Home Blog Page 27

Kết nối di sản, tạo nên giá trị mới phải bằng sáng tạo


Cuối tuần qua, tại Hà Nội, Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học “Kết nối, phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới”.

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam – PGS.TS Đỗ Hồng Quân; nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Minh; nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc; nguyên Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Quang Vĩnh, đã tham dự Hội thảo. NSND Vương Duy Biên – nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam (VCIDA) chủ trì hội thảo.

Kết nối di sản, tạo nên giá trị mới phải bằng sáng tạo - 1

Quang cảnh Hội thảo

Hội thảo thu hút sự có mặt của đại diện cơ quan chức năng đến  từ các Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao; các nhà nghiên cứu văn hóa, đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch, văn hóa… Hội thảo đã có 10 báo cáo và ý kiến tham luận.

Làm “mới” giá trị di sản văn hóa

Việt Nam là đất nước văn hóa, giàu về di sản văn hóa trong đó có di sản vật thể, phi vật thể và tư liệu. Cho đến nay, đã được UNESCO công nhận 8 di sản văn hóa vật thể, 16 di sản văn hóa phi vật thể, 11 di sản tư liệu (gồm 3 di sản tư liệu thế giới, 8 di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương). 

Các di sản văn hóa nằm ở nhiều địa phương khác nhau và phản ánh lịch sử, nghệ thuật và bản sắc dân tộc độc đáo, đáng tự hào của Việt Nam. Vấn đề là kết nối, phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới như thế nào?

Trong phát biểu của mình, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, PGS.TS Đỗ Hồng Quân nhận định, di sản văn hóa là tài sản vô giá, vô tận, càng khai thác, phát huy giá trị càng sinh lời. “Di sản văn hóa không chỉ là tài sản mà phải hiểu là một đối tượng, nếu chúng ta biết cách khai thác thì nó sẽ đi cùng cuộc sống, làm giàu cho cuộc sống và góp phần phát triển đất nước”, ông khẳng định và nêu các gợi ý về phát triển công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực, nhất là âm nhạc.

Kết nối di sản, tạo nên giá trị mới phải bằng sáng tạo - 2

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, PGS.TS Đỗ Hồng Quân nhận định, di sản văn hóa là tài sản vô giá, vô tận, càng khai thác, phát huy giá trị càng sinh lời.

Là người tham luận đầu tiên, nhà báo Nguyễn Thế Khoa – Tổng Biên tập Tạp chí Văn hiến Việt Nam cho rằng, công nghiệp văn hóa (Cultural Industries) chính là các ngành sản xuất, phân phối sản phẩm và dịch vụ văn hóa dựa trên tài nguyên văn hoá, sự sáng tạo, kỹ năng và công nghệ. Mục tiêu cốt lõi là tạo ra giá trị kinh tế song hành với việc bảo tồn bản sắc dân tộc. Đây là sự giao thoa tất yếu giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế công nghiệp. 

 “Trong tất cả các lĩnh vực, nhất là với kiến trúc, thủ công mỹ nghệ, điện ảnh, âm nhạc… việc nghiên cứu, bảo tồn, phát huy, khai thác kết nối một cách tài năng và sáng tạo các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã đem đến những bước tiến vượt bậc cho công nghiệp văn hoá đất nước”, ông khẳng định.

Điển hình là sự xuất hiện của Mưa đỏ – một tác phẩm do Điện ảnh Quân đội sản xuất về Thành cổ Quảng Trị – đã gây chấn động phòng vé khi thu về hơn 700 tỷ đồng sau một tháng ra rạp, vươn lên dẫn đầu danh sách phim Việt có doanh thu cao nhất mọi thời đại. Trước đó, Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối cũng ghi nhận mức 174 tỷ đồng.

Ở lĩnh vực âm nhạc, nhiều di sản văn hóa không chỉ làm “bùng nổ” thị trường trong nước mà còn tạo dấu ấn ở tầm quốc tế. MV Bắc Bling của ca sỹ Hòa Minzy là một hiện tượng khi kết hợp thông minh các giai điệu quan họ, ca trù cùng tiết tấu pop – rock đương đại. “Với 266 triệu lượt xem trên YouTube và lọt TOP 3 sản phẩm âm nhạc thịnh hành thế giới, tác phẩm này phá vỡ mọi kỷ lục trước đó của nhạc Việt, mở ra hướng đi đầy tiềm năng trong việc xuất khẩu văn hóa”, nhà báo Nguyễn Thế Khoa lập luận.

Ông Lê Quốc Vinh – Chủ tịch CSMO Việt Nam, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc của Tập đoàn Truyền thông Lê, người đã nghiên cứu về công nghiệp văn hóa từ năm 2008 đưa ra những ví dụ thực tiễn về sức mạnh của việc chuyển hóa di sản văn hóa thành sản phẩm văn hóa.

Kết nối di sản, tạo nên giá trị mới phải bằng sáng tạo - 3

Ông Lê Quốc Vinh – Chủ tịch CSMO Việt Nam, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc của Tập đoàn Truyền thông Lê phát biểu tại Hội thảo

Tiết mục Trống cơm mang âm hưởng rap và pop đương đại trong chương trình Anh trai vượt ngàn chông gai đã khiến khán giả lớn tuổi bất ngờ, hoàn toàn chinh phục giới trẻ. Đây là minh chứng điển hình cho việc “tái sinh di sản”, đưa một giai điệu truyền thống đi thẳng vào đời sống với tư cách một sản phẩm sáng tạo mới.

Nhìn ra thế giới, bộ phim Shōgun (2024) với kỷ lục 18 giải Emmy là một khuôn mẫu về công nghiệp văn hóa. Tác phẩm này vượt khỏi ranh giới giải trí để thúc đẩy toàn bộ hệ sinh thái kinh tế sáng tạo của Nhật Bản. Từ du lịch di tích “Xứ sở thần tiên EDO”, trải nghiệm kiếm đạo, trà đạo đến hệ thống sản phẩm phái sinh đều bùng nổ doanh thu cho Nhật Bản. Di sản đã tạo ra chuỗi giá trị thương mại toàn cầu và củng cố vững chắc sức mạnh mềm quốc gia.

Ông Lê Quốc Vinh thẳng thắn: “Chúng ta thiếu hạ tầng sáng tạo, bao gồm các studio thiết kế, quỹ đầu tư nội dung, không gian sáng tạo và cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ. Và đặc biệt, chúng ta thiếu nguồn nhân lực có khả năng kết nối giữa văn hoá, thị trường và công nghệ”.

Tháo gỡ “điểm nghẽn” bắt đầu từ thể chế

Bổ sung góc nhìn từ nghệ thuật biểu diễn, Nhà biên kịch Lê Quý Hiền khẳng định sân khấu truyền thống (chèo, tuồng, cải lương) chính là sản phẩm độc bản, lưu giữ “mã gen” văn hóa dân tộc. Điển hình như nghệ thuật múa rối nước, đây là thỏi nam châm hút khách quốc tế tại Việt Nam, đồng thời là lời vẫy gọi du khách đầy hiệu quả thông qua hàng ngàn đêm diễn ở nước ngoài.

Đặc trưng lớn nhất của sân khấu là sự cộng hưởng cảm xúc đám đông và tính liên tục trong thưởng thức. Ông đưa ra phép so sánh: “Nếu so với tác phẩm văn học, có thể nói số khán giả trong khán phòng là số lượng ấn phẩm xuất bản và mỗi đêm diễn là một lần tái bản có “sửa chữa và bổ sung'”.

Là một nghệ thuật tổng hợp, sân khấu đòi hỏi sự tham gia của thiết kế mỹ thuật, thời trang, kỹ thuật số, qua đó trực tiếp kích cầu chuỗi cung ứng xã hội và các dịch vụ du lịch, lưu trú đi kèm. Từ nền móng truyền thống, sân khấu đang linh hoạt thích nghi qua nhiều mô hình như sân khấu hộp, sân khấu thể nghiệm, sân khấu quảng trường để đáp ứng đa dạng nhu cầu của khán giả hiện đại.

Theo ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Việt Nam, du lịch hiện đại không chỉ là tham quan đơn thuần mà là hành trình cảm xúc, tác động vào toàn bộ giác quan của du khách thông qua các sản phẩm được dẫn dắt theo chủ đề. Ông nhấn mạnh bản chất của dịch vụ du lịch là phải mang lại sự thỏa mãn trọn vẹn cho mọi giác quan của người trải nghiệm. Trong đó, mỗi thành tố từ nhà đầu tư, nghệ sĩ đến các nhà sáng tạo nội dung và đơn vị truyền thông cần phối hợp đồng bộ để tạo hiệu ứng cộng hưởng cho hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Kết nối di sản, tạo nên giá trị mới phải bằng sáng tạo - 4

Ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Du lịch quốc gia Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

Ông Hà Huy Thanh, Trưởng Ban Phát triển Di sản của VCIDA cho rằng, phải từng bước kết nối các nguồn lực liên quan đến di sản văn hóa, tìm ra những cách làm cụ thể, khả thi để di sản đi vào đời sống. Và quan trọng hơn, là tạo ra những giá trị mới có chiều sâu, có thể trở thành di sản của tương lai. “di sản văn hóa không chỉ nằm ở những gì đã có, mà còn nằm ở những gì chúng ta đang tạo ra hôm nay. Nếu chúng ta làm đúng, thì chính những việc làm của chúng ta sẽ trở thành di sản cho thế hệ sau”, ông khẳng định.

Các tham luận tại Hội thảo cho thấy, để biến di sản văn hóa thành giá trị hàng hóa cần phải xây dựng được hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ – từ khâu bảo tồn, thiết kế sản phẩm, phân phối thương mại đến việc định hình lại thói quen tiêu dùng văn hóa.

Phát biểu kết luận hội thảo, NSND Vương Duy Biên – Chủ tịch VCIDA khẳng định di sản văn hóa chính là hồn cốt dân tộc. Với 54 dân tộc anh em, Việt Nam sở hữu 54 dòng chảy truyền thống và bản sắc quý giá. Đây là nguồn tài nguyên đặc biệt đòi hỏi những người làm công nghiệp văn hóa phải biết trân trọng, khai thác và lan tỏa.

Kết nối di sản, tạo nên giá trị mới phải bằng sáng tạo - 5

NSND Vương Duy Biên – Chủ tịch VCIDA phát biểu kết luận Hội thảo

Ông đánh giá Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa có rất nhiều điểm mới, đang tạo ra cơ hội mới để phát triển. Tuy nhiên, để có công nghiệp văn hóa phải bắt đầu từ thể chế luật pháp, từ nghị quyết phải xây dựng “hành lang pháp lý” khơi thông mọi nguồn lực trong xã hội. “Vai trò nghệ sỹ với tư cách là những nhà sáng tạo giữ vị trí cốt lõi của sáng tạo”, ông khẳng định.

Định hình kim chỉ nam cho chặng đường tới, ông nêu rõ, VCIDA đã định hướng hoạt động bằng “sáu chữ”: Sáng tạo – bản sắc – lan tỏa”. “Nếu thực hiện tốt ba trụ cột này, ngành sẽ hoàn thành sứ mệnh đưa di sản bước ra đời sống đương đại bằng những giá trị mới, hấp dẫn và bền vững”, Chủ tịch Vương Duy Biên khẳng định.

Kết nối di sản, tạo nên giá trị mới phải bằng sáng tạo - 6

Các đại biểu tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm



Nguồn: Arttimes.vn

Định vị sách trong không gian của công nghiệp văn hóa


Trong khuôn khổ Hội sách và Văn hóa đọc thành phố Hà Nội, tọa đàm “Sách và Công nghiệp Văn hóa” đã mở ra không gian trao đổi về vai trò của sách và ngành xuất bản trong sự phát triển của văn hóa và công nghiệp văn hóa hiện nay. Đồng thời, đặt ra những câu hỏi thiết thực về vị trí của sách trong hệ sinh thái sáng tạo, cũng như khả năng kết nối xuất bản với các lĩnh vực văn hóa khác.

Mở đầu tọa đàm, nhà văn Hà Thủy Nguyên – người điều phối chương trình đã gợi mở một vấn đề vừa quen thuộc, vừa mang tính thời sự: khi sách không chỉ là phương tiện lưu giữ và truyền tải tri thức vốn đã tồn tại suốt hàng nghìn năm, mà đang bước vào một không gian rộng lớn hơn, không gian của công nghiệp văn hóa thì vai trò, vị thế và cách thức vận hành của sách sẽ thay đổi ra sao?

Theo nhà văn, “Sách và Công nghiệp Văn hóa” là một chủ đề có biên độ rộng, bởi nó không chỉ dừng lại ở câu chuyện của xuất bản hay văn hóa đọc, mà còn liên quan đến một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam – công nghiệp văn hóa. Đây không còn là vấn đề mang tính lý luận, mà trở thành một đòi hỏi thực tiễn, gắn với sự phát triển chung của các ngành sáng tạo.

Định vị sách trong không gian của công nghiệp văn hóa - 1

Tọa đàm “Sách và Công nghiệp Văn hóa” tại Phố Sách Hà Nội, ngày 21/4.

Ảnh: Thành Nam

PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng cho rằng, sự ra đời của công nghiệp văn hóa là một quy luật tất yếu của sáng tạo văn hóa trong thời hiện đại, có thể được xem là phương thức sáng tạo văn hóa đặc trưng của thế kỷ XXI, với nhiều điểm khác biệt so với cách thức truyền thống trước đây.

“Công nghiệp văn hóa được nhìn nhận như một lĩnh vực sáng tạo của xã hội đương đại, nơi các sản phẩm văn hóa – nghệ thuật được hình thành trong sự tương tác giữa công nghệ, thị trường và công chúng; có cơ chế bản quyền rõ ràng và hướng tới việc đáp ứng nhu cầu thưởng thức ngày càng đa dạng của xã hội”, PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng chia sẻ.

Thực tế những năm gần đây cho thấy, tri thức đang có những dịch chuyển đáng kể, cả về cách sản xuất lẫn cách tiếp nhận. Sự phát triển của công nghệ, của các nền tảng số, cùng nhu cầu đa dạng của công chúng đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với sách.

Theo PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng, trong hệ sinh thái tri thức, sách giữ vị trí cô đọng và bền vững, là “kho lưu trữ” những giá trị văn hóa mang tính nền tảng. Dù sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện nghe nhìn hiện đại khiến sách dường như thu hẹp “không gian” tồn tại của mình, nhưng sách chưa bao giờ mất đi vai trò cốt lõi. Ngược lại, đây vẫn là nơi kết tinh tri thức và văn hóa dân tộc, là nền tảng giáo dục đặc biệt, lưu giữ những giá trị tinh hoa của thời đại để truyền lại cho các thế hệ mai sau.

“Sách còn là biểu tượng của chiều sâu văn hóa. Trong một thế giới ngày càng bị phân tán bởi công nghệ và nhịp sống nhanh, việc đọc sách vẫn được xem là một hành vi văn hóa chuẩn mực, góp phần rèn luyện khả năng tập trung, nuôi dưỡng sự thấu cảm và làm giàu đời sống tinh thần của con người”, PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng chia sẻ thêm.

Định vị sách trong không gian của công nghiệp văn hóa - 2

GS.TS Nguyễn Toàn Thắng chia sẻ tại tọa đàm.

Trong bức tranh tổng thể của công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay, theo các diễn giả, sách không chỉ được nhìn nhận như một sản phẩm tri thức đơn thuần, mà còn là một mắt xích trong chuỗi giá trị sáng tạo, nơi nội dung có thể được chuyển hóa, lan tỏa và gia tăng giá trị qua nhiều hình thức khác nhau. Trong nhiều loại hình sáng tạo đương đại, từ điện ảnh, sân khấu đến trò chơi điện tử đều xem sách, đặc biệt là các tác phẩm văn học, như một nguồn “nguyên liệu” quan trọng để phát triển nội dung có chiều sâu.

Từ góc nhìn thực tiễn, nhà sản xuất phim Cao Phượng Diễm cho biết, trong quá trình thực hiện các dự án điện ảnh, sách luôn là nguồn tri thức không thể tách rời đối với người làm phim. Tuy nhiên, bà cũng nhấn mạnh rằng không thể chuyển tải nguyên vẹn toàn bộ tư liệu từ sách lên màn ảnh, mà đòi hỏi sự chắt lọc, lựa chọn phù hợp. Dù vậy, sách vẫn là nguồn tư liệu quý giá, cung cấp nền tảng tri thức quan trọng để xây dựng kịch bản và phát triển tác phẩm điện ảnh.

Từ việc nhìn nhận vai trò của sách trong toàn cảnh công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay, vấn đề đặt ra không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn chuyển sang câu chuyện về giải pháp. Điều này đòi hỏi việc kiến tạo một môi trường thuận lợi – từ hoàn thiện cơ chế, chính sách, phát triển hạ tầng đến bồi dưỡng nguồn lực con người, nhằm hỗ trợ các chủ thể sáng tạo, khuyến khích những ý tưởng mới và từng bước hình thành các giá trị văn hóa bền vững.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển sách theo chiều sâu, đồng thời đặt sách trong một hệ sinh thái rộng mở của công nghiệp văn hóa, bà Khúc Thị Hoa Phượng – Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam khẳng định: “Trong cấu trúc của công nghiệp văn hóa, sách có thể được xem là ‘tri thức gốc’ – nền tảng ban đầu để từ đó các loại hình sáng tạo khác tiếp tục khai thác, phát triển và ‘tái sinh’ dưới những hình thức mới. Khi đã có được nguồn tri thức nguyên bản, việc quan trọng không chỉ dừng lại ở xuất bản mà còn là cách thức phát huy, chuyển hóa giá trị của nội dung đó trong các không gian sáng tạo khác nhau”.

Từ góc nhìn này, theo bà Khúc Thị Hoa Phượng, cần thay đổi cách tiếp cận đối với sách, không chỉ sản xuất đơn lẻ mà phải hướng tới việc xây dựng các hệ sinh thái tương ứng với từng dòng sách, từng nhóm nội dung. Chính sự liên kết và phát triển đồng bộ đó sẽ tạo ra sức bật cho công nghiệp văn hóa, góp phần giúp lĩnh vực này tại Việt Nam phát triển vững vàng hơn trong thời gian tới.

Định vị sách trong không gian của công nghiệp văn hóa - 3

Tại tọa đàm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam Khúc Thị Hoa Phượng và Chủ tịch HĐQT Thái Hà Books Nguyễn Mạnh Hùng đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của sách trong bối cảnh công nghiệp văn hóa Việt Nam.

TS Nguyễn Mạnh Hùng – Chủ tịch HĐQT Thái Hà Books cho rằng, để phát triển sách trong công nghiệp văn hóa một cách hiệu quả, Việt Nam cần chủ động học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực này. Theo ông, việc tiếp thu không chỉ dừng lại ở mô hình tổ chức hay cách thức vận hành thị trường xuất bản, mà còn bao gồm tư duy xây dựng hệ sinh thái nội dung, cơ chế bảo vệ bản quyền và cách thức đưa sách trở thành nguồn “nguyên liệu” cho các ngành sáng tạo khác. Tuy nhiên, quá trình này không thể nóng vội mà cần được triển khai theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.

Ông nhấn mạnh, phát triển công nghiệp văn hóa nói chung và lĩnh vực sách nói riêng là hành trình dài, đòi hỏi sự đồng hành của nhiều chủ thể, từ cơ quan quản lý, đơn vị xuất bản, doanh nghiệp sáng tạo đến đội ngũ tác giả và công chúng. “Đi từng bước khi đi cùng nhau” không chỉ là cách tiếp cận thận trọng, mà còn là lời kêu gọi tăng cường liên kết, hợp tác để tạo nên sức mạnh tổng thể, từ đó từng bước xây dựng một nền công nghiệp văn hóa có chiều sâu và sức cạnh tranh bền vững.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Phát động Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026


Ngày 22/4, tại Hà Nội, Tạp chí Gia đình Việt Nam phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức Lễ công bố Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 với chủ đề “Hai thế hệ – một tình yêu”.

Phát động Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 - 1

Đại biểu tham dự Lễ phát động Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026. 

Ảnh: BTC

Phát biểu tại buổi lễ, Nhà báo Hồ Minh Chiến – Tổng Biên tập Tạp chí Gia đình Việt Nam, Trưởng Ban Tổ chức cuộc thi chia sẻ: “Sau 3 lần tổ chức, hàng ngàn bài dự thi đã được gửi về, thấm đẫm tình cảm giữa cha và con gái. Điều này cho thấy chủ đề này đã chạm đến trái tim của rất nhiều người. Nhiều tác giả gửi bài dự thi không mong đoạt giải, mà chỉ mong được chia sẻ nỗi niềm với người cha kính yêu của mình”.

Theo Trưởng Ban Tổ chức, Cuộc thi viết “Cha và con gái” không chỉ dừng lại ở một sân chơi văn học mà còn là cầu nối cảm xúc giữa các thế hệ. Những trang viết chân thành đã góp phần tái hiện một không gian gia đình ấm áp nơi có sự bao dung, chở che của người cha, cùng tình yêu thương, lòng hiếu thảo của những người con gái.

Không ít tác phẩm đã chạm tới những tầng sâu thiêng liêng trong tâm hồn người Việt, nơi hội tụ đủ cung bậc cảm xúc: từ niềm vui, nỗi buồn, những giọt nước mắt đến hạnh phúc và sự tha thứ. Đó cũng là những khoảnh khắc để cha và con gái có thể thấu hiểu, sẻ chia và hàn gắn những điều chưa từng nói.

Phát động Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 - 2

Nhà báo Hồ Minh Chiến – Tổng Biên tập Tạp chí Gia đình Việt Nam, Trưởng Ban Tổ chức cuộc thi phát biểu. Ảnh: BTC

“Qua 3 lần tổ chức, những tưởng đề tài đã cũ, đã cạn ý tưởng nhưng Ban tổ chức chúng tôi nhận ra rằng, tình cảm gia đình luôn là mạch nguồn yêu thương không bao giờ cạn và chính điều đó đã nuôi dưỡng, nâng bước chúng ta vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trên bước đường đời. Có thể nói, cuộc thi đã giúp mọi người sắp xếp lại ký ức đẹp đẽ nhất, lưu giữ lại những cảm xúc chân thành nhất, nhân lên những khát vọng, ước mơ đẹp nhất về tình cảm giữa cha và con gái”, Nhà báo Hồ Minh Chiến nhấn mạnh.

Với chủ đề “Hai thế hệ – một tình yêu”, cuộc thi năm 2026 tiếp tục mở ra không gian để các tác giả thể hiện những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa cha và con gái trong bối cảnh xã hội hiện đại. Cuộc thi hướng tới việc khuyến khích mỗi người mạnh dạn bày tỏ tình cảm, nói lên những điều chưa kịp nói, qua đó góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

Cuộc thi năm nay quy tụ Hội đồng Ban Giám khảo là những tên tuổi uy tín trong lĩnh vực văn học, báo chí và giáo dục như: Nhà thơ Hồng Thanh Quang – Trưởng Ban Giám khảo; PGS.TS. Nguyễn Văn Trào – Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội; PGS.TS Đặng Thị Thu Hương – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn; Nhà thơ Hữu Việt (Báo Nhân Dân); Nhà văn, nhà báo Võ Hồng Thu.

Phát động Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 - 3

Ban Tổ chức tặng hoa cảm ơn các thành viên trong Ban Giám khảo cuộc thi. Ảnh: BTC

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, khoảng cách thế hệ đôi khi trở thành rào cản trong giao tiếp gia đình, Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 được kỳ vọng sẽ trở thành nhịp cầu giúp các thế hệ xích lại gần nhau hơn, thông qua những câu chuyện chân thành và giàu tính nhân văn.

Đây không chỉ là hoạt động ý nghĩa chào mừng Ngày Gia đình Việt Nam 28/6 mà còn là dịp để mỗi người nhìn lại, trân trọng và nuôi dưỡng những giá trị cốt lõi của gia đình – tế bào của xã hội. Với nền tảng thành công từ 3 mùa tổ chức, Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 được kỳ vọng sẽ tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ những giá trị nhân văn sâu sắc, góp phần vun đắp tình cảm gia đình, gìn giữ truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.

Phát động Cuộc thi viết “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 - 4

Đại biểu tham dự Lễ phát động cuộc thi. Ảnh: BTC

Lễ tổng kết và Gala Trao giải cuộc thi dự kiến diễn ra vào ngày 28/6/2026 (Ngày Gia đình Việt Nam).

Cuộc thi viết chủ đề “Cha và con gái” lần thứ 4 năm 2026 dành cho tất cả công dân Việt Nam đang sinh sống trong và ngoài nước, không giới hạn độ tuổi và hướng đến chủ đề chính: “Hai thế hệ một tình yêu”.

Bài dự thi là bài viết về những câu chuyện có thật do tác giả là người trong cuộc hoặc chứng kiến, kể lại những kỷ niệm, lời tâm tình, tự sự của cha dành cho con gái và ngược lại. Khuyến khích sử dụng hình ảnh thật của nhân vật trong bài dự thi. Bài viết có thể được thể hiện dưới dạng tản văn, ghi chép, phóng sự nhân vật, thư tay, nhật ký, thơ, video phóng sự ngắn, audio story…

Thời gian nhận bài dự thi: Chính thức bắt đầu từ ngày 7/4/2026 đến hết ngày 20/6/2026. Địa chỉ nhận bài dự thi: Tạp chí Gia đình Việt Nam, số 2 đường Lê Đức Thọ, Phường Từ Liêm, TP. Hà Nội. Email: chavacongai.gdvn@gmail.com

Thông tin chi tiết về thể lệ xem tại: https://giadinhonline.vn/

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025


Ngày 4/4, tại Hà Nội, Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025.

Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam và ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì Hội nghị.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 1

Quang cảnh Hội nghị.

Cùng dự có các đồng chí là lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức liên hiệp: Bế Xuân Trường, Phó chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Nguyễn Xuân Định, Phó chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Nguyễn Thị Minh Hương, Phó chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam; Nguyễn Tường Lâm, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Nguyễn Quyết Chiến, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; Nguyễn Ngọc Hùng, Phó chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 2

Đại biểu tham dự Hội nghị.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước, nhiều chủ trương, chính sách lớn được ban hành và triển khai đồng bộ, tạo đột phá về thể chế, cơ chế, chính sách. Đặc biệt là cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn bộ máy được triển khai toàn diện từ trung ương đến địa phương; cả nước vận hành chính quyền địa phương hai cấp.

Trong bối cảnh đó, theo Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp đã chủ động, linh hoạt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có công tác thi đua, khen thưởng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và đạt được nhiều kết quả tích cực. Các phong trào thi đua đã góp phần tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 3

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát biểu khai mạc Hội nghị.

Báo cáo Tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2025, bà Thái Thu Xương, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, công tác thi đua, khen thưởng của Khối tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Các đơn vị đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng. Các phong trào thi đua hướng tới chào mừng các ngày lễ lớn của Đảng, Nhà nước, của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được triển khai đồng bộ, thiết thực; đồng thời hưởng ứng tích cực các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động và các cuộc vận động do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trì, với nội dung ngày càng phong phú, hình thức tổ chức đa dạng, sát thực tiễn.

Cùng với đó, việc xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí thi đua ngày càng rõ ràng, gắn với phân công nhiệm vụ cụ thể đã trở thành một trong những giải pháp quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả các phong trào thi đua, từng bước đưa phong trào đi vào thực chất, chiều sâu.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 4

Bà Thái Thu Xương, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam báo cáo công tác thi đua khen thưởng của toàn Khối trong năm 2025.

Về nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, Khối thi đua các tổ chức Chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp xác định 7 nhiệm vụ trọng tâm: Tiếp tục quán triệt, triển khai chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; Tổ chức tốt Đại hội nhiệm kỳ 2026-2031; Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước gắn với nhiệm vụ chính trị và các sự kiện lớn của đất nước; Đẩy mạnh tuyên truyền, phát hiện và nhân rộng điển hình tiên tiến; Tiếp tục triển khai các phong trào thi đua gắn với bảo đảm an sinh xã hội; Nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội và đẩy mạnh công tác đối ngoại Nhân dân; Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 5

Đại diện các tổ chức góp ý, đề xuất tại Hội nghị.

Phát biểu tổng kết Hội nghị, bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam ghi nhận và đánh giá cao những kết quả Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp đã đạt được trong năm 2025. Đặc biệt, khi các tổ chức trong Khối triển khai mô hình tổ chức mới theo chủ trương của Đảng, đưa các tổ chức chính trị – xã hội, hội quần chúng về hoạt động thống nhất trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dù còn không ít khó khăn, vướng mắc trong quá trình vận hành, song với tinh thần chủ động, trách nhiệm cao, các đơn vị đã hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ đề ra, tạo được những kết quả đáng ghi nhận.

Nhấn mạnh năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt trong triển khai những chủ trương, đường lối của Đảng và các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bà Hà Thị Nga đề nghị, các tổ chức trong Khối bám sát 7 nhóm nhiệm vụ đã ký kết, chủ động cụ thể hóa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị. Bên cạnh việc tăng cường sự chủ động, phối hợp chặt chẽ trong công tác thi đua – khen thưởng, các đơn vị cần chú trọng nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo trở thành việc làm thường xuyên, tạo ra những giá trị tích cực cho xã hội.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 6

Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam phát biểu tổng kết Hội nghị.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã biểu quyết thống nhất đề nghị tặng Cờ thi đua của Chính phủ cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

Hội nghị đã thống nhất suy tôn UBTƯ MTTQ Việt Nam là Khối trưởng Khối thi đua; Trung ương Hội Nông dân Việt Nam là Khối phó Khối thi đua năm 2026.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 7

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 8

Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga và đại diện các tổ chức thành viên Khối thi đua ký kết Giao ước thi đua năm 2026. 

Cũng trong dịp này, các đơn vị thành viên Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp đã tiến hành ký kết Giao ước thi đua năm 2026.

Góp phần quan trọng vào những kết quả chung của Khối, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong năm 2025 đã đạt những kết quả thi đua nổi bật sau:

– Tổ chức các hoạt động kỷ niệm, chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc, trọng tâm là thực hiện triển khai Kế hoạch 390-KH/BTGTW ngày 15/11/2023 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về việc tổ chức các hoạt động tổng kết 50 năm nền văn học, nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất.

– Hưởng ứng phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời”: Liên hiệp đã tăng cường quán triệt, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời; Tổ chức các hoạt động chuyên môn, hội thảo, tọa đàm, trao đổi nghiệp vụ, tổng kết thực tiễn sáng tác, lý luận, phê bình… tạo điều kiện để hội viên, văn nghệ sĩ tiếp cận tri thức mới, mở rộng hiểu biết thực tiễn, nâng cao chất lượng sáng tạo tác phẩm.

– Chú trọng nâng cao chất lượng giám sát và hoạt động phản biện xã hội: Triển khai có trọng tâm, trọng điểm, bám sát các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, văn nghệ sĩ; Thường xuyên quan tâm, tăng cường tiếp xúc, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của các hội viên và văn nghệ sĩ.

– Thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị khác như: Tham gia vào các Ban Tổ chức và Ban Chỉ đạo các hoạt động liên quan đến tổng kết 50 năm nền văn học, nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất; Tham gia Ban Tổ chức Cuộc vận động sáng tác ca khúc về Quốc hội và HĐND nhân kỷ niệm 80 năm ngày Tổng Tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam; Tích cực triển khai công tác đối ngoại nhân dân, đẩy mạnh hoạt động giao lưu, quảng bá trong lĩnh vực văn học nghệ thuật…

– Về công tác khen thưởng: Liên hiệp đã xét tặng Bằng khen cho tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp trong hoạt động văn học, nghệ thuật của các Hội Văn học nghệ thuật trên cả nước, trong đó trao Kỷ niệm chương cho 111 cá nhân, Cờ Thi đua cho 2 tập thể, Bằng khen cho 7 tập thể và 70 cá nhân.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Doanh nhân Phạm Hồng Điệp tiếp tục đón nhận kỷ lục Việt Nam và thế giới về sáng tác văn học nghệ thuật


Ngày 22/4, tại Hà Nội, doanh nhân – tác giả Phạm Hồng Điệp ra mắt hai tác phẩm “Khúc lãng du Cụ Mén” và “Cuộc phiêu du của Chép Hồng”, cũng tại sự kiện, ông vinh dự đón nhận Kỷ lục Thế giới và Kỷ lục Việt Nam ghi nhận những đóng góp đáng trân trọng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Hiện Phạm Hồng Điệp đang triển khai lộ trình chuyển ngữ tác phẩm sang nhiều ngôn ngữ nhằm đưa hình tượng đậm chất Việt đến với độc giả quốc tế, qua đó lan tỏa thông điệp về văn hóa, con người Việt Nam và tinh thần phát triển bền vững.

Tham dự buổi lễ có PGS, TS Đào Duy Quát nguyên Phó Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương; PGS, TS Trần Quốc Toản – nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Ông Nguyễn Quốc Hải  – Viện trưởng Viện Đào tạo, Tư vấn và Phát triển Kinh tế; TS Lê Doãn Hợp – nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Chủ tịch Hội đồng Xác lập Tổ chức Kỷ lục Việt Nam; Ông Hoàng Thái Tuấn Anh – Phó Viện trưởng Viện Kỷ lục Việt Nam, Trưởng đại diện miền Bắc Tổ chức Kỷ lục Việt Nam; Nhà sử học Dương Trung Quốc; Bà Nguyễn Thị Lan – Phó trưởng ban Chuyên môn nghiệp vụ Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Nhà văn, nhà báo Hoàng Dự, Tổng biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật; Nhà báo Hoàng Thanh Xuân – Phó Tổng biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật cùng các văn nghệ sĩ, công chúng yêu mến thơ nhạc Phạm Hồng Điệp.

Doanh nhân Phạm Hồng Điệp tiếp tục đón nhận kỷ lục Việt Nam và thế giới về sáng tác văn học nghệ thuật - 1

Tác giả Phạm Hồng Điệp ký tặng sách độc giả

TS Phạm Hồng Điệp – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Shinec, chủ đầu tư Khu công nghiệp (KCN) Nam Cầu Kiền (Hải Phòng) là một luật sư, doanh nhân thành đạt, nổi tiếng với việc phát triển khu công nghiệp sinh thái và mô hình kinh tế tuần hoàn. Giữa bộn bề công việc, anh đến với văn học nghệ thuật như một mối duyên. Dù nhiều lần khẳng định mình không phải nhà thơ mà chỉ là người đi dạo trên cánh đồng văn chương, anh tìm đến thơ và nhạc chủ yếu là để giải tỏa áp lực kinh doanh, thanh lọc tâm hồn và ghi lại cảm xúc những nơi mình đi qua nhưng thành quả lao động chữ nghĩa, nghệ thuật của Phạm Hồng Điệp thật đáng nể. Anh sáng tác thơ trong nhiều năm trở lại đây, có tới hàng trăm bài thơ được khoảng hơn 30 nhạc sĩ tên tuổi lựa chọn và phổ nhạc, nhận nhiều giải thưởng âm nhạc. Trong vòng 3, năm từ 2023 đến nay, Phạm Hồng Điệp đã xuất bản 4 tập thơ và thơ – nhạc: Biển gọi em về, Cánh đồng tuổi thơ, Miền đất Việt, Bản tình ca giữa vô thường… Và năm nay, anh cho ra mắt thêm hai ấn phẩm rất đặc biệt: Khúc lãng du của Cụ Mén (thơ) và Cuộc phiêu du của Chép Hồng (văn xuôi).

Tại buổi lễ, các nhà văn, nhà thơ đều đánh giá cao tác phẩm của Phạm Hồng Điệp khi tác phẩm đều là những tác phẩm đặc sắc, với những sáng tạo bất ngờ với lối viết sáng rõ, gần gũi, giúp người đọc thấy cuốn hút ngay từ những trang đầu, có thể “cầm lên là đọc”.

Nhà văn, nhà báo Hoàng Dự – Tổng biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật nhận định: “Trường ca Khúc lãng du của Cụ Mén không chỉ là một tập thơ, mà như một cuốn tiểu thuyết thơ về thân phận một con người… với khát vọng lớn về sự phát triển của mỗi làng quê trên dải đất hình chữ S. Dù có 100 bài thơ với nhiều tên khác nhau, nhưng tất cả đều tập trung kể về một người nông dân rất đặc biệt – Cụ Mén. Một lão nông tri điền gắn bó mật thiết với làng quê nhưng luôn khát khao vươn ra khỏi lũy tre làng. Cụ đã đi khắp các vùng núi phía Bắc, vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên, dạy bà con làm nương rẫy, bài trừ hủ tục và thổi hồn văn minh miền xuôi lên miền ngược. Có lẽ trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam, chưa có trường ca nào viết về một hình mẫu người nông dân mang nhiều ý nghĩa như thế.

Doanh nhân Phạm Hồng Điệp tiếp tục đón nhận kỷ lục Việt Nam và thế giới về sáng tác văn học nghệ thuật - 2

Nhà văn, nhà báo Hoàng Dự – Tổng biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật phát biểu tại buổi lễ

Ông nhấn mạnh điểm đáng chú ý ở Khúc lãng du của Cụ Mén là cách tác phẩm dung hòa giữa chất dân gian và hơi thở hiện đại. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, gần gũi với đời sống nông thôn, nhưng ẩn chứa những suy tư mang tính triết lý về lao động, cộng đồng và sự phát triển bền vững. Đây cũng là yếu tố giúp tác phẩm, dù có dung lượng lớn, vẫn có khả năng tiếp cận độc giả rộng rãi nếu được truyền thông phù hợp trong môi trường số.

Về tác phẩm Cuộc phiêu du của Chép Hồng, nhà văn, nhà báo Hoàng Dự cho rằng đây là một tác phẩm các cháu thiếu nhi và cả người lớn đều sẽ rất thích. Nhân vật Chép Hồng trong tác phẩm thông qua mối quan hệ với các loài cá, tôm, cua, ốc… ở đầm lầy, đã vượt lên những áp lực và sự hủy diệt của môi trường hiện đại để khẳng định giá trị bản thân.

Nhà lý luận phê bình văn học Bùi Việt Thắng đánh giá: “Cuộc phiêu du của Chép Hồng là một tác phẩm tiêu biểu của dòng ‘văn học xanh’, nơi tinh thần cộng sinh, hiện sinh và thuận thiên được thể hiện qua một thế giới thủy sinh giàu sức gợi và hình tượng Chép Hồng mang nhiều tầng ý nghĩa: đó là hành trình đi tìm sự sống và chân lý… nơi một thế hệ trẻ thông minh, dấn thân và sáng tạo sẵn sàng bước ra chinh phục thế giới mới”.

Cuộc phiêu du của Chép Hồng dù được viết dưới hình thức đồng thoại dành cho thiếu nhi, tác phẩm lại mang giá trị phổ quát, có thể chạm tới mọi lứa tuổi nhờ chiều sâu triết lý về con người, xã hội và tự nhiên.

Ông Nguyễn Quốc Hải – Viện trưởng Viện Đào tạo, Tư vấn và Phát triển Kinh tế khẳng định điểm đặc biệt của tác phẩm Phạm Hồng Điệp không chỉ nằm ở hình thức kể chuyện mà còn ở chiều sâu tri thức đồng thời còn gợi mở một tầng ý nghĩa sâu hơn về đời sống. Đặc biệt, tác phẩm thể hiện rõ tình yêu đối với thiên nhiên và ý thức về bảo vệ môi trường. Ông cũng cho rằng, sau những tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam như Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài, không dễ để có thêm những tác phẩm đồng thoại tạo được dấu ấn riêng. Tuy nhiên, Cuộc phiêu du của Chép Hồng đã bước đầu cho thấy nỗ lực làm mới thể loại, khi kết hợp giữa yếu tố kể chuyện, tri thức khoa học và thông điệp xã hội.

Qua tác phẩm của Phạm Hồng Điệp, thấy được những hình tượng biểu trưng cho sự nỗ lực không ngừng nghỉ của con người Việt Nam – từ những điều bình dị, nhỏ bé nhất có thể vươn mình trở nên phi thường.

Việc liên tục xuất bản nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật cho thấy một năng lượng sáng tạo đáng nể. Tuy nhiên, điều đáng bàn không chỉ nằm ở số lượng, mà ở cách những trải nghiệm thực tiễn từ khi còn là một cậu bé ở vùng nông thôn từng làm nhiều công việc đồng áng đến chiến sĩ biên phòng – từ quản trị doanh nghiệp, phát triển khu công nghiệp sinh thái đến tiếp xúc với nhiều vùng miền – được “chưng cất” thành chất liệu văn học.

Tại sự kiện, Tổ chức Kỷ lục đã chính thức công bố và trao chứng nhận Kỷ lục Thế giới cho tập trường ca Khúc lãng du Cụ Mén – tác phẩm về hình tượng người nông dân Việt Nam được sáng tác bằng nhiều thể thơ khác nhau, bao gồm lục bát, thất bát, tứ bát, tự do. Thông qua nhân vật Cụ Mén, trường ca đã khắc hoạ hành trình cả đời cống hiến và giữ gìn các giá trị truyền thống của người nông dân Việt Nam, qua đó tôn vinh tinh thần lao động, các giá trị nhân văn và mối liên kết sâu sắc giữa các cá nhân, quê hương, dân tộc và di sản văn hoá. 

Tác giả Phạm Hồng Điệp cũng đồng thời được trao Kỷ lục Việt Nam khi là doanh nhân sáng tác tập trường ca Khúc lãng du Cụ Mén – tác phẩm về hình tượng người nông dân Việt Nam có số lượng bài thơ nhiều nhất (gồm 100 bài thơ, tương đương 5.040 câu thơ).

Doanh nhân Phạm Hồng Điệp tiếp tục đón nhận kỷ lục Việt Nam và thế giới về sáng tác văn học nghệ thuật - 3

Doanh nhân Phạm Hồng Điệp tiếp tục đón nhận kỷ lục Việt Nam và thế giới về sáng tác văn học nghệ thuật - 4

Luật gia, doanh nhân Phạm Hồng Điệp nhận Kỷ lục Việt Nam và Kỷ lục Thế giới

Đây là lần thứ hai Phạm Hồng Điệp đón nhận kỷ lục, trước đó, vào năm 2024, anh đã 2 kỷ lục về sáng tác thơ, nhạc của Việt Nam và thế giới.

Dù không tự nhận mình là tác giả chuyên nghiệp, doanh nhân Phạm Hồng Điệp lại khiến nhiều người nể phục bởi một “kỷ luật thép” trong sáng tác. Chia sẻ tại buổi lễ ra mắt các tác phẩm, tác giả Phạm Hồng Điệp cho biết anh coi việc viết lách là một quá trình lao động nghiêm túc thay vì chỉ đợi chờ cảm hứng. Anh thường xuyên tận dụng những “khoảng thời gian chết” trên các chuyến bay dài để miệt mài bên trang bản thảo, thậm chí bài thơ thứ 100 – mảnh ghép cuối cùng của tập trường ca về Cụ Mén – đã được anh hoàn thiện ngay trong một chuyến bay kéo dài 8 tiếng từ nước ngoài về Việt Nam. Với anh, mỗi tác phẩm đều phải gắn liền với một thời hạn (deadline) tuyệt đối; nếu tập trường ca Khúc lãng du của Cụ Mén được ấn định phải xong trước tháng 10/2023 thì với Cuộc phiêu du của Chép Hồng, ông tự đặt kỷ luật phải hoàn tất trước ngày 21 tháng Chạp để kịp cho hình tượng “Chép” về chầu trời đúng dịp Tết ông Công ông Táo.

Doanh nhân Phạm Hồng Điệp tiếp tục đón nhận kỷ lục Việt Nam và thế giới về sáng tác văn học nghệ thuật - 5

Tác giả Phạm Hồng Điệp chia sẻ về hành trình sáng tác và những dự định lan tỏa thông điệp văn hóa Việt tại buổi lễ 

Bên cạnh đó, Phạm Hồng Điệp còn mang trong mình khát vọng cháy bỏng là đưa văn hóa và con người Việt Nam vươn tầm quốc tế. Không chỉ dừng lại ở các kỷ lục trong nước, ông đang ráo riết thực hiện lộ trình chuyển ngữ các tác phẩm của mình sang 5 thứ tiếng: Anh, Trung, Nga, Nhật và Pháp. Ông kỳ vọng rằng, thông qua những hình tượng đậm chất Việt như Cụ Mén hay Chép Hồng, bạn bè thế giới sẽ thấy được một Việt Nam đầy sức hút với tinh thần kinh tế xanh và sự sáng tạo không ngừng nghỉ. Theo dự kiến, các tác phẩm này sẽ sớm được trưng bày tại Hội thảo Sáng kiến ở Nga vào tháng 10 tới, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hành trình lan tỏa thông điệp văn hóa Việt ra biển lớn.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Hú hồn thanh niên tạt đầu xe khác để xuống nhặt tiền như chỗ không người


Phát hiện có tiền rơi bên lề đường, nam thanh niên bất ngờ đánh lái mà không quan sát, suýt gây va chạm nguy hiểm.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Phản xạ nhanh như cắt, thanh niên lao ra chặn xe chở đồ đâm vào dàn siêu xe


Chỉ trong tích tắc, người đàn ông kịp lao tới xử lý chiếc giá chở đồ trôi tự do, tránh nguy cơ va chạm với dàn xe đắt tiền.




Nguồn: Arttimes.vn

Phật hoàng Trần Nhân Tông và một góc thơ thiền


Nhìn lại lịch sử mười thế kỷ của chế độ quân chủ trung ương tập quyền Việt Nam, có thể mạnh dạn khẳng định rằng, thời đại Lý – Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất với những chiến công chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt và những thành tựu to lớn về chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế. Điều đáng nói nữa ở thời đại này là một dấu ấn tinh thần đặc thù in đậm trong lịch sử, một thứ dấu ấn tinh thần rất khó gặp lại ở các giai đoạn sau cho dẫu trình độ văn minh phát triển ngày càng cao hơn. Dấu ấn tinh thần ấy thể hiện ở hình ảnh của những con người tràn đầy tự tin, hào hùng, phóng khoáng. Có khi, rất nhiều con người hợp thành trong một con người: là hoàng đế, là anh hùng cứu nước, là triết gia, là thiền sư, là thi sĩ… Đạt tới độ điển hình cho kiểu con người như vậy, không ai khác, chính là Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308): người anh hùng đã lãnh đạo toàn dân hai lần kháng Nguyên thắng lợi (1285 và 1288), người sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – đỉnh cao tư tưởng của thiền học Việt Nam, một thi sĩ đặc sắc của văn học giai đoạn Lý – Trần.

Theo Toàn Việt thi lục, Thánh đăng ngữ lụcLịch triều hiến chương loại chí, trước tác của Trần Nhân Tông bao gồm: Trần Nhân Tông thi tập, Đại hương hải ấn thi tập, thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Tăng già toái sự, Thạch thất mị ngữ Trung hưng thực lục. Tuy vậy, hiện chỉ còn tìm thấy của ông 31 bài thơ, một bài minh, một bài tán và hai bài văn nôm biền ngẫu. Về thơ, từ 31 tác phẩm còn lại có thể nhìn ra ở Nhân Tông hoàng đế hai cảm hứng cơ bản, tương ứng với hai mảng đề tài: thế sự và thiền. Mảng thơ thiền của Trần Nhân Tông chính là một đặc phẩm, không phải chỉ của riêng Trần Nhân Tông, mà là của thi ca Việt Nam trung đại nói chung (ngay cả mảng thơ thế sự của ông cũng rất đặc biệt nếu đặt cạnh thơ của những ông vua hay chữ như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Minh Tông, Lê Thánh Tông, Tự Đức: thơ ông tuyệt không có một chút “khẩu khí đế vương” như thơ của các tác giả nói trên). 

Trước hết, ta hãy thử đọc một bài tuyệt thi có tựa Xuân cảnh:

“Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi

Khách lai bất vấn nhân gian sự

Cộng ỷ lan can khán thúy vi”

Dịch thơ:

“Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày

Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay

Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế

Cùng tựa lan can nhìn núi mây”

(Cảnh xuân – Nguyễn Huệ Chi dịch)

Hai câu đầu của bài thơ trình ra kết quả tri giác cụ thể của con người trước thế giới: cái nghe (điểu ngữ trì – chim hót chậm rãi), và cái nhìn (mộ vân phi – mây chiều lướt bay). Con người ở đây có thể là chính tác giả, nhưng do sự tỉnh lược chủ ngữ trong câu, đó cũng có thể là “không ai cả”: thiên nhiên tự phô diễn vẻ đẹp của chính mình theo trục thời gian, một cách “tự nhiên nhi nhiên”. Trên dòng trôi chảy ấy, “khách” xuất hiện, một sự xuất hiện trong im lặng (bất vấn – không hỏi) và hòa đồng (cộng ỷ – cùng dựa vào) tuyệt đối vào cảnh vật. Cuối bài thơ, màu xanh biếc (thúy vi) của thiên nhiên mùa xuân bao trùm lên tất cả, cũng giống như cái tâm thiền an lạc đang tràn ngập hồn người. Chỉ miêu tả chứ không diễn giảng, bài thơ đã “chừa chỗ” cho người đọc cộng hưởng với khoảnh khắc “vong ngã” của tác giả trước vẻ đẹp ngất ngây của thế giới…

Phật hoàng Trần Nhân Tông và một góc thơ thiền - 1

Bảo vật quốc gia tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Có thể nói, Xuân cảnh là bài thơ khá tiêu biểu cho phong cách thơ thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Nó không trực tiếp hoặc gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ thiền tông (như thường thấy ở những bài kệ của các thiền sư), mà nó thiên về bày tỏ cảm xúc thiền của con người đạt đạo trước cái đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống.

Thuộc về phong cách thơ thiền Trần Nhân Tông như bài Xuân cảnh, có thể kể đến bài thơ có tựa Nguyệt:

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Lộ trích thu đình dạ khí hư

Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”

Dịch thơ:

“Đèn song chếch bóng, sách đầy giường

Đêm vắng sân thu lác đác sương

Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết

  Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương”

(Trăng – Đào Phương Bình dịch)

 Không gian được phác lên trong bài thơ là một không gian bao la khoáng đạt, trong trẻo và lặng lẽ, đặc trưng cho cái “không” của thiền. Thời gian ở đây là thời gian ban đêm, mùa thu – thời điểm thuận lợi cho sự bừng ngộ, khi cái tâm của con người được lắng đọng và gạt bỏ đi lớp màn bụi bặm vô minh che phủ thường ngày. Trong cái không – thời gian ấy, con người tỉnh giấc (thụy khởi) với dư vang của tiếng chày nện vải (châm thanh). Tiếng chày không phải là thực tại – nói đúng hơn thì nó đã từng là thực tại – nó bị không gian “nuốt chửng”, và vì thế mà không gian trống không lại càng trở nên vô tận. Từ cái “tĩnh” mà cái “động” sinh ra: hình ảnh ánh trăng vừa ghé đến bên bông hoa hé nở giữa đêm khuya vừa là hình ảnh thực, vừa như một ẩn dụ về sự bừng sáng của trí tuệ giữa khoảng không bao la của vũ trụ – tâm hồn.

Ta bắt gặp một lần nữa ánh trăng, nhưng lần này là trăng xuân, trong thơ của Trần Nhân Tông qua bài luật thi có nhan đề Đăng Bảo Đài sơn:

“Địa tịch đài du cổ

Thời lai xuân vị thâm

 Vân sơn tương viễn cận

Hoa kính bán tình âm

Vạn sự thủy lưu thủy

Bách niên tâm ngữ tâm

ỷ lan hoành ngọc địch

Minh nguyệt mãn hung khâm”

Dịch thơ:

“Đất vắng đài thêm cổ

Ngày qua, xuân chửa nồng

Gần xa, mây núi ngất

Nắng rợp, ngõ hoa lồng

Muôn việc nước trôi nước

Trăm năm lòng như lòng

Tựa hiên, nâng sáo ngọc

Đầy ngực ánh trăng trong”

(Lên núi Bảo Đài – Ngô Tất Tố dịch)

Cảnh núi Bảo Đài qua cái nhìn của tác giả tuy u tịch nhưng vẫn mang nét đẹp nên thơ sinh động, cái sinh động bởi có sự chuyển động: ngọn núi phủ mây thì khi xa khi gần, con đường hoa thì nửa sáng nửa tối (“Vân sơn tương viễn cận/ Hoa kính bán tình âm”). Thế nhưng, con người trong cảnh lại thường tại, an nhiên, dường như không hề bị biến đổi theo sự biến đổi của ngoại cảnh (“Bách niên tâm ngữ tâm” – trăm năm lòng nói với lòng). Con người ấy, ở hai câu kết của bài thơ, đã tan hòa trong ánh trăng tràn ngập không gian, lặng lẽ mà dào dạt vô biên. Nếu căn cứ trên cú pháp của câu thơ (“Minh nguyệt mãn hung khâm” – trăng sáng rọi đầy cả ngực, bụng), ta sẽ thấy trong bối cảnh này trăng mới chính là chủ thể: trăng chủ động bao phủ lấy người, tắm gội cho người bằng ánh sáng trong trẻo của nó. Thiền vị của bài thơ, có thể nói, toát ra từ  chính sự giao hòa tự nhiên giữa người và cảnh.

Trong một vài trường hợp, thơ thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông lại là sự bày tỏ trạng thái tinh thần, tâm tư, hoặc nhận thức của một con người đã giác ngộ chân lí. Ông hướng tới việc miêu tả sự vi diệu của thế giới bên trong hơn là quan tâm đến sự phong phú sống động của thế giới hình sắc tồn tại khách quan, bên ngoài. Hai bài thơ cùng mang nhan đề Sơn phòng mạn hứng có thể được xem là một ví dụ:

Bài 1:

     “Thùy phục cánh tương cầu giải thoát

      Bất phàm, hà tất mịch thần tiên?

      Viên nhàn, mã quyện, nhân ưng lão

      Y cựu vân trang nhất tháp thiên”

Bài 2:

     “Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

      Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn

      Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch

      Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn”

Dịch thơ:

Bài 1:

     “Ai trói buộc chi, tìm giải thoát?

      Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên

      Vượn nhàn, ngựa mỏi, ta già lão

      Như trước, am mây chốn tọa thiền?”

Bài 2:

     “Phải trái rụng theo hoa buổi sớm

      Lợi danh lạnh với trận mưa đêm

      Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng

      Xuân cỗi còn dư một tiếng chim”

(Mạn hứng ở sơn phòng – Đỗ Văn Hỷ dịch)

Dưới dạng những câu hỏi phản biện, qua hai câu đầu của bài thơ thứ nhất, tác giả đã thể hiện một quan điểm phá chấp triệt để – phá cái chấp vào Phật và cái chấp vào giải thoát, hướng tới sự giải phóng hoàn toàn cho cá nhân. Thật ra, đây là một quan điểm đã trở thành “truyền thống”, mang nét đặc trưng cho tinh thần khai phóng của thiền học Việt Nam thời Lý – Trần. Ta có thể nhận thấy điều đó trong thơ của Bảo Giám thiền sư thời Lý (? – 1173): “Thành được chính giác ít khi dựa vào tu hành/ Tu hành chỉ là giam cầm sự ưu việt của trí tuệ” (Cảm hoài 1). Hoặc trong trước tác của Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (1230 – 1291): “Lông mày nằm ngang lỗ mũi nằm dọc/ Phật và chúng sinh đều cùng một bộ mặt/ Ai là phàm, ai là thánh?/ Tìm tòi trong nhiều kiếp cũng không thấy căn tính” (Phàm thánh bất dị). Nhưng ở Trần Nhân Tông, dường như cách diễn đạt của cùng một nội dung đã trở nên nhu nhuyễn hơn, và dường như cách ông triển khai sự khế hội chân lí của mình cũng khác. Có vẻ như ông gần với triết lí “pháp tự nhiên” (thuận theo tự nhiên) của Lão Trang hơn. Điều đó thấy khá rõ ở bài thơ Sơn phòng mạn hứng thứ hai. Trần Nhân Tông nói đến hoa buổi sớm (triêu hoa), trận mưa đêm (dạ vũ), và những yếu tố thuộc về tự nhiên này, với ông, đã trở thành vật quy chiếu cho những yếu tố thuộc về con người: sự biện biệt cái đúng cái sai (thị phi niệm), suy nghĩ về danh và lợi (danh lợi tâm). Khi hoa đã rụng hết, mưa đã tạnh, núi đã trở nên vắng lặng, thì một tiếng chim báo hiệu mùa xuân sắp hết: quy luật sinh diệt tất yếu của thế giới vô thường là như vậy, trên dòng chảy vô thường đó, con người chỉ có thể đạt tới sự an lạc tự tại khi hiểu rõ chân tướng của nó, thuận theo nó, như nước chảy mây trôi…

Trước tác của Phật hoàng Trần Nhân Tông còn lại đến nay không nhiều, bộ phận thơ ca nói chung và thơ ca mang cảm xúc, cảm hứng thiền trong đó lại càng ít hơn nữa. Nhưng, đó là cái ít vô cùng cần thiết để hiểu cho rõ và cho đủ về một nhân cách văn hóa vĩ đại trong lịch sử dân tộc (Xin nói thêm là trong toàn bộ lịch sử của chế độ quân chủ chuyên chế ở Đông Á, Trần Nhân Tông là trường hợp duy nhất mang diện mạo kép: vừa là Hoàng đế, vừa là Giáo chủ của một tông giáo).

Qua một góc nhỏ thơ thiền, ông đã neo lại, và neo lại được trên dòng nước bạc thời gian hình ảnh một con người đạt đạo, một con người vượt khỏi cái chấp vào không hay có để nhập vào cuộc sống bình dị và có ý nghĩa trong “cuộc đời này”, một con người tu dưỡng cái tâm hài hòa cùng mạch sống của dân tộc: ăn, ngủ, làm việc đời, đánh giặc cứu nước, vinh danh nước Đại Việt vào thiên cổ! 

     

     

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các lĩnh vực văn hóa phát triển


Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, điểm cốt lõi của dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam là thiết lập cơ chế đủ mạnh, linh hoạt để thúc đẩy phát triển văn hóa và giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Tiếp tục Chương trình kỳ họp thứ Nhất, sáng 20/4, Quốc hội thảo luận ở Tổ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam.

Phát biểu tại phiên thảo luận tổ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội) cho biết, dự thảo Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đại biểu Quốc hội, trong bối cảnh nhiệm vụ phát triển văn hóa đặt ra nhiều yêu cầu lớn trong thời gian tới.

Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các lĩnh vực văn hóa phát triển - 1Phiên thảo luận ở Tổ 1 về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam.

Làm rõ thêm một số nội dung ý kiến thảo luận tại tổ và các góp ý của đại biểu về dự thảo Nghị quyết, Bộ trưởng cho biết đối với băn khoăn liên quan đến mức độ đột phá của cơ chế, chính sách trong dự thảo, ban đầu Nghị quyết được xây dựng với tên gọi nhấn mạnh “cơ chế, chính sách đột phá”. Tuy nhiên, sau đó, theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tên gọi được điều chỉnh bám sát Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, thống nhất là Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam.

Đối với nội dung cụ thể, Ban soạn thảo đã nghiên cứu, tham khảo các Nghị quyết về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và Nghị quyết về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo để đưa vào dự thảo Nghị quyết. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực văn hóa, một số cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế, hợp tác công – tư đã được luật hóa trong Luật Đầu tư và các luật liên quan nên Ban soạn thảo không tiếp tục đưa vào nghị quyết nhằm tránh trùng lặp.

Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các lĩnh vực văn hóa phát triển - 2Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh phát biểu.

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cũng cho biết, điểm cốt lõi của nghị quyết là tạo cơ chế, chính sách và trao thẩm quyền cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định các vấn đề mang tính vượt trội, kể cả khác với quy định của luật, để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và nắm bắt cơ hội trong phát triển văn hóa; đồng thời Chính phủ chịu trách nhiệm về các quyết định này.

Liên quan đến các lĩnh vực cụ thể, Bộ trưởng cho biết dự thảo đã nhấn mạnh nhiều lĩnh vực đang gặp khó khăn và cần quan tâm. Trong đó, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống được quy định thành một điều riêng, nhằm tháo gỡ các vướng mắc hiện nay. Đặc biệt là vấn đề chính sách đãi ngộ đối với nghệ sĩ còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Về công nghiệp văn hóa, Bộ trưởng cho biết đây là ngành có thể nói còn non trẻ, chưa có luật điều chỉnh cụ thể, trong khi mục tiêu đặt ra có công nghiệp văn hóa là đóng góp 10% GDP. Dự thảo Nghị quyết đã lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế như điện ảnh, du lịch văn hóa, du lịch di sản để ưu tiên phát triển, đồng thời tiếp thu ý kiến đại biểu để tiếp tục hoàn thiện.

Đối với cơ chế đặt hàng và khoán chi trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, Bộ trưởng cho rằng đây là nội dung quan trọng nhằm khuyến khích sáng tạo, khắc phục tình trạng thiếu vắng các tác phẩm có giá trị cao trong thời gian qua, nội dung này cũng được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước rất quan tâm, vì vậy Dự thảo Nghị quyết đã thiết kế một số cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển.

Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các lĩnh vực văn hóa phát triển - 3Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh phát biểu.

Về Quỹ văn hóa, nghệ thuật, Bộ trưởng cho biết đây là nội dung được cân nhắc kỹ. Dù thực tế một số quỹ hiện nay hoạt động chưa phát huy hết hiệu quả, nhưng việc thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật là rất cần thiết nhằm thu hút nguồn lực xã hội hóa cho phát triển văn hóa.

Liên quan đến đề xuất về Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11), Bộ trưởng cho biết Ban soạn thảo thống nhất đưa vào nghị quyết để có cơ sở pháp lý triển khai sớm cùng với các hoạt động liên quan, thay vì chờ sửa đổi Luật Lao động.

Ngoài ra, dự thảo cũng đề cập các giải pháp mang tính thực tiễn như giao quyền cho cộng đồng dân cư khai thác thiết chế văn hóa cơ sở nhằm tránh lãng phí; tận dụng trụ sở dôi dư sau sắp xếp bộ máy để phục vụ phát triển văn hóa.

Theo Bộ trưởng, dù có những nội dung chưa mang tính đột phá lớn, nhưng sẽ góp phần quan trọng trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc ở cơ sở. Đồng thời, yếu tố then chốt vẫn là thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc quyết định kịp thời các cơ chế đặc thù, khác với quy định hiện hành, dưới sự giám sát của Quốc hội. 

Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các lĩnh vực văn hóa phát triển - 4Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 1

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, Ban soạn thảo sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến góp ý của các đại biểu Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị quyết để trình Quốc hội thông qua.



Nguồn: Arttimes.vn

Đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới


Thảo luận tại tổ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam. Tại tổ 8, các đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh và Cà Mau đã tập trung phân tích, đóng góp nhiều ý kiến nhằm hoàn thiện khung khổ pháp lý, tạo bước đột phá để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực phát triển kinh tế – xã hội. Đại biểu Quốc hội Trần Thị Hoa Ry đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới - 1Quang cảnh buổi thảo luận tại Tổ 8

Thể chế hóa tư duy mới về văn hóa của Đảng

Các đại biểu đều bày tỏ sự nhất trí cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết, đại biểu Nguyễn Bình Tân (đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) đánh giá cao tinh thần khẩn trương của Chính phủ và các cơ quan soạn thảo khi trình dự thảo ngay tại Kỳ họp thứ Nhất nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. 

Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) nhận định đây là bước đi quan trọng để tạo hành lang pháp lý vượt trội, tháo gỡ những “điểm nghẽn” kinh niên của ngành văn hóa.

Đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới - 2Đại biểu Nguyễn Bình Tân, đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau phát biểuĐề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới - 3Đại biểu Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau phát biểu

Góp ý vào mục tiêu tổng quát tại Điều 1, đại biểu Trần Thị Hoa Ry (đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) đề nghị cần khẳng định mạnh mẽ hơn quan điểm: “Phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng phát triển đất nước; đặt văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội”.

Đại biểu nhấn mạnh, mục tiêu cuối cùng là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đặc biệt là trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế. Điều này cũng được đại biểu Nguyễn Bình Tân lưu ý khi cho rằng mảng “văn hóa con người” cần được quy định rõ nét hơn để thực hiện trọn vẹn quan điểm của Bộ Chính trị.

Khơi thông nguồn lực tài chính: Không chỉ là con số 2%

Một trong những nội dung trọng tâm nhận được nhiều ý kiến là Điều 3 và Điều 11 về nguồn lực và Quỹ văn hóa. Dự thảo quy định Nhà nước đảm bảo chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách. Đại biểu Trần Thị Hoa Ry đề nghị cần có tiêu chí phân bổ rõ ràng và lộ trình tăng dần mức chi khi kinh tế phát triển. Đại biểu chỉ ra thực tế hiện nay chi cho văn hóa thường bị lồng ghép chung với giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, dẫn đến khó giám sát tính hiệu quả của con số 2% này.

Về mô hình Quỹ văn hóa, nghệ thuật, đại biểu Trần Thị Vân (đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) đưa ra quan điểm đột phá khi đề nghị vận hành Quỹ như một quỹ đầu tư thực thụ, hoạt động theo nguyên tắc thị trường và chấp nhận rủi ro. Theo đại biểu, Nhà nước nên đóng vai trò là chủ đầu tư cùng với khu vực tư nhân vào các lĩnh vực có tiềm năng thị trường cao như nội dung số, phim ảnh, âm nhạc. Điều này sẽ chuyển dịch tư duy từ “hỗ trợ văn hóa” sang “đầu tư chiến lược” và “phát triển kinh tế văn hóa”.

Đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới - 4Đại biểu Trần Thị Vân, đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh phát biểu

Đột phá cơ chế ưu đãi đầu tư và Công nghiệp văn hóa

Dự thảo Nghị quyết dành dung lượng lớn quy định về các khu công nghiệp sáng tạo và chính sách thuế (Điều 4, Điều 5). Đại biểu Trần Thị Vân cho rằng mức thuế suất VAT 5% hay các ưu đãi hiện tại vẫn chưa đủ mạnh để tạo động lực bứt phá. Đại biểu đề xuất áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi khoảng 10% và có các chính sách dài hạn hơn để thực sự hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Trong danh mục các ngành công nghiệp văn hóa được hỗ trợ, cụm từ “trò chơi điện tử trên mạng” đã gây ra tranh luận sôi nổi. Đại biểu Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đề nghị bỏ đối tượng này khỏi diện được bảo hộ, hỗ trợ thuế vì lo ngại những ảnh hưởng tiêu cực đến thanh thiếu niên. Ngược lại, đại biểu Trần Thị Vân cho rằng nếu phát triển đúng hướng, game có thể trở thành công cụ hữu hiệu để tuyên truyền, quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới.

Về việc hồi hương các cổ vật, tác phẩm nghệ thuật “đỉnh cao” (Điều 5), đại biểu Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đề nghị cần định nghĩa rõ thế nào là “nghệ thuật đỉnh cao”, cấp nào xét tặng và hội đồng nào thẩm định để đảm bảo tính thực thi và tránh trục lợi chính sách miễn thuế.

Bảo tồn di sản: Biến “di sản” thành “tài sản” nhưng không mất bản sắc

Đại biểu Nguyễn Thị Quý (đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh) chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về việc đầu tư cho lĩnh vực này. Đại biểu lo ngại trong khi các chính sách cho công nghiệp văn hóa rất cụ thể, thì mảng bảo tồn lại mang tính định hướng, dễ dẫn đến việc các giá trị lâu bền bị “lép vế” khi phân bổ nguồn lực do khó định lượng. Đại biểu đề nghị quy định tỷ lệ nguồn lực tối thiểu cho bảo tồn và xây dựng tiêu chí đánh giá dựa trên mức độ lan tỏa, khả năng truyền dạy thay vì chỉ nhìn vào doanh thu.

Đại biểu Trần Thị Hoa Ry đặc biệt quan tâm đến văn hóa các dân tộc thiểu số đang có nguy cơ mai một. Đại biểu đề xuất cần có chính sách đặc thù rõ nét hơn cho những vùng khó khăn, gắn bảo tồn với sinh kế bền vững cho người dân thông qua du lịch văn hóa.

Đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới - 5Đại biểu Nguyễn Thị Quý, đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh phát biểu

Trọng dụng tài năng: Cần cơ chế cho những “viên ngọc thô”

Chính sách đãi ngộ văn nghệ sĩ (Điều 7) được các đại biểu thảo luận quan tâm thảo luận. Các đại biểu Trần Thị Hoa Ry và Nguyễn Thị Mỹ Hạnh cùng đề nghị mở rộng đối tượng tuyển dụng đặc cách không qua thi tuyển. Thay vì chỉ căn cứ vào huy chương, giải thưởng quốc tế, Nhà nước nên trao quyền cho giới chuyên môn phát hiện và tuyển dụng các “năng khiếu đặc biệt” từ khi còn là tiềm năng để kịp thời bồi dưỡng.

Về chế độ phụ cấp nghề nghiệp, đại biểu Nguyễn Thị Quý đề nghị bổ sung đối tượng là nghệ sĩ làm việc theo hợp đồng dài hạn, hợp đồng tự chủ tại các đơn vị công lập. Đại biểu phân tích, lực lượng này hiện chiếm số đông và trực tiếp cống hiến trên sân khấu, nếu chỉ áp dụng cho người trong biên chế sẽ tạo ra sự chênh lệch bất công. Ngoài ra, đại biểu Nguyễn Bình Tân cũng đề nghị bổ sung phụ cấp cho các nghệ nhân trực tiếp truyền dạy chữ viết, văn hóa dân tộc tại cơ sở.

Ngày Văn hóa Việt Nam: Tôn vinh hệ giá trị con người

Về quy định ngày 24/11 hàng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam, đa số đại biểu đồng tình nhưng đề nghị nâng tầm ý nghĩa của ngày này. Đại biểu Trần Thị Hoa Ry đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đại biểu Nguyễn Bình Tân góp ý không nên chỉ nhấn mạnh vào đối tượng “thanh thiếu niên” mà nên khuyến khích toàn dân tham gia, đồng thời mở rộng miễn giảm phí sang các dịch vụ thiết chế văn hóa công lập cho tổ chức, cá nhân tổ chức sự kiện văn hóa.

Đề xuất tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với việc tôn vinh hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới - 6Đại biểu Trần Thị Hoa Ry, đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau phát biểu

Đảm bảo tính minh bạch thông qua Hội đồng thẩm định độc lập

Để chính sách đi vào thực chất, đại biểu Trần Thị Hoa Ry đề nghị bổ sung quy định về việc đặt hàng, giao nhiệm vụ sáng tạo văn hóa (Điều 8) phải thông qua Hội đồng thẩm định độc lập. Điều này nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, tránh hình thức trong việc sử dụng ngân sách và cân bằng được giữa giá trị tư tưởng nghệ thuật với hiệu quả xã hội và đánh giá của thị trường.

Đóng góp về lộ trình thực hiện, đại biểu Trần Thị Vân đề xuất chia làm hai giai đoạn rõ rệt để có mục tiêu phấn đấu:

Giai đoạn 2026-2030: Hoàn thiện thể chế, số hóa di sản và đưa đóng góp của công nghiệp văn hóa đạt khoảng 5% GDP.

Giai đoạn 2030-2035: Bứt phá mạnh mẽ, xây dựng các thương hiệu văn hóa toàn cầu và nâng tỷ trọng đóng góp lên 7-8% GDP.

Các đại biểu tin tưởng rằng với những cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội và sự đầu tư đúng tầm, văn hóa Việt Nam sẽ thực sự khơi thông được các nguồn lực, không chỉ đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế mà còn lan tỏa mạnh mẽ bản sắc và giá trị con người Việt Nam ra thế giới, đúng như kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.



Nguồn: Arttimes.vn