Home Blog Page 26

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô


Triển lãm “Trời, Non, Nước – Allusive Panorama” giới thiệu 20 tác phẩm hội họa của vua Hàm Nghi, ẩn sau mỗi bức tranh không chỉ là giá trị nghệ thuật, mà còn là những lát cắt tâm trạng, những hoài niệm và đời sống nội tâm của ông trong những ngày xa xứ.

Triển lãm “Trời, Non, Nước – Allusive Panorama” từng ghi dấu ấn tại Điện Kiến Trung, Đại nội Huế vào tháng 3/2025 với hơn 110.000 lượt khách tham quan, chặng thứ hai của chuỗi triển lãm sẽ diễn ra từ ngày 24/4 – 10/5/2026 tại Di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Triển lãm do Art Nation phối hợp cùng Viện Pháp tại Việt Nam và Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức với tiêu chuẩn trưng bày quốc tế. Đây được xem là triển lãm mỹ thuật Hàm Nghi quy mô lớn đầu tiên được tổ chức tại Thủ đô.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 1

Lễ khai mạc triển lãm “Trời, Non, Nước – Allusive Panorama” thu hút đông đảo công chúng tham gia.

“Trời, Non, Nước” trưng bày 20 tác phẩm quy tụ từ 10 bộ sưu tập tư nhân. Các tác phẩm đã được hồi hương, thẩm định, bảo quản và phục chế bởi các chuyên gia đầu ngành và được đồng giám tuyển bởi nhà nghiên cứu mỹ thuật Ace Lê và Tiến sỹ Amandine Dabat – hậu duệ đời thứ 5 của vua Hàm Nghi, tác giả cuốn sách “Hàm Nghi – Hoàng đế lưu vong, nghệ sỹ ở Alger”.

Lễ khai mạc triển lãm được diễn ra vào ngày 23/4, tại đây, Tiến sĩ Amandine Dabat đã bày tỏ niềm xúc động khi các tác phẩm của vua Hàm Nghi được hiện diện tại Di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, một không gian giàu giá trị văn hóa và tinh thần.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 2

Tiến sỹ Amandine Dabat – hậu duệ đời thứ 5 của vua Hàm Nghi chia sẻ tại lễ khai mạc triển lãm.

Theo bà, tiếp nối chặng trưng bày tại Huế, triển lãm lần này đánh dấu bước tiếp theo trong hành trình hồi hương đầy ý nghĩa, không chỉ đưa tác phẩm về với công chúng Việt Nam, mà còn hiện thực hóa mong muốn được thấu hiểu bởi chính đồng bào của vị vua năm xưa.

“Ông chưa từng có cơ hội trở về Việt Nam khi còn sống. Nhưng hôm nay, thông qua những tác phẩm này, một phần tâm hồn của ông đã được trở về nhà”, Tiến sĩ Amandine Dabat chia sẻ.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 3

Giám tuyển Ace Lê chia sẻ tại triển lãm.

Giám tuyển Ace Lê cho biết, Cựu hoàng Hàm Nghi (1871–1944) được biết đến rộng rãi trong sử ta với tư cách một vị anh hùng dân tộc, người phát động chiếu Cần Vương rồi bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại Algeria đến khi qua đời. Tuy nhiên, lịch sử mỹ thuật lại lãng quên ngài trong gần 100 năm qua. Ít người biết rằng, ngài là họa sỹ Việt đầu tiên được đào tạo theo giáo trình hàn lâm Tây phương, mở ra buổi bình minh cho dòng mỹ thuật Đông Dương, cũng là chương đầu tiên của mỹ thuật hiện đại Việt Nam.

Chính vì vậy, theo giám tuyển Ace Lê, việc quy tụ 20 tác phẩm hội họa tiêu biểu của Vua Hàm Nghi góp phần làm rõ hơn chân dung của một nhân vật lịch sử đặc biệt, không chỉ là vị vua gắn liền với Phong trào Cần Vương, mà còn là một trong những họa sĩ hiện đại đầu tiên của Việt Nam.

Đồng thời, việc được tổ chức tại Di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, triển lãm cũng tạo nên sự kết nối ý nghĩa giữa không gian di sản và dòng chảy nghệ thuật, góp phần đưa những giá trị từng bị lãng quên đến gần hơn với công chúng đương đại.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 4

Ông Lê Xuân Kiêu – Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám phát biểu.

Ông Lê Xuân Kiêu – Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám cũng khẳng định, sự kiện nghệ thuật quy mô như “Trời, Non, Nước” sẽ mang tới những đóng góp quan trọng trong hành trình chuyển hóa di tích thành không gian sáng tạo độc đáo.

“Việc trưng bày các tác phẩm của cựu hoàng tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám là lời tôn vinh dành cho những giá trị tri thức vốn luôn được đề cao trong lịch sử dân tộc. Chúng tôi tin rằng triển lãm sẽ đưa di tích trở thành điểm hẹn cho công chúng trong dịp lễ năm nay, tiếp tục nuôi dưỡng mạch nguồn văn hóa”, ông Lê Xuân Kiêu cho hay.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 5

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 6

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 7

Triển lãm giới thiệu 20 tác phẩm hội họa của vua Hàm Nghi.

Ông Éric Soulier – Giám đốc Viện Pháp tại Việt Nam nhận định: “Triển lãm này là minh chứng tiêu biểu cho sự giao thoa giữa lịch sử, nghệ thuật và ký ức chung của Việt Nam và Pháp. Thông qua sự kiện, công chúng có cơ hội tiếp cận một góc nhìn giàu cảm xúc của cựu hoàng Hàm Nghi, một nhân vật lịch sử đặc biệt và là một nghệ sỹ tài hoa. Viện Pháp tại Việt Nam tin rằng, dự án ý nghĩa này đã và sẽ góp phần thúc đẩy đối thoại văn hóa, đồng thời làm nổi bật những gắn kết bền chặt giữa hai quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật và di sản”.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 8

Công chúng tham quan triển lãm.

Trong khuôn khổ triển lãm “Trời, Non, Nước – Allusive Panorama”, tọa đàm chuyên đề về vua Hàm Nghi sẽ được tổ chức tại Hội trường Ngụy Như Kon Tum (19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) với sự tham gia của giám tuyển Ace Lê, Tiến sĩ Amandine Dabat và nhà nghiên cứu Châu Hải Đường. Đây là dịp để công chúng tìm hiểu sâu hơn về hành trình hồi hương của các tác phẩm, đồng thời mở rộng cách tiếp cận Hàm Nghi không chỉ như một nhân vật lịch sử, mà như một nghệ sĩ trong dòng chảy mỹ thuật hiện đại.

Một số tác phẩm được trưng bày tại triển lãm:

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 9

Vua Hàm Nghi, “Bờ hồ rợp bóng cây (hồ Geneva)” (khoảng 1920), sơn dầu trên toan, 38 x 55 cm.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 10

Vua Hàm Nghi, “Phong cảnh với cây bách (Menthon-Saint-Bernard)” (1906), 27 x 40,5 cm, sơn dầu trên toan.

Triển lãm quy mô lớn đầu tiên về hội họa vua Hàm Nghi tại Thủ đô - 11

Vua Hàm Nghi, “Bình minh trên hồ” (1910), sơn dầu trên toan, 24,5 x 32,5 cm.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Ngao ngán người phụ nữ nghe điện thoại giữa đường, mặc ô tô phía sau bấm còi


Đèn đã chuyển xanh, ô tô phía sau bấm còi để di chuyển nhưng người phụ nữ vẫn thản nhiên dừng xe nghe điện thoại.




Nguồn: Arttimes.vn

5 mẫu xe hybrid bán chạy tháng 3/2026, Innova Cross lần đầu tiên đứng nhất


Hybrid vẫn là mảnh ghép nhỏ nhưng tăng trưởng ổn định trong bức tranh ô tô Việt.

Thị trường ô tô Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ trong tháng 3/2026, sức mua hồi phục rõ rệt sau giai đoạn trầm lắng vì kỳ nghỉ Tết. Theo số liệu tổng hợp từ VAMA, VinFast và Hyundai, toàn thị trường tiêu thụ khoảng 70.859 xe trong tháng 3, tăng hơn 45% so với tháng trước. Riêng nhóm thành viên VAMA đạt 38.704 xe, tăng tới 101% theo tháng và 122% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong bức tranh chung đó, nhóm xe hybrid tiếp tục mở rộng hiện diện, dù quy mô vẫn nhỏ hơn đáng kể so với xe xăng truyền thống và xe điện. Xu hướng điện hóa đang diễn ra rõ rệt tại Việt Nam, khi cả EV và hybrid đều ghi nhận mức độ quan tâm ngày càng cao từ người tiêu dùng . Tuy nhiên, khác với xe điện đang bùng nổ doanh số, hybrid hiện vẫn tập trung chủ yếu ở một số mẫu xe Nhật Bản, với sản lượng mỗi mẫu dao động vài trăm đến dưới 1.000 xe/tháng.

Dẫn đầu nhóm hybrid tháng 3/2026 là Toyota Innova Cross HEV với 826 xe, cho thấy sức hút lớn của cấu hình MPV tiết kiệm nhiên liệu trong bối cảnh nhu cầu xe gia đình tăng cao. Ngay phía sau là Toyota Corolla Cross HEV đạt 752 xe – tiếp tục duy trì vị thế ổn định trong phân khúc CUV cỡ B+. Hai mẫu xe này cũng đóng góp phần lớn doanh số hybrid của Toyota, thương hiệu đang chiếm ưu thế tuyệt đối ở mảng này.

Các vị trí tiếp theo ghi nhận sự cạnh tranh đa dạng hơn. Honda CR-V e:HEV đạt 471 xe, cho thấy hybrid bắt đầu thâm nhập phân khúc SUV hạng C. Toyota Yaris Cross HEV bán 464 xe, hưởng lợi từ sức hút chung của dòng Yaris Cross đang dẫn đầu toàn thị trường xăng/dầu. Trong khi đó, Suzuki XL7 Hybrid đạt 196 xe, dù thấp hơn đáng kể nhưng vẫn duy trì được chỗ đứng nhờ lợi thế giá dễ tiếp cận.

Tổng cộng, 5 mẫu xe hybrid bán chạy nhất đạt khoảng 2.700 xe trong tháng 3, chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với quy mô hơn 70.000 xe toàn thị trường. Dù vậy, con số này cho thấy hybrid đang dần trở thành lựa chọn “trung gian” hợp lý giữa xe xăng và xe điện, đặc biệt với nhóm khách hàng chưa sẵn sàng chuyển hẳn sang EV nhưng vẫn muốn tối ưu chi phí vận hành.

Dưới đây là danh sách 5 mẫu xe hybrid bán chạy nhất tháng 3/2026 tại thị trường Việt Nam:

5 mẫu xe hybrid bán chạy tháng 3/2026, Innova Cross lần đầu tiên đứng nhất - 1

5 mẫu xe hybrid bán chạy tháng 3/2026, Innova Cross lần đầu tiên đứng nhất - 2

5 mẫu xe hybrid bán chạy tháng 3/2026, Innova Cross lần đầu tiên đứng nhất - 3

5 mẫu xe hybrid bán chạy tháng 3/2026, Innova Cross lần đầu tiên đứng nhất - 4

5 mẫu xe hybrid bán chạy tháng 3/2026, Innova Cross lần đầu tiên đứng nhất - 5



Nguồn: Arttimes.vn

“Phiêu dạt”: Mổ xẻ những vết thương sâu sắc của lịch sử nhân loại


Tiểu thuyết “Phiêu dạt” miêu tả hành trình siêu thoát của các linh hồn bị mắc kẹt tại một nơi giống như chốn địa phủ, nơi họ phải đối diện với quá khứ và tìm kiếm cánh cửa luân hồi. Các nhân vật chính, đại diện cho nhiều quốc gia và thế hệ khác nhau, bao gồm cựu binh Trung Quốc là ông Vương, lính Việt Nam Cộng hòa tị nạn là lão Đạt, Hùng thanh niên Việt Nam sống trong tuyệt vọng, và người lính Ukraine Donzefski; cùng nhau tham gia vào các cuộc đối thoại triết học nặng nề.

Phiêu dạt là một tác phẩm văn học sử dụng khung cảnh siêu nhiên để mổ xẻ những vết thương sâu sắc của lịch sử nhân loại, đặc biệt là các cuộc chiến tranh và sự mâu thuẫn về đạo đức, giá trị sống. 

Nội dung chính xoay quanh sự thất vọng sau chiến tranh, sự bất công xã hội, và ý nghĩa thực sự của lòng yêu nước khi đối diện với cái chết. Thông qua những câu chuyện về sự mất mát, tội lỗi và những hành trình gian khổ tìm kiếm “miền đất hứa”, các linh hồn dần nhận ra sự thật về những lựa chọn cuộc đời mình. Cuối cùng, dưới sự chứng kiến của một vị thần, họ phải tự giác ngộ để đạt được sự thanh thản và bước vào kiếp tái sinh, và Hùng là người đầu tiên tìm thấy lối thoát.

Chiến tranh tác động sâu sắc đến các quan niệm đạo đức và ý nghĩa cuộc sống, thường thông qua việc phơi bày những sự tàn khốc, làm lung lay niềm tin và buộc con người phải định hình lại giá trị cá nhân cũng như mục đích sống. Những linh hồn lang thang trong câu chuyện chỉ có thể siêu thoát khi họ rũ bỏ hết mọi suy tư, mọi máu tanh bùn đất và tìm được sự giác ngộ (như Hùng, ông Vương) hoặc sự thỏa nguyện (như Mohamed Awad) về những lựa chọn và trách nhiệm của mình trong cuộc đời đã qua.

Tính tương đối của đúng – sai: Chiến tranh cho thấy định nghĩa về đúng hoặc sai chỉ được áp dụng theo thời đại, theo xã hội, theo đất nước hay từng nền văn hóa khác nhau. Nếu một cộng đồng thừa nhận một điều là đúng thì nó là đúng.

“Phiêu dạt”: Mổ xẻ những vết thương sâu sắc của lịch sử nhân loại - 1

Tiểu thuyết “Phiêu dạt” của nhà văn Võ Thị Xuân Hà.

Sự lung lay niềm tin về chính nghĩa

Đối với bên xâm lược, những người lính như ông Vương (Trung Quốc) ban đầu tin rằng cuộc chiến của họ là cuộc chiến tranh vệ quốc để bảo vệ lãnh thổ khỏi sự xâm lược. Tuy nhiên, sau khi trải qua và nhìn nhận lại, niềm tin này có thể bị lung lay khi họ nhận ra rằng những người họ giết lại là những người lính đang chiến đấu bảo vệ lãnh thổ của họ. Sự dằn vặt về việc mình bị biến thành kẻ đi xâm lược gây ra cảm giác tội lỗi.

Đối với bên chống xâm lược, chiến tranh chống xâm lược là điều bắt buộc và cần thiết. Tuy nhiên, những người lính (như lão Đạt – Việt Nam Cộng hòa) phục vụ cho một chính thể nhất định có thể bị thế hệ sau (như Hùng) phán xét, chỉ trích là kẻ bán nước. Lão Đạt phải vật lộn tìm cách biện minh cho lòng yêu nước của mình, khi mà hành động của chính thể ông ta phục vụ đã gây ra tội ác (như cho lính Mỹ tàn sát dân thường vô tội).

Những người lính thường bị đặt vào thế không có quyền lựa chọn ngoài việc phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Thậm chí họ phải tuân lệnh ngay cả khi nhìn thấy người thân mình gặp nguy hiểm trước mắt.

Chiến tranh tạo ra thời điểm mờ mịt nhất khi con người mất đi phương hướng và mục tiêu. Những người trở về từ chiến trường có thể cảm thấy mơ hồ về ý nghĩa chân chính của cuộc chiến.

Ước mơ nhỏ nhoi của nhiều người chỉ là một cuộc sống bình yên bên người mình yêu và gia đình nhỏ. Tuy nhiên, chiến tranh khiến những ước mơ bình dị đó trở nên thật xa vời. Chiến tranh làm con người trở nên vô cảm hay vì đã trải qua quá nhiều đau thương và tận cùng của sợ hãi. Mục đích cuối cùng của những người lính chỉ là chiến đấu để bảo vệ đất nước, bảo vệ người thân, bảo vệ chính mình khỏi cảnh phơi thây nơi xứ người. Nhiều người dân chọn cách ra đi để tìm kiếm một nơi chốn bình yên để sống một cuộc sống hòa bình.

Chiến tranh buộc con người phải suy ngẫm về sự hy sinh và mục tiêu cao cả. Người lính như Donzefski ban đầu cảm thấy sự hy sinh của mình là vô nghĩa vì chưa làm được gì. Tuy nhiên, một số nhân vật đã lĩnh hội được rằng mỗi một sự hi sinh đều có một ý nghĩa nào đó, và mỗi một cái chết, đều có một vị trí trong lịch sử này. 

Có một khía cạnh rất đáng suy ngẫm. Phiêu dạt đặt vấn đề “Tiền bạc có phải giá trị vĩnh hằng không?” và giải mã vấn đề hết sức khoa học.

Trong xã hội loài người, sau khi định ra thứ quy ước trao đổi ngang hàng, tiền tệ là thứ giá trị duy nhất được công nhận mà ít bị biến đổi theo thời gian. Bất kể mỗi đất nước có đơn vị tiền tệ khác nhau, tất cả mọi người đều nhất trí rằng tiền là một vật quy ước trao đổi đồng giá để đo lường giá trị của tất cả những thứ khác. Mặc dù tiền tệ có thể thay đổi hình thức (từ vàng bạc sang tiền giấy), những thứ này vẫn được coi là một loại quy ước giá trị. Chính bởi vì tiền bạc là thứ giá trị vĩnh hằng, nên nó là thứ người ta luôn hướng tới. 

Richard lập luận rằng các giá trị khác như tình yêu, hòa bình, hạnh phúc, đạo đức và lẽ phải đều là những thứ dễ thay đổi và phụ thuộc vào niềm tin của mỗi người. Ví dụ, quan niệm về đúng/sai có thể được áp dụng theo thời đại, theo xã hội, theo đất nước hay từng nền văn hóa khác nhau.

Ví dụ về sự thay đổi của giá trị: Vấn đề xu hướng tính dục không phải là dị tính (người đồng tính, chuyển giới) từng bị coi là bệnh hoạn trong lịch sử, nhưng sau đó được y học công nhận không phải là bệnh lý. Tuy nhiên, tùy vào từng đất nước, nền văn hóa hay tôn giáo, quan niệm này vẫn có sự khác biệt. Điều này chứng minh các giá trị đó đều thay đổi theo thời gian, văn hóa và dân tộc.

Người ta có thể phủ nhận tài năng, trí tuệ hay những sáng kiến của một người, nhưng chẳng ai có thể phủ nhận giá trị của tiền bạc. 

Mặc dù tiền bạc được coi là vĩnh hằng, Richard cho rằng sự giàu có (dựa trên tiền bạc) và “cuộc sống tuyệt vời” là điều mà con người hướng tới. Tuy nhiên, Mohamed Awad phản biện rằng sự giàu có của con người không được định nghĩa bằng vật chất. Con người có thể có một cuộc sống không quá đủ đầy về vật chất nhưng lại giàu có về tinh thần, tìm được niềm vui và hạnh phúc trong những điều đơn giản.

Thần biển cũng đồng ý rằng tiền là thứ giá trị không thay đổi. Tuy nhiên, Thần chất vấn rằng cách con người sử dụng tiền và hướng tới cái gọi là “tốt đẹp” lại chẳng giống nhau, và sự chiếm đoạt tiền bạc hay tài nguyên của người khác thông qua chiến tranh không phải là giá trị đúng đắn.

Có một bản thể xuyên không là tác giả/người viết truyện

Lam là người phụ nữ đang ngồi trong căn phòng nhỏ giữa đồi thông Đà Lạt, cầm bút máy màu đen và viết trên những trang giấy trắng, với những con chữ mang theo nỗi lòng thầm lặng. Lam là nhân vật chính đang viết nên câu chuyện này và đồng thời cô được Thần biển xác nhận là “một người truyền lời”(messenger) cho các linh hồn và Thần biển. Sau khi Lam ngã ở sườn núi, cô được đưa vào không gian mờ ảo nơi cô gặp Thần biển. Sau khi trở về, cô lại gặp bóng dáng một người lính, như muốn cô chứng kiến không gian huyền ảo nào đó của bên kia thế giới. Cô được giao quyền năng ghi chép lại những câu chuyện về các linh hồn mắc kẹt dưới âm phủ (như ông Vương, lão Đạt, Hùng, Mohamed Awad, Richard, Donzefski) – một sứ mệnh được Thần biển giao phó.

Thông qua sự kết hợp giữa hiện thực trần trụi và yếu tố huyền ảo, Phiêu dạt đã tạo nên một không gian độc đáo, nơi các linh hồn mắc kẹt phải đối diện với tòa án lương tâm cuối cùng để tìm kiếm sự siêu thoát.

Có thể nói, tác phẩm đã xây dựng được Không khí và Tính cảm giác. Ngay từ những đoạn mở đầu, tác giả đã thiết lập một không khí ngột ngạt và đầy ám ảnh, tương phản với nội tâm nhân vật và bối cảnh siêu nhiên sắp diễn ra. 

Khi chuyển sang thế giới của các linh hồn, không khí tiếp tục mang màu sắc u ám, trầm uất nhưng tĩnh lặng một cách đáng sợ. 

Tác giả sử dụng hiệu quả các yếu tố cảm giác để nhấn mạnh sự tàn khốc của chiến tranh và sự bấp bênh của các linh hồn.

Thính giác: Tiếng gió rít gào bên tai, tiếng thác nước đổ ào ào che chắn tiếng súng, tiếng la hét và mùi máu tanh nồng nặc. Ngay cả khi đã chết, các linh hồn vẫn bị ám ảnh bởi những âm thanh ấy.

Thị giác: Hình ảnh cây hoa gạo đen sậm, “tựa như một quả cầu màu đen lớn” mọc trơ trọi bên vách núi, cùng với thảm hoa gạo đen kịt dưới chân, trở thành biểu tượng cho cái chết vĩnh hằng và sự cô đơn.

Phiêu dạt nổi bật và hấp dẫn nhờ việc tạo dựng không khí (atmosphere), kết hợp hiện thực và huyền ảo (hiện thực ma thuật). Bút pháp của tác phẩm liên tục đan xen giữa hai mặt phẳng thực tại. Thực tại thứ nhất là cuộc sống của Lam, người đang viết câu chuyện trong căn nhà nhỏ giữa đồi thông Đà Lạt. Thực tại thứ hai là thế giới âm phủ, nơi các linh hồn đang chờ ở cửa luân hồi.

“Phiêu dạt”: Mổ xẻ những vết thương sâu sắc của lịch sử nhân loại - 2

Nhà văn Thương Hà.

Sự chuyển đổi giữa hai thế giới này rất đột ngột và ma mị: Lam bị tiếng gọi bí ẩn lôi kéo, trượt ngã ở sườn núi, và đột nhiên thấy mình ở một không gian “vừa xa lạ lại vừa có gì đó quen thuộc”. Những giấc mơ “hư hư thực thực” của Lam là cầu nối, là sự thôi thúc cô chứng kiến “một thứ gì đó khác của bên kia thế giới”.

Yếu tố huyền ảo đạt đến đỉnh điểm với sự xuất hiện của Thần biển. Vị Thần được tạo ra từ những cơn sóng cuồn cuộn, bệ vệ và uy nghiêm, đóng vai trò là đấng phán xét và là người giao phó sứ mệnh cho Lam.

Bút pháp tiểu thuyết thể hiện rõ nét qua việc sử dụng đối thoại làm công cụ chính để phát triển nội dung và khám phá chiều sâu tâm lý nhân vật. Ngôn ngữ trong các cuộc đối thoại không chỉ là kể chuyện mà còn mang tính lý luận, chất vấn gay gắt, đặc biệt là khi Hùng hay Mohamed Awad đối mặt với Lão Đạt hay Richard.

Các chủ đề triết lý được đưa ra liên tục: Tính tương đối của đúng/sai: “Định nghĩa của đúng hoặc sai chỉ được áp dụng theo thời đại, theo xã hội, theo đất nước hay từng nền văn hóa khác nhau”.

Phiêu dạt sử dụng kết cấu phức tạp, không theo trình tự tuyến tính thông thường mà xoay quanh một điểm hội tụ duy nhất – gốc cây hoa gạo đen sậm – nơi thời gian và không gian dường như bị đình trệ.

Tác phẩm được xây dựng theo hình thức cấu trúc khung. Lam, người viết truyện, là nhân vật thực hiện hành vi kể lại (act of narration). Hành động viết của cô không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà là một sứ mệnh tâm linh: cô là “người truyền lời”, và câu chuyện cô viết sẽ “đưa thế giới này đến với những người trên dương thế kia”. Điều này nâng tầm ý nghĩa của văn chương, biến tiểu thuyết thành một phương tiện để truyền tải thông điệp siêu nhiên và thức tỉnh nhân loại.

Cấu trúc của phần lớn tác phẩm là sự tập hợp các hồi ức cá nhân (episodic narratives). Các linh hồn lần lượt kể lại câu chuyện đời mình, không theo trật tự thời gian nhất định (Hùng xuất hiện trước lão Đạt và ông Vương, nhưng họ là linh hồn “thâm niên” hơn).

Với ông Vương, hồi ức về chiến tranh biên giới và sự dằn vặt khi nhận ra mình có thể là kẻ xâm lược. Với lão Đạt, là hồi ức về tuổi thơ nghèo khó, cảnh tị nạn, những ngày làm lính Việt Nam Cộng hòa, và chuyến vượt biển tìm “miền đất hứa”. Với Hùng là hồi ức về sự nghèo đói hiện tại và bị lừa vào con đường xuất khẩu lao động tử thần. Còn với Mohamed Awad & Donzefski, là hồi ức về chiến tranh ở Trung Đông và Ukraina, sự bất lực khi phải rời xa người thân.

Những hồi ức này không chỉ kể lại quá khứ mà còn là động lực thúc đẩy sự chất vấn và tranh luận ở hiện tại (Limbo), nơi họ cố gắng gỡ rối những khúc mắc cuối cùng của cuộc đời mình.

Chức năng của Đối thoại và Luân hồi của tiểu thuyết khá rõ. Kết cấu tác phẩm được thúc đẩy không phải bằng hành động vật lý mà bằng đối thoại và tranh luận triết lý. Mục đích cuối cùng của các linh hồn là tìm được sự giác ngộ để “rũ bỏ hết mọi suy tư, mọi máu tanh bùn đất” và bước qua cửa luân hồi.

Mỗi cuộc tranh luận (ví dụ: Richard và Mohamed Awad về tiền bạc và giá trị vĩnh hằng; Hùng và lão Đạt về đúng sai và lòng yêu nước), đều là một bước tiến trong quá trình tự giải thoát của nhân vật. Khi nhân vật đạt được sự chấp nhận hay hiểu biết mới (giác ngộ), họ siêu thoát (biến mất, bông hoa gạo đen rơi xuống)… Cấu trúc này nhấn mạnh rằng hòa bình và sự giải thoát chỉ đến từ sự minh triết và chấp nhận sự thật nội tâm.

Các nhân vật trong Phiêu dạt không chỉ là cá thể mà còn là hình tượng đại diện cho những mâu thuẫn xã hội, lịch sử và tâm lý của nhân loại.

Khi các linh hồn biến mất (siêu thoát), họ thường đi kèm với hình ảnh một bông hoa gạo đen sậm rơi xuống đất. Các linh hồn đến được gốc cây gạo đen (nơi có cửa luân hồi) sau khi đi qua một lộ trình dưới âm phủ.

Truyện xây dựng các hình ảnh huyền bí ma mị. Như sương mù và đầm lầy; các linh hồn (như ông Vương) phải vượt qua một đoạn sương mù và sau đó là một cái đầm màu đen ùng ục nước. Ông Vương mô tả đầm lầy này đáng sợ, nước đục ngầu, và phải đi qua sương mù để lần mò tìm đường. Sau khi tìm được đường đi vòng qua đầm lầy, họ đến một cái thung lũng thật lớn hoặc thung lũng toàn xương khô. Thung lũng này đầy những bộ xương trắng xóa nằm la liệt, và linh hồn phải gạt xương ra để có chỗ đặt chân. Ông Vương đã phải hỏi cái đầu lâu ở dưới chân núi (nơi thung lũng xương khô kết thúc). Cái đầu lâu nói rằng cửa luân hồi ở trên vách núi này, đi qua khu rừng sẽ đến cây gạo đen. Cuối cùng, họ băng qua rừng cây rậm rạp mịt mờ u tối để đến khoảng không rộng lớn ngay trước vực thẳm, nơi có cây hoa gạo to lớn đỏ thẫm đen sậm.

Vấn đề cuối cùng, điều kiện để linh hồn có thể bước vào kiếp luân hồi là họ phải rũ bỏ hết mọi vướng mắc, trăn trở, suy tư và chấp nhận sự thật nội tâm về cuộc đời mình. Rũ bỏ vương vấn và chấp niệm, theo như Thần biển, rằng những người vào được cửa luân hồi là bởi họ “không có quá nhiều thứ vương vấn hay những điều còn trăn trở” như những người còn mắc kẹt lại. Các linh hồn cần “tự giác ngộ” để tìm ra cách siêu thoát. Ví dụ như trường hợp của Hùng, cậu cảm thấy “cơ thể mình bỗng nhẹ bẫng đi” sau khi các khúc mắc và trăn trở được giải tỏa. Việc Hùng giác ngộ về tính tương đối của đúng/sai và chấp nhận rằng “kiếp này của tôi không uổng phí” đã giúp cậu siêu thoát. Vấn đề là phải đấu tranh với tư tưởng của bản thân để phân định được đúng và sai là như thế nào, và vấn đề là phải chấp nhận nó, phải tin tưởng vào điều đó chứ không phải cố gắng biến cái sai thành đúng.

Tiểu thuyết Phiêu dạt được nhà văn Thương Hà xây dựng và dùng các văn cảnh tinh xảo, sử dụng bút pháp huyền ảo và ngôn ngữ triết lý sắc bén để tạo nên một kết cấu tiểu thuyết độc đáo. Kết cấu này – nơi các linh hồn mắc kẹt dưới cây hoa gạo đen phải tự kể chuyện và chất vấn lẫn nhau – biến câu chuyện thành một “tòa án lương tâm” kéo dài. Hình ảnh nhân vật được xây dựng không chỉ để kể chuyện đời cá nhân mà còn đại diện cho những mâu thuẫn lớn của thời đại, từ đó truyền tải thông điệp mạnh mẽ về sự cần thiết của sự minh triết, sự chấp nhận sự thật và khát vọng hòa bình chân chính, điều mà Thần biển và Lam (người truyền lời, hay chính là tác giả) muốn gửi gắm đến nhân loại.

Võ Thị Xuân Hà




Nguồn: Arttimes.vn

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc


Sáng 22/4, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (số 51 Trần Hưng Đạo – Hà Nội) Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã có buổi tiếp đón và làm việc với đoàn Văn liên Trung Quốc.

Thực hiện Chương trình giao lưu, hợp tác văn hóa nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc, thúc đẩy kết nối giao lưu nhân dân và thắt chặt tình cảm gắn bó văn hóa giữa hai nước, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Văn liên Trung Quốc tổ chức Triển lãm quốc tế với chủ đề: “Hòa mỹ đồng hành – Nghệ thuật kết nối Con đường Tơ lụa trên biển”. Triển lãm khai mạc vào chiều 22/4/2026 tại Trung tâm Văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội.

Nhân dịp này, đoàn Văn liên Trung Quốc do ông Mạnh Quảng Lộc (Meng Guanglu), Phó Chủ tịch Văn liên Trung Quốc làm trưởng đoàn đã đến thăm, làm việc với lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 1

Quang cảnh buổi làm việc của lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và đoàn Văn liên Trung Quốc.

Đại diện Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tiếp đón đoàn có: PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; NSND Trần Quốc Chiêm, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội; Thiếu tướng, Nhạc sĩ Nguyễn Đức Trịnh, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam; Ông Trần Viết Điệp, Chánh Văn phòng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Bà Nguyễn Thị Hoài Thương, Trưởng Ban Chuyên môn nghiệp vụ Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; TS. Nhà viết kịch Nguyễn Đăng Chương, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam; Nhà báo Ngô Xuân Tiến, Tổng biên tập Tạp chí Tạp chí Mỹ thuật.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 2

Đại diện Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 3

Đoàn Văn liên Trung Quốc.

Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Đỗ Hồng Quân đã gửi lời chào mừng nồng nhiệt tới đoàn Văn liên Trung Quốc. Ông cho rằng, trong bối cảnh giao lưu văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng, cuộc gặp gỡ lần này không chỉ là dịp trao đổi kinh nghiệm mà còn mở ra những hướng đi mới cho hợp tác song phương trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, từ sáng tạo, biểu diễn đến đào tạo, quảng bá.

PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, nhấn mạnh vai trò là mái nhà chung quy tụ đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo, với hệ thống gồm các hội chuyên ngành trung ương và các hội địa phương trải dài trên khắp cả nước. Ông cũng giới thiệu những thế mạnh nổi bật của văn học nghệ thuật Việt Nam, từ bề dày truyền thống, bản sắc đa dạng đến sức sáng tạo đương đại; đồng thời chỉ ra những lĩnh vực giàu tiềm năng có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai.

Nhấn mạnh chiều sâu của mối quan hệ hợp tác, Chủ tịch Liên hiệp cho biết, trong nhiều năm qua, Việt Nam và Trung Quốc đã xây dựng được nền tảng hợp tác bền chặt giữa các tổ chức nghề nghiệp trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Các chương trình giao lưu, trao đổi đoàn, phối hợp tổ chức triển lãm, biểu diễn, cũng như giới thiệu, dịch thuật, đào tạo và quảng bá tác phẩm đã góp phần tạo nên những dấu ấn đáng ghi nhận. Theo ông, những hoạt động này không chỉ thúc đẩy sự giao thoa giữa các nền văn hóa mà còn làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật như một nhịp cầu bền vững trong quan hệ hữu nghị và hợp tác lâu dài.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 4

PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (giữa) phát biểu tại buổi làm việc.

Bày tỏ niềm vinh dự khi được đến thăm và làm việc tại Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, ông Mạnh Quảng Lộc, Phó Chủ tịch Văn liên Trung Quốc nhấn mạnh, chuyến thăm không chỉ mang ý nghĩa giao lưu nghề nghiệp đơn thuần mà còn là dịp để vun đắp thêm tình hữu nghị, tăng cường sự hiểu biết và tin cậy giữa giới văn nghệ sĩ hai nước.

Chia sẻ về triển lãm “Hòa mỹ đồng hành – Nghệ thuật kết nối Con đường Tơ lụa trên biển” được tổ chức tại Việt Nam dịp này, ông Mạnh Quảng Lộc cho biết, đây là một sáng kiến giàu ý nghĩa, hướng tới việc khơi dậy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tạo dựng không gian giao thoa nghệ thuật đương đại giữa các quốc gia trong khu vực. Trong khuôn khổ hoạt động lần này, Văn liên Trung Quốc mong muốn giới thiệu tới bạn bè Việt Nam những tinh hoa tiêu biểu của nghệ thuật Trung Hoa, từ thư pháp, hội họa đến gốm sứ, đây không chỉ là sự chia sẻ mà còn là một cách để nghệ thuật trở thành cầu nối gắn kết, giúp các nền văn hóa xích lại gần nhau hơn.

Ông Mạnh Quảng Lộc và các thành viên Đoàn công tác cũng mong muốn được học hỏi từ chính nền văn hóa Việt Nam – một nền văn hóa giàu truyền thống, đa dạng và giàu sức sống. Đồng thời kỳ vọng, từ nền tảng của sự thấu hiểu và tôn trọng lẫn nhau, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa hai nước sẽ tiếp tục được củng cố, phát triển và ngày càng đi vào chiều sâu.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 5

Ông Mạnh Quảng Lộc, Phó Chủ tịch Văn liên Trung Quốc (thứ ba từ trái qua) phát biểu.

Khép lại buổi làm việc, hai bên thống nhất đánh giá cao ý nghĩa của cuộc gặp gỡ trong việc hợp tác, mở rộng không gian giao lưu và thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật giữa văn nghệ sĩ hai nước. Những trao đổi thẳng thắn, cởi mở không chỉ góp phần làm sâu sắc thêm sự hiểu biết lẫn nhau mà còn gợi mở nhiều hướng hợp tác thiết thực trong thời gian tới.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 6

Văn liên Trung Quốc tặng quà lưu niệm Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 7

Đại diện Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Đỗ Hồng Quân trao quà lưu niệm cho đoàn Văn liên Trung Quốc.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 8

Chuyến thăm của đoàn Văn liên Trung Quốc tại Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã thành công tốt đẹp, góp phần mở ra những bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Trên tinh thần tôn trọng, cầu thị và cùng phát triển, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và Văn liên Trung Quốc bày tỏ tin tưởng rằng, từ những nền tảng đã được vun đắp, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật sẽ tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, đồng thời trở thành nhịp cầu bền vững gắn kết tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Hai thiếu niên phóng như bay, cắt mặt hai xe máy rồi lao thẳng vào nhà dân


Từ trong ngõ lao ra với tốc độ cao, hai thiếu niên khiến nhiều người giật mình khi suýt va chạm xe khác rồi đâm vào nhà dân.




Nguồn: Arttimes.vn

Chiếu 11 bộ phim trong Đợt phim Kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 năm 2026


Đợt phim Kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 25/4 – 23/5 trong phạm vi cả nước.

Đợt phim được tổ chức theo Quyết định số 859/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, do Cục Điện ảnh chủ trì, phối hợp với các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các đơn vị điện ảnh địa phương cùng Tổng công ty Viễn thông Viettel và Trung tâm Dịch vụ Truyền hình TV360 triển khai thực hiện.

Đây là hoạt động văn hóa – điện ảnh có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, thông qua những tác phẩm điện ảnh nhằm giáo dục truyền thống lịch sử, bồi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, niềm tự hào và ý chí tự lực, tự cường dân tộc; khẳng định những thành tựu của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thông qua các tác phẩm điện ảnh được tuyển chọn có chất lượng nghệ thuật cao, nội dung nhân văn và tính giải trí lành mạnh, Đợt phim góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp, phản ánh sinh động đời sống xã hội, lịch sử và truyền thống dân tộc; đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo không khí phấn khởi hướng tới các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước trong năm 2026.

Chiếu 11 bộ phim trong Đợt phim Kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 năm 2026 - 1

Phim truyện: “Địa đạo – Mặt trời trong bóng tối” được lựa chọn chiếu khai mạc.

Theo thông tin từ Cục Điện ảnh, Lễ Khai mạc Đợt phim Kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 năm 2026 sẽ diễn ra tối ngày 25/4, tại Cung Quy hoạch, Hội chợ và Triển lãm tỉnh Quảng Ninh.

Lễ Khai mạc Đợt phim tại Quảng Ninh là một trong những hoạt động mở đầu cho “Tuần văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Quảng Ninh chào hè năm 2026” với chủ đề “Carnaval Hạ Long 2026 – Kỳ quan bừng sáng kỷ nguyên mới”.

Trong khuôn khổ Đợt phim, khán giả trên cả nước sẽ được thưởng thức nhiều tác phẩm điện ảnh phong phú, bao gồm phim truyện, phim tài liệu và phim hoạt hình: “Địa đạo – Mặt trời trong bóng tối” do Công ty Cổ phần sản xuất phim Hoan Khuê sản xuất; phim tài liệu “Theo dấu chân cha” (Công ty Cổ phần truyền thông Vietking sản xuất), “Bác sĩ ở xã đảo” (Công ty Cổ phần Phim Giải Phóng sản xuất), “Cựu binh phố cổ” (Công ty TNHH HDA Phim sản xuất), “Giấy dó cuộc hành trình trở về”,  “Hai chiến tuyến” (Công ty TNHH MTV Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất); phim hoạt hình: “Chú bé loắt choắt”, “Lời hứa Điện Biên”, “Vầng sáng ấm áp”, “Những viên bi sắc màu”, “Poocbaga” (Công ty Cổ phần Hãng phim Hoạt hình Việt Nam sản xuất).

Chiếu 11 bộ phim trong Đợt phim Kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 năm 2026 - 2

“Chú bé loắt choắt” là một trong những bộ phim hoạt hình được chiếu trong Đợt phim.

Bộ phim truyện điện ảnh “Địa đạo – Mặt trời trong bóng tối” được lựa chọn chiếu khai mạc. Tại buổi chiếu sẽ có sự góp mặt của đoàn làm phim và các diễn viên tại sự kiện, tham gia giao lưu cùng khán giả tỉnh Quảng Ninh, góp phần tăng cường sức lan tỏa của điện ảnh cách mạng tới công chúng.

Điểm mới nổi bật của Đợt phim lần này là bên cạnh việc duy trì phương thức chiếu phim lưu động truyền thống, Cục Điện ảnh đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác phát hành, phổ biến phim. Lần đầu tiên, Cục Điện ảnh phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Truyền hình – Tổng Công ty Viễn thông Viettel (TV360) khai thác, phổ biến bộ phim truyện điện ảnh “Địa đạo – Mặt trời trong bóng tối” thông qua nền tảng số TV360, kết nối trực tiếp tới hệ thống chiếu phim lưu động tại các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu 


Tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” (2012) của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu là một tác phẩm đáng chú ý trong văn học về đề tài chiến tranh. Tác phẩm tái hiện chân thực và sinh động kỳ tích lịch sử của bộ đội đường ống xăng dầu Trường Sơn thời kháng chiến chống Mỹ, đồng thời thể hiện rõ nét cảm hứng lãng mạn cách mạng – tức nguồn cảm hứng lạc quan, lý tưởng, hướng về tương lai chiến thắng, giúp con người vượt lên gian khổ ác liệt của cuộc chiến.

Với độ dày hơn 600 trang, “Dòng sông mang lửa” không chỉ là một câu chuyện lịch sử mà còn là bản trường ca bi tráng ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được viết bằng tình cảm tri ân sâu sắc của một người lính trực tiếp trải qua chiến trường. Trong bối cảnh văn học Việt Nam sau 1975 có xu hướng nhìn lại chiến tranh một cách toàn diện, “Dòng sông mang lửa” nổi lên như một công trình vừa chứa đựng tư liệu lịch sử quý giá, vừa thấm đượm cảm hứng lãng mạn tích cực của văn học cách mạng.

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu  - 1

Tác giả Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu phát biểu tại buổi ra mắt tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”

Ngay từ nhan đề “Dòng sông mang lửa”, tác phẩm đã gợi mở hình tượng trung tâm đầy chất sử thi lãng mạn. “Dòng sông lửa” ở đây là ẩn dụ cho tuyến đường ống dẫn xăng dầu xuyên dãy Trường Sơn – một “dòng sông” đặc biệt vận chuyển ngọn lửa của hậu phương ra tiền tuyến. Hình tượng này tượng trưng cho sức mạnh và ý chí cách mạng âm ỉ cháy, sẵn sàng bùng lên vì Tổ quốc. Chính Hồ Sỹ Hậu chia sẻ rằng ông viết cuốn tiểu thuyết này như một món nợ với đồng đội, mong muốn kể lại câu chuyện của mình và đồng đội bằng văn học thay vì những tư liệu khô khan. Kết quả, “Dòng sông mang lửa” đã ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc như một sử thi chân thực về chiến tranh. 

“Dòng sông mang lửa” tái hiện toàn bộ quá trình hình thành và hoạt động của tuyến đường ống xăng dầu chiến lược trên dải Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một đề tài có ý nghĩa lịch sử trọng đại, gắn liền với sự sống còn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc – một đề tài mang đậm khuynh hướng sử thi anh hùng. Tác giả Hồ Sỹ Hậu, nguyên là kỹ sư trực tiếp tham gia thiết kế, thi công đường ống xăng dầu Trường Sơn, đã viết tác phẩm như hồi ức chân thực của chính mình và đồng đội. Bằng trải nghiệm người trong cuộc, ông làm sống lại một thời kỳ lịch sử bi tráng của bộ đội đường ống xăng dầu trên tuyến vận tải chiến lược 559 – Trường Sơn. Tinh thần chủ đạo của tiểu thuyết là sự tri ân, tôn vinh những chiến công và những hy sinh anh dũng của đồng đội – những con người đã “viết nên truyền thống oanh liệt của bộ đội Đường ống xăng dầu, góp phần xứng đáng vào chiến thắng cuối cùng của toàn dân tộc”. Như một nhà phê bình nhận xét, “Dòng sông mang lửa” thực sự là “bản anh hùng ca của bộ đội đường ống xăng dầu trong những năm chiến tranh ác liệt”.

Nội dung tiểu thuyết bao quát chặng đường từ những ngày đầu xây dựng tuyến ống năm 1968 cho tới khi chiến tranh kết thúc 1975. Mạch truyện được tổ chức như một biên niên sử sống động đan xen hồi ức và hiện tại. Khởi đầu, độc giả được dẫn dắt qua những phương thức thô sơ đầu tiên vận chuyển xăng dầu: gùi xăng trong ba-lô với túi ni-lông, vận chuyển bằng thùng phuy… – những cách thức đầy nguy hiểm khiến nhiều chiến sĩ hy sinh vì túi xăng bén lửa hoặc nhiễm độc. Trước yêu cầu bức thiết của chiến trường, một quyết định táo bạo ra đời: xây dựng hệ thống đường ống dẫn xăng dầu xuyên Trường Sơn. Đây chính là “lai lịch của sự hình thành một kỳ tích vào loại vĩ đại nhất của kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: công cuộc vận chuyển xăng từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam”. Tiểu thuyết miêu tả chi tiết toàn bộ quá trình đặt nền móng đầu tiên xây dựng đường ống, vượt qua “mưa bom bão đạn” trên dãy Trường Sơn để dòng xăng dầu thông suốt vào chiến trường. Những trang viết tái hiện chân thực từng chiến dịch lắp đặt đường ống qua địa hình rừng núi trùng điệp, dưới sự đánh phá khốc liệt của không quân Mỹ. Mạch chính của câu chuyện là chuỗi gian truân và hy sinh của người lính – như hình ảnh đầy ám ảnh trong tiểu thuyết: “mỗi phuy xăng qua trọng điểm Trà Ang phải đổi một mạng người”, hay cảnh những chiến sĩ cõng từng can xăng vượt qua trận địa bom bằng ý chí kiên cường. Qua những sự kiện ấy, “Dòng sông mang lửa” khắc họa sâu sắc tính chất ác liệt của chiến tranh và sự phi lý tàn khốc của bom đạn, đồng thời làm nổi bật tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc của các nhân vật.

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu  - 2

Chủ đề tư tưởng của tiểu thuyết là ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng đồng thời phản ánh chân thực cái giá của chiến thắng. Tác giả không né tránh những mất mát đau thương: rất nhiều người lính trẻ đã ngã xuống giữa Trường Sơn, “sự ra đi kiêu hùng” của họ đã góp phần viết nên lịch sử, nhưng phía sau là “tiếng gào khóc của người vợ mất chồng, con mất cha… nỗi đau tận cùng của người cha, người mẹ mất con”.  Bằng giọng văn chiêm nghiệm điềm tĩnh của một chứng nhân lịch sử, Hồ Sỹ Hậu kể lại những năm tháng “gian lao mà cao cả”, vừa ca ngợi hào hùng lại vừa thấm thía đau đớn, xót xa. Nhờ độ lùi thời gian, tác giả mạnh dạn bộc lộ trung thực cả những góc khuất đã trải qua và chứng kiến. Chính vì thế, “Dòng sông mang lửa” đầy ắp tư liệu chân thực như một cuốn thông sử biên niên về bộ đội xăng dầu Trường Sơn được coi như “hiện vật phi vật thể” cho Bảo tàng Chiến tranh, đồng thời là một tác phẩm văn học có giá trị nhân văn sâu sắc. Ngay cả những bi kịch sau chiến tranh cũng được đề cập: nhiều nhân vật trở về mang thương tật, nhiễm chất độc da cam, thậm chí đối mặt những éo le trong đời thường (như một chiến sĩ sau 5 năm biệt tích trở về thì vợ đã có con với người cha ruột – tình huống trớ trêu cho thấy bi kịch của cuộc sống do chiến tranh gây ra. Việc đan cài những chi tiết hiện thực nghiệt ngã này không làm phai mờ cảm hứng lãng mạn của tác phẩm mà trái lại, càng làm nổi bật tầm vóc cao cả của sự hy sinh: chiến thắng đạt được phải trả giá bằng máu và nước mắt, song lý tưởng cách mạng đã giúp con người vượt qua tất cả mất mát riêng tư.

Về nội dung, “Dòng sông mang lửa” đã khẳng định khí phách anh hùng và tinh thần lạc quan cách mạng của con người Việt Nam thời chiến. Tác phẩm giống như một thước phim hoành tráng ghi lại “những huyền thoại” nơi Trường Sơn lửa đạn. Như Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên – nguyên Tư lệnh Đoàn 559 – từng phát biểu: “Nếu gọi đường Hồ Chí Minh là một huyền thoại thì đường ống xăng dầu là huyền thoại trong huyền thoại đó.  Quả thực, tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” đã kể lại câu chuyện về những con người làm nên huyền thoại ấy khắc sâu vào tâm trí người đọc hình ảnh một thế hệ anh hùng tập thể với lý tưởng “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong “Dòng sông mang lửa” được thể hiện qua một loạt các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu mang tính biểu trưng cao. Những hình tượng này vừa mang vẻ đẹp sử thi hoành tráng, vừa gợi cảm xúc lãng mạn, lý tưởng, làm sáng ngời chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Tiêu biểu nhất phải kể đến: hình tượng dòng sông lửa (đường ống xăng dầu Trường Sơn), hình tượng người chiến sĩ cách mạng với tinh thần đồng đội và đức hy sinh, cùng hình tượng tình yêu trong chiến tranh đầy thơ mộng và cao thượng. Bên cạnh đó, tác phẩm còn xây dựng một số hình tượng mang tính phản đề (như những cá nhân yếu đuối, hiện thực mất mát) đan xen, qua đó càng tôn lên ánh sáng của chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. 

    Ngay tên tác phẩm “Dòng sông mang lửa” đã khái quát một hình tượng nghệ thuật xuyên suốt: dòng sông lửa tượng trưng cho dòng xăng dầu nóng bỏng chảy dọc Trường Sơn, chuyên chở sức mạnh và ý chí của hậu phương tới tiền tuyến. Hình tượng này vừa cụ thể vừa giàu chất thơ: một con sông hữu hình nhưng không chở nước mà chở “lửa” – ngọn lửa của nhiên liệu, của khát vọng giải phóng. Trong lời mở đầu tiểu thuyết, tác giả giải thích: “Đó là một dòng sông mang lửa, vì nó sẽ bất chợt bùng cháy khi gặp một tia lửa nhỏ. Vậy mà nó đã vượt qua đỉnh Trường Sơn, qua núi cao, sông sâu, vượt qua mưa bom bão đạn… Dẫu bao người đã ngã xuống, nhưng tuyến đường ống vẫn kiên cường đứng vững… Câu chuyện đó khó tin như một huyền thoại”. Qua đoạn trích này, “dòng sông lửa” hiện lên như một biểu tượng sử thi: dòng chảy mang sức mạnh hủy diệt có thể “bùng cháy” bất cứ lúc nào nhưng đã được ý chí con người chế ngự và dẫn dắt vượt muôn trùng hiểm nguy. Nó cũng là biểu tượng cho ngọn lửa cách mạng luôn âm ỉ cháy và lan tỏa, bất chấp mọi sự tàn phá của kẻ thù. Huyền thoại về đường ống xăng dầu – “huyền thoại trong huyền thoại” của đường mòn Hồ Chí Minh- chính là đỉnh cao của cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tác phẩm. Hình tượng này cho thấy niềm tin mãnh liệt rằng sức mạnh vật chất và tinh thần của cách mạng có thể chiến thắng mọi thử thách khắc nghiệt nhất.

Từ hình tượng cốt lõi ấy, tiểu thuyết triển khai nhiều cảnh tượng hoành tráng, mang tính biểu tượng. Chẳng hạn, cảnh kéo đường ống vượt sông Lam được miêu tả như sau: “Tiếng dô ta dô huầy của đoàn người át cả tiếng máy ô tô… Đoàn người gò lưng kéo… chẳng mấy chốc đoạn ống như con rắn bò dần ra giữa sông… dòng nước càng ra giữa sông càng xiết nên ‘con rắn’ cứ oằn mình về phía hạ lưu”. Hình ảnh đoàn quân đông đảo hợp sức kéo đường ống dưới mưa bom tạo ấn tượng mạnh về sức mạnh cộng đồng và quyết tâm “cướp thời gian” vì nhiệm vụ. Qua nghệ thuật so sánh đường ống như “con rắn khổng lồ” uốn lượn trong dòng nước xiết, tác giả đã xây dựng một biểu tượng sinh động về sức mạnh chế ngự thiên nhiên, chiến thắng kẻ thù của những người lính hậu cần. Đây là vẻ đẹp lãng mạn: những con người bình thường trở nên phi thường, làm nên kỳ tích như cổ tích giữa đời thực. Hình tượng dòng sông lửa và những cảnh lao động tập thể anh hùng toát lên âm hưởng sử thi ngời sáng, góp phần khẳng định chân lý “ý chí con người mạnh hơn sắt thép”.

Hình tượng trung tâm khác của tiểu thuyết là người chiến sĩ cách mạng trên tuyến lửa Trường Sơn – tập thể những con người ở “mũi nhọn của cuộc chiến đấu anh hùng”, mang trong mình lý tưởng vì Tổ quốc. “Dòng sông mang lửa” xây dựng cả một thế hệ nhân vật đồng đều về phẩm chất hy sinh cao cả, hoài bão lớn lao. Họ có thể xuất thân khác nhau – những trí thức trẻ vừa rời ghế nhà trường, những chàng trai cô gái nông thôn hồn nhiên xung phong ra trận, hay những cán bộ quân đội từng trải từ thời chống Pháp – nhưng tất cả được khắc họa với lý tưởng sống cao đẹp và tinh thần tận tụy quên mình. Mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và cộng đồng trong tác phẩm hoàn toàn nhất quán với khuynh hướng sử thi: số phận riêng không tách rời nhiệm vụ chung, mọi niềm vui nỗi buồn cá nhân đều bị lu mờ trước sứ mệnh Tổ quốc. Thế giới nhân vật vì vậy “đồng nhất trong phẩm chất hy sinh cao cả” và “tính cách các nhân vật chủ yếu bộc lộ trong không gian Trường Sơn, trong công việc chiến đấu”. Nói cách khác, “Dòng sông mang lửa” đã lý tưởng hóa hình ảnh người lính cách mạng như những anh hùng tập thể, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, đúng như tinh thần văn học lãng mạn cách mạng giai đoạn 1945-1975.

Tinh thần đồng đội và đồng chí – một biểu hiện cốt lõi của cảm hứng lãng mạn cách mạng – được thể hiện vô cùng xúc động qua nhiều tình huống trong truyện. Tình đồng đội ở đây không chỉ là cùng chung chiến hào, mà còn là sự gắn bó sẻ chia đến mức quên mình vì nhau. Một trong những chi tiết tiêu biểu là khi các chiến sĩ nhường nhau làm nhiệm vụ nguy hiểm, đặc biệt đối với người đồng đội là con một trong gia đình. Tác giả kể rằng giữa nơi “chiến trường máu lửa”, các anh hiểu rõ “có chia sẻ nào cao cả hơn là chia sẻ cái chết”. Trong một phân cảnh, một chiến sĩ sẵn sàng lao vào chỗ hiểm thay bạn mình vì “mày là con một, chết là hết, chúng tao còn có anh, có em, có chết cũng còn người nối dõi”. Lời thoại mộc mạc mà cao quý này là minh chứng hùng hồn cho tinh thần hi sinh vì đồng đội, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng nếu nó cứu sống được người anh em. Hình tượng người lính sẵn sàng “chia sẻ cái chết” cho nhau thật sự mang vẻ đẹp sử thi, thể hiện lý tưởng đồng chí keo sơn của Quân đội Nhân dân Việt Nam – một lý tưởng bắt nguồn từ tình người và lòng yêu nước sâu sắc.

Không chỉ hy sinh tính mạng, những người chỉ huy trong truyện còn hy sinh cả lợi ích, tiện nghi cá nhân vì lính. Các chỉ huy như Lê Trọng, Đông, Đặng Văn Thế được khắc họa vừa dạn dày kinh nghiệm, vừa giàu lòng thương yêu lính như cha với con. Trung đoàn trưởng Lê Trọng sẵn sàng mang phần nhân sâm bổ dưỡng – tiêu chuẩn dành riêng cho cán bộ cao cấp – chia cho anh em lính khảo sát tuyến, vì “mấy cậu làm việc vất vả”. Trung đoàn trưởng Đông thì tặng cả chiếc kèn ắc-mô-ni-ca – niềm vui duy nhất của mình – cho bộ đội giải trí trong rừng sâu. Những chi tiết giàu tính nhân văn này tạc nên hình tượng người lãnh đạo lý tưởng trong văn học cách mạng: hết lòng vì thuộc cấp, chan hòa và hy sinh, xứng đáng là chỗ dựa tinh thần cho chiến sĩ. Đây chính là vẻ đẹp lãng mạn của tình đồng chí, tình quân dân như cá với nước – thứ tình cảm lớn lao đã nuôi dưỡng sức mạnh đoàn kết để chiến thắng kẻ thù.

Ngoài ra, hình tượng người chiến sĩ trong “Dòng sông mang lửa” còn được lý tưởng hóa qua trí tuệ và lòng quả cảm. Họ không chỉ có nhiệt huyết mà còn có trí óc sáng tạo. Chính những kỹ sư trẻ như Ngọc, Quang, Thục… đã nhanh chóng trưởng thành, áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật vào nhiệm vụ chiến đấu, trở thành “những đại diện xứng đáng cho một thế hệ thanh niên trí thức mới được đào tạo… trưởng thành nhanh chóng trong chiến tranh”. Sự kết hợp giữa sức trẻ tri thức và ý chí cách mạng tạo nên hình tượng những “kỹ sư quân sự” vừa lãng mạn vừa hiện thực, góp phần làm nên huyền thoại đường ống. Mặt khác, lòng quả cảm hiện lên qua vô số hành động anh hùng: từ việc vác ống phi 100 vượt đèo dốc, băng qua toạ độ lửa B52, đến việc khắc phục những vụ nổ, cháy xăng kinh hoàng, chấp nhận trả giá bằng sinh mạng. Tiểu thuyết miêu tả: “Mỗi bước đi của các anh đầy rẫy bất trắc: bom từ trường, mìn cài… Rồi thì những vụ nổ xăng, cháy xăng, nhiều khi chỉ vì một sự sơ suất nhỏ mà phải đổi mấy mạng người”. Chính trong hoàn cảnh “ngày nào cũng có người chết” ấy, tinh thần dũng cảm phi thường của người lính càng được tỏa sáng. Có thể nói, hình tượng người chiến sĩ trong “Dòng sông mang lửa” là sự kết tinh của chủ nghĩa yêu nước anh hùng và cảm hứng lãng mạn cách mạng: họ vừa là những con người bình dị có tình cảm đời thường, vừa là những anh hùng mang tầm vóc sử thi, sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân và máu xương cho Tổ quốc.

Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, “Dòng sông mang lửa” còn dành nhiều trang viết trân trọng tình yêu đôi lứa nơi chiến trường. Tình yêu trong tác phẩm được khắc họa như một thứ tình cảm trong sáng, cao thượng và mãnh liệt giữa khói lửa chiến tranh, làm nổi bật chất lãng mạn của cuộc sống người lính. Các mối tình của những nhân vật trẻ như Thục – Khanh, Đỉnh – Lan hiện lên rất đẹp, vừa e ấp tinh tế vừa cháy bỏng thủy chung. Chẳng hạn, nhân vật Ngọc thổ lộ tình cảm với Khanh bằng một giọng điệu đầy nâng niu: “Từ lâu lắm rồi, trong mắt anh, em là một bông hoa tinh khiết, tinh khiết đến mức không ai có thể nỡ làm tổn thương… Vậy mà hôm nay anh đã làm em khó xử… Anh có lỗi với em quá” Ở đây, lời tỏ tình lại trở thành lời xin lỗi vì sợ đã “làm người yêu khó xử” – chi tiết nhỏ nhưng gợi lên biết bao vẻ đẹp dịu dàng, thanh cao trong tâm hồn người lính. Họ sợ ngay cả tình yêu của mình có thể vô tình làm tổn thương người con gái họ trân quý. Chiến tranh càng khốc liệt, tình yêu càng được lý tưởng hóa như một đóa hoa thanh khiết nâng đỡ tâm hồn.

Nỗi nhớ người yêu nơi tiền tuyến cũng được Hồ Sỹ Hậu diễn tả tha thiết không kém thơ ca. Nhân vật trong truyện trải lòng: “Nỗi nhớ người yêu trong chiến tranh nó kỳ lạ lắm. Nỗi nhớ theo anh vào tận đáy con tim, nó không chỉ cho anh cảm thấy bồn chồn, mà nhiều khi anh cảm thấy như có gì đau thắt”. Từ “đau thắt” đã cụ thể hóa cảm giác nhớ nhung trở thành nỗi đau thể chất, cho thấy tình yêu thời chiến mãnh liệt đến nhường nào. Đó không chỉ là nỗi nhớ nhung lãng mạn thông thường, mà còn là niềm đau quặn thắt khi cách xa trong hiểm nguy, không biết người mình yêu sống chết ra sao. Tuy nhiên, vượt lên trên nỗi đau ấy là lời thề thủy chung son sắt: “Anh ở đâu, dù cùng trời cuối đất, em cũng tìm được. Không có bất kỳ ai, bất kỳ cái gì có thể ngăn được em đi tìm anh”. Lời thoại của Lan với Đỉnh mang âm hưởng như lời thề của Thúy Kiều trong văn học cổ điển, nhưng đặt trong hoàn cảnh chiến tranh lại càng lãng mạn và cảm động gấp bội. Nó cho thấy niềm tin tuyệt đối vào tình yêu và khát vọng đoàn tụ, tương đồng với niềm tin vào ngày mai hòa bình của người lính.

Hồ Sỹ Hậu đã khẳng định: chỉ trong khói lửa chiến tranh, tình yêu mới “mang vẻ đẹp trong sáng, cao thượng, thánh thiện như thế”. Thật vậy, tình yêu của thế hệ kháng chiến được lý tưởng hóa như một biểu tượng cho sức sống tinh thần mãnh liệt. Chính những tình cảm riêng tư cao đẹp này góp phần làm dịu bớt sự khốc liệt của chiến trường, tạo nên sự cân bằng về cảm xúc trong tác phẩm. Tình yêu đôi lứa song hành cùng tình yêu Tổ quốc, trở thành động lực giúp con người vượt qua gian khổ. Hình tượng những mối tình thời chiến trong “Dòng sông mang lửa” vừa lãng mạn bay bổng, vừa gắn chặt với hiện thực mất mát, khiến mỗi cuộc chia ly hay đoàn tụ của nhân vật đều để lại dư âm sâu lắng trong lòng độc giả. Có thể nói, tình yêu trong tiểu thuyết của Hồ Sỹ Hậu là minh chứng cho quan niệm “người lính cũng là con người bình dị với những rung động trái tim”, và chính những rung động nhân văn ấy làm nên sức mạnh phi thường giúp họ chịu đựng được tột cùng đau thương.

Mặc dù cảm hứng chủ đạo là lãng mạn, “Dòng sông mang lửa” không hề đơn giản hóa hiện thực chiến tranh. Trái lại, chính những hình tượng mang tính hiện thực đan xen đã làm sâu sắc thêm cảm hứng lãng mạn cách mạng của tác phẩm, giúp thông điệp trở nên thuyết phục và nhân văn hơn. Một trong những hình tượng đáng chú ý là các nhân vật phản diện hoặc yếu đuối thoáng qua – tuy “thấp thoáng mờ nhạt đâu đó” nhưng vẫn có mặt như để tô đậm hơn tương phản sáng – tối của bức tranh chiến tranh. Ví dụ, tiểu thuyết có nhắc đến một trường hợp đào ngũ; song người lính đào ngũ này lại được kể với sự cảm thông và độ lượng chứ không bị lên án gay gắt. Điều đó cho thấy tác giả ý thức rằng trong cuộc chiến ác liệt, không phải ai cũng vững vàng, nhưng những trường hợp như vậy chỉ là thiểu số ngoại lệ và được nhìn nhận bằng cái nhìn nhân văn, không làm lu mờ hình ảnh chung của cả tập thể anh hùng.

Tác phẩm cũng đề cập đến những hạn chế, sai lầm xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, qua đó gián tiếp phê phán một số biểu hiện cứng nhắc của thời kỳ ấy. Chẳng hạn, hình tượng nhân vật Tường là một điểm nhấn: Trung úy Tường, một người chỉ huy kiên cường, gan dạ, đã lập nhiều chiến công, nhưng chỉ vì một vết “không trong” trong lý lịch gia đình mà anh bị xoá tên khỏi Đảng. Giữa chiến trường, đó là nỗi đau “còn hơn bị kỷ luật” đối với anh, bởi nó tước đi danh dự và lý tưởng chính trị của người chiến sĩ. Đến lúc hy sinh, Tường vẫn day dứt: “Tại sao người ta không đánh giá tôi qua sự chiến đấu dũng cảm quên mình… Tại sao lại loại bỏ… một người sẵn sàng hi sinh tính mạng vì Tổ quốc, chỉ vì trong lý lịch của tôi có những người mà tôi chưa bao giờ biết họ”. Lời độc thoại đầy xót xa này cho thấy bi kịch của một người anh hùng bị hiểu lầm và đối xử bất công. Hình tượng Tường gợi nhớ đến những trường hợp có thật trong chiến tranh, khi cách đánh giá con người nặng về lý lịch đã gây tổn thất cho cả cá nhân lẫn tổ chức. Việc đưa chi tiết này vào tiểu thuyết thể hiện tầm nhìn hiện thực của tác giả: ông không né tránh mặt hạn chế “ấu trĩ” của một số người trong một thời, coi đó cũng là sản phẩm tất yếu của lịch sử. Nhưng đồng thời, câu chuyện Tường càng làm nổi bật phẩm chất trung hậu, kiên trung của những người lính thực sự vì nước quên thân – họ chiến đấu không phải để được vinh danh cá nhân, mà vì lý tưởng cộng đồng, nên ngay cả khi bị đối xử oan khuất vẫn tiếp tục cống hiến cho đến phút cuối. Đây chính là sự khẳng định giá trị “nhân chi sơ, tính bản thiện” trong cách nhìn con người của Hồ Sỹ Hậu.

Một hình tượng hiện thực khác mang ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng là nhân vật cán bộ cao cấp vô cảm trước nỗi đau của dân. Tiểu thuyết thuật lại câu chuyện một bà mẹ liệt sĩ bật khóc vì mất con, nhưng vị lãnh đạo lại bảo: “Sao bà lại khóc. Bà phải vui lên chứ, phải phấn khởi vì gia đình mình đã đóng góp một người con cho cách mạng”. Lời lẽ vô tình ấy tuy mang tính khẩu hiệu nhưng hoàn toàn xa lạ với tâm trạng thật của người mẹ mất con. Tác giả bình luận đầy mỉa mai: “Có con hi sinh mà phải ‘phấn khởi’, phải ‘vui’ thì chỉ có ông cán bộ này mà thôi! Có lẽ ông ta chưa có đứa con nào hi sinh ngoài mặt trận để thấm được nỗi đau tận cùng…”. Chi tiết này thể hiện cái nhìn tỉnh táo và nhân bản của Hồ Sỹ Hậu: ông tôn vinh hy sinh, nhưng không chấp nhận lối tuyên truyền giáo điều vô cảm. Sự thật là mất mát trong chiến tranh vô cùng đau đớn, và nước mắt của người mẹ liệt sĩ cũng thiêng liêng như máu của người chiến sĩ nơi chiến trường. Việc phơi bày tính chất phi lý của chiến tranh – khi mà chiến thắng chung phải đánh đổi bằng nỗi đau riêng khôn nguôi – chính là tầng sâu hiện thực khiến cảm hứng lãng mạn trong “Dòng sông mang lửa” thêm phần bi tráng. Tác phẩm ca ngợi lý tưởng nhưng không ru ngủ người đọc, mà thôi thúc họ nhận thức rõ giá trị của hòa bình và trân trọng những hy sinh vô giá đã làm nên hòa bình.

Qua các hình tượng nghệ thuật từ lãng mạn đến hiện thực, “Dòng sông mang lửa” đã tái hiện chân thực “vẻ đẹp của hy sinh, của lòng vị tha, của tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy” nơi những người lính xăng dầu Trường Sơn. Dù đôi chỗ còn thiếu những xung đột kịch tính cá nhân, tiểu thuyết đã bù đắp bằng kịch tính đến từ sự đối đầu giữa ý chí con người và tính ác liệt của chiến tranh. Các hình tượng chính – dòng sông lửa, người chiến sĩ anh hùng, tình đồng đội, tình yêu lý tưởng – kết hợp với những mảng hiện thực đau thương đã tạo nên một bức tranh toàn vẹn vừa hào hùng, vừa xúc động. Chính sự đan xen đó làm nên sức mạnh lay động lòng người của tác phẩm, đúng như nhận định: “Dòng sông mang lửa” “giúp người đọc nhận chân rõ” từng “lớp lang sự kiện, tình huống bối cảnh” của cuộc chiến, từ đó càng thêm tự hào về quá khứ và trân quý giá trị hiện tại.

Tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” ra đời gắn liền với hai bối cảnh: bối cảnh lịch sử chiến tranh (nội dung tác phẩm phản ánh) và bối cảnh xã hội thời điểm sáng tác (những năm đầu thế kỷ 21 khi tác giả hồi tưởng và viết lại). Cả hai bối cảnh này đều tác động sâu sắc đến cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tác phẩm, quyết định góc nhìn và giọng điệu mà Hồ Sỹ Hậu lựa chọn.

Trước hết, bối cảnh lịch sử mà “Dòng sông mang lửa” tái hiện chính là cuộc kháng chiến chống Mỹ 1955-1975, đặc biệt giai đoạn ác liệt cuối thập niên 1960 đầu 1970 khi tuyến đường Trường Sơn trở thành huyết mạch tiếp vận cho chiến trường miền Nam. Giai đoạn này, như lịch sử cho thấy, toàn dân tộc Việt Nam sôi sục ý chí “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Nền văn học cách mạng 1945-1975 cũng vì thế mà đậm đặc khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: mọi tác phẩm đều tập trung ca ngợi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khơi dậy niềm tin tất thắng. Trong hoàn cảnh “sự tồn vong của dân tộc” treo trên sợi tóc, con người không được phép sống cho riêng mình mà phải sống bằng lý tưởng, bằng niềm tin vào tương lai độc lập, tự do. “Dòng sông mang lửa” thấm nhuần tinh thần thời đại đó. Bản thân nhân vật và sự kiện trong truyện đều có tầm vóc “liên quan đến những vấn đề sống còn của cả cộng đồng dân tộc” – cụ thể ở đây là nhiệm vụ vận chuyển xăng dầu, bảo đảm hậu cần cho chiến trường, yếu tố quyết định thành bại của cuộc chiến tranh nhân dân. Các nhân vật chính – từ những người lính trẻ đến các vị chỉ huy – đều tiêu biểu cho tầng lớp anh hùng “sống chết vì Tổ quốc, vì Cách mạng”. Họ hành động với ý thức “nhân danh cộng đồng”, sẵn sàng “hy sinh hạnh phúc cá nhân vì lợi ích chung”. Những phẩm chất như tình đồng chí keo sơn, tình quân dân cá nước, lòng trung thành với Đảng, với lý tưởng độc lập dân tộc… được đề cao như những tình cảm lớn, cảm hứng chủ đạo của văn học sử thi kháng chiến. Trong “Dòng sông mang lửa”, dấu ấn của lý tưởng thời đại thể hiện rõ: nhân vật hầu như không bàn đến chuyện riêng tư hay toan tính cá nhân, mà mọi suy nghĩ, hành động đều xoay quanh nhiệm vụ chung và đồng đội. Điều này cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của bối cảnh lịch sử đến nội dung và cảm hứng tác phẩm – Hồ Sỹ Hậu đã viết nên câu chuyện của thế hệ mình bằng đúng tinh thần mà thế hệ đó đã sống và chiến đấu.

Bối cảnh cụ thể của đơn vị bộ đội xăng dầu Trường Sơn cũng góp phần định hình sắc thái cảm hứng. Có thể nói, chính tính chất đặc thù và kỳ tích của tuyến đường ống xăng dầu đã tạo nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho tác giả. Ngay trong chiến tranh, sự tồn tại của tuyến ống này phần lớn là bí mật; nhiều người lính ở đơn vị khác cũng không biết có một “dòng sông lửa” chảy ngầm trong lòng Trường Sơn. Chỉ đến sau chiến tranh, khi những tư liệu được giải mật, cả xã hội mới sửng sốt trước một công trình đường ống dài hơn 5.000 km từ biên giới phía Bắc vào tới Đông Nam Bộ, vận chuyển hàng vạn tấn xăng dầu an toàn qua “tọa độ lửa”. Đây là một thành tựu kỹ thuật và quân sự vĩ đại, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận là “lập công xuất sắc”. Do đó, việc chọn đề tài này tự thân nó đã mang tính sử thi và lãng mạn, bởi câu chuyện đường ống xăng dầu Trường Sơn chính là một bản anh hùng ca ít người biết đến. Hồ Sỹ Hậu – một nhân chứng tham gia từ đầu đến cuối công trình – hẳn ý thức sâu sắc rằng câu chuyện của đơn vị mình xứng đáng được khắc họa như một huyền thoại. Cảm hứng sáng tác của ông xuất phát từ “tình cảm thuỷ chung da diết với đồng đội, nhất là những người nằm lại chiến trường” và từ trăn trở ấp ủ qua nhiều năm muốn tôn vinh chiến công của họ. Có thể thấy, “Dòng sông mang lửa” được viết ra trước hết như một sự tri ân – “nhằm tri ân những người đã anh dũng hy sinh… máu đào của họ đã viết nên truyền thống oanh liệt” của bộ đội đường ống. Chính động lực cao đẹp đó đã nhuần thấm vào từng trang viết, khiến giọng văn của tác phẩm chân thành, xúc động và lấp lánh lý tưởng.

Thứ hai, bối cảnh xã hội và văn học thời điểm tác phẩm ra đời -đầu thập niên 2010 cũng ảnh hưởng quan trọng đến cách tiếp cận đề tài. Sau chiến tranh vài thập niên, đặc biệt qua thời kỳ Đổi mới (sau 1986), cái nhìn về chiến tranh trong văn học Việt Nam đã cởi mở và đa chiều hơn. Nhiều tác phẩm ra đời trong thời bình không ngại phản ánh những mặt khuất, những hệ lụy đau buồn của chiến tranh mà trước đó ít được nhắc tới. “Dòng sông mang lửa” là sản phẩm của thời kỳ này: tuy vẫn mang âm hưởng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, nhưng tác giả đã tận dụng độ lùi thời gian để “bộc lộ trung thực những gì đã trải qua, đã chứng kiến”. Điều này giải thích vì sao trong tiểu thuyết có những chi tiết phê phán như câu chuyện Tường, chuyện vị lãnh đạo vô cảm và những bi kịch hậu phương, hậu chiến – những chi tiết có thể ít xuất hiện trong văn học thời chiến. Sự điềm tĩnh, tự kiềm chế trong giọng kể của Hồ Sỹ Hậu một phần cũng nhờ ông viết khi đã là một vị tướng về hưu, trải qua nhiều thăng trầm và có cái nhìn nhân sinh sâu sắc. Ông không còn viết với giọng hừng hực tuyên truyền, mà với tâm thế một nhà văn – nhân chứng chiêm nghiệm quá khứ. Tuy vậy, cần nhấn mạnh rằng cảm hứng lãng mạn cách mạng vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm. Dù thời đại đã đổi thay, Hồ Sỹ Hậu vẫn trung thành với cách nhìn nhận “trong vẻ tốt đẹp ‘nhân chi sơ tính bản thiện’”. Ông chủ động kiềm chế những yếu tố ngoại đề -như tâm tư cá nhân ngoài mặt trận để tập trung mô tả các sự kiện Trường Sơn, sợ “lạc đề” khỏi câu chuyện chính. Điều đó có nghĩa là nhà văn vẫn đặt trọng tâm ở bức tranh lý tưởng tập thể hơn là các khía cạnh đời thường. Lý do có thể là ông muốn giữ cho tác phẩm tính thống nhất của một bản hùng ca cách mạng, và cũng là để “dễ tiếp nhận” hơn với đông đảo độc giả – như chính tác giả bày tỏ: ông chọn viết tiểu thuyết thay vì hồi ký khô khan để kể chuyện mình và đồng đội một cách sinh động, truyền cảm hơn. Do đó, ta thấy “Dòng sông mang lửa” kết hợp hài hòa giữa chất sử liệu chân thực và cảm hứng lãng mạn sử thi, đáp ứng cả yêu cầu “đầy đủ và phong phú nhất về bộ đội đường ống xăng dầu” lẫn yêu cầu “dễ tiếp nhận”, lay động lòng người.

Tóm lại, hoàn cảnh lịch sử oanh liệt và bối cảnh sáng tác thuận lợi đã tạo nên “Dòng sông mang lửa” như một tác phẩm kết tinh ý thức sử thi dân tộc và cảm hứng lãng mạn cách mạng thời chống Mỹ. Tác giả Hồ Sỹ Hậu – với trải nghiệm lính chiến và tầm nhìn một vị tướng, một người làm công tác khoa học – đã viết nên tác phẩm bằng tất cả vốn sống phong phú, sự từng trải nhiều cung bậc và sự nhạy cảm tinh tế của mình. Có thể nói, “Dòng sông mang lửa” ra đời vừa đúng lúc xã hội có nhu cầu nhìn lại và tôn vinh những hy sinh thầm lặng, vừa kế thừa được tinh hoa của văn học cách mạng đi trước, lại vừa đón nhận những luồng gió đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Tác phẩm là minh chứng cho việc đề tài chiến tranh vẫn có sức sống mạnh mẽ trong văn học đương đại khi được viết bằng sự chân thành, tri ân và lý tưởng cao đẹp.

Có thể khẳng định “Dòng sông mang lửa” của Hồ Sỹ Hậu là một tiểu thuyết tiêu biểu thể hiện cảm hứng lãng mạn cách mạng một cách sâu sắc và cảm động. Tác phẩm đã thành công trong việc tái hiện một bản hùng ca tập thể về những người lính xăng dầu Trường Sơn – những con người bình dị mà vĩ đại, đã viết nên huyền thoại trên tuyến lửa năm xưa. Thông qua việc phân tích nội dung và các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu, ta thấy rõ chủ nghĩa lãng mạn cách mạng thấm đượm trong từng trang sách: từ hình tượng “dòng sông lửa” mang ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh của ý chí, đến hình tượng người chiến sĩ và tình đồng đội, tình yêu lý tưởng – tất cả đều được khắc họa với vẻ đẹp cao cả, trong sáng, hướng tới lý tưởng chung. Đồng thời, những mảng hiện thực khốc liệt được lồng ghép khéo léo đã làm bật nổi chất bi tráng của cảm hứng lãng mạn, khiến thông điệp tác phẩm thêm phần nhân văn và chân thật.

“Dòng sông mang lửa” không chỉ đóng góp một câu chuyện lịch sử phong phú cho văn học chiến tranh Việt Nam, mà còn gợi lên suy ngẫm về giá trị của sự hy sinh và lòng yêu nước. Đọc tác phẩm, người đọc hôm nay không chỉ tự hào về quá khứ hào hùng, mà còn cảm nhận rõ những mất mát vô bờ mà chiến tranh để lại, từ đó trân trọng hòa bình hơn. Tiểu thuyết của Hồ Sỹ Hậu đã làm tròn sứ mệnh của một chứng nhân lịch sử, đồng thời làm tròn thiên chức của văn học là lay động và nâng đỡ tâm hồn con người. Như nhà phê bình Vũ Quần Phương nhận xét, ngòi bút của Hồ Sỹ Hậu “đã làm trọn phận sự của một chứng nhân lịch sử” và càng lùi xa thời gian, những trang ký ức trung thực ấy càng cho thấy giá trị như “quặng nguyên khai mang đầy đủ trầm tích dữ dội và bi thương của chiến tranh”

Tựu trung, “Dòng sông mang lửa” xứng đáng được coi là một đóng góp xuất sắc của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới trong việc tiếp nối mạch cảm hứng lãng mạn cách mạng. Tác phẩm đã “kể lại câu chuyện về những con người làm nên huyền thoại” bằng ngôn ngữ nghệ thuật giàu hình tượng và cảm xúc. Mười năm, hai mươi năm… và nhiều năm sau nữa, khi đọc lại “Dòng sông mang lửa”, những thế hệ độc giả mới vẫn sẽ tìm thấy ở đó “sự quả cảm, trí óc, những mất mát mà chiến tranh gây ra”, và trên hết là lý tưởng lãng mạn cao đẹp đã giúp cha ông ta chiến thắng kẻ thù. Đó chính là giá trị bền vững làm nên sức sống của tác phẩm này trong nền văn học dân tộc.



Nguồn: Arttimes.vn

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu 


Tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” (2012) của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu là một tác phẩm đáng chú ý trong văn học về đề tài chiến tranh. Tác phẩm tái hiện chân thực và sinh động kỳ tích lịch sử của bộ đội đường ống xăng dầu Trường Sơn thời kháng chiến chống Mỹ, đồng thời thể hiện rõ nét cảm hứng lãng mạn cách mạng – tức nguồn cảm hứng lạc quan, lý tưởng, hướng về tương lai chiến thắng, giúp con người vượt lên gian khổ ác liệt của cuộc chiến.

Với độ dày hơn 600 trang, “Dòng sông mang lửa” không chỉ là một câu chuyện lịch sử mà còn là bản trường ca bi tráng ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được viết bằng tình cảm tri ân sâu sắc của một người lính trực tiếp trải qua chiến trường. Trong bối cảnh văn học Việt Nam sau 1975 có xu hướng nhìn lại chiến tranh một cách toàn diện, “Dòng sông mang lửa” nổi lên như một công trình vừa chứa đựng tư liệu lịch sử quý giá, vừa thấm đượm cảm hứng lãng mạn tích cực của văn học cách mạng.

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu  - 1

Tác giả Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu phát biểu tại buổi ra mắt tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”

Ngay từ nhan đề “Dòng sông mang lửa”, tác phẩm đã gợi mở hình tượng trung tâm đầy chất sử thi lãng mạn. “Dòng sông lửa” ở đây là ẩn dụ cho tuyến đường ống dẫn xăng dầu xuyên dãy Trường Sơn – một “dòng sông” đặc biệt vận chuyển ngọn lửa của hậu phương ra tiền tuyến. Hình tượng này tượng trưng cho sức mạnh và ý chí cách mạng âm ỉ cháy, sẵn sàng bùng lên vì Tổ quốc. Chính Hồ Sỹ Hậu chia sẻ rằng ông viết cuốn tiểu thuyết này như một món nợ với đồng đội, mong muốn kể lại câu chuyện của mình và đồng đội bằng văn học thay vì những tư liệu khô khan. Kết quả, “Dòng sông mang lửa” đã ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc như một sử thi chân thực về chiến tranh. 

“Dòng sông mang lửa” tái hiện toàn bộ quá trình hình thành và hoạt động của tuyến đường ống xăng dầu chiến lược trên dải Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một đề tài có ý nghĩa lịch sử trọng đại, gắn liền với sự sống còn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc – một đề tài mang đậm khuynh hướng sử thi anh hùng. Tác giả Hồ Sỹ Hậu, nguyên là kỹ sư trực tiếp tham gia thiết kế, thi công đường ống xăng dầu Trường Sơn, đã viết tác phẩm như hồi ức chân thực của chính mình và đồng đội. Bằng trải nghiệm người trong cuộc, ông làm sống lại một thời kỳ lịch sử bi tráng của bộ đội đường ống xăng dầu trên tuyến vận tải chiến lược 559 – Trường Sơn. Tinh thần chủ đạo của tiểu thuyết là sự tri ân, tôn vinh những chiến công và những hy sinh anh dũng của đồng đội – những con người đã “viết nên truyền thống oanh liệt của bộ đội Đường ống xăng dầu, góp phần xứng đáng vào chiến thắng cuối cùng của toàn dân tộc”. Như một nhà phê bình nhận xét, “Dòng sông mang lửa” thực sự là “bản anh hùng ca của bộ đội đường ống xăng dầu trong những năm chiến tranh ác liệt”.

Nội dung tiểu thuyết bao quát chặng đường từ những ngày đầu xây dựng tuyến ống năm 1968 cho tới khi chiến tranh kết thúc 1975. Mạch truyện được tổ chức như một biên niên sử sống động đan xen hồi ức và hiện tại. Khởi đầu, độc giả được dẫn dắt qua những phương thức thô sơ đầu tiên vận chuyển xăng dầu: gùi xăng trong ba-lô với túi ni-lông, vận chuyển bằng thùng phuy… – những cách thức đầy nguy hiểm khiến nhiều chiến sĩ hy sinh vì túi xăng bén lửa hoặc nhiễm độc. Trước yêu cầu bức thiết của chiến trường, một quyết định táo bạo ra đời: xây dựng hệ thống đường ống dẫn xăng dầu xuyên Trường Sơn. Đây chính là “lai lịch của sự hình thành một kỳ tích vào loại vĩ đại nhất của kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: công cuộc vận chuyển xăng từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam”. Tiểu thuyết miêu tả chi tiết toàn bộ quá trình đặt nền móng đầu tiên xây dựng đường ống, vượt qua “mưa bom bão đạn” trên dãy Trường Sơn để dòng xăng dầu thông suốt vào chiến trường. Những trang viết tái hiện chân thực từng chiến dịch lắp đặt đường ống qua địa hình rừng núi trùng điệp, dưới sự đánh phá khốc liệt của không quân Mỹ. Mạch chính của câu chuyện là chuỗi gian truân và hy sinh của người lính – như hình ảnh đầy ám ảnh trong tiểu thuyết: “mỗi phuy xăng qua trọng điểm Trà Ang phải đổi một mạng người”, hay cảnh những chiến sĩ cõng từng can xăng vượt qua trận địa bom bằng ý chí kiên cường. Qua những sự kiện ấy, “Dòng sông mang lửa” khắc họa sâu sắc tính chất ác liệt của chiến tranh và sự phi lý tàn khốc của bom đạn, đồng thời làm nổi bật tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc của các nhân vật.

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” của Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu  - 2

Chủ đề tư tưởng của tiểu thuyết là ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng đồng thời phản ánh chân thực cái giá của chiến thắng. Tác giả không né tránh những mất mát đau thương: rất nhiều người lính trẻ đã ngã xuống giữa Trường Sơn, “sự ra đi kiêu hùng” của họ đã góp phần viết nên lịch sử, nhưng phía sau là “tiếng gào khóc của người vợ mất chồng, con mất cha… nỗi đau tận cùng của người cha, người mẹ mất con”.  Bằng giọng văn chiêm nghiệm điềm tĩnh của một chứng nhân lịch sử, Hồ Sỹ Hậu kể lại những năm tháng “gian lao mà cao cả”, vừa ca ngợi hào hùng lại vừa thấm thía đau đớn, xót xa. Nhờ độ lùi thời gian, tác giả mạnh dạn bộc lộ trung thực cả những góc khuất đã trải qua và chứng kiến. Chính vì thế, “Dòng sông mang lửa” đầy ắp tư liệu chân thực như một cuốn thông sử biên niên về bộ đội xăng dầu Trường Sơn được coi như “hiện vật phi vật thể” cho Bảo tàng Chiến tranh, đồng thời là một tác phẩm văn học có giá trị nhân văn sâu sắc. Ngay cả những bi kịch sau chiến tranh cũng được đề cập: nhiều nhân vật trở về mang thương tật, nhiễm chất độc da cam, thậm chí đối mặt những éo le trong đời thường (như một chiến sĩ sau 5 năm biệt tích trở về thì vợ đã có con với người cha ruột – tình huống trớ trêu cho thấy bi kịch của cuộc sống do chiến tranh gây ra. Việc đan cài những chi tiết hiện thực nghiệt ngã này không làm phai mờ cảm hứng lãng mạn của tác phẩm mà trái lại, càng làm nổi bật tầm vóc cao cả của sự hy sinh: chiến thắng đạt được phải trả giá bằng máu và nước mắt, song lý tưởng cách mạng đã giúp con người vượt qua tất cả mất mát riêng tư.

Về nội dung, “Dòng sông mang lửa” đã khẳng định khí phách anh hùng và tinh thần lạc quan cách mạng của con người Việt Nam thời chiến. Tác phẩm giống như một thước phim hoành tráng ghi lại “những huyền thoại” nơi Trường Sơn lửa đạn. Như Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên – nguyên Tư lệnh Đoàn 559 – từng phát biểu: “Nếu gọi đường Hồ Chí Minh là một huyền thoại thì đường ống xăng dầu là huyền thoại trong huyền thoại đó.  Quả thực, tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” đã kể lại câu chuyện về những con người làm nên huyền thoại ấy khắc sâu vào tâm trí người đọc hình ảnh một thế hệ anh hùng tập thể với lý tưởng “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong “Dòng sông mang lửa” được thể hiện qua một loạt các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu mang tính biểu trưng cao. Những hình tượng này vừa mang vẻ đẹp sử thi hoành tráng, vừa gợi cảm xúc lãng mạn, lý tưởng, làm sáng ngời chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Tiêu biểu nhất phải kể đến: hình tượng dòng sông lửa (đường ống xăng dầu Trường Sơn), hình tượng người chiến sĩ cách mạng với tinh thần đồng đội và đức hy sinh, cùng hình tượng tình yêu trong chiến tranh đầy thơ mộng và cao thượng. Bên cạnh đó, tác phẩm còn xây dựng một số hình tượng mang tính phản đề (như những cá nhân yếu đuối, hiện thực mất mát) đan xen, qua đó càng tôn lên ánh sáng của chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. 

    Ngay tên tác phẩm “Dòng sông mang lửa” đã khái quát một hình tượng nghệ thuật xuyên suốt: dòng sông lửa tượng trưng cho dòng xăng dầu nóng bỏng chảy dọc Trường Sơn, chuyên chở sức mạnh và ý chí của hậu phương tới tiền tuyến. Hình tượng này vừa cụ thể vừa giàu chất thơ: một con sông hữu hình nhưng không chở nước mà chở “lửa” – ngọn lửa của nhiên liệu, của khát vọng giải phóng. Trong lời mở đầu tiểu thuyết, tác giả giải thích: “Đó là một dòng sông mang lửa, vì nó sẽ bất chợt bùng cháy khi gặp một tia lửa nhỏ. Vậy mà nó đã vượt qua đỉnh Trường Sơn, qua núi cao, sông sâu, vượt qua mưa bom bão đạn… Dẫu bao người đã ngã xuống, nhưng tuyến đường ống vẫn kiên cường đứng vững… Câu chuyện đó khó tin như một huyền thoại”. Qua đoạn trích này, “dòng sông lửa” hiện lên như một biểu tượng sử thi: dòng chảy mang sức mạnh hủy diệt có thể “bùng cháy” bất cứ lúc nào nhưng đã được ý chí con người chế ngự và dẫn dắt vượt muôn trùng hiểm nguy. Nó cũng là biểu tượng cho ngọn lửa cách mạng luôn âm ỉ cháy và lan tỏa, bất chấp mọi sự tàn phá của kẻ thù. Huyền thoại về đường ống xăng dầu – “huyền thoại trong huyền thoại” của đường mòn Hồ Chí Minh- chính là đỉnh cao của cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tác phẩm. Hình tượng này cho thấy niềm tin mãnh liệt rằng sức mạnh vật chất và tinh thần của cách mạng có thể chiến thắng mọi thử thách khắc nghiệt nhất.

Từ hình tượng cốt lõi ấy, tiểu thuyết triển khai nhiều cảnh tượng hoành tráng, mang tính biểu tượng. Chẳng hạn, cảnh kéo đường ống vượt sông Lam được miêu tả như sau: “Tiếng dô ta dô huầy của đoàn người át cả tiếng máy ô tô… Đoàn người gò lưng kéo… chẳng mấy chốc đoạn ống như con rắn bò dần ra giữa sông… dòng nước càng ra giữa sông càng xiết nên ‘con rắn’ cứ oằn mình về phía hạ lưu”. Hình ảnh đoàn quân đông đảo hợp sức kéo đường ống dưới mưa bom tạo ấn tượng mạnh về sức mạnh cộng đồng và quyết tâm “cướp thời gian” vì nhiệm vụ. Qua nghệ thuật so sánh đường ống như “con rắn khổng lồ” uốn lượn trong dòng nước xiết, tác giả đã xây dựng một biểu tượng sinh động về sức mạnh chế ngự thiên nhiên, chiến thắng kẻ thù của những người lính hậu cần. Đây là vẻ đẹp lãng mạn: những con người bình thường trở nên phi thường, làm nên kỳ tích như cổ tích giữa đời thực. Hình tượng dòng sông lửa và những cảnh lao động tập thể anh hùng toát lên âm hưởng sử thi ngời sáng, góp phần khẳng định chân lý “ý chí con người mạnh hơn sắt thép”.

Hình tượng trung tâm khác của tiểu thuyết là người chiến sĩ cách mạng trên tuyến lửa Trường Sơn – tập thể những con người ở “mũi nhọn của cuộc chiến đấu anh hùng”, mang trong mình lý tưởng vì Tổ quốc. “Dòng sông mang lửa” xây dựng cả một thế hệ nhân vật đồng đều về phẩm chất hy sinh cao cả, hoài bão lớn lao. Họ có thể xuất thân khác nhau – những trí thức trẻ vừa rời ghế nhà trường, những chàng trai cô gái nông thôn hồn nhiên xung phong ra trận, hay những cán bộ quân đội từng trải từ thời chống Pháp – nhưng tất cả được khắc họa với lý tưởng sống cao đẹp và tinh thần tận tụy quên mình. Mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và cộng đồng trong tác phẩm hoàn toàn nhất quán với khuynh hướng sử thi: số phận riêng không tách rời nhiệm vụ chung, mọi niềm vui nỗi buồn cá nhân đều bị lu mờ trước sứ mệnh Tổ quốc. Thế giới nhân vật vì vậy “đồng nhất trong phẩm chất hy sinh cao cả” và “tính cách các nhân vật chủ yếu bộc lộ trong không gian Trường Sơn, trong công việc chiến đấu”. Nói cách khác, “Dòng sông mang lửa” đã lý tưởng hóa hình ảnh người lính cách mạng như những anh hùng tập thể, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, đúng như tinh thần văn học lãng mạn cách mạng giai đoạn 1945-1975.

Tinh thần đồng đội và đồng chí – một biểu hiện cốt lõi của cảm hứng lãng mạn cách mạng – được thể hiện vô cùng xúc động qua nhiều tình huống trong truyện. Tình đồng đội ở đây không chỉ là cùng chung chiến hào, mà còn là sự gắn bó sẻ chia đến mức quên mình vì nhau. Một trong những chi tiết tiêu biểu là khi các chiến sĩ nhường nhau làm nhiệm vụ nguy hiểm, đặc biệt đối với người đồng đội là con một trong gia đình. Tác giả kể rằng giữa nơi “chiến trường máu lửa”, các anh hiểu rõ “có chia sẻ nào cao cả hơn là chia sẻ cái chết”. Trong một phân cảnh, một chiến sĩ sẵn sàng lao vào chỗ hiểm thay bạn mình vì “mày là con một, chết là hết, chúng tao còn có anh, có em, có chết cũng còn người nối dõi”. Lời thoại mộc mạc mà cao quý này là minh chứng hùng hồn cho tinh thần hi sinh vì đồng đội, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng nếu nó cứu sống được người anh em. Hình tượng người lính sẵn sàng “chia sẻ cái chết” cho nhau thật sự mang vẻ đẹp sử thi, thể hiện lý tưởng đồng chí keo sơn của Quân đội Nhân dân Việt Nam – một lý tưởng bắt nguồn từ tình người và lòng yêu nước sâu sắc.

Không chỉ hy sinh tính mạng, những người chỉ huy trong truyện còn hy sinh cả lợi ích, tiện nghi cá nhân vì lính. Các chỉ huy như Lê Trọng, Đông, Đặng Văn Thế được khắc họa vừa dạn dày kinh nghiệm, vừa giàu lòng thương yêu lính như cha với con. Trung đoàn trưởng Lê Trọng sẵn sàng mang phần nhân sâm bổ dưỡng – tiêu chuẩn dành riêng cho cán bộ cao cấp – chia cho anh em lính khảo sát tuyến, vì “mấy cậu làm việc vất vả”. Trung đoàn trưởng Đông thì tặng cả chiếc kèn ắc-mô-ni-ca – niềm vui duy nhất của mình – cho bộ đội giải trí trong rừng sâu. Những chi tiết giàu tính nhân văn này tạc nên hình tượng người lãnh đạo lý tưởng trong văn học cách mạng: hết lòng vì thuộc cấp, chan hòa và hy sinh, xứng đáng là chỗ dựa tinh thần cho chiến sĩ. Đây chính là vẻ đẹp lãng mạn của tình đồng chí, tình quân dân như cá với nước – thứ tình cảm lớn lao đã nuôi dưỡng sức mạnh đoàn kết để chiến thắng kẻ thù.

Ngoài ra, hình tượng người chiến sĩ trong “Dòng sông mang lửa” còn được lý tưởng hóa qua trí tuệ và lòng quả cảm. Họ không chỉ có nhiệt huyết mà còn có trí óc sáng tạo. Chính những kỹ sư trẻ như Ngọc, Quang, Thục… đã nhanh chóng trưởng thành, áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật vào nhiệm vụ chiến đấu, trở thành “những đại diện xứng đáng cho một thế hệ thanh niên trí thức mới được đào tạo… trưởng thành nhanh chóng trong chiến tranh”. Sự kết hợp giữa sức trẻ tri thức và ý chí cách mạng tạo nên hình tượng những “kỹ sư quân sự” vừa lãng mạn vừa hiện thực, góp phần làm nên huyền thoại đường ống. Mặt khác, lòng quả cảm hiện lên qua vô số hành động anh hùng: từ việc vác ống phi 100 vượt đèo dốc, băng qua toạ độ lửa B52, đến việc khắc phục những vụ nổ, cháy xăng kinh hoàng, chấp nhận trả giá bằng sinh mạng. Tiểu thuyết miêu tả: “Mỗi bước đi của các anh đầy rẫy bất trắc: bom từ trường, mìn cài… Rồi thì những vụ nổ xăng, cháy xăng, nhiều khi chỉ vì một sự sơ suất nhỏ mà phải đổi mấy mạng người”. Chính trong hoàn cảnh “ngày nào cũng có người chết” ấy, tinh thần dũng cảm phi thường của người lính càng được tỏa sáng. Có thể nói, hình tượng người chiến sĩ trong “Dòng sông mang lửa” là sự kết tinh của chủ nghĩa yêu nước anh hùng và cảm hứng lãng mạn cách mạng: họ vừa là những con người bình dị có tình cảm đời thường, vừa là những anh hùng mang tầm vóc sử thi, sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân và máu xương cho Tổ quốc.

Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, “Dòng sông mang lửa” còn dành nhiều trang viết trân trọng tình yêu đôi lứa nơi chiến trường. Tình yêu trong tác phẩm được khắc họa như một thứ tình cảm trong sáng, cao thượng và mãnh liệt giữa khói lửa chiến tranh, làm nổi bật chất lãng mạn của cuộc sống người lính. Các mối tình của những nhân vật trẻ như Thục – Khanh, Đỉnh – Lan hiện lên rất đẹp, vừa e ấp tinh tế vừa cháy bỏng thủy chung. Chẳng hạn, nhân vật Ngọc thổ lộ tình cảm với Khanh bằng một giọng điệu đầy nâng niu: “Từ lâu lắm rồi, trong mắt anh, em là một bông hoa tinh khiết, tinh khiết đến mức không ai có thể nỡ làm tổn thương… Vậy mà hôm nay anh đã làm em khó xử… Anh có lỗi với em quá” Ở đây, lời tỏ tình lại trở thành lời xin lỗi vì sợ đã “làm người yêu khó xử” – chi tiết nhỏ nhưng gợi lên biết bao vẻ đẹp dịu dàng, thanh cao trong tâm hồn người lính. Họ sợ ngay cả tình yêu của mình có thể vô tình làm tổn thương người con gái họ trân quý. Chiến tranh càng khốc liệt, tình yêu càng được lý tưởng hóa như một đóa hoa thanh khiết nâng đỡ tâm hồn.

Nỗi nhớ người yêu nơi tiền tuyến cũng được Hồ Sỹ Hậu diễn tả tha thiết không kém thơ ca. Nhân vật trong truyện trải lòng: “Nỗi nhớ người yêu trong chiến tranh nó kỳ lạ lắm. Nỗi nhớ theo anh vào tận đáy con tim, nó không chỉ cho anh cảm thấy bồn chồn, mà nhiều khi anh cảm thấy như có gì đau thắt”. Từ “đau thắt” đã cụ thể hóa cảm giác nhớ nhung trở thành nỗi đau thể chất, cho thấy tình yêu thời chiến mãnh liệt đến nhường nào. Đó không chỉ là nỗi nhớ nhung lãng mạn thông thường, mà còn là niềm đau quặn thắt khi cách xa trong hiểm nguy, không biết người mình yêu sống chết ra sao. Tuy nhiên, vượt lên trên nỗi đau ấy là lời thề thủy chung son sắt: “Anh ở đâu, dù cùng trời cuối đất, em cũng tìm được. Không có bất kỳ ai, bất kỳ cái gì có thể ngăn được em đi tìm anh”. Lời thoại của Lan với Đỉnh mang âm hưởng như lời thề của Thúy Kiều trong văn học cổ điển, nhưng đặt trong hoàn cảnh chiến tranh lại càng lãng mạn và cảm động gấp bội. Nó cho thấy niềm tin tuyệt đối vào tình yêu và khát vọng đoàn tụ, tương đồng với niềm tin vào ngày mai hòa bình của người lính.

Hồ Sỹ Hậu đã khẳng định: chỉ trong khói lửa chiến tranh, tình yêu mới “mang vẻ đẹp trong sáng, cao thượng, thánh thiện như thế”. Thật vậy, tình yêu của thế hệ kháng chiến được lý tưởng hóa như một biểu tượng cho sức sống tinh thần mãnh liệt. Chính những tình cảm riêng tư cao đẹp này góp phần làm dịu bớt sự khốc liệt của chiến trường, tạo nên sự cân bằng về cảm xúc trong tác phẩm. Tình yêu đôi lứa song hành cùng tình yêu Tổ quốc, trở thành động lực giúp con người vượt qua gian khổ. Hình tượng những mối tình thời chiến trong “Dòng sông mang lửa” vừa lãng mạn bay bổng, vừa gắn chặt với hiện thực mất mát, khiến mỗi cuộc chia ly hay đoàn tụ của nhân vật đều để lại dư âm sâu lắng trong lòng độc giả. Có thể nói, tình yêu trong tiểu thuyết của Hồ Sỹ Hậu là minh chứng cho quan niệm “người lính cũng là con người bình dị với những rung động trái tim”, và chính những rung động nhân văn ấy làm nên sức mạnh phi thường giúp họ chịu đựng được tột cùng đau thương.

Mặc dù cảm hứng chủ đạo là lãng mạn, “Dòng sông mang lửa” không hề đơn giản hóa hiện thực chiến tranh. Trái lại, chính những hình tượng mang tính hiện thực đan xen đã làm sâu sắc thêm cảm hứng lãng mạn cách mạng của tác phẩm, giúp thông điệp trở nên thuyết phục và nhân văn hơn. Một trong những hình tượng đáng chú ý là các nhân vật phản diện hoặc yếu đuối thoáng qua – tuy “thấp thoáng mờ nhạt đâu đó” nhưng vẫn có mặt như để tô đậm hơn tương phản sáng – tối của bức tranh chiến tranh. Ví dụ, tiểu thuyết có nhắc đến một trường hợp đào ngũ; song người lính đào ngũ này lại được kể với sự cảm thông và độ lượng chứ không bị lên án gay gắt. Điều đó cho thấy tác giả ý thức rằng trong cuộc chiến ác liệt, không phải ai cũng vững vàng, nhưng những trường hợp như vậy chỉ là thiểu số ngoại lệ và được nhìn nhận bằng cái nhìn nhân văn, không làm lu mờ hình ảnh chung của cả tập thể anh hùng.

Tác phẩm cũng đề cập đến những hạn chế, sai lầm xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, qua đó gián tiếp phê phán một số biểu hiện cứng nhắc của thời kỳ ấy. Chẳng hạn, hình tượng nhân vật Tường là một điểm nhấn: Trung úy Tường, một người chỉ huy kiên cường, gan dạ, đã lập nhiều chiến công, nhưng chỉ vì một vết “không trong” trong lý lịch gia đình mà anh bị xoá tên khỏi Đảng. Giữa chiến trường, đó là nỗi đau “còn hơn bị kỷ luật” đối với anh, bởi nó tước đi danh dự và lý tưởng chính trị của người chiến sĩ. Đến lúc hy sinh, Tường vẫn day dứt: “Tại sao người ta không đánh giá tôi qua sự chiến đấu dũng cảm quên mình… Tại sao lại loại bỏ… một người sẵn sàng hi sinh tính mạng vì Tổ quốc, chỉ vì trong lý lịch của tôi có những người mà tôi chưa bao giờ biết họ”. Lời độc thoại đầy xót xa này cho thấy bi kịch của một người anh hùng bị hiểu lầm và đối xử bất công. Hình tượng Tường gợi nhớ đến những trường hợp có thật trong chiến tranh, khi cách đánh giá con người nặng về lý lịch đã gây tổn thất cho cả cá nhân lẫn tổ chức. Việc đưa chi tiết này vào tiểu thuyết thể hiện tầm nhìn hiện thực của tác giả: ông không né tránh mặt hạn chế “ấu trĩ” của một số người trong một thời, coi đó cũng là sản phẩm tất yếu của lịch sử. Nhưng đồng thời, câu chuyện Tường càng làm nổi bật phẩm chất trung hậu, kiên trung của những người lính thực sự vì nước quên thân – họ chiến đấu không phải để được vinh danh cá nhân, mà vì lý tưởng cộng đồng, nên ngay cả khi bị đối xử oan khuất vẫn tiếp tục cống hiến cho đến phút cuối. Đây chính là sự khẳng định giá trị “nhân chi sơ, tính bản thiện” trong cách nhìn con người của Hồ Sỹ Hậu.

Một hình tượng hiện thực khác mang ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng là nhân vật cán bộ cao cấp vô cảm trước nỗi đau của dân. Tiểu thuyết thuật lại câu chuyện một bà mẹ liệt sĩ bật khóc vì mất con, nhưng vị lãnh đạo lại bảo: “Sao bà lại khóc. Bà phải vui lên chứ, phải phấn khởi vì gia đình mình đã đóng góp một người con cho cách mạng”. Lời lẽ vô tình ấy tuy mang tính khẩu hiệu nhưng hoàn toàn xa lạ với tâm trạng thật của người mẹ mất con. Tác giả bình luận đầy mỉa mai: “Có con hi sinh mà phải ‘phấn khởi’, phải ‘vui’ thì chỉ có ông cán bộ này mà thôi! Có lẽ ông ta chưa có đứa con nào hi sinh ngoài mặt trận để thấm được nỗi đau tận cùng…”. Chi tiết này thể hiện cái nhìn tỉnh táo và nhân bản của Hồ Sỹ Hậu: ông tôn vinh hy sinh, nhưng không chấp nhận lối tuyên truyền giáo điều vô cảm. Sự thật là mất mát trong chiến tranh vô cùng đau đớn, và nước mắt của người mẹ liệt sĩ cũng thiêng liêng như máu của người chiến sĩ nơi chiến trường. Việc phơi bày tính chất phi lý của chiến tranh – khi mà chiến thắng chung phải đánh đổi bằng nỗi đau riêng khôn nguôi – chính là tầng sâu hiện thực khiến cảm hứng lãng mạn trong “Dòng sông mang lửa” thêm phần bi tráng. Tác phẩm ca ngợi lý tưởng nhưng không ru ngủ người đọc, mà thôi thúc họ nhận thức rõ giá trị của hòa bình và trân trọng những hy sinh vô giá đã làm nên hòa bình.

Qua các hình tượng nghệ thuật từ lãng mạn đến hiện thực, “Dòng sông mang lửa” đã tái hiện chân thực “vẻ đẹp của hy sinh, của lòng vị tha, của tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy” nơi những người lính xăng dầu Trường Sơn. Dù đôi chỗ còn thiếu những xung đột kịch tính cá nhân, tiểu thuyết đã bù đắp bằng kịch tính đến từ sự đối đầu giữa ý chí con người và tính ác liệt của chiến tranh. Các hình tượng chính – dòng sông lửa, người chiến sĩ anh hùng, tình đồng đội, tình yêu lý tưởng – kết hợp với những mảng hiện thực đau thương đã tạo nên một bức tranh toàn vẹn vừa hào hùng, vừa xúc động. Chính sự đan xen đó làm nên sức mạnh lay động lòng người của tác phẩm, đúng như nhận định: “Dòng sông mang lửa” “giúp người đọc nhận chân rõ” từng “lớp lang sự kiện, tình huống bối cảnh” của cuộc chiến, từ đó càng thêm tự hào về quá khứ và trân quý giá trị hiện tại.

Tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa” ra đời gắn liền với hai bối cảnh: bối cảnh lịch sử chiến tranh (nội dung tác phẩm phản ánh) và bối cảnh xã hội thời điểm sáng tác (những năm đầu thế kỷ 21 khi tác giả hồi tưởng và viết lại). Cả hai bối cảnh này đều tác động sâu sắc đến cảm hứng lãng mạn cách mạng trong tác phẩm, quyết định góc nhìn và giọng điệu mà Hồ Sỹ Hậu lựa chọn.

Trước hết, bối cảnh lịch sử mà “Dòng sông mang lửa” tái hiện chính là cuộc kháng chiến chống Mỹ 1955-1975, đặc biệt giai đoạn ác liệt cuối thập niên 1960 đầu 1970 khi tuyến đường Trường Sơn trở thành huyết mạch tiếp vận cho chiến trường miền Nam. Giai đoạn này, như lịch sử cho thấy, toàn dân tộc Việt Nam sôi sục ý chí “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Nền văn học cách mạng 1945-1975 cũng vì thế mà đậm đặc khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: mọi tác phẩm đều tập trung ca ngợi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khơi dậy niềm tin tất thắng. Trong hoàn cảnh “sự tồn vong của dân tộc” treo trên sợi tóc, con người không được phép sống cho riêng mình mà phải sống bằng lý tưởng, bằng niềm tin vào tương lai độc lập, tự do. “Dòng sông mang lửa” thấm nhuần tinh thần thời đại đó. Bản thân nhân vật và sự kiện trong truyện đều có tầm vóc “liên quan đến những vấn đề sống còn của cả cộng đồng dân tộc” – cụ thể ở đây là nhiệm vụ vận chuyển xăng dầu, bảo đảm hậu cần cho chiến trường, yếu tố quyết định thành bại của cuộc chiến tranh nhân dân. Các nhân vật chính – từ những người lính trẻ đến các vị chỉ huy – đều tiêu biểu cho tầng lớp anh hùng “sống chết vì Tổ quốc, vì Cách mạng”. Họ hành động với ý thức “nhân danh cộng đồng”, sẵn sàng “hy sinh hạnh phúc cá nhân vì lợi ích chung”. Những phẩm chất như tình đồng chí keo sơn, tình quân dân cá nước, lòng trung thành với Đảng, với lý tưởng độc lập dân tộc… được đề cao như những tình cảm lớn, cảm hứng chủ đạo của văn học sử thi kháng chiến. Trong “Dòng sông mang lửa”, dấu ấn của lý tưởng thời đại thể hiện rõ: nhân vật hầu như không bàn đến chuyện riêng tư hay toan tính cá nhân, mà mọi suy nghĩ, hành động đều xoay quanh nhiệm vụ chung và đồng đội. Điều này cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của bối cảnh lịch sử đến nội dung và cảm hứng tác phẩm – Hồ Sỹ Hậu đã viết nên câu chuyện của thế hệ mình bằng đúng tinh thần mà thế hệ đó đã sống và chiến đấu.

Bối cảnh cụ thể của đơn vị bộ đội xăng dầu Trường Sơn cũng góp phần định hình sắc thái cảm hứng. Có thể nói, chính tính chất đặc thù và kỳ tích của tuyến đường ống xăng dầu đã tạo nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho tác giả. Ngay trong chiến tranh, sự tồn tại của tuyến ống này phần lớn là bí mật; nhiều người lính ở đơn vị khác cũng không biết có một “dòng sông lửa” chảy ngầm trong lòng Trường Sơn. Chỉ đến sau chiến tranh, khi những tư liệu được giải mật, cả xã hội mới sửng sốt trước một công trình đường ống dài hơn 5.000 km từ biên giới phía Bắc vào tới Đông Nam Bộ, vận chuyển hàng vạn tấn xăng dầu an toàn qua “tọa độ lửa”. Đây là một thành tựu kỹ thuật và quân sự vĩ đại, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận là “lập công xuất sắc”. Do đó, việc chọn đề tài này tự thân nó đã mang tính sử thi và lãng mạn, bởi câu chuyện đường ống xăng dầu Trường Sơn chính là một bản anh hùng ca ít người biết đến. Hồ Sỹ Hậu – một nhân chứng tham gia từ đầu đến cuối công trình – hẳn ý thức sâu sắc rằng câu chuyện của đơn vị mình xứng đáng được khắc họa như một huyền thoại. Cảm hứng sáng tác của ông xuất phát từ “tình cảm thuỷ chung da diết với đồng đội, nhất là những người nằm lại chiến trường” và từ trăn trở ấp ủ qua nhiều năm muốn tôn vinh chiến công của họ. Có thể thấy, “Dòng sông mang lửa” được viết ra trước hết như một sự tri ân – “nhằm tri ân những người đã anh dũng hy sinh… máu đào của họ đã viết nên truyền thống oanh liệt” của bộ đội đường ống. Chính động lực cao đẹp đó đã nhuần thấm vào từng trang viết, khiến giọng văn của tác phẩm chân thành, xúc động và lấp lánh lý tưởng.

Thứ hai, bối cảnh xã hội và văn học thời điểm tác phẩm ra đời -đầu thập niên 2010 cũng ảnh hưởng quan trọng đến cách tiếp cận đề tài. Sau chiến tranh vài thập niên, đặc biệt qua thời kỳ Đổi mới (sau 1986), cái nhìn về chiến tranh trong văn học Việt Nam đã cởi mở và đa chiều hơn. Nhiều tác phẩm ra đời trong thời bình không ngại phản ánh những mặt khuất, những hệ lụy đau buồn của chiến tranh mà trước đó ít được nhắc tới. “Dòng sông mang lửa” là sản phẩm của thời kỳ này: tuy vẫn mang âm hưởng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, nhưng tác giả đã tận dụng độ lùi thời gian để “bộc lộ trung thực những gì đã trải qua, đã chứng kiến”. Điều này giải thích vì sao trong tiểu thuyết có những chi tiết phê phán như câu chuyện Tường, chuyện vị lãnh đạo vô cảm và những bi kịch hậu phương, hậu chiến – những chi tiết có thể ít xuất hiện trong văn học thời chiến. Sự điềm tĩnh, tự kiềm chế trong giọng kể của Hồ Sỹ Hậu một phần cũng nhờ ông viết khi đã là một vị tướng về hưu, trải qua nhiều thăng trầm và có cái nhìn nhân sinh sâu sắc. Ông không còn viết với giọng hừng hực tuyên truyền, mà với tâm thế một nhà văn – nhân chứng chiêm nghiệm quá khứ. Tuy vậy, cần nhấn mạnh rằng cảm hứng lãng mạn cách mạng vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm. Dù thời đại đã đổi thay, Hồ Sỹ Hậu vẫn trung thành với cách nhìn nhận “trong vẻ tốt đẹp ‘nhân chi sơ tính bản thiện’”. Ông chủ động kiềm chế những yếu tố ngoại đề -như tâm tư cá nhân ngoài mặt trận để tập trung mô tả các sự kiện Trường Sơn, sợ “lạc đề” khỏi câu chuyện chính. Điều đó có nghĩa là nhà văn vẫn đặt trọng tâm ở bức tranh lý tưởng tập thể hơn là các khía cạnh đời thường. Lý do có thể là ông muốn giữ cho tác phẩm tính thống nhất của một bản hùng ca cách mạng, và cũng là để “dễ tiếp nhận” hơn với đông đảo độc giả – như chính tác giả bày tỏ: ông chọn viết tiểu thuyết thay vì hồi ký khô khan để kể chuyện mình và đồng đội một cách sinh động, truyền cảm hơn. Do đó, ta thấy “Dòng sông mang lửa” kết hợp hài hòa giữa chất sử liệu chân thực và cảm hứng lãng mạn sử thi, đáp ứng cả yêu cầu “đầy đủ và phong phú nhất về bộ đội đường ống xăng dầu” lẫn yêu cầu “dễ tiếp nhận”, lay động lòng người.

Tóm lại, hoàn cảnh lịch sử oanh liệt và bối cảnh sáng tác thuận lợi đã tạo nên “Dòng sông mang lửa” như một tác phẩm kết tinh ý thức sử thi dân tộc và cảm hứng lãng mạn cách mạng thời chống Mỹ. Tác giả Hồ Sỹ Hậu – với trải nghiệm lính chiến và tầm nhìn một vị tướng, một người làm công tác khoa học – đã viết nên tác phẩm bằng tất cả vốn sống phong phú, sự từng trải nhiều cung bậc và sự nhạy cảm tinh tế của mình. Có thể nói, “Dòng sông mang lửa” ra đời vừa đúng lúc xã hội có nhu cầu nhìn lại và tôn vinh những hy sinh thầm lặng, vừa kế thừa được tinh hoa của văn học cách mạng đi trước, lại vừa đón nhận những luồng gió đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Tác phẩm là minh chứng cho việc đề tài chiến tranh vẫn có sức sống mạnh mẽ trong văn học đương đại khi được viết bằng sự chân thành, tri ân và lý tưởng cao đẹp.

Có thể khẳng định “Dòng sông mang lửa” của Hồ Sỹ Hậu là một tiểu thuyết tiêu biểu thể hiện cảm hứng lãng mạn cách mạng một cách sâu sắc và cảm động. Tác phẩm đã thành công trong việc tái hiện một bản hùng ca tập thể về những người lính xăng dầu Trường Sơn – những con người bình dị mà vĩ đại, đã viết nên huyền thoại trên tuyến lửa năm xưa. Thông qua việc phân tích nội dung và các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu, ta thấy rõ chủ nghĩa lãng mạn cách mạng thấm đượm trong từng trang sách: từ hình tượng “dòng sông lửa” mang ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh của ý chí, đến hình tượng người chiến sĩ và tình đồng đội, tình yêu lý tưởng – tất cả đều được khắc họa với vẻ đẹp cao cả, trong sáng, hướng tới lý tưởng chung. Đồng thời, những mảng hiện thực khốc liệt được lồng ghép khéo léo đã làm bật nổi chất bi tráng của cảm hứng lãng mạn, khiến thông điệp tác phẩm thêm phần nhân văn và chân thật.

“Dòng sông mang lửa” không chỉ đóng góp một câu chuyện lịch sử phong phú cho văn học chiến tranh Việt Nam, mà còn gợi lên suy ngẫm về giá trị của sự hy sinh và lòng yêu nước. Đọc tác phẩm, người đọc hôm nay không chỉ tự hào về quá khứ hào hùng, mà còn cảm nhận rõ những mất mát vô bờ mà chiến tranh để lại, từ đó trân trọng hòa bình hơn. Tiểu thuyết của Hồ Sỹ Hậu đã làm tròn sứ mệnh của một chứng nhân lịch sử, đồng thời làm tròn thiên chức của văn học là lay động và nâng đỡ tâm hồn con người. Như nhà phê bình Vũ Quần Phương nhận xét, ngòi bút của Hồ Sỹ Hậu “đã làm trọn phận sự của một chứng nhân lịch sử” và càng lùi xa thời gian, những trang ký ức trung thực ấy càng cho thấy giá trị như “quặng nguyên khai mang đầy đủ trầm tích dữ dội và bi thương của chiến tranh”

Tựu trung, “Dòng sông mang lửa” xứng đáng được coi là một đóng góp xuất sắc của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới trong việc tiếp nối mạch cảm hứng lãng mạn cách mạng. Tác phẩm đã “kể lại câu chuyện về những con người làm nên huyền thoại” bằng ngôn ngữ nghệ thuật giàu hình tượng và cảm xúc. Mười năm, hai mươi năm… và nhiều năm sau nữa, khi đọc lại “Dòng sông mang lửa”, những thế hệ độc giả mới vẫn sẽ tìm thấy ở đó “sự quả cảm, trí óc, những mất mát mà chiến tranh gây ra”, và trên hết là lý tưởng lãng mạn cao đẹp đã giúp cha ông ta chiến thắng kẻ thù. Đó chính là giá trị bền vững làm nên sức sống của tác phẩm này trong nền văn học dân tộc.



Nguồn: Arttimes.vn

Toyota Corolla Cross sắp có thêm phiên bản 7 chỗ


Toyota Corolla Cross có thể sắp được nâng cấp lên bản 7 chỗ, lấn sâu sang phân khúc SUV gia đình.

Toyota đang lên kế hoạch mở rộng đáng kể dải sản phẩm của Corolla Cross khi mẫu SUV này được cho là sẽ có thêm biến thể 7 chỗ, dự kiến ra mắt tại thị trường Ấn Độ trong giai đoạn 2028–2029. Đây là bước đi được đánh giá nhằm tăng sức cạnh tranh của hãng Nhật trong phân khúc SUV gia đình đang tăng trưởng nhanh tại quốc gia đông dân nhất thế giới.

Toyota Corolla Cross sắp có thêm phiên bản 7 chỗ - 1

Bản dựng Toyota Corolla Cross biến thể 7 chỗ. Ảnh: Rushlane

Theo các nguồn tin từ truyền thông quốc tế như Cartoq, dự án này từng được nghiên cứu trước đó nhưng bị tạm dừng do chưa đạt kỳ vọng về hiệu quả thương mại. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu xe 7 chỗ cỡ trung ngày càng lớn, Toyota đã tái khởi động kế hoạch, đồng thời xem đây là một phần quan trọng trong chiến lược mở rộng sản xuất và tối ưu danh mục sản phẩm tại Ấn Độ.

Điểm thay đổi đáng chú ý nhất trên Corolla Cross phiên bản mới nằm ở cấu hình chỗ ngồi. Thay vì 5 chỗ như hiện tại, xe sẽ được phát triển thành 7 chỗ bằng cách kéo dài trục cơ sở thêm khoảng 150 mm để bổ sung hàng ghế thứ ba. Việc này không chỉ giúp tăng không gian sử dụng mà còn đặt ra nhiều thách thức kỹ thuật, góp phần khiến thời điểm ra mắt bị lùi đến cuối thập kỷ.

Về nền tảng, mẫu SUV này nhiều khả năng vẫn sử dụng kiến trúc TNGA-C, vốn đang được áp dụng trên các dòng như Toyota Innova Cross. Đi cùng đó là hệ truyền động hybrid kết hợp động cơ xăng 2.0L và mô-tơ điện, hướng tới khả năng tiết kiệm nhiên liệu – yếu tố ngày càng quan trọng với người dùng tại Ấn Độ. Toyota cũng được cho là sẽ đẩy mạnh nội địa hóa sản xuất động cơ và linh kiện để tối ưu chi phí và tăng khả năng cạnh tranh.

Toyota Corolla Cross sắp có thêm phiên bản 7 chỗ - 2

Bản dựng nội thất Toyota Corolla Cross biến thể 7 chỗ. Ảnh: Rushlane

Nếu ra mắt đúng kế hoạch, Corolla Cross 7 chỗ sẽ được định vị nằm giữa các mẫu như Toyota Urban Cruiser Hyryder và Toyota Fortuner trong danh mục sản phẩm của Toyota tại Ấn Độ. Mẫu xe này được kỳ vọng cạnh tranh trực tiếp với những đối thủ như Hyundai Tucson, Mahindra XUV700 hay Tata Safari, hướng đến nhóm khách hàng gia đình cần không gian rộng nhưng vẫn ưu tiên vận hành tiết kiệm.

Dù còn vài năm nữa mới chính thức xuất hiện, kế hoạch phát triển Corolla Cross 7 chỗ cho thấy rõ định hướng của Toyota trong việc mở rộng danh mục SUV hybrid và tận dụng sức mạnh thương hiệu Corolla. Đây cũng được xem là bước đi chiến lược nhằm củng cố vị thế của hãng trong cuộc đua SUV gia đình đang ngày càng khốc liệt tại các thị trường mới nổi.



Nguồn: Arttimes.vn