Home Blog Page 57

Ứng viên Đại biểu Quốc hội – Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống


Ngày 05/3, trong chương trình tiếp xúc cử tri tại phường Bình Trị Đông và phường Bình Hưng Hòa, TP. Hồ Chí Minh, ứng cử viên Đại biểu Quốc hội khóa XVI – Luật sư Hà Hải đã lắng nghe nhiều ý kiến, kiến nghị của cử tri liên quan đến giao thông, quy hoạch đất đai, ngập nước đô thị, trợ giúp pháp lý và cải cách tư pháp. Trước những kỳ vọng đó, Luật sư Hà Hải khẳng định quyết tâm góp phần đưa pháp luật thực sự đi vào đời sống, đồng thời cam kết chuyển tải đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của cử tri đến nghị trường Quốc hội.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 1

Ứng cử viên Đại biểu Quốc hội Hà Hải tiếp thu ý kiến và trao đổi với cử tri.

Tại buổi tiếp xúc cử tri ở phường Bình Trị Đông, nhiều cử tri bày tỏ sự quan tâm và đánh giá cao chương trình hành động của ứng cử viên. Cử tri kỳ vọng rằng, nếu được tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội, các ứng cử viên sẽ nghiêm túc thực hiện các cam kết trước cử tri, đồng thời quan tâm giải quyết những vấn đề thiết thực tại địa phương như tình trạng ùn tắc giao thông, công tác quy hoạch và quản lý đất đai, cũng như tình trạng ngập nước tại một số khu vực dân cư.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 2

Luật sư Hà Hải (phải), Ủy viên Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đảng ủy viên, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh ứng viên ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại Đơn vị bầu cử số 10, TP. Hồ Chí Minh.

Tiếp thu các ý kiến của cử tri, Luật sư Hà Hải cho biết, nếu được cử tri tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa XVI, ông sẽ mạnh dạn, kiên quyết đấu tranh để pháp luật được thực thi nghiêm minh trong thực tiễn đời sống xã hội. Đồng thời, ông cũng cam kết tích cực tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, góp phần thúc đẩy việc giải quyết các vụ án tồn đọng, kéo dài, qua đó bảo đảm công lý và củng cố niềm tin của người dân đối với hệ thống tư pháp.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 3

Ông Đỗ Văn Điện, cử tri Khu phố 45, phường Bình Trị Đông trình bày nguyện vọng.

Tại buổi tiếp xúc ở phường Bình Hưng Hòa, nhiều cử tri bày tỏ mong muốn tăng cường các chương trình kết nối giữa Đoàn Luật sư với nhà trường và chính quyền địa phương nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong cộng đồng, đặc biệt trong môi trường học đường.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 4

Bà Huỳnh Thị Giang, cử tri Khu phố 20, phường Bình Trị Đông trình bày nguyện vọng.

Trao đổi với cử tri về nội dung này, Luật sư Hà Hải cho biết hiện nay Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh đang triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua các đơn vị trực thuộc như Đoàn Thanh niên, Ban Công tác xã hội và phong trào, Ban Nghiên cứu và xây dựng pháp luật trợ giúp pháp lý, các tổ chức luật sư tham gia trợ giúp pháp lý và các chi hội luật sư bảo vệ quyền trẻ em.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 5

Ông Nguyễn Văn Bình, cử tri Khu phố 38, phường Bình Trị Đông phát biểu.

Bên cạnh hơn 300 luật sư tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý tại Trung tâm trợ giúp pháp lý, nhiều luật sư và tổ chức hành nghề luật sư còn tích cực phối hợp với các trường học và địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền sinh động như phiên tòa giả định, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, diễn án và các buổi báo cáo chuyên đề pháp luật cho học sinh, sinh viên.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 6

Ông Hoàng Ngọc Mai, cử tri Khu phố 9, phường Bình Hưng Hoà phát biểu.

Theo Luật sư Hà Hải, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ là trách nhiệm xã hội mà còn là nhiệm vụ chính trị được quy định trong Luật Luật sư, đòi hỏi mỗi luật sư phải chủ động tham gia thực hiện. Cùng với đó, nhiều luật sư còn lồng ghép các hoạt động an sinh xã hội như trao học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, tặng quà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, qua đó góp phần nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm xã hội trong cộng đồng.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 7

Ông Mai Châu Tiến, Chi hội trưởng Hội người cao tuổi phường Bình Hưng Hòa trình bày nguyện vọng.

Liên quan đến vấn đề giải tỏa, đền bù và tái định cư, Luật sư Hà Hải cho biết, với kinh nghiệm nhiều năm tư vấn pháp lý cho nhà đầu tư cũng như hỗ trợ pháp lý cho người dân, khó khăn lớn hiện nay là việc chưa giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi. Từ thực tiễn đó, nếu được cử tri tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa XVI, ông cam kết sẽ tích cực phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân đến Quốc hội, đồng thời kiến nghị rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật liên quan như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Đầu tư, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hướng tới mục tiêu hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân.

Ứng viên Đại biểu Quốc hội - Luật sư Hà Hải: Đưa tiếng nói cử tri vào nghị trường, thúc đẩy pháp luật đi vào cuộc sống - 8

Bà Mai Thị Lê, cử tri Khu phố 55, phường Bình Hưng Hoà trình bày nguyện vọng.

Luật sư Hà Hải cũng cho biết thêm, với cương vị hiện nay tại Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, sau bầu cử, ông dự kiến sẽ cùng các luật sư thành viên trực tiếp đến các khu phố trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa, phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội tại địa phương để thống kê, hỗ trợ người dân thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến nhà, đất như cấp mới, cấp đổi giấy tờ, qua đó bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Buổi tiếp xúc cử tri diễn ra trong không khí dân chủ, thẳng thắn, thể hiện sự quan tâm của cử tri đối với chương trình hành động của các ứng cử viên cũng như kỳ vọng vào một Đại biểu Quốc hội có năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm trong việc đại diện cho tiếng nói của Nhân dân.

Theo Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Ứng viên Nguyễn Quỳnh Liên: Làm cầu nối đưa kiến nghị cử tri tới Quốc hội


Tại hội nghị tiếp xúc cử tri xã Đông Hưng (An Giang), ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI – Nguyễn Quỳnh Liên cho biết, sẽ tập trung hoàn thiện thể chế, giám sát việc thực thi chính sách và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân; giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri, lắng nghe và chuyển tải các kiến nghị của địa phương tới các cơ quan Trung ương.

Sáng 6/3, tại xã Đông Hưng, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử với 5 ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, thuộc đơn vị bầu cử số 7, tỉnh An Giang. Tại hội nghị, tiểu sử tóm tắt của các ứng cử viên được công bố, sau đó từng ứng cử viên trình bày chương trình hành động nếu được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội.

Ứng viên Nguyễn Quỳnh Liên: Làm cầu nối đưa kiến nghị cử tri tới Quốc hội - 1

Các ứng viên ứng cử đại biểu Quốc hội Khóa XVI tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 7, tỉnh An Giang.

Trình bày chương trình hành động, ứng cử viên Nguyễn Quỳnh Liên – Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, cho biết, nếu được cử tri tín nhiệm bầu, sẽ tập trung tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Qua đó góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.

Với kinh nghiệm công tác tại Trung ương, bà Liên cam kết, sẽ làm cầu nối chuyển tải kiến nghị của cử tri và địa phương tới các bộ, ngành, góp phần đề xuất những cơ chế, chính sách phù hợp phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, sẽ giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân; tích cực tham gia giám sát việc thực hiện các chương trình, chính sách, bảo đảm quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Sau khi nghe ứng cử viên trình bày chương trình hành động nếu được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội, cử tri xã Đông Hưng bày tỏ sự đồng tình, đánh giá cao chương trình hành động của các ứng cử viên. Đồng thời, nhiều ý kiến kiến nghị các vấn đề thiết thực gắn với đời sống người dân địa phương, như sách giáo khoa; đầu tư hạ tầng nông thôn, thủy lợi, vốn tín dụng ưu đãi cho sản xuất, đánh bắt; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, trợ cấp; các vấn đề môi trường…

Ứng viên Nguyễn Quỳnh Liên: Làm cầu nối đưa kiến nghị cử tri tới Quốc hội - 2

Ứng viên Nguyễn Quỳnh Liên: Làm cầu nối đưa kiến nghị cử tri tới Quốc hội - 3

Cử tri Lê Thúy Hiền và Lê Bá Thịnh đặt câu hỏi cho các ứng cử viên.

Phản hồi các ý kiến cử tri về nhiều bộ sách giáo khoa, bà Nguyễn Quỳnh Liên – Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cho biết, Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục (sửa đổi) và quy định thống nhất sử dụng 1 bộ sách giáo khoa. Với quy định mới, sách giáo khoa sẽ dễ tái sử dụng. Quốc hội cũng có nghị quyết giao Chính phủ nghiên cứu có lộ trình miễn phí sách giáo khoa trên toàn quốc (phấn đấu đến năm 2030).

Về vấn đề tội phạm công nghệ cao và lừa đảo qua mạng, bà Liên cho biết, đây là tình trạng đáng lo ngại hiện nay. Để đấu tranh với loại tội phạm này, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật liên quan, tăng mức xử phạt hành chính và hình sự nhằm nâng cao tính răn đe. Bộ Công an đã và đang triển khai nhiều biện pháp nghiệp vụ để phát hiện, triệt phá các đường dây lừa đảo, kể cả các tổ chức hoạt động xuyên biên giới.

Đối với chính sách người có công, bà Liên cho biết, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tri ân và chăm lo. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số trường hợp gặp khó khăn, đặc biệt về hỗ trợ nhà ở. Các địa phương cũng triển khai lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu vào hỗ trợ người có công. Bà Liên đề nghị chính quyền địa phương và Mặt trận Tổ quốc các cấp tiếp tục rà soát các trường hợp người có công còn khó khăn để kịp thời đề xuất chính sách hỗ trợ phù hợp.

Ứng viên Nguyễn Quỳnh Liên: Làm cầu nối đưa kiến nghị cử tri tới Quốc hội - 4

Ứng cử viên Nguyễn Quỳnh Liên.

Ứng viên Nguyễn Quỳnh Liên: Làm cầu nối đưa kiến nghị cử tri tới Quốc hội - 5

Ứng viên Nguyễn Quỳnh Liên: Làm cầu nối đưa kiến nghị cử tri tới Quốc hội - 6

Cử tri xem tiểu sử tóm tắt của các ứng cử viên và trực tiếp đặt nhiều vấn đề tại địa phương cần giải quyết để các ứng viên tiếp thu, giải trình thêm. Ảnh: Nhật Huy.

Đơn vị bầu cử số 7, tỉnh An Giang có 5 người ứng cử đại biểu Quốc hội, gồm: Bà Nguyễn Quỳnh Liên – Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; ông Nguyễn Việt Thắng – Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy An Giang; ông Nguyễn Mạnh Hùng – Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV An Bảo; bà Nguyễn Ngọc Duy Lam – Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ I, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy An Giang; bà Huỳnh Kim Minh Tâm – Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang.

Theo báo Tiền phong




Nguồn: Arttimes.vn

Lamborghini ngừng phát triển dòng siêu xe điện mới


Theo trang Motor1, hãng sản xuất siêu xe Lamborghini đã công bố thông tin dừng phát triển dự án siêu xe điện.

Lamborghini công bố hủy dự án Coupe điện gầm cao Lanzador do nhóm khách hàng mục tiêu của hãng không mặn mà. Thay vào đó, hãng siêu xe này sẽ tập trung vào động cơ PHEV cho đến năm 2030. Theo chia sẻ của CEO Stephan Winkelmann, Lamborghini đã chính thức hủy bỏ kế hoạch phát triển mẫu xe thuần điện đầu tiên Lanzador.

Ông Winkelmann cho biết nhóm khách hàng mục tiêu của Lamborghini hiện có mức độ quan tâm đến xe điện “gần như bằng 0”. Ông cho rằng giá trị cốt lõi mà khách hàng Lamborghini tìm kiếm không phù hợp với xu hướng điện hóa toàn diện, đặc biệt là về âm thanh và cảm xúc từ động cơ đốt trong. “Hiện tại, xe điện khó có thể mang lại kết nối cảm xúc đặc trưng (của xe ICE) này”. Ông cũng khẳng định Lamborghini sẽ tiếp tục sản xuất động cơ đốt trong “càng lâu càng tốt”.

Lamborghini ngừng phát triển dòng siêu xe điện mới - 1

Lamborghini công bố hủy dự án Coupe điện gầm cao Lanzador vì nhiều khách hàng không mặn mà.

CEO Lamborghini cũng thẳng thắn cho biết việc đầu tư mạnh tay vào phát triển xe thuần điện khi thị trường và tập khách hàng chưa sẵn sàng sẽ giống như một “thú vui đắt đỏ” và là hành động thiếu trách nhiệm với cổ đông, khách hàng cũng như nhân viên công ty.

Điều này đồng nghĩa với việc dự án Lanzador EV tạm thời khép lại, dù thương hiệu vẫn không từ bỏ hoàn toàn điện hóa. Thay vì mẫu siêu xe thuần điện, chiếc xe kế nhiệm sẽ là một mẫu plug-in hybrid (PHEV), nhằm đảm bảo toàn bộ danh mục sản phẩm Lamborghini được điện hóa vào năm 2030.

Lamborghini ngừng phát triển dòng siêu xe điện mới - 2

Dự án siêu xe điện Lanzador EV tạm thời khép lại và hãng sẽ nghiên cứu về một siêu xe PHEV.

Dù vậy, ông Winkelmann không đóng hoàn toàn cánh cửa với xe điện và chia sẻ thêm: “Đừng bao giờ nói không bao giờ, nhưng chỉ khi thời điểm thích hợp. Trong tương lai gần, chúng tôi chỉ tập trung vào PHEV. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tiếp tục phát triển công nghệ điện hóa để sẵn sàng khi cần.”

Quyết định hủy Lanzador phản ánh thực tế rằng phân khúc siêu xe vẫn đặt nặng yếu tố cảm xúc, âm thanh và trải nghiệm cơ học truyền thống. Trong bối cảnh đó, Lamborghini chọn bước chuyển tiếp thông qua công nghệ plug-in hybrid thay vì chuyển thẳng sang thuần điện.

Lamborghini ngừng phát triển dòng siêu xe điện mới - 3

Ra mắt dưới dạng concept vào năm 2023, Lanzador được định vị là mẫu xe gầm cao 2 cửa mang phong cách coupé, nhưng Lamborghini không gọi đây là SUV hay crossover. Lanzador có chiều cao chỉ khoảng 1,5 mét, thấp hơn cả Urus, tạo nên tỷ lệ thể thao hơn so với một mẫu SUV truyền thống.

Phiên bản concept sử dụng hệ dẫn động hai mô-tơ điện, dẫn động 4 bánh toàn thời gian, với công suất vượt 1 megawatt (khoảng 1.360 mã lực). Xe được trang bị nhiều hệ thống khung gầm chủ động như: Hệ thống treo khí nén, đánh lái bánh sau, công nghệ điều khiển động học thân xe… Khi ra mắt, Lamborghini từng dự kiến đưa Lanzador vào sản xuất thương mại năm 2028.



Nguồn: Arttimes.vn

Lịch sử triều Nguyễn qua những trang văn nữ giới


Có thể nói, chưa bao giờ các nhà văn “đổ xô” viết về lịch sử như trong thời đại kỹ thuật số hiện nay. Trong thành tựu đa dạng của văn học đương đại có sự đóng góp của tiểu thuyết lịch sử như một khuynh hướng. Từ độ lùi thời gian, từ quan niệm mới, từ cái nhìn đa chiều, lịch sử trở thành mảnh đất dễ khai thác; dẫu không phải cách viết về lịch sử nào cũng thành công. Trong những thành tựu của tiểu thuyết lịch sử có sự đóng góp không nhỏ của các nhà văn nữ, đặc biệt là lịch sử triều Nguyễn, vốn còn một mảng trống của văn học đương đại.

So với nam giới, nhà văn nữ ít có mặt trong đề tài lịch sử. Tiểu thuyết về lịch sử triều Nguyễn lại càng hiếm. Cho đến nay, ngoài Nguyễn Hữu Nam với chùm ba tiểu thuyết về ba vị vua cuối triều Nguyễn (Gốm, Vua Thành Thái, Vua Duy Tân trong tôi), chỉ có một vài nhà văn nữ bền bỉ khai thác đề tài về lịch sử triều Nguyễn là Trần Thùy Mai, Trường An, Nguyễn Thị Kim Hòa…, trong đó Trần Thùy Mai và Trường An là hai nhà văn đặc biệt có đóng góp lớn vào thành tựu tiểu thuyết lịch sử về triều Nguyễn. Nguyễn Thị Kim Hòa chỉ chạm vào một góc Nguyễn triều với truyện ngắn Nắng quái Tây Nam thành, nhưng từ số phận của nữ tướng Bùi Thị Xuân đã phác họa một chặng đường lịch sử dài, từ khi Tây Sơn thắng thế đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi và trừng phạt tàn độc vua chúa, tướng lĩnh “ngụy triều”, trong đó có người đàn bà từng khiển voi làm kinh hồn bạt vía quân đội nhà Nguyễn.

Lịch sử triều Nguyễn qua những trang văn nữ giới - 1

Một số tác phẩm tiểu thuyết lịch sử viết về triều Nguyễn của các nhà văn nữ.

Viết về lịch sử triều Nguyễn là một sự lựa chọn 

Lịch sử thì cố định (“chiếc đinh” theo cách nói của Dumas) còn tiểu thuyết lịch sử thì đa dạng, chủ yếu do điểm nhìn và sự lựa chọn “câu chuyện” của nhà văn. Giữa những tên tuổi đã thành “thương hiệu”, các nhà văn nữ trình hiện một lối viết khác về lịch sử. Cái khác của các nhà văn nữ là ở chỗ đã chọn một giai đoạn lịch sử còn nhiều góc khuất, còn nhiều quan điểm đối lập nhau, nhiều sử liệu chưa được đề cập.

Từ một góc nhìn, các nhà văn nữ đã góp phần không nhỏ trong việc mở lối vào một thời kì đau thương và có những mặt cần làm rõ. Họ không dùng những biểu tượng vương quyền để dựng lại một thời kì lịch sử vàng son mà thiên về những đổ nát lịch sử, những phân tán lòng người, những rối ren triều chính với những biểu tượng thiên về tính âm để làm rõ hơn cõi bên trong của tâm hồn con người. Lịch sử hiện ra từ những mảnh ghép tâm hồn. Nhiều mảnh ghép làm nên một giai đoạn lịch sử. Qua đó, người đọc có cảm giác đang sống trong thời đoạn lịch sử ấy, được khóc cười căm giận yêu thương cùng với nhân vật và đặc biệt là cảm giác được đối thoại với lịch sử, đối thoại với nhà văn- người kể chuyện lịch sử- qua hàng loạt những vấn đề, những câu hỏi vang lên từ những trang văn. 

Từ Dụ thái hậu là một trường thiên tiểu thuyết gồm 69 chương, viết về thời nhà Nguyễn. Bộ tiểu thuyết xoay quanh cuộc đời của Từ Dụ Thái hậu, từ khi là cô gái tên Phạm Thị Hằng, con gái viên quan đại thần Phạm Đăng Hưng cho đến lúc ở vị trí đỉnh cao thái hậu. Thời gian lịch sử được tái hiện trong tiểu thuyết là 30 năm qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị (từ Gia Long đầu triều đến đầu thời Tự Đức). Như một sự tiếp nối dòng chảy lịch sử triều Nguyễn, Công chúa Đồng Xuân viết về những sự kiện lịch sử đầy biến động trong khoảng thời gian 40 năm từ 1859 đến 1900 từ đời vua Tự Đức đến đời vua Đồng Khánh. Dẫu lấy tên một vị công chúa làm nhan đề tác phẩm, nhưng cuốn tiểu thuyết đề cập những biến động dữ dội trong vương triều, những vị vua chỉ thoáng qua trên ngài vàng như Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh; những xung đột giữa triều đình và Pháp; những cuộc tàn sát giáo dân… Ở cả hai bộ tiểu thuyết, với kết cấu tuyến tính, Trần Thùy Mai tái hiện một cách sinh động chiều dài lịch sử với nhiều sự kiện đau thương.

Tập trung viết về triều Nguyễn là một sự lựa chọn của Trường An. Chủ động chọn vấn đề khó, nhằm giải mờ, giải thiêng và cả chiêu tuyết cho nhiều nhân vật lịch sử của Triều Nguyễn, Trường An đã gây ấn tượng mạnh với bộ ba tiểu thuyết lịch sử Thiên hạ chi vương, Vũ tịch, Hồ Dương. Trong cả ba cuốn tiểu thuyết này, Trường An đã chọn Gia Long Nguyễn Phúc Ánh thay vì Quang Trung Nguyễn Huệ, chọn Ngọc Bình thay vì Ngọc Hân, chọn giai đoạn xuống dốc và tan rã thay vì thời kỳ huy hoàng rực rỡ của Tây Sơn, làm sườn cho câu chuyện của mình. Tâm đắc với lịch sử triều Nguyễn, với quan niệm “lịch sử ghi chép rất lạnh lùng, (…) chỉ ghi chép số liệu một cách khô khan, nhiệm vụ của người viết tiểu thuyết lịch sử là phải thêm da thêm thịt cho nhân vật, số phận”, Trường An đã tái hiện sống động một giai đoạn thật nhiều vết mờ và cũng gây nhiều tranh luận gai góc trong tiến trình sử Việt.

Viết về triều Nguyễn, mỗi nhà văn đều có góc nhìn riêng, lối viết riêng. Tuy vậy, cùng trở về bối cảnh lịch sử triều Nguyễn, cùng tham khảo những trang dữ liệu, cùng nỗi niềm phái nữ, các nhà văn đã gặp gỡ nhau ở cái nhìn lịch sử từ bi phận hồng nhan. Và từ cuộc đời của các giai nhân trong lịch sử, họ đã xua tan lớp sương mờ lịch sử, đi vào những góc khuất, luận giải lịch sử bằng thế giới tâm hồn. Đó cũng là một con đường dẫn vào quá khứ, đặc biệt là quá khứ nghiệt ngã của 143 năm vương triều Nguyễn.

Luận giải và đối thoại về những “sự thật lịch sử” của Nguyễn triều

Xem sự tưởng tượng về lịch sử là đối tượng chính của văn học đề tài lịch sử, nhiều nhà văn đã chọn diễn giải lịch sử từ điểm nhìn cá nhân, thể hiện tinh thần đối thoại trong cái nhìn và những luận giải về lịch sử.  

Trường An là một trong những nhà văn xem tự sự hư cấu lịch sử là một hành vi xác tín bản ngã. Trường An ghi trên bìa sách Thiên hạ chi vương: “Tin rằng tìm hiểu lịch sử cũng là cách để nhìn nhận chân xác bản thân và cuộc sống; và viết là cách để đối thoại, phản biện, hiểu sâu hơn các vấn đề”. Từ cách đặt vấn đề đó, tiểu thuyết lịch sử của Trường An là những cuộc đối thoại triền miên. Nhà văn thường đặt ra những câu hỏi về những khoảng mờ lịch sử. 

Thiên hạ chi vương là cuốn tiểu thuyết lịch sử đặc biệt trong bộ tiểu thuyết về triều Nguyễn của Trường An. Trong tác phẩm này, nhân vật lịch sử ngỡ như rất nhạt qua cái nhìn, suy nghĩ, cảm nhận của một vị vua Xiêm La đầy mưu mô và từng trải, nhưng qua từng mảnh ghép đối thoại, độc thoại nội tâm, dòng ý thức, chúa Nguyễn Phúc Thuần hiện ra đầy đặn một chân dung. Dựng lại chân dung Nguyễn Phúc Thuần (vị chúa Nguyễn thứ chín ở Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam), tác giả đã xây dựng tính cách nhân vật từ điểm nhìn đa diện. Cái khách quan của lịch sử lúc này đã được nhìn từ cái nhìn chủ quan của người kể chuyện. 

Tiểu thuyết lịch sử của Trường An là những cuộc đối thoại đầy chất triết lí. Có lúc nhà văn ẩn mình sau các nhân vật để đối thoại với những vấn đề lớn về lịch sử. Đó là một Quang Toản khôn nguôi dằn vặt về sứ mệnh đế vương (Vũ tịch). Đó là một Gia Long dùng oán thù chống lại oán thù bởi “Oán thù là mục đích, oán thù cũng là phương tiện”, bất chấp “những kẻ suy nghĩ giản đơn chỉ biết có đúng và sai, kẻ thù và đồng minh, “bên ta” và “bên địch”, anh hùng và tiểu nhân, tô vẽ và chà đạp”. Bằng cách để cho nhân vật vua Gia Long đối thoại với Ngọc Bình, cô công chúa “con vua lại lấy hai chồng làm vua” vốn chấp nhận theo ông, bởi lời hứa sẽ giữ gìn đất nước bằng bất cứ giá nào của một vị vua mới; với tiểu thuyết Vũ tịch, Trường An đã bênh vực, chiêu tuyết đồng thời cho cả ba nhân vật bị vướng vào nhau bởi những éo le của lịch sử: Gia Long, Ngọc Bình, Quang Toản.

Trong truyện lịch sử của các nhà văn nữ, nhà văn/ người kể chuyện thường hoá thân vào nhân vật lịch sử để đối thoại, độc thoại. Lịch sử được tái hiện với nhiều chiều kích, đặc biệt là chiều sâu tâm hồn. Lời độc thoại miên man xuyên suốt chiều dài các tác phẩm của Nguyễn Thị Kim Hòa, Trường An. Nhiều đoạn đối thoại trong tác phẩm của Trần Thùy Mai cũng là những lời độc thoại dài với điểm nhìn người kể chuyện được di chuyển vào nhân vật. Có thể nói, hóa thân vào nhân vật và kể chuyện từ điểm nhìn bên trong, cả ba nhà văn nữ Trần Thùy Mai, Trường An, Nguyễn Thị Kim Hòa đều đã nhìn thấu nỗi cô đơn của sứ mệnh đế vương và bi kịch của nhiều nhân vật lịch sử bị lôi kéo vào trò chơi, tham vọng đế vương của họ.

Diễn giải lịch sử từ những chuyện “có thể có” thay vì chuyện “đã có” cũng là một cách để các nhà văn “nhìn” lịch sử từ mong muốn nó “có thể là” thay vì nó “đã là”. Từ một sự kiện được ghi chép trong sử sách – con gái út của vua Thiệu Trị, Nguyễn Phúc Gia Phúc góa chồng năm 26 tuổi, vì tư thông với anh trai mà bị vua Hàm Nghi phế thành thứ dân, mãi đến đời vua Đồng Khánh mới được phục vị công chúa, sau đó mất vào năm 41 tuổi –  Trần Thùy Mai đã thương cảm cho một số phận hồng nhan trước những bà đào lịch sử mà viết nên tiểu thuyết Công chúa Đồng Xuân, lật lại một trong những vụ án tai tiếng bậc nhất triều Nguyễn.

Những điểm mờ của lịch sử, những mưu đồ chính trị mà xưa nay không ít nữ giới bị biến thành công cụ, trở thành điểm tựa để Trần Thùy Mai viết lại một lịch sử “khác” – lịch sử của một người đàn bà hoàng tộc nhiều khao khát và trở thành tội đồ của lễ giáo, của gia quy; lịch sử của một giai đoạn triều Nguyễn gắn với những thân phận và bi kịch nữ giới. Không tin vào những nghi vấn chưa được xác thực của một số nhà nghiên cứu lịch sử về mối quan hệ giữa Trương Đăng Quế và Phạm Thị  Hằng, cội nguồn của việc vua Thiệu Trị phế trưởng lập thứ, để cuối cùng Hồng Nhậm (nghi vấn là con của Trương Đăng Quế) lên ngôi, dẫn đến việc Hồng Bảo nổi loạn và Loạn chày vôi sau đó, Trần Thùy Mai đã dệt nên một mối ân tình sâu nặng, vẹn nghĩa, trọn tình của Từ Dụ thái hậu đối với vị thượng thư đầu triều. Từ điểm nhìn nữ giới, thay vì tập trung vào những tranh giành quyền lực và các lũng đoạn của đại thần, tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai đã tô đậm vẻ đẹp nết na, hiền hậu của Phạm Thị Hằng, từ khi chỉ là một cô thiếu nữ con nhà gia thế, đến khi ở tột bực ngôi cao, qua một mối tình đơn phương “có thể có” của người bạn thanh mai trúc mã Trương Đăng Quế, bằng những hình dung của một nhà tiểu thuyết.

Lịch sử qua trang văn của các nhà văn nữ vì thế là một lịch sử của cảm xúc hơn là lịch sử của những sự kiện chỉ được chép lại. Có thể nói, trong tương quan với các nhà văn nam, tự sự hư cấu về lịch sử của các nhà văn nữ ít nhiều đã mang một dáng hình “khác”, làm phong phú thêm những hình dung của văn học về những biến cố, sự kiện, những cuộc đời, số phận đã lùi xa. Từ những góc nhìn đa dạng, các nhà văn nữ đã đối thoại với lịch sử triều Nguyễn, “buộc” người đọc từ những trang văn suy ngẫm sâu hơn về lịch sử, về thời cuộc. Luận giải, đối thoại với lịch sử; đa dạng hóa điểm nhìn nhưng vẫn giữ độ chân thật; hư cấu nhưng không làm biến dạng những câu chuyện lịch sử phức tạp một thời, lịch sử triều Nguyễn qua các trang văn nữ giới không chỉ đã sống mà còn đang sống.

Những bi phận hồng nhan triều Nguyễn

Tiểu thuyết lịch sử ngoài những sự kiện trọng đại còn khắc họa những mối tình, những cuộc hôn nhân lịch sử. Xây dựng hình ảnh những giai nhân trong lịch sử là điều quen thuộc trong bất kì cuốn tiểu thuyết lịch sử nào. Nếu không có những mối tình theo motif anh hùng và mỹ nhân trong các tác phẩm văn chương, những sự kiện lịch sử chỉ là những sự kiện chết.

Các nhà văn nữ, nhìn lịch sử với cái nhìn từ bi phận hồng nhan. Đi vào lịch sử triều Nguyễn, các nhà văn nữ chú ý nhiều đến số phận của những người đàn bà bên ngai vàng, trong cung cấm, giữa vàng son lụa là và thoắt thoáng là trong thâm cung lạnh lẽo. Những cái chết mòn mỏi, những dải lụa “trẫm ban”, những cơn cô đơn điên loạn.

 Từ cái nhìn của Trường An, “Những cuộc hôn nhân chính trị – tiếng là để mưu cầu lợi ích cho cả hai bên – nhưng thực sự chỉ là công cụ của kẻ mạnh hơn. Những kẻ yếu đuối dựa dẫm, những kẻ ít không ngoan và sáng suốt rất dễ dàng lọt vào cái bẫy này. Như vua Chiêm Thành, Chân Lạp đã lọt bẫy của các công nữ họ Nguyễn, như Hoàng tôn họ Nguyễn đã lọt bẫy bọn phản loạn, và bây giờ đến lượt vua Bắc Hà” (Thiên hạ chi vương). Như thế, liệu phụ nữ xuất thân hoàng tộc có hạnh phúc hơn phụ nữ thứ dân?

Với cái kết ấn tượng, truyện ngắn Lửa hoàng cung của Trần Thùy Mai đã khái quát khá rõ số phận của những người phụ nữ bị trói buộc bởi vương triều phong kiến. Trừ cô công chúa Quỳnh Thơ đã được đưa ra khỏi nhà ngục như một huyền thoại khi nghĩa quân nổi dậy trong Loạn chày vôi; “Còn sáu mươi tám nàng công chúa khác trong cung thì sách vở còn chép rõ về cuộc đời của họ. Có ba mươi nàng được gả cho những ông phò mã lọm khọm với tấm lưng dài cong gập trong chiếc áo the. Còn ba mươi tám nàng thì chết già trong cung, nhiều nàng chết lúc còn rất trẻ vì buồn chán những đêm nguyên tiêu lạnh”. Những con số liệt kê chỉ là cách để nhà văn tô đậm thêm bi kịch hồng nhan.

Ở nhiều truyện ngắn, từ điểm nhìn giới, Trần Thùy Mai đặc biệt quan tâm đến bi kịch của những người phụ nữ hữu danh lẫn vô danh bị lôi kéo vào những tranh chấp quyền lực, hay những cơn binh biến liên miên trong lịch sử Nguyễn triều (Thể Cúc, Nàng công chúa té giếng, Án lục về dâm nữ họ Tống). Đặc biệt, điều khiến Trần Thùy Mai “ghi điểm” nhất trong tiểu thuyết, chính là việc nhà văn đã dựng lên được một cách sống động, chân thực và hấp dẫn cuộc sống phía hậu cung, điều mà chính sử không ghi chép lại nhiều.

Trần Thùy Mai đã vén tấm rèm lấp lánh của cung đình, để soi rọi vào cuộc sống nơi tử cấm thành, tưởng như êm đềm với những cung tần mỹ nữ, những hoàng hậu, hoàng thái hậu chỉ biết chuyên tâm chuyện phấn son váy áo, nấu nướng thêu thùa, sinh con đẻ cái cho hoàng tộc mà hóa ra nhiều sóng gió hơn cả chốn triều chính ngoài cung điện. Những mưu mô kinh hoàng nơi hậu cung không chỉ tác động tới thân phận bao con người trong đó mà còn có thể làm chao đảo triều chính, dập vùi bao đại thần trung chính, tài năng; thậm chí có thể quyết định vận mệnh của muôn dân, của cả giang san, đất nước. Những nhân vật lịch sử bước từ chính sử vào tiểu thuyết một cách tự nhiên, nhuần nhị, được Trần Thùy Mai “nhuận sắc” khá tài tình. Nhân vật nào cũng mang thân phận. 

Bi kịch hồng nhan là motif quen thuộc khi viết về lịch sử dưới tầm nhìn hiện đại. Trong tác phẩm của các nhà văn nữ, chân dung, cá tính, số phận, cuộc đời của các nhân vật nữ được hiện ra khá đa dạng. Lịch sử qua cái nhìn của nữ giới, gắn với số phận nữ giới cũng mang nhiều dáng vẻ, nhiều giả thuyết.

Trong số những nữ nhân triều Nguyễn, Ngọc Bình có lẽ là nhân vật được nhiều nhà văn quan tâm nhất, bởi thân phận đặc biệt của nàng khi vừa là người trong cuộc vừa là chứng nhân của bao xáo trộn lịch sử gắn liền với nhiều triều đại. Cũng viết về Ngọc Bình, trong truyện ngắn Công chúa Ngọc Bình, nhà văn Trần Thúc Hà không dùng một lời độc thoại, không đi vào những diễn biến tâm lí phức tạp, không lảy ra từ nội tâm Ngọc Bình – chứng nhân của những binh biến vương triều Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Có thể truyện ngắn vốn được quan niệm là một lát cắt nên nhà văn dẫu tái dựng cả cuộc đời Ngọc Bình cũng khó đi vào thế giới nội tâm. 

So với Ngọc Bình trong truyện Trần Thúc Hà, hình tượng nàng công chúa nhà Lê có chồng là hai vua của hai triều đại, trong truyện ngắn và tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn nữ, được khắc họa sâu sắc hơn về mặt nội tâm. Phải chăng, bằng những đồng cảm giới, các nhà văn nữ có những thuận lợi hơn trong việc nhìn thấu những nỗi niềm nữ giới, từ đó xót thương cho bi kịch hồng nhan của nàng.

Ngọc Bình trong sự hình dung của Trần Thùy Mai là một thiếu nữ tội nghiệp, mười sáu tuổi đã bị kéo ra khỏi làng quê yên bình, mặc áo thêu, đội mũ phượng ngồi bên mình ông vua trẻ mới hai mươi tuổi song không còn nhuệ khí của tuổi hai mươi bởi luôn bị ám ảnh bởi những lần thất trận hãi hùng và viễn cảnh rùng rợn của hồi chung cuộc. Ngay cả sau này thành đức Tam phi và được Nguyễn Ánh yêu chiều, Ngọc Bình vẫn luôn bị xem là một ngụy nữ, một công cụ để đáp ứng cái thống khoái của vị vua đầu triều Nguyễn, cái thống khoái như khi nhà vua khi đứng nhìn quân sĩ quật mộ ba vua nhà Tây Sơn, nhưng không chỉ một lần mà kéo dài, lần này sang lần khác, đáp ứng những khao khát báo thù sâu thẳm trong vô thức (Nàng công chúa té giếng).

Trong tiểu thuyết của Trường An, Ngọc Bình được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn. Trong những đàm tiếu, dị nghị của dân tình, số phận của nàng có thể cũng không hơn Lý Chiêu Hoàng, bởi “thời đại loạn ly này, đã là phận hồng nhan, lại sinh ra trong hoàng tộc thì đúng là viên ngọc rơi vào vũng lầy mà thôi”. Có thể nói, với tiểu thuyết Vũ tịch, Trường An đã dựng lại chân dung Ngọc Bình từ nhiều điểm nhìn. Có cái nhìn cá nhân, có cái nhìn tập thể; có cái nhìn của đàn bà, có cái nhìn của đàn ông, có cái nhìn xuất phát từ yêu thương, có cái nhìn từ lòng nghi kị… Song, từ bất kì một góc nhìn nào, những bi ai trong thân phận của nàng cũng luôn được thể hiện rõ qua tên gọi, qua dáng hình, hay qua cả nội tâm sâu thẳm. Dường như toàn bộ những bi kịch hồng nhan triều Nguyễn đều đã được dồn tụ ở số phận cô công chúa “con vua lại lấy hai chồng làm vua” này, qua cái nhìn của các nhà văn nữ.

***

Chọn viết về triều Nguyễn, các nhà văn nữ đã từ góc nhìn giới để nhận diện một giai đoạn lịch sử gắn liền với quyền lực đàn bà; với những nỗi đau phụ nữ bất chấp địa vị ngôi cao – một lịch sử của những thăng trầm, trả giá bởi những tranh đoạt, đánh đổi vì tham vọng, vì tình yêu của những người đàn bà không yên phận. Đó còn là lịch sử của những nữ nhân vô danh, những thân phận cung nữ bé mọn chết oan ức hay vùi chôn tuổi xuân trong cung cấm. “Đàn bà trong chiến loạn phận mỏng còn hơn cỏ…” (Nguyễn Thị Kim Hòa). Một lịch sử đang sống chứ không phải đã sống hiện ra sinh động trên trang viết của các nhà văn nữ. Một thế giới đàn bà với những can dự đáng kể vào số phận của lịch sử được tái hiện rực rỡ, bất chấp những tủi hổ, sầu muộn, đắng cay. Thay vì đặt trọng tâm vào các bối cảnh, sự kiện lớn, các nhà văn nữ có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống đời thường, đến các biểu hiện cảm tính của vĩ nhân trước bối cảnh, sự kiện lịch sử ấy. Phải chăng vì vậy mà đặt bên cạnh các nhà văn nam, các nhà văn nữ đã tạo được những dấu ấn riêng, khác ở mảng đề tài văn học lịch sử, trong đó có lịch sử triều Nguyễn. Đã có một lịch sử triều Nguyễn thật đặc biệt qua trang viết của các nhà văn nữ – một lịch sử của những bi phận hồng nhan, một lịch sử đã được hư cấu và luận giải, đối thoại lại từ điểm nhìn của nữ giới.

 “Nếu như coi lịch sử là một hình hài thì hình hài ấy chính là con người. Nhà văn có thể nhìn vào mắt của lịch sử để viết về những u ẩn hay sự hân hoan của nó. Có thể nhìn vào bàn tay của lịch sử để viết về sự nâng đỡ nhân ái hay sự xuống tay tàn khốc, đẫm máu mà nó nhắm vào đồng loại. Rồi có thể nhìn vào từng bước chân lịch sử để cảnh báo cho số phận con người đương đại hoặc dự báo cho số phận dân tộc mình. Tôi nghĩ viết về lịch sử là để giải phóng cho sự bế tắc hôm nay chứ không phải để biến lịch sử thành con rối” – Nguyễn Bình Phương

“Triều Nguyễn, triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, kéo dài 143 năm (bắt đầu từ năm 1802 và kết thúc năm 1945) đã không thôi khuấy động các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, phong tục và văn học. Đây là thời đoạn bản lề còn nhiều góc khuất, nhiều nghi vấn, những chứng nhân lịch sử vẫn còn, di tích lịch sử qua bao suy vong vẫn còn in dấu. Đây chính là mảnh đất phức tạp không dễ khai thác. Đặc biệt, trong các vương triều Nguyễn, giai đoạn nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh vẫn còn là sự kiện nhiều tranh cãi, cần đối thoại.

Thái Phan Vàng Anh




Nguồn: Arttimes.vn

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca


“Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn” không chỉ là một cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn: Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu, mà còn là lời mời gọi độc giả cùng bước vào một cuộc dạo chơi tinh thần, nơi vẻ đẹp nhân văn của thơ ca được lan tỏa bằng những rung động chân thành và tinh tế.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 1

Chương trình ra mắt sách “Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn” của bốn tác giả Đoàn Thị Thảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến và Đoàn Ngọc Thu.

Ảnh: Huyền Thương

Tác phẩm Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn mang một dấu ấn đặc biệt, đây là lần đầu tiên, bốn nữ sĩ cùng chung cội nguồn từ Hồng Hà Nữ sĩ hội tụ trong một ấn phẩm chung. Dù thuộc những thế hệ cách nhau gần ba thập kỷ và mang những phong cách sáng tác riêng, nhưng họ gặp nhau ở niềm đam mê thơ ca và khát vọng sáng tạo bền bỉ.

Tuyển tập gồm 146 bài thơ, mỗi tác giả góp 36 thi phẩm, đó là những khúc tự tình sâu lắng, những nỗi niềm gửi gắm tới con người, cuộc sống và thiên nhiên. Sự hòa quyện của bốn giọng thơ đã tạo nên một bản hòa âm nhiều cung bậc, đa sắc thái, vừa riêng tư vừa đồng điệu trong cảm xúc và tinh thần thi ca.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 2

Đông đảo văn nghệ sĩ và người yêu thơ tham dự sự kiện.

Ảnh: Huyền Thương

Trong sự kiện ra mắt tập thơ Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn, sáng 6/3, tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn (Hà Nội), nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chia sẻ: “Tôi có cảm giác buổi ra mắt tập sách hôm nay như một sự tiếp nối rất đẹp của cảm hứng từ Ngày thơ Việt Nam vừa diễn ra. Ngày thơ là nơi thi ca cất tiếng giữa cộng đồng, còn cuộc gặp gỡ hôm nay lại là một khoảnh khắc khác của thơ ca: lặng lẽ hơn, sâu hơn, nhưng cũng rất rực rỡ”.

Bày tỏ cảm nhận về thơ ca của bốn nữ sĩ họ Đoàn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ví họ giống như bốn ngọn lửa của thi ca. Mỗi người mang một cá tính sáng tạo riêng, một giọng nói riêng, một con đường riêng trong thơ. Có những người ở những thế hệ rất khác nhau, nhưng khi đứng cạnh nhau hôm nay, họ tạo nên một vẻ đẹp chung của thi ca Việt Nam.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 3

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam phát biểu.

Ảnh: Huyền Thương

Trong đó, nhà thơ Đoàn Thị Tảo là người đã đi qua những năm tháng đất nước vô cùng gian lao. Bà mang trong mình ký ức của một thời khắc nghiệt, của nạn đói năm 1945 và những biến động lớn của đất nước. Những trải nghiệm ấy đã đi vào thơ bà như một nỗi ám ảnh nhân sinh rất sâu. Đoàn Thị Ký lại là một giọng thơ lặng lẽ. Nhưng sự lặng lẽ ấy không phải là im ắng, mà là một sự bền bỉ, âm thầm nuôi dưỡng thơ ca. Còn Đoàn Thị Lam Luyến giống như một cơn gió rất mạnh, thơ bà có sức cuốn, có năng lượng của cảm xúc, của khát vọng sống và khát vọng yêu. Thơ của Đoàn Ngọc Thu lại mang vẻ đẹp của ánh sáng mơ hồ – thứ ánh sáng của những suy tư về nhân tình thế thái, về đời sống con người.

“Bốn nhà thơ ấy, khi đứng cạnh nhau, giống như bốn con đường gặp nhau để tạo thành một đại lộ. Đại lộ của thi ca. Bởi thơ ca không bao giờ rời bỏ con người. Thơ chính là tiếng nói của tâm hồn chúng ta. Nó va vào đâu cũng có thể vang lên: có khi là niềm hạnh phúc, có khi là khổ đau, có khi là sự thất vọng. Nhưng chính từ những va đập ấy, thơ ca cất lên tiếng nói của mình. Và những nhà thơ như bốn nữ sĩ hôm nay chính là những người giữ cho tiếng nói ấy luôn sống”, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhấn mạnh.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 4

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà thơ Trần Đăng Khoa đại diện Hội Nhà văn Việt nam tặng hoa chúc mừng các tác giả.

Ảnh: Võ Hà

Nhà thơ Trần Đăng Khoa thì cho rằng, nhà thơ phải có phong cách riêng, ngôn ngữ riêng, một thế giới riêng và bốn nữ sĩ trong tập sách này đều có được điều đó. Mỗi người một phong cách, một giọng điệu khác nhau. Họ đứng cạnh nhau nhưng không hề bị che khuất, không bị nhòe vào nhau. Trái lại, mỗi người làm nổi bật thêm vẻ đẹp của người kia. Đó chính là thành công lớn nhất của cuốn sách này. Bốn nhà thơ cùng xuất hiện trong một tập sách nhưng vẫn giữ được trọn vẹn bản sắc riêng của mình. Họ tôn vinh nhau và làm đẹp cho nhau.

“Tập sách ra mắt đúng vào dịp mùa xuân. Mà nói đến mùa xuân thì người ta thường nghĩ ngay đến vẻ đẹp. Phụ nữ ở thời nào cũng đẹp, và bốn nữ sĩ họ Đoàn hôm nay – Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu – ở góc độ nào cũng thực sự đẹp: đẹp trong đời sống và đẹp trong thi ca”, nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ thêm.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 5

Nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ về cuốn sách “Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn”.

Ảnh: Huyền Thương

Còn với nhà văn Trần Thị Trường, bốn nữ thi sĩ không chỉ độc đáo ở chỗ cùng họ Đoàn, cùng lấy tình yêu làm trung tâm biểu đạt, mỗi người mỗi kiểu nhưng thơ của họ bài nào găm vào người đọc bài ấy.

“Nhiều bài làm tôi điếng người vì…. HAY. Mỗi người mỗi vẻ HAY, mỗi người mỗi khác biệt căn bản trong cấu trúc cảm xúc và sự lựa chọn thi pháp. Nếu đặt bốn người trên một trục vận động nội tâm, ta sẽ thấy một tiến trình đáng suy nghĩ về Thơ nữ. Cô đơn bản thể. Căn tính gia đình. Bản năng chiếm hữu. Tự vấn và thanh lọc. Mỗi người là một trạng thái của người phụ nữ trong tình yêu, nhưng không ai lặp lại ai. Họ là các nữ thi sĩ có tài, chữ nào chữ ấy rất ‘đắt’”, nhà văn Trần Thị Trường bày tỏ.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 6

Nhà văn Trần Thị Trường chia sẻ cảm nhận về thơ ca của bốn nữ sĩ.

Ảnh: Huyền Thương

Có thể thấy rằng, ở bốn nữ thi sĩ, tuy mỗi người bước vào con đường thơ một cách khác nhau, kẻ trước, người sau nhưng họ đã gặp nhau, đã mến mộ và yêu quý nhau vì thơ, vì tính cách để rồi giữa hành trình nhộn nhịp, đông đúc của những người phụ nữ làm thơ, họ cùng nắm tay nhau thả bước trên con đường thi ca lấp lánh yêu thương và mênh mang những sắc thái của cuộc đời rộng lớn.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 7

Tác phẩm “Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn”.

Ảnh: BTC

Đó là một Đoàn Thị Tảo dịu dàng, ẩn nhẫn những đắng đót để yêu thương, một Đoàn Thị Ký dung dị ngọt ngào nữ tính, ấm áp và bao dung trong từng câu chữ, một Đoàn Thị Lam Luyến với cảm xúc trữ tình mạnh mẽ, khai thác bi kịch tình yêu, thân phận phụ nữ qua lăng kính hiện đại, được ví như “bà chúa thơ thất tình” và một Đoàn Ngọc Thu bạo liệt trong ngôn từ, tỉnh táo trong tư duy và bền bỉ trong tình yêu.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 8

Tại chương trình, ca sĩ Hồng Hải đã thể hiện ca khúc “Chị tôi” do nhạc sĩ Trọng Đài phổ thơ của thi sĩ Đoàn Thị Tảo, qua phần đệm đàn của nhà thơ Đỗ Anh Vũ.

Ảnh: Huyền Thương

Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn để lại dư âm như một cuộc đối thoại lặng lẽ nhưng bền bỉ giữa bốn tâm hồn cùng chung cội nguồn. Mỗi người đi qua những ngả đường đời khác nhau, mang theo những trải nghiệm, vui buồn và suy tư riêng, nhưng tất cả đều tìm gặp nhau ở thơ – nơi họ gửi gắm những rung động sâu kín nhất của mình trước con người và cuộc sống. Chính sự khác biệt ấy lại làm nên vẻ phong phú cho tiếng nói chung, để từ một mạch nguồn gia tộc, bốn giọng thơ cất lên như những dòng chảy song song, lặng lẽ bồi đắp thêm cho khu vườn thi ca những sắc màu mới và những gợi mở dài lâu.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca


“Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn” không chỉ là một cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn: Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu, mà còn là lời mời gọi độc giả cùng bước vào một cuộc dạo chơi tinh thần, nơi vẻ đẹp nhân văn của thơ ca được lan tỏa bằng những rung động chân thành và tinh tế.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 1

Chương trình ra mắt sách “Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn” của bốn tác giả Đoàn Thị Thảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến và Đoàn Ngọc Thu.

Ảnh: Huyền Thương

Tác phẩm Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn mang một dấu ấn đặc biệt, đây là lần đầu tiên, bốn nữ sĩ cùng chung cội nguồn từ Hồng Hà Nữ sĩ hội tụ trong một ấn phẩm chung. Dù thuộc những thế hệ cách nhau gần ba thập kỷ và mang những phong cách sáng tác riêng, nhưng họ gặp nhau ở niềm đam mê thơ ca và khát vọng sáng tạo bền bỉ.

Tuyển tập gồm 146 bài thơ, mỗi tác giả góp 36 thi phẩm, đó là những khúc tự tình sâu lắng, những nỗi niềm gửi gắm tới con người, cuộc sống và thiên nhiên. Sự hòa quyện của bốn giọng thơ đã tạo nên một bản hòa âm nhiều cung bậc, đa sắc thái, vừa riêng tư vừa đồng điệu trong cảm xúc và tinh thần thi ca.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 2

Đông đảo văn nghệ sĩ và người yêu thơ tham dự sự kiện.

Ảnh: Huyền Thương

Trong sự kiện ra mắt tập thơ Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn, sáng 6/3, tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn (Hà Nội), nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chia sẻ: “Tôi có cảm giác buổi ra mắt tập sách hôm nay như một sự tiếp nối rất đẹp của cảm hứng từ Ngày thơ Việt Nam vừa diễn ra. Ngày thơ là nơi thi ca cất tiếng giữa cộng đồng, còn cuộc gặp gỡ hôm nay lại là một khoảnh khắc khác của thơ ca: lặng lẽ hơn, sâu hơn, nhưng cũng rất rực rỡ”.

Bày tỏ cảm nhận về thơ ca của bốn nữ sĩ họ Đoàn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ví họ giống như bốn ngọn lửa của thi ca. Mỗi người mang một cá tính sáng tạo riêng, một giọng nói riêng, một con đường riêng trong thơ. Có những người ở những thế hệ rất khác nhau, nhưng khi đứng cạnh nhau hôm nay, họ tạo nên một vẻ đẹp chung của thi ca Việt Nam.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 3

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam phát biểu.

Ảnh: Huyền Thương

Trong đó, nhà thơ Đoàn Thị Tảo là người đã đi qua những năm tháng đất nước vô cùng gian lao. Bà mang trong mình ký ức của một thời khắc nghiệt, của nạn đói năm 1945 và những biến động lớn của đất nước. Những trải nghiệm ấy đã đi vào thơ bà như một nỗi ám ảnh nhân sinh rất sâu. Đoàn Thị Ký lại là một giọng thơ lặng lẽ. Nhưng sự lặng lẽ ấy không phải là im ắng, mà là một sự bền bỉ, âm thầm nuôi dưỡng thơ ca. Còn Đoàn Thị Lam Luyến giống như một cơn gió rất mạnh, thơ bà có sức cuốn, có năng lượng của cảm xúc, của khát vọng sống và khát vọng yêu. Thơ của Đoàn Ngọc Thu lại mang vẻ đẹp của ánh sáng mơ hồ – thứ ánh sáng của những suy tư về nhân tình thế thái, về đời sống con người.

“Bốn nhà thơ ấy, khi đứng cạnh nhau, giống như bốn con đường gặp nhau để tạo thành một đại lộ. Đại lộ của thi ca. Bởi thơ ca không bao giờ rời bỏ con người. Thơ chính là tiếng nói của tâm hồn chúng ta. Nó va vào đâu cũng có thể vang lên: có khi là niềm hạnh phúc, có khi là khổ đau, có khi là sự thất vọng. Nhưng chính từ những va đập ấy, thơ ca cất lên tiếng nói của mình. Và những nhà thơ như bốn nữ sĩ hôm nay chính là những người giữ cho tiếng nói ấy luôn sống”, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhấn mạnh.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 4

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà thơ Trần Đăng Khoa đại diện Hội Nhà văn Việt nam tặng hoa chúc mừng các tác giả.

Ảnh: Võ Hà

Nhà thơ Trần Đăng Khoa thì cho rằng, nhà thơ phải có phong cách riêng, ngôn ngữ riêng, một thế giới riêng và bốn nữ sĩ trong tập sách này đều có được điều đó. Mỗi người một phong cách, một giọng điệu khác nhau. Họ đứng cạnh nhau nhưng không hề bị che khuất, không bị nhòe vào nhau. Trái lại, mỗi người làm nổi bật thêm vẻ đẹp của người kia. Đó chính là thành công lớn nhất của cuốn sách này. Bốn nhà thơ cùng xuất hiện trong một tập sách nhưng vẫn giữ được trọn vẹn bản sắc riêng của mình. Họ tôn vinh nhau và làm đẹp cho nhau.

“Tập sách ra mắt đúng vào dịp mùa xuân. Mà nói đến mùa xuân thì người ta thường nghĩ ngay đến vẻ đẹp. Phụ nữ ở thời nào cũng đẹp, và bốn nữ sĩ họ Đoàn hôm nay – Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu – ở góc độ nào cũng thực sự đẹp: đẹp trong đời sống và đẹp trong thi ca”, nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ thêm.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 5

Nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ về cuốn sách “Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn”.

Ảnh: Huyền Thương

Còn với nhà văn Trần Thị Trường, bốn nữ thi sĩ không chỉ độc đáo ở chỗ cùng họ Đoàn, cùng lấy tình yêu làm trung tâm biểu đạt, mỗi người mỗi kiểu nhưng thơ của họ bài nào găm vào người đọc bài ấy.

“Nhiều bài làm tôi điếng người vì…. HAY. Mỗi người mỗi vẻ HAY, mỗi người mỗi khác biệt căn bản trong cấu trúc cảm xúc và sự lựa chọn thi pháp. Nếu đặt bốn người trên một trục vận động nội tâm, ta sẽ thấy một tiến trình đáng suy nghĩ về Thơ nữ. Cô đơn bản thể. Căn tính gia đình. Bản năng chiếm hữu. Tự vấn và thanh lọc. Mỗi người là một trạng thái của người phụ nữ trong tình yêu, nhưng không ai lặp lại ai. Họ là các nữ thi sĩ có tài, chữ nào chữ ấy rất ‘đắt’”, nhà văn Trần Thị Trường bày tỏ.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 6

Nhà văn Trần Thị Trường chia sẻ cảm nhận về thơ ca của bốn nữ sĩ.

Ảnh: Huyền Thương

Có thể thấy rằng, ở bốn nữ thi sĩ, tuy mỗi người bước vào con đường thơ một cách khác nhau, kẻ trước, người sau nhưng họ đã gặp nhau, đã mến mộ và yêu quý nhau vì thơ, vì tính cách để rồi giữa hành trình nhộn nhịp, đông đúc của những người phụ nữ làm thơ, họ cùng nắm tay nhau thả bước trên con đường thi ca lấp lánh yêu thương và mênh mang những sắc thái của cuộc đời rộng lớn.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 7

Tác phẩm “Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn”.

Ảnh: BTC

Đó là một Đoàn Thị Tảo dịu dàng, ẩn nhẫn những đắng đót để yêu thương, một Đoàn Thị Ký dung dị ngọt ngào nữ tính, ấm áp và bao dung trong từng câu chữ, một Đoàn Thị Lam Luyến với cảm xúc trữ tình mạnh mẽ, khai thác bi kịch tình yêu, thân phận phụ nữ qua lăng kính hiện đại, được ví như “bà chúa thơ thất tình” và một Đoàn Ngọc Thu bạo liệt trong ngôn từ, tỉnh táo trong tư duy và bền bỉ trong tình yêu.

Cuộc hội ngộ của những nữ sĩ họ Đoàn trong thi ca - 8

Tại chương trình, ca sĩ Hồng Hải đã thể hiện ca khúc “Chị tôi” do nhạc sĩ Trọng Đài phổ thơ của thi sĩ Đoàn Thị Tảo, qua phần đệm đàn của nhà thơ Đỗ Anh Vũ.

Ảnh: Huyền Thương

Thi phẩm Tứ Nữ họ Đoàn để lại dư âm như một cuộc đối thoại lặng lẽ nhưng bền bỉ giữa bốn tâm hồn cùng chung cội nguồn. Mỗi người đi qua những ngả đường đời khác nhau, mang theo những trải nghiệm, vui buồn và suy tư riêng, nhưng tất cả đều tìm gặp nhau ở thơ – nơi họ gửi gắm những rung động sâu kín nhất của mình trước con người và cuộc sống. Chính sự khác biệt ấy lại làm nên vẻ phong phú cho tiếng nói chung, để từ một mạch nguồn gia tộc, bốn giọng thơ cất lên như những dòng chảy song song, lặng lẽ bồi đắp thêm cho khu vườn thi ca những sắc màu mới và những gợi mở dài lâu.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Ngôi vương doanh số thế giới năm 2025 một lần nữa gọi tên Toyota


Năm thứ 6 liên tiếp Toyota giữ vững ngôi vị nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới.

Toyota tiếp tục khẳng định vị thế số một của mình trên bản đồ ô tô thế giới khi khép lại năm 2025 với tổng doanh số 11,32 triệu xe, tăng 4,65% so với năm trước, con số này bao gồm toàn bộ các thương hiệu thuộc tập đoàn như Toyota, Lexus, Daihatsu và Hino. Trong bối cảnh thị trường biến động bởi áp lực điện hóa và cạnh tranh giá, đà tăng trưởng ổn định cho thấy chiến lược đa dạng hóa sản phẩm, đặc biệt là dải xe hybrid, vẫn phát huy hiệu quả tại nhiều thị trường chủ chốt.

Ngôi vương doanh số thế giới năm 2025 một lần nữa gọi tên Toyota - 1

Đứng sau Toyota là Volkswagen với 8,98 triệu xe bán ra trong năm 2025, giảm nhẹ 0,51% so với cùng kỳ. Kết quả này tính gộp các thương hiệu trong hệ sinh thái của tập đoàn Đức như Porsche, Audi và Skoda. Hyundai xếp thứ ba với 7,27 triệu xe, tăng 0,6%, trong khi General Motors đạt 6,18 triệu xe, tăng 3,03% để giữ vị trí thứ tư. Hoàn tất top 5 là Stellantis với 5,48 triệu xe, tăng 1,27%.

Bảng xếp hạng năm nay cũng phản ánh rõ nét sự trỗi dậy của các nhà sản xuất Trung Quốc. BYD là hãng có thứ hạng cao nhất trong nhóm này khi đứng thứ sáu với 4,6 triệu xe, tăng 7,72%. Theo sát phía sau là SAIC Motor với 4,51 triệu xe, tăng 12,33%. Đà tăng trưởng của hai doanh nghiệp Trung Quốc khiến Ford tụt xuống vị trí thứ tám với 4,4 triệu xe, giảm 1,68%.

Ở vị trí thứ chín, Geely gây chú ý khi đạt 4,12 triệu xe, tăng mạnh 26,03% so với năm trước. Khép lại top 10 là Honda với 3,52 triệu xe, giảm 7,53%. Những con số này cho thấy cán cân quyền lực trong ngành ô tô toàn cầu đang dịch chuyển đáng kể, khi các hãng xe Trung Quốc không chỉ mở rộng quy mô tại thị trường nội địa mà còn gia tăng hiện diện quốc tế.

Dù vậy, với quy mô sản xuất lớn, mạng lưới phân phối toàn cầu và chiến lược điện hóa theo hướng thận trọng nhưng thực dụng, Toyota vẫn giữ được khoảng cách an toàn so với phần còn lại của thị trường trong năm 2025, tiếp tục củng cố vị thế dẫn đầu giữa giai đoạn cạnh tranh ngày càng khốc liệt của ngành công nghiệp ô tô thế giới.



Nguồn: Arttimes.vn

SUV 7 chỗ cỡ lớn của Kia gây chú ý với mức tiêu thụ nhiên liệu chỉ 6,72L/100km


Kia Telluride Hybrid đánh dấu bước chuyển mình của hãng xe Hàn Quốc trong chiến lược điện hóa tại Bắc Mỹ.




Nguồn: Arttimes.vn

Hành trình của nữ nhà văn đầu tiên giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh


Trong căn phòng làm việc tại Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, giữa nhịp sống hối hả của một đô thị lớn, có một người phụ nữ trải qua nhiều thăng trầm vẫn giữ được sự hồn nhiên trong ánh mắt, trong nụ cười. Chị là Trịnh Bích Ngân – nhà văn, nhà viết kịch và là gần đây còn được công chúng biết đến tư cách của một nhà thơ. Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Uỷ viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.

1.

Sinh ngày 11 tháng 8 năm 1960 tại xã Tân Hưng Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau – mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc, nhưng nguyên quán chị lại thuộc xứ dừa Bến Tre. Có lẽ sự hòa trộn của hai vùng đất Nam Bộ giàu truyền thống văn hóa ấy đã tạo nên trong Bích Ngân một chất giọng riêng: vừa gan lỳ, mạnh mẽ của vùng rừng ngập mặn, vừa phóng khoáng, sâu lắng của miền đất vừa xoáy lỡ vừa được đắp bồi.

Truyện ngắn đầu tay của chị in năm 1985 trên báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, khởi đầu cho một hành trình sáng tạo bền bỉ. Nhưng phải đến khi (sau khi học Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn), rồi Trường viết văn Nguyễn Du khóa IV, hành trang văn chương của chị mới thực sự được trang bị một cách vững vàng. Những năm tháng ấy đã rèn giũa cho chị một tâm thế sáng tạo nghiêm cẩn và một tình yêu cháy bỏng với con chữ.

Hành trình của nữ nhà văn đầu tiên giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh - 1

Nhà văn Trịnh Bích Ngân.

2.

Đọc Bích Ngân, người ta thấy một “siêu linh” đa diện. Chị là một cây bút đa năng hiếm có: truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện hài hước, kịch bản sân khấu, tản văn, tạp bút và cả thơ. Mỗi thể loại, chị đều để lại dấu ấn riêng.

Với truyện ngắn, truyện đầu tay Đâu phải là tình yêu năm 1985, năm 1990 truyện ngắn Đất không cưu mang (đăng trên Văn nghệ quân đội) và là truyện được nhà văn Nguyên Ngọc chọn một trong 50 truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam (1945-1995), dịch sang tiếng Pháp và in trong trong tập truyện ngắn Les yeux (NXB Thế giới, năm 2000), đến nay, nhà văn Trịnh Bích Ngân đã xuất bản 13 tập truyện ngắn.

Với tiểu thuyết, Thế giới xô lệch (2009) là một cột mốc quan trọng, mang về cho chị Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (2010) và Giải nhì Giải thưởng 5 năm lần thứ nhất của Uỷ ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh. Tác phẩm như một bức tranh thu nhỏ về những biến động, những “xoay trục” trong đời sống và tâm hồn con người thời hiện đại.

Ở mảng kịch bản sân khấu, với những đóng góp liên tục trong hơn 20 năm qua, nhà văn Trịnh Bích Ngân còn có thể được gọi là nhà viết kịch, từ kịch bản văn học đầu tiên được Giải thưởng Hội Sân khấu TP.Hồ Chí Minh, 1994) đến nay chị đã đoạt nhiều giải thưởng về kịch bản sân khấu của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, trong đó, chị là tác giả của những vở diễn đoạt Huy chương Vàng, Huy chương Bạc trong những lần Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc: (Dòng xoáy – Huy chương Vàng, 2015), Gương mặt kẻ khác (Huy chương Bạc, 2018), Vương quyền (Huy chương Vàng – Hội diễn Sân khấu mùa thu Hà Nội, 2022) và San hô đỏ, Huy chương Vàng, 2024)… gần đây nhất, tháng 11/2025, kịch bản kịch nói Những người thắp lửa được Nhà hát Chèo Quân đội dàn dựng và tham gia Hội diễn Sân khấu Chèo tại Bắc Ninh. 

Và rồi, khi tưởng chừng Bích Ngân đã được định hình trong văn xuôi và sân khấu, chị lại bất ngờ “lột xác” với thi ca. Tập thơ Nghiêng về phía nỗi đau (2024) ra đời như một lời khẳng định cho sự đa dạng và không ngừng vươn xa của tâm hồn sáng tạo. Chị viết: “Thơ luôn là một người tình thủy chung. Người tình không nhìn người tình bằng con mắt tháng năm mà cảm nhận bằng nhịp đập của một trái tim không già cỗi theo năm tháng. “Thơ Bích Ngân là tiếng nói của một người đàn bà “dám yêu, dám sống, và dám đối mặt với những thử thách”. Nó “nghiêng về phía nỗi đau” không phải để gục ngã, mà để từ đó vươn lên, để “hồi sinh trong bóng tối nhiệm màu”. 

3.

Nếu sáng tác là cuộc hành trình đơn độc của người nghệ sĩ, thì công việc quản lý Hội lại là một cuộc hành trình của sự sẻ chia và kết nối. Từng là Phó Giám đốc – Phó Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố suốt 13 năm, rồi đảm nhận cương vị Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh (nhiệm kỳ 2020-2025) – nữ Chủ tịch đầu tiên trong lịch sử của Hội, Bích Ngân đã mang đến một luồng sinh khí mới.

Chị quan niệm: “Nói đến làm hoạt động hội là nói đến sự kết nối.” Và chị đã kết nối bằng cả trái tim chân thành. “Nếu thiếu sự chân thành thì không đến được với nhau… Trái tim như một siêu linh. Như tôi từng viết ‘Một siêu linh có trăm ngàn con mắt”. Chính sự chân thành ấy đã thu hút những cây bút trẻ tìm về sinh hoạt. “Có một tín hiệu vui là những người cầm bút trẻ bắt đầu quay trở lại với việc sinh hoạt hội,” chị chia sẻ với một niềm vui lộ rõ.

Dưới sự dẫn dắt của chị, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh trở nên nhộn nhịp với một chuỗi các sự kiện văn chương liên tục: các cuộc thi như “Nhân nghĩa đất phương Nam” trong mùa dịch, “Những hy sinh thầm lặng”, “Truyện ngắn hay Tạp chí Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh”; các buổi ra mắt sách, tưởng niệm các tác giả; hay các dự án sách quy mô như “Văn chương TP Hồ Chí Minh sâu nặng nghĩa tình”. Chị tâm niệm: “Gọi đúng tên/ Trái tim có thể chữa lành/ những vết thương tự mình cào cấu.” Có lẽ, với chị, hoạt động hội cũng là một cách để “gọi đúng tên” những giá trị, để chữa lành và kết nối những tâm hồn đồng điệu.

Ngay cả trên mạng xã hội, Bích Ngân vẫn biến đây thành một kênh lan tỏa văn chương hiệu quả. Những dòng tâm sự ngắn, những chia sẻ về sự kiện, về tác giả, tác phẩm của chị luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt. “Nhiều khi tôi nghỉ viết vài ngày là có người nhắn tin hỏi,” chị cười. Đó là minh chứng cho sức ảnh hưởng và sự gần gũi mà chị tạo ra.

4.

Bích Ngân là một người phụ nữ của công việc, nhưng trên hết, là một người phụ nữ tự nhận thức sâu sắc về bản thân và thế giới xung quanh.

Trong thơ, văn và cả trong cuộc sống, chị luôn là chủ thể của chính mình. Như nhận xét trong một bài phê bình: “Trong diễn ngôn thơ của Trịnh Bích Ngân, người nữ là chủ thể nữ quyền tự nhận thức, chủ động đối diện dòng cảm xúc phức tạp và khẳng quyết vị thế của mình.” Họ “từ chối vai trò phụ thuộc hay tự lừa dối bản thân”. Sự “nghiêng về phía nỗi đau” trong thơ chị không phải là sự yếu đuối, mà là sự dũng cảm đối diện để vượt qua, để “tự gây dựng bản sắc trong thế giới đầy chông chênh”.

Khi được hỏi về áp lực công việc, chị trả lời giản dị mà kiên định: “Với văn chương, tôi không bao giờ mệt mỏi.” Bởi với chị, tất cả là để “đưa văn chương đến gần công chúng. Để văn chương tỏa sáng xứng đáng với giá trị của nó trong xã hội”. Chị xem mình như “đầu tàu” phải có trách nhiệm “xốc, lôi rồi nâng”. Và động lực lớn nhất của chị chính là “ánh mắt, nụ cười của hội viên”.

5.

Hành trình của nhà văn Bích Ngân là hành trình của một người không ngừng sáng tạo, không ngừng cống hiến. Từ một cô gái miền Tây với truyện ngắn đầu tay in báo, chị đã trở thành một nhà văn có tên tuổi, một nhà quản lý văn hóa tâm huyết, và trên hết, là một người “giữ lửa” cho tình yêu văn chương.

Chị như một cây cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa các thế hệ nhà văn, giữa văn chương và công chúng. Trong “cõi sách” mênh mông, hình ảnh của chị – “người văn” Trịnh Bích Ngân – hiện lên với sự đa tài, bản lĩnh và một trái tim nhân hậu, luôn “nghiêng về” những giá trị chân-thiện-mỹ. Chị đã, đang và sẽ tiếp tục là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ cầm bút, chứng minh rằng một người phụ nữ với trái tim yêu thương và ý chí mạnh mẽ hoàn toàn có thể vừa sáng tạo những tác phẩm để đời, vừa gánh vác trên vai sứ mệnh kết nối và dẫn dắt một cộng đồng văn chương rộng lớn.

“Ngòi bút Bích Ngân không dừng lại ở bề mặt cuộc sống bình lặng thản nhiên có thể xuôi chèo mát mái, mà luôn thăm dò, tra hỏi, lắng nghe cái phần u ẩn, uẩn khúc của con người qua những kinh nghiệm mất mát, hụt hẫng, đã thành tâm sự đau nhói trong tận cùng bản thể, cái chết của tâm hồn, con sâu trong lòng trái ngọt. Nó tìm tới và luôn trở về với cái bất toàn của con người. Phải chăng vì bản thân cô đã qua thời thơ ấu trong những “hồi trống trận” của cuộc chiến trên vùng đất hoang sơ bí ẩn với bao ám ảnh chết chóc, tai ương, lò luyện đầu tiên giúp cô tạo cho mình một ngòi bút mạnh mẽ, dứt khoát nhưng vẫn mượt mà, sâu lắng và đầy trắc ẩn khi chạm tới niềm đau, nỗi bất hạnh của kiếp người” – Thế giới truyện ngắn của Bích Ngân – Nhà văn, dịch giả, nhà phê bình văn học Huỳnh Phan Anh

Lê Huy Hòa




Nguồn: Arttimes.vn

Giảm 50 triệu đồng có giúp Hyundai Creta thu hút khách hàng Việt


Mẫu xe gầm cao đô thị Hyundai Creta đang được ưu đãi tiền mặt lên đến 50 triệu đồng.

Trong tháng 3, cặp SUV đô thị Hyundai Creta và Tucson đều có tên với mức hỗ trợ từ 50 đến 60 triệu đồng. Khoản ưu đãi này giúp người tiêu dùng có thể dễ dàng tiếp cận với hai mẫu xe nổi bật của Hyundai, vốn có thiết kế hiện đại, trẻ trung, đi kèm những trang bị tiện nghi và an toàn dẫn đầu phân khúc.

Cụ thể hơn, Hyundai đang hỗ trợ tới 50 triệu đồng cho mẫu Creta. Đây là mẫu SUV cỡ B, được đánh giá cao nhờ sự cân bằng giữa kích thước gọn gàng và không gian sử dụng. Hyundai Creta hiện là lựa chọn tối ưu trong phân khúc khi cân bằng được kích thước gọn gàng với không gian sử dụng thực tế.

Giảm 50 triệu đồng có giúp Hyundai Creta thu hút khách hàng Việt - 1

Mẫu xe gầm cao Hyundai Creta có mức hỗ trợ từ 50 triệu đồng.

Giảm 50 triệu đồng có giúp Hyundai Creta thu hút khách hàng Việt - 2

New Creta trang bị khối động cơ SmartStream G, dung tích 1.5L, cho công suất 115 mã lực.

Tại Việt Nam, Hyundai Creta nhắm tới nhóm khách hàng là gia đình trẻ và những người lần đầu sở hữu ô tô. Xe gây ấn tượng mạnh mẽ nhờ ngôn ngữ thiết kế mới với cụm đèn định vị dạng ẩn Parametric Jewel đặc trưng, tạo nên diện mạo đồng nhất với các dòng SUV cao cấp hơn của gia đình Hyundai.  

Không chỉ có ngoại hình hiện đại, Creta còn sở hữu trang bị tiện nghi vượt trội so với các đối thủ cùng tầm giá khi là một trong số ít xe trang bị màn hình đa thông tin và màn hình giải trí đồng kích thước 10.25 inch. Bên cạnh đó, hệ thống âm thanh 8 loa Bose cao cấp cùng tính năng làm mát hàng ghế trước mang lại trải nghiệm tiện nghi thường chỉ thấy trên các dòng xe hạng C.

Giảm 50 triệu đồng có giúp Hyundai Creta thu hút khách hàng Việt - 3

Xe gây ấn tượng mạnh mẽ nhờ ngôn ngữ thiết kế mới với cụm đèn định vị dạng ẩn.

Giảm 50 triệu đồng có giúp Hyundai Creta thu hút khách hàng Việt - 4

New Creta sử dụng động cơ SmartStream G, dung tích 1.5L, cho công suất 115 mã lực và mô men xoắn 144 Nm với các chế độ lái tuỳ chọn, Eco, Normal, Sport và Smart với hệ thống lái được tinh chỉnh. Bản cao cấp của New Creta có cấu hình tương đương với bản đắt tiền nhất – Creta N Line.

Bản Facelift chung động cơ, nhưng có 4 chế độ lái, từ nhẹ nhàng với Eco, Normal, Smart đến chế độ Sport mạnh mẽ. Tại chế độ Sport, vô lăng siết chặt hơn, tua máy được đẩy lên cao, chiếc xe mất khoảng 9 – 10 giây để đạt được tốc độ 100km/h.

Giảm 50 triệu đồng có giúp Hyundai Creta thu hút khách hàng Việt - 5

Xe trang bị màn hình đa thông tin và màn hình giải trí đồng kích thước 10.25 inch.

Về an toàn, gói Hyundai SmartSense với các tính năng chủ động như hỗ trợ phòng tránh va chạm và giữ làn đường giúp Creta duy trì vị thế hàng đầu về bảo vệ người dùng. Khả năng vận hành của xe cũng rất linh hoạt nhờ khoảng sáng gầm 200mm và hộp số vô cấp IVT mượt mà, tiết kiệm nhiên liệu.

New Creta đang nằm trong phân khúc giá cạnh tranh với Yaris Cross hay Suzuki Xforce, thế mạnh của chiếc xe này là thiết kế đẹp mắt, khả năng vận hành ổn định, tính năng hỗ trợ lái thông minh, thích hợp với những khách hàng trẻ, sành điệu.

Giảm 50 triệu đồng có giúp Hyundai Creta thu hút khách hàng Việt - 6

Theo đại diện đơn vị phân phối, giai đoạn sau Tết Nguyên đán thường là lúc thị trường đi vào nhịp vận hành ổn định. Việc triển khai ưu đãi kép trong thời điểm này nhằm hỗ trợ khách hàng và các doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch đầu tư phương tiện mới phục vụ nhu cầu di chuyển gia tăng trong năm.

Bảng giá niêm yết tất cả các phiên bản của dòng xe Hyundai Creta:

Phiên bản

Giá niêm yết (triệu đồng)

Creta 1.5 Tiêu chuẩn

599

Creta 1.5 Đặc biệt

659

Creta 1.5 Cao cấp

705

Creta N Line

715



Nguồn: Arttimes.vn