Home Blog Page 12

“Khúc lãng du cụ Mén” – khi sự sống không chịu bị “biên tập”


Có những cuốn sách khiến ta phải đọc lại, vì lần đầu đọc xong cứ đầy lên trong ta cảm giác hoài nghi về phẩm tính văn chương của nó. “Khúc lãng du cụ Mén” của Phạm Hồng Điệp (NXB Hội Nhà văn, 2026) là một trường hợp như vậy. Thoạt đọc, ta dễ ngỡ đây chỉ là những bài thơ rời về đời sống nông thôn với khoai, ruộng, riu tép, bữa cơm quê…, với những chi tiết tản mạn, vụn vặt, thậm chí đôi lúc quá đà trong miêu tả đời sống thân xác. Nhưng đọc liền mạch, ta nhận ra, các bài thơ ráp nối lại thành một dòng chảy, xoay quanh một nhân vật duy nhất là cụ Mén. Đây có thể xem là một trường ca phân mảnh, trong đó mỗi bài là một lát cắt, nhưng toàn bộ gộp tạo thành một đời sống đang vận động.

Nếu đặt Khúc lãng du cụ Mén vào bối cảnh rộng hơn của văn chương đương đại, ta sẽ thấy một điều thú vị. Một mặt, văn chương ngày càng có xu hướng hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa: cách tân hình thức, phá vỡ tự sự, phân mảnh, giễu nhại, lạ hóa ngôn ngữ, phi trung tâm hoá… Người viết không còn “kể chuyện” theo nghĩa truyền thống, mà thường “làm nhiễu” chính câu chuyện của mình. Ở một chiều ngược lại – ít được nói đến hơn, nhưng ngày càng rõ – là xu hướng quay về với mĩ học bình dân, với cảm thức dân gian, với những “giao diện hình thức” tưởng như cũ mà không hề cũ. Đó không phải là sự hoài cổ đơn giản, mà là một cách tìm lại những nguồn năng lượng nguyên sơ của văn hóa, và những hình thức biểu đạt chưa bị “tinh chế hóa” quá mức.

Khúc lãng du cụ Mén đứng đúng ở giao điểm của hai xu hướng nói trên. Nó phân mảnh, không theo một tự sự tuyến tính chặt chẽ, đó là một dấu hiệu của tư duy hiện đại. Nhưng đồng thời, nó lại vận hành bằng một thứ năng lượng rất “cổ mẫu”: năng lượng của văn hóa dân gian, của đời sống ở trạng thái còn “nguyên tượng”.

“Khúc lãng du cụ Mén” - khi sự sống không chịu bị “biên tập” - 1

Cuốn sách “Khúc lãng du cụ Mén” của Phạm Hồng Điệp (NXB Hội Nhà văn, 2026)

Nhân vật cụ Mén hiện ra trước hết như một con người “chạm đất”, sống bằng lao động và cơ thể, bằng cơ chế tự cung tự cấp: Ngày ngày cần mẫn cày tơi ruộng/ Đất xốp hoa màu tốt tốt mau. Hay: Cụ về ăn ba tô cơm tám/ …thanh thản xong xuôi! Cụ ngủ đây. Đó là một đời sống không được mĩ lệ hóa, không được tinh luyện theo nghĩa thi ca cổ điển, mà giữ nguyên cái thô ráp, cái trực tiếp của tồn tại. Ở đây, ăn – làm – ngủ không chỉ là sinh hoạt, mà còn là nhịp điệu nền tảng của sự sống.

Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, cụ Mén sẽ chỉ là một hình tượng nông dân quen thuộc. Điều làm nên khác biệt nằm ở chỗ, nhân vật này vượt khỏi khung khổ đời thường. Chín mươi hai tuổi chẳng sầu/ Ngày ba sào ruộng đêm cày… thẳng tưng. Ở đây, sự sống không đi theo đường thẳng của thời gian, mà như có khả năng kháng cự lại sự suy tàn, thậm chí đảo chiều nó.

Tác phẩm không né tránh những phương diện thường bị cho là “phàm phu tục tử” của con người. Ngược lại, nó đi thẳng vào đó, thậm chí đẩy tới mức cực hạn. Đủ lượng calo/ Trong người rạo rực… Nếu đọc rời, những đoạn như vậy dễ bị hiểu như sự dung tục. Nhưng trong chỉnh thể tác phẩm, ta thấy rõ đây thuộc về mĩ học phồn thực, nơi mà sự phồn sinh được khẳng định bằng chính cơ thể, bằng xung lực libido, bằng sự đầy tràn. Ở đây, cơ thể không bị che giấu, không bị “phân biệt đối xử”, không bị “văn minh hóa”, mà hiện ra như một trung tâm, một “bản năng gốc” của tồn tại.

Điều làm cho cụ Mén không rơi vào kiểu nhân vật bản năng thuần túy, đó là trường năng lượng ở cụ không khép kín trong cá nhân, mà lan ra, lan xa: Giúp bà con… trồng rừng cấy lúa/ …giúp bà con làm giàu trên đất. Cụ đi từ làng ra biển, từ biển lên núi, vào bản, không chỉ hiện diện, mà còn can dự, cải tạo, dựng xây đời sống. Ở đây, ta thấy một chuyển động rất đặc trưng của văn hóa Việt: cái tôi cá nhân không tách rời khỏi cái ta cộng đồng.

Cụ Mén không khỏi khiến ta liên tưởng đến Alexis Zorba trong tiểu thuyết Alexis Zorba – con người hoan lạc của nhà văn người Hy Lạp Nikos Kazantzaki. Cả hai nhân vật đều thú vị, có khả năng truyền cảm hứng sống. Tuy nhiên, nếu Alexis Zorba là hình tượng của một cá nhân sống đến tận cùng bản năng hoan lạc, thì cụ Mén không chỉ sống, mà còn chia sẻ và phân phối sinh lực, năng lượng sống, biến năng lượng sống cá nhân thành một dạng năng lượng xã hội.

Ngôn ngữ của Khúc lãng du cụ Mén, xét theo mĩ học của cái trang nhã, diễm tuyệt, có thể bị xem là thô vụng, thiếu tinh luyện. Nhưng chính cái “không tinh luyện” ấy lại tạo ra một thứ mà nhiều văn bản văn chương hiện thời thiếu hụt, đó là sinh khí. Tênh hênh giữa trời/ Không gì che đậy/ Sướng nhất trần đời. Đây không phải là cái đẹp của kỹ thuật trang hoàng câu chữ, mà là cái đẹp của trạng thái sống: một trạng thái không bị che chắn, không bị chỉnh sửa, không bị thu nhỏ.

Đến đây, có thể đặt Khúc lãng du cụ Mén trong tương quan giữa hai kiểu diễn ngôn: diễn ngôn tinh hoa và diễn ngôn dân gian. Diễn ngôn tinh hoa, vốn chi phối một phần lớn lịch sử văn chương viết, thường hướng tới sự tiết chế: ngôn ngữ được gọt giũa, cảm xúc được chưng cất, cơ thể bị làm mờ hoặc được biểu tượng hóa. Ở đó, cái “thô”, cái “trực tiếp”, cái “dư thừa” của đời sống thường bị “biên tập”, nâng cấp thành những hình thức thanh nhã hơn. Ngược lại, diễn ngôn dân gian vận hành theo một logic khác: không sợ cái thô, không né cái thân thể, không tiết chế sự sống, mà để cho tất cả cùng tồn tại trong một trạng thái gần với nguyên bản. Ở đó, ăn – uống – lao động – dục tính – tiếng cười… không bị tách rời, mà hòa vào nhau như một chỉnh thể, trong trường “văn hoá trào tiếu dân gian”. Lúc này cái “thấp” của thân xác và cái “cao” của tinh thần không còn bị phân tầng cứng nhắc nhị nguyên, mà giao thoa trong cùng một mặt phẳng sống.

Trong ý nghĩa đó, Khúc lãng du cụ Mén có thể được đọc như một sự dịch chuyển trọng tâm diễn ngôn: từ tinh hoa sang bình dân, từ mực thước sang tự giải phóng. Ở đây, điều đáng chú ý không phải là việc tác phẩm “trở nên dân gian”, mà là nó chủ động lựa chọn đứng về phía diễn ngôn dân gian, trong một bối cảnh mà văn chương thường bị kéo về phía “đặc quyền”, “đặc tuyển”. Có nghĩa, trường ca này không cố nâng đời sống lên thành văn chương, mà để cho văn chương áp sát đời sống hơn.

Càng đọc kỹ, ta càng nhận ra một điều tưởng như mâu thuẫn: trong cái “quá sống” của cụ Mén lại có một dạng “buông thõng”. Không tích lũy căng thẳng. Không mang vác ý nghĩa. Không biến đời sống thành một dự án cần hoàn thành. Đó là một dạng “vô vi”, không phải của triết học cao siêu, mà của đời sống dân gian gần gũi, nơi mà con người không cần gồng mình vượt lên chính mình, chỉ cần thả lỏng sống trọn vẹn với nhịp điệu của bản thể. Chính điều này giúp cho năng lượng sống trong tác phẩm không bị cạn kiệt, mà tuần hoàn, như một dòng chảy bất khả cưỡng cầu.

Khúc lãng du cụ Mén là một minh chứng sinh động cho thấy văn chương hôm nay không chỉ đi về phía tối tân, mà đồng thời đang âm thầm đi về phía tối giản, nhưng là một thứ “giản” rất “tân”.

Cuối truyện ngắn Một thoáng Xuân Hương, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để cho nhân vật phát biểu: “Cuộc đời trôi đi đơn giản, văn chương cứ day đi dứt lại mà làm gì”. Phải chăng trường ca của Phạm Hồng Điệp vô tình đã góp phần bổ khuyết cái mà văn chương Việt đương đại đang thiếu: khả năng kích hoạt và tiếp truyền niềm vui sống cho người đọc.

Một khi biết giữ sự sống trong trạng thái đầy nhất của nó, không bị “duy ý chí” tác động, “biên tập”, thì tuổi tác, chuẩn mực, hay những giới hạn tưởng như bất biến… đều có thể bị vượt qua.

Khúc lãng du cụ Mén chắc hẳn sẽ tiếp tục lãng du, không chỉ trên những trang sách, mà còn trong cách chúng ta suy tư, phản tư về văn chương, về cuộc đời, và về con người.

Hoàng Đăng Khoa




Nguồn: Arttimes.vn

Mitsubishi Xforce 2026 ra mắt tại Việt Nam, thêm trang bị, giá tăng nhẹ


Mitsubishi Xforce 2026 vừa ra mắt tại Việt Nam với một số tinh chỉnh về phiên bản và trang bị, trong bối cảnh mẫu SUV đô thị này đang duy trì vị thế nhóm đầu phân khúc.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Hai phụ nữ thản nhiên dàn hàng nói chuyện, bật xi nhan gây hoang mang


Vừa chạy xe song song vừa mải mê nói chuyện, hai người phụ nữ còn khiến nhiều người khó hiểu khi mỗi xe bật xi nhan một hướng.




Nguồn: Arttimes.vn

“Duyên nợ Đà Lạt” của Trần Ngọc Trác


Tháng 2 năm 1979, trong những ngày trên biên giới phía Bắc, chàng trai xứ Huế vừa tốt nghiệp trường Đại học Nông nghiệp được phân công về một nông trường heo hút đất Lâm Đồng. Vốn có chút năng khiếu văn chương, tưởng xin được về Đà Lạt, nhưng phải hai năm sau, anh mới được về báo Lâm Đồng, rồi lần lượt báo Tuổi trẻ Lâm Đồng, phụ trách chương trình văn nghệ Đài phát thanh truyền hình (1988- 2007), Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Lâm Đồng khóa IV.

Năm 1990, Hoa trinh nữ là tập thơ đầu tay được in. Tác giả đã có gần chục tập thơ, hơn chục tập truyện và kí. Sau hơn 40 năm gắn bó với nơi này, trước tập Duyên nợ Đà Lạt, tác giả viết: “Tôi muốn dành thời gian còn lại của cuộc đời mình đi tìm những con người cụ thể đã từng được sinh ra và lớn lên ở chốn này, những con người tứ xứ đến đây định cư, lập nghiệp, những con người đã một lần thoáng qua đây nhưng để lại biết bao dư âm hoài niệm”. Người viết mấy dòng tâm sự đó là Trần Ngọc Trác. Anh vừa được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023.

Duyên nợ Đà Lạt gồm 2 tập. Tập 1 in 2013, tái bản 2015 gồm 21 nhân vật, từ A. Yersin, người có công phát hiện ra những đặc sắc địa lý của Đà Lạt, đến một số tên tuổi quen thuộc: Bùi Giáng, Đặng Văn Thông, Đinh Cường, Hàn Mặc Tử, Hoàng Nguyên, Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Lam Phương, Lê Uyên Phương, Nguyễn Thị Hoàng, Từ Công Phụng, nữ sĩ Tương Phố…

“Duyên nợ Đà Lạt” của Trần Ngọc Trác - 1

“Duyên nợ Đà Lạt” của Trần Ngọc Trác.

Tập 2 in năm 2015, chỉ có 10 nhân vật, nhưng tư liệu xem ra đầy đặn hơn: Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn và những dấu ấn ở Đà Lạt, từ những biệt điện, đến Hoàng triều cương thổ, nhân đó mà điểm danh những người phụ nữ đã gắn bó với ông vua đào hoa; Hoàng Trọng Phu, người di dân lập ấp Hà Đông; Phạm Khắc Hòe, những năm làm Quản đạo (1940-1944) đã kế tục các bậc tiền nhiệm Nguyễn Thái Hiến (Nghệ An) và Nghiêm Trang (Hà Tĩnh), đưa những người nghèo ở Nghệ Tĩnh lên và lập ấp Nghệ – Tĩnh; Đoàn Đình Duyệt là người Việt đầu tiên đã viết về Đà Lạt.

Nhà văn Nhất Linh, chủ soái của Tự lực văn đoàn, sau nhiều năm bôn ba, năm 1955, đã về sống ở Đà Lạt, có trang trại trồng hoa phong lan, từng tạo nhiều giống phong lan mới mà tên gọi còn đến ngày nay. Nhưng hoa không níu giữ được chân nhà chính khách. Năm 1958, ông về lại Sài Gòn tiếp tục nghiệp chiến đấu bằng ngòi bút, để sau nhiều biến động, cuộc chính biến lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm thất bại, có nguy cơ bị xét xử tội phản quốc, đêm 7/7/1963, ông đã hòa thuốc độc vào rượu tự tử. Năm đó, nhà văn mới 58 tuổi, với lời di chúc: “Đời tôi để lịch sử xử… Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng”…

Nguyễn Vỹ, một nhà thơ tiền chiến độc đáo, nhiều lần bị các chế độ độc tài xử tù vì yêu nước. Năm 1948, lên Đà Lạt làm báo: “Cả một đời đam mê làm báo, chủ trương ra báo, hăng hái làm xuất bản, luôn bị đóng cửa, thậm chí cầm tù, nhưng Nguyễn Vỹ không bao giờ nhụt chí. Ông được người đời tôn vinh là nhà báo dám nói lên sự thật” (tr 122). Năm 1953, khi có chủ trương thay tên một số địa danh Đà Lạt từ tên Pháp sang tên Việt, người ta lập một Hội đồng thị xã gồm 22 người, với 14 người Việt, 6 người Pháp, 2 dân tộc thiểu số, do Nguyễn Vỹ làm Chủ tịch đã đề xuất đổi tên hồ Grand Lac (Hồ Lớn) thành Hồ Xuân Hương – tên Bà Chúa thơ Nôm. Ông được ghi danh nhờ thế.

Tập 2 còn viết về nhạc sĩ Duy Khánh, Hoàng Thi Thơ, nhà thơ viết địa phương chí Việt Trang, và qua cuộc đời Trần Lệ Xuân mất ở tuổi 87 (2011) mà bạn đọc biết kỹ hơn về những nhân vật mà bà từng gắn bó trong dòng họ Ngô Đình.

Viết về những người nổi tiếng, đã nhiều người viết, là một thử thách, thì viết về  những con người còn ít người biết cũng là một thử thách khác. Có những người có những đóng góp lớn để phát triển một vùng rừng núi xa khuất thành một trung tâm nghỉ dưỡng có nét đẹp độc lạ. Nhiều người tìm thấy ở nơi đây nguồn cảm hứng để có những sáng tạo nhiều loại hình. Đến lượt tác phẩm của họ làm nên hồn cốt của Đà Lạt. Nhiều người có danh trước khi tới với nơi này. Nhưng cũng nhiều người nhờ sống và sáng tác về Đà Lạt mà nổi tiếng. Đà Lạt, hẳn nhiên là một miền sinh thái lý tưởng. Nhưng làm nên hình hài, vóc dáng, cả phần xác và phần hồn của nó lại do những con người cụ thể, mà hầu hết không sinh ra ở đây.

Tiếp tục mạch ghi chép về những nhân vật đó, năm 2023, tập ký Tình yêu gửi lại viết về 38 người thân quen mà tác giả trân quý: “Có những cuộc đời thật êm đềm, nhưng cũng có nhiều cuộc đời đầy sóng gió. Và dẫu biết trong cuộc sống thường ngày có biết bao đua chen, ganh ghét, thù hiềm… nhưng họ vẫn đi tới. Có người phải chịu cảnh tù đày oan uổng; có người phải chịu “lời ong tiếng ve” của một nhóm người “ghen ăn, tức ở”; của kẻ thấp hèn, gây sự, vu oan, giá họa. Nhưng tất cả không làm cho họ chùn bước. Họ vẫn lừng lững đi tới, cống hiến hết mình cho con đường mà họ lựa chọn” (tr 3).

Như đã nói, 38 người này tới từ nhiều vùng quê, ở những thời điểm khác nhau, trước và sau 1975, nhưng nhiều hơn là Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, một số ít từ Hà Nội hay Sài Gòn. Viết văn, viết báo, làm thơ như Phạm Kim Anh, Lâm Anh, Phạm Quốc Ca, Hoàng Ngọc Châu, Hà Linh Chi, Huỳnh Chính, Quang Dũng, Gia Dũng, Nguyễn Thanh Đạm, Trinh Đường, Chu Bá Nam, Lâm Tuyền Tĩnh, Dương Trần, Việt Trang, Đỗ Tư Nghĩa, Lê Kỳ Nam,…; các họa sĩ, nhiếp ảnh gia Bùi Á, Phạm Văn Em, Nguyễn Lai, Nguyễn Bá Mậu, Lưu Công Nhân, Đặng Văn Thông, Nguyễn Thái Tuấn; các nhạc sĩ Trần Hoàn, Trần Kiết Tường, Từ Huy, Mạnh Đạt, Võ Khắc Dũng; đạo diễn Lê Cung Bắc, NSND La Cẩm Vân, cây bút lửa Nguyễn Phi Anh… Có người sống và làm việc nhiều năm, nhưng cũng nhiều người chỉ một đôi lần ghé qua, nhưng tác phẩm họ để lại, làm nên một phần hồn Đà Lạt.

Chắc chắn là còn nhiều những văn nghệ sĩ đã tới và viết về Đà Lạt mà tác giả chưa có dịp tiếp xúc, nên không thể coi đây là một thống kê đầy đủ. Nhưng trong phạm vi thân quen và tiếp xúc, lại công phu tìm hiểu tư liệu về cuộc đời và tác phẩm của những tác giả đã qua đời, hiển hiện tấm chân tình của người viết. Mỗi con người làm nên một mảnh ghép hoạt động văn hóa – văn nghệ của một thành phố luôn sôi động, đầy sức hấp dẫn, luôn là nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tạo. Nhiều người là tác giả ở địa phương, nhưng không vì thế mà có mặc cảm tỉnh lẻ. Chỉ tư liệu cũng có thể làm nên một bài viết. Nhưng những trải nghiệm thực tế, những kỷ niệm cụ thể làm nên sự sinh động của hình tượng nhân vật.

Trong không khí văn nghệ địa phương, không phải nơi nào, thời kỳ nào cũng thông thoáng, đã từng có nhiều chuyện không đáng có xảy ra. Sự hẹp hòi, đố kỵ không dấu diếm cũng tạo nên nhiều chuyện buồn, in dấu lên những cuộc đời người làm văn, làm báo, được tác giả ghi lại, có giá trị như những bài học về đối nhân xử thế. Bản thân người làm văn nghệ, không phải ai cũng hoàn hảo, có người tự làm khó cho mình, cho những người mình yêu mến. Rồi tài năng là một ý niệm không có thước đo, nên cũng dễ gây ngộ nhận. Nên viết về câu chuyện của những cuộc đời cụ thể, nhưng ghép lại, người đọc sẽ có bức tranh tổng thể về một thời, về cuộc sống của cả một lớp người, ít nhiều cũng thuộc lớp có tài, và nhất là giàu tình yêu với quê hương, đất nước, bạn hữu, gia đình.

Không lý luận nhiều, nhưng sự trân quý của người viết đối với từng cuộc đời, không ít người gặp tai nạn vì sự chân thật trong tác phẩm, mà không phải ai cũng được minh oan, không làm cho họ buông bỏ. Tình yêu gửi lại bắt đầu bằng bài Phạm Kim Anh – Trải lòng qua từng trang viết, kể về một nhân vật khá đặc biệt. Anh là Thiếu tá công an, nhiều năm lăn lộn ở Tây Nguyên, am hiểu đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây. Từng phụ trách tờ An ninh Lâm Đồng. Là một nhà báo, nhà văn, anh còn là nhà viết kịch. Vở kịch Mối tình qua tết Li Boong của anh được nhiều đoàn nghệ thuật dàn dựng. Đoàn nghệ thuật Phú Khánh mang đi hội diễn từng được Huy chương Vàng cho tiết mục và những nghệ sĩ biểu diễn. Nhưng sau khi hai tập tiểu thuyết khá dày Đêm mờ sương – Ân oán giang hồ Lãng đãng mây ngàn được xuất bản, rộ lên dư luận, đó là những tác phẩm đồi trụy, chống đối nhà nước. Tác giả bị bắt và nhốt vào phòng tối đến nửa năm.

“Duyên nợ Đà Lạt” của Trần Ngọc Trác - 2

Nhà văn Trần Ngọc Trác

Sau nhiều cân nhắc, cuối cùng A25 cùng Bộ Văn hóa tổ chức một buổi họp trưng cầu ý kiến chuyên môn. Buổi họp, ở Bộ Văn hóa có Bộ trưởng Trần Hoàn, Thứ trưởng Nguyễn Khoa Điềm. Bộ Công an có Tướng Quang Phòng và Dương Thông. Khách mời có nhà văn Vũ Tú Nam – Tổng thư ký Hội  Nhà văn Việt Nam. Phạm Kim Anh còn là hội viên Hội Nghệ sĩ Sân Khấu Việt Nam, đang là Thường trực Ban Thư ký, tôi được Tổng Thư Ký Dương Ngọc Đức cử đi tham gia. Buổi họp đã trao đổi đánh giá một cách khách quan về nội dung hai tác phẩm. Kết luận chung là mặc dầu còn những hạn chế về nghệ thuật, nhưng hai tác phẩm đó không phạm tội khiêu dâm hay phản động như một số dư luận. Có thể nhờ thế, sau đó tác giả được trả tự do, được khôi phục các quyền lợi kinh tế và chính trị. Nhưng những năm còn lại, anh chỉ hành nghề luật sư, giúp tìm lại công bằng cho các thân chủ, mà không còn tiếp tục cầm bút. Đáng tiếc, là những nhà văn am hiểu về đồng bào các dân tộc ít người Tây Nguyên, cho đến nay vẫn là số ít. Ngạc nhiên, là lời phát biểu của tôi, thay mặt Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam để bảo vệ tác giả, Trần Ngọc Trác sưu tầm được để đưa vào bài viết, như một cứ liệu. Nhắc một chi tiết như thế để thấy, tác giả sử dụng tư liệu, trích dẫn bạn bè rất công phu, “Nói có sách, mách có chứng”. Khi viết về những số phận cay đắng của những văn nghệ sĩ gặp tai nạn trong nghề nghiệp, kiểu như “Đời thường đã đánh tơi tả cốt cách nghệ sĩ trong anh” khi nhắc về nhà thơ Lâm Tuyến Tĩnh là dẫn của Nguyễn Khương Trung.

Khiêm cung và trung thực là âm hưởng chung của từng bài viết về các bạn nghề nhiều lớp tuổi đã qua đời. Tài hoa lỗi lạc, mà suốt cuộc đời lận đận như Quang Dũng còn được Trần Ngọc Trác trở lại trong tập Nhà thơ Quang Dũng từ Tây tiến đến Tây Nguyên (2017), viết chung với Bùi Phương Thảo, con gái nhà thơ.

Đọng lại sau khi đọc qua cuộc đời của của gần trăm con người, từ vua chúa, công thần, nhân vật lịch sử, văn nghệ sĩ qua các thế hệ, tài năng, đóng góp, vinh nhục có khác nhau, là dư  âm mà người xưa đã cảm nhận: “Cùng một lứa bên trời lận đận” (Tỳ bà hành). Để thấy yêu hơn những gì mà cuộc sống đang ban cho mỗi chúng ta. Để thấy quý công sức, tâm huyết mà nhà văn đã dành cho những con người đã gửi lại tình yêu cho một địa chỉ có tên: Đà Lạt.

Ngô Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Kể chuyện về “hiền tài” bằng tư duy sáng tạo và ngôn ngữ điện ảnh


Cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay” góp phần gắn kết điện ảnh với giáo dục và di sản, lan tỏa tinh thần kế thừa truyền thống Quốc học để xây dựng Thủ đô tri thức, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng và thu hút nhân tài.

Chiều 13/5, tại Hà Nội, Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức Lễ phát động Cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay”.

Cuộc thi được tổ chức trong dịp kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám – Trường Đại học/Quốc học đầu tiên của Việt Nam (1076-2026), thuộc chuỗi hoạt động kỷ niệm có ý nghĩa đặc biệt của Thủ đô, nhằm tôn vinh truyền thống Quốc học và khơi dậy khát vọng, ý chí vươn lên của trí thức trẻ Việt Nam trong thời đại mới.

Kể chuyện về “hiền tài” bằng tư duy sáng tạo và ngôn ngữ điện ảnh - 1

Lễ phát động Cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay”.

Kết nối di sản với đời sống đương đại

Phát biểu tại Lễ phát động, ông Bùi Duy Cường – Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của quốc gia mà còn là nơi kết tinh truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài của dân tộc Việt Nam. Suốt gần một thiên niên kỷ, nơi đây đã trở thành biểu tượng của văn hiến Thăng Long – Hà Nội, góp phần bồi đắp nên bản sắc văn hóa và hun đúc nên các giá trị tốt đẹp của Đạo học Việt Nam. Bên cạnh đó, điện ảnh là một trong những lĩnh vực có khả năng lan tỏa mạnh mẽ các giá trị văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại.

Kể chuyện về “hiền tài” bằng tư duy sáng tạo và ngôn ngữ điện ảnh - 2

Ông Bùi Duy Cường – Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội phát biểu tại Lễ phát động.

Chính vì vậy, Cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay” được tổ chức không chỉ nhằm tạo sân chơi sáng tạo cho các nhà làm phim trẻ mà còn góp phần kết nối di sản với đời sống đương đại, khơi gợi cảm hứng sáng tạo từ truyền thống hiếu học và tinh thần trọng dụng nhân tài của dân tộc. Từ những giá trị lịch sử và văn hóa của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, các bạn trẻ hôm nay có thể kể những câu chuyện mới về “hiền tài” bằng tư duy sáng tạo và ngôn ngữ điện ảnh của thời đại số.

“Chúng tôi mong muốn, Cuộc thi sẽ góp phần lan tỏa tình yêu văn hóa dân tộc, quảng bá hình ảnh Hà Nội – Thành phố sáng tạo của UNESCO, thành phố văn hiến, hiện đại và giàu bản sắc”, ông Bùi Duy Cường chia sẻ.

Kể chuyện về “hiền tài” bằng tư duy sáng tạo và ngôn ngữ điện ảnh - 3

TS. Ngô Phương Lan – Chủ tịch Hiệp hội xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam phát biểu.

TS. Ngô Phương Lan – Chủ tịch Hiệp hội xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam kỳ vọng, Cuộc thi sẽ trở thành một không gian đối thoại giữa truyền thống và hiện đại, giữa di sản ngàn năm với di sản sáng tạo của thế hệ trẻ hôm nay. Từ Cuộc thi, sẽ xuất hiện những tác phẩm giàu cảm xúc, tư duy điện ảnh mới mẻ, kể những câu chuyện chân thực về tri thức, về khát vọng sống, khát vọng học tập, về hành trình vươn lên phía trước của con người Việt Nam hôm qua và hôm nay.

“Cuộc thi sẽ đưa điện ảnh đến gần hơn với giáo dục, với di sản, với đời sống xã hội. Khẳng định vai trò của điện ảnh như một sức mạnh mềm trong xây dựng con người, quảng bá văn hoá và phát triển Thủ đô. Từ Cuộc thi, chúng ta có thể nhìn thấy chân dung một thế hệ tự tin hơn, sáng tạo hơn, nhân văn hơn và có trách nhiệm hơn với tương lai đất nước”, TS. Ngô Phương Lan khẳng định.

Kể chuyện về “hiền tài” bằng tư duy sáng tạo và ngôn ngữ điện ảnh - 4

Các đại biểu phát động phát động Cuộc thi.

Sân chơi sáng tạo giàu cảm hứng cho thế hệ trẻ

Là trường Đại học/Quốc học đầu tiên của Việt Nam, Quốc Tử Giám không chỉ là một di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu, mà còn là nơi kết tinh truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tôn vinh hiền tài của dân tộc qua nhiều thế kỷ.

Từ mạch nguồn ấy, Cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay” được tổ chức như một dịp để người trẻ tiếp cận di sản bằng góc nhìn của thời đại mình, từ đó kể những câu chuyện về hiền tài xưa và nay, về tri thức, về người thầy, tinh thần sáng tạo, cống hiến và về trách nhiệm với cộng đồng.

Cuộc thi dành cho công dân Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, khuyến khích các bạn trẻ từ 15 tuổi trở lên.

Theo Ban Tổ chức, tác phẩm dự thi có thể khai thác một hoặc nhiều nội dung như: Tinh thần học tập, khát vọng vươn lên của người trẻ; Hình ảnh Người Thầy xưa và nay; Những cá nhân tiêu biểu trong học tập, nghiên cứu, sáng tạo; Vai trò của tri thức trong thời đại số; Thế hệ hôm nay với sự nghiệp tiếp nối truyền thống Quốc học.

Tác phẩm gửi về tham dự Cuộc thi có thời lượng từ 3 phút đến 15 phút, gồm các loại hình: Phim truyện, phim tài liệu, hoạt hình; phim phối hợp các loại hình nêu trên. Được sử dụng hiệu quả các công cụ AI trong quá trình sáng tạo tác phẩm, giới hạn dưới 20% tổng thể thời lượng tác phẩm.

Ban Tổ chức nhận bài dự thi từ ngày 13/5 đến ngày 10/8/2026.

Tác giả gửi bài dự thi gửi theo hai hình thức:

Gửi tác phẩm dự thi qua biểu mẫu tại link: https://forms.gle/9J6bcdjueXk4bH2z7, hoặc Email chính thức của Cuộc thi: cuocthi.hientaihomnay@gmail.com.

Gửi trực tiếp tại Văn phòng Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, 32 Hào Nam, Tòa nhà A – Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (Tầng 2), Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội.

Kể chuyện về “hiền tài” bằng tư duy sáng tạo và ngôn ngữ điện ảnh - 5

Đại biểu tham dự Lễ phát động Cuộc thi.

Về cơ cấu giải thưởng, Ban Tổ chức sẽ trao 1 giải Nhất trị giá 50.000.000 VNĐ; 2 giải Nhì trị giá 30.000.000 VNĐ/giải; 3 giải Ba trị giá 20.000.000 VNĐ/giải; 5 giải Khuyến khích trị giá 10.000.000 VNĐ/giải; cùng 1 giải “Ý tưởng sáng tạo”, 1 Giải “Phim được yêu thích nhất”. Số lượng Giải thưởng có thể thay đổi trên cơ sở thực tế chất lượng các tác phẩm và do Ban Tổ chức quyết định cuối cùng.

Thông tin chi tiết về thể lệ, hướng dẫn gửi tác phẩm, lịch trình và các hoạt động của cuộc thi sẽ được cập nhật trên các kênh chính thức của Ban Tổ chức tại: Website: https://vfda.vn/; Fanpage: https://www.facebook.com/hiephoixuctienphattriendienanhhttps://www.facebook.com/vanmieuquoctugiam

Trong khuôn khổ Cuộc thi, tọa đàm với chủ đề “Hiền tài trong thời đại số” sẽ được tổ chức với sự tham gia của các chuyên gia giáo dục, chuyên gia điện ảnh, nhà quản lý và các nhà làm phim trẻ (dự kiến tổ chức trong tháng 8/2026).

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Ra mắt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031


Sáng 13/5, tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, đã hiệp thương cử 70 vị vào Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031; 12 vị được hiệp thương cử vào Ban Thường trực, giữ chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký, các Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031; 8 vị được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch không chuyên trách UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031. Ngay sau đó, Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, đã ra mắt Đại hội.

Phát biểu nhận nhiệm vụ, bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI chia sẻ, trong không khí trang trọng, phấn khởi và tràn đầy niềm tin của Đại hội, thay mặt cho các vị ủy viên vừa được tín nhiệm hiệp thương cử tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI trân trọng cảm ơn Đại hội đã tin tưởng, tín nhiệm; trân trọng cảm ơn Đảng, Nhà nước, đồng bào, chiến sỹ cả nước đã luôn quan tâm và gửi gắm niềm tin đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ra mắt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 - 1

Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI phát biểu nhận nhiệm vụ. Ảnh: Quang Vinh.

“Sự tín nhiệm của Đại hội vừa là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn lao đối với chúng tôi. Bằng tất cả sự quyết tâm, chúng tôi xin hứa: Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức; tận tâm, tận lực, phát huy dân chủ, trí tuệ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; năng động, sáng tạo, đổi mới, tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đề ra, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định rõ nét vai trò, vị thế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới”, Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài khẳng định.

Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài bày tỏ mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; sự phối hợp của các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương. Đặc biệt sự ủng hộ, đồng hành của các cụ, các vị, các đồng chí, của các chuyên gia, nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức, cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã, hội đồng bào Việt ta ở nước ngoài và các tổ chức thành viên trong thời gian tới.

Đại hội đã thông qua số lượng Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 gồm 405 vị; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam từ 72 – 100 vị, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là 12 vị.

Đại hội đã hiệp thương cử ra 397 vị tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031. Hội nghị lần thứ nhất Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI đã hiệp thương dân chủ, cử 70 vị tham gia Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Ra mắt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 - 2

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031.

Hội nghị đã hiệp thương dân chủ, cử 12 vị Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI tham gia Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI. Danh sách như sau:

1. Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

2. Bà Hà Thị Nga, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử giữ chức Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

3. Ông Nguyễn Phi Long, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch  Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá X tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

4. Ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

5. Ông Lương Quốc Đoàn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

6. Ông Bùi Quang Huy, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

7. Bà Lê Thị Thủy, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

8. Thượng tướng Bế Xuân Trường, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

9. Ông Hoàng Công Thủy, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

10. Ông Trần Thắng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

11. Ông Nguyễn Đức Phong, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

12. Ông Cao Xuân Thạo, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Trưởng Ban Công tác xã hội Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

Ra mắt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 - 3

70 vị tham gia Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI ra mắt Đại hội. Ảnh: Quang Vinh.

Hội nghị đã hiệp thương dân chủ, cử 8 vị Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI giữ chức Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, bao gồm:

1. Bà Hà Thị Khiết, Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, nguyên Trưởng ban Dân vận Trung ương tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

2. Bà Nguyễn Thị Doan, Nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

3. Ông Nguyễn Phước Lộc, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

4. Bà Bùi Huyền Mai, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

5. Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

6. Linh mục Trần Xuân Mạnh, Chủ tịch Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI

7. Ông Đỗ Hồng Quân, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

8. Ông Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

Hương Thảo (tổng hợp)




Nguồn: Arttimes.vn

Việt Nam và Lào ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030


Nhận lời mời của Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Du lịch Lào Suanesavanh Vignaket, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh có chuyến thăm, làm việc tại Lào từ ngày 12-13/5/2026. Chiều 12/5/2026, ngay sau khi đến Thủ đô Viêng Chăn, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh và Bộ trưởng Suanesavanh Vignaket đã tiến hành hội đàm và ký Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Tham dự sự kiện có Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Minh Tâm, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Nguyễn Phương Hòa cùng Lãnh đạo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Cục Báo chí và Cục Thể dục thể thao Việt Nam.

Về phía Lào có Thứ trưởng Bộ Văn hóa và Du lịch Dalany Phommavongsa cùng đại diện Lãnh đạo các Cục, Vụ liên quan.

Việt Nam và Lào ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030 - 1

Vui mừng đón đoàn tại Viêng Chăn, Bộ trưởng Suanesavanh Vignaket chúc mừng Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh trên cương vị mới. Đánh giá cao chuyến thăm Lào của Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, Bộ trưởng Suanesavanh Vignaket cho rằng, hoạt động này thể hiện sinh động quan hệ giữa hai Bộ, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước và cuộc gặp ngày hôm nay là hoạt động cụ thể hóa nội hàm “gắn kết chiến lược” giữa hai nước.

Cảm ơn tình cảm chân thành của phía Lào, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh chúc mừng đồng chí Suanesavanh Vignaket được Đảng Nhân dân Cách mạng Lào bầu lại giữ chức vụ quan trọng, thể hiện sự tín nhiệm cao của Đảng, Nhà nước Lào với những đóng góp của Bộ trưởng Suanesavanh Vignaket trong phát triển lĩnh vực văn hóa và du lịch Lào thời gian qua. Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh tin tưởng, với tài năng lãnh đạo, Bộ trưởng Suanesavanh Vignaket tiếp tục lãnh đạo ngành văn hóa và du lịch Lào đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa, góp phần phát triển kinh tế-xã hội Lào.

Việt Nam và Lào ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030 - 2

Tại hội đàm, đánh giá lại kết quả triển khai Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2021-2025, hai Bộ trưởng bày tỏ vui mừng với những thành tích đáng tự hào của hợp tác trong lĩnh vực văn hóa và du lịch. Dù có một số khó khăn, trong đó có dịch bệnh Covid-19, hai bên đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật sôi động trong thời gian qua, trong đó 04 lần tổ chức Tuần Văn hóa Việt Nam tại Lào và Tuần Văn hóa Lào tại Việt Nam; Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam – Lào, Trại sáng tác điêu khắc Việt Nam – Lào, tham gia các liên hoan văn hóa nghệ thuật quốc tế tại Việt Nam…Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật góp phần tích cực thắt chặt hơn nữa quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và gắn kết chiến lược Việt Nam và Lào.

Ấn tượng với những kết quả hợp tác trong năm 2025 khi hai nước kỷ niệm 80 năm Quốc khánh Việt Nam, 50 năm Quốc khánh Lào, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh và Bộ trưởng Suanesavanh Vignaket nhấn mạnh, các hoạt động như Chương trình biểu diễn nghệ thuật, triển lãm ảnh về quan hệ Việt Nam-Lào tại Lễ Kỷ niệm 50 năm Quốc khánh Lào và 105 năm ngày sinh Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Tuần Phim Việt Nam tại Lào, Lễ Khánh thành Công viên Hữu nghị Lào-Việt… đã tô thắm thêm tình hữu nghĩa giữa hai dân tộc. Nhắc lại sự kiện văn hóa đặc biệt giữa hai nước, Bộ trưởng Suanesavanh Vignaket một lần nữa cảm ơn phía Việt Nam đã hỗ trợ tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt “Việt – Lào: Bản trường ca hữu nghị” chào mừng thành công Đại hội lần thứ XII Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, thu hút trên 15.000 khán giả tham dự, là hoạt động biểu diễn nghệ thuật có quy mô lớn lần đầu tiên được tổ chức ngoài trời,  trở thành điểm sáng của hợp tác văn hóa hai nước, phản ánh rõ nét quan hệ vĩ đại, gắn kết chiến lược Việt Nam-Lào.

Việt Nam và Lào ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030 - 3

Trong lĩnh vực di sản văn hóa, phía Lào bày tỏ cảm ơn sâu sắc sự hỗ trợ của Việt Nam để Vườn quốc gia Hin Nậm Nô của Lào được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (tháng 7/2025) và cùng với Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới liên biên giới, trở thành Di sản thiên nhiên thế giới liên biên giới đầu tiên của Việt Nam và Lào.

Về hoạt động của Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào, hai Bộ trưởng ghi nhận những nỗ lực, thành tích đạt được của Trung tâm trong nhiều năm qua, góp phần quan trọng giới thiệu văn hóa Việt Nam tại Lào và văn hóa Lào tại Việt Nam, qua đó thắt chặt tình hữu nghị và thúc đẩy giao lưu nhân dân.

Trong lĩnh vực du lịch, khẳng định, hợp tác du lịch Việt Nam – Lào tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước, hai Bộ trưởng vui mừng với kết quả trao đổi khách du lịch có tốc độ tăng trưởng cao. Lượng khách Việt Nam đến Lào luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng khách quốc tế đến Lào, trong khi khách Lào đến Việt Nam cũng ghi nhận xu hướng phục hồi mạnh sau dịch Covid-19, trong đó năm 2025, Việt Nam có khoảng 1.3 triệu lượt khách đi du lịch Lào, đứng thứ 3 trong các thị trường gửi khách đến Lào. Về phần mình, chúc mừng thành công Năm Du lịch quốc gia Lào 2025 với việc thu hút 4,5 triệu du khách quốc tế, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh vui mừng cho biết, Việt Nam luôn dành những bãi biển đẹp cho du khách Lào. Cùng với việc kết nối hàng không thuận lợi, nhiều chuyến bay thẳng được triển khai, hợp tác du lịch đã không ngừng đạt dấu mốc quan trọng.

Bên cạnh hợp tác song phương, Việt Nam và Lào luôn ủng hộ, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế đa phương về văn hóa, du lịch, đặc biệt trong khuôn khổ ASEAN, UNESCO, UN Tourism và các cơ chế hợp tác trong khu vực.

Việt Nam và Lào ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030 - 4

Về định hướng hợp tác thời gian tới, trên cơ sở ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030, hai Bộ trưởng nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của các cam kết trong văn bản này, tiếp tục mở ra các kế hoạch hợp tác mới để cụ thể hóa nội hàm “gắn kết chiến lược” do Lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra.

Nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào, hai bên khẳng định, tiếp tục tổ chức Tuần Văn hóa Việt Nam tại Lào và Tuần Văn hóa Lào tại Việt Nam, trong đó tập trung cao điểm cho năm 2027 kỷ niệm 50 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị và 65 năm quan hệ ngoại giao. Hai bên sẽ phối hợp đồng thời tổ chức Tuần Văn hóa tại hai nước với quy mô lớn, đổi mới về hình thức; hợp tác với các địa phương có chung đường biên giới hai nước tổ chức hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt – Lào; tiếp tục tăng cường hơn nữa hợp tác phát huy giá trị các di sản văn hóa đã được UNESCO ghi danh; đẩy mạnh trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, triển lãm, bảo tàng, thư viện và phát triển văn hóa đọc, xuất bản thông qua trao đổi đoàn giữa hai bên, hoặc Việt Nam cử chuyên gia sang hỗ trợ, tập huấn cho phía Lào.

Việt Nam và Lào ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030 - 5

Về hợp tác đa phương và giao lưu quốc tế, hai Bộ trưởng khẳng định tiếp tục ủng hộ nhau tại các tổ chức quốc tế về văn hóa, du lịch. Triển khai kế hoạch đối ngoại năm 2026, Việt Nam đã mời Lào tham gia Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội lần thứ VIII năm 2026, Lễ hội Văn hóa Thế giới Hà Nội lần thứ hai.

Về hợp tác du lịch, xác định hợp tác du lịch là yếu tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị truyền thống, ưu tiên triển khai hiệu quả Chương trình hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, du lịch giữa Việt Nam và Lào giai đoạn 2026 – 2030, đồng thời đẩy mạnh các sáng kiến mới phù hợp với bối cảnh hội nhập, hai Bộ trưởng thống nhất cùng thúc đẩy hợp tác liên kết điểm đến, xây dựng sản phẩm chất lượng, đa dạng, phù hợp với thị hiếu của khách du lịch đến hai nước, dựa trên các thế mạnh chung như văn hóa, di sản, sinh thái, du lịch đường bộ; tiếp tục tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch song phương, khuyến khích và tạo điều kiện lẫn nhau tham gia các sự kiện, lễ hội, hội chợ du lịch lớn tại hai nước.

Triển khai sáng kiến du lịch “Một hành trình, ba điểm đến”, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh mời Bộ trưởng Văn hóa và Du lịch Lào thăm Việt Nam, dự Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Campuchia-Lào-Việt Nam lần thứ nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 9 năm 2026, kết hợp dự Hội nghị Bộ trưởng Du lịch CLMV, Hội nghị Bộ trưởng Du lịch ACMECS trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh.

Việt Nam và Lào ký kết Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030 - 6

Với những thống nhất của hai bên tại hội đàm, hai Bộ trưởng tin tưởng, việc ký kết và cùng triển khai Chương trình hợp tác văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030 sẽ không ngừng thúc đẩy phát triển văn hóa và du lịch, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, đồng thời góp phần tăng cường sự hiểu biết, gắn kết giữa nhân dân hai nước, tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược giữa Việt Nam và Lào trong giai đoạn mới./.



Nguồn: Arttimes.vn

Xây dựng xứ “Trầm hương” thành trung tâm công nghiệp giải trí gắn với di sản văn hóa


Giữa nhịp sóng rì rào của biển xanh và ánh nắng chan hòa miền duyên hải Nam Trung Bộ, Khánh Hòa đang lặng lẽ mở thêm một “mặt trận” phát triển mới, đó là nơi văn hóa không chỉ được gìn giữ, mà còn được đánh thức như một nguồn lực kinh tế bền vững bằng sức bật mới, theo Nhân dân.

Nơi truyền thống và kiến tạo tương lai cùng song hành bằng chính chiều sâu bản sắc của mình, mở ra hành trình đưa xứ “Trầm hương” trở thành trung tâm công nghiệp giải trí gắn với di sản.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Long Biên cho biết, trên nền tảng thực tiễn, tỉnh vừa ban hành một chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hướng tới xây dựng một hệ sinh thái văn hóa hiện đại, nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu biến văn hóa thành động lực tăng trưởng.

Không dừng lại ở bảo tồn, mà còn là nơi những ý tưởng sáng tạo được nuôi dưỡng, sản xuất, lan tỏa vào đời sống xã hội, tạo nên sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Trọng tâm của kế hoạch là đưa Khánh Hòa trở thành trung tâm chuyên ngành về công nghiệp giải trí gắn với di sản văn hóa của khu vực và cả nước. Văn hóa, cùng với du lịch, được xác định là cụm ngành kinh tế mũi nhọn.

Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ hình thành từ 3 đến 5 sản phẩm, thương hiệu văn hóa mang tầm quốc gia, quốc tế; xây dựng một không gian sáng tạo, tổ hợp công nghiệp văn hóa mang dấu ấn riêng của tỉnh. Đồng thời định vị Khánh Hòa như điểm đến của các sự kiện văn hóa-nghệ thuật-giải trí biển quy mô lớn.

Xây dựng xứ “Trầm hương” thành trung tâm công nghiệp giải trí gắn với di sản văn hóa - 1Tỉnh Khánh Hòa tổ chức nhiều sự kiện văn hóa mang dấu ấn riêng, thu hút đông du khách trong nước và quốc tế.

“Ở tầm nhìn xa hơn, đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo được kỳ vọng trở thành trụ cột phát triển bền vững, đóng góp đáng kể vào GRDP, đưa Khánh Hòa tiến gần mục tiêu trở thành đô thị thông minh, hiện đại, mang bản sắc riêng và hội nhập sâu với khu vực châu Á”, ông Nguyễn Long Biên chia sẻ.

Để hiện thực hóa mục tiêu, tỉnh đề ra 8 nhóm giải pháp đồng bộ, từ hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng đến thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác quốc tế và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đáng chú ý, chuyển đổi số được xem là “đòn bẩy”, với mục tiêu 100% lĩnh vực văn hóa trọng điểm có sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số.

Trong dòng chảy phát triển ấy, trầm hương được coi như một biểu tượng văn hóa và kinh tế đặc sắc của xứ sở đang được đánh thức mạnh mẽ. Không chỉ là sản vật quý của thiên nhiên, trầm hương còn là kết tinh của tri thức dân gian và bàn tay tài hoa của bao thế hệ nghệ nhân.

Sau khi tri thức khai thác, chế biến trầm hương Khánh Hòa được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, các hoạt động bảo tồn, tôn vinh và khai thác giá trị di sản này ngày càng được chú trọng.

Tại Bảo tàng Khánh Hòa, “Không gian di sản văn hóa trầm hương” dần trở thành điểm hẹn đặc biệt. Ở đó, hành trình của trầm hương được kể lại qua hiện vật, tư liệu, hình ảnh, từ những thớ gỗ vô danh trong rừng sâu đến các sản phẩm mỹ nghệ, tinh dầu, nhang trầm tinh xảo và những câu chuyện nghề được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Du khách không chỉ chiêm ngưỡng mà còn trực tiếp trải nghiệm quy trình chế tác, cảm nhận sự khéo léo và tâm huyết của những người “giữ lửa” nghề truyền thống.

Theo ông Biện Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Trầm hương tỉnh, việc được tạo điều kiện xây dựng không gian trưng bày, thực hành di sản là bước đi quan trọng để quảng bá, nâng tầm giá trị trầm hương Khánh Hòa. Đây cũng là cơ hội để các cơ sở sản xuất, nghệ nhân giao lưu, học hỏi, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường.

Ở góc độ quản lý, lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh cho biết đang phối hợp các đơn vị liên quan để hoàn thiện phương án tổ chức không gian trưng bày, thực hành di sản trầm hương tại Bảo tàng tỉnh. Việc xây dựng một không gian xứng tầm không chỉ phục vụ quảng bá mà còn góp phần định vị thương hiệu trầm hương Khánh Hòa trên bản đồ văn hóa, du lịch.

Xây dựng xứ “Trầm hương” thành trung tâm công nghiệp giải trí gắn với di sản văn hóa - 2Tháp Trầm Hương là nơi thường tổ chức các sự kiện về văn hóa của tỉnh Khánh Hòa

Hơn cả một sản phẩm, trầm hương là kết tinh của thiên nhiên, của tri thức dân gian và bàn tay con người. Việc gìn giữ, phát huy giá trị di sản này không chỉ là câu chuyện bảo tồn, mà còn là cách Khánh Hòa tri ân tiền nhân, đồng thời mở ra một hướng đi mới, nơi di sản trở thành nguồn lực cho phát triển, nơi văn hóa thắp sáng tương lai của một vùng đất giàu bản sắc.



Nguồn: Arttimes.vn

Thông cáo báo chí về kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031


Trong các ngày 11, 12, 13/5/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã diễn ra trọng thể với chủ đề: Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển.

Thông cáo báo chí về kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 - 1

 Ra mắt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

Tham dự Đại hội có 1.136 đại biểu chính thức, đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài; gần 200 đại biểu khách mời là các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; đại diện Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới; đại diện một số đại sứ quán và tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Đại hội rất vui mừng được đón: Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư và các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, lãnh đạo các tỉnh, thành phố… dành sự quan tâm đặc biệt về dự, chỉ đạo và động viên Đại hội.

Đại hội vui mừng được đón đồng chí Nông Đức Mạnh, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; các đồng chí nguyên Chủ tịch nước, nguyên Thủ tướng Chính phủ, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nguyên Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dành tình cảm quý báu về dự, chung vui với Đại hội.

Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có bài phát biểu quan trọng tại Đại hội.

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 ghi dấu ấn đổi mới mạnh mẽ. Hệ thống chính trị đang vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, phục vụ Nhân dân tốt hơn.

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI là dấu mốc mở đầu chặng đường phát triển mới của Mặt trận, với vị thế mới, mô hình tổ chức mới, yêu cầu nhiệm vụ mới. Đại hội cần xác định rõ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục là nơi hội tụ lòng dân, phản ánh ý dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của dân, kết nối sức dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận, nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những kết quả quan trọng mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên, đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân đã đạt được trong thời gian qua.

Trong nhiệm kỳ 2026 – 2031, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để các đại biểu tham dự Đại hội thảo luận, xem xét, quyết định.

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, phát triển, là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động của công tác Mặt trận.

Thứ hai, đổi mới phương thức tập hợp, vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ ba, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước.

Thứ tư, chăm lo lợi ích thiết thực của Nhân dân, củng cố đồng thuận xã hội từ cơ sở. Đại đoàn kết bền vững phải được xây trên nền tảng lợi ích thiết thực của Nhân dân.

Thứ năm, xây dựng Mặt trận hiện đại: tổ chức thông suốt, cán bộ gần dân, chuyển đổi số thực chất, có tầm nhìn dài hạn. Trong đó, chuyển đổi số phải tạo ra phương thức mới để Mặt trận gần dân hơn, nghe dân rộng hơn, phản hồi dân nhanh hơn, giám sát việc giải quyết kiến nghị của dân minh bạch hơn. Cần vận hành hiệu quả các nền tảng số để Nhân dân có thể phản ánh, kiến nghị, góp ý mọi lúc, mọi nơi; phát triển Cổng Mặt trận số 24/7, tổ chức “Tháng nghe dân nói”, triển khai Bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh.

Đồng thời, Mặt trận cần coi nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng; tham mưu xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; làm rõ hơn cơ sở, nguyên tắc, phương thức và cơ chế phát huy sức mạnh Nhân dân, sức mạnh văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có truyền thống vẻ vang gần một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc; đồng thời tin tưởng sâu sắc rằng, với truyền thống vẻ vang đó, với tinh thần đổi mới của Đại hội, với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự đồng lòng ủng hộ của các tầng lớp Nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031 sẽ tiếp tục có bước phát triển mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn; xứng đáng là trung tâm tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân, là cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.

Với niềm tin sâu sắc vào sức mạnh vô địch của Nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài tiếp tục đoàn kết một lòng, chung sức, đồng lòng, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI; góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trân trọng cảm ơn bài phát biểu chỉ đạo sâu sắc, toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam bày tỏ, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra những định hướng, yêu cầu đối với công tác Mặt trận trong giai đoạn mới đòi hỏi Mặt trận Tổ quốc các cấp cần quyết tâm, quyết liệt đổi mới hơn nữa nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, thực hiện hiệu quả chức năng nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đảm bảo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là nòng cốt để Nhân dân làm chủ, đoàn kết, tập hợp, vận động Nhân dân phát huy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng. Đây là những định hướng vừa có ý nghĩa chiến lược vừa rất thiết thực đối với hoạt động của hệ thống Mặt trận Việt Nam trong nhiệm kỳ tới.

Đại hội được nghe lãnh đạo Chính phủ phát biểu về tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, công tác phối hợp giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; lãnh đạo Quốc hội phát biểu về công tác phối hợp giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Kết quả hoạt động của Đại hội:

I. Trước khi diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, Đại biểu tham dự Đại hội đã đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Tiếp đó, Đoàn đến đặt vòng hoa và dâng hương tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ, đường Bắc Sơn, Hà Nội; vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn các Anh hùng, Liệt sỹ”.

II. Thông qua Báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X, giai đoạn 2024 – 2026 trình Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

2.1. Thống nhất với đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X, giai đoạn 2024 – 2026. Trong giai đoạn 2024 – 2026, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ vai trò nòng cốt chính trị trong củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định vai trò, trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã chủ động đổi mới tư duy và phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn khu dân cư; kịp thời nắm bắt, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội và củng cố mối liên hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; chủ động tham gia, đóng góp hiệu quả vào việc hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới, tổ chức Đại hội Đảng các cấp; tham gia tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Vận động Nhân dân tham gia thực hiện tốt các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước; hỗ trợ thiết thực đối với người dân chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, bão lũ, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người yếu thế.

Những kết quả nêu trên tiếp tục là minh chứng sinh động cho tính thiết thực, hiệu quả trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần không ngừng tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong đời sống xã hội, vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân.

Đại hội khẳng định trong thời gian tới, Mặt trận Tổ quốc cần phát huy vai trò là cầu nối cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, làm nòng cốt trong củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục đổi mới toàn diện về tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thực chất, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, đồng hành cùng Nhân dân. Tăng cường vai trò chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sự phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên. Làm tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hành dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động của Mặt trận một cách thực chất và có tầm nhìn dài hạn. Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận có bản lĩnh chính trị, tận tâm, tận lực vì Nhân dân có uy tín trong cộng đồng, có kỹ năng vận động, đối thoại, thuyết phục. Chú trọng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; tham mưu xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.

2.2. Thống nhất phương hướng, mục tiêu, 15 chỉ tiêu cụ thể, nhiệm vụ đột phá và 07 Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Chương trình 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chương trình 2: Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội, thực hiện dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

Chương trình 3: Động viên các tầng lớp Nhân dân thi đua học tập, lao động, sáng tạo, tham gia phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, chăm lo đời sống Nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chương trình 4: Tham gia phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Chương trình 5: Phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của Nhân dân, xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc.

Chương trình 6: Thực hiện hiệu quả hoạt động đối ngoại Nhân dân, hợp tác quốc tế.

Chương trình 7: Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; hoàn thiện, vận hành tổ chức bộ máy chuyên trách tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

III. Đại hội thông qua Báo cáo kiểm điểm hoạt động của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X, giai đoạn 2024 – 2026.

IV. Đại hội đã tiến hành thảo luận và thống nhất thông qua Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sửa đổi, bổ sung.

V. Đại hội thông qua số lượng: Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 gồm 405 vị; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam từ 72-100 vị, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là 12 vị.

Tại Đại hội đã hiệp thương cử ra 397 vị tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Hội nghị lần thứ nhất Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá XI đã hiệp thương dân chủ, cử 70 vị tham gia Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Hội nghị đã hiệp thương dân chủ, cử 12 vị Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI tham gia Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI:

1. Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

2. Bà Hà Thị Nga, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử giữ chức Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

3. Ông Nguyễn Phi Long, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch  Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá X tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

4. Ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

5. Ông Lương Quốc Đoàn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

6. Ông Bùi Quang Huy, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

7. Bà Lê Thị Thủy, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

8. Thượng tướng Bế Xuân Trường, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

9. Ông Hoàng Công Thủy, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

10. Ông Trần Thắng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

11. Ông Nguyễn Đức Phong, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

12. Ông Cao Xuân Thạo, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Trưởng Ban Công tác xã hội Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

* Hội nghị đã hiệp thương dân chủ, cử 08 vị Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI giữ chức Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI

1. Bà Hà Thị Khiết, Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, nguyên Trưởng ban Dân vận Trung ương tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

2. Bà Nguyễn Thị Doan, Nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

3. Ông Nguyễn Phước Lộc, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

4. Bà Bùi Huyền Mai, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

5. Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

6. Linh mục Trần Xuân Mạnh, Chủ tịch Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI

7. Ông Đỗ Hồng Quân, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tái cử Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

8. Ông Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được hiệp thương cử giữ chức Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI.

VI. Đại hội đã thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Với tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 kêu gọi các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, nhân sỹ trí thức, văn nghệ sỹ, doanh nhân, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; tích cực đóng góp trí tuệ, công sức, hăng say lao động, sản xuất, không ngừng củng cố, xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí tiếp tục tuyên truyền sâu rộng kết quả Đại hội, hoạt động của các tầng lớp Nhân dân trong cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài chào mừng thành công của Đại hội, quyết tâm thực hiện thành công Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031.

TIỂU BAN TUYÊN TRUYỀN




Nguồn: Arttimes.vn

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển”


Sáng 12/5, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, đã khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham gia Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội.

Tham dự Đại hội có: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; các nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước: Trương Tấn Sang, Lương Cường; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; các nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng, Phạm Minh Chính; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; các nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Văn An, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài.

Dự Đại hội có các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam, cùng 1.136 đại biểu tiêu biểu đại diện cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại diện cho các giai cấp, giai tầng xã hội, nhân sĩ, trí thức, các dân tộc, các tôn giáo, lực lượng vũ trang, người Việt Nam ở nước ngoài đã về dự Đại hội đông đủ.

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 2

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Đại hội.

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 3

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 4

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 5

Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Đại hội.

Phát biểu khai mạc đại hội, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài cho biết, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam long trọng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 trong không khí toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. 

Với tình cảm kính yêu và lòng biết ơn vô hạn, Đại hội thành kính tưởng nhớ công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và bày tỏ lòng biết ơn và tri ân sâu sắc công lao của các bậc lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động, các thương binh, bệnh binh, gia đình có công với nước cùng các thế hệ đồng bào, chiến sĩ đã cống hiến hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 6

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài phát biểu khai mạc Đại hội.

Theo Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, trong nhiệm kỳ vừa qua, giai đoạn 2024 – 2026, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp chặt chẽ của Nhà nước, của Chính phủ, của Quốc hội và sự đồng lòng của Nhân dân, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, phát huy vai trò liên minh chính trị, liên kết tự nguyện, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò chủ động trong việc phối hợp cùng các cơ quan liên quan để đề xuất hoàn thiện các cơ chế chính sách, trong đó điểm nhấn nổi bật là tham gia tích cực hiệu quả vào quá trình xây dựng và tổ chức lấy ý kiến của Nhân dân đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có nhiều đóng góp quan trọng trong tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031; vận động Nhân dân tham gia thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; hỗ trợ kịp thời đối với người dân chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai bão lũ, nhất là đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người yếu thế, thiết thực thực hiện chủ trương quan điểm của Đảng để “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 7

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 8

Các đại biểu dự Đại hội.

Là Đại hội đầu tiên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động theo mô hình mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, có trách nhiệm thảo luận, đánh giá khách quan, toàn diện tình hình các tầng lớp nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết quả thực hiện Nghị quyết, chương trình hành động Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X, giai đoạn 2024 – 2026; thống nhất phương hướng, mục tiêu, chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; hiệp thương thống nhất cử Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực, các chức danh lãnh đạo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Với tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển”, Đoàn Chủ tịch Đại hội đề nghị các vị đại biểu dự Đại hội phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, trí tuệ, tập trung nghiên cứu, thảo luận sâu sắc các văn kiện trình Đại hội, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, chất lượng để Đại hội thực sự là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

Khai mạc Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI: "Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" - 9

Các đại biểu tham dự Đại hội.

Nhân dịp này, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài cũng bày tỏ sự trân trọng cảm ơn sự quan tâm, lãnh đạo chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Trân trọng cảm ơn sự phối hợp, giúp đỡ của Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành đoàn thể Trung ương, các địa phương; trân trọng cảm ơn sự đóng góp trí tuệ, tâm huyết của các văn nghệ sĩ, trí thức, nhà khoa học, các Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân cả nước để hoàn thiện văn kiện Đại hội.

Theo Báo Phụ Nữ Việt Nam




Nguồn: Arttimes.vn