Home Blog Page 11

Những người “lưu giữ” văn hóa làng


Giữa nhịp sống đang đổi thay từng ngày ở Huế, những mái đình làng cổ ở khắp các phường, xã vẫn lặng lẽ tồn tại như những “kho lưu trữ ký ức” của cộng đồng. Điều làm nên “linh hồn” của đình làng không chỉ là kiến trúc, đó còn là những thủ từ, bậc cao niên, người giữ sắc phong, gia phả… như giữ chính lịch sử sống của cộng đồng, theo Nhân dân.

Những người “lưu giữ” văn hóa làng - 1Nghi lễ khai mở hòm bộ sắc phong và tiến hành số hóa các tư liệu gia phả tại làng Cự Lại (thành phố Huế).

Đình làng Dạ Lê Thượng, ở phường Thanh Thủy, nằm khuất sau những hàng cây cổ thụ, rêu phong phủ kín mái ngói, không gian tĩnh lặng như tách biệt với phố xá bên ngoài. Trong gian chính điện, ông Nguyễn Văn Diễu, một thủ từ, bảo vệ đình làng, đang cẩn thận lau từng bức hoành phi, câu đối đã nhuốm màu thời gian: “Giữ đình là giữ cho làng còn nhớ mình là ai”.

Trong thời gian làng cử trông coi đình, ông Diễu chưa từng rời vị trí quá lâu. Trong mùa mưa lũ, ông là người đầu tiên có mặt để kiểm tra ngôi đình, kê cao các hiện vật. “Có lúc nước lên nhanh, tôi phải thức trắng đêm. Nhà mình có thể hư, nhưng đình làng thì không thể để hỏng”, ông Diễu chia sẻ.

Theo ông Nguyễn Viết Trí, Hội chủ làng Dạ Lê Thượng, vai trò của người thủ từ không chỉ là người trông coi, mà còn là “người giữ ký ức tập thể”. “Ông Diễu cùng các bô lão – thành viên của Hội tộc làng, là những người kể chuyện cho lớp trẻ về tiền hiền, hậu hiền, về quá trình hình thành của cộng đồng cư dân mỗi dịp làng tế lễ. Ký ức về làng được lưu giữ trong các sắc phong, trong từng trang gia phả của các dòng họ và không gian đình. Gia phả của họ tộc không phải chỉ để biết tên tuổi, mà giúp con cháu hiểu mình từ đâu, đã đi qua những gì”, ông Trí cho biết.

Rời Dạ Lê, chúng tôi tìm đến làng Phù Bài, nơi nổi tiếng với truyền thống hiếu học và những dòng họ lâu đời, hình thành vào khoảng năm 1558, thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Hiện làng đang lưu giữ 7 sắc phong của các đời vua cùng hơn 20.000 trang tư liệu có giá trị (đã được số hóa) về địa bạ, đinh bạ thời Tây Sơn, Gia Long cùng nhiều phong tục, tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội cổ truyền. Đình làng nằm bên dòng sông Phù Bài hiền hòa, không gian thoáng đãng, yên bình như một bức tranh thủy mặc.

Ông Ngô Phước Toàn – tự thừa của làng, dẫn chúng tôi đi qua từng gian đình. Ông dừng lại trước nơi đặt sắc phong, được bảo quản trong hộp kính. “Chúng tôi chỉ mở ra vào dịp lễ lớn. Không phải để cất giữ, mà để mọi người biết làng mình có lịch sử lâu đời”, ông Toàn cho biết. Theo ông, việc giữ gìn đình làng hiện nay đối diện nhiều thách thức: Thời tiết khắc nghiệt, sự xuống cấp của vật liệu và sự thờ ơ của một bộ phận giới trẻ. Tuy vậy, ông cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực. Nhiều chương trình tu bổ, hỗ trợ từ chính quyền đã giúp đình làng được sửa chữa, bảo tồn tốt hơn.

Sự thay đổi của đời sống hiện đại đang làm thay đổi cách con người gắn bó với đình làng. Những sinh hoạt cộng đồng xưa dần thưa vắng. Nhiều người trẻ lớn lên, rời làng đi học, đi làm, ít có dịp quay về. Ông Toàn tâm sự: “Tụi nhỏ giờ bận lắm. Có khi cả năm không thấy mặt ở đình một lần. Không phải họ không biết đình làng, nhưng sự kết nối đã mỏng dần. Nhưng khi nghe kể về lịch sử, về những lần vua ban sắc, ánh mắt họ dần thay đổi. Khi hiểu rồi, tự nhiên thấy khác. Và để họ hiểu, phải có người kể”.

Theo bà Võ Thị Minh Thảo, cán bộ phụ trách văn hóa-xã hội phường Phú Bài, tại Phú Bài, những nỗ lực bảo tồn không chỉ đến từ cá nhân. Chính quyền địa phương đã có những chương trình tu bổ đình làng, hỗ trợ kinh phí sửa chữa, gia cố các hạng mục xuống cấp. “Chúng tôi xác định, đình làng là một phần quan trọng của đời sống văn hóa. Nhưng để bảo tồn hiệu quả, phải có sự tham gia của người dân. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở kinh phí, mà ở sự thay đổi trong nhận thức”, bà Thảo chia sẻ.

Bảo tồn di sản trong đời sống đương đại

Đình làng Hiền Lương (phường Phong Thái), nơi có nghề rèn truyền thống hơn 500 năm, là nơi thờ tự và là trung tâm tinh thần của cả làng nghề. Tiếng búa đập chan chát bên ngoài các lò rèn như hòa nhịp với tiếng chuông đình mỗi dịp lễ. Ông Hoàng Đấu, người trông coi đình cho biết: “Người Hiền Lương đi đâu cũng nhớ đình. Vì ở đó có tổ nghề, có ông bà”. Ông dẫn chúng tôi xem những sắc phong ghi nhận công lao của tiền nhân, những người đã lập làng, truyền nghề. Ở Hiền Lương, đình làng không tách rời đời sống. Nó sống cùng tiếng búa, cùng mồ hôi, cùng nhịp sinh hoạt của người dân. “Nghề có thể thay đổi theo thời đại, nhưng đình làng thì không thể mất”, ông Đấu khẳng định.

Làng Phò Trạch (phường Phong Dinh) là một trong những làng cổ ven sông Ô Lâu, nơi đình làng vẫn còn giữ được nhiều nét nguyên sơ. Gặp chúng tôi tại sân đình, cụ Lê Hứa (Trưởng Hội đồng làng), năm nay đã ngoài 80 tuổi, nhưng vẫn đều đặn ra đình mỗi ngày. Cụ không giữ sắc phong hay gia phả, nhưng giữ một thứ khác: Ký ức sống. Cụ tâm sự: “Tui không phải thủ từ, nhưng coi đình như nhà mình. Hồi nhỏ, tui nghe ông nội kể chuyện lập làng. Giờ tui kể lại cho tụi nhỏ. Không có giấy tờ cũng được, miễn là còn người nhớ. Nhiều đứa nhỏ giờ thích điện thoại hơn. Nhưng khi cho tụi nó xem sắc phong, kể chuyện xưa, về thành tích của làng, tụi nó cũng bắt đầu tò mò…”.

Ông Trần Đại Vinh, nhà nghiên cứu văn hóa Huế đánh giá: Hệ thống đình làng ở Huế là một phần quan trọng trong cấu trúc văn hóa truyền thống, phản ánh rõ nét quá trình hình thành làng xã, tín ngưỡng và tổ chức cộng đồng. “Đình làng không chỉ là công trình kiến trúc, mà là không gian văn hóa tổng hợp – nơi lưu giữ ký ức, nghi lễ và bản sắc”, ông Vinh nhận định.

Huế không chỉ là kinh thành xưa với những công trình cung đình nổi tiếng, mà còn là nơi lưu giữ hàng trăm làng cổ với đình làng, miếu mạo, gia phả…, những “tế bào” tạo nên bản sắc văn hóa Việt.

Ông Đoàn Quyết Thắng, Trưởng phòng Văn hóa-Xã hội phường Phong Dinh cho biết, trong những năm gần đây, nhiều đình làng đã được kiểm kê, lập hồ sơ, từng bước trùng tu, đồng thời triển khai số hóa sắc phong, tài liệu cổ. Sự tham gia của cộng đồng vẫn là yếu tố quyết định. Không có người dân, di sản sẽ mất đi ý nghĩa sống. Chính vì vậy, việc tôn vinh những cá nhân như các thủ từ, người giữ gia phả… ngày càng được chú trọng. Họ được xem là “chủ thể bảo tồn”, những người giữ cho di sản không bị đứt gãy.



Nguồn: Arttimes.vn

Nghĩ về Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, càng trân trọng giá trị hiện vật ở Bảo tàng 


Cách đây 42 năm, vào một ngày cuối tháng 12/1984, những người đi trên đoạn quốc lộ 1 từ Biên Hòa về Vĩnh Long sẽ thấy một đoàn xe vận tải quân sự chạy chậm, cẩn thận di chuyển qua những khu dân cư, những khúc cua, cây cầu hẹp trên tuyến đường độc đạo và luôn đông đúc. Đoàn xe vận tải chuyên dùng chở theo “món hàng” rất đặc biệt – đó là những chiếc máy bay quân sự do Mỹ sản xuất mà ta thu được sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975. Sau khi ưu tiên qua phà Mỹ Thuận đoàn xe đã trực chỉ hướng Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long.

Gặp ông Nguyễn Chiến Thắng (Sao Vàng) – nguyên Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long – năm nay đã 86 tuổi, tuy tuổi cao sức yếu nhưng vẫn còn minh mẫn, nhớ như in những sự kiện, nhân vật mà ông từng tiếp xúc.

Khi hỏi về 3 chiếc máy bay được trưng bày trong Bảo tàng tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long). Dòng hồi ức đưa ông trở lại thập niên những năm 80 của thế kỷ trước… Lúc ấy ông là Giám đốc Ty Văn hóa – Thông tin tỉnh Cửu Long, đồng thời là Phó Hội trưởng (Phó Chủ tịch) Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cửu Long. 

Nghĩ về Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, càng trân trọng giá trị hiện vật ở Bảo tàng  - 1

Ba chiếc máy bay trong Bảo tàng Cửu Long. Ảnh Trần Thắng

Ông kể, khi ấy đang xảy ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, ông và các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các sở ngành, địa phương thường tổ chức đoàn đến thăm hỏi, động viên các đơn vị quân đội đang huấn luyện; chiến đấu bảo vệ biên giới hoặc làm nghĩa vụ quốc tế sang giúp bạn tại Campuchia. Có chuyến công tác ông được vào một số sân bay lớn ở phía Nam như Tân Sơn Nhất, Biên Hòa… được tiếp xúc, làm quen với một số đồng chí lãnh đạo quân đội như Thiếu tướng Tô Ký – nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương; Đại tá, Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (quê huyện Lai Vung – Đồng Tháp); đồng chí Nguyễn Văn Tuyên – Phó tổng Cục trưởng Cục Kỹ thuật Không quân; đồng chí Bảy Sơn (quê xã Quới An – Vũng Liêm) công tác tại sân bay quân sự Biên Hòa… 

Khi vào sân bay quân sự Biên Hòa, ông để ý thấy hàng chục máy bay các loại do Mỹ sản xuất đang đậu ở một góc sân bay. Đây là những chiếc máy bay chiến lợi phẩm thu được của địch. Với đà tiến quân thần tốc của Quân Giải phóng, các đơn vị địch nhanh chóng tan rã. Tại một số sân bay, quân Giải phóng đã thu nhiều máy bay. Tính tới tháng 5/1975, bộ đội ta đã thu được khoảng 877 máy bay các loại (trên tổng số 1.193 chiếc của không quân Việt Nam Cộng hòa), trong đó có khoảng 250 chiếc trong tình trạng tốt, sử dụng được ngay gồm: 50 máy bay trực thăng UH-1, 23 máy bay ném bom A-37, 41 chiếc F-5 cùng nhiều chủng loại máy bay vận tải, máy bay trinh sát, máy bay huấn luyện,…

Tại Vĩnh Long, khi vào tiếp quản sân bay sáng ngày 01/5/1975, quân Giải phóng đã thu được 5 chiếc máy bay trinh sát L-19 nguyên vẹn còn bay được. Thậm chí một đồng chí quay phim của Phòng Điện ảnh Giải phóng, thuộc Ban Tuyên huấn Khu Tây Nam Bộ đã ra lệnh cho một phi công ngụy lên chiếc máy bay trinh sát L-19 cất cánh đưa anh đi quay phim từ trên cao cảnh dòng người, xe cộ, cờ giải phóng chen kín các ngả đường của tỉnh Vĩnh Long vào trưa ngày 01/5/1975. 

Nghĩ về Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, càng trân trọng giá trị hiện vật ở Bảo tàng  - 2

Nghĩ về Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, càng trân trọng giá trị hiện vật ở Bảo tàng  - 3

Sân bay Vĩnh Long trưa ngày 01/5/1975. Ảnh Tư liệu

Sau khi phân loại những chiếc còn bay được, Bộ Quốc phòng đã cho thành lập các Trung đoàn Không quân để phục vụ chiến đấu. Trong thời gian xảy ra cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, các máy bay chiến lợi phẩm này đã góp phần đánh bại quân Khmer Đỏ, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.

Đến khoảng năm 1980, do thiếu nguồn phụ tùng thay thế, nhiều chiếc máy bay xuống cấp, hư hỏng, không đảm bảo an toàn, nên các máy bay loại này đã phải ngưng sử dụng.

Số máy bay hư hỏng, không còn bay được sẽ được xử lý theo qui định của Bộ Quốc phòng là tháo hết vũ khí, khí tài, thiết bị kỹ thuật, tặng một số địa phương phục vụ trưng bày.

Nắm được thông tin này, lãnh đạo Ty Văn hóa – Thông tin và Bảo tàng tỉnh Cửu Long lập tức làm đề nghị… “xin” 3 chiếc máy bay mang về tỉnh trưng bày nhằm phục vụ bà con nhân sự kiện chào mừng kỷ niệm 10 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975 -1985), đồng thời qua công tác trưng bày còn tuyên truyền trực quan về thành tích của lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng, như việc “lấy máy bay địch đánh địch” của phi công Nguyễn Thành Trung: lấy máy bay F-5E ném bom xuống Dinh Độc Lập, rồi Phi đội Quyết thắng do các phi công ta sử dụng máy bay A-37 ném bom phi trường Tân Sơn Nhất, đồng thời góp phần vào nguồn sử liệu, phục vụ nghiên cứu, giáo dục truyền thống, tham quan du lịch của địa phương… Nghe thế các anh bên Không quân… gật đầu cái rụp!

Nghĩ về Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, càng trân trọng giá trị hiện vật ở Bảo tàng  - 4

Máy bay tiêm kích F-5A được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long. Ảnh Trần Thắng

Theo lý lịch hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long thì 3 chiếc máy bay khi tiếp nhận đều trong tình trạng cũ và hư hỏng, những thiết bị điện tử, hệ thống vũ khí đã được tháo hết. Chiếc máy bay trực thăng UH-1A sơn màu xanh quân sự, số hiệu 323 do hãng Helicopter Company Texas của Mỹ sản xuất, được trang bị cho Lục quân Mỹ thực hiện các nhiệm vụ vận tải, hộ tống, chuyển quân, tải thương, đây là máy bay có thể sử dụng trong mọi địa hình phức tạp, đáp không cần sân bay; chiếc máy bay A-37B số hiệu 295, sơn màu xanh – trắng là máy bay cường kích phản lực hạng nhẹ do hãng Cessna của Mỹ chế tạo có 2 chỗ ngồi, được trang bị bom, rocket, đại liên để tấn công mặt đất; chiếc máy bay F-5A sơn màu vàng – trắng, không có số hiệu, do hãng Northrop Mỹ sản xuất, là máy bay tiêm kích ném bom chiến thuật được Mỹ trang bị cho Không quân Việt Nam Cộng hòa vào năm 1970.

Đối với công tác Bảo tàng, ông Nguyễn Chiến Thắng có những lời nhắn nhủ đầy tâm huyết: “Bảo tàng là không gian thiêng liêng lưu giữ ký ức cách mạng, nơi quá khứ được trân trọng, nâng niu. Chúng ta tôn trọng ngày xưa cũng là vì ngày hôm nay và cho cả mai sau”…“Làm nghề bảo tàng phải có lòng đam mê và óc sáng tạo để làm sao hiện vật trưng bày phong phú và có tác dụng tuyên truyền, thu hút người xem, đồng thời quan tâm công tác bảo quản, giữ gìn không để hiện vật hư hỏng, xuống cấp hoặc bị lãng quên”.

Khi khoảng cách với những năm tháng chiến tranh ngày càng lùi xa, chính những bảo tàng – không gian lưu giữ ký ức ấy trở thành cầu nối giúp các thế hệ sau hiểu hơn về giá trị của hòa bình, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.



Nguồn: Arttimes.vn

Nhiều điểm nhấn tại chuỗi hoạt động “Sắc màu văn hoá các dân tộc Việt Nam”


Góp phần hưởng ứng tôn vinh Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) và quảng bá, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, từ ngày 1/4 đến 3/5, tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động giới thiệu nét văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc với chủ đề “Sắc màu văn hóa các dân tộc Việt Nam”.

Theo Ban Tổ chức, các hoạt động được tổ chức nhằm tạo không gian để các nghệ nhân, đồng bào trực tiếp trình diễn, thực hành và giao lưu văn hóa, tăng cường giao lưu giữa các dân tộc giúp đồng bào và du khách đặc biệt là thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc hơn về sự thống nhất trong đa dạng văn hóa từ đó nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo tồn di sản và thu hút khách du lịch trong dịp nghỉ lễ tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Hoạt động tháng 4 có sự tham gia của hơn 100 người của 16 dân tộc đang hoạt động hàng ngày tại Làng: Tày, Nùng (Thái Nguyên); Dao (Tp. Hà Nội); Mông (Tuyên Quang); Mường (Phú Thọ); Lào, Khơ Mú, Thái (Sơn La); Tà Ôi, Cơ Tu (Tp. Huế); Ba Na, Gia Rai (Gia Lai); Raglai (Khánh Hòa); Ê Đê (Đắk Lắk); Khmer (Tp. Cần Thơ).

Nhiều điểm nhấn tại chuỗi hoạt động “Sắc màu văn hoá các dân tộc Việt Nam” - 1

Chuỗi hoạt động “Sắc màu văn hóa các dân tộc Việt Nam” diễn ra từ ngày 1/4 đến 3/5, tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh minh họa)

Điểm nhấn của chương trình là chuỗi sự kiện cao điểm từ ngày 17-19/4 hưởng ứng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4); Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) và dịp lễ 30/4-1/5.

Trong dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, sẽ diễn ra các chương trình nghệ thuật và nghi lễ giàu bản sắc mang đậm ý nghĩa hướng về cội nguồn. Nổi bật là chương trình dân ca dân vũ “Tự hào con cháu Rồng Tiên” và chương trình dân ca dân vũ “Đồng bào Tây Nguyên biết ơn nguồn cội”.

Trong dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5, sẽ diễn ra hoạt động tái hiện Chợ phiên vùng cao với chủ đề “Sắc màu Lai Châu” với khoảng 40 gian hàng, khu giới thiệu và trải nghiệm ẩm thực dân tộc, trưng bày ảnh “Rộn ràng sắc màu phiên chợ”.

Bên cạnh đó là chương trình “Xúng xính chợ phiên” của đồng bào vùng cao, với sôi nổi các hoạt động như: Biểu diễn dân ca dân vũ; Đồng bào dân tộc Mông tỉnh Lai Châu giới thiệu, nghệ thuật trình diễn khèn Mông và giao lưu cùng du khách; Giới thiệu, trình diễn giã bánh dày, nghệ thuật in sáp ong của dân tộc Mông, khau giày, tráng bánh trắng của đồng bào Giáy, nghề dệt truyền thống của đồng bào Lự tỉnh Lai Châu; Giới thiệu nghề thủ công truyền thống, trải nghiệm nét văn hóa vùng cao và các trò chơi dân gian giao lưu cùng du khách…

Tái hiện Lễ cúng thần rừng (háu đoong) của dân tộc Giáy và tái hiện Lễ cúng hồn trâu của dân tộc Lự tỉnh Lai Châu.

Tổ chức trưng bày, giới thiệu, trải nghiệm tranh dân gian Đông Hồ – Di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận. Tại đây sẽ trưng bày khoảng 30 tranh dân gian Đông Hồ với những ký ức tuổi thơ, kỷ niệm về thời chăn trâu, cắt cỏ lại ùa về với không ít người khi thấy các cảnh “Mục đồng thổi sáo”, “Chăn trâu thả diều”, “Hái dừa”, “Đám cưới chuột”… Cùng với đó là hoạt động trải nghiệm làm tranh dân gian Đông Hồ với chủ đề “Em là nghệ nhân tranh Đông Hồ”.

Song song các nội dung cao điểm, chuỗi chương trình cuối tuần và hằng ngày cũng mang đến các buổi giao lưu như: Chương trình giao lưu “Tình ca Tây Nguyên”; Chương trình dân ca dân vũ “Chung một niềm tin” của đồng bào các dân tộc phía Bắc đang hoạt động hằng ngày tại Làng.

Bên cạnh đó là các hoạt động giới thiệu văn hóa truyền thống tại mỗi không gian văn hoá có chủ thể sinh sống và hoạt động hằng ngày; trải nghiệm giao lưu các tiết mục văn nghệ của các dân tộc đang hoạt động hằng ngày; tăng cường hoạt động giới thiệu, truyền dạy, trải nghiệm về nhạc cụ truyền thống của các nhóm đồng bào dân tộc; các trò chơi dân gian như: ném còn, đi cà kheo, đánh đu…

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Triển lãm chuyên đề “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”


Triển lãm chuyên đề “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 – 19/12/2026) sẽ diễn ra từ ngày 19/5 đến 23/5/2026 tại Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đây là hoạt động chính trị, văn hóa có ý nghĩa sâu sắc nhằm tưởng nhớ và tôn vinh giá trị lịch sử trường tồn của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh; khẳng định tầm vóc tư tưởng, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng và dân tộc Việt Nam trong thời khắc lịch sử đặc biệt của đất nước.

Triển lãm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An chỉ đạo Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An chủ trì, phối hợp cùng với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa, Thể thao các tỉnh, thành phố: Hà Tĩnh, Gia Lai và Huế tổ chức nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2026), 80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2026).

Triển lãm tập trung tái hiện bối cảnh lịch sử những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, vận mệnh dân tộc đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong bối cảnh đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946 đã trở thành tiếng gọi thiêng liêng của non sông, hiệu triệu toàn dân tộc đứng lên bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Triển lãm chuyên đề “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” - 1

Hình ảnh được giới thiệu tại triển lãm. Ảnh: BTC

Không gian triển lãm được xây dựng theo các nội dung chuyên đề xuyên suốt, phản ánh chiều sâu lịch sử và giá trị thời đại của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, được thể hiện qua các phần: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – Bước ngoặt vĩ đại mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam; Đất nước ngàn cân treo sợi tóc; Nhân dân cả nước hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phát huy tinh thần kháng chiến trong thời đại mới.

Thông qua hệ thống hình ảnh, tư liệu, hiện vật và không gian trưng bày chuyên đề, triển lãm góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đặc biệt đối với thế hệ trẻ hôm nay.

Triển lãm chuyên đề “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” - 2

Hình ảnh được giới thiệu tại triển lãm. Ảnh: BTC

Trong khuôn khổ triển lãm, Ban tổ chức sẽ giới thiệu đến công chúng không gian trưng bày của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao các tỉnh/thành phố.

Khu trưng bày của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An với Không gian sách giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; sách về toàn quốc kháng chiến; giới thiệu tiềm năng du lịch và Sản phẩm OCOP của tỉnh Nghệ An.

Với chủ đề “Điện Biên – Bản hùng ca chiến thắng và khát vọng phát triển”, trưng bày của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên giới thiệu những hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc được khắc họa sâu sắc, làm nổi bật tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc; Hình ảnh quân và dân các dân tộc tỉnh Điện Biên khắc ghi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, phát huy tinh thần yêu nước, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Đồng thời, giới thiệu những hình ảnh, hiện vật, tài liệu về những thành tựu trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Điện Biên trong những năm gần đây.

Khu trưng bày của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Tĩnh với chủ đề “Hà Tĩnh khắc ghi lời Bác” giới thiệu hình ảnh nhân dân Hà Tĩnh anh hùng, bất khuất trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hình ảnh thành tựu về phát triển Kinh tế văn hoá xã hội trong những năm gần đây của nhân dân Hà Tĩnh.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai giới thiệu những hình ảnh Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Gia Lai thể hiện tinh thần quyết tâm sắt đá, cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với đó là hình ảnh về cảnh quan thiên nhiên du lịch, văn hóa, làng nghề và lễ hội truyền thống gắn với giới thiệu, quảng bá chuỗi sự kiện Năm Du lịch quốc gia – Gia Lai 2026; những thành tựu về phát triển Kinh tế – Văn hóa – Xã hội trong những năm gần đây của nhân dân tỉnh Gia Lai.

Khu trưng bày của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Huế với chủ đề “Huế – Bản hùng ca 50 ngày đêm anh dũng, kiên cường” giới thiệu các hình ảnh nhân dân thành phố Huế anh hùng, bất khuất trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc; hình ảnh về phát triển Kinh tế văn hoá xã hội trong những năm gần đây của nhân dân thành phố Huế.

Lễ khai mạc triển lãm “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 – 19/12/2026) sẽ diễn ra lúc 8 giờ, ngày 19/5/2026.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

5 mẫu MPV bán chạy nhất tháng 4/2026, Veloz Cross tăng trưởng 109%


Bức tranh thị trường ô tô tháng vừa qua cho thấy đà giảm doanh số trên diện rộng.

Thị trường ô tô Việt Nam trong tháng 4/2026 ghi nhận xu hướng chững lại khi sức mua đồng loạt suy giảm ở nhiều hãng xe. Theo số liệu từ Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), tổng doanh số toàn thị trường đạt 31.937 xe, giảm 17,4% so với tháng trước. Hyundai cũng không nằm ngoài xu hướng này khi lượng xe bán ra giảm 14,1%, còn 3.904 chiếc. Trong khi đó, VinFast bàn giao 24.774 xe trong tháng 4, thấp hơn 10,2% so với trước đó.

Phân khúc MPV trong tháng 4/2026 ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý khi Toyota Veloz Cross bất ngờ bứt phá mạnh mẽ, đạt 1.503 xe bán ra, tăng 109% so với tháng trước. Đây cũng là mức doanh số cao nhất từ trước đến nay của mẫu MPV đến từ Nhật Bản.

Ở chiều ngược lại, đối thủ trực tiếp Mitsubishi Xpander lại chứng kiến đà giảm khi chỉ đạt 1.273 xe, tương đương mức sụt giảm 27,8%. Đáng chú ý, đây là lần thứ ba Veloz Cross vượt qua Xpander kể từ khi mẫu xe này ra mắt tại Việt Nam.

Tuy nhiên, Toyota Veloz Cross vẫn chưa thể vươn lên dẫn đầu phân khúc MPV. Ngôi vị số một tiếp tục thuộc về VinFast Limo Green với 6.480 xe bán ra, trong khi VF MPV 7 đứng ở vị trí tiếp theo với doanh số đạt 2.526 xe.

Dưới đây là danh sách 5 mẫu MPV bán chạy nhất tại Việt Nam tháng 4/2026

5 mẫu MPV bán chạy nhất tháng 4/2026, Veloz Cross tăng trưởng 109% - 1

5 mẫu MPV bán chạy nhất tháng 4/2026, Veloz Cross tăng trưởng 109% - 2

5 mẫu MPV bán chạy nhất tháng 4/2026, Veloz Cross tăng trưởng 109% - 3

5 mẫu MPV bán chạy nhất tháng 4/2026, Veloz Cross tăng trưởng 109% - 4

5 mẫu MPV bán chạy nhất tháng 4/2026, Veloz Cross tăng trưởng 109% - 5



Nguồn: Arttimes.vn

“Thơ không cần hồi đáp” – một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh


“Phải chăng tình yêu thơ ca không còn đất sống trong tâm hồn con người hiện đại, khi “cơn lốc” của đời sống công nghiệp, đời sống đô thị và cái gọi là lối “sống gấp” đang nghiền thời gian sống của chúng ta thành từng mảnh vụn? Đã có lúc nhiều nhà thơ tự hỏi: “Thơ cần cho ai, cần cho mọi người hay chỉ cần cho riêng ta?”, “Thơ sống thế nào trong thời đại “kỹ thuật số”, trong thời “điện tử hoá” đang rút dần đất sống của thơ?” (Nguyễn Việt Chiến)

Đây là một loạt câu hỏi quan trọng được nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đặt ra trong tọa đàm “Thơ hiện nay với hôm nay”, một hoạt động mở màn cho Ngày thơ Việt Nam 2023 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hoàng thành Thăng Long. Những câu hỏi trên sở dĩ trở nên khẩn thiết, mang ý nghĩa cảnh báo đối với sự phát triển thơ ca hiện nay bởi nó phản ánh tình thế khủng hoảng của thơ. Được mệnh danh là kỉ nguyên số, khi công nghệ lên ngôi, mạng xã hội tràn lan và chủ nghĩa tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nghe nhìn theo dạng nhanh, ngắn đã tác động sâu sắc đến thị hiếu độc giả, thói quen thưởng thức nghệ thuật và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Và tất cả những điều này cũng ảnh hưởng đến sự sống của thơ ca ở tầng sâu nhất của nó: ngôn ngữ. Do đó, có thể nói, trong bối cảnh thơ ca Việt Nam đương đại, khi ngôn ngữ thi ca phải sống chung với mạng xã hội, với tốc độ và sự tiêu thụ tức thì, quan niệm về vai trò của thơ ca, sự tiếp nhận thơ buộc phải được nhìn nhận lại. Đây chính là lí do cho những thảo luận về thơ trở nên nóng hổi hơn bao giờ hết, thu hút rất nhiều những nhà thơ, nhà nghiên cứu và người yêu thơ tham gia.

Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tiến Thanh, nhà thơ của ba tập thơ: Loạn bút hành (2021), Chiều không tên (2021), Viễn ca (2024) và một tập tiểu luận Thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết (2025) đã thể hiện những suy tư rất sâu sắc của mình về sự sinh tồn và ý nghĩa thực sự của thơ ca trong bối cảnh ngôn ngữ bị tha hóa. Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh vốn rất nổi tiếng với hoạt động sáng tác và giao lưu thơ ca từ thuở sinh viên, trên giảng đường Văn khoa, Đại học Tổng hợp. Sau này, ông đã có nhiều thập kỉ kinh qua hoạt động báo chí, tiếp xúc thường xuyên với môi trường ngôn ngữ báo chí, mạng xã hội, – đó chính là cơ sở thực tiễn cho những chiêm nghiệm về thơ và sức sống của thơ ca từ góc nhìn của một người dấn mình vào thế giới ngôn ngữ trong thời đại tiêu dùng. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, do chưa tiếp cận được toàn văn cuốn sách mới nhất Thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết, bài viết này khảo sát quan điểm thơ ca của Nguyễn Tiến Thanh qua tiểu luận Thơ không cần hồi đáp, vốn là một chương trong cuốn trường luận trên. Bài tiểu luận được in trên Tinh hoa Việt (số 1, bộ mới, phát hành tháng 7/2025) đã đem đến một tiếng nói rất riêng về bản chất của thơ ca và ý nghĩa của nó trong đời sống đương đại. Bài viết cho rằng, quan niệm Thơ không cần hồi đáp của Nguyễn Tiến Thanh không chỉ là một mệnh đề thẩm mỹ mà còn là một cách phản tư về thân phận của thi ca trong thế giới hậu công nghiệp, nơi tốc độ và tiện nghi cuốn con người đi xa khỏi chính mình, nơi cảm xúc bị tiêu chuẩn hóa và những khoảng lặng trở thành xa xỉ.

“Thơ không cần hồi đáp” - một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh - 1

Một số tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh. Ảnh: Trang Thụy

1. Bản thể của thơ: Thơ như một trạng thái tồn tại

Trước hết, tên bài viết Thơ không cần hồi đáp đã được cụ thể hóa bằng những tuyên ngôn rất mạnh: “Người làm thơ không chờ hồi âm. Không đòi thừa nhận. Không cần phân tích”, thơ “không cần chứng nhận” hay “người viết không cần ai vỗ tay”[1]. Các mệnh đề này được lặp đi lặp lại xuyên suốt bài viết. Tất cả những câu khẳng định này đều chỉ ra một quan niệm: thơ không nhất thiết cần được đáp lại, không cần lời phân tích, mổ xẻ, cũng không cần được công nhận, tung hô. Thơ từ chối là một hành vi giao tiếp, từ chối tính mục đích. Bằng cách đó, nhà thơ muốn khẳng định: thơ là hành vi nội tại, hoàn toàn cá nhân, và điều mà thơ “cần” không phải là sự công nhận từ bên ngoài mà là đòi hỏi và thôi thúc từ bên trong. Làm thơ trước hết là cho mình, vì mình. Vậy vì sao nhà thơ lại từ chối sự “hồi đáp” của thơ? bản chất của thơ là gì?

Ông viết: “nếu bạn, vào một lúc nào đó, – không vì cảm hứng, không vì nhiệm vụ, không vì ai yêu cầu – bỗng cầm bút và viết một câu mà không biết sẽ đặt nó ở đâu, gửi cho ai, giữ lại làm gì, thì hãy biết: bạn đã bước vào nơi sâu nhất của thơ. Nơi thơ không còn là phát ngôn, mà là một trạng thái tồn tại. Không cần được nhìn thấy. Không cần được nghe. Chỉ cần được hiện ra – đúng khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan. Và nếu vậy – đó chính là thơ”[2]. Với quan niệm như thế, thơ từ chối bất cứ một hành vi dụng tâm hay hữu ý nào, thơ từ chối bị áp đặt, từ chối là một vật trung gian giao tế, thậm chí từ chối những động cơ, những nhiệm vụ của việc viết – vốn đã được hình dung như một công thức xơ cứng: “Viết cho ai? Viết để làm gì?”. Như tác giả khẳng định, thơ chẳng cần “gửi cho ai, giữ lại làm gì”. Thơ thuần túy trở về với bản chất nguyên thủy của nó, là “viết ra”, ghi lại “một trạng thái tồn tại”, khi “khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan”. Thơ nắm bắt cái tế vi sâu kín, mong manh, dễ mất và không ngừng mất đi. Bởi thế, thơ chính là phần còn lại của sự sống, cũng tức là sống ở nghĩa hiện sinh nhất của nó.

Quan điểm này thực tế được ông thể hiện xuyên suốt trong nhiều bài viết. Trong một tiểu luận khác Ký hiệu cuối trên bức tường đổ sụp, ông cho rằng thơ chính là “chứng tích của sự tồn tại”: “Viết mà không cần câu, không cần tên, không cần ai đọc. Chỉ cần một khoảng trống để thở vào. Chỉ cần một vùng im để không bị xóa khỏi bản thể”; “Trong một thế giới nơi nghĩa đã bị rút ruột, viết không còn là truyền đạt. Nó trở thành một hình thức sống sót. Viết như cách một người học lại nhịp tim sau một cơn trụy mạch. Viết như một bản năng sinh tồn không mang theo ảo tưởng cứu rỗi, nhưng mang theo một điều khẩn thiết: “Tôi vẫn còn ở đây”.

Với một quan niệm như thế, thơ đã bị loại bỏ hết những lớp vỏ bọc bên ngoài của những mục đích, nhu cầu để trở về với bản nguyên cốt lõi, vô tư nhất của nó: Thơ như một cử chỉ nguyên thủy. Thơ viết về chính sự tồn tại, sự hiện hữu, thơ ghi dấu một hơi thở, một nét cảm, một trạng huống sống. Thơ là khoảnh khắc ta tồn tại, là sự hiện hữu bằng con chữ, đơn sơ và thuần túy. Bản chất tối hậu của thơ, như thế, đã không tách rời sự sống con người ở nghĩa cá nhân nhất và hiện sinh nhất của nó.

Trong thơ Nguyễn Tiến Thanh, người đọc bắt gặp rất nhiều những khoảnh khắc của “trạng thái tồn tại” ấy. Bài thơ Sông dưới đây chính là một ví dụ tiêu biểu. Sông giống như một tốc kí về khoảnh khắc thức ngộ về đời người của tác giả. Bắt đầu từ một quan sát về sông: “Hóa thân từ những đám mây/ Che ngang mặt trời phiêu bạt/ Vắt kiệt đời mình thành nước/ Mưa rơi từng hạt lặng im/ Băng qua rất nhiều ghềnh thác/ Ầm ầm uốn lượn về xuôi/ Suối khe oằn mình đau xé/ Thành sông lờ lững bao đời”, nhân vật trữ tình “giật mình” về chính đời mình:

“Người đứng bên bờ sông ấy

Giật mình tóc đã phôi pha

Tháng ngày trôi như nước chảy

Chưa qua sông đã thấy già”.

Những cảm xúc hiện sinh trong bài thơ được viết với ngôn ngữ giản dị, gần như trong suốt, được thể hiện qua một tứ thơ dung dị: từ quan sát về một dòng sông đã trải bao thác ghềnh, nhân vật chợt thức ngộ về dòng đời. Chính vì không làm thơ để được tung hô hay công nhận, cũng không biến thơ thành công cụ để giao tiếp với tha nhân, bài thơ Sông của Nguyễn Tiến Thanh đã gần như loại bỏ hết sự kiểu cách về mặt thi pháp, sự cầu kì trong ngôn ngữ để diễn tả trọn vẹn cái khoảnh khắc chủ thể “giật mình” nhận ra đời mình cũng trôi như nước chảy, tháng năm đã phôi phai, và tuổi già đang dần ập đến. Thơ lúc này đi thẳng từ xúc cảm, từ sự đốn ngộ thành những con chữ, bởi thế, nó hiện lên như là một dấu tích cho việc nhà thơ đang sống, đang cảm nhận về chính mình và cuộc đời. Trong bài thơ Vụt hiện, nhà thơ đã tiết giảm ngôn ngữ tới mức tối đa để ghi trọn một khoảnh khắc sống:

“Anh đuối sức chạy dọc đường số phận

Nhặt niềm vui rơi như lá me vàng

Phía trước mặt là dòng sông nước cạn

Cuối mưa nguồn còn chớp bể không em?”

Hiện lên trong bài thơ là cảm giác “đuối sức” của “anh” sau khi đã “chạy dọc đường số phận’ nhưng chỉ “nhặt niềm vui rơi như lá me vàng”. Những hình ảnh này là một cách nói ẩn dụ cho những lăn lộn của việc làm người, sự hư vô của kiếp sống, khi niềm vui quá đối nhỏ bé, dễ rơi rụng, hư hao. Và cuối cùng, sau những đuối sức đó, con ngời luôn phải đối mặt với những giới hạn khô khốc của đời “Phía trước mặt là dòng sông nước cạn”. Chính giới hạn này giúp chủ thể “anh” bật lên câu hỏi thao thiết: “Cuối mưa nguồn còn chớp bể không em?” Bài thơ, một lần nữa là một sức thức ngộ về hạnh phúc, về được mất của đời người. Nó chính là bằng chứng của những trăn trở, những thao thức, những băn khoăn về kiếp người. Và như thế, thơ chính bản thể sống của nhà thơ.

Những bài thơ trên chỉ là những ví dụ rất nhỏ cho thấy, Nguyễn Tiến Thanh đã rất coi trọng yếu tố nội tại của việc làm thơ. Trong tiểu luận Thơ không cần hồi đáp, nhà thơ nhấn mạnh rằng: “Thơ không cần hồi đáp, vì bản thân nó là hồi đáp cuối cùng của người viết với phần người chưa kịp chết trong mình. Viết không phải để nghe lại, mà để không phản bội cảm xúc đã từng chạm vào mình như một lần sóng quất vào da thịt”; hay “thơ chính là hình thức nhẹ nhất của tồn tại. Người viết không hỏi: “Ai sẽ đọc?” mà hỏi: “nếu không viết, thì ai sẽ biết điều này từng có thật?”. Với quan niệm như thế, thơ đã từ chối những vỏ bọc để trở về với phần cốt tủy nhất: là ca lên những cảm xúc, nói lên những trạng thái hiện tồn của con người.

2. Ý nghĩa của thơ: Thơ là dấu vết của sự sống

Chính vì bản chất cốt lõi của hành vi viết thơ là ghi lại sự tồn tại, sự hiện hữu của người làm thơ trong khoảng khắc, cho nên thơ chính là dấu vết của sự sống con người. Như Nguyễn Tiến Thanh xác quyết: “Thơ không cần được hồi đáp vì nó chưa bao giờ đòi hỏi điều gì. Nó không bước vào thế giới như một đòi hỏi mà như một dấu vết, một vết tay trên cửa kính buổi sớm, một hơi thở còn vướng lại trong căn phòng đã không còn người nói”. Như vậy, thơ tồn tại không vì/ và không nhằm để được nhớ đến, cũng không chứng tỏ điều gì với thế giới bên ngoài. Làm thơ là công việc hoàn toàn thuộc vào nhu cầu nội tại của nhà thơ. Thơ là sự ghi lại về chính những thời khắc sống, do đó, là cách lưu dấu sự tồn tại người qua những “dấu vết” nhỏ bé, mong manh: “một vết tay trên cửa kính buổi sớm, một hơi thở còn vướng lại trong căn phòng đã không còn người nói”. Một vết tay hay một hơi thở là những chỉ dấu tồn tại, là minh chứng cho việc ta đang sống, đang thở và đang hiện diện. Nhưng sự hiện diện vốn mong manh hơn bao giờ hết. Như ánh chớp, nó không thể trường tồn. Chính trong tình thế tồn tại mong manh ấy, thơ đóng vai trò như một cuốn nhật kí, một thước phim ghi lại hành trình xúc cảm, là bằng chứng, chứng tích của việc ta đang sống, đang hiện hữu trong từng khoảnh khắc một đi không trở lại. Ý nghĩ này khiến thơ bị tước hết mọi định danh – cũng chính là những vỏ bọc mà người ta hay gắn cho thơ: “Lúc này, thơ không còn là thể loại. Không còn là văn học. Không còn là nghệ thuật. Thơ là một dạng hiện hữu không cần hồi âm, giống như “lời chưa gửi và sự vắng mặt của người nghe”, thơ tồn tại như một hành vi bất khả hồi đáp, nhưng vẫn được thực hiện, vì nếu không, phần người nơi người viết sẽ tắt trước cả phần xác”. Kéo việc viết trở lại với bản nguyên sơ khởi nhất của nó: viết để làm chứng cho sự sống, do vậy, thơ là sự bảo lưu cái “phần người” có nguy cơ “tắt trước cả phần xác”. Thơ do đó, là nơi bảo vệ nhân tính con người. Thông điệp này cũng là điều ông thể hiện trong tiểu luận Ký hiệu cuối trên bức tường sụp đổ: “Viết như thế là một hành vi đạo đức. Không phải với người khác mà với chính bản thể của mình. Giữ lại một nhịp thở sau khi không còn gì là giữ lại nhân tính. Ngôn ngữ sụp đổ, nhưng người viết vẫn chưa tan”.

Không chỉ là bảo chứng cho những khoảnh khắc sống mong manh, theo Nguyễn Tiến Thanh, thơ còn giúp con người bảo vệ mình trước những tác nhân của ngoại cảnh: “Thơ chỉ ở đó, như một chứng từ lặng lẽ cho phần người không thể đo lường. Và chính vì không có người nghe, không có lời đáp, không có đoạn kết rõ ràng – nên sự tồn tại của thơ càng không bị từ chối, giữ lại khe hở cho một cảm xúc chưa kịp chết hẳn, giữ lại một mảnh mong manh chưa bị thế giới lấp đi bằng tiện nghi và tốc độ”. Nhận định trên cho thấy rằng, sự mong manh của những cảm xúc con người không chỉ vì đời sống con người luôn bị chi phối bởi quy luật nghiệt ngã của thời gian mà bởi con người không thoát khỏi những bủa vây của thời đại. Ý nghĩa của việc viết càng trở nên không thể thay thế khi ngoài kia, thế giới vận hành theo cách, nó không ngừng cuốn ta vào cơn lốc của “tiện nghi và tốc độ”. Bởi thế, viết là “giữ lại” cho ta một “khe hở” của “cảm xúc”, “một mảnh mong manh chưa bị thế giới lấp đi bằng tiện nghi và tốc độ”, cũng tức là giữ lại cái phần con người nhất của loài người. Suy nghĩ này thể hiện sự phản tư sâu sắc của tác giả về tình thế làm người trong thời đại kĩ trị, nơi con người dễ bị biến thành máy móc, thành công cụ, khi những cảm xúc dễ bị nghiền nát bởi một tốc độ sống quá nhanh, quá toan tính, vụ lợi. Trong bối cảnh đó, viết chính là một lối thoát, một cánh cửa tự do, một hành động tự chủ duy nhất mà con người có thể làm để lưu dấu sự sống và kháng cự lại những thiết chế chỉ trực trờ khuôn con người vào khuôn khổ, hay biến con người thành công cụ. Do vậy, với Nguyễn Tiến Thanh, Thơ không cần cứu ai, mà cứu người viết, như tiêu đề của cuốn sách mới xuất bản. Theo đó, thơ không mang những trọng trách to tát hay vĩ đại, thơ không có khả năng cứu chuộc tha nhân nhưng tự nó lại cứu người viết khỏi sự hư vô, sự mất tiếng nói, sự bị máy hóa trong đời sống ngày một quay cuồng. Đây là một triết luận rất sâu sắc, mang dấu ấn thời đại, được ông đề cập trong nhiều bài nói mình: “Thơ không thể cạnh tranh với deadline. Không thể chạy đua với AI. Nhưng thơ có sức bền lạ lùng. Giống như một cây cỏ mọc giữa khe bê tông – không ai trồng, nhưng vẫn có thể khiến một người chợt đứng lại giữa phố”[3].

Đó cũng chính là cách nhà thơ đặt thơ vào vị trí “kháng cự”, không theo nghĩa cách mạng đấu tranh ngoài mặt, mà theo nghĩa một hành vi ngầm, một sự răn đe ẩn dấu, hoặc “một vết xước” vào cái ngôn ngữ trơn tuột của thời đại. Trong tiểu luận Một câu thơ một vết xước vào thời đại, tác giả viết: “Thơ không giành quyền lực, thơ giành lại sự sống bên trong người viết – thơ là một hành vi kháng cự không cần tiếng hô”; “Thơ kháng cự bằng cách không biến mình thành nội dung dễ nuốt… không nói ngay khi người ta muốn nó phải nói”[4]. Nói cách khác, đối với Nguyễn Tiến Thanh, thơ là đối trọng nội tại với sự cơ giới hóa ngôn từ, với áp lực số hóa cảm xúc, với hệ thống đo đếm lượt xem/like như chỉ dấu duy nhất của “tương tác” mạng xã hội. Thơ không cần nhiều người đọc để tăng lên giá trị, nó chỉ cần có mặt, như một hơi thở, như một phần không bị xóa mờ.

“Thơ không cần hồi đáp” - một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh - 2

Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh.

3. Quan niệm thơ Nguyễn Tiến Thanh trong dòng chảy thơ ca Việt Nam

Với những gì mà nhà thơ đã thể hiện, có thể thấy Nguyễn Tiến Thanh đã đưa ra một quan niệm hết sức độc đáo, thể hiện một tầm nhìn sâu sắc về thơ. Đặt trong lịch sử phát triển thơ ca Việt Nam, quan niệm “Thơ không cần hồi đáp” của Nguyễn Tiến Thanh vừa là sự tiếp nối với quan niệm cốt lõi về thơ, vừa là sự bổ sung, thậm chí, đưa đến một quan niệm mới trong lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại.

Trước hết, những tuyên ngôn của Nguyễn Tiến Thanh về việc làm thơ là ghi lại “một trạng thái tồn tại”, một “khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan”, hay viết “để không phản bội cảm xúc đã từng chạm vào mình” thực chất chính là sự tiếp nối của một quan niệm mang tính cốt lõi của thơ ca: thơ chính là tiếng nói chân thành của con tim, của tâm tình con người. Quan niệm phổ quát này nhấn mạnh thơ là tiếng nói của trái tim, do đó, làm thơ trước hết là hướng vào lòng mình, không nhằm được tung hô hay chờ đợi một sự “hồi đáp”. Thơ chính là con người của chính nhà thơ. Tuy nhiên, ngay ở điểm chung này, Nguyễn Tiến Thanh cũng thể hiện một nét phá cách khi nhấn mạnh hơn đến “tồn tại người’, đến “dất vết” con người trong thơ. Thơ đối với ông không phải chỉ là tiếng nói của cảm xúc nói chung, mà là sự chứng nhận của những khoảnh khắc sống. Song khoảnh khắc thì mong manh, thơ bởi thế giữ lại cái phần người dễ phôi phai trước dòng chảy khắc nghiệt của thời gian. Với quan niệm này, nhà thơ nhấn mạnh hơn đến tính hiện sinh của hành vi làm thơ – là hệ quả của tính hiện sinh của chính đời sống con người.

Đặt quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh vào mạch nguồn thơ Việt Nam hiện đại, chúng ta sẽ định giá sát thực hơn sự mới mẻ của ông. Bài viết muốn hướng đến các thời điểm: thơ mới, thơ ca cách mạng và thơ đương đại.

Trước hết, trở lại những năm 1930s, kỉ nguyên của hiện đại hóa thơ ca Việt Nam, phong trào Thơ mới như một dàn đồng ca những tiếng lòng, những tâm tình của các thi sĩ. Thơ mới thường nhấn mạnh đến nỗi cô đơn, lòng tha thiết với cuộc sống và niềm khao khát giao cảm với tha nhân. Xuân Diệu là một trường hợp tiêu biểu. Trong bài Cảm xúc, ông viết:

Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió,

Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,

Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

Thơ Xuân Diệu là tiếng nói nội tâm, nhưng là một nội tâm khao khát chia sẻ, khao khát giao cảm với đời. Đó là lí do khiến hầu hết các bài thơ của Xuân Diệu thời kì này đều có dòng đề tặng cho những bạn thơ đương thời. Làm thơ lúc này chính là một hành vi “giao tiếp”, là sự kết nối, là làm thân, là sự đối thoại để hướng đến sự tương liên trong tâm hồn. Trong khi đó, Nguyễn Tiến Thanh lại hướng đến nội tại hóa việc làm thơ ở mức độ cao nhất. Ông thậm chí không cần nhiều người đọc, không cần tung hô, không cần nhận xét phẩm bình, tức là không cần sự chứng nhận của bất cứ ai. Làm thơ như một hoạt động mang tính riêng tư cao độ nhất. Sự khác biệt này có thể lí giải bởi tâm thế người làm thơ của mỗi thời đại. Thơ mới là tiếng nói của cá nhân lần đầu tiên khám phá cảm xúc của mình trong bối cảnh đời sống đô thị và hệ giá trị Tây phương những năm 19302, là sự kháng cự trước những kìm kẹp của lối sống theo tiêu chuẩn Nho giáo truyền thống. Chính vì thế, ngoài việc đi tìm chiều sâu nội cảm, thơ có xu hướng tìm đồng điệu. Trong khi đó, đi sau các nhà Thơ mới gần một trăm năm, Nguyễn Tiến Thanh sống trong một thời đại nơi văn hóa đại chúng cuốn con người vào làn sóng của tung hô hoặc hạ bệ, sự tán thưởng được tính bằng lượt like, lượt view, sự phản hồi của người tiếp nhận bị tiêu chuẩn hóa. Đó cũng là nơi ngôn ngữ biểu đạt trở nên xơ cứng, bị trượt nghĩa, bị rút ruột, thậm chí cảm xúc con người cũng bị rút gọn thành những biểu tượng icon dễ dùng. Chính trong một bối cảnh kĩ thuật số tận độ như vậy, thơ đã rất khó tìm được “giao cảm” thuần khiết như thời kì của các nhà Thơ mới. Đàn ông vậy, quan niệm “thơ không cần hồi đáp” của Nguyễn Tiến Thanh chính là sự kháng cự trước các vấn đề của đời sống đương đại.

Trong khi đó, khi so sánh với các nhà thơ theo khunh hướng cách mạng, chúng ta lại nhìn ra một điểm khác biệt đáng chú ý. Do chuyên chở sứ mệnh cách mạng, “văn học cũng là một mặt trận, và các anh chị em nghệ sĩ cũng là các chiến sĩ trên mặt trận ấy”, toàn thể văn chương thời kì chiến tranh vệ quốc đều hướng đến mục tiêu đấu tranh cách mạng, thúc đẩy và cổ vũ tinh thần chiến đấu của đồng bào, chiến sĩ. Trong bối cảnh thời chiến như thế, phương trâm viết của chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu ra như một mẫu mực: “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì và viết như thế nào?”. Cũng trong bối cảnh đó, thơ ca chính là tiếng nói lan tỏa và kiếm tìm sự đồng thuận, như Tố Hữu khái quát: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”. Tất cả những điều này đều giúp văn chương trở thành một nguồn lực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh sống trong thời bình, khi văn chương đã được trở về đúng quỹ đạo nghệ thuật của nó. Điều này chi phối đến việc ông coi thơ là tiếng nói nội tâm, thậm chí nội tâm đến cực độ. Trong khi chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao đến đối tượng và tính mục đích của việc viết, hay nhà thơ Tố Hữu muốn hướng thơ đến sự hồi đáp mang tính “đồng ý, đồng chí, đồng tình” của những người cùng chung lí tưởng cách mạng làm thơ thì nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh lại từ chối tính mục đích của việc viết thơ, từ chối sự công nhận, phản bác hay đồng tình của tha nhân; đồng thời, ông coi mình chính là một đối tượng trước tiên và duy nhất của việc viết thơ. Nhà thơ coi viết thơ như một thực hành tự nhiên, mang tính bản năng trong việc ghi lại chính mình, như nhật kí. Quan điểm của Nguyễn Tiến Thanh phản ánh sự vận động tất yếu của văn học Việt Nam hậu chiến, khi văn chương trở lại quỹ đạo đời thường. Sự đảo ngược trong quan niệm nghệ thuật của nhà thơ so với các cây đại thụ thời chiến cho thấy bước chuyển của thơ ca từ sứ mệnh xã hội sang sứ mệnh cá nhân, từ tầm nhìn quốc gia dân tộc trở lại là hành vi tự thân của người sáng tác.

Sau chiến tranh, văn chương chuyển sang thời kì phát triển bước ngoặt, nhất là sau công cuộc Đổi mới năm 1986. Lúc này, cùng với sự bùng nổ của các sáng tác là trăm hoa đua nở các quan niệm khác nhau. Song về cơ bản, như trên đã chỉ ra, văn chương đã trở lại quỹ đạo đời thường, hướng đến giá trị nghệ thuật. Đối với thơ ca, sự trở lại của các nhà thơ như Trần Dần, Phùng Quán, Dương Tường đã đưa đến những tuyên ngôn nghệ thuật táo bạo. Điểm chung ở các nhà thơ này là chủ trương cách tân nghệ thuật, chẳng hạn Lê Đạt cho rằng “Làm thơ là phu chữ”, “nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa “tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó mà còn ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu thơ và bài thơ”[5]. Quan niệm về chữ và những kì công trong việc “làm chữ” đã tạo nên những cách tân nghệ thuật, đưa thơ trở về đúng nghĩa với lao động chữ nghĩa của hành vi nghệ thuật. Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, với quan điểm thơ là hành vi tự thân đã không nhấn mạnh vào khía cạnh lao động chữ nghĩa. Thậm chí, ông có xu hướng loại bỏ những danh xưng, sự phân loại bao trùm lên thơ ca: “thơ không còn là thể loại. Không còn là văn học. Không còn là nghệ thuật” để đưa thơ trở về thuần túy là “một dạng hiện hữu không cần hồi âm”, được thực hiện cốt để giữ lại cái “phần người nơi người viết” trước khi tất cả những khoảnh khắc sống bị xóa. Vì thơ cốt ghi lại sự “tồn tại” người, nên nhà thơ không đặt ra yêu cầu cao về mặt kĩ thuật thơ ca. Đó cũng là lí do khiến thơ Nguyễn Tiến Thanh không tạo ra đột phá nghệ thuật nhưng lại giữ được sự thuần khiết của cảm xúc.

Trong bối cảnh đương đại, thơ phải đối mặt với thách thức lớn từ sự bùng nổ của các loại hình giải trí đa phương tiện, văn hóa tiêu dùng và phương tiện kĩ thuật số, cùng với đó là bầu khí quyển phức tạp với những biến động không ngừng, tốc độ sống gấp. Thơ ca lúc này không còn nhận được sự quan tâm nhiều như trước. Trong bối cảnh phức tạp của thời đại đó, thi giới đặt ra rất nhiều câu hỏi về giá trị của thơ, tiêu biểu là ý kiến của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “thơ ca là nơi duy nhất để tôi giải phóng tôi và để tôi trú ẩn. Một điều tôi muốn nói đến là: có thể những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới nhưng những gì mang tinh thần của thi ca đã và đang cứu rỗi thế giới”[6]. Chia sẻ này của nhà thơ có nhiều điểm đồng điệu với quan điểm của Nguyễn Tiến Thanh về sáng tạo thơ ca, nhất là việc khẳng định “những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới”, cho thấy sự gặp gỡ về khả năng và giới hạn của thi ca trong thời đại khủng hoảng giá trị. Tuy nhiên, nếu như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn thể hiện một niềm tin dai dẳng mãnh liệt đối với sức mạnh cứu rỗi của thơ đối với nhân loại thì nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, người sống cùng thời với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, lại co rút lại khả năng cứu rỗi của thơ vào cá nhân người viết, như tiêu đề cuốn sách mới nhất của ông chỉ ra “Thơ không cứu được ai, nhưng cứu người viết”. Và “cứu người viết” ở đây, trong quan niệm của Nguyễn Tiến Thanh là cứu cái phần người trước nguy cơ bị thế giới tiêu dùng và lối sống tốc độ nuốt mất. Thơ vì thế là một cơ chế để phòng hộ, là lá chắn giúp con người bảo vệ mình trước sự máy móc hóa và đơn giản hóa. Sở dĩ có quan điểm này bởi Nguyễn Tiến Thanh đã sống trong thế giới truyền thông nhiều thập kỉ, chứng kiến sự biến đổi của môi trường văn hóa Việt Nam, nhất là trong kỉ nguyên của mạng xã hội, nơi các sáng tạo bị tiêu chuẩn hóa, nơi cảm xúc bị giản lược. Chính những va đập đó đã khiến nhà thơ đề xuất một lối thơ nhằm cứu chuộc lấy nhân tính con người.

*

Tóm lại, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, bằng những trải nghiệm thơ ca bền bỉ của mình khi kinh qua quãng đường rất dài làm báo và sống trong thương trường chữ nghĩa, đã đưa ra một quan niệm thơ rất mới mẻ, đáng suy ngẫm trong xã hội đương đại hôm nay. Những quan niệm của ông trong bài tiểu luận Thơ không cần hồi đáp cho thấy, khi chúng ta để thơ trở về với chính bản chất cốt lõi của nó, khi dám lược bỏ những danh xưng mĩ miều, những mục đích cao quý mà thơ thường gán vào, đó là lúc ta thấy được những ý nghĩa to lớn của thơ đối với chính mình: thơ như là cứu rỗi nội tại, là cứu cánh tâm hồn, là sự bảo vệ phẩm tính người trước nguy cơ bị dẫn dắt bởi tốc độ và tiện nghi. Có thể nói, giữa một thế giới dễ khiến con người trở thành công cụ, tuyên ngôn Thơ không cần hồi đáp của Nguyễn Tiến Thanh không chỉ là một quan niệm nghệ thuật, mà còn là một thái độ sống: viết để giữ lại những mong manh của sự sống, để bảo vệ vẻ đẹp tối hậu của con người.

Tư liệu tham khảo:

[1] Nguyễn Tiến Thanh (2025): “Thơ không cần hồi đáp”, Tinh hoa Việt, số 1 (bộ mới), tr.22.

[2] Nguyễn Tiến Thanh (2025): “Thơ không cần hồi đáp”, Tinh hoa Việt, số 1 (bộ mới), Tr.23.

[3] https://vanvn.vn/tho-khong-can-hoi-dap/

[4] https://cand.com.vn/ly-luan/mot-cau-tho-mot-vet-xuoc-vao-thoi-dai-i773645/

[5] Tác phẩm mới số 3 năm 1993.

[6] https://congluan.vn/tuyen-ngon-van-hoc-dau-nam-thi-ca-co-the-cuu-roi-the-gioi-10005723.html?utm_source=chatgpt.com

Nguyễn Thị Kim Nhạn




Nguồn: Arttimes.vn

“Thơ không cần hồi đáp” – một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh


“Phải chăng tình yêu thơ ca không còn đất sống trong tâm hồn con người hiện đại, khi “cơn lốc” của đời sống công nghiệp, đời sống đô thị và cái gọi là lối “sống gấp” đang nghiền thời gian sống của chúng ta thành từng mảnh vụn? Đã có lúc nhiều nhà thơ tự hỏi: “Thơ cần cho ai, cần cho mọi người hay chỉ cần cho riêng ta?”, “Thơ sống thế nào trong thời đại “kỹ thuật số”, trong thời “điện tử hoá” đang rút dần đất sống của thơ?” (Nguyễn Việt Chiến)

Đây là một loạt câu hỏi quan trọng được nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đặt ra trong tọa đàm “Thơ hiện nay với hôm nay”, một hoạt động mở màn cho Ngày thơ Việt Nam 2023 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hoàng thành Thăng Long. Những câu hỏi trên sở dĩ trở nên khẩn thiết, mang ý nghĩa cảnh báo đối với sự phát triển thơ ca hiện nay bởi nó phản ánh tình thế khủng hoảng của thơ. Được mệnh danh là kỉ nguyên số, khi công nghệ lên ngôi, mạng xã hội tràn lan và chủ nghĩa tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nghe nhìn theo dạng nhanh, ngắn đã tác động sâu sắc đến thị hiếu độc giả, thói quen thưởng thức nghệ thuật và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Và tất cả những điều này cũng ảnh hưởng đến sự sống của thơ ca ở tầng sâu nhất của nó: ngôn ngữ. Do đó, có thể nói, trong bối cảnh thơ ca Việt Nam đương đại, khi ngôn ngữ thi ca phải sống chung với mạng xã hội, với tốc độ và sự tiêu thụ tức thì, quan niệm về vai trò của thơ ca, sự tiếp nhận thơ buộc phải được nhìn nhận lại. Đây chính là lí do cho những thảo luận về thơ trở nên nóng hổi hơn bao giờ hết, thu hút rất nhiều những nhà thơ, nhà nghiên cứu và người yêu thơ tham gia.

Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tiến Thanh, nhà thơ của ba tập thơ: Loạn bút hành (2021), Chiều không tên (2021), Viễn ca (2024) và một tập tiểu luận Thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết (2025) đã thể hiện những suy tư rất sâu sắc của mình về sự sinh tồn và ý nghĩa thực sự của thơ ca trong bối cảnh ngôn ngữ bị tha hóa. Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh vốn rất nổi tiếng với hoạt động sáng tác và giao lưu thơ ca từ thuở sinh viên, trên giảng đường Văn khoa, Đại học Tổng hợp. Sau này, ông đã có nhiều thập kỉ kinh qua hoạt động báo chí, tiếp xúc thường xuyên với môi trường ngôn ngữ báo chí, mạng xã hội, – đó chính là cơ sở thực tiễn cho những chiêm nghiệm về thơ và sức sống của thơ ca từ góc nhìn của một người dấn mình vào thế giới ngôn ngữ trong thời đại tiêu dùng. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, do chưa tiếp cận được toàn văn cuốn sách mới nhất Thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết, bài viết này khảo sát quan điểm thơ ca của Nguyễn Tiến Thanh qua tiểu luận Thơ không cần hồi đáp, vốn là một chương trong cuốn trường luận trên. Bài tiểu luận được in trên Tinh hoa Việt (số 1, bộ mới, phát hành tháng 7/2025) đã đem đến một tiếng nói rất riêng về bản chất của thơ ca và ý nghĩa của nó trong đời sống đương đại. Bài viết cho rằng, quan niệm Thơ không cần hồi đáp của Nguyễn Tiến Thanh không chỉ là một mệnh đề thẩm mỹ mà còn là một cách phản tư về thân phận của thi ca trong thế giới hậu công nghiệp, nơi tốc độ và tiện nghi cuốn con người đi xa khỏi chính mình, nơi cảm xúc bị tiêu chuẩn hóa và những khoảng lặng trở thành xa xỉ.

“Thơ không cần hồi đáp” - một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh - 1

Một số tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh. Ảnh: Trang Thụy

1. Bản thể của thơ: Thơ như một trạng thái tồn tại

Trước hết, tên bài viết Thơ không cần hồi đáp đã được cụ thể hóa bằng những tuyên ngôn rất mạnh: “Người làm thơ không chờ hồi âm. Không đòi thừa nhận. Không cần phân tích”, thơ “không cần chứng nhận” hay “người viết không cần ai vỗ tay”[1]. Các mệnh đề này được lặp đi lặp lại xuyên suốt bài viết. Tất cả những câu khẳng định này đều chỉ ra một quan niệm: thơ không nhất thiết cần được đáp lại, không cần lời phân tích, mổ xẻ, cũng không cần được công nhận, tung hô. Thơ từ chối là một hành vi giao tiếp, từ chối tính mục đích. Bằng cách đó, nhà thơ muốn khẳng định: thơ là hành vi nội tại, hoàn toàn cá nhân, và điều mà thơ “cần” không phải là sự công nhận từ bên ngoài mà là đòi hỏi và thôi thúc từ bên trong. Làm thơ trước hết là cho mình, vì mình. Vậy vì sao nhà thơ lại từ chối sự “hồi đáp” của thơ? bản chất của thơ là gì?

Ông viết: “nếu bạn, vào một lúc nào đó, – không vì cảm hứng, không vì nhiệm vụ, không vì ai yêu cầu – bỗng cầm bút và viết một câu mà không biết sẽ đặt nó ở đâu, gửi cho ai, giữ lại làm gì, thì hãy biết: bạn đã bước vào nơi sâu nhất của thơ. Nơi thơ không còn là phát ngôn, mà là một trạng thái tồn tại. Không cần được nhìn thấy. Không cần được nghe. Chỉ cần được hiện ra – đúng khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan. Và nếu vậy – đó chính là thơ”[2]. Với quan niệm như thế, thơ từ chối bất cứ một hành vi dụng tâm hay hữu ý nào, thơ từ chối bị áp đặt, từ chối là một vật trung gian giao tế, thậm chí từ chối những động cơ, những nhiệm vụ của việc viết – vốn đã được hình dung như một công thức xơ cứng: “Viết cho ai? Viết để làm gì?”. Như tác giả khẳng định, thơ chẳng cần “gửi cho ai, giữ lại làm gì”. Thơ thuần túy trở về với bản chất nguyên thủy của nó, là “viết ra”, ghi lại “một trạng thái tồn tại”, khi “khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan”. Thơ nắm bắt cái tế vi sâu kín, mong manh, dễ mất và không ngừng mất đi. Bởi thế, thơ chính là phần còn lại của sự sống, cũng tức là sống ở nghĩa hiện sinh nhất của nó.

Quan điểm này thực tế được ông thể hiện xuyên suốt trong nhiều bài viết. Trong một tiểu luận khác Ký hiệu cuối trên bức tường đổ sụp, ông cho rằng thơ chính là “chứng tích của sự tồn tại”: “Viết mà không cần câu, không cần tên, không cần ai đọc. Chỉ cần một khoảng trống để thở vào. Chỉ cần một vùng im để không bị xóa khỏi bản thể”; “Trong một thế giới nơi nghĩa đã bị rút ruột, viết không còn là truyền đạt. Nó trở thành một hình thức sống sót. Viết như cách một người học lại nhịp tim sau một cơn trụy mạch. Viết như một bản năng sinh tồn không mang theo ảo tưởng cứu rỗi, nhưng mang theo một điều khẩn thiết: “Tôi vẫn còn ở đây”.

Với một quan niệm như thế, thơ đã bị loại bỏ hết những lớp vỏ bọc bên ngoài của những mục đích, nhu cầu để trở về với bản nguyên cốt lõi, vô tư nhất của nó: Thơ như một cử chỉ nguyên thủy. Thơ viết về chính sự tồn tại, sự hiện hữu, thơ ghi dấu một hơi thở, một nét cảm, một trạng huống sống. Thơ là khoảnh khắc ta tồn tại, là sự hiện hữu bằng con chữ, đơn sơ và thuần túy. Bản chất tối hậu của thơ, như thế, đã không tách rời sự sống con người ở nghĩa cá nhân nhất và hiện sinh nhất của nó.

Trong thơ Nguyễn Tiến Thanh, người đọc bắt gặp rất nhiều những khoảnh khắc của “trạng thái tồn tại” ấy. Bài thơ Sông dưới đây chính là một ví dụ tiêu biểu. Sông giống như một tốc kí về khoảnh khắc thức ngộ về đời người của tác giả. Bắt đầu từ một quan sát về sông: “Hóa thân từ những đám mây/ Che ngang mặt trời phiêu bạt/ Vắt kiệt đời mình thành nước/ Mưa rơi từng hạt lặng im/ Băng qua rất nhiều ghềnh thác/ Ầm ầm uốn lượn về xuôi/ Suối khe oằn mình đau xé/ Thành sông lờ lững bao đời”, nhân vật trữ tình “giật mình” về chính đời mình:

“Người đứng bên bờ sông ấy

Giật mình tóc đã phôi pha

Tháng ngày trôi như nước chảy

Chưa qua sông đã thấy già”.

Những cảm xúc hiện sinh trong bài thơ được viết với ngôn ngữ giản dị, gần như trong suốt, được thể hiện qua một tứ thơ dung dị: từ quan sát về một dòng sông đã trải bao thác ghềnh, nhân vật chợt thức ngộ về dòng đời. Chính vì không làm thơ để được tung hô hay công nhận, cũng không biến thơ thành công cụ để giao tiếp với tha nhân, bài thơ Sông của Nguyễn Tiến Thanh đã gần như loại bỏ hết sự kiểu cách về mặt thi pháp, sự cầu kì trong ngôn ngữ để diễn tả trọn vẹn cái khoảnh khắc chủ thể “giật mình” nhận ra đời mình cũng trôi như nước chảy, tháng năm đã phôi phai, và tuổi già đang dần ập đến. Thơ lúc này đi thẳng từ xúc cảm, từ sự đốn ngộ thành những con chữ, bởi thế, nó hiện lên như là một dấu tích cho việc nhà thơ đang sống, đang cảm nhận về chính mình và cuộc đời. Trong bài thơ Vụt hiện, nhà thơ đã tiết giảm ngôn ngữ tới mức tối đa để ghi trọn một khoảnh khắc sống:

“Anh đuối sức chạy dọc đường số phận

Nhặt niềm vui rơi như lá me vàng

Phía trước mặt là dòng sông nước cạn

Cuối mưa nguồn còn chớp bể không em?”

Hiện lên trong bài thơ là cảm giác “đuối sức” của “anh” sau khi đã “chạy dọc đường số phận’ nhưng chỉ “nhặt niềm vui rơi như lá me vàng”. Những hình ảnh này là một cách nói ẩn dụ cho những lăn lộn của việc làm người, sự hư vô của kiếp sống, khi niềm vui quá đối nhỏ bé, dễ rơi rụng, hư hao. Và cuối cùng, sau những đuối sức đó, con ngời luôn phải đối mặt với những giới hạn khô khốc của đời “Phía trước mặt là dòng sông nước cạn”. Chính giới hạn này giúp chủ thể “anh” bật lên câu hỏi thao thiết: “Cuối mưa nguồn còn chớp bể không em?” Bài thơ, một lần nữa là một sức thức ngộ về hạnh phúc, về được mất của đời người. Nó chính là bằng chứng của những trăn trở, những thao thức, những băn khoăn về kiếp người. Và như thế, thơ chính bản thể sống của nhà thơ.

Những bài thơ trên chỉ là những ví dụ rất nhỏ cho thấy, Nguyễn Tiến Thanh đã rất coi trọng yếu tố nội tại của việc làm thơ. Trong tiểu luận Thơ không cần hồi đáp, nhà thơ nhấn mạnh rằng: “Thơ không cần hồi đáp, vì bản thân nó là hồi đáp cuối cùng của người viết với phần người chưa kịp chết trong mình. Viết không phải để nghe lại, mà để không phản bội cảm xúc đã từng chạm vào mình như một lần sóng quất vào da thịt”; hay “thơ chính là hình thức nhẹ nhất của tồn tại. Người viết không hỏi: “Ai sẽ đọc?” mà hỏi: “nếu không viết, thì ai sẽ biết điều này từng có thật?”. Với quan niệm như thế, thơ đã từ chối những vỏ bọc để trở về với phần cốt tủy nhất: là ca lên những cảm xúc, nói lên những trạng thái hiện tồn của con người.

2. Ý nghĩa của thơ: Thơ là dấu vết của sự sống

Chính vì bản chất cốt lõi của hành vi viết thơ là ghi lại sự tồn tại, sự hiện hữu của người làm thơ trong khoảng khắc, cho nên thơ chính là dấu vết của sự sống con người. Như Nguyễn Tiến Thanh xác quyết: “Thơ không cần được hồi đáp vì nó chưa bao giờ đòi hỏi điều gì. Nó không bước vào thế giới như một đòi hỏi mà như một dấu vết, một vết tay trên cửa kính buổi sớm, một hơi thở còn vướng lại trong căn phòng đã không còn người nói”. Như vậy, thơ tồn tại không vì/ và không nhằm để được nhớ đến, cũng không chứng tỏ điều gì với thế giới bên ngoài. Làm thơ là công việc hoàn toàn thuộc vào nhu cầu nội tại của nhà thơ. Thơ là sự ghi lại về chính những thời khắc sống, do đó, là cách lưu dấu sự tồn tại người qua những “dấu vết” nhỏ bé, mong manh: “một vết tay trên cửa kính buổi sớm, một hơi thở còn vướng lại trong căn phòng đã không còn người nói”. Một vết tay hay một hơi thở là những chỉ dấu tồn tại, là minh chứng cho việc ta đang sống, đang thở và đang hiện diện. Nhưng sự hiện diện vốn mong manh hơn bao giờ hết. Như ánh chớp, nó không thể trường tồn. Chính trong tình thế tồn tại mong manh ấy, thơ đóng vai trò như một cuốn nhật kí, một thước phim ghi lại hành trình xúc cảm, là bằng chứng, chứng tích của việc ta đang sống, đang hiện hữu trong từng khoảnh khắc một đi không trở lại. Ý nghĩ này khiến thơ bị tước hết mọi định danh – cũng chính là những vỏ bọc mà người ta hay gắn cho thơ: “Lúc này, thơ không còn là thể loại. Không còn là văn học. Không còn là nghệ thuật. Thơ là một dạng hiện hữu không cần hồi âm, giống như “lời chưa gửi và sự vắng mặt của người nghe”, thơ tồn tại như một hành vi bất khả hồi đáp, nhưng vẫn được thực hiện, vì nếu không, phần người nơi người viết sẽ tắt trước cả phần xác”. Kéo việc viết trở lại với bản nguyên sơ khởi nhất của nó: viết để làm chứng cho sự sống, do vậy, thơ là sự bảo lưu cái “phần người” có nguy cơ “tắt trước cả phần xác”. Thơ do đó, là nơi bảo vệ nhân tính con người. Thông điệp này cũng là điều ông thể hiện trong tiểu luận Ký hiệu cuối trên bức tường sụp đổ: “Viết như thế là một hành vi đạo đức. Không phải với người khác mà với chính bản thể của mình. Giữ lại một nhịp thở sau khi không còn gì là giữ lại nhân tính. Ngôn ngữ sụp đổ, nhưng người viết vẫn chưa tan”.

Không chỉ là bảo chứng cho những khoảnh khắc sống mong manh, theo Nguyễn Tiến Thanh, thơ còn giúp con người bảo vệ mình trước những tác nhân của ngoại cảnh: “Thơ chỉ ở đó, như một chứng từ lặng lẽ cho phần người không thể đo lường. Và chính vì không có người nghe, không có lời đáp, không có đoạn kết rõ ràng – nên sự tồn tại của thơ càng không bị từ chối, giữ lại khe hở cho một cảm xúc chưa kịp chết hẳn, giữ lại một mảnh mong manh chưa bị thế giới lấp đi bằng tiện nghi và tốc độ”. Nhận định trên cho thấy rằng, sự mong manh của những cảm xúc con người không chỉ vì đời sống con người luôn bị chi phối bởi quy luật nghiệt ngã của thời gian mà bởi con người không thoát khỏi những bủa vây của thời đại. Ý nghĩa của việc viết càng trở nên không thể thay thế khi ngoài kia, thế giới vận hành theo cách, nó không ngừng cuốn ta vào cơn lốc của “tiện nghi và tốc độ”. Bởi thế, viết là “giữ lại” cho ta một “khe hở” của “cảm xúc”, “một mảnh mong manh chưa bị thế giới lấp đi bằng tiện nghi và tốc độ”, cũng tức là giữ lại cái phần con người nhất của loài người. Suy nghĩ này thể hiện sự phản tư sâu sắc của tác giả về tình thế làm người trong thời đại kĩ trị, nơi con người dễ bị biến thành máy móc, thành công cụ, khi những cảm xúc dễ bị nghiền nát bởi một tốc độ sống quá nhanh, quá toan tính, vụ lợi. Trong bối cảnh đó, viết chính là một lối thoát, một cánh cửa tự do, một hành động tự chủ duy nhất mà con người có thể làm để lưu dấu sự sống và kháng cự lại những thiết chế chỉ trực trờ khuôn con người vào khuôn khổ, hay biến con người thành công cụ. Do vậy, với Nguyễn Tiến Thanh, Thơ không cần cứu ai, mà cứu người viết, như tiêu đề của cuốn sách mới xuất bản. Theo đó, thơ không mang những trọng trách to tát hay vĩ đại, thơ không có khả năng cứu chuộc tha nhân nhưng tự nó lại cứu người viết khỏi sự hư vô, sự mất tiếng nói, sự bị máy hóa trong đời sống ngày một quay cuồng. Đây là một triết luận rất sâu sắc, mang dấu ấn thời đại, được ông đề cập trong nhiều bài nói mình: “Thơ không thể cạnh tranh với deadline. Không thể chạy đua với AI. Nhưng thơ có sức bền lạ lùng. Giống như một cây cỏ mọc giữa khe bê tông – không ai trồng, nhưng vẫn có thể khiến một người chợt đứng lại giữa phố”[3].

Đó cũng chính là cách nhà thơ đặt thơ vào vị trí “kháng cự”, không theo nghĩa cách mạng đấu tranh ngoài mặt, mà theo nghĩa một hành vi ngầm, một sự răn đe ẩn dấu, hoặc “một vết xước” vào cái ngôn ngữ trơn tuột của thời đại. Trong tiểu luận Một câu thơ một vết xước vào thời đại, tác giả viết: “Thơ không giành quyền lực, thơ giành lại sự sống bên trong người viết – thơ là một hành vi kháng cự không cần tiếng hô”; “Thơ kháng cự bằng cách không biến mình thành nội dung dễ nuốt… không nói ngay khi người ta muốn nó phải nói”[4]. Nói cách khác, đối với Nguyễn Tiến Thanh, thơ là đối trọng nội tại với sự cơ giới hóa ngôn từ, với áp lực số hóa cảm xúc, với hệ thống đo đếm lượt xem/like như chỉ dấu duy nhất của “tương tác” mạng xã hội. Thơ không cần nhiều người đọc để tăng lên giá trị, nó chỉ cần có mặt, như một hơi thở, như một phần không bị xóa mờ.

“Thơ không cần hồi đáp” - một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh - 2

Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh.

3. Quan niệm thơ Nguyễn Tiến Thanh trong dòng chảy thơ ca Việt Nam

Với những gì mà nhà thơ đã thể hiện, có thể thấy Nguyễn Tiến Thanh đã đưa ra một quan niệm hết sức độc đáo, thể hiện một tầm nhìn sâu sắc về thơ. Đặt trong lịch sử phát triển thơ ca Việt Nam, quan niệm “Thơ không cần hồi đáp” của Nguyễn Tiến Thanh vừa là sự tiếp nối với quan niệm cốt lõi về thơ, vừa là sự bổ sung, thậm chí, đưa đến một quan niệm mới trong lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại.

Trước hết, những tuyên ngôn của Nguyễn Tiến Thanh về việc làm thơ là ghi lại “một trạng thái tồn tại”, một “khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan”, hay viết “để không phản bội cảm xúc đã từng chạm vào mình” thực chất chính là sự tiếp nối của một quan niệm mang tính cốt lõi của thơ ca: thơ chính là tiếng nói chân thành của con tim, của tâm tình con người. Quan niệm phổ quát này nhấn mạnh thơ là tiếng nói của trái tim, do đó, làm thơ trước hết là hướng vào lòng mình, không nhằm được tung hô hay chờ đợi một sự “hồi đáp”. Thơ chính là con người của chính nhà thơ. Tuy nhiên, ngay ở điểm chung này, Nguyễn Tiến Thanh cũng thể hiện một nét phá cách khi nhấn mạnh hơn đến “tồn tại người’, đến “dất vết” con người trong thơ. Thơ đối với ông không phải chỉ là tiếng nói của cảm xúc nói chung, mà là sự chứng nhận của những khoảnh khắc sống. Song khoảnh khắc thì mong manh, thơ bởi thế giữ lại cái phần người dễ phôi phai trước dòng chảy khắc nghiệt của thời gian. Với quan niệm này, nhà thơ nhấn mạnh hơn đến tính hiện sinh của hành vi làm thơ – là hệ quả của tính hiện sinh của chính đời sống con người.

Đặt quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh vào mạch nguồn thơ Việt Nam hiện đại, chúng ta sẽ định giá sát thực hơn sự mới mẻ của ông. Bài viết muốn hướng đến các thời điểm: thơ mới, thơ ca cách mạng và thơ đương đại.

Trước hết, trở lại những năm 1930s, kỉ nguyên của hiện đại hóa thơ ca Việt Nam, phong trào Thơ mới như một dàn đồng ca những tiếng lòng, những tâm tình của các thi sĩ. Thơ mới thường nhấn mạnh đến nỗi cô đơn, lòng tha thiết với cuộc sống và niềm khao khát giao cảm với tha nhân. Xuân Diệu là một trường hợp tiêu biểu. Trong bài Cảm xúc, ông viết:

Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió,

Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,

Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

Thơ Xuân Diệu là tiếng nói nội tâm, nhưng là một nội tâm khao khát chia sẻ, khao khát giao cảm với đời. Đó là lí do khiến hầu hết các bài thơ của Xuân Diệu thời kì này đều có dòng đề tặng cho những bạn thơ đương thời. Làm thơ lúc này chính là một hành vi “giao tiếp”, là sự kết nối, là làm thân, là sự đối thoại để hướng đến sự tương liên trong tâm hồn. Trong khi đó, Nguyễn Tiến Thanh lại hướng đến nội tại hóa việc làm thơ ở mức độ cao nhất. Ông thậm chí không cần nhiều người đọc, không cần tung hô, không cần nhận xét phẩm bình, tức là không cần sự chứng nhận của bất cứ ai. Làm thơ như một hoạt động mang tính riêng tư cao độ nhất. Sự khác biệt này có thể lí giải bởi tâm thế người làm thơ của mỗi thời đại. Thơ mới là tiếng nói của cá nhân lần đầu tiên khám phá cảm xúc của mình trong bối cảnh đời sống đô thị và hệ giá trị Tây phương những năm 19302, là sự kháng cự trước những kìm kẹp của lối sống theo tiêu chuẩn Nho giáo truyền thống. Chính vì thế, ngoài việc đi tìm chiều sâu nội cảm, thơ có xu hướng tìm đồng điệu. Trong khi đó, đi sau các nhà Thơ mới gần một trăm năm, Nguyễn Tiến Thanh sống trong một thời đại nơi văn hóa đại chúng cuốn con người vào làn sóng của tung hô hoặc hạ bệ, sự tán thưởng được tính bằng lượt like, lượt view, sự phản hồi của người tiếp nhận bị tiêu chuẩn hóa. Đó cũng là nơi ngôn ngữ biểu đạt trở nên xơ cứng, bị trượt nghĩa, bị rút ruột, thậm chí cảm xúc con người cũng bị rút gọn thành những biểu tượng icon dễ dùng. Chính trong một bối cảnh kĩ thuật số tận độ như vậy, thơ đã rất khó tìm được “giao cảm” thuần khiết như thời kì của các nhà Thơ mới. Đàn ông vậy, quan niệm “thơ không cần hồi đáp” của Nguyễn Tiến Thanh chính là sự kháng cự trước các vấn đề của đời sống đương đại.

Trong khi đó, khi so sánh với các nhà thơ theo khunh hướng cách mạng, chúng ta lại nhìn ra một điểm khác biệt đáng chú ý. Do chuyên chở sứ mệnh cách mạng, “văn học cũng là một mặt trận, và các anh chị em nghệ sĩ cũng là các chiến sĩ trên mặt trận ấy”, toàn thể văn chương thời kì chiến tranh vệ quốc đều hướng đến mục tiêu đấu tranh cách mạng, thúc đẩy và cổ vũ tinh thần chiến đấu của đồng bào, chiến sĩ. Trong bối cảnh thời chiến như thế, phương trâm viết của chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu ra như một mẫu mực: “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì và viết như thế nào?”. Cũng trong bối cảnh đó, thơ ca chính là tiếng nói lan tỏa và kiếm tìm sự đồng thuận, như Tố Hữu khái quát: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”. Tất cả những điều này đều giúp văn chương trở thành một nguồn lực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh sống trong thời bình, khi văn chương đã được trở về đúng quỹ đạo nghệ thuật của nó. Điều này chi phối đến việc ông coi thơ là tiếng nói nội tâm, thậm chí nội tâm đến cực độ. Trong khi chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao đến đối tượng và tính mục đích của việc viết, hay nhà thơ Tố Hữu muốn hướng thơ đến sự hồi đáp mang tính “đồng ý, đồng chí, đồng tình” của những người cùng chung lí tưởng cách mạng làm thơ thì nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh lại từ chối tính mục đích của việc viết thơ, từ chối sự công nhận, phản bác hay đồng tình của tha nhân; đồng thời, ông coi mình chính là một đối tượng trước tiên và duy nhất của việc viết thơ. Nhà thơ coi viết thơ như một thực hành tự nhiên, mang tính bản năng trong việc ghi lại chính mình, như nhật kí. Quan điểm của Nguyễn Tiến Thanh phản ánh sự vận động tất yếu của văn học Việt Nam hậu chiến, khi văn chương trở lại quỹ đạo đời thường. Sự đảo ngược trong quan niệm nghệ thuật của nhà thơ so với các cây đại thụ thời chiến cho thấy bước chuyển của thơ ca từ sứ mệnh xã hội sang sứ mệnh cá nhân, từ tầm nhìn quốc gia dân tộc trở lại là hành vi tự thân của người sáng tác.

Sau chiến tranh, văn chương chuyển sang thời kì phát triển bước ngoặt, nhất là sau công cuộc Đổi mới năm 1986. Lúc này, cùng với sự bùng nổ của các sáng tác là trăm hoa đua nở các quan niệm khác nhau. Song về cơ bản, như trên đã chỉ ra, văn chương đã trở lại quỹ đạo đời thường, hướng đến giá trị nghệ thuật. Đối với thơ ca, sự trở lại của các nhà thơ như Trần Dần, Phùng Quán, Dương Tường đã đưa đến những tuyên ngôn nghệ thuật táo bạo. Điểm chung ở các nhà thơ này là chủ trương cách tân nghệ thuật, chẳng hạn Lê Đạt cho rằng “Làm thơ là phu chữ”, “nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa “tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó mà còn ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu thơ và bài thơ”[5]. Quan niệm về chữ và những kì công trong việc “làm chữ” đã tạo nên những cách tân nghệ thuật, đưa thơ trở về đúng nghĩa với lao động chữ nghĩa của hành vi nghệ thuật. Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, với quan điểm thơ là hành vi tự thân đã không nhấn mạnh vào khía cạnh lao động chữ nghĩa. Thậm chí, ông có xu hướng loại bỏ những danh xưng, sự phân loại bao trùm lên thơ ca: “thơ không còn là thể loại. Không còn là văn học. Không còn là nghệ thuật” để đưa thơ trở về thuần túy là “một dạng hiện hữu không cần hồi âm”, được thực hiện cốt để giữ lại cái “phần người nơi người viết” trước khi tất cả những khoảnh khắc sống bị xóa. Vì thơ cốt ghi lại sự “tồn tại” người, nên nhà thơ không đặt ra yêu cầu cao về mặt kĩ thuật thơ ca. Đó cũng là lí do khiến thơ Nguyễn Tiến Thanh không tạo ra đột phá nghệ thuật nhưng lại giữ được sự thuần khiết của cảm xúc.

Trong bối cảnh đương đại, thơ phải đối mặt với thách thức lớn từ sự bùng nổ của các loại hình giải trí đa phương tiện, văn hóa tiêu dùng và phương tiện kĩ thuật số, cùng với đó là bầu khí quyển phức tạp với những biến động không ngừng, tốc độ sống gấp. Thơ ca lúc này không còn nhận được sự quan tâm nhiều như trước. Trong bối cảnh phức tạp của thời đại đó, thi giới đặt ra rất nhiều câu hỏi về giá trị của thơ, tiêu biểu là ý kiến của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “thơ ca là nơi duy nhất để tôi giải phóng tôi và để tôi trú ẩn. Một điều tôi muốn nói đến là: có thể những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới nhưng những gì mang tinh thần của thi ca đã và đang cứu rỗi thế giới”[6]. Chia sẻ này của nhà thơ có nhiều điểm đồng điệu với quan điểm của Nguyễn Tiến Thanh về sáng tạo thơ ca, nhất là việc khẳng định “những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới”, cho thấy sự gặp gỡ về khả năng và giới hạn của thi ca trong thời đại khủng hoảng giá trị. Tuy nhiên, nếu như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn thể hiện một niềm tin dai dẳng mãnh liệt đối với sức mạnh cứu rỗi của thơ đối với nhân loại thì nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, người sống cùng thời với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, lại co rút lại khả năng cứu rỗi của thơ vào cá nhân người viết, như tiêu đề cuốn sách mới nhất của ông chỉ ra “Thơ không cứu được ai, nhưng cứu người viết”. Và “cứu người viết” ở đây, trong quan niệm của Nguyễn Tiến Thanh là cứu cái phần người trước nguy cơ bị thế giới tiêu dùng và lối sống tốc độ nuốt mất. Thơ vì thế là một cơ chế để phòng hộ, là lá chắn giúp con người bảo vệ mình trước sự máy móc hóa và đơn giản hóa. Sở dĩ có quan điểm này bởi Nguyễn Tiến Thanh đã sống trong thế giới truyền thông nhiều thập kỉ, chứng kiến sự biến đổi của môi trường văn hóa Việt Nam, nhất là trong kỉ nguyên của mạng xã hội, nơi các sáng tạo bị tiêu chuẩn hóa, nơi cảm xúc bị giản lược. Chính những va đập đó đã khiến nhà thơ đề xuất một lối thơ nhằm cứu chuộc lấy nhân tính con người.

*

Tóm lại, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, bằng những trải nghiệm thơ ca bền bỉ của mình khi kinh qua quãng đường rất dài làm báo và sống trong thương trường chữ nghĩa, đã đưa ra một quan niệm thơ rất mới mẻ, đáng suy ngẫm trong xã hội đương đại hôm nay. Những quan niệm của ông trong bài tiểu luận Thơ không cần hồi đáp cho thấy, khi chúng ta để thơ trở về với chính bản chất cốt lõi của nó, khi dám lược bỏ những danh xưng mĩ miều, những mục đích cao quý mà thơ thường gán vào, đó là lúc ta thấy được những ý nghĩa to lớn của thơ đối với chính mình: thơ như là cứu rỗi nội tại, là cứu cánh tâm hồn, là sự bảo vệ phẩm tính người trước nguy cơ bị dẫn dắt bởi tốc độ và tiện nghi. Có thể nói, giữa một thế giới dễ khiến con người trở thành công cụ, tuyên ngôn Thơ không cần hồi đáp của Nguyễn Tiến Thanh không chỉ là một quan niệm nghệ thuật, mà còn là một thái độ sống: viết để giữ lại những mong manh của sự sống, để bảo vệ vẻ đẹp tối hậu của con người.

Tư liệu tham khảo:

[1] Nguyễn Tiến Thanh (2025): “Thơ không cần hồi đáp”, Tinh hoa Việt, số 1 (bộ mới), tr.22.

[2] Nguyễn Tiến Thanh (2025): “Thơ không cần hồi đáp”, Tinh hoa Việt, số 1 (bộ mới), Tr.23.

[3] https://vanvn.vn/tho-khong-can-hoi-dap/

[4] https://cand.com.vn/ly-luan/mot-cau-tho-mot-vet-xuoc-vao-thoi-dai-i773645/

[5] Tác phẩm mới số 3 năm 1993.

[6] https://congluan.vn/tuyen-ngon-van-hoc-dau-nam-thi-ca-co-the-cuu-roi-the-gioi-10005723.html?utm_source=chatgpt.com

Nguyễn Thị Kim Nhạn




Nguồn: Arttimes.vn

12 đơn vị nghệ thuật sẽ tham gia Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc – 2026


Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc – 2026 sẽ diễn ra từ ngày 17 – 23/5/2026 tại thành phố Hồ Chí Minh, với sự tham gia của 45 diễn viên đến từ 12 đơn vị nghệ thuật Cải lương chuyên nghiệp trên cả nước.

Cuộc thi do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Nghệ thuật biểu diễn chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và các đơn vị có liên quan tổ chức nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026).

Cuộc thi lần này là sự kiện văn hóa – nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp đầu tiên sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam  được ban hành tạo ra một bước ngoặt tư duy chiến lược, khi định vị văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là “nguồn lực nội sinh, động lực to lớn và trụ cột” cho sự phát triển bền vững của đất nước sau khi cả nước thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đánh dấu một bước chuyển mình trong công tác tổ chức, quản lý, phát triển các hoạt động văn hóa – nghệ thuật trong bối cảnh mới.

12 đơn vị nghệ thuật sẽ tham gia Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc – 2026 - 1

Cuộc thi năm nay hướng đến các đối tượng tham gia là những nghệ sĩ hoạt động cải lương chuyên nghiệp. (Ảnh minh họa)

Thông qua Cuộc thi nhằm phát hiện, tôn vinh những tài năng trẻ của sân khấu Cải lương; tạo điều kiện để các đơn vị nghệ thuật tìm kiếm, thu hút, bồi dưỡng lực lượng nghệ sĩ kế cận; đồng thời mở ra cơ hội để các nghệ sĩ, diễn viên giao lưu nghề nghiệp, học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kỹ năng chuyên môn và nâng cao chất lượng biểu diễn phục vụ Nhân dân.

Đây cũng là dịp để các cơ quan quản lý văn hóa, giới chuyên môn và công chúng có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng hoạt động của nghệ thuật Cải lương hiện nay; từ đó góp phần đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn, phát triển loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc này trong bối cảnh đời sống xã hội đang có nhiều biến đổi mạnh mẽ.

Về quy chế, Cuộc thi năm nay hướng đến các đối tượng tham gia là những nghệ sĩ hoạt động cải lương chuyên nghiệp. Mỗi thí sinh dự thi một tiểu phẩm hoặc trích đoạn có thời lượng không quá 25 phút; trường hợp 2 diễn viên cùng dự thi trong một tiểu phẩm hoặc trích đoạn thì thời lượng không quá 35 phút. Thí sinh dự thi phải thể hiện được các đặc trưng cơ bản của loại hình nghệ thuật biểu diễn Cải lương.

Ban Tổ chức khuyến khích các tiểu phẩm, trích đoạn có sự tìm tòi trong dàn dựng, sáng tạo trong phong cách biểu diễn nhưng vẫn bảo đảm giữ gìn những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật cải lương.

Thông qua các phần thi, các nghệ sĩ trẻ sẽ thể hiện khả năng ca diễn, kỹ thuật biểu diễn, bản lĩnh sân khấu, chiều sâu tâm lý nhân vật cũng như năng lực làm chủ các làn điệu, bài bản đặc trưng của nghệ thuật cải lương.

Cá nhân đã được phong danh hiệu từ Nghệ sĩ Ưu tú trở lên không được tham gia Cuộc thi. Cá nhân không diễn, thi lại các trích đoạn, tiểu phẩm mà bản thân đã từng đoạt giải trong các Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức.

Về cơ cấu giải thưởng, Ban Tổ chức sẽ trao giải Nhất, giải Nhì cho thí sinh gắn với vai diễn và tên đơn vị đăng ký tham gia Cuộc thi.

Lễ khai mạc Cuộc thi được tổ chức tại Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh, các buổi diễn thi của thí sinh và lễ bế mạc sẽ diễn ra tại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang.

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn

Cú sốc chi phí: ô tô toàn cầu đứng trước đợt tăng giá mới


Nguyên liệu leo thang, xe mới có thể đắt thêm hàng chục triệu đồng.

Ngành công nghiệp ô tô thế giới đang đối mặt với nguy cơ tăng giá xe trong thời gian tới khi chi phí nguyên vật liệu đồng loạt leo thang, bắt nguồn từ những gián đoạn chuỗi cung ứng liên quan đến căng thẳng tại Trung Đông. Theo Nikkei Asia, giá nhôm tại Nhật Bản đã tăng hơn 20% kể từ cuối tháng 2 sau khi hoạt động logistics trong khu vực bị ảnh hưởng, đặc biệt là quanh tuyến vận tải chiến lược Eo biển Hormuz. Một số cơ sở luyện kim tại khu vực này cũng được cho là đã bị tác động bởi các cuộc tấn công gần đây, làm gia tăng lo ngại về nguồn cung toàn cầu.

Cú sốc chi phí: ô tô toàn cầu đứng trước đợt tăng giá mới - 1

Nhôm vốn là vật liệu then chốt trong sản xuất ô tô hiện đại, được sử dụng rộng rãi từ thân vỏ, mâm xe cho đến nhiều chi tiết trong xe điện nhằm tối ưu trọng lượng và hiệu suất vận hành. Sự phụ thuộc lớn vào nhôm khiến ngành ô tô trở nên nhạy cảm hơn trước biến động giá nguyên liệu, đặc biệt trong bối cảnh các hợp kim nhôm phục vụ động cơ cũng đang tăng lên mức cao kỷ lục.

Cú sốc chi phí: ô tô toàn cầu đứng trước đợt tăng giá mới - 2

Không chỉ nhôm, nhiều nhóm vật liệu khác cũng đồng loạt đi lên. Các nhà cung cấp tại Nhật Bản đã tăng giá polyethylene và polypropylene khoảng 30% do chi phí dầu mỏ tăng mạnh, trong khi đây là những vật liệu phổ biến trong nội thất và các chi tiết như bảng táp-lô hay cản xe. Song song đó, giá cao su tự nhiên, cao su tổng hợp và thép cũng tăng đáng kể, với các tập đoàn lớn như Nippon Steel và JFE Steel đã điều chỉnh giá khoảng 10% từ tháng này. Áp lực còn đến từ chi phí điện, vận chuyển và nhân công ngày càng cao.

Trong kịch bản hiện tại, nhiều chuyên gia ước tính giá xe mới có thể tăng thêm khoảng 600–1.000 USD mỗi chiếc nếu tình trạng thiếu hụt và chi phí nguyên liệu kéo dài. Đáng chú ý, xe điện cũng không nằm ngoài xu hướng này khi vẫn phụ thuộc nhiều vào nhôm và vật liệu nhẹ để tối ưu tầm hoạt động, khiến chi phí sản xuất tiếp tục chịu sức ép.

Cú sốc chi phí: ô tô toàn cầu đứng trước đợt tăng giá mới - 3

Ngay cả khi căng thẳng tại Trung Đông hạ nhiệt, giới phân tích cho rằng thị trường năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn cần thêm thời gian để ổn định trở lại. Điều đó đồng nghĩa ngành ô tô có thể sẽ tiếp tục đối mặt với một giai đoạn nhiều biến động, không chỉ về nguồn cung mà còn ở bài toán chi phí sản xuất trong thời gian tới.



Nguồn: Arttimes.vn

“Khúc lãng du cụ Mén” – khi sự sống không chịu bị “biên tập”


Có những cuốn sách khiến ta phải đọc lại, vì lần đầu đọc xong cứ đầy lên trong ta cảm giác hoài nghi về phẩm tính văn chương của nó. “Khúc lãng du cụ Mén” của Phạm Hồng Điệp (NXB Hội Nhà văn, 2026) là một trường hợp như vậy. Thoạt đọc, ta dễ ngỡ đây chỉ là những bài thơ rời về đời sống nông thôn với khoai, ruộng, riu tép, bữa cơm quê…, với những chi tiết tản mạn, vụn vặt, thậm chí đôi lúc quá đà trong miêu tả đời sống thân xác. Nhưng đọc liền mạch, ta nhận ra, các bài thơ ráp nối lại thành một dòng chảy, xoay quanh một nhân vật duy nhất là cụ Mén. Đây có thể xem là một trường ca phân mảnh, trong đó mỗi bài là một lát cắt, nhưng toàn bộ gộp tạo thành một đời sống đang vận động.

Nếu đặt Khúc lãng du cụ Mén vào bối cảnh rộng hơn của văn chương đương đại, ta sẽ thấy một điều thú vị. Một mặt, văn chương ngày càng có xu hướng hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa: cách tân hình thức, phá vỡ tự sự, phân mảnh, giễu nhại, lạ hóa ngôn ngữ, phi trung tâm hoá… Người viết không còn “kể chuyện” theo nghĩa truyền thống, mà thường “làm nhiễu” chính câu chuyện của mình. Ở một chiều ngược lại – ít được nói đến hơn, nhưng ngày càng rõ – là xu hướng quay về với mĩ học bình dân, với cảm thức dân gian, với những “giao diện hình thức” tưởng như cũ mà không hề cũ. Đó không phải là sự hoài cổ đơn giản, mà là một cách tìm lại những nguồn năng lượng nguyên sơ của văn hóa, và những hình thức biểu đạt chưa bị “tinh chế hóa” quá mức.

Khúc lãng du cụ Mén đứng đúng ở giao điểm của hai xu hướng nói trên. Nó phân mảnh, không theo một tự sự tuyến tính chặt chẽ, đó là một dấu hiệu của tư duy hiện đại. Nhưng đồng thời, nó lại vận hành bằng một thứ năng lượng rất “cổ mẫu”: năng lượng của văn hóa dân gian, của đời sống ở trạng thái còn “nguyên tượng”.

“Khúc lãng du cụ Mén” - khi sự sống không chịu bị “biên tập” - 1

Cuốn sách “Khúc lãng du cụ Mén” của Phạm Hồng Điệp (NXB Hội Nhà văn, 2026)

Nhân vật cụ Mén hiện ra trước hết như một con người “chạm đất”, sống bằng lao động và cơ thể, bằng cơ chế tự cung tự cấp: Ngày ngày cần mẫn cày tơi ruộng/ Đất xốp hoa màu tốt tốt mau. Hay: Cụ về ăn ba tô cơm tám/ …thanh thản xong xuôi! Cụ ngủ đây. Đó là một đời sống không được mĩ lệ hóa, không được tinh luyện theo nghĩa thi ca cổ điển, mà giữ nguyên cái thô ráp, cái trực tiếp của tồn tại. Ở đây, ăn – làm – ngủ không chỉ là sinh hoạt, mà còn là nhịp điệu nền tảng của sự sống.

Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, cụ Mén sẽ chỉ là một hình tượng nông dân quen thuộc. Điều làm nên khác biệt nằm ở chỗ, nhân vật này vượt khỏi khung khổ đời thường. Chín mươi hai tuổi chẳng sầu/ Ngày ba sào ruộng đêm cày… thẳng tưng. Ở đây, sự sống không đi theo đường thẳng của thời gian, mà như có khả năng kháng cự lại sự suy tàn, thậm chí đảo chiều nó.

Tác phẩm không né tránh những phương diện thường bị cho là “phàm phu tục tử” của con người. Ngược lại, nó đi thẳng vào đó, thậm chí đẩy tới mức cực hạn. Đủ lượng calo/ Trong người rạo rực… Nếu đọc rời, những đoạn như vậy dễ bị hiểu như sự dung tục. Nhưng trong chỉnh thể tác phẩm, ta thấy rõ đây thuộc về mĩ học phồn thực, nơi mà sự phồn sinh được khẳng định bằng chính cơ thể, bằng xung lực libido, bằng sự đầy tràn. Ở đây, cơ thể không bị che giấu, không bị “phân biệt đối xử”, không bị “văn minh hóa”, mà hiện ra như một trung tâm, một “bản năng gốc” của tồn tại.

Điều làm cho cụ Mén không rơi vào kiểu nhân vật bản năng thuần túy, đó là trường năng lượng ở cụ không khép kín trong cá nhân, mà lan ra, lan xa: Giúp bà con… trồng rừng cấy lúa/ …giúp bà con làm giàu trên đất. Cụ đi từ làng ra biển, từ biển lên núi, vào bản, không chỉ hiện diện, mà còn can dự, cải tạo, dựng xây đời sống. Ở đây, ta thấy một chuyển động rất đặc trưng của văn hóa Việt: cái tôi cá nhân không tách rời khỏi cái ta cộng đồng.

Cụ Mén không khỏi khiến ta liên tưởng đến Alexis Zorba trong tiểu thuyết Alexis Zorba – con người hoan lạc của nhà văn người Hy Lạp Nikos Kazantzaki. Cả hai nhân vật đều thú vị, có khả năng truyền cảm hứng sống. Tuy nhiên, nếu Alexis Zorba là hình tượng của một cá nhân sống đến tận cùng bản năng hoan lạc, thì cụ Mén không chỉ sống, mà còn chia sẻ và phân phối sinh lực, năng lượng sống, biến năng lượng sống cá nhân thành một dạng năng lượng xã hội.

Ngôn ngữ của Khúc lãng du cụ Mén, xét theo mĩ học của cái trang nhã, diễm tuyệt, có thể bị xem là thô vụng, thiếu tinh luyện. Nhưng chính cái “không tinh luyện” ấy lại tạo ra một thứ mà nhiều văn bản văn chương hiện thời thiếu hụt, đó là sinh khí. Tênh hênh giữa trời/ Không gì che đậy/ Sướng nhất trần đời. Đây không phải là cái đẹp của kỹ thuật trang hoàng câu chữ, mà là cái đẹp của trạng thái sống: một trạng thái không bị che chắn, không bị chỉnh sửa, không bị thu nhỏ.

Đến đây, có thể đặt Khúc lãng du cụ Mén trong tương quan giữa hai kiểu diễn ngôn: diễn ngôn tinh hoa và diễn ngôn dân gian. Diễn ngôn tinh hoa, vốn chi phối một phần lớn lịch sử văn chương viết, thường hướng tới sự tiết chế: ngôn ngữ được gọt giũa, cảm xúc được chưng cất, cơ thể bị làm mờ hoặc được biểu tượng hóa. Ở đó, cái “thô”, cái “trực tiếp”, cái “dư thừa” của đời sống thường bị “biên tập”, nâng cấp thành những hình thức thanh nhã hơn. Ngược lại, diễn ngôn dân gian vận hành theo một logic khác: không sợ cái thô, không né cái thân thể, không tiết chế sự sống, mà để cho tất cả cùng tồn tại trong một trạng thái gần với nguyên bản. Ở đó, ăn – uống – lao động – dục tính – tiếng cười… không bị tách rời, mà hòa vào nhau như một chỉnh thể, trong trường “văn hoá trào tiếu dân gian”. Lúc này cái “thấp” của thân xác và cái “cao” của tinh thần không còn bị phân tầng cứng nhắc nhị nguyên, mà giao thoa trong cùng một mặt phẳng sống.

Trong ý nghĩa đó, Khúc lãng du cụ Mén có thể được đọc như một sự dịch chuyển trọng tâm diễn ngôn: từ tinh hoa sang bình dân, từ mực thước sang tự giải phóng. Ở đây, điều đáng chú ý không phải là việc tác phẩm “trở nên dân gian”, mà là nó chủ động lựa chọn đứng về phía diễn ngôn dân gian, trong một bối cảnh mà văn chương thường bị kéo về phía “đặc quyền”, “đặc tuyển”. Có nghĩa, trường ca này không cố nâng đời sống lên thành văn chương, mà để cho văn chương áp sát đời sống hơn.

Càng đọc kỹ, ta càng nhận ra một điều tưởng như mâu thuẫn: trong cái “quá sống” của cụ Mén lại có một dạng “buông thõng”. Không tích lũy căng thẳng. Không mang vác ý nghĩa. Không biến đời sống thành một dự án cần hoàn thành. Đó là một dạng “vô vi”, không phải của triết học cao siêu, mà của đời sống dân gian gần gũi, nơi mà con người không cần gồng mình vượt lên chính mình, chỉ cần thả lỏng sống trọn vẹn với nhịp điệu của bản thể. Chính điều này giúp cho năng lượng sống trong tác phẩm không bị cạn kiệt, mà tuần hoàn, như một dòng chảy bất khả cưỡng cầu.

Khúc lãng du cụ Mén là một minh chứng sinh động cho thấy văn chương hôm nay không chỉ đi về phía tối tân, mà đồng thời đang âm thầm đi về phía tối giản, nhưng là một thứ “giản” rất “tân”.

Cuối truyện ngắn Một thoáng Xuân Hương, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để cho nhân vật phát biểu: “Cuộc đời trôi đi đơn giản, văn chương cứ day đi dứt lại mà làm gì”. Phải chăng trường ca của Phạm Hồng Điệp vô tình đã góp phần bổ khuyết cái mà văn chương Việt đương đại đang thiếu: khả năng kích hoạt và tiếp truyền niềm vui sống cho người đọc.

Một khi biết giữ sự sống trong trạng thái đầy nhất của nó, không bị “duy ý chí” tác động, “biên tập”, thì tuổi tác, chuẩn mực, hay những giới hạn tưởng như bất biến… đều có thể bị vượt qua.

Khúc lãng du cụ Mén chắc hẳn sẽ tiếp tục lãng du, không chỉ trên những trang sách, mà còn trong cách chúng ta suy tư, phản tư về văn chương, về cuộc đời, và về con người.

Hoàng Đăng Khoa




Nguồn: Arttimes.vn