Home Blog Page 36

Kỷ niệm các nhà văn thăm bác Đoàn Duy Thành


Chúng tôi có duyên được gặp bác Đoàn Duy Thành (1929-2026) là nhờ nhà văn Đoàn Minh Tuấn, người nổi tiếng với tập bút ký “Núi sông hùng vĩ” hơn 50 năm về trước.

Chiều 25/11/2020, sau Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ X, các nhà văn ở Hà Nội ai về nhà nấy. Nhiều nhà văn ở các thành phố xa còn ở lại để đi thăm Thủ đô, thăm bạn bè. Tôi không về nhà, ở lại khách sạn chơi với các nhà văn, nhà thơ từ TP Hồ Chí Minh ra là Đoàn Minh Tuấn, Trương Nam Hương, Bùi Phan Thảo… 

Nhà văn Đoàn Minh Tuấn thân thiết với bác Đoàn Duy Thành từ nhiều năm trước, hẹn sẽ đến thăm bác sau Đại hội. Bác Thành bảo hãy rủ các nhà văn trong đoàn đi cùng cho vui. Đoàn chúng tôi có 5 người: Nhà văn Đoàn Minh Tuấn dẫn đầu, đi theo có Trương Nam Hương, Bùi Phan Thảo, Nguyễn Thị Mai và Châu Hồng Thuỷ. 

Từ khách sạn La Thành ở phố Vạn Phúc, chúng tôi đi bộ sang nhà bác Thành chỉ khoảng 10 phút.     

Bác Đoàn Duy Thành là một người nổi tiếng trước khi trở thành Ủy viên Trung ương Đảng, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và nhiều chức danh khác. Sinh năm 1929 tại Kim Thành, Hải Dương, bác Thành giác ngộ cCách mạng sớm, tham gia Mặt trận Việt Minh từ năm 1943 (14 tuổi). Năm 16 tuổi tham gia cướp chính quyền tại Kim Thành, Hải Dương (1945), vào Đảng năm 17 tuổi (1946), bị địch bắt và đày đi côn Đảo năm 1951, đến năm 1952 vượt ngục thành công về đất liền tiếp tục hoạt động Cách mạng.

Kỷ niệm các nhà văn thăm bác Đoàn Duy Thành - 1

Các nhà thơ, nhà văn thăm bác Đoàn Duy Thành ngày 25/11/ 2020. Từ trái sang: Trương Nam Hương, Nguyễn Thị Mai, Đoàn Minh Tuấn, Đoàn Duy Thành, Châu Hồng Thuỷ, Bùi Phan Thảo.

Vào những năm 1980, bác Thành nổi tiếng là người tiên phong đổi mới tư duy, được gọi là “ông xé rào”, học theo Bí thư Kim Ngọc làm khoán chui giao ruộng đất cho nông dân. Có một vị lãnh đạo cấp tỉnh ở miền Bắc hồi ấy đã tuyên bố: “Nếu rào được thì sẽ rào cả tỉnh để tránh luồng gió độc từ Hải Phòng”… Nhưng rồi bác thuyết phục được các vị lãnh đạo ở Bộ Chính trị  và Trung ương hiểu cách làm của mình và ra được Khoán 10, thay đổi cục diện của nền kinh tế đang ngấp nghé bờ vực. Bác đã từng trải qua nhiều trọng trách: Chủ tịch rồi Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại, Chủ tịch đầu tiên của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam… và còn nổi tiếng với hồi ký “Làm người là khó”…

Theo gương nhà văn Đoàn Minh Tuấn, khi trò chuyện, chúng tôi xưng hô gọi bác Thành là anh. Anh Thành hơn anh Tuấn 2 tuổi. Vợ của bác Thành là chị Trâm, quê Thái Bình. Chị Trâm còn trẻ rất nhiều so với tuổi chúng tôi, nên chúng tôi gọi bác Thành là anh cho phù hợp với cuộc trò chuyện. Vợ đầu của bác mất từ năm 1999. Chị Trâm đảm nhiệm nhiều vai trò, vừa là vợ, vừa là người theo dõi chăm sóc sức khỏe, vừa là thư ký, vừa làm người “phiên dịch” trong các cuộc trò chuyện của chồng. Gọi là “phiên dịch” bởi bác Thành bị bệnh rối loạn tiền đình, bấy giờ nghe rất khó. Những câu hỏi của nhóm chúng tôi, chị dịch lại cho bác Thành nghe. Ngoài việc phải dùng gậy chống để đi lại, nói chung bác Thành còn mạnh khỏe so với tuổi ngoại 90, thần sắc tỉnh táo, nói chuyện tiếng vẫn vang, trí tuệ còn mẫn tiệp, có thể nói chuyện hàng tiếng vẫn rành mạch, kể về các sự kiện trong đời mình còn chính xác đến tháng, năm xảy ra. Chị Trâm bảo sở dĩ  hôm nay “anh Thành” nói nhiều vì phấn khởi khi có khách đến chơi, có người để trò chuyện, để giãi bày những điều suy nghĩ của mình…

Chúng tôi được chiêu đãi rượu vang Ý. Vừa ăn vừa trò chuyện. Vì lý do sức khỏe, bác chỉ cầm ly chạm với mọi người và nhấp một ít, rồi lại kể chuyện cho mọi người nghe một cách say sưa, khiến chị Trâm phải nhắc chồng dừng lại để ăn kẻo đói. Bác khoe bài viết mới của mình về nhà thơ Tố Hữu. Không viết về thơ Tố Hữu, mà viết về Phó Thủ tướng Tố Hữu, có những chỗ minh oan, thông cảm cho nhà thơ. Tố Hữu bị ép phụ trách kinh tế khi chẳng hiểu gì về kinh tế. Rồi bác kể chuyện về những vụ đổi tiền, vụ cải cách giá lương tiền, những việc làm phi lý. Thương bà Nguyễn Thị Định khi bà than: “Tôi chỉ có hai triệu phòng lúc tuổi già, vậy mà sau đổi tiền, hai triệu chỉ còn bằng 20 nghìn”. Có vị lãnh đạo cao cấp quên mất vai trò quyết định của mình trong những quyết sách đường lối này, quay ra kết tội ông Trần Phương. Trần Phương im lặng. Bác Thành hỏi ông Trần Phương: “Sao anh không cãi?”. Trần Phương bảo, ông ấy như bố của mình, cãi lại bố làm gì. Bác cũng kể bếp ăn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhiều lúc thiếu tiền, phải vay tiền lương của cán bộ bảo vệ để nấu ăn cho Thủ tướng. Điều khó tin này, lần đầu tiên chúng tôi được nghe kể. Thấy thương Thủ tướng vô cùng.

Nhân có bức ảnh chụp Tổng Bí thư Giang Trạch Dân bắt tay bác Thành, được phóng to treo chính giữa phòng khách, cùng với các bài thơ chữ Hán treo hai bên, tôi hỏi lai lịch bức ảnh và các bài thơ. Cách giải thích khiến chúng tôi ngạc nhiên về kiến thức Nho học và hiểu biết về Trung Quốc hiện đại của bác.

Bác Thành kể đã từng đọc đủ cả Tứ thư, Ngũ kinh. Thuộc nhiều thơ Đường, tiếp xúc với các vị lãnh đạo Trung Quốc, bác đọc và hỏi họ, mà họ không biết. Ở một cổng của Thiên An Môn, có ghi hai chữ “vô vi”, các bạn Trung Quốc hỏi đoàn Việt Nam, trong đó có cả Đại sứ của ta, hiểu ý nghĩa của hai chữ vô vi như thế nào. Đa số đều hiểu là hai chữ “vô vi” (không làm gì, thuận theo tự nhiên) là của đạo Lão (Lão giáo). Riêng bác Thành bảo không phải, hai chữ “vô vi” ấy là thuật trị nước của Khổng tử (Nho giáo). Rồi bác dẫn Luận ngữ, thiên 15, câu 5 để chứng minh: “Vô vi nhi trị giả, kỳ Thuấn dã dư? Phù hà vi tai? Cung kỷ chính nam diện nhi dĩ hỹ” (無為而治者, 其舜也與, 夫何為哉, 恭己正南面而已矣). Nghĩa là: “Bậc lấy vô vi mà trị nước, chẳng phải vua Thuấn thì còn ai? Ngài có làm chi đâu? Chỉ cung kính thân mình, xoay mặt về hướng nam mà thôi”. Rồi bác kể lai lịch ông Thuấn có cha là kẻ giết người, vua Nghiêu vẫn truyền ngôi cho vua Thuấn, đưa thiên hạ thái bình thịnh trị thế nào. Cách giải thích khiến các bạn Trung Quốc thán phục. Bài thơ chữ Hán treo trên tường là của vị giáo sư người Trung Quốc tặng bác. Chúng tôi quên không hỏi, bác đi hoạt động cách cách mạng từ sớm, vậy thì bác học chữ Hán vào lúc nào? Có lẽ chỉ bác chỉ học vào những năm đầu đời, sau này làm cán bộ lãnh đạo rồi, vẫn tranh thủ tự học, nhờ có trí thông minh hơn người mà hiểu sâu biết rộng.

Biết bác làm việc trực tiếp nhiều năm với các Tổng Bí thư Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và nhiều vị lãnh đạo khác… nên chúng tôi gạn hỏi một số chuyện thâm cung bí sử. Bác xác nhận việc này có, việc kia không có, mà chỉ là đồn thổi. Tôi sẽ không kể những chuyện “nhạy cảm” chúng tôi hỏi bác ở đây. Riêng một việc có thể kể, là bác bảo mình đã giữ đúng lời hứa với một vị đứng đầu tứ trụ: “Ngày xưa tôi bị vị ấy “đì” rất nhiều. Biết tôi sau Hồi ký “Làm người là khó” lại viết cuốn hồi ký mới, có nhắc nhiều chuyện không hay về mình, vị ấy đề nghị tôi đừng xuất bản. Tôi bảo: Nếu anh sống được một trăm tuổi, tôi sẽ đốt cuốn hồi ký này. Quả thực, vị ấy đã sống được hơn trăm tuổi. Và tôi giữ đúng lời hứa. Đây không phải là lời hứa của một người quân tử, mà là lời hứa của một sĩ phu Bắc Hà”.

Kỷ niệm các nhà văn thăm bác Đoàn Duy Thành - 2

Tác giả Châu Hồng Thuỷ với bác Đoàn Duy Thành.

Trước khi về, chúng tôi được bác Thành tặng mỗi người một cuốn sách mỏng của mình. Đó là cuốn “Lý luận Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiền phong”, xuất bản năm 2018 bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Bác khoe còn một cuốn nữa mà Nhà xuất bản hứa sẽ in trong tháng 11 năm 2020, nhưng cuối tháng 11 rồi vẫn chưa thấy sách ra.

Đến giờ chia tay, chúng tôi xin phép về và chúc “anh” mạnh khỏe sống lâu trăm tuổi và minh mẫn để còn viết được nhiều sách nữa. Bác chống gậy tiễn chúng tôi ra tận cửa và bảo mong có nhiều dịp gặp nữa.

Cuộc gặp gỡ hiếm có ấy cách đây đã gần 6 năm, khiến chúng tôi thán phục thêm về một con người mà mình đã từng thán phục từ khi chưa được gặp trực tiếp ngoài đời. Bác từ giã cõi trần ở tuổi 97, xin bày tỏ lòng tiếc thương và thành kính tiễn biệt bác.

Châu Hồng Thủy




Nguồn: Arttimes.vn

Một bài thơ của sứ giả Đại Việt được Trung Quốc khắc vào bia đá


Bài thơ của sứ giả Đại Việt khắc trên bia đá năm 1691 ở Trung Quốc hiện vẫn còn nguyên vẹn.

Tác giả bài thơ là Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) Trần Thọ, tên chữ là Nhuận Phủ, chức Bồi tụng, tước Phương Trì Hầu, người làng  Điền Trì, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, nay là xã Trần Phú, TP Hải Phòng.

Ông là nhà thơ, tác giả Nhuận Phủ thi tập, hiện còn 3 bài thơ trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Ông sinh giờ Hợi ngày 6 tháng 10 năm Kỉ Mão (1639), mất giờ Dần ngày 6 tháng 8 năm Canh Thìn (1700), là con Dụ Phái Hầu, Hàn Lâm viện Thừa chỉ Trần Phúc, là cha Tiến sĩ – Tham tụng Thượng thư, Diệu Quân Công, Thượng Trụ quốc Trần Cảnh, tác giả Minh nông chiêm phả – bộ sách nông học đầu tiên của Việt Nam, ông nội Tiến sĩ  – Phó đô Ngự sử, Sách Huân Bá Trần Tiến (sau khi mất được truy phong Thượng thư  – Từ thời Lê, Phạm Đình Hổ đã ghi Trần Tiến là Thượng thư), người sáng lập thể kí tự thuật trong văn xuôi trung đại Việt Nam từ năm 1764, tác giả Niên phả lục, Đăng Khoa lục sưu giảng…, cụ nội Trợ giáo Thái tử nhà Lê, Trần Quý (sách in ghi theo chức là Trần Trợ), tác giả Tục biên Công dư tiệp kí… Các tác phẩm này, đến nay vẫn được tái bản.

Khi vua Lê cử làm sứ giả đi Trung Quốc, Trần Thọ là Tả Thị lang bộ Hộ (Thứ trưởng thứ nhất bộ Hộ, phụ trách về đất đai – lãnh thổ, lãnh hải). Nhiệm vụ của ông là đòi lại đất 4 châu: Vị Xuyên, Bảo Lạc, Quỳnh  Nhai, Thủy Vĩ ở biên giới phía Bắc, bị nhà Thanh lấn chiếm, trong đó Vị Xuyên còn tên đến ngày nay. Chánh sứ là Quốc Bảo khanh Nguyễn Danh Nho làm nhiệm vụ triều cống. Nguyễn Danh Nho, cùng họ cùng quê với thiền sư – nhà thuốc Nam đại tài Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh –  bị bắt cống sang Trung Quốc chữa bệnh cho Hoàng hậu rồi qua đời ở Giang Nam).

Một bài thơ của sứ giả Đại Việt được Trung Quốc khắc vào bia đá - 1

Miếu Trọng Tử hiện nằm ở thôn Trọng Thiển, trấn Lỗ Kiều, huyện Vi Sơn, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

Nguyễn Danh Nho đỗ Tiến sĩ cùng 1 khoa với Trần Thọ, làng quê của 2 ông ở gần nhau (cách 1 con sông là sông Thái Bình). Đoàn đi tháng 4  năm 1690, về năm 1691, có qua Giang Nam, thăm mộ Tuệ Tĩnh. Hai ông đã cho dập dòng chữ khắc trên bia mộ Tuệ Tĩnh mang về nước, và ngày nay chúng ta biết đến tâm nguyện của vị Thiền sư là từ sau cuộc đi này: “Mai sau ai người nước Nam qua đây, xin đưa hài cốt tôi về với”.

Trên đường về, ngày Rằm tháng 7 nhuận, năm Tân Mùi (1691), đoàn sứ bộ qua tỉnh Sơn Đông, ghé thăm đền/ miếu Trọng Phu Tử. Trần Thọ đề thơ, được quan sở tại cho khắc bài thơ vào bia đá. Đến nay đã 335 năm (1691 – 2026), bài thơ trên bia vẫn còn nguyên vẹn. 

 Bài thơ như sau:

谒仲夫子庙

Viếng miếu Trọng Phu Tử

 得天賦予性剛強,袨杏初曾遊聖墻.

六藝詩書精旨奧,四科政事好才長.

巍巍廟貌容儀肅,歷歷春秋黍稷香.

介使南來思景仰,河山帶礪久名芳.

康熙辛未金秋闰七月望日

(bản gốc chữ Hán do Đặng Văn Lộc cung cấp) 

Sứ giả nước Đại Việt Trần Thọ, phụng mệnh đi triều cống, khi đi qua miếu Trọng Phu Tử, đã vào miếu bái yết và kính cẩn đề một bài thơ:

Đắc thiên phú dữ tính cương cường,

Huyễn hạnh sơ tằng du Thánh tường.

Lục nghệ thi thư tinh chỉ áo,

Tứ khoa chính sự hảo tài trường.

Uy uy miếu mạo dung nghi túc,

Lịch lịch Xuân Thu thử tắc hương.

Giới sứ Nam lai tư cảnh ngưỡng,

Hà sơn đái lệ cửu danh phương.

Dịch nghĩa:

Trời ban tính tình cương trực

Xuân về áo gấm đi viếng tường Thánh xưa.

Sáu môn thơ hoạ đều rất tinh thông

Bốn khoa chính sự tài năng vẹn toàn.

Miếu cao dáng mạo trang nghiêm 

Hương thơm dạt dào quanh năm vào mùa xuân thu

Sứ giả phương Nam đến bái miếu với lòng kính trọng

Non sông bền vững, tiếng tăm lưu truyền.

                   

Dịch thơ:

Cương trực trời ban tính dũng quan

Xuân về áo gấm viếng dung nhan

Họa, thơ sáu loại đều tinh giỏi

Chính sự bốn khoa lại vẹn toàn

Dáng mạo miếu cao lòng kính ngưỡng

Hương thơm ngát tỏa tiết thu sang

An Nam phó sứ vào chiêm bái

Bền vững non sông tiếng khải hoàn

                    

                    Khang Hy năm Tân Mùi (1691), tiết thu vàng 

                                            – tháng bảy nhuận, ngày rằm.

TRẦN NHUẬN MINH dịch

                           

Trần Nhuận Minh




Nguồn: Arttimes.vn

Ông Zelensky cảnh báo hậu quả nếu Nga không dừng ở “vị trí hiện tại”


Tổng thống Ukraine Zelensky kêu gọi một cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Donald Trump để giải quyết những vấn đề nhạy cảm nhất, đặc biệt là vấn đề lãnh thổ.

Ông Zelensky cảnh báo hậu quả nếu Nga không dừng ở "vị trí hiện tại" - 1

Ông Zelensky chờ gặp Tổng thống Síp Nikos Christodoulides hôm 4/12 (ảnh: Reuters)

Ông Zelensky: Sẵn sàng gặp cấp lãnh đạo với Mỹ

Trong cuộc họp báo với các phóng viên (được Văn phòng Tổng thống Ukraine công bố hôm 24/12), ông Zelensky cho biết, phái đoàn Ukraine và Mỹ đã tiến gần tới việc hoàn thiện kế hoạch hòa bình gồm 20 điểm.

“Đây là một văn kiện khuôn khổ, là nền tảng để chấm dứt xung đột. Một văn kiện chính trị giữa chúng tôi, Mỹ, châu Âu và Nga”, ông Zelensky nói.

“Chúng tôi sẵn sàng gặp phía Mỹ ở cấp lãnh đạo cao nhất để giải quyết các vấn đề nhạy cảm. Những vấn đề như tranh chấp lãnh thổ cần được thảo luận ở cấp lãnh đạo”, ông Zelensky nói thêm.

Theo ông Zelensky, kế hoạch hòa bình 20 điểm mà Ukraine mới công bố là bước tiến đáng kể so với kế hoạch 28 điểm mà Mỹ đề xuất trước đó, bị Kiev cho là có lợi cho Moscow.

Theo kế hoạch mới, Ukraine sẽ duy trì quân đội thường trực 800.000 người, với các đảm bảo an ninh được ký kết với Mỹ, châu Âu.

“Chúng ta có thể thấy một Ukraine mạnh mẽ, được hỗ trợ bởi các nước sẵn sàng hợp tác, với cơ chế giám sát tuân thủ hòa bình và quy định cụ thể về cách ứng phó trước bất kỳ hành động gây hấn nào”, ông Zelensky nói.

Ông Zelensky cho biết, giới chức Mỹ – Ukraine cũng đã làm việc để xây dựng một số văn kiện, liên quan đến vấn đề hợp tác, đầu tư tái thiết sau xung đột.

Tuy nhiên, đến nay, Nga và Ukraine vẫn chưa tìm được tiếng nói chung về vấn đề lãnh thổ.

Ông Zelensky nói rằng đề xuất của Ukraine là “giữ nguyên hiện trạng”, ngừng giao tranh theo giới tuyến hiện tại. Trong khi đó, Nga muốn Ukraine rút toàn bộ lực lượng khỏi vùng Donetsk – nơi Ukraine còn kiểm soát khoảng 25% lãnh thổ.

Theo ông Zelensky, Mỹ mong muốn các bên thỏa hiệp và hướng tới thiết lập khu phi quân sự hoặc khu kinh tế tự do trong khu vực.

Ông Zelensky cũng cho biết chưa có sự đồng thuận về số phận của nhà máy điện Zaporizhia, hiện do Nga kiểm soát. Kiev đang đề xuất thành lập một khu kinh tế nhỏ tại đây.

Tổng thống Ukraine nhấn mạnh, Moscow đang nghiên cứu kế hoạch hòa bình 20 điểm, sau đó sẽ xác định các bước tiếp theo. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo xung đột có thể tiếp diễn nếu Nga không đồng ý dừng giới tuyến hiện tại.

“Chúng tôi muốn nói rằng: Nếu tất cả khu vực đều được đưa vào (tiến trình đàm phán) và nếu chúng ta giữ nguyên vị trí hiện tại, thì có thể đạt được một thỏa thuận”, ông Zelensky nói.

“Nhưng nếu chúng ta không đồng ý giữ nguyên hiện trạng, thì chỉ có 2 khả năng: Hoặc xung đột tiếp diễn, hoặc sẽ phải đưa ra quyết định khác liên quan đến các vùng kinh tế tiềm năng”, ông Zelensky cảnh báo.

Về vấn đề gia nhập NATO, ông Zelensky cho biết, Ukraine không đồng ý với các điều khoản của kế hoạch hòa bình 28 điểm. Theo đó, nước này phải từ bỏ nguyện vọng gia nhập NATO.

Theo ông Zelensky, việc Ukraine có gia nhập NATO hay không phụ thuộc vào quyết định của các thành viên trong khối này, chứ không dựa trên thỏa thuận với Nga.

Nga kín tiếng về kế hoạch hòa bình

Phát biểu hôm 24/12, người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov cho biết, đặc phái viên Kirill Dmitriev đã báo cáo với Tổng thống Nga Putin về kết quả chuyến đi Miami (Mỹ) hồi tuần trước để liên hệ với các đặc phái viên của Tổng thống Trump.

Ông Zelensky cảnh báo hậu quả nếu Nga không dừng ở "vị trí hiện tại" - 2

Tổng thống Nga Putin đã nhận được kết quả làm việc tại Mỹ của ông Kirill Dmitriev, Điện Kremlin cho biết (ảnh: Reuters)

Ông Peskov từ chối bình luận về phản ứng của Nga đối với các đề xuất mà Mỹ, Ukraine đưa ra.

“Quan điểm của Nga đã được các đồng nghiệp từ phía Mỹ nắm rõ”, ông Peskov nói.

“Hiện tại, chúng tôi sẽ xem xét các thông tin mà Tổng thống nhận được để xây dựng lập trường tiếp theo và tiếp tục liên lạc thông qua các kênh sẵn có càng sớm càng tốt”, ông Peskov nói thêm.



Nguồn: Arttimes.vn

Nhà văn nữ Việt Nam và hành trình lan tỏa những giá trị đẹp từ văn học đến cuộc sống


Diễn ra tại Không gian Phòng Nghệ thuật – Nhà xuất bản Hội Nhà văn (65 Nguyễn Du, Hà Nội), sự kiện gặp gỡ và giao lưu “Nhà văn nữ Việt Nam – Sống và Viết” là điểm hẹn đầy cảm hứng của các nhà văn nữ đến từ nhiều vùng miền trên cả nước, nơi những câu chuyện về sáng tác, về đời sống và về hành trình đi tìm ý nghĩa của con người được chia sẻ một cách chân thành và sâu sắc.

Nhà văn nữ Việt Nam và hành trình lan tỏa những giá trị đẹp từ văn học đến cuộc sống - 1

Buổi gặp gỡ và giao lưu “Nhà văn nữ Việt Nam – Sống và Viết” tại Không gian Phòng Nghệ thuật – Nhà xuất bản Hội Nhà văn (65 Nguyễn Du, Hà Nội).

Tại sự kiện, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều đã bày tỏ niềm tri ân sâu sắc tới các nhà văn nữ – những người không chỉ viết bằng con chữ mà còn sống và lan tỏa bằng chính năng lượng tinh thần bền bỉ, ấm áp của mình. Theo ông, mỗi trang viết, mỗi tiếng nói, mỗi hành động của các chị đều mang theo một nguồn năng lượng lớn lao, âm thầm mà mạnh mẽ, góp phần nâng đỡ đời sống này.

Ông nhấn mạnh, các nhà văn nữ không chỉ gìn giữ sự bình yên trong mái ấm gia đình mà còn lan tỏa sự hài hòa ấy vào cộng đồng, vào những trang viết và cả trong Hội Nhà văn Việt Nam – tổ chức mà họ tham gia. Ở họ luôn có một khả năng đặc biệt, họ giữ cho đời sống không bị chao đảo trước những biến động, bằng sự thấu cảm, bao dung và trách nhiệm.

Nhà văn nữ Việt Nam và hành trình lan tỏa những giá trị đẹp từ văn học đến cuộc sống - 2

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chia sẻ tại chương trình.

Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, trong bối cảnh hôm nay, khi con người đang đối diện với nhiều thách thức chưa từng có, đặc biệt là những khủng hoảng về lẽ sống, đạo lý và cách ứng xử giữa người với người thì vai trò của các nhà văn nữ càng trở nên quan trọng. Chính từ những trang viết chân thành, sâu sắc, họ đã góp phần gìn giữ sự cân bằng cho mỗi gia đình và rộng hơn là cho toàn xã hội.

“Các chị đang viết cho đời sống này hai cuốn sách: một cuốn in trên trang giấy, và một cuốn hiện hữu trong đời sống hằng ngày – nơi những giá trị nhân văn được bồi đắp, gìn giữ và lan tỏa một cách sâu sắc, bền lâu”, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chia sẻ.

Nhà văn nữ Việt Nam và hành trình lan tỏa những giá trị đẹp từ văn học đến cuộc sống - 3

Đông đảo các nhà văn nữ tham dự chương trình.

Không chỉ là một buổi giao lưu văn chương, đây còn là dịp nhìn lại những thành tựu nổi bật của các nhà văn nữ Việt Nam trong những năm qua. Nhà văn Thùy Dương, Trưởng Ban Nhà văn nữ, Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2021 – 2026 cho biết, 5 năm qua các nhà văn nữ đã hoàn thành rất nhiều tác phẩm và ghi dấu ấn bằng nhiều giải thưởng quan trọng.

Tiếp nối nhà văn Lê Minh Khuê là các nhà văn nữ Nguyễn Thị Ngọc Tư, Y Ban, Nguyễn Phan Quế Mai đạt giải văn học quốc tế. Các cuộc thi và giải thưởng hàng năm của Hội nhà văn Việt Nam cũng gọi tên các tác giả: Trần Thùy Mai, Trương Thị Thanh Hiền, Thùy Dương, Trần Kim Hoa, Nguyễn Thị Xuân Phượng, Lý Lan, Bảo Chân, Y Ban, Võ Thị Mai Chi, Phạm Thị Bích Thủy, Hoàng Thụy Anh, Trang Thanh, Nguyễn Thị Kim Nhung… Cùng với đó là một loạt các giải thưởng văn chương từ các hội chuyên ngành và hội địa phương.

Nhà văn nữ Việt Nam và hành trình lan tỏa những giá trị đẹp từ văn học đến cuộc sống - 4

Nhà văn Thùy Dương, Trưởng Ban Nhà văn nữ, Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2021 – 2026 chia sẻ tại chương trình.

Theo nhà văn Thùy Dương, những vấn đề đặt ra từ chính tác phẩm của các nhà văn nữ: tình yêu thương, sự bao dung, vẻ đẹp cuộc sống và sự hướng thiện chính là những điều quan trọng làm nên vẻ đẹp của những cây bút nữ. Hay ngay cả khi các nhà văn nữ nói về cái ác và mổ xẻ nó cũng chính là xót thương, cảnh báo, lay động tâm can con người để hướng về bờ thiện lành, về với những giá trị căn cốt.

Từ những trang văn về thân phận con người, về cái đẹp và cả những góc khuất của đời sống, các nhà văn nữ đã mang đến một tiếng nói riêng, vừa mạnh mẽ, vừa bao dung; vừa sắc sảo, vừa đầy yêu thương. Họ không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần thức tỉnh, lay động và hướng con người đến những giá trị tốt đẹp hơn.

Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm của các nhà văn nữ đã được ghi nhận bằng các giải thưởng uy tín trong nước và quốc tế, góp phần đưa văn học Việt Nam vươn xa hơn trên bản đồ văn học thế giới.

Nhưng vượt lên trên những con số hay danh hiệu, nhà văn Thùy Dương cho rằng, điều đọng lại chính là chiều sâu tư tưởng, là tinh thần nhân văn và sự dấn thân bền bỉ trong từng trang viết của các nữ nhà văn.

Không chỉ dừng lại ở sáng tác, nhiều nhà văn nữ còn là những tấm gương truyền cảm hứng trong đời sống: âm thầm làm thiện nguyện, đồng hành cùng cộng đồng trong những thời điểm khó khăn; vượt qua bệnh tật, nghịch cảnh để tiếp tục sáng tạo; hay bền bỉ lan tỏa văn hóa đọc tới thế hệ trẻ. Những câu chuyện ấy cho thấy một hình ảnh đẹp của người cầm bút: sống có trách nhiệm và viết bằng tất cả trái tim.

Nhà văn nữ Việt Nam và hành trình lan tỏa những giá trị đẹp từ văn học đến cuộc sống - 5

Giao lưu với các nhà văn nữ ấn tượng.

Điểm nhấn của chương trình là phần giao lưu với các nhà văn nữ ấn tượng – một không gian đối thoại giàu chiều sâu, nơi những câu chuyện sáng tác không chỉ được kể lại mà còn được soi chiếu từ trải nghiệm sống, từ những trăn trở, suy tư. Qua từng chia sẻ chân thành, hành trình cầm bút của họ hiện lên không chỉ là hành trình nghệ thuật, mà còn là hành trình đi qua những biến động nội tâm, những lựa chọn sống và những khát khao gìn giữ giá trị nhân văn.

Chính tại đây, văn học không còn là điều gì xa vời, mà trở nên gần gũi, sống động, gắn chặt với đời sống thường nhật. Những câu chuyện được mở ra đã mang đến cho người nghe một góc nhìn sâu sắc hơn về vai trò của người viết, đặc biệt là các nhà văn nữ – những người vừa sáng tạo, vừa nâng đỡ, vừa âm thầm lan tỏa sự thấu cảm trong xã hội.

Vì thế, “Nhà văn nữ Việt Nam – Sống và Viết” không chỉ dừng lại ở một chủ đề giao lưu, mà trở thành một thông điệp giàu ý nghĩa: viết không chỉ để biểu đạt, mà còn để thấu hiểu, để nuôi dưỡng yêu thương và để thắp lên niềm tin vào những điều tốt đẹp vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Người đàn bà trong tiểu thuyết “Pharaon”


Pharaon là bộ tiểu thuyết lịch sử viết về cuộc đấu tranh giữa vương quyền và thần quyền tại Ai Cập cổ đại hồi thế kỉ XI trước công nguyên. Ramzes XIII – nhân vật chính của tiểu thuyết, là một ông vua nung nấu ý chí và tham vọng canh tân đất nước, nhưng “lực bất tòng tâm”, lại đam mê sắc dục và phạm lắm sai lầm, cho nên rốt cuộc đã chịu thất bại. Ba cuộc tình của Ramzes XIII chẳng những không mang lại hạnh phúc cho chàng, mà trái lại, đã trở thành những tấn bi kịch của vị vua trẻ tuổi này. Vậy động cơ và thực chất của ba cuộc tình này là gì?

Năm hai mươi tuổi, Cham-sem-merer-amen-Ramzes được vua cha chọn làm hoàng thái tử, tức người kế vị ngai vàng Ai Cập. Chàng trai khoẻ như bò thiến Apis, dũng mãnh như sư tử, thông thái như các tăng lữ và vốn đam mê binh mã từ thuở ấu thơ bèn tâu lên pharaon, tức đức vua cha, xin phong cho mình được làm chủ tướng đạo quân Menfis. Pharaon phán, ngài sẽ làm như vậy khi hoàng tử kế vị chứng tỏ được rằng, chàng đủ tài khiển binh ngoài trận mạc. Và để thử tài của hoàng thái tử, Hội đồng tối thượng đã quyết định tổ chức một cuộc trận giả dưới sự giám sát của thượng thư bộ binh Herhor, đại tư tế của ngôi đền lớn nhất nước, người có quyền hành như tể tướng. Cuộc hành binh đang diễn ra suôn sẻ thì có tin báo là có hai bọ hung đang lăn một viên đất tròn ngang qua quan lộ. Bởi ở Ai Cập bọ hung là biểu tượng của thần mặt trời, cho nên để tránh dẫm đạp lên bọ hung thiêng, Herhor ban lệnh không được hành quân trên quốc lộ nữa, mà phải đi vòng qua hẻm núi. 

Bất bình trước mệnh lệnh làm chậm trễ cuộc hành binh, hoàng thái tử Ramzes kéo theo Tutmozis, người bạn chí thiết của mình, leo lên đồi tiêu khiển. Tại vườn đồi Ramzes tình cờ gặp một tuyệt sắc giai nhân: “Quả đúng là một cô gái xinh đẹp, có gương mặt của thiếu nữ Hy Lạp, da trắng ngà. Bên dưới tấm mạng che mặt là mái tóc đen, dài, tết đuôi sam. Nàng vận trên  người bộ y phục trắng, dài thướt tha, tay nâng một bên lên; dưới cái yếm trong suốt thấy nhô lên đôi vú trinh nữ, như hai quả táo”. Đó là cô gái Do Thái, nàng Sara, con gái của Gedeon, làm quản gia tại điền trang.

Nàng Sara xinh đẹp ngay tức khắc hút hồn chàng hoàng thái tử, đến nỗi anh chàng cởi chuỗi báu khỏi cổ quăng vào người Sara, đoạn nói: “Nàng hãy đem về biếu cha nàng, hãy thưa với người rằng, ta đã mua nàng…”. “Chàng thái tử hôn lên môi nàng say đắm, còn nàng ôm lấy chân chàng. Thái tử bứt ra, chạy vài bước, rồi lại quay trở lại, lại âu yếm hôn lên đôi má xinh và mái tóc đen nhánh của nàng, tuồng như chẳng hề nghe thấy dư âm sốt ruột của quân lính mình”. Ngay sau cuộc tập trận, Ramzes phái Tutmozis đi gặp thân phụ Sara để mua nàng. Và ông lão Gordon đã thuận ý bán con gái mình với giá: “một điền trang, hai talent tiền mặt mỗi năm, mười con bò sữa, một con me đực, một chuỗi vàng và một vòng vàng, trao một lần”.

Người đàn bà trong tiểu thuyết “Pharaon” - 1

“Pharaon” là tác phẩm lớn của nhà vǎn Ba Lan Boleslaw Prus.

Đó là cái giá bằng tiền mà Ramzes phải trả cho cuộc tình đầu tiên của mình. Cái giá tiếp theo mà Ramzes phải trả đã gây nên nỗi thất vọng to lớn cho chàng và khai mào cho mối hận thù của chàng với quan thượng thư Herhor và giới tăng lữ nói chung. Bởi lẽ ngài thượng thư Herhor viện cớ, Ramzes bỏ mặc binh sĩ đang hành quân, leo lên đồi tán gái, để tâu lên pharaon, xin đức vua chưa vội trao chức chủ tướng đạo quân Menfis cho Ramzes.

Ngay từ những trang đầu của tiểu thuyết, Boleslaw Prus đã hé lộ cho thấy tín hiệu của cuộc đấu tranh quyết liệt giữa vương quyền và thần quyền. đồng thời tác giả cũng phần nào cho thấy tính cách của hoàng thái tử Ramzes và vị thế của ngài đại tư tế quyền cao chỉ sau pharaon – thượng thư Herhor.

Bà hoàng hậu Nikotris chẳng vui vẻ gì khi hay tin Ramzes đưa Sara về điền trang của mình, bởi đó là một cô gái Do Thái. Theo hoàng hậu, người Do Thái đã từng mang ra khỏi Ai Cập chẳng những những lượng của cải cực lớn mà cả lòng tin vào Thượng đế và các quyền thiêng liêng của người Ai Cập mà giờ đây họ công bố là quyền của họ.

Và rồi Sara có thai, nàng không nói gì với thái tử. Theo lời hoàng hậu thì có thể do Sara xấu hổ, mà cũng có khi chính cô nàng không biết. Thái tử Ramzes lấy làm tự hào và sung sướng khi biết mình sắp được làm cha. Làm cha! Danh hiệu này sẽ khiến cho chàng có thêm uy thế, hỗ trợ cho công việc triều chính của chàng trên cương vị chủ tướng và quan nhiếp chính. Cha – tức không còn là một thằng bé phải lễ phép với người lớn tuổi hơn mình. Nỗi mừng của Ramzes càng được nhân lên gấp bội khi Sara sinh con trai.

Cuộc tình của Ramzes với Sara là một cuộc tình hoàn toàn tình cờ và tự nhiên. Và thực ra chỉ có Sara là người duy nhất tỏ ra thuỷ chung với thái tử, thậm chí hi sinh vì thái tử, khi tự nhận mình giết con để tránh tai hoạ cho chàng. Một người mẹ hết lòng thương con, nhưng lại hành động như thế đủ biết Sara yêu thương và kính trọng thái tử như thế nào, mặc dầu có lần tuân lệnh thái tử, sang sáng Sara đã phải rửa chân cho Kama, phải dội nước cho Kama và nâng gương cho Kama soi. Sara quả là một con người biết nhẫn nhục. Cái chết bất đắc kì tử của Sara cho người đọc thấy, nàng cao thượng biết nhường nào, nàng đáng thương và đáng quý biết nhường nào: “Tiếng cười của nàng lịm dần. Thình lình, như kẻ bị phạt cụt hai chân, nàng đổ sụp xuống nền, tay giãy đành đạch, nàng tắt thở giữa lúc cười sằng sặc. Song trên gương mặt nàng vẫn còn đọng lại nét khổ đau ê chề mà ngay thần chết cũng không xoá nổi”.

Khi biết người Axyria tìm cách kí với Ai Cập một hiệp ước có hại cho Fenixia, họ bàn mưu tính kế dùng tiền của và đàn bà phá hoại việc kí kết hiệp ước này. Họ chĩa mũi nhọn vào hoàng thái tử Ramzes, người sẽ kế vị ngai vàng Ai Cập, người đang cần tiền và ham sắc dục. Mưu kế tiền – tình được thực thi ngay tức khắc, nhằm xúi giục Ai Cập mở cuộc chiến với Axyria với sự trợ giúp của người Fenixia. Chả thế mà Hiram đã trịnh trọng tuyên bố trước hoàng thái tử Ramzes: “Tôi xin thề với hoàng tử kế vị ngai vàng Ai Cập và pharaon tương lai rằng, khi nào ngài mở chiến cuộc với kẻ thù chung của chúng ta, thì toàn nước Fenixia muôn người như một sẽ trợ giúp ngài…”.

Họ sử dụng Kama, nữ tư tế trông coi ngọn lửa thần tại đền thờ Astoreth, như một con bài trong việc thực hiện âm mưu này. Biết Ramzes là chàng hoàng tử tò mò và thích lạ, Hiram bố trí cho Ramzes đến đền thờ Astoreth để được chứng kiến “các vị thần linh trò chuyện với ta, đụng vào người ta ở các đền thờ là các vị nào”.

Và hoàng thái tử đã đến. Nhìn hai ngọn lửa thần đang rực cháy trước tượng nữ thần Astoreth đầy huyền bí – một người đàn bà khổng lồ có hai cánh lông đà điểu, vận choàng bào dài, nhiều nếp gấp, đầu đội mũ nhọn, tay phải nâng đôi chim bồ câu, gương mặt đẹp và đôi mắt nhìn xuống mang nét dịu dàng và ngây thơ, thái tử hết đỗi ngạc nhiên, bởi đây là nữ thần bảo hộ trả thù và dâm ô truỵ lạc. Thái tử nghĩ: “Một bộ tộc lạ lùng! Những vị thần ăn thịt người của họ không ăn thịt người, còn nữ tư tế trinh nguyên và các nữ thần gương mặt ngây thơ như trẻ nhỏ lại trông nom cuộc sống truỵ lạc của họ…”. Thình lình một người giống hệt thái tử xuất hiện, người này biến đi thì trong chùm ánh trăng lọt vào nhà thờ xuất hiện một cô gái khoả thân tuyệt mĩ, thắt đai vàng quanh hông. Đó chính là nữ tư tế Kama, người có nhiệm vụ ngày ngày trông nom những ngọn lửa thần trong đền thờ, người sẽ bị tội chết nếu để mất trinh, người đã khiến thái tử thốt lên: “Ramzes mà có Kama bất kì lúc nào chàng gọi thì chắc là chàng chóng chán, có khi không thèm đeo đuổi cô nàng nữa cũng nên. Song cái chết đang chực chờ trên ngưỡng cửa loan phòng của nàng, gã ca công phải lòng nàng và sau chót việc một quan đại thần bị hạ thấp địa vị trước một nữ tư tế, tất thảy những thứ đó đã tạo nên một tình cảnh chưa hề có lâu nay đối với Ramzes, đó là sự quyến rũ”.

Và chính vì lẽ đó, mười ngày sau đó, tối nào cũng vậy Ramzes che mặt giấu người đi đường, lui tới ngôi vườn của nữ thần Astoreth. Vốn cho mình là người có quyền chiếm đoạt bất kì sự ngưỡng mộ nào của đàn bà, Ramzes bực tức và ghen tuông với bất kì kẻ nào được Kama để mắt. Chính máu hiếu thắng và ghen tuông đã khiến Ramzes lao ra khấu trường, tuốt gươm, ganh đua cùng Sargon đấu bò tót, một việc không nên làm đối với một hoàng tử kế vị ngai vàng. Khi về nhà trong đầu óc của thái tử vẫn còn ám ảnh hai tình tiết của đêm diễn: “Gã đàn ông Axyria đã cướp mất trận thắng bò tót, và hắn tán tỉnh Kama, kẻ tỏ ra vui mừng đón nhận những điệu bộ làm dáng của gã!”. 

Khi cá đã cắn câu, người Fenixia đi tiếp một nước cờ nữa – hiến dâng nàng tư tế cho thái tử và đương nhiên chàng thái tử muốn có ngay cô nàng trong tư dinh của mình, “chẳng phải vì thiếu nàng chàng không sống nổi, mà vì lẽ, nàng là của lạ”.

Màn kịch Kama mất tích được tạo dựng. Cả thành Pi-Bast náo động bởi một tin đồn hết đỗi lạ kì. Kama, nữ tư tế của nữ thần Astoreth đã bị bắt cóc đưa đi và – bỗng dưng cô nàng biến mất, tựa hạt cát trên sa mạc vậy!… Người ta kể cho nhau nghe rằng: đại tư tế thủ đền phái Kama tới thành Xabne-khetam trên bờ hồ Menzaleh, mang theo lễ vật tiến dâng miếu thờ Asroreth tại đó. Nữ tư tế dùng thuyền thoi đi vào ban đêm đặng tránh nắng hè oi ả, tránh sự tò mò và vái lễ của dân chúng. Lúc mờ sáng, bốn người chèo thuyền thấm mệt chợt thiếp đi, thình lình từ vạt cỏ ven bờ, hai chiếc xuồng do những người Hy Lạp và người Chetia điều khiển lao tới, chúng vây thuyền rồi bắt cóc nàng Kama. Trận cướp nhanh đến nỗi, mấy người Fenixia chèo thuyền không thể chống cự gì; chắc lẽ chúng bịt mồm nữ tư tế, bởi nàng chẳng kịp kêu cứu. Xong hành vi phạm thánh, bọn người Chetia và Hy Lạp biến vào mấy vạt cỏ rậm rồi tẩu ra biển. Để tránh bị truy lùng bọn hải tặc lật chìm chiếc thuyền thoi của đền thờ Astoreth.

Không ngờ việc Kama ở tại tư dinh của hoàng thái tử lại là nguyên do của những chuyện rắc rối, dẫn tới quyết định vô lí và tàn nhẫn của Ramzes đối với mẹ con Sara và một kết cục bi thảm. Nữ tư tế nổi máu ghen Sara, tố giác con trai của thái tử do Sara đẻ ra mang tên Do Thái, có nghĩa là người Do Thái và đòi đuổi hai mẹ con Sara ra khỏi cung điện để cho mình được thế chỗ. Hơn thế nữa, máu ghen đã biến thành tội ác. Kama xúi Lykon, kẻ giống hoàng thái tử Ramzes như hai giọt nước, kẻ căm tức và ghen ghét thái tử đã chiếm đoạt Kama, người mà hắn cũng say mê đắm đuối, giết hại con trai của Sara và thái tử Ramzes.

Cuộc tình của Ramzes với nàng Hebron là một cuộc tình không tiền khoáng hậu. Nó được khai mào ngay trong lễ dạm hỏi của Tutmozis (người bạn chí thiết, cận thần của Ramzes) với nàng Hebron, con gái quan tổng trấn Antef, đệ nhất tiểu thư thành Teby. Và thế là vị vua ham sắc dục đêm đêm tìm cách đến với người tình Hebron  ở ngay trong cung viên hoàng gia:

 “- Hebron đấy phải không?…

Một bóng người, cũng vận choàng thâm, vụt chạy lại. Người này sa vào lòng nhà vua đu hai tay vào cổ ngài thủ thỉ:

– Bệ hạ, bệ hạ đấy ư?… bệ hạ đấy ư?… tiện thiếp chờ lâu ơi là lâu…”. 

Việc Ramzes để rớt chiếc áo choàng ngoài vườn là nguyên do của những chuyện rắc rối. Màn kịch vu khống Ramzes bị điên được dàn dựng cực kì hoàn hảo. Đến hoàng thái hậu cũng bị mắc lừa, tưởng đêm qua con mình trèo trên cành cây, bên ngoài cửa sổ: “Đó đích thị là hắn… con ta… thằng Ramzes”. “Phải!… ánh đèn chiếu rõ mặt hắn và người hắn… Hắn vận áo xiêm đai trắng và xanh… mắt trông khờ dại… hắn cười man rợ tựa thằng anh vô phúc của hắn…”. Nhưng Tutmozis vốn cảnh giác thì quả quyết: “Đó không phải là Ramzes!… Đó là một người giống hệt thánh thượng, tên Hy Lạp khốn nạn, thằng Lykon… Đó là trò đểu của mấy kẻ đê tiện, Herhor và Mefres…”.

Người đàn bà trong tiểu thuyết “Pharaon” - 2

Tượng nhà văn Boleslaw Prus, tác giả tiẻu thuyết Pharaon  và nhà văn dịch giả Lê Bá Thự tại Warszawa, Ba Lan.

Trong giờ phút nước sôi lửa bỏng đối với vận mệnh vương triều mà Ramzes vẫn lẻn đến với người tình, vẫn nói những lời trăng hoa: “Ta ước được hoá thành cây lựu bên nàng… Cây có bao nhiêu cành thì ta thèm có được ngần ấy cánh tay, để ta ghì chặt lấy nàng… Có bao nhiêu phiến lá là bấy nhiêu bàn tay, có bao nhiêu bông hoa là bấy nhiêu đôi môi để cùng một lúc ta có thể hôn mắt nàng, môi nàng, ngực nàng… Trên giường ta chẳng bận tâm tới ngai vàng. Chừng nào ta còn gươm thì ta còn quyền bính”. Pharaon đâu có biết việc tên tư tế trẻ thình lình xuất hiện, việc Hebron vờ ốm, việc tên Lykon chặn đường ngay sau lúc Ramzes rời biệt thự của Hebron đều nằm trong mưu kế đã được các tư tế trù liệu từ lâu.

Cuộc tình của Ramzes với Hebron, thoạt tiên có vẻ do sự tình cờ, nhưng càng về sau ta càng nhận ra Hebron chẳng qua chỉ là một mắt lưới trong tấm lưới vô hình cực kì nguy hiểm của giới tăng lữ được giăng sẵn trên đầu Ramzes. Và như ta đã biết, tấm lưới này đã tạo nên tấn bi kịch chấm dứt cuộc trị vì ngắn ngủi và cuộc đời của Ramzes XIII, một ông vua nhiều tham vọng song lực bất tòng tâm và cuối cùng thần quyền đã thắng vương quyền.

Ba người tình của Ramzes XIII mà Boleslaw Prus xây dựng trong tiểu thuyết Pharaon là ba người tình tuy động cơ khác nhau, tính cách khác nhau, song tất cả đều là nguyên do dẫn tới tấn bi kịch của chàng, làm bộc lộ những sai lầm chết người của vị vua trẻ tuổi, ít từng trải, nhiều khuyết tật và lắm khi thiếu bản lĩnh này. 

Đúng như đức vua cha Ramzes XII đã từng dạy con mình, một bài học lớn ở đời là: “đàn bà đắt lắm!”. Cái giá Ramzes XIII phải trả cho cả ba cuộc tình của mình mới đắt làm sao! Âu đó cũng là bài học chung cho người đời.

(*) Pharaon: Tiểu thuyết lịch sử về Ai Cập cổ đại, Boleslaw Prus, Ba Lan, Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, Lê Bá Thự dịch.

Lê Bá Thự




Nguồn: Arttimes.vn

Thánh địa Machu Picchu – Peru


Thánh địa Machu Picchu có nghệ thuật kiến trúc khá kỳ thú. Thánh địa Machu Picchuọa lạc ở thị trấn Machu Picchu của đất nước Peru tươi đẹp, thuộc vùng trũng được tạo nên bởi con sông Urubamba, nằm giữa hai ngọn núi Machu Picchu cao 3.140m và ngọn núi Huayana Picchu cao 2.743m.

Thế giới biết đến di sản này là do công lao của nhà thám hiểm và khảo cổ Hiram Bingham người Mỹ. Ngày 24/7/1911, ông đến được Machu Picchu, nhờ người dân bản xứ Quechua dẫn đường nên ông đã phát hiện ra nơi đây và đặt tên cho di sản này là “Thành phố đã mất của người Inca”. Như vậy, từ ngày nhà thám hiểm phát hiện ra thì thị trấn Machu Picchu đã bị bỏ quên đã trên 400 năm, tính từ ngày đế chế Inca bị sụp đổ. Thị trấn này không được người xưa xây ghi tên trong cổ sử của Peru. Bởi thế nó được mang tên ngọn núi gần đó là Machu Picchu.

Theo các nhà khảo cổ học, nhà vua Pachacuti bắt đầu cho xây đựng Machu Picchu vào khoảng năm 1440. Machu Picchu không phải là một thành phố thông thường mà là một nơi nghỉ dưỡng của giới cầm quyền và quý tộc Inca từ thủ đô triều chính Cuzco đến đây hưởng thụ.

Thánh địa Machu Picchu - Peru - 1

Đền thờ Mặt Trời

Thị trấn Machu Picchu nằm ở một địa điểm hoang vắng nhưng rất hùng vĩ thuộc dãy núi Andes. Do xây dựng một nơi rất cheo leo nên đã bỏ hoang từ lâu, lại bị cây rừng phủ kín trong nhiều thế kỷ, thánh địa Machu Picchu bị tàn phá nặng nề, trước khi người Tây Ban Nha xâm chiếm và tiêu diệt đế chế Inca.

Mặc dù đã đọc và nghiên cứu qua nhiều tài liệu, nhưng khi đặt chân đến đây, người viết bài này cảm thấy hết sức sững sờ trước vẻ đẹp kỳ diệu và vô cùng hoành tráng, mặc dù công trình chỉ còn là phế tích. Tuy vậy tôi vẫn nhìn thấy ở đây còn có những thủy kiều, những ngôi nhà tắm công cộng, những bức tường hình vòm, một kiểu kiến trúc đặc trưng của người Inca và toàn bộ công trình đều được xây bằng đá hoa cương đen tuyền rất lộng lẫy.

Người hướng dẫn du lịch cho biết, thành phố Machu Picchu gồm có 140 công trình lớn nhỏ khác nhau, đủ các loại kiến trúc từ đền thờ, lâu đài, lăng mộ, quảng trường, đường sá, ngõ hẻm, nhà tắm và khoảng 200 nhà ở bao gồm nhà dân, trại lính, nhà kho, nhà tù, xưởng thủ công, nhà dành cho hoàng gia, giới quý tộc của đế chế Inca. Tất cả đều tọa lạc bên sườn núi cao. Trên triền núi giữa các khu nhà có những vách đá khối ốp quanh các ô đất, tạo thành những ruộng bậc thang đẹp đến ngỡ ngàng. Thành phố Machu Picchu có hai đường dẫn nước đổ vào các khu nhà ở được ưu tiên theo thứ bậc xã hội. 

Theo quan sát của tôi, thị trấn này hiện có tất cả 16 nhà tắm công cộng, chúng được khoét sâu vào lòng núi đá và được bố trí, sắp xếp theo một bố cục rất hợp lý cho người sử dụng. Nghệ thuật kiến trúc thánh địa Machu Picchu khá kỳ thú, các cầu thang lên xuống được khoét vào bên sườn núi đá, những cửa sổ lớn mở ra trên dốc núi. Các đền thờ ở Machu Picchu đều được xây bằng những khối đá cực lớn, nặng hàng chục tấn, được xếp bên nhau không dùng vôi vữa, mà rất ăn khớp một cách khó tưởng tượng nổi, lại nằm ngay ở sườn núi dốc dựng đứng, càng làm tăng thêm vẻ uy nghi, hùng vĩ.

Theo các chuyên gia, người Inca là những bậc thầy trong việc xây dựng các bức tường đá không dùng vữa. Những khối đá được xếp với nhau một cách rất hoàn hảo, tới mức một tờ giấy, hay một lưỡi dao mỏng cũng khó có thể lọt qua khe hở giữa hai khối đá lắp kề nhau. Người dân ở đây nói rằng, chính nhờ việc xây không dùng vữa này, khiến cho thành phố có khả năng chống động đất. Bởi khi có động đất, các khối đá trong tòa nhà sẽ “nhảy múa” rung chuyển theo xung động của trận động đất, rồi sau đó trở lại vị trí cũ. Do đó nếu không xây theo phương pháp này, nhiều tòa nhà ở Machu Picchu đã sụp đổ do vùng này thường xảy ra động đất.

Thánh địa Machu Picchu - Peru - 2

Công trình xây bằng đá.

Trên một gò đất cao, đứng tại đây có thể nhìn bao quát xung quanh, đó là địa điểm được chọn để hành lễ. Xung quanh vị trí này có tường xây bao quanh không có mái che, gọi là khu Mặt Trời. Tương truyền tại đây đặt một chiếc đĩa lớn bằng vàng, tượng trưng cho mặt trời. Khi ánh nắng mặt trời rọi thẳng vào chiếc đĩa vàng chính là lúc bắt đầu giờ hành lễ. Tiếc thay chiếc đĩa này đã bị mất. Đặc biệt người ta tìm thấy ở đây có nhiều tượng đá với hình thù kỳ lạ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng những tượng đá này có thể dùng phục vụ cho đài quan sát thiên văn, nơi tiến hành những tính toán về vị trí của mặt trời.

Hiện còn lại xung quanh Machu Picchu một bức tường thành cao, dày bảo vệ. Phía ngoài tường bảo vệ là một con hào sâu và vọng gác. Nhiều nhà khoa học cho rằng Machu Picchu có thể từng là kinh đô của người Inca, là thánh địa của nhà vua Inca thứ IX là Pachacuti và có khoảng 1.000 người sinh sống tại đây. Tuy nhiên dựa vào số lượng đền thờ và địa điểm hành lễ còn lại, các nhà khoa học lại nghiêng về giả định cho rằng Machu Picchu là một trung tâm  tôn giáo quan trọng của người Inca.

Phía Tây Machu Picchu có nhiều đền thờ và địa điểm hành lễ nhất. Rõ ràng đây là nơi cử hành nghi lễ tôn giáo. Đặc biệt qua các cuộc khai quật khảo cổ, người ta tìm thấy ở đây có khoảng 100 bộ hài cốt, mà đa phần là hài cốt phụ nữ trẻ, chưa lập gia đình, còn trinh tiết, đã đưa đến giả định rằng: Machu Picchu là nơi người Inca làm lễ hiến tế phụ nữ theo nghi thức tôn giáo của người Inca.

Tôi hỏi: “Tại sao Machu Picchu bị bỏ phế hoang tàn trước khi người Tây Ban Nha đến xâm chiếm, mà không bị kẻ xâm lược vừa mới đến này đã phát hiện ra?”. Anh bạn đồng hành cùng tôi trả lời: “Theo các nhà nghiên cứu Peru có thể là do con đường độc đạo, dốc dựng đứng dẫn đến thánh địa Machu Picchu đã bị cây cỏ mọc um tùm, che mất lối đi. Đồng thời khi người Tây Ban Nha đến họ phải mất một thời gian khá dài để tìm hiểu phong tục tập quán và học tiếng nói của người dân bản xứ.  Nhờ vậy mà người Inca che giấu không cho kẻ xâm lược biết thị trấn Machu Picchu”.

Tại thành phố Machu Picchu, từ Cổng Mặt Trời (Inti Punku) có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh các ngọn núi hùng vĩ của đất nước Peru tươi đẹp. Đây cũng là nơi lý tưởng để ngắm hoàng hôn rực rỡ của vùng đất Nam Mỹ, Tây bán cầu.

Đền thờ Mặt Trời (Temple of the Sun) là một trong những công trình đặc biệt nhất của thánh địa Machu Picchu, được xây từ những viên đá mịn bằng cách xếp chồng lên nhau rất sít chặt. Kiến trúc khổng lồ này nổi bật nhất so với các công trình khác của Machu Picchu.

Rời đền Mặt Trời, tôi đến đền Kondor, một hạng mục của Machu Picchu, cũng được xây bằng đá với hình dạng giống như con chim kền kền. Phía sau ngôi đền là ngôi nhà tù, nơi giam giữ và cũng là nơi thực hiện xét xử các tù nhân. 

Ngày nay được sự quan tâm của Chính phủ Peru và sự giúp đỡ của UNESCO, Machu Picchu được tôn tạo và bảo quản khá tốt. Machu Picchu trở thành một nơi tham quan du lịch lý thú của du khách thập phương.

Thánh địa Machu Picchu - Peru - 3

Bức tường xây bằng đá.

Khung cảnh thanh cao của Machu Picchu gợi cho tâm trí người ta về những con người hiền hậu, sống hòa hợp với thiên nhiên. Nhưng về vai trò của Machu Picchu  đối với người Inca cho đến nay vẫn là một điều bí ẩn. Hiện nay chỉ có đồ thủ công mỹ nghệ  của người Inca là còn tồn tại.

Nhà thơ Chile Pablo Neruda (1904 – 1973) khi đến vãn cảnh Machu Picchu đã viết: “Không khí mang theo nó mùi thơm của hoa chanh tạo nên sự tinh khiết cho khu vực xây dựng bắng đá hiu quạnh này”.

Thánh địa Machu Picchu đã được UNESCO ghi vào danh sách Di sản thế giới năm 1983. Đặc biệt, ngày 7/7/2007, Tổ chức New Open World Coporation (NOWC) đã bình chọn Thánh địa Mach Picchu là một trong 7 kỳ quan của thế giới mới.

Trần Mạnh Thường




Nguồn: Arttimes.vn

Triết lý truyền thống Ấn Độ trong kịch Tagore


Chặng đường hơn nửa thế kỷ sáng tác kịch của Rabindranath Tagore với số lượng lớn kịch bản nhiều thể loại (42 vở kịch 52 tập thơ, 12 tiểu thuyết, 80 truyện ngắn), R.Tagore “không chỉ là nhà thơ rất lớn trong các thi sĩ lớn nhất” (theo Nâzim Hikmet) mà còn là một kịch tác gia lớn của Ấn Độ và thế giới.

Xem kịch Tagore, ta thấy trong nhiều vở đằng sau những câu chữ là triết lý sâu xa, thâm thúy của nhà tư tưởng về đạo làm người. Trong Lời tựa cho vở kịch trữ tình triết lý Sự trừng phạt của thiên nhiên (1883), Tagore đã tuyên bố thế giới quan sáng tác của ông: “Có thể xem vở kịch này là sự mở đầu cho toàn bộ hoạt động văn học của tôi sau này, hay nói đúng hơn, đó là chủ đề thu hút toàn bộ công việc viết văn của tôi – niềm hân hoan nắm được cái vô hạn trong cái hữu hạn”. Ở vở kịch này cơ sở thế giới quan của Tagore nhằm đạt tới khai hóa con người thoát khỏi vòng u mê tăm tối bị trói buộc bởi những giáo lý giả dối viển vông về hư vô và về cái gọi là cao đạo của tăng lữ Bà-la-môn. Điều mong muốn này Tagore đã đưa vào lời đề từ “Xin dẫn dắt chúng tôi từ Hư vô về với thực tại” ghi dưới tên vở kịch Sự trừng phạt của thiên nhiên (đến năm 1916 đổi tên là Xiniaxi (Thầy tu khổ hạnh).

Với vở kịch tuyên ngôn thế giới quan sáng tác của mình, Tagore đã có sự chuyển biến mới về tư tưởng. Ông lên tiếng chống lại giáo điều, chống lại lễ giáo Bà-la-môn, qua đó ông đã đụng chạm trực tiếp đến một khía cạnh xã hội quan trọng và bức xúc của xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ – đó là vấn đề khai hóa cho người Ấn Độ mê muội bị tôn giáo trói buộc.

Vở kịch có sức thu hút người dân vì trước hết nó được viết bằng thơ và giàu chất thơ – yếu tố tinh thần quen thuộc đối với người dân Ấn Độ. Cốt truyện vở kịch hết sức hấp dẫn, không hề xa lạ với người xem. Chủ đề tư tưởng “trở về với thực tại” cũng chính là cốt truyện của truyện ngắn Đắc đạo, kể lại câu chuyện nàng Mênaka, một vũ nữ trong thần thoại Ấn Độ dan díu với với hiền sĩ đắc đạo Visua Mita rồi sinh ra nàng Sơcuntơra – một nhân vật bất hủ trong vở kịch cổ điển Kaliđaxa ở thế kỷ V.

Triết lý truyền thống Ấn Độ trong kịch Tagore - 1

Rabindranath Tagore là người châu Á đầu tiên được trao Giải Nobel Văn học (1913).

Ý định bỏ Trời, bỏ tu khổ hạnh để trở về với cuộc đời thật cũng là chủ đề được nhắc lại trong bài thơ Từ biệt Trời, trong đó nhân vật tu sĩ quyết rũ áo ra đi từ biệt trời cao xa, từ biệt các vũ nữ Mênaka, Urơvaxi để quay về trần thế Đất Mẹ với người con gái bằng xương bằng thịt – người vợ chưa cưới với bao niềm mơ ước ở một tập thơ khác (Người thoáng hiện).

Tagore cũng để cho thực tại cuộc đời thắng cái hư vô viển vông, dù đó là thiên đường rực rỡ ánh hào quang, bởi vì chỉ có thực tại mới là cái thiết thân đối với mỗi người dân đang sống và lao động. Chủ đề tư tưởng vở kịch Sự trừng phạt của thiên nhiên và tập thơ Người thoáng hiện xét ra cũng chỉ là một. Ở vở kịch, người thầy tu khổ hạnh cuối cùng đã quay về với thực tại đã mất của mình để đi tìm cô gái Vanxati hèn mọn bị xã hội ruồng bỏ. Còn ở tập thơ Người thầy tu khổ hạnh tự hành hạ thể xác tu luyện để được lên thiên đường, cuối cùng đã hiểu ra bản thân mình cũng không cần đến cái thiên đường xa vời ấy nữa mà lại muốn được hưởng một phần thưởng bình dị trong thực tại – cô gái hái củi ở trần thế.

Về hình thức thể hiện chủ đề “trở về với thực tại”, Rabindranath Tagore đã sử dụng những yếu tố gần gũi với tiềm thức người dân Ấn Độ trong triết lý cổ đại Ấn Độ – đó là con đường trần gian mà mọi người qua lại. Đưa vào vở kịch con đường như nơi hội tụ của nhiều hạng người, Tagore muốn nói đến con đường phủ đầy bụi trần gian. Đi trên con đường ấy khó mà tránh khỏi bụi trần. Ở đây, với lối viết tượng trưng triết lý, Tagore muốn truyền đạt tới người xem một cảm nhận tự nhiên: hễ là con người thì phải tiếp xúc với bụi trần của cuộc đời thế tục. Với con đường làm nền không gian bụi trần Tagore đã sáng tác những vở kịch tiếp theo như Ngày hội mùa thu (1908), Vương công (1910), Phòng bưu điện (1912), Dòng tự do (1912), Những cây trúc đào (1926), v.v… 

Thần thoại – món ăn tinh thần quen thuộc không thể thiếu trong đời sống người dân Ấn Độ cũng được Tagore sử dụng hợp lý để nói lên chủ đề tư tưởng của mỗi vở kịch. Ngoài vở kịch trữ tình triết lý Sự trừng phạt của thiên nhiên được xây dựng theo cốt truyện vũ nữ Mênaka trong thần thoại Ấn Độ, Tagore đã khai thác trước đó một cách sáng tạo đề tài thần thoại trong kịch. Sau vở ca kịch ngắn đầu tay Trái tim tan vỡ (1881), Tagore bắt đầu thử nghiệm đưa đề tài thần thoại với nền nhạc ngợi ca thần linh để sáng tác nên vở ca kịch Valmiki tỉnh ngộ (1881).

Cốt truyện của vở ca kịch này lấy từ truyện thần thoại về tên cướp Rotnakor được nữ thần Xarasvati cảm hóa phú cho tài làm thơ nên đã sáng tác được kiệt tác Ramayana. Trong kịch, cốt truyện thần thoại được Tagore điểm xuyết khéo léo khớp với nền nhạc phụ họa, trong đó Tagore cho diễn biến của cốt truyện lặp lại nguyên xi diễn biến lễ ca môngôlcápbô vốn có từ lâu đời trong sáng tác dân gian xứ sở Belgali thời trung cổ. Theo truyền thống lễ ca môngôlcápbô, thì tài hoa của nhân vật tên tướng cướp chỉ “bột phát” sau cuộc gặp gỡ với nữ thần có sức mạnh siêu nhiên trong hình tượng cô gái.

Khai thác theo hướng tích cực, cốt truyện thần thoại phục vụ cho ý niệm chân thiện Tagore đã xử lý diễn biến trong vở ca kịch này một cách tài tình, thấm đượm tính nhân văn. Tagore đã cho bước ngoặt diễn biến tính cách của nhân vật diễn ra ngay trong cuộc gặp gỡ với cô gái bất lực, yếu đuối. Và ở đây hành động kịch diễn biến rất logic theo sự tự vận động trong bản tính con người trước sự lựa chọn giữa cái thiện và cái ác. Người xem hoàn toàn tán thưởng khi thấy trong cách xử lý tác giả đã để cho nguyên nhân tỉnh ngộ của nhân vật tên cướp chính là sự đồng cảm trước tình cảnh của cô gái yếu đuối, chứ tuyệt nhiên không phải là sự sợ hãi trước uy linh của nữ thần.

Để đạt được hiệu quả chuyển tải diễn biến tâm lý của nhân vật đến người xem, Tagore đã đưa âm nhạc lễ ca đan xen vào vở kịch làm tôn lên những tính cách của nhân vật chính diện hoặc phản diện, Tagore chủ trương sử dụng tiết tấu của giai điệu để truyền đạt tâm tư tình cảm của nhân vật trong tình huống cụ thể. Trong khi các nhà viết kịch cùng thời thường để cho lễ ca đi sau lặp lại nguyên xi ý của đoạn đối thoại trước đó thì Tagore chủ trương đưa lễ ca vào kịch và bắt nó phải đóng vai trò một thành tố hữu cơ hòa quyện vào cốt truyện, nghĩa là nhạc lễ ca phải tiếp tục và phát triển được ý của phát ngôn của nhân vật, phải đi trước hành động kịch và chuẩn bị cho đoạn mở nút của kịch.

Vở ca kịch thể nghiệm này Tagore đã cho trình diễn tại gia đình (vào ngày 26/2/1881), song điều ghi nhận rút ra được là Tagore đã đến với kịch từ rất sớm, ngay từ khi bắt đầu con đường sáng tác của mình. Điều này có thể cắt nghĩa là vào những năm 70, 80 của thế kỷ XIX ở Ấn Độ, kịch, trong đó có ca kịch, là một loại hình nghệ thuật khá thịnh hành, hơn nữa trong gia đình Tagore mọi thành viên đều say mê kịch và âm nhạc. Và cũng hoàn toàn tự nhiên khi thấy những vở kịch đầu tiên của Tagore là ca kịch: Trái tim tan  vỡ, Valmiki tỉnh ngộ, Trò chơi số phận.

Nhưng phải đến vở kịch Lễ hiến máu (1890) thì chủ đề chống lễ giáo phong kiến trói buộc con người mới được thể hiện sâu sắc và triệt để. Vở kịch Lễ hiến máu là một trong những bi kịch xuất sắc của Tagore. Mặc dù Tagore lấy đề tài có tính lịch sử, nhưng vấn đề đặt ra lại mang tính thời đại sâu sắc. Sử dụng những tài liệu lịch sử cụ thể, Tagore không trình bày những sự kiện mà bóc trần tôn giáo chính thống như nguyên nhân sâu xa làm cho đạo đức sa sút, xã hội trì trệ.

Trong kịch Lễ hiến máu, Tagore phê phán gay gắt sự cuồng tín tôn giáo mù quáng vào hủ tục lễ hiến máu tồn tại qua bao đời đến mức người dân nào cũng coi đó là cần thiết như “khí trời của tất cả mọi người” (lời của Vương hậu Gunapoti). Cái nút của vở kịch là xung đột của thầy tu Bà-la-môn Rogokhupoti và Vương công Gobinđo. Trong kịch cái cớ của xung đột giữa Rogokhupoti và Gobinđo được Tagore vạch trần bọn đội lốt Bà-la-môn đang tâm bắt con dê của cô gái nghèo Apacna để dâng máu cho thần ác Kali. Đây cũng là một đặc trưng khác của kịch Tagore những năm 90 của thế kỷ XIX. Đó là sự nhấn mạnh vai trò của cảnh huống trong mối tương quan tính cách của hành động. Cảnh huống ở đây là việc bắt một con dê (loại súc vật không được che chở) của dân đen yếu ớt thuộc hạng cùng đinh bị tước mọi quyền tạo nên toàn cảnh một âm hưởng phổ quát chung đối với mọi tục lệ cổ hủ phản nhân đạo mà trong vở kịch, ngay cả Vương hậu Gunapoti, một kẻ cuồng tín mù quáng vào việc thờ thần linh, cũng mang mối hận thù đẳng cấp đối với lực lượng chính nghĩa, trung thực.

Điều mà Tagore muốn thông qua vở kịch vạch ra cho người xem là sự cuồng tín, mê muội thực chất đang hủy hoại đạo đức con người, kể cả trong quan hệ với những người thân thích ruột thịt (Vương hậu Gunapoti vì cuồng tín đã câu kết với thầy tu Rogokhupoti chống lại chồng mình là Vương công Gobinđo). Thật là cao thượng và nhân ái khi Vương công Gobinđo, đại diện cho lẽ phải dám hiên ngang đứng ra chống lại số đông mù quáng để ra lệnh hủy bỏ lễ hiến máu 100 con trâu và 300 con dê. Lệnh chỉ của Vương công Gobinđo chính là thái độ của Tagore muốn làm ngừng chảy máu của biết bao sinh linh: “Hãy truyền bảo cho mọi người đến lễ từ nay trở đi, người nào mà giết sinh vật lấy máu dâng Đức Mẹ của muôn vật thì người đó sẽ phải đi đày”.

Tagore đã khai thác triệt để mặt phản nhân đạo của lễ hiến máu và để gây ấn tượng mạnh, cuối vở kịch tác giả đã cho Giaixinh, môn đệ của thầy tu Bà-la-môn phải tự nhận lấy cái chết. Theo chỉ thị của sư phụ thầy tu Bà-la-môn Rogokhupoti, chàng thanh niên Giaixinh đã phải đứng trước ảnh thánh thề sẽ giết Vương công Gobinđo để dâng máu cho nữ thần. Nhưng cuối cùng, lương tri con người đã đánh thức chàng trai, Giaixinh thấy mình sẽ là kẻ phạm tội khi thực hiện chỉ thị của thầy tu. Để thoát cảnh huống đầy mâu thuẫn, Giaixinh đã rút dao tự vẫn. Cái chết của Giaixinh đã gây nên sự giác ngộ đột biến của thầy tu và đưa vở kịch vào cái hậu tươi sáng theo lý tưởng “cái thiện thắng cái ác” của Tagore. Cái chết của Giaixinh cũng nói lên nỗi đau khổ của những người thanh niên trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ: phải hy sinh tình cảm cho lễ giáo (theo nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh).

Để cho nhân vật phản diện trở về với cái thiện, coi thần linh thượng đế không phải là thần tượng mà chỉ là một ý niệm cao siêu – đó là chủ đề tư tưởng mà Tagore chủ trương đưa vào nhiều vở kịch. Trong vở kịch Lễ hiến máu, cái chết của chàng trai Giaixinh và sự mất mát không gì bù đắp nổi của cô gái nghèo bị mất người yêu làm người xem quặn đau trước một tập tục cổ hủ phản nhân đạo truyền từ bao đời nay và càng thấy ý nghĩa to lớn của cái giá phải trả cho bất cứ sự tỉnh ngộ nào của những kẻ đã gây ra bao nhiêu cuộc tàn sát sinh linh. Trong số những tác phẩm kịch xuất sắc của Tagore, phải kể trước hết đến các vở kịch Vương công và Vương hậu (1889), Lễ hiến máu (1890), Dòng tự do (1922). 

Vở Vương công và Vương hậu về hình thức rất gần với bi kịch và được đánh giá là một trong những bi kịch xuất sắc viết bằng tiếng Bengali. Nội dung tư tưởng toát lên tinh thần nhân đạo, lòng căm thù đối với chiến tranh và bạo lực đang làm què quặt tâm hồn những kẻ nắm bạo lực ấy trong tay. 

Dòng tự do là vở kịch viết theo lối tượng trưng phúng dụ. Về nội dung tư tưởng Dòng tự do là vở kịch đầu tiên đề cập trực tiếp những vấn đề của thời đại. Với lối viết bóng gió Tagore lên án chính sách thực dân của chế độ Anh ở Ấn Độ và lên án bộ máy của nó. Miêu tả sự xung đột giữa hai công quốc hư cấu Tagore đã tái tạo về thực chất mô hình của mối quan hệ quan lại giữa mẫu quốc với thuộc địa. Cuộc xung đột diễn ra nhân có sự kiện xây dựng đập nước trên sông Muktotkhara (Dòng tự do). Cốt truyện kể Vương công của công quốc Uttorokut cho xây đập nước để ngăn nước tràn về cánh đồng của công quốc láng giềng, bằng cách đó bắt thần dân công quốc láng giềng phải quy phục. Nhưng nhờ sự hy sinh quên mình của Hoàng tử nối ngôi Opkhitgit của công quốc Uttorokut, đập nước đã bị phá tan và chính nghĩa đã thắng.

Trong vở kịch Dòng tự do vai trò của quần chúng nhân dân được đề cao. Họ là lực lượng hùng hậu để xây nên đạp nước, nhưng cũng chính họ là những nạn nhân đã bị thiệt mạng vì việc xây dựng đập nước làm công cụ nô dịch người dân ở công quốc khác. Ngay chính tên chỉ huy xây dựng công trình đập nước Bipkhuti vì lòng tin mù quáng cũng bị thiệt mạng khiến ta nhớ tới nhân vật thầy tu Bà-la-môn Rogokhupoti tôn thờ nữ thần ác Kali. Điều đáng chú ý ở đây là dụng ý của Tagore xây dựng một nhân vật chính diện biết trọng lẽ phải (Hoàng tử nối ngôi Opkhitgit quyết định cho phá đập nước là hợp với lòng dân) xuất phát từ nguồn gốc xuất thân thật của Hoàng tử. Nguyên do Hoàng tử không phải là dòng dõi hoàng tộc mà chỉ là đứa con rơi nhặt được ở bờ sông Muktotkhara, vì vậy Hoàng tử chính là đứa con của “Dòng tự do” nên được số phận giao cho phải phá đập nước giải phóng cho dân chúng ở công quốc láng giềng. Với lối viết tượng trưng đề cao vai trò của quần chúng nhân dân Tagore đã tạo nên hình tượng “ông hoàng bình dân” đại diện cho chính nghĩa được nhân dân yêu mến và ủng hộ. Vì thế cái chết của Hoàng tử Opkhitgit được coi như sự hy sinh cao cả vì nó gắn liền với niềm hy vọng về một ngày mai tươi sáng trong quang cảnh ngày hội mùa rộn rã, những bài ca tưng bừng của dân chúng hai công quốc láng giềng ngợi ca chàng thợ cày Siva – đây cũng là một cái hậu tươi sáng theo lý tưởng “cái thiện thắng cái ác”.

Rabindranath Tagore (1861-1941) là đại thi hào của Ấn Độ từ lâu đã quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. Từ năm 1924, bạn đọc đã biết đến tên tuổi R. Tagore qua bài giới thiệu Bàn phiếm về văn hóa Đông – Tây của Thượng Chi (Báo Nam Phong, số 89), ít năm sau, năm 1929, người dân Việt Nam lại có dịp được chào đón Tagore trên đường từ Nhật Bản về Ấn Độ, có dừng chân lại Sài Gòn. Nhưng rồi phải đến thập niên 1960, bạn đọc Việt Nam mới có dịp làm quen với tập Thơ Dâng (Gitanjali – Giải thưởng Nobel văn học năm 1913).

Ảnh hưởng của thi hào, kịch tác gia Rabindranath Tagore trong nhân dân Ấn Độ vô cùng to lớn trong suốt thế kỷ XX và sang cả thế kỷ XXI. Ở Ấn Độ, người dân rất ngưỡng mộ R. Tagore và M. Gandhi, quen gọi hai ông là những vị thánh “đã sáng lập ra nước Ấn Độ” (theo:  Tagore and our time – Nehru J.). 

Nguyễn Xuân Hòa




Nguồn: Arttimes.vn

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm đồng chí Lâm Thị Phương Thanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch


Sáng 8/4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã phê chuẩn bổ nhiệm đồng chí Lâm Thị Phương Thanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm đồng chí Lâm Thị Phương Thanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - 1Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh

Sáng 8/4/2026, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031. 

Kết quả, có 481 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 481 đại biểu tán thành (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 96,20% tổng số đại biểu Quốc hội).

Theo danh sách Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 – 2031, bà Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm đồng chí Lâm Thị Phương Thanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - 2



Nguồn: Arttimes.vn

Gia Lai trước thềm năm du lịch Quốc gia 2026: Đại ngàn sắp chạm biển xanh


Một buổi sáng đầu mùa khô, sương còn bảng lảng trên những triền đồi quanh Pleiku. Thành phố cao nguyên thức dậy chậm rãi trong gió sớm. Trên những con đường dẫn ra ngoại ô, các bảng chỉ dẫn du lịch mới được dựng lên, những lối vào khu tham quan đang được chỉnh trang, còn ở các cơ quan quản lý du lịch, những cuộc họp chuẩn bị vẫn diễn ra liên tục. Không khí chuẩn bị cho Năm Du lịch quốc gia 2026 đang lan dần trên vùng đất bazan đỏ của Gia Lai.

Sự kiện năm 2026 mang chủ đề “Đại ngàn chạm biển xanh”, một ý tưởng kết nối không gian du lịch từ rừng núi Tây Nguyên xuống vùng biển miền Trung. Với Gia Lai, đây được xem là dịp để giới thiệu đầy đủ hơn vẻ đẹp của cao nguyên – từ cảnh quan thiên nhiên, văn hóa bản địa cho đến đời sống thường ngày của các buôn làng.

Gia Lai trước thềm năm du lịch Quốc gia 2026: Đại ngàn sắp chạm biển xanh - 1

Từ trung tâm Pleiku, chúng tôi theo con đường đất đỏ hướng về phía bắc thành phố để đến Chư Đăng Ya – ngọn núi lửa cổ đã ngủ yên hàng triệu năm. Chiếc xe bán tải của anh Rơ Mah Hùng, một hướng dẫn viên du lịch người Jrai, chầm chậm leo qua những triền dốc quanh miệng núi. Hai bên đường là những cánh đồng khoai, bắp đang xanh mướt trên nền đất bazan.

Anh Hùng làm du lịch cộng đồng ở khu vực này gần mười năm. Chỉ tay xuống lòng núi lửa, anh nói rằng du khách nước ngoài rất thích nơi đây vì hiếm có nơi nào mà dấu tích núi lửa cổ lại gắn với đời sống canh tác của người dân như vậy. Từ miệng núi nhìn xuống, cả một vùng ruộng nương trải rộng, xa xa là những mái nhà làng Jrai nằm rải rác dưới tán cây. Mỗi năm đến tháng 11, khi hoa dã quỳ nở vàng khắp các sườn đồi, khu vực này trở thành điểm đến thu hút rất đông du khách.

“Có ngày cao điểm khách đứng kín cả con đường lên núi. Từ trên nhìn xuống, dã quỳ vàng rực như nắng,” anh Hùng nói, giọng đầy tự hào.

Gia Lai trước thềm năm du lịch Quốc gia 2026: Đại ngàn sắp chạm biển xanh - 2

Rời Chư Đăng Ya, chúng tôi quay lại Biển Hồ – hồ nước được nhiều người gọi bằng cái tên thân quen “đôi mắt Pleiku”. Buổi trưa, gió từ mặt hồ thổi lên mát rượi. Những hàng thông già soi bóng xuống làn nước xanh thẫm, mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương lớn giữa cao nguyên.

Ở bến nhỏ ven hồ, chị Nguyễn Thị Thu Hằng, một hướng dẫn viên du lịch địa phương, đang dẫn đoàn khách từ miền Bắc vào tham quan. Chị cho biết vài năm gần đây lượng du khách tìm đến Gia Lai ngày càng tăng, đặc biệt là những người yêu thiên nhiên và thích trải nghiệm văn hóa bản địa.

Theo chị Hằng, nhiều du khách không chỉ muốn ngắm cảnh mà còn muốn vào buôn làng, nghe cồng chiêng, tìm hiểu cách người Jrai hay Bahnar sinh sống giữa đại ngàn. “Khách rất thích những trải nghiệm giản dị như ăn cơm lam, gà nướng hay ngồi bên bếp lửa nghe già làng kể chuyện,” chị nói.

Gia Lai trước thềm năm du lịch Quốc gia 2026: Đại ngàn sắp chạm biển xanh - 3

Ở phía đông tỉnh, Khu bảo tồn Kon Chư Răng vẫn giữ được những cánh rừng nguyên sinh hiếm hoi của Tây Nguyên. Sau nhiều giờ băng rừng, du khách có thể gặp Thác K50 – con thác cao gần 50 mét đổ xuống từ vách đá dựng đứng, nước trắng xóa như một tấm màn khổng lồ giữa rừng già. Các tour trekking khám phá thác K50 đang được xây dựng để phục vụ những du khách yêu thích du lịch sinh thái và mạo hiểm.

Cùng với đó, những điểm quen thuộc quanh Pleiku như Biển Hồ Chè hay Núi Hàm Rồng cũng đang được chỉnh trang để tạo thêm điểm dừng chân cho du khách trong các hành trình khám phá cao nguyên.

Theo lãnh đạo tỉnh, Năm Du lịch quốc gia 2026 được xem là cơ hội lớn để Gia Lai quảng bá hình ảnh của mình. Ông Phạm Anh Tuấn, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, cho biết tỉnh đang tập trung hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ và xây dựng thêm nhiều sản phẩm du lịch mới để đáp ứng nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.

Ông nhấn mạnh rằng sự kiện này không chỉ nhằm thu hút khách du lịch mà còn là dịp để giới thiệu những giá trị đặc sắc của Tây Nguyên – từ thiên nhiên, văn hóa cồng chiêng đến đời sống của các dân tộc bản địa.

Trong khi đó, bà Đỗ Thị Diệu Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Gia Lai, cho biết ngành du lịch địa phương đang phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành để xây dựng các tuyến du lịch liên vùng. Mục tiêu là hình thành những hành trình nối từ Tây Nguyên xuống các tỉnh duyên hải miền Trung, để du khách có thể trải nghiệm trọn vẹn không gian “từ đại ngàn đến biển”.

Gia Lai trước thềm năm du lịch Quốc gia 2026: Đại ngàn sắp chạm biển xanh - 4

Không chỉ có cảnh quan, Gia Lai còn hấp dẫn du khách bởi những món ăn mang hương vị đặc trưng của cao nguyên. Buổi sáng ở Pleiku, nhiều du khách tìm đến bát Phở khô Gia Lai nóng hổi. Buổi chiều, trong một buôn làng Jrai, mùi gà nướng bản địa lan trong gió, bên cạnh là những miếng bò một nắng chấm muối kiến vàng – thứ gia vị đặc biệt của vùng rừng.

Theo ngành du lịch, thời điểm lý tưởng nhất để đến Gia Lai là mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khi hoa dã quỳ nở vàng khắp các triền đồi. Khi ấy, du khách có thể đứng trên miệng núi lửa Chư Đăng Ya nhìn xuống cánh đồng bazan đỏ, dạo bước bên bờ Biển Hồ xanh thẫm hay lắng nghe tiếng cồng chiêng vang lên giữa một buôn làng trong đêm cao nguyên.

Năm Du lịch quốc gia 2026 vì thế không chỉ là một sự kiện du lịch. Với Gia Lai, đó còn là lời mời gọi du khách bước vào hành trình khám phá một vùng đất nơi rừng già, núi lửa, hồ nước, biển xanh và văn hóa bản địa vẫn còn giữ được vẻ nguyên sơ – nơi đại ngàn đang chuẩn bị vươn mình để chạm tới biển xanh

Năm Du lịch Quốc gia 2026 dự kiến có 244 sự kiện, gồm: 18 sự kiện do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức; 117 sự kiện do 22 tỉnh/thành phố trong cả nước phối hợp tổ chức; 109 sự kiện do tỉnh Gia Lai thực hiện. Các hoạt động, sự kiện chính được tổ chức tập trung tại tỉnh Gia Lai (Quy Nhơn, Pleiku và các xã, phường trọng điểm phát triển du lịch).

Logo Năm Du lịch Quốc gia tỉnh Gia Lai mới là biểu trưng cho sự giao thoa hài hòa giữa cao nguyên và biển cả sau khi Gia Lai và Bình Định sáp nhập. Hình ảnh các ngọn núi đại diện cho không gian Tây Nguyên, trong đó ngọn núi lớn nhất với phần miệng núi lõm là cách điệu của núi lửa Chư Đăng Ya.

Phóng sự của Nguyễn Mạnh – Huỳnh Vinh




Nguồn: Arttimes.vn

ITE HCMC 2026: Kiến tạo những giải pháp đột phá cho một kỷ nguyên du lịch mới


Bước sang lần tổ chức thứ 20, Hội chợ Du lịch Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là một hội chợ thương mại, mà đã trở thành nhịp cầu kết nối tinh hoa du lịch Việt Nam với dòng chảy của du lịch khu vực và thế giới.

Hội chợ Du lịch Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 20 năm 2026 (ITE HCMC 2026) do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức sẽ diễn ra từ ngày 27 – 29/8/2026 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), cùng chuỗi hoạt động bên lề tại các khách sạn, trung tâm hội nghị và điểm đến trên địa bàn Thành phố.

ITE HCMC 2026: Kiến tạo những giải pháp đột phá cho một kỷ nguyên du lịch mới - 1

Sự kiện họp báo thông tin về ITE HCMC 2026.

Tại họp báo cung cấp thông tin về ITE HCMC 2026, diễn ra tại Hà Nội, sáng 10/4, ông Lê Trương Hiền Hòa, Phó Giám đốc Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh, hai thập kỷ qua, Hội chợ Du lịch Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là dấu mốc quan trọng trong hành trình phát triển của hội chợ, mà còn khẳng định vai trò ngày càng nổi bật của Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới.

“ITE HCMC 2026 mang trên mình sứ mệnh lịch sử: Không chỉ là nơi gặp gỡ, mà là nơi kiến tạo những giải pháp đột phá cho một kỷ nguyên du lịch mới – kỷ nguyên của sự kết nối thông minh và phát triển xanh và hợp tác bền vững.

Với chủ đề ‘Kết nối sống động – Điểm đến toàn cầu’, chúng tôi khẳng định vai trò tiên phong của ngành Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong việc dẫn dắt sự chuyển mình từ ‘du lịch truyền thống’ sang ‘hệ sinh thái du lịch xanh và số’ tăng sức cạnh tranh quốc tế. ITE HCMC 2026 chính là lời cam kết mạnh mẽ nhất về một Việt Nam chủ động hội nhập, sẵn sàng bứt phá và vững vàng nâng cao vị thế trên bản đồ du lịch tương lai”, ông Hòa chia sẻ.

ITE HCMC 2026: Kiến tạo những giải pháp đột phá cho một kỷ nguyên du lịch mới - 2

Ông Lê Trương Hiền Hòa, Phó Giám đốc Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh phát biểu tại họp báo.

ITE HCMC 2026 được định vị là “nền tảng xúc tiến du lịch quốc tế hàng đầu” – nơi hội tụ các cơ quan quản lý, tổ chức xúc tiến, doanh nghiệp, chuyên gia, báo chí và người mua quốc tế để cùng kiến tạo giá trị mới cho ngành du lịch trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng xanh, thông minh và bền vững.

Hội chợ ITE HCMC 2026 dự kiến quy tụ hơn 520 đơn vị triển lãm và 34 địa phương Việt Nam tham dự triển lãm; 260 người mua quốc tế cao cấp đến từ hơn 32 quốc gia và vùng lãnh thổ (tăng 10% so với năm 2025); cùng hơn 30.000 khách tham quan (tăng 15% so với năm 2025); góp phần tạo ra 20.050 cuộc hẹn giao thương (B2B Meetings) trao đổi, tiếp xúc trực tiếp giữa các doanh nghiệp du lịch quốc tế và Việt Nam.

ITE HCMC 2026 tiếp tục được kỳ vọng sẽ phát huy vai trò là nền tảng xúc tiến du lịch quốc tế hàng đầu, không chỉ tạo cú hích thu hút khách quốc tế đến Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh, mà còn góp phần hiện thực hóa chiến lược phủ sóng các thị trường inbound trọng điểm và tiềm năng thông qua các hoạt động kết nối giao thương, quảng bá và truyền thông chuyên sâu.

Hội chợ tập trung thúc đẩy hợp tác tại các thị trường ưu tiên như: Đông Bắc Á, Tây Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á, Châu Úc và Ấn Độ, qua đó hỗ trợ các địa phương và doanh nghiệp mở rộng mạng lưới đối tác, nâng cao chất lượng nguồn khách và củng cố vị thế của du lịch Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh là điểm đến năng động của khu vực.

Bên cạnh đó, Hội chợ còn thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của truyền thông quốc tế với sự góp mặt của 60 cơ quan báo đài và các KOLs/Travel Bloggers nổi tiếng toàn cầu giúp lan tỏa hình ảnh điểm đến Thành phố Hồ Chí Minh rộng khắp thị trường du lịch quốc tế.

ITE HCMC 2026: Kiến tạo những giải pháp đột phá cho một kỷ nguyên du lịch mới - 3

Đại diện Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh giới thiệu các hoạt động trong khuôn khổ ITE HCMC 2026.

Hội chợ năm nay được thiết kế với chuỗi hoạt động mang tính chuyên môn cao và tầm ảnh hưởng sâu rộng với các hoạt động nổi bật như: Diễn đàn Du lịch Cấp cao, thảo luận về chính sách quản lý điểm đến thông minh, hạ tầng xanh và năng lượng tái tạo trong du lịch; Hành trình trải nghiệm di sản, đây là chương trình khảo sát điểm đến dành cho báo chí và người mua quốc tế, giới thiệu các sản phẩm du lịch đường thủy, du lịch sinh thái nông thôn và các làng nghề đặc sắc; Ngày hội dành cho công chúng tạo không gian kích cầu du lịch bùng nổ với hàng ngàn tour tuyến khuyến mại, tạo sân chơi giao lưu văn hóa đa quốc gia.

Cùng với đó là các hội nghị quốc tế về du lịch tại Việt Nam năm 2026: Hội nghị Quan chức Cấp cao (SOM) và Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Campuchia – Lào – Myanmar – Việt Nam (CLMV) lần thứ 8; Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady – Chao Phraya – Mekong (ACMECS) lần thứ 7; Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Campuchia – Lào – Việt Nam (CLV) lần thứ nhất.

ITE HCMC 2026: Kiến tạo những giải pháp đột phá cho một kỷ nguyên du lịch mới - 4

Ban Tổ chức thông tin về Hội chợ ITE HCMC 2026.

Đến với Hội chợ ITE HCMC 2026, các doanh nghiệp, đối tác trong ngành du lịch Việt Nam và quốc tế sẽ có cơ hội kết nối, hợp tác trong một không gian giao thương chuyên nghiệp, hiện đại và sống động.

Hội chợ là điểm hẹn để các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là các nước hạ nguồn sông Mê Kông tìm kiếm đối tác kinh doanh, cung cấp các sản phẩm đa dạng cho khách hàng. Hội chợ cũng là nơi để các đơn vị tiếp cận những sản phẩm, mô hình kinh doanh mới, vững bước trên con đường phát triển du lịch bền vững; đồng thời các địa phương và doanh nghiệp du lịch cũng có dịp giới thiệu các sản phẩm du lịch đặc trưng, các trải nghiệm riêng có của Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh đến du khách quốc tế.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn