Văn Kháng trong tập sách Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo còn nói đến mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc. Đây là những bạn đọc không thuộc “lớp độc giả chuyên nghiệp”, “những độc giả “không quân hàm”, không quen biết, đa năng, đa thức, bách khoa toàn thư. Những độc giả thông thái. Họ biết tất. Họ biết giá trị một tác phẩm […]. Có điều là những đánh giá ấy không có diễn đàn và chỉ tồn tại ở dạng lặng thầm” (tr.213). Nhiều độc giả như thế, vì yêu quý nhà văn, sau khi đọc sáng tác của Ma Văn Kháng, đã chân thành góp ý cho ông những sai sót, những điều chưa hợp lý trong tác phẩm.

Ma Văn Kháng còn nói đến Những người bạn đồng hành, tức là những bạn đọc chuyên nghiệp, những nhà lý luận, phê bình văn học gần gũi, thân thiết với ông. Cái lớn của Ma Văn Kháng qua những trang viết này là ở chỗ ông thật sự yêu quý những cây bút phê bình đã viết về những sáng tác của ông, chân thành ghi nhận cả những lời khen cả những lời “chê” (mà chắc gì đã đúng), và vượt qua những lề thói thông thường khen là bạn, chê là thù thường thấy xưa nay. Nếu có nhà văn nào đó đầy thành kiến với giới phê bình thì Ma Văn Kháng lại quả quyết: “Trái đất này mà không còn voi thì buồn lắm! Bắt chước câu nói của nhà bảo vệ môi trường, tôi cũng muốn nói rằng, sáng tác mà không có nhà lý luận phê bình thì buồn lắm. Cứ nghĩ mà xem. Buồn lắm, buồn thật đấy! Nhà lý luận phê bình, bạn đồng hành của nhà sáng tác!” (tr.190).         

*

Ma Văn Kháng trong bài Bí thuật của nghề nghiệp, cho ta biết, hồi những năm cuối 60 đầu 70 của thế kỷ XX, Chế Lan Viên đi Liên Xô về nói với những nhà văn trẻ đang tập tọng viết: “Hội Nhà văn toàn Liên bang Xô viết có 5000 hội viên, nhưng sẽ chỉ còn lại 4 – 5 ông là may mắn rồi. Nghĩa rằng, đặc thù của nghề văn là ở nơi xuất phát thì đông nhưng chỉ rất ít người tới đích” (tr.171). Nguyễn Đình Thi, năm 1970, nói với các nhà văn trẻ từ các tỉnh về họp Hội nghị Các cây bút trẻ, nói: “Cả đời tôi chỉ mong có được một truyện ngắn, một bài thơ được mọi người nhớ. Lúc ấy tôi thấy trong lòng đầy tự ái: Các ông này ra điều ta đây, cứ hay quan trọng hóa vấn đề!” (tr.171).

“Phút giây huyền diệu - nhà văn và quá trình sáng tạo”, một cuốn sách hay của Ma Văn Kháng - 2

Nhà văn Ma Văn Kháng

Khi đã thành nhà văn nổi tiếng, đã được tặng nhiều giải thưởng văn học cao quý, Ma Văn Kháng thực sự thấm thía tâm sự của những cây bút đàn anh nói trên. Ông viết: “Bây giờ già rồi, trải nghiệm rồi, đọc nhiều rồi, nghĩ lại mới thấy đúng là viết văn đến độ nào rồi mới biết thế nào là nghề văn, là văn chương. Lại nói câu nói của bạn tôi, Nguyễn Khắc Trường, nhà văn, tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma nổi tiếng: Nói thật là tôi đến giờ lắm lúc cũng chưa hiểu thế nào là văn chương […]. Bây giờ cuối đời rồi, viết cả mấy chục cuốn sách rồi, vậy mà viết tiếp một cái gì, vẫn thấy chả tự tin tẹo nào, vẫn thấy hoang mang lắm! Và thú thật, bây giờ mới thấy được, không phải chỉ là cái ngọt ngào, mà chính là cái cay đắng nghiệt ngã ở cái nghề văn của mình. Thú nhận này của tôi gặp cái khắc khoải của Văn Chinh, một nhà văn kỹ tính và tinh quái khi nghe anh nói rằng: Tôi học viết văn vào lúc người ta dạy cho biết văn học có thể can dự vào thế sự và vào việc hoàn thiện con người. Giờ tóc đã hoa râm, tôi thấy hiển nhiên là ngòi bút mình bất lực… Ngước nhìn lên, thấy cụ L.Tolstoy già nua khóc bảo ông M. Gorki hăm hở rằng: “Anh cứ sống đi rồi thấy rằng, nó, con người vẫn thế”. Lại toát mồ hôi nhủ rằng, phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” (tr.172).

Dẫu có chút khiêm tốn khi nói về mình nhưng cái “toát mồ hôi”, cái giác ngộ của Ma Văn Kháng “phát hiện thêm về con người là khó như tìm ra một hành tinh khác vậy” là một nhận thức đúng đắn, sâu sắc, muôn thuở, muôn đời về văn chương nghệ thuật. Là một yêu cầu, đòi hỏi nghiệt ngã nhất, cao nhất trong sáng tạo của nhà văn. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tư tưởng riêng, phải tạo được cho mình một phong cách độc đáo mà biểu hiện then chốt, cốt lõi của phong cách là phải có cái nhìn riêng, có tính chất khám phá, phát hiện về thế giới và con người. Sự giác ngộ của Ma Văn Kháng đã bắt gặp quan niệm của nhà văn Pháp Marl Prust (1871 – 1922): “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” (Thời gian tìm lại được). Phong cách, tính độc đáo của một nhà văn biểu hiện sâu đậm nhất ở cái nhìn, cách nghĩ hơn là ở văn phong. Với những nhà văn có phong cách, tác phẩm của họ luôn mở ra được cái gì đó về thế giới và con người mà trước đó, vẫn như là bị phong kín. Ma Văn Kháng cũng quả quyết: “Nhà văn, kẻ sáng tạo ra cái chưa hề có trong hiện thực! Chưa hề có trong hiện thực!” (tr.131). Nhà văn có tài năng lớn, có phong cách nghệ thuật độc đáo là người, qua tác phẩm của mình, tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng, một xã hội riêng, theo quy luật riêng của nó. Vì thế, người ta thường ví những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn như một tiểu hóa công. 

Đúng vậy, những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn là những tiểu hóa công. Đây là cái đam mê sáng tạo của nhà văn qua ngòi bút Ma Văn Kháng: “Đó là một quá trình nhà văn bị thiêu đốt bằng cơn nhiệt hứng để đi tìm một hình dạng có giới hạn có khả năng hàm chứa cái vô hạn. Đó là một quá trình bị mê hoặc bằng ảo ảnh thần thánh hóa trước cái kết thúc tối hậu. Đó là một cơn đam mê quăng mình vào cuộc phiêu lưu trong đám sương mù của chữ nghĩa để diễn tả cho đúng cái điều mình định nói. Đó là một công cuộc theo đuổi tận lực kiệt cùng sự hoàn thiện, trong tinh thần luôn muốn vươn tới một cái gì đó đẹp hơn cái đang hiện tồn với ảo giác rằng mình đang làm công việc vĩ đại có thể thay đổi cả thế giới…” (tr.30). Ma Văn Kháng cho ta biết: năm 1976, đạo diễn Đặng Nhật Minh đi thực tập ở Bulgari. “Hỏi, học được những gì về nghề trong thời gian đó. Nghệ sĩ nhân dân kể: Một lần trong khi một đạo diễn Bulgaria đang tập cho diễn viên, thấy bên ngoài có tiếng ồn ào, ông này bỗng bật hét: Có im đi không! Không biết là Chúa đang tạo thế à! Và những tiếng ồn ào nghe vậy liền im phắc. Đạo diễn ngoài hiện trường là Chúa Trời!” (tr.60 – 61). 

Trong bài Tôi đã học viết như thế nào, M. Gorki viết: “Con người tưởng tượng Thượng đế của mình là đấng toàn tri, toàn năng, thần thông quảng đại, nghĩa là gán cho Thượng đế những khát vọng cao cả nhất của mình. Thượng đế chỉ là một sự “bịa đặt” của loài người nảy ra  từ “cuộc đời nghèo nàn cơ cực” và nỗi lòng khao khát mơ hồ của con người muốn dùng sức mình làm cho cuộc sống phong phú hơn, nhẹ nhàng hơn, công bằng hơn và đẹp đẽ hơn. Con người đã nâng Thượng đế lên trên cuộc sống, vì những phẩm chất và ước muốn cao cả nhất của con người nảy sinh trong quá trình lao động đã không có chỗ đứng trong thực tế, nơi đang diễn ra một cuộc đấu tranh khốc liệt vì miếng ăn”  Gorki, Bàn về văn học, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.240). Những nhà văn, những nghệ sĩ vĩ đại, như trên đã nói, họ là một tiểu hóa công. M. Gorki cho ta biết về L. Tolstoy: “Xưa nay ông cụ vẫn ca ngợi hết lời sự bất tử ở thế giới bên kia, nhưng thật ra cái mà ông ham thích là sự bất tử trên thế gian này”. Hãy nghe Gorki viết về cuộc trò chuyện của ông với Tolstoy. Tác giả Chiến tranh và hòa bình nói với Gorki: “… Đấy anh vẫn nói đến cái đẹp. Nhưng cái đẹp là gì? Cái cao cả nhất và hoàn mỹ nhất là Thượng đế […]. Ông cụ ngồi trên đi – văng, hai chân gập xuống dưới gầm, trong chòm râu nở một nụ cười đắc thắng, giơ ngón tay lên dọa tôi: Chuyện này thì anh đừng hòng tảng lờ, không làm thinh được đâu!. Và tôi, người không bao giờ tin Thượng đế, không hiểu sao chợt ngước mắt lên nhìn ông một cách rất e dè, có phần sợ sệt nữa, lòng tự nhủ: “Con người này chẳng khác nào Thượng đế!”. Quả đúng vậy, những nhà văn vĩ đại, những thiên tài văn học cổ kim đông tây không phải là Thượng đế nhưng họ chẳng khác nào Thượng đế!      

Tập Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo là tác phẩm của một nhà văn đạt đến trình độ hoàn toàn tự giác, luôn có ý thức về quá trình sáng tạo của nhà văn. Qua tập sách đặc sắc này, Ma Văn Kháng hầu như đã bao quát được những bước, những khâu cơ bản của quá trình sáng tạo của nhà văn. Đây là tập tiểu luận và bút ký xuất sắc về nghề văn, với nhiều nhận xét tinh tế, sâu sắc, dẫu quen mà vẫn lạ, vẫn đầy bất ngờ, vì nó không chỉ có tầm bao quát mà còn bổ sung, khắc sâu thêm một vấn đề cốt lõi nào đó trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Nhiều đoạn văn viết tràn đầy cảm hứng, nghiêng ngả trong cơn hưng phấn, như là lên đồng, như là sự thăng hoa của cảm xúc. Phút giây huyền diệu – nhà văn và quá trình sáng tạo không chỉ cung cấp những kiến thức sâu sắc, bổ ích cho bạn đọc thông thường mà còn là tư liệu quí cho những nhà lí luận, phê bình văn học; đồng thời cũng có ý nghĩa gợi mở cho các nhà văn trẻ trên con đường tìm một lối đi riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Đây là một cuốn sách hay, góp phần làm phong phú thêm sự nghiệp văn học của Ma Văn Kháng.

Trần Đăng Suyền




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Ôm cua như “cua-rơ”, thanh niên trượt ngã bay thẳng vào hàng rào nhà dân


Phóng nhanh vào khúc cua khi không đội mũ bảo hiểm, nam thanh niên mất lái khiến cả người lẫn xe trượt dài rồi lao thẳng vào hàng rào bên đường.




Nguồn: Arttimes.vn

Honda CR-V tái xuất thị trường quê nhà, chỉ bán bản hybrid


Sau nhiều năm rút khỏi thị trường Nhật Bản, Honda CR-V đã chính thức quay trở lại thị trường với cấu hình e:HEV.

Hơn ba năm kể từ khi ra mắt toàn cầu vào tháng 7/2022, Honda CR-V thế hệ thứ 6 đã chính thức được giới thiệu tại thị trường Nhật Bản, đánh dấu sự trở lại của mẫu SUV này tại quê nhà sau một thời gian dài vắng bóng. Trước đó, CR-V từng bị rút khỏi thị trường nội địa do doanh số không khả quan của thế hệ thứ năm, nhường chỗ cho ZR-V trong phân khúc C-SUV.

Honda CR-V tái xuất thị trường quê nhà, chỉ bán bản hybrid - 1

Đáng chú ý, đây mới là lần tái xuất đúng nghĩa của CR-V tại Nhật. Vào tháng 7/2024, Honda từng đưa về phiên bản CR-V e:FCEV chạy pin nhiên liệu hydro nhưng chỉ phân phối theo hình thức cho thuê giới hạn dành cho các cơ quan chính quyền và doanh nghiệp. Với đợt mở bán lần này, CR-V hướng đến nhóm khách hàng phổ thông hơn, dù hãng vẫn đặt mục tiêu doanh số khá khiêm tốn, khoảng 400 xe mỗi tháng.

Tại Nhật Bản, CR-V chỉ được phân phối với hệ truyền động hybrid e:HEV. Hệ thống này kết hợp động cơ xăng 2.0L hút khí tự nhiên vận hành theo chu trình Atkinson, sản sinh công suất 148 PS và mô-men xoắn 183 Nm, cùng hai mô-tơ điện, trong đó mô-tơ kéo đạt công suất 184 PS và mô-men xoắn 335 Nm. Xe sử dụng hộp số e-CVT, có khả năng ghép nối trực tiếp động cơ xăng với bánh xe khi cần tải lớn nhằm tối ưu hiệu suất vận hành.

Danh mục sản phẩm gồm hai phiên bản chính. Bản tiêu chuẩn e:HEV RS có giá 5.122.700 yên (khoảng 856 triệu đồng) với cấu hình dẫn động cầu trước và 5.392.200 yên (khoảng 900 triệu đồng) cho bản dẫn động bốn bánh. Cao cấp hơn là e:HEV RS Black Edition chỉ đi kèm hệ dẫn động AWD, giá 5.779.400 yên (khoảng 966 triệu đồng).

Honda CR-V tái xuất thị trường quê nhà, chỉ bán bản hybrid - 2

Thiết kế của Honda CR-V thế hệ mới theo đuổi phong cách cứng cáp và trưởng thành hơn so với đời trước, với lưới tản nhiệt lớn, cụm đèn LED thanh mảnh và thân xe vuông vức. Bản Black Edition tạo điểm nhấn bằng các chi tiết ngoại thất sơn Crystal Black Pearl, bộ mâm hợp kim 19 inch cùng nhiều điểm nhấn tối màu ở cả ngoại thất lẫn nội thất.

Honda CR-V tái xuất thị trường quê nhà, chỉ bán bản hybrid - 3

Khoang cabin được hoàn thiện theo hướng hiện đại và thực dụng. Trung tâm bảng táp-lô là màn hình giải trí Honda Connect 9 inch tích hợp Google Built-in, đi kèm sạc không dây công suất 60W, nhiều cổng kết nối và hệ thống âm thanh Bose. Trên phiên bản cao cấp, xe còn có màn hình hiển thị kính lái (HUD), ghế trước thông gió, cửa sổ trời toàn cảnh chỉnh điện cùng các chế độ lái tùy chọn gồm Individual, Sport, Normal, Econ và Snow.

Honda CR-V tái xuất thị trường quê nhà, chỉ bán bản hybrid - 4

Toàn bộ các phiên bản đều được trang bị gói an toàn Honda Sensing tiêu chuẩn với loạt tính năng hỗ trợ lái nâng cao. Riêng bản Black Edition bổ sung thêm cảnh báo phương tiện cắt ngang phía trước, hỗ trợ phòng tránh va chạm khi chuyển làn và hỗ trợ chuyển làn chủ động.

Honda CR-V mới tại Nhật có nhiều tùy chọn màu sơn như Platinum White Pearl, Slate Gray Pearl, Crystal Black Pearl, Blazing Red Pearl và Canyon River Blue Metallic, trong đó một số màu là tùy chọn tính phí.

Với cấu hình hybrid toàn diện cùng danh sách trang bị phong phú, mẫu SUV này được Honda định vị là sản phẩm chiến lược trong lộ trình điện hóa tại thị trường nội địa.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Chủ nhà “ghi điểm” vì hành động nhỏ cứu nhiều xe khỏi đâm vào cổng


Ở ngay khúc cua đổ dốc nguy hiểm, chủ nhà luôn chủ động mở rộng cổng để tránh cho nhiều phương tiện mất lái gặp tai nạn nguy hiểm.




Nguồn: Arttimes.vn

Lâm Thị Mỹ Dạ – “Hồn đầy hoa cúc dại”


Lâm Thị Mỹ Dạ là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Cũng như các nhà thơ nữ Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn…, sáng tác của Lâm Thị Mỹ Dạ là tiếng nói trữ tình giàu bản sắc, làm hình thành một phong cách nghệ thuật độc đáo.

Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xuất hiện từ đầu những năm bảy mươi của thế kỷ XX, khi chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt trên cả hai miền đất nước. Quảng Bình, quê hương của Lâm Thị Mỹ Dạ là một trong những vùng đất bom đạn tàn khốc nhất. Từ Hà Tĩnh vào, những địa danh như Bến Thủy, Ngã ba Đồng Lộc, Đèo Ngang, Bến phà Long Đại, Bến phà Gianh, phà Ròn… đều là những túi bom với sự tàn phá khủng khiếp. Cam go, cơ cực chưa từng thấy, hy sinh chết chóc ngoài sức tưởng tượng, cái ăn, cái mặc vô cùng gian nan. Tuổi vừa lớn dậy, Lâm Thị Mỹ Dạ gắn chặt với mảnh đất ấy như số phận chị phải thế,… và chăm chỉ làm thơ mỗi ngày. Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong trẻo, tình tứ, tươi tắn và hồn nhiên… như thể bất chấp, như thể muốn vượt lên những gian khổ kia. Ở đây, có gì đó khó giải thích đối với những người không sống trong thời kỳ đó về sự trái ngược, bất công, không cân sức… giữa một bên là thơ ca vô phương tự vệ, và bên kia là mưa bom, bão đạn đang thét gào?

Nhưng thơ ca vốn là một lĩnh vực tinh thần có bản năng sinh tồn kỳ lạ, không theo quy luật thông thường. Càng khổ cực con người càng cần có thơ ca, càng gian nan cuộc đời càng cần sự lãng mạn, càng khốc liệt tâm hồn càng tươi xanh. Lâm Thị Mỹ Dạ có thể là cây cúc đắng (Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng – Phạm Tiến Duật), giấu đi những giọt nước mắt: “Em có nỗi buồn như tro /Hoang lạnh cả một đời thiếu nữ” (Anh đã nhìn thấy em), quên đi những phiền muộn để hướng về cái đẹp, những câu thơ đẹp. Nhưng đây là cái quên không phải “lên gân”, cần phải nhiều cố gắng. Vì Lâm Thị Mỹ Dạ vốn là nhà thơ hồn đầy hoa cúc dại, đầy những mộng mơ, ngơ ngác như cỏ xanh, xôn xao như nắng gió hai bờ sông Kiến Giang quê hương chị: “Đã quá xa rồi/ Thời trẻ dại/ Câu thơ hiền như nước/ Xanh như lá/ Mơ hồ như gió/ Lãng đãng mây chiều ngơ ngác trôi” (Ngoảnh lại).

Lâm Thị Mỹ Dạ - “Hồn đầy hoa cúc dại” - 1

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

Trong Tuyển tập thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, NXB Hội Nhà văn, in năm 2011 bài Ngoảnh lại trên đây không ghi năm tháng sáng tác. Nhưng cũng không khó nhận ra bài này chị viết lúc đã không còn trẻ: “Năm tháng tươi xanh /Đời đến lúc cỗi già…/Ta thành trái mà hồn còn như lá /Cứ xanh hoài chồi biếc thuở non tơ” (Ngoảnh lại).

Không ít lần chị nói về cái “tươi xanh” đáng quý này. Khi thì mắt xanh, sao xanh: “Đôi mắt xanh nhìn ngôi sao xanh” (Chú mèo bên cửa sổ); Khi thì trăng xanh: “Tròn đầy như trăng /Xanh mềm như cỏ” (Anh đã nhìn thấy em); cỏ xanh: “Xin cho tôi suốt đời làm con dế /Hát li ti trong cỏ xanh non” (Du ca – dế), “Rồi cỏ sẽ xanh trên tên tuổi chúng ta /Dòng sông sương mù trôi mãi” (Những tứ thơ quên lãng); trời xanh: “lòng kiêu hãnh trong em anh không sao thấy hết /Như trời xanh đo mãi không cùng” (Lòng kiêu hãnh); vườn xanh: “Sao sơm nay vườn xanh như cổ tích” (Buổi sáng trong vườn); hạt sương xanh: “Như cánh chuồn vụt bay không níu được /Hạt sương xanh – hạt cốm nhỏ tan dần” (Cốm non); tiếng chim xanh: “Tiếng chim gù xanh biếc đồng quê” (Mẹ ngày xưa); thời gian xanh: “Theo bài ca tôi về tìm lại /Khoảng thời gian xanh biếc dưới cỏ mềm” (Khoảng thời gian xanh biếc); sự im lặng màu xanh: “Nỗi im lặng của trăng non và lá xanh” (Không đề); cái nhìn cũng xanh: “Còn ở trong hồn /Cái nhìn xanh biếc” (Tôi về với tôi), “Mùa xuân lên xanh dây bầu /Trăng non lên xanh đêm thâu” (Nói chuyện với con trước giấc ngủ)… Quả là mênh mang biến ảo màu xanh. Lâm Thị Mỹ Dạ cố ý (trong ý thức) hay vô tình (trong tâm hồn) mà cái tươi xanh này để lại trong trang viết của chị như một đặc trưng khó quên? Hay ở chị sự tàn khốc của chiến tranh, sự nghiệt ngã của thiên nhiên, sự ngang trái của nỗi đời… đang bị phủ định theo luật của cái đẹp, luật của thơ trữ tình?

Cũng thường gặp trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hình ảnh vầng ảnh trăng. Hình như vầng trăng mỗi khi một vẻ chen vào mọi góc riêng của chị. Khi chị trò chuyện với con: “Con nằm trong nôi nhìn mẹ /Ngoài kia trăng xanh lên non” (Nói chuyện với con trước giấc ngủ); Khi chị nghĩ đến bạn bè: “Tri âm nào ai thấu /Chỉ một vầng trăng xanh” (Sự tích của đá); Khi chị phân thân: “Chú ngựa làm trời đêm xúc động/  Giữa cao vời dâng tặng mảnh trăng non” (Giấc ngủ mặt trời); Khi chị ngẫm nghĩ về bản thân: “Muôn đời im lặng /Vầng trăng xanh biếc” (Tôi thấy mình), “Nỗi im lặng của trăng non và lá xanh” (Không đề); Khi chị nói về tình yêu: “Đã nhìn thấy em /Tròn đầy như trăng” (Anh đã nhìn thấy em), “Vầng trăng trong hồn anh /Chỉ riêng mình em biết” (Chỉ mình em thấy), “Đêm nhìn lên ánh trăng xinh /Vầng trăng ấy – nơi chúng mình gặp nhau” (Vầng trăng)…vv.

Lâm Thị Mỹ Dạ cũng viết nhiều về thiên nhiên, cây cỏ, hoa lá, cây trái miền đất quê hương chị… Có cảm giác chị luôn ngơ ngác, lạ lẫm trước thiên nhiên, trước cuộc sống: “Có buổi sáng hồn như bông tỉ muội/ Ta lạ lùng tìm lại ta xưa” (Buổi sáng trong vườn) …Tìm lại ta xưa tức là tìm về những thú vui thuở nhỏ, chị ao ước: “Xin cho tôi suốt đời làm con dế/ Hát li ti trong cỏ xanh non/…Lại ngu ngơ hát bài ca muôn thuở/ Hát vu vơ lời cỏ dại khờ” (Du ca …dế). Tìm lại ta xưa là tìm lại thời gian: “Theo bài ca tôi về tìm lại/ Khoảng thời gian xanh biếc dưới cỏ mềm” (Khoảng thời gian xanh biếc) “Cho tôi về thời con gái/ Sáng tròn như một vầng trăng” (Với bạn gái).

 Nhà văn Lê Minh Khuê nhớ lại: năm 1971, ngoài hai mươi tuổi, lần đầu Lâm Thị Mỹ Dạ tới thủ đô “Mắt mở to, trái tim choáng ngợp những xúc động, thiếu nữ nhìn Hà Nội như một đứa trẻ nhìn thế giới đầy những màu sắc mới lạ” (Lê Minh Khuê: Nhà thơ của tình yêu trong Lâm Thị Mỹ Dạ tuyển tập, NXB Hội Nhà văn 2011). Bài thơ Đường thủ đô của Lâm Thị Mỹ Dạ viết trong thời gian đó có những câu “lung linh như những hạt nước trong trẻo sau mưa rào” (Lê Minh Khuê): “Qua Bà Triệu thấy Quang Trung/ Gặp Hồ Gươm sáng một vùng sóng xao/ Ngẩn ngơ hoa sữa trên cao/ Tìm Nguyễn Du lại lạc vào Xuân Hương” (Đường thủ đô).

Tôi nhớ Lâm Thị Mỹ Dạ cũng có một câu thơ trong veo: “Khi mùa xuân đến /Trái tim như hạt sương/ Trong chiếc lá của hạnh phúc” (Hạt sương). Trái tim ấy sung sướng, ngạc nhiên, bộc lộ chân thành sau những tiếng đập đa cảm: “Trời ơi, hoa Hà Nội/ Làm sao nói nên lời” (Hoa Hà Nội).

Một lần đến nước Nga, chị cũng không giấu những xúc động, ngơ ngác của mình: “Bông cúc dại nhìn ai/ Cái nhìn màu nắng/ Thơ ngây, dịu dàng/ Và tôi/ Như một chiếc mầm/ Bật lên sau tuyết/ Ngơ ngẩn nhìn nước Nga” (Nước Nga vừa xanh).

Tâm hồn chị tràn đầy lạc quan, một tinh thần lạc quan không tếu, đã vượt qua những đau buồn, qua những trải nghiệm, những đúc kết: “Tôi lại yêu cuộc đời vô hạn /Bao lo buồn chợt thấy nhẹ tênh” (Chú mèo bên cửa sổ). Bởi vì chi đã trải qua, đã thức ngộ: “Người đàn bà làm thơ trăm thứ khổ /Thấm vào trong như cát chẳng thấy gì” (Thân phận tơ trời), “Em đã thành người đàn bà khác /Nụ hoa xanh, nụ tầm xuân đã khác” (Nụ tầm xuân đã khác), “Đời người thoảng chốc tan vào gió /Hạnh phúc mong manh hương ổi bay /Chị ơi hạnh phúc ai cầm nổi /Mong manh bọt biển thoáng làn mây” (Đêm Như Ngân), “Đời qua nhanh có ai ngờ /Giật mình ngoảnh lại ngẩn ngơ tuổi mình” (Tuổi anh), “Một mình lắng, một mình nghe /Ơ kìa cái cõi –  đi – về gang tay” (Giấc ngủ mặt trời).

Bởi vì chị đã trải qua những thời khắc rất bi quan: “Em chết trong nỗi buồn/ Chết như từng giọt sương/ Rơi không thành tiếng/ Trong xứ sở anh/ Em bị lạc/ Xứ sở hiếm hoi niềm vui Khô thắt đến nao lòng” (Tặng nỗi buồn riêng).

Thực ra với những người lọc lỏi, từng trải, kỹ tính rất có thể họ giấu kín những “ngơ ngác”, “ngẩn ngơ”… không như Lâm Thị Mỹ Dạ. Bởi vì có gì đó thật thà quá, thậm chí hơi… “quê quê” nữa. Nhưng với trực cảm mạnh mẽ Lâm Thị Mỹ Dạ hồn nhiên không cần che giấu cảm xúc. Thơ của chị vì thế cởi mở chân thành, “rất Lâm Thị Mỹ Dạ”. Sự chân thành đó như suối nguồn từ một trái tim trung thực. Bài thơ Anh đừng khen em của chị được người đọc các lứa tuổi yêu thích, vì người con gái trong bài thơ tâm hồn rất thật thà, trong trẻo, thánh thiện, không phải như các cô gái khác chỉ thích được khen. Điều chị cần cao hơn lời khen: “Hãy chỉ cho em cái kém/ Để em nên người tốt lành/ Hãy chỉ cho em cái xấu/ Để em chăm chút đời anh/ Anh ơi, anh có biết không/ Vì anh em buồn biết mấy/ Tình yêu khắt khe thế đấy/ Anh ơi anh đừng khen em” (Anh đừng khen em).

Như vậy trong bản năng trực giác vượt trội dường như đã có sự tham gia của ý thức giúp ngòi bút của chị tìm đến những ngôn từ biểu cảm, nhưng trong sự biểu cảm đã bao gồm cả lý lẽ làm người đọc không nhận ra “dấu vết” của ý thức. Tính chính trị, tính giáo dục, những yêu cầu mà văn chương luôn đặt lên hàng đầu đối với thế hệ chị, chỉ như một mạch ngầm giấu kín phía sau các dòng chữ, đến sau của quá trình cảm nhận thẫm mỹ. Nếu đó là ý thức thì phải thừa nhận Lâm Thị Mỹ Dạ nhận biết khá sâu sắc bản chất của văn chương nghệ thuật. Mọi sự thuyết giáo lộ liễu, nhất là trong thơ trữ tình đều phản tác dụng trong quá trình tiếp nhận. Nhiều bài thơ chị viết trong chiến tranh không mấy khi miêu tả trực tiếp cảnh bom đạn, điều chị quan tâm là: “Đạn bom thù chẳng sợ đâu /Chỉ e sương ướt mái đầu lá chanh” (Gặt đêm). Bộ mặt chết chóc của chiến tranh được “mờ hóa”: “Màu vàng bom bi lẫn trong màu vàng của lúa /Mỗi người đội một vầng trăng nhỏ” (Gặt đêm). Ở bài thơ nổi tiếng Khoảng trời, hố bom cũng vậy, chị có cách khai thác về chiến tranh rất riêng: chiến tranh vẫn hiện diện, nhưng thấp hơn, bị chĩm lấp, khi sự mất mát đã hóa thân thành “phạm trù” của cái đẹp, cái cao cả: “Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em/ Máu đọng lại một khoảng trời nho nhỏ/…Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/ Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/ Những vì sao ngời chói lung linh” (Khoảng trời, hố bom).

Ở bài thơ Hương vườn cũng viết về chiến tranh, nhưng cái ác hình như không hiện diện, dù chỉ mới hôm qua bom đạn Mỹ vừa trút xuống trước thềm nhà chị. Nhưng tiếng bom đã là quá vãng. Tước mắt chị là hoặc là sự lặng im, hoặc là tiếng chim hót: “trời vẫn ngọt mềm tiếng chim, hai chùm ổi chín lặng im cuối vườn”. Điều nhà thơ quan tâm lúc cầm bút là vẻ đẹp thanh khiết của bình yên, hạnh phúc: “Hôm qua bom nổ trước thềm/ Sớm ra trời vẫn ngọt mềm tiếng chim/ Nghe hương cây vội đi tìm/ Hai chùm ổi chín lặng im cuối vườn” (Hương vườn).

Có thể tìm thêm những ví dụ tương tự, những nơi thể hiện ý thức của nhà thơ, giúp ta nhận ra nét riêng của Lâm Thị Mỹ Dạ, một “cây cọ” không quen chất liệu sơn dầu, chị thích bột màu, thuốc nước, có xu hướng muốn xanh hóa, mờ hóa “những điều trông thấy”, muốn vượt lên để cho cái cảm thức “khoảng trời đã nằm yên trong đất…/ Những vì sao ngời chói lung linh” cũng như cái màu xanh nhiều cung bậc trên kia lay chuyển trái tim người đọc ở tận sâu xa nơi tan hòa cảm xúc và ý thức.

Chất tươi xanh, hồn nhiên vượt trội trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ làm người đọc dễ tưởng nhầm như thể đó là tất cả thế giới bên trong của chị. Thực ra không phải vậy. Thế giới nội tâm của chị không hề đơn giản. Lâm Thị Mỹ Dạ có một “tuổi nhỏ” không mấy suôn sẻ, có một “tuổi lớn” cũng không mấy nhẹ nhõm. Bạn học thuở thơ ấu của chị, nhà thơ Ngô Minh từng viết do “chủ nghĩa lý lịch” nặng nề một thời, “Mỹ Dạ đã trọn đời sống với thơ bằng trái tim thương tổn không thành sẹo…nhịp đập trái tim đã thành âm hưởng chủ đạo, thành nỗi đau trường cửu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ” (Ngô Minh: Lâm Thị Mỹ Dạ, nước mắt lặn vào trong trong Lâm Thị Mỹ Dạ tuyển tập, NXB Hội Nhà văn 2011).

Chị có người cha vào Nam làm ăn sinh sống sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945, bỏ lại hai mẹ con chị với sự vây bủa của biết bao tiếng bấc tiếng chì, biết bao sự kỳ thị, biết bao sự thương tổn. Những ai từng sống ở khu bốn từ sau 1954 qua thời kỳ cải cách ruộng đất, đến thời kỳ đấu tranh thống nhất… hẳn không quên những oan khuất, rất nhiều oan khuất, và không cách gì chứng minh, tháo cởi được, nếu rơi vào những oan khuất như Lâm Thị Mỹ Dạ. Mang vết thương tinh thần thời niên thiếu, vết thương khó quên nhất, khó lành nhất của đời mỗi con người, Lâm Thị Mỹ Dạ có những câu thơ đầy thương cảm: “Em có nỗi buồn như tro/ Hoang lạnh cả một đời thiếu nữ” (Anh đã nhìn thấy em). 

Cái “hoang lạnh” này rồi theo chị suốt cả cuộc đời, làm nên nỗi cô đơn nguyên phiến trong tâm khảm chị. Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nhiều khi là hiện thân của nỗi cô đơn, hòa trộn với những nỗi buồn muôn thuở: “Bây giờ chỉ một mình ta /Một mình ta với bao la một mình /Bây giờ chỉ một trái tim /Một mình tung hứng một mình vết thương…/Một mình lắng một mình nghe /Ô kìa cái cõi – đi – về gang tay /Một mình cho hết đêm nay /Ta ngồi với bóng ôm đầy nhân gian” (Một mình); “Năm tháng cuốn trôi /Một thời con gái /Trên gương mặt em /Nếp buồn đọng lại” (Em sợ)…

 Đọc các tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ từ Khoảng trời, hố bom, Trái tim sinh nở, Bài thơ không năm tháng, Hái tuổi em đầy tay, Mẹ và con, Đề tặng một giấc mơ, đến Hồn đầy hoa cúc dại… có thể nhận thấy chị là người hạnh phúc: hạnh phúc với gia đình riêng của chị, hạnh phúc do nghề làm thơ mang đến. Nhưng cuộc đời của chị cũng không ít những năm tháng nhọc nhằn gian truân, nhất là từ khi chồng chị gặp bạo bệnh: “Bao vết thương trái tim sẹo chai lỳ/ Tưởng là vậy, tưởng là mình gan góc/ Nào đâu ngờ nước mắt cạn đêm nay” (Viết về câu trả lời của con), “Đời bất chợt thác ghềnh ào trút xuống/ Vùi lấp anh – cơn bạo bệnh kinh hoàng…/ Trên đôi vai bình yên/ Mà bão giông nghiêng ngửa/ Em quặn mình như rễ giữa đất im” (Cho anh tựa vào em).

Mang trong tim “nỗi buồn nguyên khối”, “nỗi đau trường cửu”, vết thương “không thành sẹo”, gánh trên đôi vai nhỏ những “thác ghềnh ào trút xuống”, “bão giông nghiêng ngửa”, một mình chống chọi, một mình làm điểm tựa cho gia đình, chị “quặn mình như rễ giữa đất im”: “Em tựa vào em – đơn độc quen rồi/ Em tựa vào em – gắng vững giữa đời” (Cho anh tựa vào em). Bởi vì, tâm hồn chị luôn rộng mở, luôn bao dung: “Xin biết ơn mây trắng/ Cho tôi lòng bao dung” (Ngước nhìn trời sao).

Vậy nên, có thể hiểu cái màu xanh biến ảo trong thơ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là sự hòa trộn bản năng và ý thức. Nếu chỉ là bản năng thì có thể dẫn câu thơ đến sự “xanh lép” không mong muốn nào đó. Còn nếu chỉ là ý thức thì câu thơ có thể như bị “cài đặt” dẫn đến mất đi tính hồn nhiên, tự nhiên muôn thuở của thể loại.  

 Đến đây, bạn yêu thơ phần nào có thể nhận thấy “Hồn xanh như cỏ…/Hồn đầy nụ xanh” (Ừ thôi tưởng tượng), “Một khoảng xanh êm đềm /Dập dờn chao giữa hồn tôi” (Hội An)… chỉ là một mặt của “khối lục lăng” nhiều sắc màu phản chiếu tâm hồn đầy hoa cúc dại của Lâm Thị Mỹ Dạ. 

Nếu trước mắt chúng ta là một nhà thơ có tâm hồn đầy hoa cúc dại thì ngòi bút của nhà thơ đó chắc chắn sẽ có đặc trưng riêng biệt. Trên kia chúng ta biết Lâm Thị Mỹ Dạ thường có ý thức làm “mờ hóa”, “mềm hóa”, “xanh hóa”, “trăng hóa”… những thô tháp, góc cạnh, cằn cỗi… của hiện thực. Cái cách Nhìn đời bằng đôi mắt xanh non (Xuân Diệu) ấy đã tạo nên chất trữ tình mượt mà lấn át chất tự sự trong thơ chị, ngay cả ở những bài Lâm Thị Mỹ Dạ chủ ý sử dụng bút pháp tự sự: Chuyện một cô bảo mẫu, Khoảng trời hố bom, Một cuộc đời âm vang, Anh thương binh kể chuyện, Chuyện cũ tuổi thơ, Sự tích hoa đá…vv. Lối ví von, so sánh của Lâm Thị Mỹ Dạ không sa vào sáo mòn cằn cỗi, ngược lại khá độc đáo, có lẽ xuất phát từ tâm hồn đầy hoa cúc dại của chị. Để nói tấm lòng thương yêu thơm thảo của chị gái, Lâm Thị Mỹ Dạ có lối so sánh, ví von thú vị trong sự liên tưởng về hương thơm: “Lòng chị thương em như quả chín” (Đêm Như Ngân). Để nói về một ký ức, chị trộn lẫn cái thực với cái ảo: “Ánh trăng tan vào hoa cau /Nồi cơm sôi có tiếng cơn mưa” (Buổi sớm). Chị khoác lên không gian khái niệm “tuổi mười bảy” để nói cái tươi trẻ của thiên nhiên và của tâm hồn: “Sớm nay thời tiết như mười bảy /Tở mở lá cành ngơ ngác hương” (Màu phố Phái). Để nói cái màu xanh của khu vườn, chị mượn những hình ảnh đã in dấu thật xa trong ký ức: “Cánh chuồn đỏ chao một vòng thơ dại /Chú ếch vàng ngơ ngác giậu thưa …/ Sao sớm nay vườn xanh như cổ tích /Cho ta thành cô bé lọ lem xưa” (Buổi sáng trong vườn). Phép “lãng mạn hóa” ở chị là đặt cái cụ thể bên cái không cụ thể:  “Tổ Quốc như cánh tay…/Ôi cánh tay biếc xanh như tình ái” (Tổ Quốc). Để vô hiệu hóa cái ác, chị trộn lẫn cảm giác về màu sắc: “Màu vàng bom bi lẫn trong màu vàng của lúa” (Gặt đêm). Với cảm thức thời gian, chị có những câu thơ tê buồn: “Đời qua nhanh có ai ngờ /Giật mình ngoảnh lại ngẩn ngơ tuổi mình” (Tuổi anh), “Đời người thoảng chốc tan vào gió” (Đêm Như Ngân), “Cuộc đời trần gian ngắn lắm /Sao người không thương người hơn” (Tôi có bao nhiêu đêm trắng) v.v. 

*

Đọc thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, ký ức lại tìm về vùng đất từ bờ nam Bến Thủy đến hết Quảng Bình, vùng đất hẹp, vùng đất lửa, thất thường mưa nắng, hun hút gió nóng thổi từ đất Lào, mênh mông cát trắng chạy dài ven biển, bầu trời tứ thời xanh ngăn ngắt, những dòng sông bốn mùa chảy xiết. Từ ngàn đời nay, con người nơi đây như được “trời phú” những “kỹ năng mềm” để đương đầu chế ngự cái khắc nghiệt kia. Đó là nét dịu dàng mềm mại trong đối nhân xử thế, lãng mạn tình tứ trong tính cách, đa cảm phong tình trong cõi đời, cõi người… Nhà thơ Thanh Tịnh có lần nói rằng ở miền đất ấy con sông nào cũng ngắn nhưng câu hò nào cũng dài. Cái “ngắn” ở đây là sự khắc nghiệt của đất trời, cái “dài” chính là sức thanh xuân trường tồn trong tâm hồn con người. Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ góp phần sáng tỏ nghịch lý ấy./.

Lê Thành Nghị




Nguồn: Arttimes.vn

Bà Bùi Thị Minh Hoài tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 5 Phú Thọ


Ngày 6.3, bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031, dự Hội nghị tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 5 Phú Thọ.

Bà Bùi Thị Minh Hoài tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 5 Phú Thọ - 1

Các ứng cử viên Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 5 Phú Thọ. Ảnh: Minh Chuyên.

Trong buổi sáng ngày 6.3, bà Bùi Thị Minh Hoài trực tiếp làm việc tại UBND phường Hoà Bình.

Tại các buổi tiếp xúc cử tri, bà Bùi Thị Minh Hoài cùng các ứng cử viên báo cáo với cử tri về chương trình hành động của mình.

Bà Bùi Thị Minh Hoài tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 5 Phú Thọ - 2

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Xuyên Đông

Bà Bùi Thị Minh Hoài cũng sẽ thay mặt các ứng cử viên tiếp thu, trao đổi làm rõ các nội dung mà cử tri quan tâm.

Bà Bùi Thị Minh Hoài tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 5 Phú Thọ - 3

Bà Bùi Thị Minh Hoài ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại tỉnh Phú Thọ, đơn vị bầu cử số 5.

Đơn vị bầu cử số 5 gồm các phường: Hòa Bình, Kỳ Sơn, Tân Hòa, Thống Nhất và các xã: Lạc Thủy, An Bình, An Nghĩa, Lương Sơn, Cao Dương, Liên Sơn, Thịnh Minh, Đà Bắc, Cao Sơn, Đức Nhàn, Quy Đức, Tân Pheo, Tiền Phong, Kim Bôi, Mường Động, Dũng Tiến, Hợp Kim, Nật Sơn.

Báo Lao động




Nguồn: Arttimes.vn

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM


Nằm trong chuỗi các hoạt động Tháng Thanh niên và tuyên truyền công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 – 2031, ngày 6/3, chị Nguyễn Phạm Duy Trang – Bí thư T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội đồng Đội T.Ư, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ trẻ em Việt Nam dẫn đầu đoàn công tác của T.Ư Đoàn đến thăm, tặng quà cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại Trường tiểu học Hồ Hảo Hớn (phường Phú An) và Trường tiểu học Trần Quốc Tuấn (phường Bến Cát, TPHCM).

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 1

Ngày 6/3, đoàn công tác của T.Ư Đoàn do chị Nguyễn Phạm Duy Trang – Bí thư T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội đồng Đội T.Ư, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ trẻ em Việt Nam dẫn đầu đã đến thăm Trường tiểu học Hồ Hảo Hớn (phường Phú An, TPHCM). Tại đây, chị Nguyễn Phạm Duy Trang đã tặng hoa chúc mừng các cô giáo nhà trường nhân dịp Quốc tế phụ nữ (8/3).

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 2

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 3

Chị Nguyễn Phạm Duy Trang đã tặng các suất học bổng và sách giáo dục tri thức cho các em học sinh Trường tiểu học Hồ Hảo Hớn có hoàn cảnh khó khăn, góp phần động viên các em cố gắng học tập thật giỏi để mai này giúp ích cho quê hương.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 4

Chị Nguyễn Phạm Duy Trang trao tặng công trình “Tủ sách cho thiếu nhi” trị giá 50 triệu đồng cho Trường tiểu học Hồ Hảo Hớn.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 5

Thay mặt Ban giám hiệu nhà trường, thầy Phạm Văn Lai – Hiệu trưởng Trường tiểu học Hồ Hảo Hớn bày tỏ niềm vui, phấn khởi của thầy và trò khi được Bí thư T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội đồng Đội T.Ư, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ trẻ em Việt Nam Nguyễn Phạm Duy Trang đến thăm, tặng quà cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 6

Cùng ngày, Bí thư T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội đồng Đội T.Ư, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ trẻ em Việt Nam Nguyễn Phạm Duy Trang cùng đoàn công tác đã tới thăm Trường tiểu học Trần Quốc Tuấn (phường Bến Cát, TPHCM).

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 7

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 8

Chị Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng và sách giáo dục tri thức cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại Trường tiểu học Trần Quốc Tuấn.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 9

Cô Nguyễn Thị Tuyết Minh – Hiệu trưởng Trường tiểu học Trần Quốc Tuấn tặng quà cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 10

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 11

Chị Nguyễn Phạm Duy Trang trao tặng công trình “Tủ sách cho thiếu nhi” tại Trường tiểu học Trần Quốc Tuấn.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 12

Dịp này, chị Nguyễn Phạm Duy Trang cũng trao tặng công trình “Sân chơi thiếu nhi” cho Đoàn phường Bến Cát.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 13

Lãnh đạo T.Ư Đoàn, Thành Đoàn TPHCM chụp ảnh lưu niệm cùng cô, trò Trường tiểu học Trần Quốc Tuấn.

Bí thư T.Ư Đoàn Nguyễn Phạm Duy Trang trao học bổng, tặng sách cho các em học sinh tại TPHCM - 14

Theo báo Tiền phong




Nguồn: Arttimes.vn