Home Blog Page 17

“Nhiều!” – khi một chữ gánh cả một triết lý nhân sinh


Có những bài thơ không cần nhiều chữ lạ, không cần hình ảnh chói lọi, chỉ cần một từ – một từ duy nhất – được đặt đúng chỗ, đúng lúc, là đủ làm người đọc dừng lại, nhìn vào mình và tự hỏi. “Nhiều” của tác giả Hồng Gai là một bài thơ như vậy.

Một thủ pháp đơn giản – một tư duy phi thường

Trong hành trình không ngừng đổi mới và sáng tạo của thơ Việt – một nền thơ có bề dày truyền thống lâu đời, luôn dũng cảm khám phá những hình thức biểu đạt mới mẻ trong khi vẫn giữ vững cốt cách dân tộc – Nhiều xuất hiện như một lựa chọn độc đáo, hoàn toàn có chủ ý. Bài thơ dựng lên một kiến trúc bất ngờ: lấy từ “nhiều” làm trụ cột duy nhất, rồi cho toàn bộ 46 dòng thơ xoay quanh nó như những hành tinh quay quanh mặt trời.

Mỗi dòng tuân theo một cấu trúc nhất quán: chủ thể – “nhiều” – hệ quả. Sự lặp lại tưởng đơn điệu ấy lại tạo ra hiệu ứng ngược: chữ “nhiều” cứ vang lên đều đặn như tiếng trống, đến một lúc nào đó nó mất đi nghĩa từ điển và trở thành một biểu tượng. Đây là thủ pháp thơ hiếm gặp trong văn học Việt hiện đại, gần với truyền thống thơ thiền cô đọng nhưng lại mang cấu trúc của một bài thơ liệt kê có chủ ý – catalogue poem – mà các nhà thơ phương Tây như Walt Whitman hay Pablo Neruda từng sử dụng bậc thầy.

Điều đáng nể là tác giả giữ được sự bình tĩnh của ngòi bút suốt chiều dài bài thơ. Không hề có một từ hoa mỹ, không một hình ảnh cố tình gây sốc. Cái thô mộc ấy không phải hạn chế – đó là lựa chọn.

Bốn tầng nghĩa – một hành trình từ trần tục đến siêu việt

Đọc kỹ, có thể nhận ra bài thơ vận động theo bốn tầng ngữ nghĩa rõ ràng, mỗi tầng là một bước đi của tư duy.

Tầng thứ nhất – “nhiều” của đời thường bộn bề – mở ra bằng những quan sát rất đỗi trần tục: ngày nghỉ, công việc, chuyện phiền, đám đông. Giọng thơ bình thản như người đứng bên lề nhìn vào dòng đời. Không phán xét. Chỉ ghi nhận. Đó là cái nhìn của một người từng trải, biết rằng cuộc sống trước hết là thế – con người hiện đại chạy theo số đông, làm theo đám đông, tin theo đám đông, và cái “nhiều” ở đây là biểu trưng của tâm lý bầy đàn.

Tầng thứ hai bắt đầu khi “nhiều” tự phủ nhận chính mình:

Ở nhà nhiều tăng cân

Uống rượu nhiều mang bệnh

Nghỉ mà nhiều càng nản

Đời lắm nhiều lo toan

Đây là điểm kỹ thuật sắc sảo nhất của bài. Tác giả không dùng lý luận, không dùng luận điểm – mà dùng nghịch lý tự nhiên để phản biện tư duy “nhiều = tốt”. Cái “nhiều” bắt đầu phản lại chính nó. Người đọc chợt giật mình: hoá ra không phải cứ nhiều là hay.

Tầng thứ ba chuyển giọng sang chiều kích giá trị và địa danh. Đây là nơi tác giả xác lập luận điểm cốt lõi – những “nhiều” duy nhất xứng đáng được trân trọng là những “nhiều” gắn với nhân nghĩa, đạo đức, kỷ luật, trí tuệ và nhân văn. Sự xuất hiện của Quảng Ninh – Hạ Long – Yên Tử không phải ngẫu nhiên. Đó là điểm neo địa lý – tâm linh, cho thấy bài thơ ra đời từ một vùng đất cụ thể, một tâm thế cụ thể, không phải triết luận thuần túy.

Tầng thứ tư – và cũng là tầng xúc động nhất – là “nhiều” của gia đình, tình nghĩa, con cháu, cửa nhà. Từ cái “nhiều” vũ trụ, tác giả quay về cái “nhiều” bé nhỏ và ấm áp nhất của một con người. Và rồi khép lại bằng câu hỏi:

“Suy ngẫm nhiều mới thấu

Vậy cứ nhiều nên chăng?”

Không trả lời. Để trống. Đó là dấu hiệu của một tư duy thơ chín chắn – người viết hiểu rằng câu hỏi hay bao giờ cũng lớn hơn câu trả lời.

Hai dòng thơ – một trung tâm tư tưởng

Trong bài thơ có hai dòng tôi cho là trái tim của toàn bài:

“Tiền bạc nhiều vô nghĩa

Đạo đức nhiều thiếu hụt”

Đặt cạnh nhau, hai dòng này tạo ra một tứ thơ hai mặt: “nhiều” vật chất mà thiếu nền tảng tinh thần thì trống rỗng; “đạo đức” thì không bao giờ là “nhiều” – nó luôn thiếu hụt so với đòi hỏi của cuộc đời. Đây không chỉ là nhận xét xã hội – đây là cảnh báo văn hoá, được nói một cách rất thơ, không hề đao to búa lớn.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại khi “nhiều” đã trở thành thước đo thành công mặc định – nhiều tiền, nhiều bằng cấp, nhiều mối quan hệ, nhiều lượt thích trên mạng xã hội – hai dòng thơ nhỏ bé này bỗng mang sức nặng của cả một tiểu luận văn hoá.

Nhịp điệu và âm hưởng dân gian

Nhịp thơ đều đặn 5-6 âm tiết mỗi dòng gợi liên tưởng đến lục bát cải biến hoặc vè dân gian – những thể loại gần với trí nhớ và lời nói của người Việt bình thường. Điều này làm cho Nhiều! dễ thuộc, dễ ngâm, dễ cộng hưởng. Người đọc không cần bình luận phê bình mới hiểu được – họ đọc lần đầu đã gật đầu.

Đây là một phẩm chất không dễ có: làm thơ giản dị mà không dung tục, phổ thông mà không tầm thường. Nhiều nhà thơ viết câu chữ cầu kỳ nhưng không ai nhớ; bài thơ này chỉ dùng một từ mà người đọc khó quên.

Dấu chấm than trong nhan đề Nhiều! cũng là một chi tiết đáng chú ý. Nó vừa là lời tuyên bố, vừa là nụ cười tự trào, vừa có gì đó như tiếng thở dài. Một nhan đề mà chứa đựng được nhiều cảm xúc như vậy là nhan đề thành công.

Ở góc nhìn phê bình công bằng, cần ghi nhận rằng đoạn chuyển từ những quan sát đời thường sang ca ngợi vùng đất và những giá trị lớn lao có phần chuyển giọng đột ngột, tạo ra một độ lệch nhịp cảm xúc nhất định. Người đọc đang theo dòng tự vấn nội tâm, bỗng được đưa sang không khí tráng ca – sự chuyển dịch ấy đòi hỏi một nhịp cầu tinh tế hơn.

Tuy nhiên, nếu hiểu Nhiều! như một bài thơ vừa trữ tình cá nhân vừa mang chất thơ thời sự – địa phương, một thể loại có truyền thống lâu đời trong văn học Việt – thì sự chuyển giọng ấy hoàn toàn có lý do tồn tại, và thậm chí là cần thiết để tạo ra chiều kích rộng hơn cho bài thơ.

Nhiều! là bài thơ thông minh về mặt cấu trúc, chân thực về mặt cảm xúc và sâu sắc về mặt tư tưởng. Tác giả đã biến một từ bình thường nhất trong tiếng Việt thành một chiếc kính lúp – soi vào đời sống, vào nhân cách, vào những thứ chúng ta coi là đương nhiên mà chưa bao giờ thực sự nhìn thấu.

Và câu hỏi cuối bài không có đáp án – đó chính là đáp án: sống không phải là tích lũy cho nhiều, mà là chọn lọc cho đúng.

Một bài thơ như vậy, đáng được đọc chậm – đọc lại nhiều lần – rồi mỉm cười tự hỏi mình: ta đang “nhiều” thứ gì, và “nhiều” ấy có đáng không?

NHIỀU!

Ngày nghỉ nhiều không nghỉ

Thực sự nhiều công việc

Rồi cũng nhiều chuyện phiền

Cũng muốn nhiều người biết

Thấy rất nhiều người vậy

Làm giống nhiều người thôi

Để cho nhiều người tin

Nghỉ nhà nhiều cũng chán

Nhìn vợ nhiều thấy say

Đi lại nhiều thấy vui

Gặp gỡ nhiều hiểu biết

Báo đăng nhiều càng hay

Vất vả nhiều giỏi hơn

Giao lưu nhiều kích cầu

Họp hành nhiều thành quen

Phát biểu nhiều trôi chảy

Ở nhà nhiều tăng cân

Uống rượu nhiều mang bệnh

Nghỉ mà nhiều càng nản

Đời lắm nhiều lo toan

Tiền bạc nhiều vô nghĩa

Đạo đức nhiều thiếu hụt

Sống có nhiều nhân nghĩa

Mới giữ nhiều tiếng thơm

Quảng Ninh nhiều đổi mới

Hạ Long nhiều sóng vỗ

Yên Tử nhiều linh thiêng

Tỉnh mình nhiều nội lực

Kỷ luật nhiều sắt đá

Đồng tâm nhiều sức mạnh

Hào sảng nhiều khí chất

Trí tuệ nhiều tầm cao

Nhân văn nhiều lan toả

Gánh vác nhiều trọng trách

Quyết sách nhiều tâm huy

Xây dựng nhiều công trình

Thành phố nhiều kiểu mẫu

Việt Nam nhiều ngợi khen

Tầm vóc nhiều rạng rỡ

Dân mới nhiều hạnh phúc

Phúc lộc nhiều gia môn

Trí tuệ nhiều sáng soi

Con cháu nhiều thành đạt

Cửa nhà nhiều ấm êm

Đồng chí nhiều gắn bó

Tình nghĩa nhiều trước sau

Tâm nguyện nhiều gửi gắm

Mai sau nhiều tự hào

Suy ngẫm nhiều mới thấu

Vậy cứ nhiều nên chăng?

Tác giả Hồng Gai

Ngày 25/4/2026



Nguồn: Arttimes.vn

“Thời tiết của ký ức”: Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản


Tuy Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến là những cá tính văn chương độc bản nhưng họ đều có điểm chung là những người lính đã đi qua những mùa nắng cháy và mưa bom khốc liệt, để rồi sau bao thăng trầm, họ chưng cất tất cả vào tập truyện ngắn “Thời tiết của ký ức”.

Nhân dịp tác phẩm được ra mắt, ngày 6/5, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã tổ chức buổi gặp gỡvới chủ đề “Thời tiết của ký ức”. Cuộc giao lưu văn chương này đã thực sự mở ra một không gian đối thoại sâu lắng với ký ức, nơi những trải nghiệm cá nhân được đánh thức, cộng hưởng và lan tỏa.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 1

Chương trình có sự tham gia của đông đảo nhà văn, nhà thơ và độc giả.

Ảnh: Huyền Thương

Tại chương trình, qua sự dẫn dắt của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và nhà thơ Văn Công Hùng, các nhà văn Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến không chỉ kể lại hành trình cầm bút của mình như những lát cắt tiểu sử, mà còn mở ra những tầng sâu của đời sống sáng tạo, nơi văn chương được hình thành từ trải nghiệm rất đời thường, rất chân thật nhưng đôi khi cũng là những day dứt không dễ để gọi tên.

Từ quan niệm viết đến những kỷ niệm nghề văn, mỗi chia sẻ đều cho thấy một cách đối diện riêng với hiện thực và với chính mình, khi người viết phải đi qua cô đơn, hoài nghi, thậm chí là những giới hạn nội tâm để giữ lấy sự trung thực của ngòi bút. Qua đó, độc giả không chỉ hiểu hơn về tác phẩm, mà còn thấy được bản lĩnh của sự dấn thân, của ký ức được gìn giữ và của những thái độ sống bền bỉ với văn chương.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 2

Phần tọa đàm có sự tham gia của các nhà văn: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến.

Ảnh: Huyền Thương

Cũng tại đây, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã dành thời gian chia sẻ những kỷ niệm riêng tư và giàu cảm xúc với từng nhà văn xuất hiện trong tập truyện ngắn Thời tiết của ký ức. Những câu chuyện của ông không dừng lại ở hồi ức, mà còn mở ra một cách nhìn sâu hơn về hành trình sáng tạo, cách họ sống, cách họ viết, cách họ làm nên những giọng điệu riêng không thể trộn lẫn, đồng thời lý giải vì sao những trang viết của họ vẫn còn sức nặng và độ ngân vang trong lòng bạn đọc hôm nay.

“Lịch sử có thể bị biến đổi ở một thời điểm nào đó, nhưng ký ức của dân tộc thì không thể thay đổi. Các nhà văn chính là những người lưu giữ những ký ức ấy, đó có thể là ký ức của thời đại, của mỗi cá nhân, của từng gia đình và của chính họ. Chính bởi không thể bị thay đổi, ký ức luôn sống động trong từng trang viết của họ ở thực tại”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 3

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã chia sẻ nhiều kỷ niệm với năm nhà văn.

Ảnh: Huyền Thương

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam thì cho rằng, điểm gặp gỡ đáng quý của cả năm nhà văn không chỉ nằm ở bề dày trải nghiệm, mà còn ở sự chân thành hiếm có trong cách họ nhìn lại đời viết của mình. Mỗi người mang đến một câu chuyện riêng, mộc mạc, không tô vẽ, nhưng đủ sức gợi mở những tầng sâu của ký ức và sáng tạo. Chính những vốn sống và vốn văn chương phong phú ấy khi đặt cạnh nhau không tạo ra sự chênh lệch mà ngược lại, họ đã cùng nâng đỡ nhau, tạo nên một chỉnh thể hài hòa, góp phần làm đẹp thêm cho cuốn sách, và rộng hơn là làm giàu có diện mạo của văn chương đương đại.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 4

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhận xét về cá tính văn chương của các tác giả.

Ảnh: Huyền Thương

Tập truyện ngắn Thời tiết của ký ức là sự hội tụ đặc biệt của năm cây bút giàu trải nghiệm: Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến. Nhan đề của cuốn sách được lấy từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Bảo Ninh như một gợi dẫn đầy ám ảnh, dẫn dắt người đọc bước vào miền hồi ức đã được chưng cất qua năm tháng.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 5

Tập truyện ngắn “Thời tiết của ký ức”.

Ảnh: Huyền Thương

Qua 12 truyện ngắn, cuốn sách mở ra một không gian ký ức đa chiều, nơi mỗi tác giả mang đến một “tiết trời” riêng của đời sống, khi lặng lẽ, chiêm nghiệm, lúc lại gai góc, dữ dội nhưng luôn đậm đặc những suy tư và chiều sâu nhân bản.

Nhà văn Trung Trung Đỉnh góp mặt trong Thời tiết của ký ức với hai truyện ngắn Khoảng sáng trên đỉnh dốc và Người trong cuộc, tiếp tục khẳng định giọng văn từng trải, đậm chất người lính và hơi thở nồng nàn của đất rừng Tây Nguyên.

Với ba truyện ngắn Ngôi sao vô danh, Ba lẻ một và Thời tiết của ký ức, nhà văn Bảo Ninh mang đến một thế giới ký ức đầy day dứt, nơi chiến tranh và hậu chiến không hiện lên bằng những sự kiện lớn lao mà bằng những ám ảnh tinh vi của tâm hồn. Giọng văn của ông chậm, sâu và giàu chất trữ tình, như tiếng lòng của một người lính từng đi qua cuộc chiến nhưng chưa bao giờ thực sự rời khỏi nó, ở đó, ký ức trở thành một dạng “thời tiết” riêng, vừa mơ hồ, vừa dai dẳng.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập góp mặt với ba truyện Đò ơi, Tiếng khèn bè và Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri, mang theo giọng văn vừa dân dã, hóm hỉnh, vừa ẩn chứa nhiều chiêm nghiệm sắc sảo.

Sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Trọng Tín với truyện ngắn kinh điển Bè trầm mang đến một điểm lắng đặc biệt cho tập sách. Tác phẩm đã được ghi nhận như một thành tựu quan trọng của nền văn học thời hậu chiến, những câu chuyện về người lính sau ngày thống nhất đất nước đã gợi lại âm vang của tháng ngày chiến tranh với nhiều thăng trầm.

Góp thêm một “mảng màu” cá tính cho tập truyện, nhà văn Phạm Ngọc Tiến mang đến ba tác phẩm Họ đã trở thành đàn ông, Bạch Tuyết và một chú lùn Chạy trốn với lối viết không ngần ngại phơi bày những thực tại gai góc, nhưng luôn giữ được sự nhân văn và thấu cảm.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 6

Chương trình đã thực sự mở ra một không gian đối thoại sâu lắng với ký ức, nơi những trải nghiệm cá nhân được đánh thức, cộng hưởng và lan tỏa.

Ảnh: Huyền Thương

Thời tiết của ký ức vì thế không chỉ là một tập truyện ngắn, mà còn là cuộc gặp gỡ của nhiều trải nghiệm và nhiều giọng điệu văn chương cùng hội tụ trên một miền ký ức chung. Từ những năm tháng khốc liệt, rực rỡ đến những khoảnh khắc lặng lẽ của đời thường, tất cả được đánh thức bằng độ lùi của thời gian và sự từng trải của những người đã sống sâu, viết thật. Đây cũng là nơi những người bạn văn tìm lại nhau trong dòng chảy ký ức, còn độc giả thì không chỉ đọc những câu chuyện đã qua, mà còn chạm tới chiều sâu tâm hồn và bản lĩnh của những người cầm bút mình yêu mến.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Văn học thiếu nhi đương đại: Dư địa rộng mở cho những người viết trẻ


Tọa đàm “Văn học thiếu nhi từ góc nhìn của người viết trẻ” do Nhà xuất bản Kim Đồng phối hợp cùng Khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức đã mang đến những góc nhìn đa dạng về đời sống văn học thiếu nhi hiện nay, về vị trí, vai trò của văn học thiếu nhi trong đời sống đương đại, và cách người viết trẻ hiện nay tiếp cận thế giới tâm hồn trẻ thơ.

Văn học thiếu nhi đương đại: Dư địa rộng mở cho những người viết trẻ - 1

Ban Tổ chức tọa đàm tặng hoa các diễn giả.

Phát biểu tại tọa đàm, bà Vũ Thị Quỳnh Liên, Phó Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Kim đồng cho biết, trong suốt hành trình xây dựng và phát triển gần 70 năm qua của Nhà xuất bản Kim Đồng, văn học thiếu nhi vẫn luôn là mảng đề tài được Nhà xuất bản quan tâm, nuôi dưỡng. Nhằm tạo một diễn đàn, nơi những chuyên gia nghiên cứu, các tác giả trẻ và độc giả được trao đổi, chia sẻ những quan điểm góc nhìn của mình về văn học thiếu nhi hiện nay, Nhà xuất bản Kim Đồng phối hợp cùng Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tọa đàm: “Văn học thiếu nhi từ góc nhìn của người viết trẻ”.

“Văn học thiếu nhi luôn cần những tiếng nói mới, phù hợp với tâm tư, suy nghĩ, khát vọng của trẻ em hôm nay. Thông qua tọa đàm này, chúng tôi mong muốn có thêm đối thoại giữa các chuyên gia, người viết trẻ và bạn đọc, góp những góc nhìn đa chiều, gợi mở cho những sáng tác văn học thiếu nhi hấp dẫn, thú vị, được các em yêu thích, đón nhận trong thời gian tới”, bà Vũ Thị Quỳnh Liên nhấn mạnh.

Văn học thiếu nhi đương đại: Dư địa rộng mở cho những người viết trẻ - 2

Bà Vũ Thị Quỳnh Liên, Phó Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Kim đồng phát biểu tại tọa đàm.

Tọa đàm có sự tham gia của Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng, TS. Nguyễn Thị Năm Hoàng – Phó Trưởng Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tiến sĩ Trịnh Đặng Nguyên Hương, Viện Văn học – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cùng một số tác giả đã đoạt giải Giải thưởng Văn học Kim Đồng lần thứ Nhất (2023-2025): Giáp Thị Thùy Dương, Cao Nguyệt Nguyên, Phạm Thu Hà và Nguyễn Hoàng Diệu Thủy.

Tại tọa đàm, các diễn giả và tác giả đã chia sẻ những góc nhìn từ cả nghiên cứu lẫn thực hành sáng tác, qua đó phác họa diện mạo văn học thiếu nhi đương đại, đồng thời đặt ra các vấn đề trong một tinh thần đối thoại cởi mở, góp phần mang đến những cách nhìn, những lối kể và những cảm quan thẩm mỹ mới trong những tác phẩm viết cho trẻ em hôm nay.

Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng cho rằng, dư địa để phát triển văn học thiếu nhi ở Việt Nam hiện nay vẫn còn rất rộng mở. Sự thay đổi của đời sống xã hội, nhu cầu đọc ngày càng đa dạng của độc giả trẻ cùng khát vọng tìm kiếm những giá trị nhân văn mới đang đặt ra nhiều cơ hội cho người cầm bút. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các tác giả viết cho thiếu nhi đang đứng trước một sứ mệnh quan trọng: không chỉ sáng tạo nên những câu chuyện hấp dẫn, mà còn góp phần bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách và giữ gìn những giá trị tốt đẹp cho thế hệ tương lai.

Ông nhấn mạnh, để văn học thiếu nhi có thể phát triển bền vững trong thời kỳ mới, cần có thêm nhiều tác phẩm thực sự thấu hiểu trẻ em, đồng hành với tâm lý và nhịp sống của các em hôm nay.

Văn học thiếu nhi đương đại: Dư địa rộng mở cho những người viết trẻ - 3

Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng chia sẻ dư địa để phát triển văn học thiếu nhi ở Việt Nam hiện nay.

Theo Tiến sĩ Trịnh Đặng Nguyên Hương, Viện Văn học – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, trong dòng chảy của văn học đương đại, văn học thiếu nhi đang có nhiều chuyển động và đổi mới đáng chú ý, cả ở cách tiếp cận đề tài, hình thức thể hiện lẫn chiều sâu cảm xúc. Theo bà, dù đời sống xã hội không ngừng biến đổi, văn học thiếu nhi vẫn luôn giữ được những giá trị cốt lõi của mình như một miền sáng trong của văn chương – nơi con người tìm thấy sự hồn nhiên, lòng tin và khả năng chữa lành tinh thần.

Tiến sĩ Trịnh Đặng Nguyên Hương nhấn mạnh, văn học thiếu nhi không chỉ dành cho trẻ em mà còn mở ra một không gian đồng cảm cho cả người lớn. Trong thế giới của những câu chuyện tuổi thơ, mỗi độc giả đều có thể tìm thấy một phần ký ức của chính mình, được trở về với những rung động nguyên sơ và cảm giác hạnh phúc giản dị mà sâu xa. Chính vì thế, văn học thiếu nhi luôn là “vùng đất đẹp đẽ, đầy ánh sáng”, nơi con người có thể đắm mình trong sự say mê của trí tưởng tượng, trong vẻ đẹp của lòng nhân hậu và những giá trị nhân văn.

Từ những quan sát của mình, bà cũng gợi mở rằng sự đổi mới của văn học thiếu nhi hôm nay không nằm ở việc chạy theo xu hướng, mà ở khả năng đối thoại với tâm hồn trẻ thơ bằng một tinh thần hiện đại nhưng vẫn giữ được sự trong trẻo và nhân ái của văn chương.

Văn học thiếu nhi đương đại: Dư địa rộng mở cho những người viết trẻ - 4

Các tác giả trẻ chia sẻ tại tọa đàm.

Ở góc độ người viết, các tác giả trẻ cho rằng văn học thiếu nhi đòi hỏi sự quan sát tinh tế và khả năng tiếp cận gần gũi với đời sống trẻ em hôm nay. Không chỉ dành riêng cho thiếu nhi, những trang viết ấy còn mở ra không gian kết nối và đối thoại giữa các thế hệ, nơi con người gìn giữ những ký ức đẹp, nuôi dưỡng lòng nhân ái, sự tử tế và cảm nhận về cái đẹp trong cuộc sống.

Bên cạnh đó, các ý kiến tại tọa đàm cũng góp phần làm rõ vai trò, đóng góp của Giải thưởng Văn học Kim Đồng trong việc nuôi dưỡng lực lượng viết trẻ cũng như thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này. Theo các diễn giả, cùng với sự vận động của đời sống văn học thiếu nhi đương đại, sự ra đời của Giải thưởng Văn học Kim Đồng có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển đội ngũ sáng tác cho thiếu nhi. Giải thưởng đã tạo một không gian khích lệ người viết chuyên và không chuyên mạnh dạn gửi gắm những sáng tác mới cho bạn đọc nhỏ tuổi.

Trong khuôn khổ tọa đàm, giới thiệu về Giải thưởng Văn học Kim Đồng, bà Vũ Thị Quỳnh Liên, Phó Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Kim đồng cho biết, Giải thưởng Văn học Kim Đồng là giải thưởng thường niên do Nhà xuất bản Kim Đồng sáng lập từ năm 2023, nhằm khuyến khích sáng tác văn học dành cho thiếu nhi và tìm kiếm những gương mặt viết trẻ giàu tiềm năng.

Từ thành công của mùa giải lần thứ nhất, Nhà xuất bản Kim Đồng tiếp tục phát động cuộc vận động sáng tác Giải thưởng Văn học Kim Đồng lần thứ hai (2025 – 2027) với đối tượng độc giả được mở rộng, gồm: nhi đồng, thiếu niên và thanh niên; với hai hệ thống giải thưởng: Giải thưởng Văn học Kim Đồng dành cho các tác phẩm xuất sắc viết cho thiếu nhi và Giải thưởng Văn học Kim Đồng dành cho các tác phẩm xuất sắc viết cho người trẻ.

“Thông qua giải thưởng, Nhà xuất bản Kim Đồng mong muốn phát hiện thêm các cây bút có tiềm năng, cổ vũ những tìm tòi nghệ thuật mới và tạo điều kiện để các bản thảo chất lượng có cơ hội được xuất bản, đến với đông đảo bạn đọc”, bà Vũ Thị Quỳnh Liên chia sẻ.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Geely tung ảnh “nhá hàng” Coolray 2026 tại Việt Nam, giá dự kiến từ 500 triệu đồng


Geely đang tăng tốc cuộc đua ở phân khúc B-SUV với màn chuẩn bị ra mắt phiên bản mới của Coolray.




Nguồn: Arttimes.vn

Haval H6 được giảm giá hơn 400 triệu đồng tại đại lý


Giá bán lao dốc, Haval H6 hiện chỉ ngang tầm phân khúc dưới.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Cô gái bất ngờ nhảy khỏi xe máy đang chạy


Đang ngồi sau xe máy, cô gái liên tục có hành động khó hiểu rồi bất ngờ nhảy xuống đường khi xe vẫn di chuyển.




Nguồn: Arttimes.vn

Phát huy vai trò của văn học nghệ thuật trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc


Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 – sự kiện chính trị, xã hội có ý nghĩa đặc biệt trong việc củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới, những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng thu hút sự quan tâm sâu sắc của giới chuyên môn và công chúng. Nhân dịp này, PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã có những chia sẻ tâm huyết, góp phần làm rõ vai trò, sứ mệnh của văn học nghệ thuật như một thành tố quan trọng trong “mái nhà chung” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Phát huy vai trò của văn học nghệ thuật trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - 1

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

PV: Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI đối với việc củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt trong lĩnh vực văn học nghệ thuật?

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân: Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 là sự kiện chính trị – xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, diễn ra trong bối cảnh đất nước tiếp tục triển khai các định hướng lớn được xác lập tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cũng như thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Đây là dấu mốc thể hiện bước chuyển có tính chiến lược trong việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng trong giai đoạn phát triển mới. Không chỉ khẳng định vị trí, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tạo nền tảng vững chắc để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.

Bên cạnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI cũng tạo ra không gian, động lực mới để các lĩnh vực, trong đó có văn học nghệ thuật phát huy đầy đủ vai trò của mình trong đời sống xã hội. Thông qua Đại hội, vai trò của văn học nghệ thuật được mở rộng cả về chiều sâu lẫn tầm vóc, không chỉ dừng lại ở hoạt động sáng tạo, mà còn trở thành một lực lượng quan trọng tham gia định hướng giá trị, bồi đắp nền tảng tinh thần và khơi dậy tinh thần đồng thuận xã hội. Đồng thời, là dịp để văn học nghệ thuật được nhìn nhận trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển chung của đất nước, gắn chặt hơn với thực tiễn đời sống và những vấn đề lớn của xã hội. Chính từ đó, văn học nghệ thuật góp phần thiết thực vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của đất nước.

PV: Trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những định hướng lớn nào cần được ưu tiên để văn học nghệ thuật thực sự trở thành cầu nối giữa các tầng lớp nhân dân?

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân: Để văn học nghệ thuật thực sự trở thành cầu nối bền chặt giữa các tầng lớp nhân dân trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết cần quán triệt sâu sắc và triển khai hiệu quả các định hướng lớn về phát triển văn hóa đã được xác lập trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và các chủ trương, chính sách liên quan. Đây chính là nền tảng, tạo hành lang pháp lý và động lực mới cho hoạt động sáng tạo, đồng thời nâng cao trách nhiệm xã hội của đội ngũ văn nghệ sĩ. Từ những cơ sở đó, văn học nghệ thuật cần phát huy mạnh mẽ chức năng phản ánh đời sống, lan tỏa các giá trị nhân văn, hướng tới con người và những vấn đề cấp thiết của xã hội, qua đó tạo sự đồng cảm, chia sẻ và củng cố sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân. Việc mở rộng không gian tiếp cận, đưa văn học nghệ thuật đến gần hơn với công chúng, nhất là ở cơ sở, cũng là yếu tố quan trọng để tăng cường tính kết nối xã hội.

Cùng với đó, việc phát huy vai trò tập hợp, định hướng của các tổ chức chính trị – xã hội, trong đó có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam là yếu tố quan trọng nhằm tạo sự gắn kết giữa đội ngũ văn nghệ sĩ với đời sống xã hội. Những chủ trương, chính sách cụ thể, nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả sẽ tiếp tục là “kim chỉ nam” để văn học nghệ thuật phát huy vai trò kết nối, đồng hành cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới.Top of FormBottom of Form

PV: Đại hội là dấu mốc lịch sử, mở đầu cho nhiệm kỳ vận hành bộ máy với tầm vóc và chặng đường phát triển mới, khi các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ về trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo ông, sự thay đổi này đặt ra những cơ hội và thách thức gì đối với hoạt động sáng tạo cũng như cơ chế vận hành của Liên hiệp và các hội văn học nghệ thuật trong thời gian tới?

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân: Việc kiện toàn hệ thống tổ chức theo hướng trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mở ra cơ hội quan trọng để tăng cường tính liên kết, thống nhất trong hoạt động, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho văn học nghệ thuật gắn bó chặt chẽ với đời sống xã hội và phát huy vai trò trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đối với Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và các hội chuyên ngành, đây là điều kiện để tiếp tục đổi mới tổ chức, tinh gọn bộ máy theo tinh thần các nghị quyết của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và chất lượng sáng tạo.

Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về cơ chế vận hành và trách nhiệm xã hội của đội ngũ văn nghệ sĩ. Hoạt động sáng tạo không chỉ dừng ở giá trị nghệ thuật, mà cần gắn với nhiệm vụ chính trị, với yêu cầu lan tỏa giá trị nhân văn, củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Do đó, cùng với cơ hội phát triển, Liên hiệp và các hội chuyên ngành cần chủ động thích ứng, nâng cao năng lực tổ chức và định hướng sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

PV: Nhìn từ thực tiễn hoạt động của Liên hiệp và các hội, ông có đề xuất gì để tăng cường tính liên kết, phối hợp và tạo nên sức mạnh tổng hợp giữa các hội văn học nghệ thuật và các tổ chức thành viên trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam?

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân: Khi trở thành thành viên chính thức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp và các hội văn học nghệ thuật đứng trước yêu cầu cao hơn về tính liên kết và phối hợp hành động. Trước hết, cần tăng cường kết nối giữa các hội chuyên ngành trên cơ sở tôn trọng đặc thù sáng tạo của từng lĩnh vực, đồng thời xây dựng các chương trình, chủ đề chung mang tính liên ngành, hướng tới những vấn đề lớn của đời sống xã hội.

Quan trọng hơn, cần mở rộng sự phối hợp với các tổ chức thành viên trong hệ thống Mặt trận như: nông dân, công nhân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, doanh nhân… qua đó đưa văn học nghệ thuật gắn bó sâu sắc hơn với thực tiễn, phản ánh đa dạng đời sống và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Sự liên kết này sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của đội ngũ văn nghệ sĩ cả nước, góp phần nâng cao chất lượng sáng tạo và khả năng lan tỏa của tác phẩm.

Cùng với đó, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn mở rộng tới việc tập hợp, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ trong sự nghiệp phát triển đất nước. Với vị thế là trung tâm liên kết các lực lượng xã hội, Mặt trận thực sự sẽ trở thành một “đòn bẩy” quan trọng, tạo môi trường và động lực để văn học nghệ thuật phát triển, qua đó góp phần bồi đắp nền tảng tinh thần, định hình hệ giá trị và phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn mới.

PV: Ông kỳ vọng điều gì vào những thông điệp, quyết sách của Đại hội đối với đội ngũ văn nghệ sĩ?

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân: Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ gửi đi những thông điệp rõ ràng về vai trò, trách nhiệm của đội ngũ văn nghệ sĩ trong giai đoạn mới, đồng thời ban hành các quyết sách đủ mạnh để khơi dậy tinh thần dấn thân, bản lĩnh sáng tạo và ý thức phục vụ cộng đồng. Quan trọng hơn, các định hướng của Đại hội cần tạo điều kiện để văn nghệ sĩ phát huy năng lực trong môi trường hội nhập, gắn sáng tạo với thực tiễn đời sống, qua đó lan tỏa sâu rộng các giá trị văn hóa Việt Nam, góp phần củng cố nền tảng tinh thần xã hội và nâng cao vị thế văn hóa của đất nước trên trường quốc tế.

Cảm ơn những chia sẻ của ông!

Huyền Thương (thực hiện)




Nguồn: Arttimes.vn

Mở khóa thể chế, đánh thức văn hóa


Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu tăng trưởng nhanh gắn với phát triển bền vững, ngay tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ký ban hành Nghị quyết số 28 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là bước chuyển kịp thời và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.

“Chìa khóa” mở đường cho văn hóa phát triển

Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam thành Nghị quyết 28 của Quốc hội chính là “chìa khóa” mở đường để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia. Đây là yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới tư duy phát triển, cũng là nhiệm vụ chính trị – lập pháp quan trọng của Quốc hội nhằm cụ thể hóa, khẩn trương đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Nhiệm vụ này càng nổi bật bởi đất nước đang đứng trước yêu cầu xây dựng một hệ giá trị mới phù hợp với kỷ nguyên phát triển. Kinh tế có thể tạo ra của cải vật chất, khoa học – công nghệ làm tăng năng suất lao động, hạ tầng mở rộng không gian phát triển, nhưng văn hóa mới là yếu tố quyết định chiều sâu, bản lĩnh và sức bền của quốc gia, dân tộc.

Một đất nước muốn đi xa không thể chỉ mạnh về vốn, công nghệ, hạ tầng hay thị trường, mà phải có con người giàu nhân cách, xã hội có chuẩn mực, cộng đồng có bản sắc và quốc gia có sức hấp dẫn văn hóa.

Mở khóa thể chế, đánh thức văn hóa - 1

Ngay tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ký ban hành Nghị quyết số 28 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, đời sống văn hóa vẫn còn có biểu hiện lệch chuẩn, giải trí vụn vặt, thiếu chiều sâu, thậm chí có lúc xa rời chân – thiện – mỹ. Mặt khác, xuất hiện ngày càng nhiều những sản phẩm chạy theo xu hướng nhất thời, thiếu tính nhân văn của nghệ thuật; hoạt động văn học nghệ thuật có phần chững lại, vắng bóng những tác phẩm nghệ thuật cao, có năng lực hiệu triệu, sức lay động…

Đặc biệt, trong một bối cảnh xã hội hiện đại nhiều biến động, mạng xã hội mở rộng, nền tảng số xuyên biên giới phát triển nhanh, công nghiệp giải trí thay đổi mạnh mẽ, thị hiếu công chúng phân hóa khiến các giá trị truyền thống chịu sức ép cạnh tranh rất lớn.

Trong bài phát biểu tại buổi gặp mặt đội ngũ văn nghệ sĩ ngày 30/12/2024, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, đồng thời nhấn mạnh văn hóa, nghệ thuật không thể đứng ngoài kinh tế và chính trị.

Điều đó cho thấy, từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đến Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị và được thể chế hóa bằng Nghị quyết số 28 của Quốc hội là sự tiếp nối nhất quán “mạch nguồn” của Đảng, Nhà nước về vai trò dẫn đường, điều tiết và nâng cao chất lượng phát triển và luôn coi văn hóa là một mặt trận, sức mạnh tinh thần, phương thức tập hợp và nâng đỡ con người.

Các nghị quyết trong giai đoạn mới là “hồi trống” thúc giục đổi mới trong tư duy, xây dựng thể chế, phương thức đầu tư và phương cách đưa văn hóa trở nên đại chúng, gần gũi hơn với nhân dân.

Nói cách khác, chiến lược phát triển hiện nay không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu phải cụ thể hóa bằng cơ chế, chính sách và khung pháp lý để văn hóa được nâng đỡ và bảo vệ. Từ đó, trong kỷ nguyên mới, tư duy phát triển văn hóa cần chuyển từ việc chỉ khẳng định, nhấn mạnh vai trò của văn hóa sang kiến tạo hành lang pháp lý và các điều kiện thực tiễn để văn hóa phát triển bền vững.

Nếu Nghị quyết 80 là những định hướng chính trị chiến lược trong phát triển văn hóa thì Nghị quyết của Quốc hội tập trung trực diện để giải quyết các điểm nghẽn. Trong đó, điểm nghẽn thứ nhất là nguồn lực. Lâu nay, đầu tư cho văn hóa thường thấp, phân tán, nhiều nơi còn coi văn hóa là lĩnh vực có thể cắt giảm khi ngân sách khó khăn.

Nghị quyết đã đưa ra yêu cầu bảo đảm nguồn lực tương xứng, trong đó có chỉ tiêu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Đây là gợi mở rất quan trọng, bởi muốn văn hóa trở thành động lực phát triển thì trước hết phải được bảo đảm bằng nguồn lực thực chất, ổn định và có khả năng dẫn dắt xã hội.

Điểm nghẽn thứ hai là thể chế, thủ tục, quy hoạch, đất đai và mô hình vận hành. Nhiều địa phương muốn xây dựng không gian sáng tạo, trung tâm biểu diễn, bảo tàng, nhà hát, công viên văn hóa với kiến trúc đặc trưng, sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc nhưng lại vướng quy hoạch, đất đai, cơ chế tài chính và mô hình quản trị.

Nghị quyết 28 đã xóa bỏ các rào cản đang kìm hãm nguồn lực xã hội đầu tư vào văn hóa, mở đường cho các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa; đồng thời có chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh, ưu đãi thuế đối với tổ chức, cá nhân đầu tư vào hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao và một số ngành công nghiệp văn hóa trọng tâm như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, trò chơi điện tử có nội dung giáo dục, quảng bá giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam.

Điểm nghẽn thứ ba là làm sao để văn hóa đi vào cộng đồng. Muốn văn hóa sống được trong đời sống nhân dân, cần một hệ thống thiết chế thực sự hoạt động sinh động.

Thiết chế văn hóa ở đây không chỉ là nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, rạp hát, trung tâm triển lãm, quảng trường, sân khấu, không gian sáng tạo, mà còn là trường học, khu dân cư, nền tảng số, câu lạc bộ cộng đồng, trung tâm học tập suốt đời, nơi người dân có thể gặp gỡ, học hỏi, sáng tạo, biểu diễn, thưởng thức và chia sẻ giá trị văn hóa.

Nhà văn hóa hoành tráng chỉ để hội họp thì không phải là thiết chế sống. Bảo tàng mở cửa đón du khách đến tham quan nhưng không có hoạt động giáo dục, thiếu trải nghiệm, tương tác thì chưa thể đi vào đời sống cộng đồng. Nhà hát sáng đèn nhưng chương trình xa rời công chúng, sân khấu không có những “thanh âm vượt tầng”, vắng bóng tác phẩm lớn “vượt thời đại”, giá vé “trên trời” thì chưa thể trở thành không gian nuôi dưỡng tâm hồn xã hội.

Mọi thiết chế, chính sách đều phải hướng đến con người

Vì vậy, Nghị quyết 28 của Quốc hội đặt ra yêu cầu rất cụ thể như: Giao Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giao tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở. Đây là bước chuyển trọng tâm từ có công trình sang công trình phải hoạt động, trở thành nơi nuôi dưỡng đời sống tinh thần, kết nối cộng đồng và bồi đắp bản sắc ngay từ cơ sở.

Bởi văn hóa, nghệ thuật đi vào cộng đồng không phải bằng việc xây thật nhiều nhà văn hóa, mà bằng cách làm cho các thiết chế ấy trở thành điểm hẹn sinh hoạt tinh thần, nơi người dân được tham gia, sáng tạo và đối thoại chứ không chỉ để tiếp nhận một chiều.

Để làm được điều đó, mỗi thiết chế văn hóa phải có chương trình hoạt động thường xuyên, phù hợp với từng nhóm đối tượng trong cộng đồng: Trẻ em, thanh niên, người cao tuổi, công nhân, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật…

Mặt khác, từ góc nhìn của doanh nghiệp, các nhà đầu tư – những người kỳ vọng vào sự khởi sắc của nền công nghiệp văn hóa mới, họ đang chờ đợi đầu tư vào văn hóa được bảo đảm bằng những chính sách gì và được hỗ trợ bằng những động lực cụ thể nào?

Mở khóa thể chế, đánh thức văn hóa - 2

Tác giả bài viết, TS Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: DV 

Do đó, Nghị quyết không chỉ kêu gọi doanh nghiệp yêu văn hóa, mà xác lập doanh nghiệp, doanh nhân là một chủ thể quan trọng trong phát triển văn hóa. Các chính sách về ưu đãi đất đai, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, ưu tiên công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến, sản xuất nội dung số, phát triển sản phẩm dịch vụ văn hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số là những quy định trong chính sách rất rõ ràng.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các lĩnh vực như: Điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, hội họa, kiến trúc, thiết kế thời trang, du lịch văn hóa, truyền thông sáng tạo và các sản phẩm văn hóa số…

Văn hóa cần thị trường để có sức sống và làm mới mình, nhưng không thể bị thị trường hóa cực đoan. Thiết chế văn hóa cần nguồn lực xã hội, nhưng không thể biến tài sản công, di sản, ký ức cộng đồng thành công cụ khai thác ngắn hạn.

Vì vậy, bên cạnh ưu đãi phải là tiêu chí minh bạch, hậu kiểm chặt chẽ, cam kết phục vụ cộng đồng, bảo vệ bản sắc và đo lường hiệu quả xã hội. Một dự án văn hóa tốt không chỉ tạo doanh thu, mà còn tạo công chúng, tạo thói quen văn hóa, tạo cơ hội cho nghệ sĩ, tạo sinh kế cho cộng đồng và làm giàu hình ảnh quốc gia.

Ở tầm nhìn dài hơn, rộng hơn, sâu hơn, đột phá hơn, mọi thiết chế, cơ chế, chính sách cuối cùng đều phải hướng đến con người. Các văn nghệ sĩ cần bám sát nhịp sống nhân dân, đi vào những vấn đề mới mang hơi thở cuộc sống, để vốn sống của người nghệ sĩ đập cùng nhịp đập của xã hội, đời sống dân sinh.

Tinh thần ấy cũng là để văn hóa và các thiết chế đi cùng trong giai đoạn mới, không xa cách đời sống xã hội, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, được nuôi dưỡng từ chính cộng đồng, luôn ở trong nhân dân, linh hoạt, mở cửa, hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa nhân loại, gần gũi, hấp dẫn, nhân văn, có khả năng nuôi dưỡng tâm hồn và nâng cao chất lượng sống của người dân.

TS Vũ Văn Tiến – Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Theo Dân Việt




Nguồn: Arttimes.vn

Những ngày Văn học châu Âu năm 2026: Khám phá nỗi cô đơn và sự đoàn kết trong văn chương


Những ngày Văn học châu Âu năm 2026 diễn ra từ ngày 6 – 17/5/2026 tại Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh, và được triển khai qua một chuỗi các buổi tọa đàm, workshop, trưng bày sách và các hình thức tương tác, cùng khám phá chủ đề “Nỗi cô đơn và sự đoàn kết” từ nhiều góc nhìn văn học và văn hóa khác nhau.

Trong buổi họp báo thông tin về sự kiện, sáng 6/5, tại Hà Nội, đại diện Ban tổ chức đã có những chia sẻ về chủ đề của Liên hoan năm nay – Từ mình đến ta: Nỗi cô đơn và sự đoàn kết trong văn chương Châu Âu.

Những ngày Văn học châu Âu năm 2026: Khám phá nỗi cô đơn và sự đoàn kết trong văn chương - 1

Họp báo thông tin về Những ngày Văn học châu Âu năm 2026.

Theo đó, “nỗi cô đơn không còn đơn thuần là một trải nghiệm cá nhân, nó đã trở thành một trong những trạng thái định hình thế kỷ hai mươi mốt, được tạo nên bởi sự xâm lấn của công nghệ vào mọi chiều kích của đời sống con người, bởi những khác biệt giữa các thế hệ và các nền văn hóa, và bởi sự xói mòn của những điểm tựa chung từng gắn kết cộng đồng lại với nhau. Thế nhưng sự đoàn kết, sự thôi thúc vươn tay về phía người khác, vẫn tồn tại, dù là ở một trạng thái mong manh hơn”.

Những ngày Văn học châu Âu năm 2026 đặt ra những câu hỏi: Nỗi cô đơn mang những hình hài nào, và nó cất lên tiếng gì? Cơ thể con người phản ứng ra sao khi di chuyển giữa sự cô lập và sự kết nối? Văn học đóng vai trò gì trong một thế giới dường như ngày càng vỡ vụn?

Viện trưởng Viện Goethe Oliver Brandt cho biết, những câu hỏi này sẽ được khai mở qua tiếng nói của năm nhà văn Châu Âu đương đại nổi bật, trong đối thoại với các nhà văn, học giả và độc giả Việt Nam.

Trong đó, kịch tác gia kiêm tiểu thuyết gia Sasha Marianna Salzmann và tiểu thuyết gia Miku Sophie Kühmel đến từ Đức mang đến những góc nhìn được định hình bởi những câu hỏi về bản sắc, lịch sử và sự thân mật. Từ Vương quốc Anh, Rebecca Watson khám phá nội tâm và sự đứt gãy cảm xúc qua những trang văn xuôi cách tân đặc sắc về hình thức. Nhà văn người Áo Peter Simon Altmann suy ngẫm về nỗi cô đơn và sự tha hương qua những tự sự được định hình bởi những năm tháng dài dịch chuyển giữa Châu Âu và Đông Á. Nhà văn kiêm nhà du hành người Pháp Thibault Clemenceau mang đến một góc nhìn bắt rễ từ sự di chuyển, những cuộc gặp gỡ và sự kết nối sống động xuyên lục địa.

Những ngày Văn học châu Âu năm 2026: Khám phá nỗi cô đơn và sự đoàn kết trong văn chương - 2

Đại diện Ban tổ chức giới thiệu về Những ngày Văn học châu Âu năm 2026.

Trưởng đại diện Phái đoàn Wallonie – Bruxelles tại Việt Nam Piere Du Ville nhấn mạnh, sự kiện không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu văn hóa, mà còn là một lời mời gọi bước vào cuộc đối thoại của đời sống đương đại. Đây cũng là dịp để độc giả từ những không gian văn hóa khác nhau có thể gặp gỡ, cùng chia sẻ và hòa mình vào thế giới của sách.

Ông bày tỏ kỳ vọng, chương trình sẽ góp phần lan tỏa tinh thần đa dạng và đa văn hóa của văn học châu Âu, đồng thời khơi gợi sự quan tâm, khám phá từ đông đảo công chúng.

Điểm nhấn của Những ngày Văn học châu Âu năm 2026 là bốn buổi tọa đàm lớn, đề cập đến nỗi cô đơn và sự đoàn kết qua các chủ đề như sự câm lặng và đè nén, cơ thể trong không gian đô thị, bản sắc và sự chưa hoàn tất, và hành động viết như một nỗ lực hàn gắn.

Những ngày Văn học châu Âu năm 2026: Khám phá nỗi cô đơn và sự đoàn kết trong văn chương - 3

Những ngày Văn học châu Âu năm 2026 diễn ra từ ngày 6 – 17/5/2026 tại Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh.

Chương trình năm nay cũng thử nghiệm những hình thức tương tác và gắn kết với không gian mới mẻ, trong đó có một buổi đi bộ xướng đọc văn chương vào ban đêm tại Hà Nội, mời khán giả tiếp cận các văn bản văn học qua những không gian đô thị khác nhau.

Những hình thức này được Ban tổ chức kỳ vọng sẽ góp phần mở rộng trải nghiệm văn học ra ngoài các địa điểm thông thường, kết nối văn học gần gũi hơn với nhịp sống và không gian của thành phố.

Đặc biệt, Những ngày Văn học châu Âu năm 2026 sẽ giới thiệu hai trưng bày sách trong khuôn khổ hợp tác với Hội Sách Frankfurt – hội sách lớn nhất thế giới tính theo số lượng nhà xuất bản tham gia.

Được khởi xướng từ năm 2011 bởi EUNIC Việt Nam, Những ngày Văn học châu Âu năm 2026 đã trở thành một sự kiện văn học thường niên quan trọng với công chúng yêu văn học Việt Nam, đồng thời là một diễn đàn đối thoại quan trọng về nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng giữa Châu Âu và Việt Nam.

Các tổ chức đồng tổ chức năm 2026 gồm: Goethe-Institut (chủ trì), Institut Français, British Council, Đại sứ quán Áo, Đại sứ quán Ý, Czech Centres, Délégation générale Wallonie-Bruxelles.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

“Thời tiết của ký ức”: Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản


Tuy Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến là những cá tính văn chương độc bản nhưng họ đều có điểm chung là những người lính đã đi qua những mùa nắng cháy và mưa bom khốc liệt, để rồi sau bao thăng trầm, họ chưng cất tất cả vào tập truyện ngắn “Thời tiết của ký ức”.

Nhân dịp tác phẩm được ra mắt, ngày 6/5, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã tổ chức buổi gặp gỡvới chủ đề “Thời tiết của ký ức”. Cuộc giao lưu văn chương này đã thực sự mở ra một không gian đối thoại sâu lắng với ký ức, nơi những trải nghiệm cá nhân được đánh thức, cộng hưởng và lan tỏa.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 1

Chương trình có sự tham gia của đông đảo nhà văn, nhà thơ và độc giả.

Ảnh: Huyền Thương

Tại chương trình, qua sự dẫn dắt của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và nhà thơ Văn Công Hùng, các nhà văn Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến không chỉ kể lại hành trình cầm bút của mình như những lát cắt tiểu sử, mà còn mở ra những tầng sâu của đời sống sáng tạo, nơi văn chương được hình thành từ trải nghiệm rất đời thường, rất chân thật nhưng đôi khi cũng là những day dứt không dễ để gọi tên.

Từ quan niệm viết đến những kỷ niệm nghề văn, mỗi chia sẻ đều cho thấy một cách đối diện riêng với hiện thực và với chính mình, khi người viết phải đi qua cô đơn, hoài nghi, thậm chí là những giới hạn nội tâm để giữ lấy sự trung thực của ngòi bút. Qua đó, độc giả không chỉ hiểu hơn về tác phẩm, mà còn thấy được bản lĩnh của sự dấn thân, của ký ức được gìn giữ và của những thái độ sống bền bỉ với văn chương.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 2

Phần tọa đàm có sự tham gia của các nhà văn: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến.

Ảnh: Huyền Thương

Cũng tại đây, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã dành thời gian chia sẻ những kỷ niệm riêng tư và giàu cảm xúc với từng nhà văn xuất hiện trong tập truyện ngắn Thời tiết của ký ức. Những câu chuyện của ông không dừng lại ở hồi ức, mà còn mở ra một cách nhìn sâu hơn về hành trình sáng tạo, cách họ sống, cách họ viết, cách họ làm nên những giọng điệu riêng không thể trộn lẫn, đồng thời lý giải vì sao những trang viết của họ vẫn còn sức nặng và độ ngân vang trong lòng bạn đọc hôm nay.

“Lịch sử có thể bị biến đổi ở một thời điểm nào đó, nhưng ký ức của dân tộc thì không thể thay đổi. Các nhà văn chính là những người lưu giữ những ký ức ấy, đó có thể là ký ức của thời đại, của mỗi cá nhân, của từng gia đình và của chính họ. Chính bởi không thể bị thay đổi, ký ức luôn sống động trong từng trang viết của họ ở thực tại”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 3

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã chia sẻ nhiều kỷ niệm với năm nhà văn.

Ảnh: Huyền Thương

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam thì cho rằng, điểm gặp gỡ đáng quý của cả năm nhà văn không chỉ nằm ở bề dày trải nghiệm, mà còn ở sự chân thành hiếm có trong cách họ nhìn lại đời viết của mình. Mỗi người mang đến một câu chuyện riêng, mộc mạc, không tô vẽ, nhưng đủ sức gợi mở những tầng sâu của ký ức và sáng tạo. Chính những vốn sống và vốn văn chương phong phú ấy khi đặt cạnh nhau không tạo ra sự chênh lệch mà ngược lại, họ đã cùng nâng đỡ nhau, tạo nên một chỉnh thể hài hòa, góp phần làm đẹp thêm cho cuốn sách, và rộng hơn là làm giàu có diện mạo của văn chương đương đại.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 4

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhận xét về cá tính văn chương của các tác giả.

Ảnh: Huyền Thương

Tập truyện ngắn Thời tiết của ký ức là sự hội tụ đặc biệt của năm cây bút giàu trải nghiệm: Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín và Phạm Ngọc Tiến. Nhan đề của cuốn sách được lấy từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Bảo Ninh như một gợi dẫn đầy ám ảnh, dẫn dắt người đọc bước vào miền hồi ức đã được chưng cất qua năm tháng.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 5

Tập truyện ngắn “Thời tiết của ký ức”.

Ảnh: Huyền Thương

Qua 12 truyện ngắn, cuốn sách mở ra một không gian ký ức đa chiều, nơi mỗi tác giả mang đến một “tiết trời” riêng của đời sống, khi lặng lẽ, chiêm nghiệm, lúc lại gai góc, dữ dội nhưng luôn đậm đặc những suy tư và chiều sâu nhân bản.

Nhà văn Trung Trung Đỉnh góp mặt trong Thời tiết của ký ức với hai truyện ngắn Khoảng sáng trên đỉnh dốc và Người trong cuộc, tiếp tục khẳng định giọng văn từng trải, đậm chất người lính và hơi thở nồng nàn của đất rừng Tây Nguyên.

Với ba truyện ngắn Ngôi sao vô danh, Ba lẻ một và Thời tiết của ký ức, nhà văn Bảo Ninh mang đến một thế giới ký ức đầy day dứt, nơi chiến tranh và hậu chiến không hiện lên bằng những sự kiện lớn lao mà bằng những ám ảnh tinh vi của tâm hồn. Giọng văn của ông chậm, sâu và giàu chất trữ tình, như tiếng lòng của một người lính từng đi qua cuộc chiến nhưng chưa bao giờ thực sự rời khỏi nó, ở đó, ký ức trở thành một dạng “thời tiết” riêng, vừa mơ hồ, vừa dai dẳng.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập góp mặt với ba truyện Đò ơi, Tiếng khèn bè và Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri, mang theo giọng văn vừa dân dã, hóm hỉnh, vừa ẩn chứa nhiều chiêm nghiệm sắc sảo.

Sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Trọng Tín với truyện ngắn kinh điển Bè trầm mang đến một điểm lắng đặc biệt cho tập sách. Tác phẩm đã được ghi nhận như một thành tựu quan trọng của nền văn học thời hậu chiến, những câu chuyện về người lính sau ngày thống nhất đất nước đã gợi lại âm vang của tháng ngày chiến tranh với nhiều thăng trầm.

Góp thêm một “mảng màu” cá tính cho tập truyện, nhà văn Phạm Ngọc Tiến mang đến ba tác phẩm Họ đã trở thành đàn ông, Bạch Tuyết và một chú lùn Chạy trốn với lối viết không ngần ngại phơi bày những thực tại gai góc, nhưng luôn giữ được sự nhân văn và thấu cảm.

"Thời tiết của ký ức": Cuộc hội ngộ đặc biệt của năm cá tính văn chương độc bản - 6

Chương trình đã thực sự mở ra một không gian đối thoại sâu lắng với ký ức, nơi những trải nghiệm cá nhân được đánh thức, cộng hưởng và lan tỏa.

Ảnh: Huyền Thương

Thời tiết của ký ức vì thế không chỉ là một tập truyện ngắn, mà còn là cuộc gặp gỡ của nhiều trải nghiệm và nhiều giọng điệu văn chương cùng hội tụ trên một miền ký ức chung. Từ những năm tháng khốc liệt, rực rỡ đến những khoảnh khắc lặng lẽ của đời thường, tất cả được đánh thức bằng độ lùi của thời gian và sự từng trải của những người đã sống sâu, viết thật. Đây cũng là nơi những người bạn văn tìm lại nhau trong dòng chảy ký ức, còn độc giả thì không chỉ đọc những câu chuyện đã qua, mà còn chạm tới chiều sâu tâm hồn và bản lĩnh của những người cầm bút mình yêu mến.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn