Xe điện VinFast chiếm nửa bảng xếp hạng với các vị trí dẫn đầu.
Về nhạc, đã có cây đại thụ Phạm Duy, người bạn cố tri, khẳng định Văn Cao là số một về các ca khúc trữ tình lãng mạn, các hành khúc và trường ca. Về họa, đã có danh họa Tạ Tỵ xác nhận Văn Cao là người rất sớm, có lẽ sớm nhất, và đầy ấn tượng, đưa trường họa lập thể vào hội họa Việt Nam. Về thơ, Văn Cao viết không nhiều – gần sáu mươi bài thơ, trong đó có vài trường ca – nhưng là những thi phẩm vừa in dấu lịch sử chuyển động suốt một đời người, dọc theo thế kỷ, vừa nhấn thật sâu vào tư tưởng và tâm hồn để biến nó thành “Một tiếng vang vang cả lòng cả đáy” (Trường ca Những người trên cửa biển). Ở bài viết này, tôi chỉ xin điểm vài ý về cái di sản thơ rất đặc sắc của Văn Cao.
Đường thơ Văn Cao được khởi đi từ giai đoạn cuối mùa của Thơ Mới, với những bài thơ như Ly khách, Linh cầm tiến, Ai về Kinh Bắc, Đêm ngàn, Đêm mưa… ra đời trong quãng thời gian từ 1939 – 1941. Đó đúng là những thi phẩm mang điệu hồn và âm sắc của Thơ Mới – Thơ Mới lãng mạn chứ không phải Thơ Mới tượng trưng, siêu thực – mà theo như cảm nhận chủ quan của nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân: “Nó đẹp một nỗi buồn xa vắng” (Thái Bá Vân – Như một viên gạch kỳ cựu nung ở độ lửa già). Tuy nhiên cũng không có gì thật đặc biệt, những bài thơ ấy dễ bị lẫn vào hàng trăm bài thơ “đèm đẹp” khác mà Thơ Mới đã từng sản sinh trong lịch sử bột phát của mình. Phải chờ đến Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, bài thơ mà Văn Cao viết vào mùa thu năm 1941, thì Văn Cao mới thực sự chiếm lĩnh cái đỉnh điểm của trường thơ lãng mạn.
Một đêm đàn lạnh trên sông Huế của ông là bài thơ có thể sánh ngang với những tuyệt phẩm Thơ Mới theo motif Đàn – Đêm – Trăng – Nước, như Nguyệt cầm của Xuân Diệu hay Đà giang của Vũ Hoàng Chương.

Nhạc sĩ Văn Cao (1923 – 1995).
Cuối năm 1944, Văn Cao tham gia Việt Minh, với nhiệm vụ đầu tiên là viết một hành khúc, sau này sẽ được biết đến với cái tên Tiến quân ca, tức Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sự dấn thân này của Văn Cao, cũng như của phần đông các văn nghệ sỹ yêu nước và tiến bộ khác mà ta biết, không chỉ là một hành động chính trị, mà nó còn có ý nghĩa như một sự chuyển dịch nhãn quan thẩm mỹ, một sự thay đổi ý thức sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sỹ trong ông đã không còn tìm kiếm cái đẹp trong buồn, trong cô liêu và thơ mộng, ở những thiên đường diễm ảo như Thiên Thai, Suối Mơ, hay trên dòng Tiêu kim thủy (sông Hương) nữa. Mà đẹp, chính là ở cái thực tại này, ở cái cuộc sống đang sôi lên, réo lên tiếng đòi cơm áo của những lớp người cần lao bao đau khổ, tiếng đòi độc lập của một dân tộc đã phải chịu cảnh nô lệ rên xiết suốt gần trăm năm. Hai bài thơ của Văn Cao: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, viết năm 1945, về nạn đói chết người ở miền Bắc, và bài Ngoại ô mùa đông năm 1946, viết năm 1946, về Hà Nội tiêu thổ ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến, là minh chứng hiển hiện cho sự chuyển đổi trong thơ Văn Cao thời đầu cách mạng, cách mạng nhưng vẫn rất Văn Cao.
Nói về tính suy tưởng và âm hưởng bi tráng lẫm liệt của giọng điệu thơ, có thể khẳng định, bài Ngoại ô mùa đông năm 1946 của Văn Cao, và một bài thơ cùng chủ đề với nó, bài Hải Phòng ngày 19 tháng 11 năm 1946 của Trần Huyền Trân, chính là những thi phẩm vào loại xuất sắc nhất của thơ Việt Nam giai đoạn chống Pháp và thơ cách mạng Việt Nam nói chung.
Thế nhưng, phát triển theo hướng này, phải nhận rằng, tác phẩm kết tinh tài năng, tráng chí và ý thức công dân, kiệt tác thực sự của một Văn Cao – thơ, phải là trường ca Những người trên cửa biển mà ông viết vào mùa xuân năm 1956, khi thành phố cảng – thợ Hải Phòng đã sạch bóng quân Pháp được hơn nửa năm.
Tác phẩm mở đầu bằng một khổ bốn câu thơ, xuất hiện hình ảnh cây mận: “Sinh ra tôi đã có Hải Phòng/ Đầu nhà mới trồng cây mận/ Bãi Sú bồi thành bến/ Nhà máy xi măng đã dựng bên sông” (Chương I: Ai biết Hải Phòng là đâu). Ở khoảng giữa, hình ảnh cây mận trở lại: “Những năm tháng Hải Phòng đầy biến động/ Đời tôi như cái phao trên mặt biển/ Có năm người ta đánh Hoa kiều/ Bạn cha tôi về chết bên cây mận” (Chương III: Những ngày động biển). Đoạn kết, hình ảnh cây mận trở lại thêm lần nữa: “Sau những ngày động biển/ Nhu nhú trên những cành mận non/ Những nụ hoa đang nở hồng hồng/ Mát hai vai dưới rặng cây bóng lá/ Đôi lứa thanh niên đến tự tình” (Chương IV: Những ngày báo hiệu mùa xuân). Cây mận, ấy chính là chứng nhân cho sự ra đời của một con người trên đất Hải Phòng, chứng nhân cho một tuổi thơ và một tuổi thanh niên đã thấm đẫm trong mình những cảnh huống, những nỗi niềm của một thành phố lầm lụi mà bất khuất, bị bóc lột giày xéo đến kiệt cùng nhưng vẫn kiên cường đấu tranh và vẫn không thôi mơ mộng. Cây mận, ấy cũng chính là chứng nhân cho sự hồi sinh của thành phố biển, một cuộc kiến tạo mới, một khát vọng sống cuồng nộ và bao la như biển.
Quy chiếu thời gian nghệ thuật của trường ca vào thời gian của lịch sử xã hội, có thể thấy, Những người trên cửa biển là một tự sự biên niên sử Hải Phòng vô cùng mạnh mẽ, song những sự kiện có thể đóng mốc thời gian dường như lại mang rất nhẹ ý nghĩa tự sự, chúng chủ yếu là cái cớ để nhà thơ thăng hoa trong thế giới của tưởng tượng và cảm xúc: một tưởng tượng phong nhiêu và táo bạo, một cảm xúc luôn tràn bờ và không khi nào vơi hụt. Phẩm tính sử thi của trường ca Những người trên cửa biển, một phần, nằm ở chính đặc điểm này. Bởi vì viết trường ca, ngoài việc nói về những sự kiện lớn (chứ không phải những chuyện vặt) của cộng đồng (chứ không phải của cá nhân) thì nhà thơ luôn phải tạo được những hình ảnh kỳ vĩ khác lạ, luôn phải giữ được sự liền mạch và cao độ của cảm xúc, nếu không trường ca sẽ chỉ là một bài thơ dài, thiên về kể lể và giãi giề tâm sự mà thôi. Và Văn Cao đã làm được điều đó, với một nghệ thuật thi ca bậc thầy.
Đọc Những người trên cửa biển mới thấy Văn Cao yêu và gắn sinh mệnh đời mình với sinh mệnh Hải Phòng – rộng ra, với sinh mệnh đất nước – như thế nào. Không phải ở tuyên ngôn: “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam như tôi biết yêu tôi”. Mà ở cái cách ông rách nát với cái rách nát Hải Phòng, đau nỗi đau Hải Phòng, vui niềm vui hồi sinh khi Hải Phòng hồi sinh sau những biến động kinh thiên. Với Văn Cao, Hải Phòng mở ra đại dương, mở ra trí tuệ, mở ra thi ca nhạc họa, mở ra khát vọng tự do vươn đến những chân trời xa rộng. “Tôi giờ đây liếm môi nóng bỏng/ Nhìn ra biển bao la/ Lòng hãy còn nhiều khát vọng/ Còn rất nhiều khát vọng/ Biển thành người khổng lồ kêu khát suốt ngày đêm…”. Có cảm nhận được cái khát, khát vọng biển, khát vọng sống, khát vọng sáng tạo của Văn Cao, ta mới hiểu tại sao lại xuất hiện những câu thơ như lạc giọng ở Chương IV Những ngày báo hiệu mùa xuân. Một chương lẽ ra chỉ toàn niềm vui phơi phới, bỗng nhiên lại vang lên tiếng nói cảnh báo và luận tội đanh thép: “Trong những ngày khó khăn chồng chất/ Kẻ thù của chúng ta xuất hiện/ Những con rồng đất khi đỏ khi xanh/ Lẫn trong hàng ngũ… Héo dần miền sáng tạo mất phẩm giá con người/ Chúng nó ở bên trong ta lén lút/ Đào rỗng từng kho tiền gạo thuốc men/ Tôi đã thấy từng mặt từng tên xâu chuỗi/ Tôi sẽ vạch từng tên từng mặt”. Không thể nói khác, đó chính là con người công dân, con người đại diện cho sự công chính trong Văn Cao đang lên tiếng trước những bất ổn, những vết nứt nguy hiểm bắt đầu hình thành giữa lòng xã hội mới. Vì thế có thể nói như nhà phê bình văn học Đặng Tiến trong một bài viết năm 1992, mừng Văn Cao bảy mươi tuổi ta: “Niềm tin của Văn Cao đi từ những giấc mơ gào thét thực tại, là những rạn vỡ đòi lại toàn bích, là chiếc lá gào gọi trời xanh” (Đặng Tiến, bài “Văn Cao, lá khát vọng”).
Tiếng nói cảnh báo và luận tội này còn tiếp tục được vang lên trong một bài thơ mà Văn Cao viết cùng năm 1956, và đăng trên “Giai phẩm mùa xuân”, bài Anh có nghe không. Trong bài có những câu: “Chung quanh còn những người khôn ngoan/ Không có mồm/ Mắt không bao giờ nhìn thẳng/ Những con mèo ngủ yên trên ghế/ Trong một cuộc dọn nhà/ Những con sên chưa dám ló đầu ra/ Những dây leo càng ngày càng tốt lá”. Khúc ngoặt cay đắng nhất trong cuộc làm người của Văn Cao cũng vì thế mà bắt đầu, từ cái án văn chương Giai phẩm. Suốt quãng thời gian từ cuối những năm 1950 đến đầu những năm 1980, các sáng tác thơ, nhạc của ông, trừ bài Tiến quân ca, không được phổ biến tới công chúng; với hội họa, ông chỉ còn có thể vẽ bìa sách và vẽ minh họa cho báo chí để độ nhật mà thôi.
Nhưng mặt khác, xét riêng trên phương diện thi ca, thì đây lại là bước rẽ mới trong cuộc sinh tử với nghệ thuật của Văn Cao. Ông vẫn làm thơ, cho mình, và giam thơ trong những cuốn sổ tay be bé, chỉ thỉnh thoảng mới giải phóng chúng bằng cách đọc lên trong các cuộc rượu với một ít anh em văn nghệ thân thiết. Văn Cao từng bộc lộ những quan niệm của riêng mình về thơ: “Mỗi chữ, mỗi câu, mỗi bài thơ mở ra cái quãng ngược, quãng xuôi, những cái không nói tới mà người đọc càng tìm thấy mãi. Sự thất bại thường gặp trong mỗi bài thơ là sự khép lại: khép tất cả sự muốn nghĩ và muốn nói”; và: “Chúng ta đã qua một thời kỳ dài thiên về cảm xúc và một thời kỳ cảm giác. Cái thời kỳ thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu không?” (tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ, 1957). Quan niệm thế nào thì thực hành thế ấy. Thơ Văn Cao giai đoạn này thường là những bài ngắn, thậm chí rất ngắn, rất ít chữ, nhưng chất chồng những hình ảnh như là sản phẩm của một nghệ thuật thơ in đậm tư duy hội họa. Những hình ảnh tương đồng và tương phản, những hình ảnh nối nhau và đối nhau bất ngờ, những hình ảnh tạo nên dư vang của chữ và chiều sâu của suy tư khi văn bản đã chấm dứt, như: “Những tiếng gà lên/ Rụng hết những ngôi sao cuối/ Tiếng kêu ở trong tôi/ Có xót xa có cả vui mừng/ Tiếng kêu của một khúc thép đỏ/ Trong chậu nước/ Những tiếng hát đuổi nhau trên các ngọn núi/ Còn lại một hồ nước/ Trên họng một ngọn núi cạn lửa” (Cạn, 1958), hoặc: “Một tiếng động khóa/ Xin mời vào/ Cánh cửa mở ra thật rộng/ Chỉ thấy/ Một chiếc cầu thang nhà trên gác/ Và ánh sáng không động đậy/ Một giọt mồ hôi/ Lăn trên trán” (Cánh cửa, 1960), hay là: “… Khi tôi hú lên thật to/ Không nghe tiếng tôi nữa/ Như viên đá rơi vào im lặng/ Những ngọn núi dựng lên đen trũi/ Bờ một cái vực khổng lồ/ Nơi cả mặt trời mặt trăng/ Thường lăn xuống không có tiếng động” (Lòng núi, 1963).
Và dĩ nhiên, ở mảng thơ bị giam trong bóng tối ấy sẽ hiện lên một diện mạo tinh thần cá nhân khác hẳn với những diện mạo tinh thần mang tính đồng phục của thứ thơ công khai ngoài ánh sáng. Thơ Văn Cao không có niềm tin tưởng phơi phới, mà đầy nỗi hoảng hốt, nghi hoặc, dằn vặt, day dứt, những tiếng khóc thầm, những dòng lệ dội ngược vào trong tim: “Có lúc/ một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ/ Có lúc/ ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt/ Có lúc/ nước mắt không thể chảy ra ngoài được” (Có lúc, 1963). Ông sống trong sự vây bủa của những câu hỏi do chính mình tự đặt ra cho mình, với tư cách một con người và tư cách một người nghệ sĩ, một người sáng tạo: Tôi là ai? Bản ngã tôi ở đâu? Tôi sống trên đời này để làm gì và tôi có thể làm gì? Tôi còn không, tôi về đâu trong sự trôi chảy của thời gian? v.v và v.v…
Trong số đó, câu hỏi chiếm nhiều suy tư nhất của Văn Cao có lẽ là câu hỏi về giá trị của việc được sống thực, giá trị của tồn tại người trong toàn bộ những giới hạn của nó: giới hạn trước xã hội người đầy đa tạp đa đoan, giới hạn trước cái mênh mông của vũ trụ, giới hạn trước cái thản nhiên bất tuyệt của thời gian: “Con thuyền đi qua/ để lại sóng/ đoàn tàu đi qua/ để lại tiếng/ đoàn người đi qua/ để lại bóng/ tôi không đi qua tôi/ để lại gì?” (Không đề, 1967). Để lại gì? Câu trả lời là: không, không để lại gì hết: “Người đi dọc biển/ Bình minh dưới chân/ Một cái chai lấp lánh/ Sóng biển còn hơi rượu/ Người đi dọc biển/ Lối cát chưa có dấu chân/ Chân trời còn gối biển/ Người đi dọc biển/ Không để lại/ Dấu chân” (Người đi dọc biển, 1970).
Về thơ Văn Cao giai đoạn này, nhiều người thường nhắc đến một bài ông viết năm 1960, Năm buổi sáng không có trong sự thật. Đây quả là một bài thơ đặc biệt, trước hết, về cấu tứ. Bài thơ có năm đoạn, mỗi đoạn ứng với một buổi sáng, và nhà thơ kể cho chúng ta biết về những sự việc đã xảy ra với ông trong buổi sáng hôm ấy. Buổi sáng thứ nhất: cả thế giới không còn một bóng con người. Buổi sáng thứ hai: cả thế giới không có nổi một âm thanh. Buổi sáng thứ ba: nhà thơ nhận thấy có một kẻ khác ở trong mình, như một kẻ thù, và cái tình thế lưỡng phân hai – trong – một ấy dẫn đến nhận thức: “Từ phút ấy, tôi không còn thật nữa”. Buổi sáng thứ tư: phố phường như mở hội, nhưng tất cả những người đi trên phố đều mang mặt nạ, và lạ thay, trên những mặt nạ giấy bồi ấy lại chảy ra nước mắt và mồ hôi. Buổi sáng thứ năm: đôi tình nhân bị khóa lại “trong gian phòng trong suốt thủy tinh”, họ sưởi ấm cho nhau, họ sống trong tình yêu và hạnh phúc: “… Và mật vừa thơm và ong đã tới/ Chúng ta đi vào bí mật mùa xuân/ Ngày đầu tiên của em trên biển”. Có thể thấy rằng bốn buổi sáng đầu là bốn buổi sáng được đẻ ra từ một tưởng tượng đầy chất huyễn ảo về một thế giới xa lạ, giả dối, một thế giới dẫn đến sự chết, một thế giới chết. Thế giới ấy, nhà thơ đã dựng lên bằng những mảnh ghép lập thể, những hình ảnh siêu thực, kỳ quái. Thế giới ấy chỉ được hóa giải bằng buổi sáng thứ năm, tức là bằng tình yêu đích thực. Tình yêu cứu rỗi nhân loại, dường như tư tưởng của Văn Cao là thế. Từ tình yêu mới có sức mạnh để vượt qua mọi khổ đau và cái chết, mới có nhận thức về cái đẹp, mới có sáng tạo nghệ thuật.
Và từ tình yêu, như nó được thể hiện ở buổi sáng thứ năm trong bài thơ nổi tiếng này, Văn Cao khởi đi một tiểu mạch thơ tình đặc sắc trong số lượng rất hạn chế các thi phẩm của đời mình. Ví như: “Giữa những ngày dài dằng dặc/ Chỉ còn khuôn mặt em/ Sáng trong và bình lặng/ Dù hai đứa chúng ta/ Chưa lúc nào sung sướng/ Những ngày đau khổ ấy/ Khuôn mặt em/ Như mảnh trăng những đêm rừng cháy…” (Khuôn mặt em, 1974). Và ngay ở một bài thơ viết trong giai đoạn “bình thường hóa trở lại”, cũng là lúc Văn Cao đã về già, một bài thơ có tính chất hồi cố, tổng kết, thì cũng có thể được đọc như một bài thơ tình đầy da diết: “Thời gian qua kẽ tay/ Làm khô những chiếc lá/ Kỷ niệm trong tôi/ Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn/ Riêng những câu thơ còn xanh/ Riêng những bài hát còn xanh/ Và đôi mắt em/ như hai giếng nước” (Thời gian, 1987).
Văn Cao còn có những bài thơ viết riêng về Hà Nội và Huế, những bài thơ viết như trút gửi tâm sự cùng các bạn bè thân thiết nhất của mình (Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyên Hồng, Dương Tường). Tất cả đều lạ, và hay. Ít nhưng chất, có thể nói ngắn gọn như vậy về thơ trong cái tam vị nghệ thuật thơ, nhạc, họa của Văn Cao. Đặc biệt là ở bước ngoặt thứ hai trong đời nghệ thuật – kể từ cuối năm 1956, đầu năm 1957 – Văn Cao đã có những nỗ lực đáng kể trong việc tiếp tục công cuộc hiện đại hóa thi ca Việt Nam. Về cơ bản, thơ ông vẫn nằm trong khuôn khổ của thơ “dòng ý”, tức là vẫn phải tải nghĩa chứ chưa phá cách vượt ngưỡng như những thơ “dòng chữ” mà Trần Dần, Lê Đạt hoặc Đặng Đình Hưng, Dương Tường theo đuổi. Nhưng thơ “dòng ý” của ông đã khác xa với thơ “dòng ý” truyền thống, chủ yếu bởi sự thâm nhập của tư duy hội họa và âm nhạc.
Với thơ, có thể nói, Văn Cao đã có đủ để trả nợ cho tiếng Việt, cho cái định mệnh nghệ sĩ, và đủ để trả nợ cho cuộc đời đầy những ngổn ngang này. “Cuộc đời ôm tôi như trong cái bình/ Một tiếng vang vang cả lòng cả đáy”.
|
“Mỗi chữ, mỗi câu, mỗi bài thơ mở ra cái quãng ngược, quãng xuôi, những cái không nói tới mà người đọc càng tìm thấy mãi. Sự thất bại thường gặp trong mỗi bài thơ là sự khép lại: khép tất cả sự muốn nghĩ và muốn nói” “Chúng ta đã qua một thời kỳ dài thiên về cảm xúc và một thời kỳ cảm giác. Cái thời kỳ thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu không?” (Mấy ý nghĩ về thơ, Văn Cao – 1957). |
“Mới đến?” – người có thân hình phốp pháp và gương mặt trẻ con đứng cạnh Mỵ thân thiện hỏi.
Mỵ gật đầu, “Vâng.”
“Trung Quốc?”
“Không, Việt Nam.”
“Bạn biết không, cha tôi tử trận ở Việt Nam. Hôm nay ngày giỗ thứ bốn mươi…”. Người phụ nữ chỉ vào bức ảnh đen trắng đính phía bên trong tủ áo của mình. Đôi chỗ trên viền bức ảnh bị cháy xém, nhưng khuôn mặt người lính trẻ đẹp trai, xanh xao và nhẵn nhụi vẫn còn khá rõ.
“Ô, thật là…”, Mỵ không biết nói sao.
Người đàn bà Mỹ tiếp tục khi chui đầu vào chiếc áo thun, “Mẹ tôi nhận được tin khủng khiếp đúng ngày sinh ra tôi”.
“Vậy tôi kém chị mười tuổi”, Mỵ liếc vào gương và vuốt sửa nếp tóc. “Xin lỗi, tôi phải đi trước”.
“Vâng, mình Catherine, khoa gây mê. Cuối tuần vui vẻ nhé”.
“Mỵ, tu nghiệp sinh. Cuối tuần vui vẻ”.
Gió mồ côi thốc vào hành lang dẫn ra sân sau. Mỵ cúi người giữ gấu váy vội vàng đi về phía bãi đỗ xe. Chiếc Volkswagon con bọ đời ‘70 màu cam của cô từ đường cong cổ điển đến tiếng nổ xè xè đặc thù trông nổi bật hẳn giữa đám xe đời mới bóng nhoáng. Trước khi khóa học bắt đầu, Mỵ đã dành mấy ngày cho việc tìm nhà trọ và một con xe cà tàng chạy hết chín tháng học thì đưa thẳng vào bãi phế thải. Mỵ đã bị hút vào chiếc Beetle này khi đứng giữa rừng xe cũ, và chỉ mất bốn trăm năm mươi đô kể cả tút lại sơn, đúng là món hời.
Mỵ hướng ra ngoại ô theo thói quen về nhà trọ, rồi quay đầu xe vào khu trung tâm. Gói quà trên ghế phụ kịp nhắc Mỵ tiệc sinh nhật của giảng viên tiến sĩ Susan Chen. Cô này cùng gia đình sang Mỹ định cư một năm trước thời điểm nước Anh chuyển trả Hồng Kông cho Trung Quốc.

Mỵ nghe radio địa phương phát chương trình giao thông dù trên đường đang thông thoáng. Việc này đã trở thành thói quen mới của Mỵ. Chẳng phải để nghe tin, chỉ là trong thời gian lái xe, nhất là lúc xuyên qua đồng cỏ, Mỵ sẽ thấy dễ chịu nếu có tiếng người ở bên, dẫu không là tiếng mẹ.
Kênh giao thông đột ngột nhường cho tin khẩn: một trận động đất 5,6 độ Richter dự kiến sẽ sớm xảy ra, tâm chấn tại thị trấn Weitchpec, gần ranh giới hai bang Cali và Oregon… Mỵ rùng mình, hoang mang hơn là sợ. Cô từng chia sẻ thảm họa động đất ở đâu đó với vị trí ngoài cuộc, có thể kêu lên sợ hãi trước những gì trông thấy trên màn hình nhỏ rồi sau đó nằm xuống ghế sofa đắp mặt nạ dưỡng da.
Khi Mỵ vào đến khu trung tâm, ý nghĩ quay về nhà trọ bị xua đi bởi lúc ấy đường phố vẫn tấp nập người xe và không thấy ai tỏ ra căng thẳng. Có lẽ vì tâm chấn trận động đất cách nơi này những sáu, bảy trăm cây số. Nhưng khi bước ra khỏi xe, Mỵ loáng thoáng nghe những vị khách đến dự sinh nhật Susan sôi nổi chuyện động đất. Mỵ không hiểu hết những gì họ trao đổi vì cô thiếu hiểu biết về địa lý nước Mỹ. Vậy là lần này, dẫu “chung thuyền”, Mỵ vẫn là kẻ ngoài cuộc.
Theo chân một nhóm khách, trong đó có vài người Mỵ từng biết ở trường, còn những người khác mới gặp lần đầu, cô ôm quà đi vào tiền sảnh. Ở đó, ông cụ người Hoa trên tám mươi ngồi chìm trong lớp nệm chiếc ghế bành rộng, chăm chú xem tivi và không nhận ra sự xuất hiện của người lạ chung quanh. Mỵ nghĩ hẳn đó là người cha mắc bệnh Alzheimer mà Susan từng tâm sự với cô. Mỵ bỗng bối rối khi nhận ra kênh Anh ngữ CCTV9 của Trung Quốc đang đưa tin tàu hải chính Trung Quốc tuần tra Biển Đông, có cả hình ảnh quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Vài vị khách biết Mỵ người Việt và họ không giấu được vẻ ái ngại.Susan xuất hiện thật đúng lúc, vừa lịch nhã chào hỏi khách vừa nhặt lấy cái điều khiển từ xa chuyển ngay kênh truyền hình, nói là lúc này cần theo dõi tình hình động đất. Trong khi đó ông cụ tiếp tục dán mắt vào màn hình nhỏ, như thể giữa tường thuật tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và cảnh báo động đất ở Cali chẳng gì khác biệt.
Làm như không nhận biết lý do chuyển kênh, Mỵ ra vẻ tập trung theo dõi tin khẩn trên truyền hình. Một chuyên gia Trung tâm thông tin động đất quốc gia đang trả lời phỏng vấn. Bà cho biết trận động đất là hệ quả thời kỳ thức tỉnh của đường đứt gãy San Andreas nằm dọc bang Cali hướng bắc – nam, từ hạt Monterey đến khu vực biển Salton. Mỵ bỗng nhận ra mình đã gặp gương mặt xinh đẹp và thông thái này ở đâu đó, lúc nào đó.
Thêm vài khách vừa đến, Susan mời tất cả ra sân cỏ phía sau tiền sảnh, nơi bữa tiệc đã sẵn sàng. Ly tách thủy tinh trên bàn rực sáng trong ráng chiều vàng lửa.Susan vui vẻ mở từng gói quà, phát biểu những câu dí dỏm khiến mọi người cười. Mỵ cười theo dù không thoát khỏi ý nghĩ rằng giữa hai người là một đường đứt gãy. Ứng xử khéo của Susan và vẻ lờ đi của Mỵ đều không làm cho nó biến mất. Có thể cùng chung cảm nghĩ nên sau phần mở quà, Susan đến bên Mỵ cụng ly, và hỏi nhà trọ thoải mái không. Chính Susan là người giới thiệu nhà trọ cho Mỵ, chủ nhà là bệnh nhân của cô.
“Cảm ơn, mọi chuyện đều ổn” – Mỵ đáp.
Khi Susan rời chỗ Mỵ để đón khách đến muộn, Mỵ như thu nhỏ giữa đám đông người Mỹ, vừa nhấp rượu chát vừa nhớ hôm Susan lái xe đưa cô đi thuê nhà, và nhớ cô đã cảm thấy thất vọng thế nào khi Susan chỉ vào một trang trại nằm trơ trọi giữa cánh đồng bao la, dẫu lúc ấy nó còn cách chỗ hai người khoảng một dặm Anh. Khu nhà chính hai tầng, gồm tám phòng, nhưng cả cơ ngơi chỉ có mỗi ông chủ John xấp xỉ sáu mươi, nếu không kể bốn con chó. Thực ra còn một tá điền, nhưng ông này xuất hiện ở trang trại khi Mỵ đã đi đến bệnh viện và ra về trước khi Mỵ về tới.
Susan giới thiệu Mỵ với John, và dẫu chỗ thân tình, cô không ngại thương lượng để có giá thuê rẻ nhất. John ngậm tẩu, cười mỉm sau hàng ria rậm màu muối tiêu trong khi ông nheo mắt nhìn người đàn bà da vàng líu lo, như thể ông không biết đường đối đáp. Nhân lúc Susan nghỉ lấy hơi, John chớp cơ hội để kết thúc cuộc thương lượng một chiều. Bằng giọng khàn trầm và không thể ngắn gọn hơn, ông nói, “Miễn phí”.
Thực ra gần đây mọi chuyện không ổn như Mỵ vừa nói với Susan và cô có ý định tìm chỗ trọ mới, dẫu rất cần sự hào phóng của John.
Một người đàn ông trung niên ngồi xuống cạnh Mỵ và quay sang cười cầu tài với cô. Mái tóc vàng, khuôn mặt hẹp, đôi mắt xanh. Không buồn giấu cái nhìn thèm thuồng vào ngực trái cau đàn bà châu Á, anh ta bắt chuyện bằng câu hỏi Việt Nam có động đất không. Bàn tay phơn phớt lông vàng nâu cố tình chạm vào tay Mỵ hơi lâu khi chuyền đĩa bánh. Tự dưng Mỵ nhớ một bàn tay khác, run run tìm tay Mỵ trong bóng tối rạp chiếu bóng. Cũng bàn tay ấy đã ký soạt vào tờ ly hôn sáu năm sau.
“Tôi Elton. Có thể biết tên cô?”
“Mỵ.”
“Me?”
Mỵ che miệng cười khúc khích, nói với anh ta “Sao cũng được”. Rồi cô nhớ cô bạn tên Châu có lần than thở về anh chồng người Mỹ, “Không hiểu sao tao sống được với người không thể gọi đúng tên tao, cứ “Trâu ơi”, “Trâu hỡi”…
Như một đường đứt gãy, Mỵ nghĩ thầm. Cụm từ này bỗng dẫn Mỵ trở lại câu hỏi vẫn ấm ức: cô đã gặp nữ chuyên gia kia ở đâu?
Nếu không phải trực đêm, Mỵ thường về tới căn hộ vào khoảng 5 giờ 30, lúc nắng ấm còn vương trên đồng cỏ. Không một lời chào đón của ai nếu bỏ qua tiếng sủa dấm dẳng của bốn con chó. Hơn một tháng sống chung chúng vẫn chưa nhìn nhận người đàn bà da vàng thuộc về trang trại. Nếu có mặt nơi Mỵ đỗ xe, John sẽ vẫy chào cô. Nhưng những lần như thế cũng hiếm.
John thường luẩn quẩn sau dãy nhà trệt, đối diện tòa nhà chính bằng một quãng sân. Khu này hình như dành cho gara, xưởng mộc, nhà kho gì đó. Đôi lần Mỵ bắt chợt John đang nhìn mình từ đằng xa và sau làn khói thuốc lá. Mũ da cao-bồi vành sụp tới mắt, ống điếu gắn dưới hàng ria, áo sơmi ca-rô, quần jean, và giày da lật cao cổ, trông John như thể chẳng thay đổi từ ngày Mỵ đến. Mỵ không biết gì về trang trại ngoài căn phòng dành cho Mỵ và văn phòng giao dịch mà Susan và Mỵ có lần ghé qua. Khi trang trại lên đèn, trở thành một trong số những ốc đảo ánh sáng thưa thớt trên đồng cỏ thì Mỵ tắm xong, lao vào nấu bữa ăn chính trong ngày, vừa ăn vừa trò chuyện với mẹ và con gái cưng bốn tuổi rưỡi qua skype để bà còn kịp đưa cháu đi nhà trẻ, rồi lên giường đọc tài liệu khóa học cho đến khi ngủ thiếp.
Tuy nhiên, cái thời khóa biểu ấy của cô sẽ bị phá hỏng vào những tối có phụ nữ đến tìm John, mà lúc này Mỵ tin một trong số họ là người phụ nữ vừa xuất hiện trên truyền hình.Đàn ông độc thân có phụ nữ tìm đến là thường tình, và cũng là chuyện riêng tư. Nhưng những gì chứng kiến đã khiến Mỵ rơi vào tâm trạng bất an. Nửa như muốn cuốn vào cuộc, nửa như muốn chạy trốn. John tiếp phụ nữ ở phòng sát vách phòng ngủ của Mỵ.
Đôi khi Mỵ tự hỏi tại sao lại là phòng đó mà không phải là các phòng khác của ngôi nhà này. Không có câu trả lời thích đáng, chỉ biết đó là căn phòng luôn kín cửa, và đêm có khách mới bật đèn, mà cũng chỉ lù mù vàng. Ngôi nhà gỗ xuống cấp từ lâu, tiêu chuẩn cách âm của nó cũng kém theo. Vì vậy, những đêm phòng bên có phụ nữ đến chơi là Mỵ bị tấn công bằng thứ âm thanh mơ hồ kỳ dị. Đó không hẳn là những lời thì thầm khuyến dụ, hay nụ hôn kêu chụt, hay nhịp thở dồn dập, nói chung là những thanh âm, tiếng động có thể có của một cuộc ái ân thuộc về con người.
Ngược lại, Mỵ còn nghe cả những cơn gào thét man dại và kêu khóc tức nghẹn. Mỵ đi từ tâm trạng bị quấy rối bứt rứt đến vạ vật ám tưởng những gì đang diễn ra bên kia vách gỗ. Khi đôi tình nhân rời tổ quỷ, tiếng bước chân của họ trên hành lang lát ván xa dần cũng là khi Mỵ co quắp trên giường, tột cùng hoang lạnh. Một lần như thế, Mỵ bất đồ phát rồ, chạy ra khỏi phòng trong áo ngủ, đuổi theo John và người đàn bà, có lẽ với ý định hét lên xin các người tránh xa chỗ tôi, hãy để tôi yên, làm ơn… Nhưng thực tế là Mỵ đã đứng lại trong góc tối, nhìn John sánh vai người đàn bà đi những bước thư thả về phía đỗ xe.
Không thể tin hai con người thanh nhã trầm buồn kia vừa bước ra từ một cuộc truy hoan ầm ĩ bệnh hoạn. Không nụ hôn từ biệt như Mỵ hình dung, người đàn bà ngồi vào xe, ngước mặt nhìn John vẻ biết ơn. Gương mặt xinh đẹp và thông thái Mỵ vừa gặp trên truyền hình.
Mỵ bị ném khỏi chiếc võng hồi ức. Mặt đất dưới chân rùng chuyển. Ngôi nhà vặn mình răng rắc, kính cửa vỡ giòn như bánh gạo, đồ vật đổ nhào loảng xoảng, tiếng người oai oái. Mấy giây sau khi trận động đất đi qua, Mỵ nhận ra mình ngồi bó gối dưới gầm bàn tiệc, hai tay giữ chặt ly đã tạt hết rượu vào người từ lúc nào. Bữa tiệc kết thúc trong hoảng loạn. Susan và vài khách là đồng nghiệp nhận được lệnh triệu tập của bệnh viện qua điện thoại.
Mỵ là người cuối cùng rời khỏi sân nhà Susan, lúc ấy khoảng sau 5 giờ. Trên đường nhốn nháo với vài đám cháy, rất nhiều xe cảnh sát, xe cứu thương vun vút ngược xuôi, toàn thành phố mất điện. Mỵ không hiểu điều gì khiến cô phóng xe như điên về trang trại, nơi mà mới mươi phút trước vẫn mong được sớm rời bỏ.
Một chiếc lexus mui trần từ trong sân trang trại lao ra cổng, rồi thắng gấp, dừng ngay trước mũi xe con bọ của Mỵ.“Catherine gây mê …”, Mỵ kêu thầm.Catherine cũng ngạc nhiên nhận ra người vừa bước xuống xe là Mỵ. Không kịp chào hỏi, Catherine nói ngay, “Tôi phải đưa John đến bệnh viện. Một thanh rầm rơi sượt vào vai ổng”.
Mỵ chạy đến chiếc Lexus. John nằm trên băng ghế sau, máu thấm đỏ lớp băng tạm. Vẻ hớt hải của Mỵ khiến ông xúc động, và ông trấn an cô bằng cái nháy mắt không đúng lúc.“Chăm mấy con chó giúp tôi nhé?” – ông bảo Mỵ trước khi xe chạy.
Thay vì vào thẳng phòng mình như thường lệ, Mỵ đổi hướng thận trọng đi sang phòng bên cạnh đang mở toang cửa, nghển cổ nghiêng đầu nhìn vào trong. Trống ngực cô đập dữ, không phải vì sợ thanh rầm nào tiếp tục rơi mà vì Mỵ sắp khám phá cái không gian ám ảnh, nơi John tiếp phụ nữ, nơi Catherine cũng vừa ở trong trận động đất.
Nhưng chẳng có giường ngủ rộng như Mỵ luôn tưởng. Nói đúng ra chẳng có gì ngoài máy chiếu phim 16 ly tróc gần hết sơn đặt cuối phòng, một màn ảnh bằng vải đã ố vàng treo trên tường đối diện, giữa phòng chỏng chơ mấy chiếc ghế bọc da, hai trong số đó đã bị thanh rầm đè gãy.
Mỵ giật mình bởi đèn chiếu vụt sáng và bành phim quay rè rè. Điện vừa được cấp trở lại. Chiến tranh Việt Nam hơn bốn mươi năm trước rùng rùng hiện lên màn ảnh, không theo kịch bản nào, chỉ là những trường đoạn rời: cảnh lính Mỹ đánh răng, đọc thư nhà, cười đùa trong doanh trại. Mỵ nhận ra John giữa những người lính trong một cảnh quay, tay cầm micro hướng về một người lính đánh trần, và hỏi những câu chuẩn bị sẵn trong sổ tay phóng viên, là người lính có gương mặt nhợt nhạt, nhẵn nhụi ở bức ảnh đính trong tủ áo của Catherine. Phim chuyển đột ngột sang một trận càn: những lính Mỹ kêu cứu với vết thương mở toang hoác. Tiếp đó là cảnh xác du kích, xác đàn bà trẻ con nằm tráo đầu bên bìa một ngôi làng Việt Nam ngùn ngụt cháy. Thế rồi, cũng đột ngột như khi bắt đầu, cuộn phim tắt phụp và máy chiếu dừng lại.
*
Mỵ ngồi bệt giữa sân chan chứa ánh trăng. Cánh đồng cỏ chung quanh im lìm nhuộm sắc vàng cháy. Bốn con chó liếm tay Mỵ trong khi cô lắng chờ dấu hiệu từ thăm thẳm lòng đất. Sau cái cựa mình tỉnh giấc ban chiều, đường đứt gãy San Andreas có thể phát đi dư chấn bất cứ lúc nào.
Đây là hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc biệt hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930-3/2/2030) và tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.
Thông qua các tác phẩm nghệ thuật, chương trình tái hiện những mốc son lịch sử vẻ vang của Đảng và hình tượng Bác Hồ vĩ đại, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Đồng thời là dịp để các thế hệ người Việt Nam, nhất là thanh thiếu niên, ôn lại hành trình 100 năm đấu tranh, xây dựng và trưởng thành của Đảng, từ đó ra sức học tập, lao động, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Chương trình gồm các ca khúc và kịch ngắn ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chương trình gồm các ca khúc ca ngợi Bác Hồ với sự tham gia của các nghệ sĩ, ca sĩ nổi tiếng đến từ Nhà hát Ca Múa Nhạc Quốc gia Việt Nam. Đặc biệt là chùm kịch ngắn về hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm các vở: “Chuyện nhà chị Tín” (Tác giả: Lê Trinh – Đạo diễn: NSƯT Mai Nguyên), “Miền Nam trong trái tim Bác” (Tác giả: Lý Nguyên Anh – Đạo diễn: NSƯT Mai Nguyên) với sự tham gia biểu diễn của gần 50 nghệ sĩ Nhà Hát kịch Việt Nam.
Tại tỉnh Cao Bằng, vào 20h ngày 17/5/2026 chương trình được tổ chức miễn phí tại xã Trường Hà, nơi có Khu Di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó – nơi cách đây 85 năm Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Vào 20h ngày 18 và 19/5/2026 sẽ biểu diễn miễn phí tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Cao Bằng (Khu trung tâm hành chính tỉnh, phường Thục Phán, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).
Theo Ban Tổ chức, chương trình dự kiến sẽ tiếp tục được triển khai với 24 buổi diễn miễn phí tại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Hà Nội phục vụ du khách trong và ngoài nước dịp 2/9/2026; 19/5/2027 và 2/9/2027 khi tham quan Lăng Bác – Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch – Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tác giả Phạm Hồng Điệp (giữa) tặng sách cho phòng đọc xã Vinh Bảo – Hải Phòng.
Theo tinh thần “văn học xanh”, tác phẩm có thể được nhìn qua năm lớp tư tưởng lớn:
Thứ nhất, thiên nhiên không còn là phông nền — mà là chủ thể sống. Trong nhiều tác phẩm văn học cũ, sông nước hay rừng núi chỉ là bối cảnh cho con người xuất hiện. Nhưng trong “Cuộc phiêu du của Chép Hồng”, thế giới nước được xây dựng như một xã hội thực sự có quy luật sinh tồn, có ký ức, có đau thương, có xung đột và có sự tái sinh. Điều này rất gần với tư tưởng sinh thái hiện đại của thế giới rằng “Con người không đứng trên thiên nhiên, mà chỉ là một phần của hệ sinh thái”. Đó chính là nền móng của “văn học xanh”.
Thứ hai, dòng nước là biểu tượng của văn minh và vận mệnh dân tộc. Nếu đọc sâu, sẽ thấy “nước” trong tác phẩm không chỉ là môi trường sinh học. “Nước” ở đây còn là dòng chảy lịch sử, dòng chảy văn hóa và dòng chảy phát triển của xã hội Việt Nam hiện đại. Chép Hồng đi qua vùng nước sạch, vùng ô nhiễm, nơi bình yên, nơi hỗn loạn… Điều này phản chiếu hành trình phát triển của xã hội hiện đại là tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi “Con người sẽ đi tới đâu nếu đánh mất sự cân bằng sinh thái?”. Đây chính là chiều sâu tư tưởng làm nên giá trị của tác phẩm.
Thứ ba, “Cá chép hóa rồng” được chuyển hóa thành triết lý phát triển xanh. Trong văn hóa Á Đông, cá chép vượt vũ môn hóa rồng là biểu tượng của thành công. Nhưng ở “Chép Hồng”, sự “hóa rồng” không nằm ở quyền lực hay thống trị mà nằm ở khả năng thích nghi, sự tử tế với môi trường sống và tinh thần vượt lên nghịch cảnh mà không phá hủy tự nhiên. Đây là một tư duy rất hiện đại, khác với mô hình phát triển cũ là tăng trưởng bằng mọi giá. Tác phẩm ngầm đặt ra một thông điệp rằng phát triển thật sự phải là phát triển cùng thiên nhiên. Đó cũng là cốt lõi của ESG và kinh tế tuần hoàn.
Thứ tư, văn học xanh trong tác phẩm không bi lụy mà mang tinh thần chữa lành. Nhiều tác phẩm sinh thái trên thế giới thường mang màu sắc cảnh báo hoặc tận thế. Nhưng “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” lại khác, tác phẩm không gieo tuyệt vọng. Ngược lại, nó tạo cảm giác mềm mại, nhân hậu, có hy vọng và tin vào khả năng tái sinh của sự sống. Đây là điểm rất Việt Nam. Tinh thần ấy giống triết lý “thuận thiên”, “sống cùng tự nhiên” và “lấy nhân hòa nuôi sinh khí”. Vì vậy tác phẩm mang màu sắc phương Đông rõ rệt.
Thứ năm, “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” không chỉ là văn học thiếu nhi mà là một “ẩn dụ xanh” cho thời đại. Nhiều người có thể đọc tác phẩm như truyện đồng thoại, nhưng nếu đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, khủng hoảng sinh thái toàn cầu, chuyển đổi xanh và net-zero carbon thì “Chép Hồng” thực chất là một biểu tượng của thời đại mới. Một sinh thể nhỏ bé đi tìm nơi nước lành cũng giống nhân loại hôm nay đi tìm mô hình phát triển bền vững. Đó là lý do tác phẩm có giá trị vượt ra ngoài phạm vi văn học giải trí thông thường.
Nếu cô đọng lại bằng tinh thần của “học thuyết văn học xanh”, có thể bình luận rằng, “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” là một bản du ca sinh thái của thời đại mới – nơi dòng nước trở thành ký ức văn hóa, thiên nhiên trở thành chủ thể sống, và hành trình của cá chép chính là hành trình con người đi tìm sự phát triển hài hòa giữa khát vọng vươn lên và trách nhiệm gìn giữ Trái đất”.
Ở Trong thanh lặng, chủ thể thơ luôn nhắc đến chữ tình nhưng không lụy tình. Chữ tình của Nam Thanh bao chứa những cung bậc tình cảm con người với thiên nhiên, là những tương tác quyện hòa trong cái nhìn về sự dịch chuyển của mùa, của năm tháng đời người. Nếu thiên nhiên – lịch bốn mùa là vòng quay của thời gian thì mùa Trong thanh lặng là tâm trạng con người song hành ký ức và hiện tại: “Tháng tư chuyển mùa bằng cơn mưa nổ vang sấm chớp/ Choàng vỡ giấc mộng đắm chìm của người đàn bà mất ngủ đêm đêm/ Tháng tư môi dậy đỏ sắc loa kèn/ Gió thoảng hơi đàn ông xanh cây cỏ” (Tiếng sấm chuyển mùa). Nhà thơ như thấu hiểu nửa đời đã qua “bao khúc buồn vui” của người đàn bà, nhân vật trữ tình bỗng một thoáng bối rối khi “một sớm mai gặp mùa xuân trở lại”. Từ một loài hoa gợi nhớ heo may: “Ánh mắt đầy vơi mùa thu về đâu/ Em mơ gì mà nở ra mùa hoa cúc/ Hoa nghĩ gì mà mùi hương day dứt/ Trở trăn thơm trong hơi thở tháng ngày”. Không chỉ gợi mùa hoa cúc mà vượt biên độ, đa nghĩa hơn hóa thành “mùa nhớ”. Không phải ngẫu nhiên hay bắt gặp trong thơ Nam Thanh tâm trạng hoài niệm “Lòng sống dậy khoảnh khắc ngày xa cũ”…“Nỗi nhớ ai khêu lên ngọn lửa”… những thoáng gợi mà lay động.
Trong thơ Nam Thanh, thiên nhiên cũng là thực thể có sự sống, có linh hồn như người bạn chia sẻ nỗi niềm, các trạng thái buồn vui của con người. Nhưng thiên nhiên trong cảm hứng của nhà thơ không chỉ là sự miêu tả, mang tính bao quát mà là sự cảm thấu cụ thể, được chắt lọc qua những quan sát và chiêm nghiệm của một người thơ từng trải, biết nghe tiếng nói của các loài hoa và hương sắc đặc trưng của mỗi loài. Trong đó, hoa sen dường như được nhà thơ ưu ái hơn với chùm bài: Khúc ca hoa sen, Sen hay em đến cầm tay, Đời sen, Cõi sen và đọng lại là Tình sen, với tầng nấc tình cảm cứ dần đẩy cao lên đến lúc sen hóa vào em: “Ai dâng tình sen lên đôi má/ Ai nhập hồn sen vào đôi môi/ Ai đưa buồn vui sen lên đôi mắt/ Ai đem hương sen nuôi dài mái tóc/ Mùa đã về tình em có như sen?”. Đây là chùm sen ấn tượng bởi giọng trầm tư, triết lý, bởi hình ảnh sen mang vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người nữ, ở sự hóa thân từ “em trong anh mềm mại dáng sen” đến “Hương sen thơm cả ngoài cõi nhân gian”…

Tập thơ “Trong thanh lặng” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Nam Thanh.
Với Trong thanh lặng, người đọc như cùng nhà thơ bước vào khu vườn thiên nhiên đa dạng các chủng loại hoa. Hoa ban ngày xưa độc vị ở miền núi Tây Bắc, giờ tràn xuống miền xuôi, màu hoa ban về phố ngả sang tím hồng lan tỏa niềm vui đến với người đô thị. Rồi hoa sưa với màu trắng độc lạ riêng có. không thôi ám ảnh khiến người viết thăng hoa tung ra những câu thơ biến ảo: “Tháng ba lấy gió làm ngọn bút/ Anh viết câu thơ gửi mây trời/ Nhớ em nhớ chất đầy năm tháng / Anh gửi vào trời đất có vơi?…/ Cả một trời hoa sưa bay trong mắt/ Đợi người bao năm hoa vẫn bay” (Hoa vẫn đợi em).
Thơ Nam Thanh có sự chùng chình, nhòe mờ giữa quá khứ và hiện tại. Nhân vật trữ tình em hay anh không định vị, cũng như không soi chiếu vào chất liệu cái tôi mà nó tự thân đến và đi, vừa thực cảnh lại vừa ảo giác: “Anh xa quê tóc trên đầu đã ngả/ Vẫn lửa gạo chập chờn trong giấc mơ đêm/… Những cây gạo vừa bay nhảy cạnh triền đê/ Đã biến thành dòng sông hoa nở” (Dòng sông hoa nở). Ở phía người con gái: “Trên môi em chập chờn mùa hoa phượng/ Mắt chớp dao cau không cắt được nỗi buồn thăm thẳm tự ngàn năm/ Vòm cây nào tiếng ve ngơ ngác xanh/ Bước chân ai chấp chới vào mùa thiếu nữ” (Phượng hát).
Những “giấc mơ hoa”, những “chiều dã quỳ”, hay bông quỳnh buông sắc trắng trong đêm, rồi những hoa đỗ quyên, hoa ngâu… Hoa là biểu tượng của vẻ đẹp thiên nhiên, nơi “kiếp hoa” cũng gắn với phận người, và hoa trong tư duy sáng tạo của nhà thơ đã mang ý nghĩa kép: “Bao phận người đánh đổi lấy phận hoa/ Chờ cả kiếp hoa/ biết có ngày gặp mặt?/Mong manh kiếp hoa! Dâu bể phận người”… (Kiếp hoa). Có thể bởi những giăng mắc ấy nên không phải bỗng dưng người làm thơ thường có những ý thơ tương phản “Chia tay là để mãi mãi còn nhau”, “Nụ cười hạnh phúc phút lìa xa”, “Cây bừng nở một mùa hoa đớn đau rực rỡ”…
Có thể cảm nhận cách nhìn cuộc đời của nhà thơ không đơn sắc một màu mà muôn màu, đa sắc khi đứng trước một “siêu thị” hoa: “Tôi thảng thốt trước màu vàng hoa hoàng lan, hoa cúc/ Lại sửng sốt trước chùm chùm sắc vàng hoa lá ngón đung đưa/ Những đóa hồng dịu dàng thơm bên hoa xương rồng khoe sắc/ Bông trúc đào mềm mại hồng tươi gợi nhớ môi thiếu nữ trăng tròn/ Có bông hoa mở đóng cánh ăn ong bướm côn trùng/ Hoa “ăn thịt” như bao người thường gọi” (Tiếng đất) Trong cái nhìn của nhà thơ, thế giới con người hay thế giới thiên nhiên luôn vận động, biến đổi, vừa cân đối hài hòa, vừa đối lập, tương phản, vừa rực rỡ, vừa úa tàn, vừa tin yêu, vừa âu lo: “Tôi thở giữa muôn sắc hương trời đất/ Nghe cây lá lặng yên mà đang cất nên lời. Hoa bừng thắm nhắc ai đừng quên lãng/ Bao vẻ đẹp hương thơm tàn độc ở trên đời” (Tiếng đất).
Sau cảm hứng về hương sắc tình hoa, Trong thanh lặng lại âm vang tình đất tình đời. Ở đây người thơ đã phóng chiếu xa hơn tầm nhìn của mình về cảnh quan, đất nước. Trong sáng tác văn học, đặc biệt với thơ, dường như việc miêu tả một phong cảnh, một địa điểm, vùng miền cũng thể hiện những cung bậc tình cảm để kiến tạo diện mạo tâm hồn của kẻ sáng tạo. Người đọc nhận ra những tên đất, tên làng, những địa điểm du lịch, những chứng tích lịch sử, văn hóa ít nhiều đều mang tâm thức sinh thái, in dấu ấn thiên nhiên, môi trường đồng vọng với cảm xúc, với tiếng nói bên trong của tác giả. Từ “trời biển Cà Mau”, người thơ như hòa vào cảnh quan của lớp người đi mở đất: “Những cây đước cây tràm mọc lên bao xóm thôn/ Hóa thân của bao kiếp người đi mở đất/ Những cuộc đời dạt xô trong sóng nước/ Nghe thấy trong đước tràm tiếng nói một làng quê” (Trời biển Cà Mau).
Đi về phía biển, nhà thơ gặp Côn Đảo với dãy bàng trăm tuổi rễ ăn vào những mất mát buồn đau, đến sa mạc cát miền trung trải ngàn năm “cát vẫn cát mà xương rồng thành thanh long dịu mát”. Lên Tuyên Quang miền gái đẹp, tác giả bắt gặp một không gian xanh bạt ngàn “những đồi chè xòe ô trong nắng/ Hàng cọ buông những chấm xanh”… Người đọc nhận ra trong thơ Nam Thanh, cảnh quan không đơn thuần là “thế giới chúng ta nhìn thấy mà còn là sự kiến tạo, sự cấu thành của thế giới đó”: “Đôi tay em làm gốm và dệt vải/ Nghìn năm sống lại/ Trong sắc gốm Chăm trong thổ cẩm Chăm/ Hồn Chăm thở trong mỗi nét hoa văn” (Vẻ đẹp Chăm). Là “vòng xoang” nơi đại ngàn Tây Nguyên lưu giữ di sản văn hóa bản địa, được diễn tả qua những câu thơ ám thị, đầy gợi cảm: “Mắt tìm mắt, tay nối tay rộng mở vòng xoang/ Bao bầu vú tung tẩy theo nhịp chân điệu múa/ Tiếng trống gõ trong tim ngân rung từng nhịp thở /Quấn quýt tình người tình cây trái đất đai” (Vòng xoang Tây Nguyên). Từ cao nguyên đá Hà Giang, “Anh lạc xuống nương lanh xanh ngắt một màu/ Váy thổ cẩm phơi tươi bờ rào đá” người làm thơ vẫn luôn nhớ về phương nam, nhớ hình ảnh người con gái Nam bộ “nơi miệt vườn trĩu trịt tiếng chim/ Nơi gió sương ngậm hương trái chín/ Tình đất tình em ủ ấp bao mưa nắng/ Nở ra mùa trái ngọt bông thơm” (Người con gái đất phương Nam).
Trong tư duy sáng tạo của mình, Nam Thanh luôn tìm thấy sự tương quan, giao hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa tình hoa, tình đất, tình đời mang ý nghĩa nhân văn. Những hình ảnh của thiên nhiên đất nước vào thơ anh một cách tự nhiên. Anh luôn có ý thức thiết tạo tứ thơ và thi ảnh từ toàn cảnh đến cận cảnh, từ ngoại cảnh đến tâm cảnh, khéo léo tạo đối sánh một cách lạ, riêng có nơi anh: “Ai làm ra phép lạ/ Núi già thành núi non/ Cổ thụ bàng hoàng xanh/ Khi nhận ra vẻ đẹp của em” (Vòng xoang Tây Nguyên). Với Nam Thanh, thiên nhiên từ hoa lá, cỏ cây đến sông nước trời mây đều là những sinh thể sống động tồn tại ngang bằng với con người: “Hoa thỏ thẻ điều gì với nắng/Nắng thầm thì gì với gió mây/ Mà tiếng chim hót trắng rừng cây/..Rồi em tới bất ngờ như gió tới/ lướt như bay sợ đau nhánh cỏ gầy” (Giấc mơ hoa). Trong cách diễn đạt của Nam Thanh, anh tỏ ra đắc địa trong sử dụng các động từ với cách thức nhân hóa khiến câu thơ có hồn vía đầy sống động.
Với Trong thanh lặng, tôi đã đọc và cảm nhận thơ anh theo cách của người tiếp nhận, nghĩa là nhà sáng tác và người tiếp nhận có thể đối thoại với nhau. Qua nhan đề tập thơ, những tưởng thơ anh sẽ êm đềm “trong thanh lặng”, nhưng không, thơ anh cũng “tới bến” trong tình ý, trong cái nhìn thiên nhiên, cuộc sống và con người theo cách của mình, tĩnh mà động và điều đáng nói là “mang màu cờ sắc áo” của riêng anh, tạo được trường liên tưởng với người đọc…
Ở Trong thanh lặng, chủ thể thơ luôn nhắc đến chữ tình nhưng không lụy tình. Chữ tình của Nam Thanh bao chứa những cung bậc tình cảm con người với thiên nhiên, là những tương tác quyện hòa trong cái nhìn về sự dịch chuyển của mùa, của năm tháng đời người. Nếu thiên nhiên – lịch bốn mùa là vòng quay của thời gian thì mùa Trong thanh lặng là tâm trạng con người song hành ký ức và hiện tại: “Tháng tư chuyển mùa bằng cơn mưa nổ vang sấm chớp/ Choàng vỡ giấc mộng đắm chìm của người đàn bà mất ngủ đêm đêm/ Tháng tư môi dậy đỏ sắc loa kèn/ Gió thoảng hơi đàn ông xanh cây cỏ” (Tiếng sấm chuyển mùa). Nhà thơ như thấu hiểu nửa đời đã qua “bao khúc buồn vui” của người đàn bà, nhân vật trữ tình bỗng một thoáng bối rối khi “một sớm mai gặp mùa xuân trở lại”. Từ một loài hoa gợi nhớ heo may: “Ánh mắt đầy vơi mùa thu về đâu/ Em mơ gì mà nở ra mùa hoa cúc/ Hoa nghĩ gì mà mùi hương day dứt/ Trở trăn thơm trong hơi thở tháng ngày”. Không chỉ gợi mùa hoa cúc mà vượt biên độ, đa nghĩa hơn hóa thành “mùa nhớ”. Không phải ngẫu nhiên hay bắt gặp trong thơ Nam Thanh tâm trạng hoài niệm “Lòng sống dậy khoảnh khắc ngày xa cũ”…“Nỗi nhớ ai khêu lên ngọn lửa”… những thoáng gợi mà lay động.
Trong thơ Nam Thanh, thiên nhiên cũng là thực thể có sự sống, có linh hồn như người bạn chia sẻ nỗi niềm, các trạng thái buồn vui của con người. Nhưng thiên nhiên trong cảm hứng của nhà thơ không chỉ là sự miêu tả, mang tính bao quát mà là sự cảm thấu cụ thể, được chắt lọc qua những quan sát và chiêm nghiệm của một người thơ từng trải, biết nghe tiếng nói của các loài hoa và hương sắc đặc trưng của mỗi loài. Trong đó, hoa sen dường như được nhà thơ ưu ái hơn với chùm bài: Khúc ca hoa sen, Sen hay em đến cầm tay, Đời sen, Cõi sen và đọng lại là Tình sen, với tầng nấc tình cảm cứ dần đẩy cao lên đến lúc sen hóa vào em: “Ai dâng tình sen lên đôi má/ Ai nhập hồn sen vào đôi môi/ Ai đưa buồn vui sen lên đôi mắt/ Ai đem hương sen nuôi dài mái tóc/ Mùa đã về tình em có như sen?”. Đây là chùm sen ấn tượng bởi giọng trầm tư, triết lý, bởi hình ảnh sen mang vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người nữ, ở sự hóa thân từ “em trong anh mềm mại dáng sen” đến “Hương sen thơm cả ngoài cõi nhân gian”…

Tập thơ “Trong thanh lặng” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Nam Thanh.
Với Trong thanh lặng, người đọc như cùng nhà thơ bước vào khu vườn thiên nhiên đa dạng các chủng loại hoa. Hoa ban ngày xưa độc vị ở miền núi Tây Bắc, giờ tràn xuống miền xuôi, màu hoa ban về phố ngả sang tím hồng lan tỏa niềm vui đến với người đô thị. Rồi hoa sưa với màu trắng độc lạ riêng có. không thôi ám ảnh khiến người viết thăng hoa tung ra những câu thơ biến ảo: “Tháng ba lấy gió làm ngọn bút/ Anh viết câu thơ gửi mây trời/ Nhớ em nhớ chất đầy năm tháng / Anh gửi vào trời đất có vơi?…/ Cả một trời hoa sưa bay trong mắt/ Đợi người bao năm hoa vẫn bay” (Hoa vẫn đợi em).
Thơ Nam Thanh có sự chùng chình, nhòe mờ giữa quá khứ và hiện tại. Nhân vật trữ tình em hay anh không định vị, cũng như không soi chiếu vào chất liệu cái tôi mà nó tự thân đến và đi, vừa thực cảnh lại vừa ảo giác: “Anh xa quê tóc trên đầu đã ngả/ Vẫn lửa gạo chập chờn trong giấc mơ đêm/… Những cây gạo vừa bay nhảy cạnh triền đê/ Đã biến thành dòng sông hoa nở” (Dòng sông hoa nở). Ở phía người con gái: “Trên môi em chập chờn mùa hoa phượng/ Mắt chớp dao cau không cắt được nỗi buồn thăm thẳm tự ngàn năm/ Vòm cây nào tiếng ve ngơ ngác xanh/ Bước chân ai chấp chới vào mùa thiếu nữ” (Phượng hát).
Những “giấc mơ hoa”, những “chiều dã quỳ”, hay bông quỳnh buông sắc trắng trong đêm, rồi những hoa đỗ quyên, hoa ngâu… Hoa là biểu tượng của vẻ đẹp thiên nhiên, nơi “kiếp hoa” cũng gắn với phận người, và hoa trong tư duy sáng tạo của nhà thơ đã mang ý nghĩa kép: “Bao phận người đánh đổi lấy phận hoa/ Chờ cả kiếp hoa/ biết có ngày gặp mặt?/Mong manh kiếp hoa! Dâu bể phận người”… (Kiếp hoa). Có thể bởi những giăng mắc ấy nên không phải bỗng dưng người làm thơ thường có những ý thơ tương phản “Chia tay là để mãi mãi còn nhau”, “Nụ cười hạnh phúc phút lìa xa”, “Cây bừng nở một mùa hoa đớn đau rực rỡ”…
Có thể cảm nhận cách nhìn cuộc đời của nhà thơ không đơn sắc một màu mà muôn màu, đa sắc khi đứng trước một “siêu thị” hoa: “Tôi thảng thốt trước màu vàng hoa hoàng lan, hoa cúc/ Lại sửng sốt trước chùm chùm sắc vàng hoa lá ngón đung đưa/ Những đóa hồng dịu dàng thơm bên hoa xương rồng khoe sắc/ Bông trúc đào mềm mại hồng tươi gợi nhớ môi thiếu nữ trăng tròn/ Có bông hoa mở đóng cánh ăn ong bướm côn trùng/ Hoa “ăn thịt” như bao người thường gọi” (Tiếng đất) Trong cái nhìn của nhà thơ, thế giới con người hay thế giới thiên nhiên luôn vận động, biến đổi, vừa cân đối hài hòa, vừa đối lập, tương phản, vừa rực rỡ, vừa úa tàn, vừa tin yêu, vừa âu lo: “Tôi thở giữa muôn sắc hương trời đất/ Nghe cây lá lặng yên mà đang cất nên lời. Hoa bừng thắm nhắc ai đừng quên lãng/ Bao vẻ đẹp hương thơm tàn độc ở trên đời” (Tiếng đất).
Sau cảm hứng về hương sắc tình hoa, Trong thanh lặng lại âm vang tình đất tình đời. Ở đây người thơ đã phóng chiếu xa hơn tầm nhìn của mình về cảnh quan, đất nước. Trong sáng tác văn học, đặc biệt với thơ, dường như việc miêu tả một phong cảnh, một địa điểm, vùng miền cũng thể hiện những cung bậc tình cảm để kiến tạo diện mạo tâm hồn của kẻ sáng tạo. Người đọc nhận ra những tên đất, tên làng, những địa điểm du lịch, những chứng tích lịch sử, văn hóa ít nhiều đều mang tâm thức sinh thái, in dấu ấn thiên nhiên, môi trường đồng vọng với cảm xúc, với tiếng nói bên trong của tác giả. Từ “trời biển Cà Mau”, người thơ như hòa vào cảnh quan của lớp người đi mở đất: “Những cây đước cây tràm mọc lên bao xóm thôn/ Hóa thân của bao kiếp người đi mở đất/ Những cuộc đời dạt xô trong sóng nước/ Nghe thấy trong đước tràm tiếng nói một làng quê” (Trời biển Cà Mau).
Đi về phía biển, nhà thơ gặp Côn Đảo với dãy bàng trăm tuổi rễ ăn vào những mất mát buồn đau, đến sa mạc cát miền trung trải ngàn năm “cát vẫn cát mà xương rồng thành thanh long dịu mát”. Lên Tuyên Quang miền gái đẹp, tác giả bắt gặp một không gian xanh bạt ngàn “những đồi chè xòe ô trong nắng/ Hàng cọ buông những chấm xanh”… Người đọc nhận ra trong thơ Nam Thanh, cảnh quan không đơn thuần là “thế giới chúng ta nhìn thấy mà còn là sự kiến tạo, sự cấu thành của thế giới đó”: “Đôi tay em làm gốm và dệt vải/ Nghìn năm sống lại/ Trong sắc gốm Chăm trong thổ cẩm Chăm/ Hồn Chăm thở trong mỗi nét hoa văn” (Vẻ đẹp Chăm). Là “vòng xoang” nơi đại ngàn Tây Nguyên lưu giữ di sản văn hóa bản địa, được diễn tả qua những câu thơ ám thị, đầy gợi cảm: “Mắt tìm mắt, tay nối tay rộng mở vòng xoang/ Bao bầu vú tung tẩy theo nhịp chân điệu múa/ Tiếng trống gõ trong tim ngân rung từng nhịp thở /Quấn quýt tình người tình cây trái đất đai” (Vòng xoang Tây Nguyên). Từ cao nguyên đá Hà Giang, “Anh lạc xuống nương lanh xanh ngắt một màu/ Váy thổ cẩm phơi tươi bờ rào đá” người làm thơ vẫn luôn nhớ về phương nam, nhớ hình ảnh người con gái Nam bộ “nơi miệt vườn trĩu trịt tiếng chim/ Nơi gió sương ngậm hương trái chín/ Tình đất tình em ủ ấp bao mưa nắng/ Nở ra mùa trái ngọt bông thơm” (Người con gái đất phương Nam).
Trong tư duy sáng tạo của mình, Nam Thanh luôn tìm thấy sự tương quan, giao hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa tình hoa, tình đất, tình đời mang ý nghĩa nhân văn. Những hình ảnh của thiên nhiên đất nước vào thơ anh một cách tự nhiên. Anh luôn có ý thức thiết tạo tứ thơ và thi ảnh từ toàn cảnh đến cận cảnh, từ ngoại cảnh đến tâm cảnh, khéo léo tạo đối sánh một cách lạ, riêng có nơi anh: “Ai làm ra phép lạ/ Núi già thành núi non/ Cổ thụ bàng hoàng xanh/ Khi nhận ra vẻ đẹp của em” (Vòng xoang Tây Nguyên). Với Nam Thanh, thiên nhiên từ hoa lá, cỏ cây đến sông nước trời mây đều là những sinh thể sống động tồn tại ngang bằng với con người: “Hoa thỏ thẻ điều gì với nắng/Nắng thầm thì gì với gió mây/ Mà tiếng chim hót trắng rừng cây/..Rồi em tới bất ngờ như gió tới/ lướt như bay sợ đau nhánh cỏ gầy” (Giấc mơ hoa). Trong cách diễn đạt của Nam Thanh, anh tỏ ra đắc địa trong sử dụng các động từ với cách thức nhân hóa khiến câu thơ có hồn vía đầy sống động.
Với Trong thanh lặng, tôi đã đọc và cảm nhận thơ anh theo cách của người tiếp nhận, nghĩa là nhà sáng tác và người tiếp nhận có thể đối thoại với nhau. Qua nhan đề tập thơ, những tưởng thơ anh sẽ êm đềm “trong thanh lặng”, nhưng không, thơ anh cũng “tới bến” trong tình ý, trong cái nhìn thiên nhiên, cuộc sống và con người theo cách của mình, tĩnh mà động và điều đáng nói là “mang màu cờ sắc áo” của riêng anh, tạo được trường liên tưởng với người đọc…