Home Blog Page 77

Có gì ẩn chứa bên trong khu vườn bí mật của vua Càn Long


Khu vườn bí mật của vua Càn Long trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn khi mở cửa đón khách sau gần 100 năm đóng cửa, 25 năm trùng tu.




Nguồn: Arttimes.vn

“Người viết Quốc ca”: khi âm nhạc trở thành linh hồn dân tộc


Một chiều đầu đông Hà Nội, tôi đến rạp của Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương trên phố Hoàng Hoa Thám dự buổi công chiếu “Người viết Quốc ca”, đúng dịp kỷ niệm 102 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao (15/11). Không chỉ là một bộ phim tài liệu về một nhạc sĩ, “Người viết Quốc ca” mở ra hành trình trở về với một phần miền ký ức thiêng liêng của dân tộc. Khi màn hình tối dần và những khuôn hình đen trắng hiện lên, bộ phim dẫn dắt người xem đến câu chuyện lớn hơn quá trình sáng tác: đó là tấm lòng với Tổ quốc, nhân cách và sự dấn thân của người nhạc sĩ đã vượt qua thiếu thốn để viết nên bản “Tiến quân ca” bất tử.

Từ căn gác mùa đông ảm đạm đến bản hùng ca bất diệt

Bộ phim tài liệu Người viết Quốc ca của Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương có độ dài 115 phút do Đặng Linh làm đạo diễn. Bộ phim đưa người xem trở lại mùa đông năm 1944 – thời điểm Hà Nội chìm trong bóng tối ảm đạm, đất nước dưới ách thực dân và phát xít, nhân dân phải sống trong cảnh đói rét khắc nghiệt. Đó là giai đoạn lịch sử mà cả dân tộc như nén hơi thở, chờ ngày bùng lên ngọn lửa đấu tranh.

“Người viết Quốc ca”: khi âm nhạc trở thành linh hồn dân tộc - 1

Poster phim tài liệu “Người viết Quốc ca”.

Trong bối cảnh ấy, chàng thanh niên Văn Cao gầy gò, áo quần mỏng manh, sống trong căn gác nhỏ số 45 Nguyễn Thượng Hiền đã viết nên bài Tiến quân ca. Không ở chiến khu, không quân phục, không tiếng súng nổ hay khói lửa chiến hào; chỉ có những bước chân lang thang trên phố Ga, Hàng Bông, Bờ Hồ – giữa những ngày đói lạnh co ro, nhưng trong ông luôn âm ỉ một ngọn lửa không bao giờ tắt: khát vọng độc lập và tình yêu vô bờ bến dành cho dân tộc.

Đạo diễn Đặng Linh đã tái hiện những tháng ngày ấy bằng hình ảnh vừa chân thật, vừa xót xa: cái lạnh cắt da cắt thịt, cái đói đeo bám từng hơi thở, ánh đèn dầu leo lét trong căn gác nhỏ, và tiếng bước chân lẻ loi của người nghệ sĩ trẻ đang đi tìm âm thanh của thời đại mình. Từ những khắc nghiệt đó, giai điệu “Đoàn quân Việt Nam đi…” bật lên rắn rỏi, sáng rực như một đường chỉ đỏ xuyên qua bóng tối, mở đầu cho một bản hùng ca mà dân tộc sẽ hát suốt  nhiều thập kỷ sau.

Không phải ai cũng có thể viết được một bài hát đi vào lịch sử. Và càng không ai có thể viết nó trong cảnh thiếu thốn, ngay bên bờ vực sống còn của dân tộc. Văn Cao đã làm điều đó – bằng trái tim, bằng lý tưởng và nhân cách của người nghệ sĩ đứng về phía nhân dân.

Nước ta những năm 1944 -1945 oằn mình dưới ách thống trị của phát xít Nhật và thực dân Pháp, rồi nạn đói khủng khiếp đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu đồng bào. Trong những ngày lang thang qua các phố phường Hà Nội, Văn Cao chứng kiến từng người dân đói lả bên vỉa hè, những phu mỏ trần trụi dưới hầm than, những số phận khổ cực đến tận cùng. Tất cả dồn nén trong ông thành một nhu cầu thiêng liêng: “phải làm điều gì đó cho Tổ quốc”.

Ông từng muốn cầm súng, nhưng cách mạng đã trao cho ông một “vũ khí” khác: cây bút và những khuông nhạc. Và chính từ đó, Tiến quân ca ra đời – mang sức mạnh như một lời hiệu triệu, hòa vào khí thế sục sôi của cao trào cách mạng.

“Người viết Quốc ca”: khi âm nhạc trở thành linh hồn dân tộc - 2

Hình ảnh trong phim.

Khi Quốc ca trở thành lời hiệu triệu thiêng liêng

Bộ phim không chỉ kể về sự ra đời của Quốc ca, mà còn khắc họa sức sống bền bỉ của nó. Từ những ngày khởi nghĩa giành chính quyền, đến khoảnh khắc 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình, rồi theo bước chân quân dân Việt Nam suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ, giai điệu ấy luôn hiện diện.

Đó là tiếng hát của những đội quân áo vải tiến vào Bắc Bộ Phủ. Là âm thanh ngân vang khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Là nhịp điệu làm rung chuyển những cuộc mít-tinh lớn sau ngày toàn thắng. Là giai điệu cất lên trong mỗi lễ chào cờ, trong sân trường, trong cơ quan. Là tiếng hát khiến hàng triệu trái tim Việt Nam vỡ òa xúc động tự hào.

Một nhân chứng kể lại bằng giọng nghẹn ngào: “Ngày 19/8/1945, khi nghe Tiến quân ca, tôi biết dân tộc đã bước sang một kỷ nguyên mới. Khi ấy, đó không còn là bài hát nữa – mà là lời gọi đứng dậy”. Quả thật, mỗi lời ca của Tiến quân ca phản ánh lịch sử, nhân phẩm và niềm tin bất diệt về một Việt Nam vững bền.

Bộ phim khiến người xem suy nghĩ sâu sắc: trong một thế giới đầy biến động, xô lệch, đôi khi làm ta quên mất cội nguồn, Tiến quân ca chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất. Mỗi lần Quốc ca vang lên, ta như được nhắc nhớ rằng mình thuộc về một dân tộc kiên cường; được tiếp thêm sức mạnh và ý chí; được chạm vào linh hồn Việt Nam – linh hồn đã dìu dắt chúng ta đi qua chiến tranh, đói nghèo, thiên tai và muôn vàn thử thách. Và trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, ta cũng được nhắc về trách nhiệm của chính mình đối với Tổ quốc.

Quốc ca, vì thế, không chỉ là một nghi lễ, Quốc ca là danh dự, là lòng tự tôn của cả một dân tộc.

“Người viết Quốc ca”: khi âm nhạc trở thành linh hồn dân tộc - 3

Hình ảnh trong phim.

Tri ân người nhạc sĩ đã hiến trọn đời mình cho Tổ quốc

Nhìn lại di sản âm nhạc của Văn Cao, ta thấy một hành trình dài của người nghệ sĩ chân chính. Các tác phẩm như Tiến quân ca, Sông Lô, Ngày mùa, đến Mùa xuân đầu tiên… – tất cả đều mang dấu ấn của tấm lòng dành trọn cho nhân dân và đất nước. Ông gửi trọn quan niệm sống và cốt cách của mình vào từng giai điệu, từng câu chữ. Ông dấn thân vào những nhọc nhằn của thời cuộc để “moi ra cái đẹp từ nỗi đau”, để tìm cho được khí phách của dân tộc ngay giữa những ngày tăm tối nhất.

Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài. Ngoài nhạc, ông còn sáng tác thơ, viết văn, vẽ tranh…

Điều lớn nhất ông để lại, không phải là những tấm huân chương – dù ông được trao Huân chương Độc lập hạng Nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật và truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Mà phần thưởng lớn nhất là tình cảm của nhân dân dành cho ông và những tác phẩm sống mãi với thời gian của ông.

Phim dành một phần xúc động để nhắc đến tình cảm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho nhạc sĩ Văn Cao, kèm dòng chữ đầy trân trọng trên Huân chương Kháng chiến: “Tặng nhạc sĩ Văn Cao – nhạc sĩ có tài, có công sáng tác bài Tiến quân ca”.

“Đó là niềm vinh dự lớn lao dành cho một con người luôn sống khiêm nhường, lặng lẽ, nhưng đầy tự trọng và trách nhiệm. Đó cũng chính là giá trị vĩnh cửu của một tác phẩm lớn và một tài năng lớn: dẫu trải qua bao biến động và khắc nghiệt của thời cuộc, giá trị thật của nó vẫn được khẳng định. Tác phẩm được nhân dân đón nhận, nâng niu trong trái tim và ý thức của mình và chắc chắn sẽ còn mãi như bản quốc ca thiêng liêng của dân tộc Việt Nam” – Nhà thơ Bằng Việt chia sẻ khi tham dự buổi công chiếu bộ phim..

“Người viết Quốc ca”: khi âm nhạc trở thành linh hồn dân tộc - 4

Hình ảnh trong phim.

Người viết Quốc ca khép lại trong sự lặng đi của khán phòng. Bộ phim không chỉ kể về Văn Cao, mà nhắc chúng ta về những giá trị bền lâu và những con người dù đã khuất vẫn sống trong di sản họ để lại. Qua hành trình đầy thiếu thốn và biến cố, nhạc sĩ Văn Cao đã trao cho dân tộc món quà thiêng liêng nhất: bản Tiến quân ca – tài sản tinh thần của cả dân tộc.

Bước ra khỏi rạp, giữa cái lạnh đầu đông, tôi mang theo cảm xúc ấm áp của lòng biết ơn: với Văn Cao, với gia đình ông, với ê-kíp làm phim đã kể lại câu chuyện bằng sự trân trọng và tâm huyết, và với những người vẫn hát Quốc ca bằng cả trái tim. 

Tiến quân ca – Quốc ca vẫn vang lên trong lễ chào cờ, trong những thời khắc trọng đại và trong trái tim mỗi người Việt. Chỉ cần Quốc ca còn cất lên, chúng ta còn nghe thấy sức mạnh và sự trường tồn của dân tộc.

Hiện Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương vẫn đang tổ chức một số buổi chiếu miễn phí vào cửa – không phải đặt chỗ trước 465, Hoàng Hoa Thám, Hà Nội.

Tuệ Nhã




Nguồn: Arttimes.vn

Tìm kiếm ý tưởng thiết kế mẫu Nhà ở xã hội – Hướng tới giải pháp bền vững


Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo kết luận số 120/TB – VPCP ngày 18/03/2025, Cuộc thi “Ý tưởng thiết kế mẫu Nhà ở xã hội – Hướng tới giải pháp bền vững” được Bộ Xây dựng chỉ đạo, Hội Kiến trúc sư Việt Nam chủ trì tổ chức, Tạp chí Kiến trúc thực hiện nhằm tìm kiếm, lựa chọn các ý tưởng thiết kế mẫu nhà ở xã hội với các giải pháp ưu tiên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thích dụng và kinh tế, phù hợp với thể loại nhà ở xã hội.

Cuộc thi hướng tới các mục tiêu cụ thể là:

Tìm kiếm ý tưởng thiết kế, đề xuất mẫu thiết kế điển hình: Cuộc thi nhằm tìm kiếm các ý tưởng thiết kế, làm cơ sở nghiên cứu, hình thành các mẫu thiết kế điển hình với đơn vị thành phần là các căn hộ ở, có khả năng linh hoạt trong sắp xếp tổ hợp thành đơn nguyên nhà ở, nhóm nhà ở, cụm nhà ở, khu nhà ở, khu đô thị;

Thúc đẩy công nghiệp hóa xây dựng: Với sự tham gia, phối hợp của các bên: Kiến trúc sư, đơn vị tư vấn, chủ đầu tư, nhà phát triển dự án, nhà thầu thi công, nhà sản xuất vật liệu, nghiên cứu công nghệ… trong việc đề xuất các ý tưởng, giải pháp thiết kế mẫu nhà ở xã hội từ thiết kế dạng căn hộ ở đến trang thiết bị nội thất… – Hướng tới thúc đẩy công nghiệp hóa, xây dựng hàng loạt theo module, thi công nhanh, giảm giá thành;

Đáp ứng yêu cầu về công năng và bản sắc, hiện đại: Khuyến khích đề xuất các phương án thiết kế đáp ứng linh hoạt yêu cầu về công năng; hiện đại, tiện nghi, hình thái kiến trúc phù hợp với bản sắc văn hóa địa phương, thích ứng với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng vùng miền, đồng thời có khả năng đáp ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai…;

Hướng tới các giải pháp phát triển bền vững: Các phương án có tính khả thi, ứng dụng hiệu quả các công nghệ – giải pháp xanh, giảm giá thành, giảm thời gian thiết kế – xây dựng, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững theo hướng điển hình hóa, mô đun hóa của thể loại nhà ở xã hội tại Việt Nam.

Tìm kiếm ý tưởng thiết kế mẫu Nhà ở xã hội – Hướng tới giải pháp bền vững - 1

Ban Tổ chức nhận bài dự thi trước 17h00 ngày 31/10/2025.

Về yêu cầu của cuộc thi, các ý tưởng thiết kế kiến trúc thể loại nhà ở xã hội, có tính khả thi, hướng tới hình thành các mẫu thiết kế điển hình, có khả năng ghép linh hoạt theo mô đun, công nghiệp hóa xây dựng hàng loạt, và có tính ứng dụng cao để nhân rộng tại nhiều địa phương. Các phương án phải đáp ứng yêu cầu về công năng, hình thái kiến trúc phù hợp bản sắc văn hóa, khí hậu vùng miền, đồng thời đảm bảo tính khả thi, ứng dụng giải pháp xanh, giảm giá thành và thời gian xây dựng.

Đây là nhiệm vụ thiết kế mở, khuyến khích ý tưởng sáng tạo đóng góp cho sự phát triển bền vững của nhà ở xã hội tại Việt Nam. Các ý tưởng được trao giải sẽ là cơ sở để Bộ Xây dựng tiếp tục nghiên cứu, triển khai bước thiết kế mẫu, thiết kế điển hình, áp dụng phổ biến rộng rãi tại các địa phương qua đó cắt giảm thủ tục hành chính cấp phép xây dựng, tiết kiệm thời gian, chi phí nhằm sớm đưa dự án vào triển khai thi công– Thực hiện theo Điều 3, khoản 7 Nghị quyết số 201/2025/QH 15 ngày 29/5/2025 thí điểm về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội.

Cuộc thi dành cho các kiến trúc sư, tổ chức tư vấn, chủ đầu tư, nhà phát triển dự án, nhà thầu, nhà sản xuất vật liệu… trong nước và quốc tế. Có thể tham gia cá nhân, tổ chức hoặc liên danh. Không giới hạn số lượng phương án dự thi.

Loại hình và yêu cầu: Nhà chung cư, nhà thấp tầng, nhà ở riêng lẻ, được phát triển dưới các hình thức bán, cho thuê hoặc thuê mua với mục tiêu cung cấp chỗ ở ổn định cho các đối tượng ưu tiên và thu nhập thấp, đồng thời nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách đặc thù. Thiết kế linh hoạt, module, tiện nghi – tiết kiệm – thích ứng khí hậu. Áp dụng giải pháp xanh, vật liệu bền vững, đảm bảo PCCC, tiết kiệm năng lượng. Đề xuất quy hoạch tổng thể, không gian công cộng, cảnh quan hài hòa.

Ban Tổ chức không giới hạn các nội dung minh hoạ cho phương án dự thi. Ngôn ngữ sử dụng trong toàn bộ sản phẩm dự thi và các bản thuyết minh là: Tiếng Việt hoặc song ngữ Anh – Việt; các ngôn ngữ khác không được sử dụng trong việc thể hiện trên bất kỳ bản vẽ hay thuyết minh nào. Đơn vị đo lường độ dài trong bản vẽ: Dùng hệ mét; kích thước cho bản vẽ quy hoạch tổng mặt bằng lấy đơn vị là mét (m) hoặc hecta (ha), kích thước cho bản vẽ kiến trúc lấy đơn vị là milimet (mm). Sử dụng các ký hiệu màu sắc theo quy ước của bản vẽ thiết kế kiến trúc. Hình thức thể hiện: Tuân thủ quy tắc ẩn danh quy định.

Nội dung của sản phẩm dự thi gồm: Hồ sơ bản vẽ; Thuyết minh ý tưởng; Dự toán chi phí xây dựng mẫu điển hình; Phim/video, mô hình (khuyến khích).

Tổng giá trị Giải thưởng lên tới 1.000.000.000 đồng, số lượng Giải thưởng do Hội đồng thi tuyển quyết định theo kết quả đánh giá phương án dự thi.

Ban Tổ chức nhận bài dự thi trước 17h00 ngày 31/10/2025.

Thông tin chi tiết về cuộc thi xem tại: Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam.

Bài thi nộp đồng thời theo hình thức trực tiếp và trực tuyến:

+ Nộp bài thi trực tiếp:

Tên người nhận: ThS.KTS Nguyễn Ánh Dương

ĐT: 024 3934 0262 – DĐ: 0916 555 198 – Email: duong@tckt.vn

Địa chỉ: Tạp chí Kiến trúc, Hội KTS Việt Nam, 40 Tăng Bạt Hổ, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

+ Nộp bài thi trực tuyến: Theo hướng dẫn tại đường link: cuocthi.tckt.vn/2025thietkeNOXH

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Hoạt động sáng tác và quảng bá văn học trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư


Văn học nghệ thuật Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất đã phát triển theo hướng đa dạng hóa, toàn cầu hóa, vừa kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, vừa không ngừng tiếp thu tinh hoa nhân loại. Trong bối cảnh mới, yêu cầu phát triển càng đặt ra những đòi hỏi gắt gao hơn. Bài viết tập trung phân tích những cơ hội và thách thức đối với hoạt động sáng tác và quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới cũng như việc tiếp thu tinh hoa nhân loại trong điều kiện của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – đưa nhân loại bước vào một kỷ nguyên mới

Thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư (công nghiệp 4.0) đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của nhân loại với sự bùng nổ của công nghệ số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, mở ra kỷ nguyên kết nối toàn cầu một cách mạnh mẽ và sâu sắc. Đối với mỗi quốc gia, trong kỷ nguyên số, khi các công nghệ tiên tiến thay đổi căn bản mọi lĩnh vực, từ sản xuất, kinh doanh đến cuộc sống hàng ngày, đã tạo nên một xã hội thông minh và linh hoạt hơn bao giờ hết. Có thể hình dung về cách mạng công nghiệp này với một số đặc điểm nổi bật.

Tiêu biểu là số hóa và kết nối. Quá trình số hóa là quá trình chuyển đổi dữ liệu, thông tin từ dạng vật lý sang dạng số, giúp cho việc lưu trữ thuận tiện, việc xử lý và truyền tải diễn ra nhanh chóng. Với khả năng kết nối toàn cầu thông qua Internet và thiết bị thông minh (IoT), việc số hóa dữ liệu đã tạo nên một hệ sinh thái liên tục, cho phép con người trao đổi thông tin không giới hạn.

Trí tuệ nhân tạo (AI) giúp máy móc tìm kiếm, phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định, từ đó hỗ trợ con người trong nhiều lĩnh vực. Tự động hóa giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu sai sót và nâng cao năng suất lao động trong các ngành công nghiệp cũng như dịch vụ. Ví dụ: Nhà máy thông minh sử dụng robot tự động trong dây chuyền sản xuất; các chatbot và trợ lý ảo như ChatGPT hỗ trợ khách hàng trực tuyến.

Dữ liệu lớn (Big data) là khối lượng thông tin khổng lồ được thu thập từ các nguồn khác nhau, từ nguồn dữ liệu được số hóa, từ giao dịch thương mại đến mọi hành vi trực tuyến khác. Trên cơ sở dữ liệu lớn, việc phân tích dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp dự báo xu hướng, tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Ví dụ: Các công ty công nghệ như Google và Facebook tận dụng Big Data để cá nhân hóa trải nghiệm người dùng và tối ưu hóa quảng cáo. 

Công nghệ đám mây cho phép lưu trữ và xử lý dữ liệu trực tuyến, hỗ trợ làm việc từ xa và chia sẻ thông tin một cách linh hoạt. Do vậy, an ninh mạng trở thành yếu tố then chốt khi các mối đe dọa từ hacker ngày càng tinh vi. Ví dụ: Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ điện toán đám mây như Amazon Web Services (AWS), Microsoft Azure để lưu trữ và xử lý dữ liệu, nhưng đồng thời cũng phải đầu tư vào các hệ thống bảo mật tiên tiến nhằm bảo vệ thông tin.

Bối cảnh mới này tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có văn học, nghệ thuật. Trước đây, tác phẩm văn học thường được sáng tác, xuất bản và tiếp nhận theo lối truyền thống: qua sách in, báo chí hay thư viện. Nay, với sự xuất hiện của các nền tảng số, ebook, blog văn học và mạng xã hội, tác giả có thể tự xuất bản và chia sẻ sáng tác của mình một cách nhanh chóng, không bị ràng buộc bởi những giới hạn của nhà xuất bản truyền thống. Hơn nữa, công nghệ 4.0 còn mở đường cho những hình thức sáng tác mới như văn học tương tác, đa phương tiện hay việc sử dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ sáng tác, quảng bá, nghiên cứu – phê bình văn học. Các tác phẩm không chỉ dừng lại ở dạng văn bản, mà còn có thể được tích hợp âm thanh, hình ảnh, video…, cho phép người đọc tham gia vào quá trình tạo dựng câu chuyện, từ đó làm tăng tính trải nghiệm và tương tác của tác phẩm.

Cách thức độc giả tiếp cận tác phẩm cũng thay đổi cơ bản. Nhờ vào kho dữ liệu văn học trực tuyến, người đọc chỉ cần vài cú click là có thể tra cứu, so sánh và thưởng thức các tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau từ khắp nơi trên thế giới. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn mở ra cơ hội giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các nền văn học khác nhau.

Hoạt động sáng tác và quảng bá văn học trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư - 1

Với sự xuất hiện của các nền tảng số, ebook, blog văn học và mạng xã hội, tác giả có thể tự xuất bản và chia sẻ sáng tác của mình một cách nhanh chóng, không bị ràng buộc bởi những giới hạn của nhà xuất bản truyền thống. (Ảnh minh họa)

Những thời cơ cho hoạt động sáng tác, nghiên cứu văn học 

Trước hết có thể thấy, trong bối cảnh kết nối toàn cầu, người Việt có cơ hội tiếp cận rộng rãi, nhanh chóng các tác phẩm văn học và lý thuyết hiện đại bên ngoài biên giới. Từ chỗ chỉ biết đến những tác phẩm kinh điển của một số nền văn học có vị trí “trung tâm” như Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc… trong các giai đoạn trước, từ sau 1975 đến nay, độc giả Việt Nam đã được đọc ngày càng nhiều tác phẩm văn học đương đại của các nền văn học phương Đông và phương Tây. Bên cạnh các tác phẩm kinh điển được tái bản, thập niên đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết của các nhà văn Trung Quốc đương đại như Mạc Ngôn (Đàn hương hình, Ngồng tỏi nổi giận, Báu vật của đời), Cao Hành Kiện (Linh Sơn), Thiết Ngưng (Những người đàn bà tắm); của Nhật Bản như Murakami Haruki (Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót) đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, làm say mê người đọc Việt Nam. Người đọc cũng được biết đến các nền văn học “ngoại biên” thông qua nhiều dịch phẩm từ văn học Indonesia như của Andrea Hirata (Chiến binh cầu vồng), của Eka Kurniawan (Đẹp là một nỗi đau); văn học Thái Lan như của Prabhassorn Sevikul (Chai thời gian); văn học Singapore như của Goh Poh Seng (Khi ta mơ quá lâu)… Nhờ sự kết nối dễ dàng, thuận lợi, các tác phẩm đoạt giải Nobel Văn học cũng ngay lập tức được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, chẳng hạn: Tên tôi là đỏ (Orhan Pamuk), Từ thăm thẳm lãng quên (Patrick Modiano), Hồi ức thiếu nữ (Annie Ernaux)… Chúng vừa làm cho đời sống văn học thêm sôi động, vừa góp phần thỏa mãn nhu cầu của độc giả về việc tiếp cận nhanh nhất các hiện tượng văn học thế giới.

Trong vài thập kỷ qua, Hội Nhà văn, cụ thể là nhà xuất bản Hội, đã chủ trì tổ chức việc chuyển ngữ và phát hành nhiều tác phẩm của các nhà văn quốc tế gốc Việt. Nhờ sự phát triển của công nghệ, độc giả Việt Nam cũng theo những kênh khác nhau đã biết tới các nhà văn này. Khi tác phẩm của họ được xuất bản bằng tiếng Việt, như một sự cộng hưởng, độc giả trong nước đã đón nhận/tiếp nhận khá nhiệt thành và dễ dàng. Các tác phẩm bản tiếng Việt của Nam Lê (tập truyện ngắn Con thuyền), Linda Lê (các tập truyện ngắn Lại chơi với lửa, Thư chết và hai tiểu thuyết Sóng ngầm, Vượt sóng), của Viet Thanh Nguyen (tập truyện ngắn Người tị nạn và tập ký/ghi chép về người tị nạn Kẻ ly hương), mới đây là Ocean Vương (tiểu thuyết Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian) đã góp phần làm cho đời sống văn học Việt Nam đương đại “nóng” hơn, mở rộng/nâng cao khả năng đọc của độc giả trong nước, giúp họ tiếp cận các giá trị văn học mang tính toàn cầu. 

Cũng trong bối cảnh thuận lợi của giao lưu/tiếp xúc, sáng tác và nghiên cứu của các nhà văn Việt Nam hải ngoại được xuất bản, giới thiệu, nghiên cứu ở Việt Nam ngày càng nhiều. Thuận (Đoàn Ánh Thuận) – hiện sống ở Pháp, sáng tác tiểu thuyết bằng tiếng Việt, thuộc trong số nhà văn có nhiều ấn phẩm ra mắt tại Việt Nam. Tiểu thuyết của cô, ngoại trừ Made in Viet Nam được xuất bản ở Pháp năm 2002, số còn lại đều do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành, bao gồm: Chinatown (2005), Paris 11 tháng 8 (2005), T mất tích (2007), Vân Vy (2008), Thang máy Sài Gòn (2013) và Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư (2015). Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu hải ngoại khác cũng có mối liên hệ khá mật thiết với đời sống văn học trong nước. Những cái tên như Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Trường Thiên/Võ Phiến, Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Văn Trung, Thụy Khuê, Du Tử Lê, Đoàn Cầm Thi… xuất hiện ngày càng nhiều trong các nghiên cứu về văn học Việt Nam. 

Từ sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi với các sáng tác văn học nước ngoài và văn học của người Việt ở ngoài nước, nhà văn và người đọc Việt có cái nhìn rộng mở hơn về văn học trong xu hướng toàn cầu hóa, nhìn rõ hơn các giá trị văn học mang tính toàn cầu. Và đến lượt mình, những nhận thức mới đó cũng đòi hỏi nhà văn, người đọc nâng cao trình độ sáng tác và thưởng thức văn học. Ở địa hạt sáng tác, dù chưa định hình rõ một xu hướng, nhưng những sáng tác theo tinh thần hậu hiện đại đã xuất hiện ở nước ta từ thập niên cuối của thế kỷ XX và rõ nét hơn trong thập niên đầu thế kỷ XXI với các tác giả tên tuổi như Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái… Người đọc Việt cũng dần quen và tiếp cận dễ dàng hơn với văn học hậu hiện đại thế giới. Hỗ trợ cho việc “đọc” tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm theo tinh thần hậu hiện đại, các lý thuyết nghiên cứu – phê bình văn học như thi pháp học, phân tâm học, ký hiệu học, phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh… cũng được dịch, giới thiệu, vận dụng nghiên cứu – phê bình ngày càng nhuần nhuyễn và rộng rãi. Bước đi này đang đưa văn học Việt đi gần vào quỹ đạo chung.

Việc quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài cũng được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và chỉ đạo sát sao. Ngày 22/9/2024, tại New York (Mỹ), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã “trực tiếp trao Huân chương Hữu nghị cho hai nhà thơ cựu binh Mỹ – những người đã có đóng góp quan trọng trong việc dịch và truyền bá văn học Việt Nam tới bạn đọc Mỹ ngay từ những năm tháng quan hệ Việt Nam và Mỹ còn băng giá và nhiều thù địch” (Việt Linh, 2024). Nhờ sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự phát triển của phương tiện truyền thông, các cuộc hội nghị, hội thảo về văn học và khoa học văn học cấp quốc gia, quốc tế cũng được tổ chức thường xuyên và thu hút đông đảo nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước tham gia. Đầu thế kỷ XXI, cụ thể, từ 2010, Hội Nhà văn Việt Nam đã chủ trì tổ chức các Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam (International Conference for Advancement of Vietnamese literature) và các cuộc Liên hoan thơ Quốc tế tại Việt Nam. Hội Nhà văn Việt Nam cũng ký nhiều biên bản ghi nhớ với nhiều tổ chức văn học và văn hóa thế giới. Những hoạt động thiết thực này khiến văn học Việt Nam được người đọc thế giới biết đến rộng rãi hơn, cũng là cơ hội để các nhà văn Việt Nam tiếp xúc với các tác giả nước ngoài, mở rộng quan hệ văn chương cũng như tăng cường hiểu biết. Thông qua các hoạt động này, nhiều nhà văn, nhà thơ đã được tặng các giải thưởng quốc tế, được mời tham dự các diễn đàn văn học thế giới.

Ở lĩnh vực nghiên cứu – phê bình văn học, nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế do Viện Văn học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh… phối hợp tổ chức đã thu hút rất đông các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tiêu biểu như: Những lằn ranh văn học/ Boundaries in Literature (2011); Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa/ Vietnamese and Japanese literature in the globalization context (2013); Việt Nam – Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông/ Vietnam and the Oriental Cultural Exchanges (2017); Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu/ Ecocriticism: Local and Global voices (2017); Language, Society, and Culture in Asian Contexts (2018); Những vấn đề giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay/ Issues of teaching Vietnamese and studying Vietnam in the today’s world (2019); Văn học so sánh Đông Nam Á: Lịch sử, lí thuyết và những khả năng ứng dụng/ Southeast Asian Comparative Literature: Histories, Theories, and Practices (2023); Viết về đề tài chiến tranh cách mạng và hình tượng bộ đội Cụ Hồ/ Writing on the topic of revolutionary wars and Uncle Ho’ soldiers (2024)… Nhiều học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam đã được mời tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế tổ chức ở ngoài nước.

Trong sáng tạo, nghiên cứu văn học hiện nay, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo AI, Deep Seek cũng giúp cho việc tìm kiếm, tổng hợp thông tin một cách dễ dàng, thuận lợi với một lượng thông tin thu nhận được khá phong phú. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số vấn đề văn học với AI, chẳng hạn tìm kiếm các chủ đề “Văn học Việt Nam về đề tài lịch sử”, “Hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu”, “Sự thể hiện thân phận người trí thức trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX”. Kết quả thu được khiến chúng tôi không khỏi ngạc nhiên. Với một dung lượng khoảng 3-4 trang A4, AI đã trình bày một đề cương khá đầy đủ, logic, mạch lạc về các chủ đề. Qua đó có thể thấy, trí tuệ nhân tạo có khả năng hỗ trợ rất tối ưu cho những khảo sát tư liệu lịch sử văn học và gợi mở đường hướng tư duy cho các chủ thể cần khai thác dữ liệu. Lợi thế này rất nên được tận dụng trong nghiên cứu, phê bình văn học, nghệ thuật, thậm chí, trong cả sáng tác. 

Những thách thức cần phải vượt qua

Tuy vậy, cũng không khó để thấy rằng, ngay trong những thuận lợi, cơ hội nêu trên đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức.

Đồng thời với kỷ nguyên số, văn học thế giới cũng đang vận động theo chiều hướng không ngừng phá vỡ cách thể hiện truyền thống. Trong khi đó, nhiều nhà văn, thậm chí, cả nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay dường như chỉ viết bằng cái ta quen gọi là “năng khiếu” – nghĩa là một thứ như có sẵn, như “trời cho”, mà ít sự học hỏi, bồi dưỡng thêm. Vậy nên, nhiều khi ta thấy số lượng nhiều hơn chất lượng, hoặc sản phẩm làm ra chỉ thỏa mãn người đọc một nhóm rất nhỏ. Điều này cản trở con đường đi lên và khả năng hội nhập thế giới. Những giải thưởng văn học lớn thế giới vẫn còn rất xa vời với chúng ta. Một số tác phẩm đoạt giải thưởng danh giá, chủ yếu là dành cho các nhà văn gốc Việt chứ không phải sáng tác bằng tiếng Việt. Mở rộng, nâng cao tầm đón đợi, tăng cường tiếp nhận các sáng tác và lí thuyết/phương pháp sáng tác, nghiên cứu hiện đại là việc làm luôn rất khó nhưng hết sức cần thiết. Bởi có như thế người viết mới thoát được sức ì của thói quen và quan niệm về hoạt động nghề nghiệp của mình. 

Thông tin quá rộng mở, đa chiều, khiến người tiếp nhận nếu không có đủ năng lực (nghề nghiệp, ngoại ngữ) thì sẽ không thể phân biệt được đâu là thông tin chính thống và đâu là ngụy/giả thông tin, chỗ nào đáng tin cậy và chỗ nào không đủ độ tin cậy, cái gì có giá trị tham khảo và cái gì không nên sử dụng. Trong khi đó, năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số của các nhà văn, nhà nghiên cứu ở ta về cơ bản còn rất hạn chế, nếu không muốn nói rằng có trường hợp còn ở điểm “mù”. Vậy nên, để big data trở thành nguồn tài nguyên dồi dào có thể sử dụng được cho hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học trước hết cần/nên/được trang bị về khả năng sử dụng tiếng nước ngoài, trước hết là tiếng Anh và các kỹ năng số.

Nền văn học Việt Nam muốn hội nhập rộng rãi với thế giới, rất cần hoạt động quảng bá, giao lưu để ta biết mình ở đâu trong thế giới văn chương rộng lớn và để thế giới biết đến Việt Nam. Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy, chúng ta hoàn toàn có thể tự tin để chia sẻ rộng rãi các giá trị văn học đặc sắc ra thế giới, tạo nên một thứ “sức mạnh mềm”, giúp nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Kho tàng văn học dân gian giàu có và đặc sắc; các tác phẩm văn học kinh điển nói về lịch sử mấy nghìn năm dựng nước, giữ nước là đỉnh cao của trí tuệ, bản lĩnh, ý chí dân tộc; những tiếng kêu “xé ruột” của con người trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử; những tác phẩm thể hiện vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam… được thể hiện trong một thứ ngôn ngữ giàu bản sắc là tiếng Việt, rất đáng để chúng ta chuyển tới người đọc nhiều quốc gia, thậm chí toàn cầu. Đó cũng là một niềm tự hào Việt Nam. Tuy vậy, hoạt động này cũng cần được thực hiện theo một chiến lược/lộ trình thật sự bài bản, có sự quản lý chứ không thể manh mún, mạnh ai nấy làm như một số hoạt động hiện nay. Thực tế là, do nhiều hoạt động diễn ra trên không gian ảo nên cơ quan quản lý chưa/không thể kiểm soát hết việc làm của các cá nhân, tổ chức, trong đó có hoạt động dịch, giới thiệu, quảng bá văn học. Điều này có thể dẫn đến những hiểu nhầm ở người đọc ngoài nước về thành tựu, giá trị của văn học Việt Nam. 

Đội ngũ dịch giả, nhất là dịch giả thông thạo các ngôn ngữ không phổ biến, còn rất ít. Do vậy, có một thực trạng đáng buồn là chúng ta đang giao lưu một chiều. Theo tác giả Mai Hồng: “Đáng buồn là ở chỗ số lượng tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra tiếng nước ngoài chỉ chiếm tỷ lệ 1/24 so với số tác phẩm văn học nước ngoài được dịch ra tiếng Việt. Theo thống kê trên thị trường sách hiện nay, cứ 100 cuốn sách được bày bán thì có 25 cuốn sách dịch từ văn học nước ngoài. Bên cạnh các tác phẩm tiêu biểu của văn chương nhân loại, thì có không ít cuốn dù được quảng cáo là “hot”, “best-seller”, nhưng ít giá trị văn chương, nói về đề tài tình dục là phần nhiều. Những cuốn sách này được dịch vội vàng, với trình độ dịch còn kém nên nhiều lỗi trong câu chữ” (Mai Hồng, 2010).

Dù là con số thống kê từ 2010, nhưng hơn một thập kỷ qua, thực trạng này cũng chưa được cải thiện đáng kể. Bởi vậy, thế giới vẫn biết quá ít về Việt Nam. Nhiều người Việt sống và làm việc ở ngoài nước cho biết, đa phần “người nước ngoài chỉ biết về Việt Nam như một cuộc chiến tranh” (Nguyễn Phan Quế Mai, 2019). Hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín Việt Nam, mà còn khiến cho những người nghiên cứu về văn học Việt Nam khó khăn trong việc công bố các công trình của mình. Mặt khác, cũng do đội ngũ dịch giả quá mỏng nên nhiều tác giả lớn, nhiều tác phẩm hay của các nền văn học, ngay cả một “nền văn học láng giềng” như Thái Lan chẳng hạn, chúng ta còn chưa được biết tới. Hay một nhà văn gốc Việt có tác phẩm được giải thưởng uy tín như Kim Thúy, tiểu thuyết Ru của cô cũng chưa xuất hiện bằng bản tiếng Việt ở thị trường sách trong nước. 

Bên cạnh những cơ hội to lớn về nguồn thông tin rộng rãi, dễ sử dụng, thời đại số cũng đặt ra không ít thách thức như vấn đề bảo vệ bản quyền tác phẩm, sự xói mòn của thói quen đọc sâu và khả năng chọn lọc thông tin trong một biển dữ liệu khổng lồ, nguy cơ đánh mất bản sắc… Người sáng tác và nghiên cứu văn học có thể dễ dàng chấp nhận việc chỉ dừng lại ở thông tin thu thập được từ AI. Văn chương lúc này chỉ còn như là những công thức Toán học, mất đi sự đa dạng, phong phú, khả năng đào sâu và sự thể hiện riêng có các vấn đề của đời sống và con người.

Trong kỷ nguyên số, cơ hội cho phát triển văn học, nghệ thuật nhiều bao nhiêu thì thách thức cũng lớn bấy nhiêu. Hơn lúc nào hết, chính bối cảnh này, các cơ quan quản lý văn học, nghệ thuật rất cần tăng cường các giải pháp thiết thực, hiệu quả. Nhưng quản lý không có nghĩa là rà soát nghiêm ngặt hay cấm đoán tự do sáng tạo và quảng bá. Việc nâng cao nhận thức và kỹ năng số, cải thiện trình độ ngoại ngữ, xây dựng lộ trình/chiến lược giới thiệu/quảng bá văn học dân tộc, tăng cường các cuộc giao lưu… là những giải pháp cần thực hiện một cách thực chất lúc này. Phát huy những thành tựu của văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là sau gần bốn mươi năm đổi mới, mỗi nhà văn, nhà nghiên cứu văn học cần ý thức sâu sắc hơn nữa về sứ mệnh của mình, tự làm mới mình, nâng mình lên bằng việc trau dồi các kỹ năng số, kỹ năng ngoại ngữ, cầu thị tiếp nhận tác phẩm của đồng nghiệp ngoài biên giới, để tác phẩm mang được rõ nét hơn dấu ấn của thời đại. Mong sao văn học Việt Nam, cũng như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, ngày càng thể hiện rõ hơn gương mặt mình trong bản đồ nhân loại. 

Lê Anh Tú – Lê Thị Thảo Nguyên




Nguồn: Arttimes.vn

Hoạt động sáng tác và quảng bá văn học trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư


Văn học nghệ thuật Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất đã phát triển theo hướng đa dạng hóa, toàn cầu hóa, vừa kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, vừa không ngừng tiếp thu tinh hoa nhân loại. Trong bối cảnh mới, yêu cầu phát triển càng đặt ra những đòi hỏi gắt gao hơn. Bài viết tập trung phân tích những cơ hội và thách thức đối với hoạt động sáng tác và quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới cũng như việc tiếp thu tinh hoa nhân loại trong điều kiện của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – đưa nhân loại bước vào một kỷ nguyên mới

Thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư (công nghiệp 4.0) đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của nhân loại với sự bùng nổ của công nghệ số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, mở ra kỷ nguyên kết nối toàn cầu một cách mạnh mẽ và sâu sắc. Đối với mỗi quốc gia, trong kỷ nguyên số, khi các công nghệ tiên tiến thay đổi căn bản mọi lĩnh vực, từ sản xuất, kinh doanh đến cuộc sống hàng ngày, đã tạo nên một xã hội thông minh và linh hoạt hơn bao giờ hết. Có thể hình dung về cách mạng công nghiệp này với một số đặc điểm nổi bật.

Tiêu biểu là số hóa và kết nối. Quá trình số hóa là quá trình chuyển đổi dữ liệu, thông tin từ dạng vật lý sang dạng số, giúp cho việc lưu trữ thuận tiện, việc xử lý và truyền tải diễn ra nhanh chóng. Với khả năng kết nối toàn cầu thông qua Internet và thiết bị thông minh (IoT), việc số hóa dữ liệu đã tạo nên một hệ sinh thái liên tục, cho phép con người trao đổi thông tin không giới hạn.

Trí tuệ nhân tạo (AI) giúp máy móc tìm kiếm, phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định, từ đó hỗ trợ con người trong nhiều lĩnh vực. Tự động hóa giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu sai sót và nâng cao năng suất lao động trong các ngành công nghiệp cũng như dịch vụ. Ví dụ: Nhà máy thông minh sử dụng robot tự động trong dây chuyền sản xuất; các chatbot và trợ lý ảo như ChatGPT hỗ trợ khách hàng trực tuyến.

Dữ liệu lớn (Big data) là khối lượng thông tin khổng lồ được thu thập từ các nguồn khác nhau, từ nguồn dữ liệu được số hóa, từ giao dịch thương mại đến mọi hành vi trực tuyến khác. Trên cơ sở dữ liệu lớn, việc phân tích dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp dự báo xu hướng, tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Ví dụ: Các công ty công nghệ như Google và Facebook tận dụng Big Data để cá nhân hóa trải nghiệm người dùng và tối ưu hóa quảng cáo. 

Công nghệ đám mây cho phép lưu trữ và xử lý dữ liệu trực tuyến, hỗ trợ làm việc từ xa và chia sẻ thông tin một cách linh hoạt. Do vậy, an ninh mạng trở thành yếu tố then chốt khi các mối đe dọa từ hacker ngày càng tinh vi. Ví dụ: Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ điện toán đám mây như Amazon Web Services (AWS), Microsoft Azure để lưu trữ và xử lý dữ liệu, nhưng đồng thời cũng phải đầu tư vào các hệ thống bảo mật tiên tiến nhằm bảo vệ thông tin.

Bối cảnh mới này tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có văn học, nghệ thuật. Trước đây, tác phẩm văn học thường được sáng tác, xuất bản và tiếp nhận theo lối truyền thống: qua sách in, báo chí hay thư viện. Nay, với sự xuất hiện của các nền tảng số, ebook, blog văn học và mạng xã hội, tác giả có thể tự xuất bản và chia sẻ sáng tác của mình một cách nhanh chóng, không bị ràng buộc bởi những giới hạn của nhà xuất bản truyền thống. Hơn nữa, công nghệ 4.0 còn mở đường cho những hình thức sáng tác mới như văn học tương tác, đa phương tiện hay việc sử dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ sáng tác, quảng bá, nghiên cứu – phê bình văn học. Các tác phẩm không chỉ dừng lại ở dạng văn bản, mà còn có thể được tích hợp âm thanh, hình ảnh, video…, cho phép người đọc tham gia vào quá trình tạo dựng câu chuyện, từ đó làm tăng tính trải nghiệm và tương tác của tác phẩm.

Cách thức độc giả tiếp cận tác phẩm cũng thay đổi cơ bản. Nhờ vào kho dữ liệu văn học trực tuyến, người đọc chỉ cần vài cú click là có thể tra cứu, so sánh và thưởng thức các tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau từ khắp nơi trên thế giới. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn mở ra cơ hội giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các nền văn học khác nhau.

Hoạt động sáng tác và quảng bá văn học trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư - 1

Với sự xuất hiện của các nền tảng số, ebook, blog văn học và mạng xã hội, tác giả có thể tự xuất bản và chia sẻ sáng tác của mình một cách nhanh chóng, không bị ràng buộc bởi những giới hạn của nhà xuất bản truyền thống. (Ảnh minh họa)

Những thời cơ cho hoạt động sáng tác, nghiên cứu văn học 

Trước hết có thể thấy, trong bối cảnh kết nối toàn cầu, người Việt có cơ hội tiếp cận rộng rãi, nhanh chóng các tác phẩm văn học và lý thuyết hiện đại bên ngoài biên giới. Từ chỗ chỉ biết đến những tác phẩm kinh điển của một số nền văn học có vị trí “trung tâm” như Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc… trong các giai đoạn trước, từ sau 1975 đến nay, độc giả Việt Nam đã được đọc ngày càng nhiều tác phẩm văn học đương đại của các nền văn học phương Đông và phương Tây. Bên cạnh các tác phẩm kinh điển được tái bản, thập niên đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết của các nhà văn Trung Quốc đương đại như Mạc Ngôn (Đàn hương hình, Ngồng tỏi nổi giận, Báu vật của đời), Cao Hành Kiện (Linh Sơn), Thiết Ngưng (Những người đàn bà tắm); của Nhật Bản như Murakami Haruki (Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót) đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, làm say mê người đọc Việt Nam. Người đọc cũng được biết đến các nền văn học “ngoại biên” thông qua nhiều dịch phẩm từ văn học Indonesia như của Andrea Hirata (Chiến binh cầu vồng), của Eka Kurniawan (Đẹp là một nỗi đau); văn học Thái Lan như của Prabhassorn Sevikul (Chai thời gian); văn học Singapore như của Goh Poh Seng (Khi ta mơ quá lâu)… Nhờ sự kết nối dễ dàng, thuận lợi, các tác phẩm đoạt giải Nobel Văn học cũng ngay lập tức được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, chẳng hạn: Tên tôi là đỏ (Orhan Pamuk), Từ thăm thẳm lãng quên (Patrick Modiano), Hồi ức thiếu nữ (Annie Ernaux)… Chúng vừa làm cho đời sống văn học thêm sôi động, vừa góp phần thỏa mãn nhu cầu của độc giả về việc tiếp cận nhanh nhất các hiện tượng văn học thế giới.

Trong vài thập kỷ qua, Hội Nhà văn, cụ thể là nhà xuất bản Hội, đã chủ trì tổ chức việc chuyển ngữ và phát hành nhiều tác phẩm của các nhà văn quốc tế gốc Việt. Nhờ sự phát triển của công nghệ, độc giả Việt Nam cũng theo những kênh khác nhau đã biết tới các nhà văn này. Khi tác phẩm của họ được xuất bản bằng tiếng Việt, như một sự cộng hưởng, độc giả trong nước đã đón nhận/tiếp nhận khá nhiệt thành và dễ dàng. Các tác phẩm bản tiếng Việt của Nam Lê (tập truyện ngắn Con thuyền), Linda Lê (các tập truyện ngắn Lại chơi với lửa, Thư chết và hai tiểu thuyết Sóng ngầm, Vượt sóng), của Viet Thanh Nguyen (tập truyện ngắn Người tị nạn và tập ký/ghi chép về người tị nạn Kẻ ly hương), mới đây là Ocean Vương (tiểu thuyết Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian) đã góp phần làm cho đời sống văn học Việt Nam đương đại “nóng” hơn, mở rộng/nâng cao khả năng đọc của độc giả trong nước, giúp họ tiếp cận các giá trị văn học mang tính toàn cầu. 

Cũng trong bối cảnh thuận lợi của giao lưu/tiếp xúc, sáng tác và nghiên cứu của các nhà văn Việt Nam hải ngoại được xuất bản, giới thiệu, nghiên cứu ở Việt Nam ngày càng nhiều. Thuận (Đoàn Ánh Thuận) – hiện sống ở Pháp, sáng tác tiểu thuyết bằng tiếng Việt, thuộc trong số nhà văn có nhiều ấn phẩm ra mắt tại Việt Nam. Tiểu thuyết của cô, ngoại trừ Made in Viet Nam được xuất bản ở Pháp năm 2002, số còn lại đều do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành, bao gồm: Chinatown (2005), Paris 11 tháng 8 (2005), T mất tích (2007), Vân Vy (2008), Thang máy Sài Gòn (2013) và Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư (2015). Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu hải ngoại khác cũng có mối liên hệ khá mật thiết với đời sống văn học trong nước. Những cái tên như Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Trường Thiên/Võ Phiến, Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Văn Trung, Thụy Khuê, Du Tử Lê, Đoàn Cầm Thi… xuất hiện ngày càng nhiều trong các nghiên cứu về văn học Việt Nam. 

Từ sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi với các sáng tác văn học nước ngoài và văn học của người Việt ở ngoài nước, nhà văn và người đọc Việt có cái nhìn rộng mở hơn về văn học trong xu hướng toàn cầu hóa, nhìn rõ hơn các giá trị văn học mang tính toàn cầu. Và đến lượt mình, những nhận thức mới đó cũng đòi hỏi nhà văn, người đọc nâng cao trình độ sáng tác và thưởng thức văn học. Ở địa hạt sáng tác, dù chưa định hình rõ một xu hướng, nhưng những sáng tác theo tinh thần hậu hiện đại đã xuất hiện ở nước ta từ thập niên cuối của thế kỷ XX và rõ nét hơn trong thập niên đầu thế kỷ XXI với các tác giả tên tuổi như Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái… Người đọc Việt cũng dần quen và tiếp cận dễ dàng hơn với văn học hậu hiện đại thế giới. Hỗ trợ cho việc “đọc” tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm theo tinh thần hậu hiện đại, các lý thuyết nghiên cứu – phê bình văn học như thi pháp học, phân tâm học, ký hiệu học, phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh… cũng được dịch, giới thiệu, vận dụng nghiên cứu – phê bình ngày càng nhuần nhuyễn và rộng rãi. Bước đi này đang đưa văn học Việt đi gần vào quỹ đạo chung.

Việc quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài cũng được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và chỉ đạo sát sao. Ngày 22/9/2024, tại New York (Mỹ), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã “trực tiếp trao Huân chương Hữu nghị cho hai nhà thơ cựu binh Mỹ – những người đã có đóng góp quan trọng trong việc dịch và truyền bá văn học Việt Nam tới bạn đọc Mỹ ngay từ những năm tháng quan hệ Việt Nam và Mỹ còn băng giá và nhiều thù địch” (Việt Linh, 2024). Nhờ sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự phát triển của phương tiện truyền thông, các cuộc hội nghị, hội thảo về văn học và khoa học văn học cấp quốc gia, quốc tế cũng được tổ chức thường xuyên và thu hút đông đảo nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước tham gia. Đầu thế kỷ XXI, cụ thể, từ 2010, Hội Nhà văn Việt Nam đã chủ trì tổ chức các Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam (International Conference for Advancement of Vietnamese literature) và các cuộc Liên hoan thơ Quốc tế tại Việt Nam. Hội Nhà văn Việt Nam cũng ký nhiều biên bản ghi nhớ với nhiều tổ chức văn học và văn hóa thế giới. Những hoạt động thiết thực này khiến văn học Việt Nam được người đọc thế giới biết đến rộng rãi hơn, cũng là cơ hội để các nhà văn Việt Nam tiếp xúc với các tác giả nước ngoài, mở rộng quan hệ văn chương cũng như tăng cường hiểu biết. Thông qua các hoạt động này, nhiều nhà văn, nhà thơ đã được tặng các giải thưởng quốc tế, được mời tham dự các diễn đàn văn học thế giới.

Ở lĩnh vực nghiên cứu – phê bình văn học, nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế do Viện Văn học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh… phối hợp tổ chức đã thu hút rất đông các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tiêu biểu như: Những lằn ranh văn học/ Boundaries in Literature (2011); Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa/ Vietnamese and Japanese literature in the globalization context (2013); Việt Nam – Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông/ Vietnam and the Oriental Cultural Exchanges (2017); Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu/ Ecocriticism: Local and Global voices (2017); Language, Society, and Culture in Asian Contexts (2018); Những vấn đề giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay/ Issues of teaching Vietnamese and studying Vietnam in the today’s world (2019); Văn học so sánh Đông Nam Á: Lịch sử, lí thuyết và những khả năng ứng dụng/ Southeast Asian Comparative Literature: Histories, Theories, and Practices (2023); Viết về đề tài chiến tranh cách mạng và hình tượng bộ đội Cụ Hồ/ Writing on the topic of revolutionary wars and Uncle Ho’ soldiers (2024)… Nhiều học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam đã được mời tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế tổ chức ở ngoài nước.

Trong sáng tạo, nghiên cứu văn học hiện nay, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo AI, Deep Seek cũng giúp cho việc tìm kiếm, tổng hợp thông tin một cách dễ dàng, thuận lợi với một lượng thông tin thu nhận được khá phong phú. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số vấn đề văn học với AI, chẳng hạn tìm kiếm các chủ đề “Văn học Việt Nam về đề tài lịch sử”, “Hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu”, “Sự thể hiện thân phận người trí thức trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX”. Kết quả thu được khiến chúng tôi không khỏi ngạc nhiên. Với một dung lượng khoảng 3-4 trang A4, AI đã trình bày một đề cương khá đầy đủ, logic, mạch lạc về các chủ đề. Qua đó có thể thấy, trí tuệ nhân tạo có khả năng hỗ trợ rất tối ưu cho những khảo sát tư liệu lịch sử văn học và gợi mở đường hướng tư duy cho các chủ thể cần khai thác dữ liệu. Lợi thế này rất nên được tận dụng trong nghiên cứu, phê bình văn học, nghệ thuật, thậm chí, trong cả sáng tác. 

Những thách thức cần phải vượt qua

Tuy vậy, cũng không khó để thấy rằng, ngay trong những thuận lợi, cơ hội nêu trên đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức.

Đồng thời với kỷ nguyên số, văn học thế giới cũng đang vận động theo chiều hướng không ngừng phá vỡ cách thể hiện truyền thống. Trong khi đó, nhiều nhà văn, thậm chí, cả nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay dường như chỉ viết bằng cái ta quen gọi là “năng khiếu” – nghĩa là một thứ như có sẵn, như “trời cho”, mà ít sự học hỏi, bồi dưỡng thêm. Vậy nên, nhiều khi ta thấy số lượng nhiều hơn chất lượng, hoặc sản phẩm làm ra chỉ thỏa mãn người đọc một nhóm rất nhỏ. Điều này cản trở con đường đi lên và khả năng hội nhập thế giới. Những giải thưởng văn học lớn thế giới vẫn còn rất xa vời với chúng ta. Một số tác phẩm đoạt giải thưởng danh giá, chủ yếu là dành cho các nhà văn gốc Việt chứ không phải sáng tác bằng tiếng Việt. Mở rộng, nâng cao tầm đón đợi, tăng cường tiếp nhận các sáng tác và lí thuyết/phương pháp sáng tác, nghiên cứu hiện đại là việc làm luôn rất khó nhưng hết sức cần thiết. Bởi có như thế người viết mới thoát được sức ì của thói quen và quan niệm về hoạt động nghề nghiệp của mình. 

Thông tin quá rộng mở, đa chiều, khiến người tiếp nhận nếu không có đủ năng lực (nghề nghiệp, ngoại ngữ) thì sẽ không thể phân biệt được đâu là thông tin chính thống và đâu là ngụy/giả thông tin, chỗ nào đáng tin cậy và chỗ nào không đủ độ tin cậy, cái gì có giá trị tham khảo và cái gì không nên sử dụng. Trong khi đó, năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số của các nhà văn, nhà nghiên cứu ở ta về cơ bản còn rất hạn chế, nếu không muốn nói rằng có trường hợp còn ở điểm “mù”. Vậy nên, để big data trở thành nguồn tài nguyên dồi dào có thể sử dụng được cho hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học trước hết cần/nên/được trang bị về khả năng sử dụng tiếng nước ngoài, trước hết là tiếng Anh và các kỹ năng số.

Nền văn học Việt Nam muốn hội nhập rộng rãi với thế giới, rất cần hoạt động quảng bá, giao lưu để ta biết mình ở đâu trong thế giới văn chương rộng lớn và để thế giới biết đến Việt Nam. Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy, chúng ta hoàn toàn có thể tự tin để chia sẻ rộng rãi các giá trị văn học đặc sắc ra thế giới, tạo nên một thứ “sức mạnh mềm”, giúp nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Kho tàng văn học dân gian giàu có và đặc sắc; các tác phẩm văn học kinh điển nói về lịch sử mấy nghìn năm dựng nước, giữ nước là đỉnh cao của trí tuệ, bản lĩnh, ý chí dân tộc; những tiếng kêu “xé ruột” của con người trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử; những tác phẩm thể hiện vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam… được thể hiện trong một thứ ngôn ngữ giàu bản sắc là tiếng Việt, rất đáng để chúng ta chuyển tới người đọc nhiều quốc gia, thậm chí toàn cầu. Đó cũng là một niềm tự hào Việt Nam. Tuy vậy, hoạt động này cũng cần được thực hiện theo một chiến lược/lộ trình thật sự bài bản, có sự quản lý chứ không thể manh mún, mạnh ai nấy làm như một số hoạt động hiện nay. Thực tế là, do nhiều hoạt động diễn ra trên không gian ảo nên cơ quan quản lý chưa/không thể kiểm soát hết việc làm của các cá nhân, tổ chức, trong đó có hoạt động dịch, giới thiệu, quảng bá văn học. Điều này có thể dẫn đến những hiểu nhầm ở người đọc ngoài nước về thành tựu, giá trị của văn học Việt Nam. 

Đội ngũ dịch giả, nhất là dịch giả thông thạo các ngôn ngữ không phổ biến, còn rất ít. Do vậy, có một thực trạng đáng buồn là chúng ta đang giao lưu một chiều. Theo tác giả Mai Hồng: “Đáng buồn là ở chỗ số lượng tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra tiếng nước ngoài chỉ chiếm tỷ lệ 1/24 so với số tác phẩm văn học nước ngoài được dịch ra tiếng Việt. Theo thống kê trên thị trường sách hiện nay, cứ 100 cuốn sách được bày bán thì có 25 cuốn sách dịch từ văn học nước ngoài. Bên cạnh các tác phẩm tiêu biểu của văn chương nhân loại, thì có không ít cuốn dù được quảng cáo là “hot”, “best-seller”, nhưng ít giá trị văn chương, nói về đề tài tình dục là phần nhiều. Những cuốn sách này được dịch vội vàng, với trình độ dịch còn kém nên nhiều lỗi trong câu chữ” (Mai Hồng, 2010).

Dù là con số thống kê từ 2010, nhưng hơn một thập kỷ qua, thực trạng này cũng chưa được cải thiện đáng kể. Bởi vậy, thế giới vẫn biết quá ít về Việt Nam. Nhiều người Việt sống và làm việc ở ngoài nước cho biết, đa phần “người nước ngoài chỉ biết về Việt Nam như một cuộc chiến tranh” (Nguyễn Phan Quế Mai, 2019). Hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín Việt Nam, mà còn khiến cho những người nghiên cứu về văn học Việt Nam khó khăn trong việc công bố các công trình của mình. Mặt khác, cũng do đội ngũ dịch giả quá mỏng nên nhiều tác giả lớn, nhiều tác phẩm hay của các nền văn học, ngay cả một “nền văn học láng giềng” như Thái Lan chẳng hạn, chúng ta còn chưa được biết tới. Hay một nhà văn gốc Việt có tác phẩm được giải thưởng uy tín như Kim Thúy, tiểu thuyết Ru của cô cũng chưa xuất hiện bằng bản tiếng Việt ở thị trường sách trong nước. 

Bên cạnh những cơ hội to lớn về nguồn thông tin rộng rãi, dễ sử dụng, thời đại số cũng đặt ra không ít thách thức như vấn đề bảo vệ bản quyền tác phẩm, sự xói mòn của thói quen đọc sâu và khả năng chọn lọc thông tin trong một biển dữ liệu khổng lồ, nguy cơ đánh mất bản sắc… Người sáng tác và nghiên cứu văn học có thể dễ dàng chấp nhận việc chỉ dừng lại ở thông tin thu thập được từ AI. Văn chương lúc này chỉ còn như là những công thức Toán học, mất đi sự đa dạng, phong phú, khả năng đào sâu và sự thể hiện riêng có các vấn đề của đời sống và con người.

Trong kỷ nguyên số, cơ hội cho phát triển văn học, nghệ thuật nhiều bao nhiêu thì thách thức cũng lớn bấy nhiêu. Hơn lúc nào hết, chính bối cảnh này, các cơ quan quản lý văn học, nghệ thuật rất cần tăng cường các giải pháp thiết thực, hiệu quả. Nhưng quản lý không có nghĩa là rà soát nghiêm ngặt hay cấm đoán tự do sáng tạo và quảng bá. Việc nâng cao nhận thức và kỹ năng số, cải thiện trình độ ngoại ngữ, xây dựng lộ trình/chiến lược giới thiệu/quảng bá văn học dân tộc, tăng cường các cuộc giao lưu… là những giải pháp cần thực hiện một cách thực chất lúc này. Phát huy những thành tựu của văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là sau gần bốn mươi năm đổi mới, mỗi nhà văn, nhà nghiên cứu văn học cần ý thức sâu sắc hơn nữa về sứ mệnh của mình, tự làm mới mình, nâng mình lên bằng việc trau dồi các kỹ năng số, kỹ năng ngoại ngữ, cầu thị tiếp nhận tác phẩm của đồng nghiệp ngoài biên giới, để tác phẩm mang được rõ nét hơn dấu ấn của thời đại. Mong sao văn học Việt Nam, cũng như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, ngày càng thể hiện rõ hơn gương mặt mình trong bản đồ nhân loại. 

Lê Anh Tú – Lê Thị Thảo Nguyên




Nguồn: Arttimes.vn

Văn học, nghệ thuật và sứ mệnh phục vụ cách mạng


Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã lấy điểm tựa văn hoá vững chắc để xây dựng nền độc lập: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Truyền thống ấy được kế thừa, phát huy và nâng cao ở thời đại Hồ Chí Minh.

Văn hoá soi đường cho quốc dân đi 

Đánh giá cao vai trò của văn hóa, ngay từ năm 1943, Đảng ta đã xây dựng Đề cương về văn hoá Việt Nam với 3 nguyên tắc trụ cột: Dân tộc hóa – Đại chúng hóa – Khoa học hóa, mang tầm chiến lược một cương lĩnh hướng về tương lai. Ngay sau ngày Độc lập, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Bác Hồ nêu 6 nhiệm vụ cấp bách: chống giặc đói; chống giặc dốt; tổ chức tổng tuyển cử; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, cấm thuốc phiện; thực hiện tự do tín ngưỡng. Đầu thế kỷ XXI, từ điểm nhìn “Quyền con người”, nhiều nghiên cứu trên thế giới về Việt Nam khâm phục, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh vẫn chú ý hai nhiệm vụ diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Đó là cách giải quyết vì con người nhất, mang tính văn hoá cao nhất. Dân đói, dân dốt là nỗi bất hạnh của bất cứ quốc gia nào và ngược lại. Chỉ những trí thức lớn như Bác Hồ mới sâu đậm một tinh thần nhân văn cao cả, một tầm trí tuệ hiếm thấy trên cơ sở một tình yêu nước, yêu dân, vì dân và đặc biệt coi trọng tri thức. Bác Hồ và Đảng ta vĩ đại không chỉ đã kiến tạo một chính thể dân chủ mới, còn ở việc kiến tạo một nền mỹ học mới: nền mỹ học dân chủ, hạnh phúc, vì dân.

Nếu ở Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946) khẩu hiệu “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” của Bác Hồ chính thức được thực hiện, thì tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (7/1948), khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa. Văn hóa hóa kháng chiến” được quán triệt. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, Bác khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Đi suốt hai cuộc kháng chiến vĩ đại và sự nghiệp Đổi mới với những thành tựu đặc biệt, văn hoá Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ Bác nêu: “Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền cái lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”.

Sau cuộc gặp gỡ thân tình cởi mở giữa đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ (6-7/10/1987), ngày 28/11/1987 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 05 về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới như một làn gió mới, một ánh sáng mới hướng văn học vào quỹ đạo của sự phát triển. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết đánh giá chất lượng văn nghệ từ sau 1975 “nói chung còn thấp, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị nói chung còn ít”. Nghị quyết khẳng định với giá trị văn hóa có tác dụng lâu dài, bền vững, văn nghệ là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người. Như vậy Đảng đã rất đề cao mục tiêu, vai trò, nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cũng như đặc trưng của văn học nghệ thuật.

Văn học, nghệ thuật và sứ mệnh phục vụ cách mạng - 1

Ảnh minh họa

Quan điểm đúng đắn: Văn hoá là nền tảng, là mục tiêu, là sức mạnh nội sinh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Quan điểm này không chỉ phù hợp với thời toàn cầu hoá văn hoá của thế giới, còn là sự đề cao, lấy giá trị văn hoá làm nền tảng, là sức mạnh nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Cũng hoàn toàn phù hợp với triết học về con người của thế giới đương đại lấy con người làm trung tâm, coi con người là chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững. Trong bài phát biểu chỉ đạo Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ ba (11/2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Đảng đã đánh giá cao sự đóng góp của văn học-nghệ thuật Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đã “Xứng đáng đứng vào vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới”. Sau Hội nghị, những chủ trương, chính sách văn hóa lớn đã đi vào thực tiễn, kết nhiều trái thơm văn hoá toả hương nhân văn ra cả thế giới. Tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành văn hóa (28/8/1945 – 28/8/2025), Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vai trò văn hóa định hình hệ giá trị quốc gia. 

Làm theo và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, văn học nghệ thuật, Đảng ta coi sự phát triển văn hóa ngang hàng với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Các quan điểm, ý kiến chỉ đạo của Đảng được cụ thể hoá trở thành điểm tựa sáng tạo, là niềm cổ vũ, thúc đẩy, khuyến khích sáng tạo. Quốc hội, Chính phủ đã tiến hành sửa đổi, bổ sung, thông qua nhiều luật quan trọng như Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh…; thông qua quyết định chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035. Tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030, hướng tới 9 dự án thành phần chiến lược, về phát triển con người, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bảo tồn di sản, thúc đẩy văn học-nghệ thuật, phát triển công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh chuyển đổi số… Từ ngày 15/02/2026, Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học sẽ chính thức có hiệu lực, thể hiện ở: Hỗ trợ phát triển văn học; tổ chức trại viết, trại sáng tác văn học; cuộc thi viết, cuộc thi sáng tác tác phẩm văn học; giải thưởng văn học; giới thiệu, quảng bá, phổ biến văn học trong nước và ngoài nước.

Văn hoá “vươn mình” vào kỷ nguyên mới

Chính phủ vừa mới phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với 10 ngành: Điện ảnh; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản. Đây có thể coi là chìa khoá để mở ra cánh cửa công nghiệp văn hóa hướng tới mục tiêu đến năm 2030 đóng góp 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí ở châu Á, tiến tới khẳng định vị thế của công nghiệp văn hóa thế giới.

Hai năm 2024-2025, hàng loạt sự kiện văn hoá lớn của đất nước được tổ chức thành công rất tốt đẹp: Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 80 năm Đề cương văn hóa Việt Nam, 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam, 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… cùng hàng loạt hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm,… thu hút, hấp dẫn hàng triệu người dân và khách quốc tế.

Các sự kiện, ngoài góp phần lan toả, nhân lên tình yêu Tổ quốc, còn là sự thúc đẩy ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Đặc biệt, lĩnh vực điện ảnh trong 3 năm gần đây có nhiều bộ phim chất lượng có doanh thu lớn (cá biệt phim Mưa đỏ doanh thu gần 800 tỷ đồng). Theo đánh giá của ngành văn hoá, các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí tiếp tục có bước phát triển tích cực, có những đóng góp rất khả quan vào ngân khố quốc gia.

Văn nghệ sỹ và sự nghiệp sáng tạo “tác phẩm xứng đáng”

Khoa nhân học văn hóa quan niệm văn hóa có hai tầng, bề nổi, cái thấy được và bề chìm (tức chiều sâu) không thấy được. Bề nổi là những hiện vật, di sản, truyền thống lịch sử… ai cũng thấy. Quan trọng hơn, cái làm nên sức mạnh “mềm” văn hóa – tức sức mạnh tinh thần của cộng đồng, là ở bề sâu, mà cho đến nay chưa nhà nghiên cứu nào khái quát được vào các khái niệm khoa học, cụ thể. Vẫn gọi chung là “vô thức cộng đồng” chưa rõ ràng về ngoại diên và nội hàm khái niệm. Người Mỹ thành thực thú nhận họ thua Việt Nam là do chưa hiểu văn hóa Việt Nam tức là chưa hiểu cái phần chìm này. Thực ra không phải chỉ người Mỹ mà hầu hết đều chưa hiểu. Như vậy văn hoá vẫn còn là khu vực cần đầu tư nghiên cứu sâu nhiều hơn nữa, nhất là mảng tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh. 

Xét đến cùng sứ mệnh cao cả nhất của các nhà văn hóa là kiến tạo những nhân cách văn hóa, tức con người. Văn hóa nào con người nấy. Thế nên vai trò của văn nghệ sĩ như là những kiến trúc sư “thiết kế” mô hình con người của tương lai. Quy luật tồn tại và phát triển của văn học nghệ thuật là quy luật của cái riêng, cái đơn nhất với cơ sở gốc là cá tính sáng tạo mà sự hình thành của nó, ngoài năng khiếu chủ quan còn là sự may mắn hội tụ tinh hoa của thời đại, vùng văn hóa, cuộc sống, nghề nghiệp… Khi kết tinh thành tài năng, cá tính sáng tạo lại trở về hòa nhập với đời sống. Những trái cây tác phẩm của họ như những hạt lúa vàng mẩy luôn có xu hướng níu mình về gốc. Những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… đều như thế. Không ngẫu nhiên, họ thường viết về cái bình thường, nhỏ bé như cây chuối, cây rau, hớp cháo… 

Kế thừa, phát triển từ phản ánh luận, lý thuyết mô hình hiện đại quan niệm, về bản chất, sự sáng tạo tác phẩm nghệ thuật là tạo ra một mô hình đời sống mới. Là mô hình, chứ không phải bản thân đời sống (tức không sao chép), tác phẩm là “cuộc sống thứ hai” thoát thai từ đời sống thực, “sâu rễ, bền gốc” từ đời sống thực. Nhìn vào tác phẩm, vừa thấy hiện thực được khúc xạ, vừa thấy tài năng, tâm hồn người nghệ sỹ. “Hiện thực” ở đây là “cảm thấy” (chứ không phải “nhìn thấy”), tức “hiện thực” được nhào nặn, kết tinh từ vốn sống, hiểu biết, vốn đọc… của chủ thể. Nhờ vậy, hình tượng nghệ thuật mới lấp lánh sống động, bởi được ánh xạ từ các luồng sáng văn hóa từ nhiều đời sống, hôm qua, hôm nay, thậm chí cả ngày mai. Văn học phản ánh đời sống là đúng, nhưng chỉ là bề nổi. Chủ yếu là quá trình “liên văn hóa” bền bỉ và lâu dài diễn ra ở bề sâu, do không khí thời đại, do năng lực chủ quan cá nhân.

Căn cứ vào thực tế Đảng lãnh đạo thành công văn học nghệ thuật hơn 80 năm qua, dựa vào lý thuyết “triết học liên văn hóa” (The Intercultural Philosophy) mới, xin đưa ra vài bài học tham khảo trả lời câu hỏi làm thế nào để có “tác phẩm xứng đáng” như Bác Hồ nói:

Một, bài học bám sát vào sự lãnh đạo của Đảng. Không hề là chuyện chính trị, chỉ căn cứ vào thực tiễn từ Đổi mới 1986, đến Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đến Nghị quyết 05-NQ/TW (2022) tập trung vào việc đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng về văn học, nghệ thuật, đều đem đến một sức sống mới cho văn hóa Việt Nam. Đó là đường lối, là ánh sáng, là điểm tựa cho văn nghệ phát triển đi lên. Đảng khởi xướng, lãnh đạo đổi mới sẽ là tiền đề cho văn nghệ Việt Nam mang một tầm vóc sánh vai với các nền văn nghệ năm châu. Dưới cờ Đảng, văn học nghệ thuật phục vụ nhân dân, đất nước, vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đó là nguyên lý, chân lý, cũng là đạo lý.

Hai, Chủ nghĩa Mác coi hiện thực là nguồn gốc của nhận thức. Là một hình thái ý thức, văn nghệ càng phải đi sâu vào mảnh đất hiện thực, phải ngụp lặn xuống tận đáy dòng sông cuộc đời để nắm bắt, tìm hiểu, khái quát, mô tả bản chất cuộc sống. Thoát ly hiện thực, nghệ thuật nhất định khô héo. Một nhà văn nói muốn ướp được người, mình phải mặn trước. Một nhà triết học nói đại ý: phải cắn vỡ xương mới hút được tủy. Các vị ấy muốn nói tới sự nhập thân vào đời sống, dũng cảm tìm ra cái lõi của sự kiện mới viết hay được. Ngày nay chúng ta hay gọi là tâm huyết – tiền đề cho sáng tạo. Chỉ có từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống mới có thể nảy nở những tài năng. Không có cách nào khác, muốn rèn luyện tài năng, người nghệ sĩ phải trở về cái gốc của nghệ thuật là đời sống sự thật muôn màu muôn vẻ. 

Ba, lịch sử văn hóa nhân loại cho thấy bất kỳ sáng tác lớn nào cũng đều được bắt nguồn từ truyền thống và có những dấu ấn cách tân cá nhân rất rõ. Như vậy, sáng tạo phải bay nhịp nhàng trên đôi cánh truyền thống, dân tộc và đổi mới, hiện đại.

Bốn, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, để cạnh tranh với AI, như cây xanh, người nghệ sĩ phải cần cù cắm sâu các chùm rễ khỏe mạnh vào các mảnh đất truyền thống dân tộc, văn minh thế giới và cuộc sống đương đại; vươn cao cành lá vào bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng lý tưởng của Chủ nghĩa Mác và Tư tưởng Hồ Chí Minh, của tình yêu hòa bình, hữu nghị; mới có thể kết được những trái tác phẩm vừa có mẫu số chung của văn hóa nhân loại, vừa nồng nàn tính riêng. Như đã nói ở trên, việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lập trường, bản lĩnh cho văn nghệ sĩ là rất quan trọng, phải được rèn luyện thường xuyên, thực chất, hiệu quả.

Quyết định chất lượng văn học nghệ thuật là chủ thể người nghệ sĩ. Do vậy, công tác phát triển văn hóa cần đầu tư trọng tâm vào vấn đề con người, từ phát hiện năng khiếu, giáo dục lý tưởng, bồi dưỡng nhân cách, tạo môi trường hoạt động…

Thời hội nhập và công nghệ, để cạnh tranh với AI, hướng đi tích cực nhất vẫn là “liên văn hóa”. Để đủ vốn kiến tạo những hình tượng bao bọc nhiều lớp nghĩa, đa dạng, phong phú về nội dung; sinh động, hấp dẫn về hình thức, tức tác phẩm sẽ “nói mãi không cùng”, người nghệ sĩ không chỉ đào sâu vào kho báu văn hóa nước nhà, còn phải “giải mã” để tích hợp chất vàng ròng văn hóa thế giới. Cũng chỉ theo con đường này, tác phẩm mới vươn tới cái đích “mẫu số chung” của văn hóa nhân loại. Tự nhiên, tầm tiếp nhận sẽ rộng mở ra nhiều chân trời khác nhau. Trong khi đó, dù “siêu” đến đâu chăng nữa, nhưng vì là “máy” nên AI không thể tạo ra “hiện thực cảm thấy” để có một “cuộc sống thứ hai” với sự thấu hiểu sâu sắc nhiều cảnh đời, thấu cảm đậm đà bao lẽ người…  

Nguyễn Thanh Tú




Nguồn: Arttimes.vn

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của “phúc tướng” và vận may


Bố mẹ có thể quan sát một số đặc điểm trên gương mặt của bé, nhằm phỏng đoán con lớn lên khỏe mạnh.

Trong văn hóa Á Đông, nhiều người tin rằng đặc điểm ngoại hình phản ánh phần nào tính cách và vận may của một con người. Quan niệm này bắt nguồn từ nhân tướng học cổ truyền, khuôn mặt, ánh mắt, dáng đi hay thần thái không được nhìn như những yếu tố tách rời, mà là biểu hiện ra bên ngoài của đời sống nội tâm và hoàn cảnh sống bên trong.

Một gương mặt sáng sủa, thư thái thường được cho là dấu hiệu của cuộc sống ít lo âu, hay ánh mắt trong trẻo gợi cảm giác tự tin, nụ cười tự nhiên cho thấy tâm hồn cởi mở, dễ kết nối với người khác. Theo đó, bố mẹ có thể xem xét một số đặc điểm trên gương mặt để phỏng đoán phần nào “phước lành” của con.

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 1

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 2

Trán rộng

Từ xa xưa, người lớn thường truyền tai nhau rằng những người có trán rộng, đầy đặn và tròn trịa thường thông minh, tài giỏi và gặp nhiều may mắn. Quan niệm dân gian này phần nào trùng hợp với một số quan sát khoa học hiện đại.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Edinburgh chỉ ra rằng, xét trên bình diện chung, kích thước hộp sọ càng lớn, tính từ trán ra sau gáy và từ bên này sang bên kia, thì chỉ số IQ trung bình có xu hướng cao hơn. Vì vậy, em bé có trán cao, rộng nhiều người cho rằng đó là dấu hiệu cho thấy não bộ phát triển tốt, tiềm năng trí tuệ cao và khả năng học hỏi nổi trội.

Ở góc nhìn phát triển, trẻ sơ sinh có trán rộng thường được xem là có não bộ phát triển tốt hơn so với mặt bằng chung. Điều này không có nghĩa là mọi đứa trẻ trán rộng đều xuất chúng, nhưng phản ánh một nền tảng sinh học thuận lợi cho việc học tập và tư duy trong tương lai.

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 3

Ở góc nhìn phát triển, trẻ sơ sinh có trán rộng thường được xem là có não bộ phát triển tốt.

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 4

Tai to

Nhiều người tin rằng đôi tai to là dấu hiệu của phúc khí và may mắn.

Trong đời sống thường ngày, ai cũng từng có trải nghiệm: khi nghe không rõ, chúng ta vô thức đưa tay che tai để thu âm thanh tốt hơn. Vì vậy, người xưa cho rằng tai lớn giúp bắt âm tốt, tượng trưng cho thính giác nhạy bén.

Từ đó hình thành câu nói quen thuộc “tai thính, mắt tinh”, dùng để chỉ những người biết lắng nghe, quan sát tinh tế và hiểu được cả những điều ẩn sau lời nói của người khác.

Theo cách nhìn này, khả năng nghe biểu thị năng lực sinh lý, trí tuệ cảm xúc. Người biết lắng nghe thường thấu hiểu, cư xử khéo léo và dễ tạo được mối quan hệ hài hòa trong cuộc sống. Đó cũng là lý do người xưa tin rằng những người “tai to” thường có vận khí tốt, bởi họ biết nghe, suy nghĩ và xử lý tình huống một cách mềm mỏng.

Người ta cũng tin rằng, trẻ có dái tai đầy đặn thường mang tính cách cởi mở, điềm đạm và dễ cảm thông với người khác. 

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 5

Nhiều người tin rằng đôi tai to là dấu hiệu của phúc khí và may mắn.

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 6

Đôi mắt sáng

Ngay cả khi ngoại hình chỉ ở mức bình thường, một người vẫn có thể trở nên cuốn hút nhờ ánh mắt sáng. Đặc biệt, đôi mắt long lanh có khả năng nâng tầm diện mạo tổng thể, khiến gương mặt trông rạng rỡ và đầy sức sống hơn. Ở trẻ em, đôi mắt sáng với tròng mắt to thường tạo cảm giác lanh lợi, thông minh và dễ gây thiện cảm.

Người ta vẫn nói đôi mắt là “cửa sổ tâm hồn”, bởi qua ánh nhìn, có thể phần nào cảm nhận được tính cách, cảm xúc và thói quen của một con người. Đứa trẻ có đôi mắt đen, trong và sáng thường xem là nhanh nhạy, dễ được yêu mến, và có nhiều cơ hội tỏa sáng trong học tập, cũng như con đường sự nghiệp sau này.

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 7

Cằm tròn

Có câu “trán đầy đặn, cằm vuông” như dấu hiệu của một khuôn mặt phúc hậu, mang lại may mắn. Cằm tròn được xem là dễ nhìn, tạo cảm giác hiền hòa và gần gũi. Điều đó cho thấy, trong quan niệm dân gian, chiếc cằm giữ một vị trí khá quan trọng trên khuôn mặt.

Theo nhân tướng học, đứa trẻ sinh ra với chiếc cằm tròn thường được xem là người có phúc khí, dễ gần và dễ tạo thiện cảm với những người xung quanh. Tuy nhiên, những dấu hiệu ấy chỉ mang tính tham khảo. Điều quan trọng hơn cả vẫn là cách bố mẹ giáo dục và đồng hành cùng con trong quá trình trưởng thành.

4 đặc điểm trên khuôn mặt trẻ là dấu hiệu của "phúc tướng" và vận may - 8

Theo nhân tướng học, đứa trẻ sinh ra với chiếc cằm tròn thường được xem là người có phúc khí.

Thực tế, ngoài hình là một phần rất nhỏ trong cuộc đời của trẻ. Bên cạnh những yếu tố bẩm sinh, sự định hướng đúng đắn, nền giáo dục tốt và môi trường sống tích cực mới là “tài sản” có thể theo con suốt đời. Khi được nuôi dưỡng trong gia đình ấm áp, biết khuyến khích sở thích, rèn luyện nhân cách và lan tỏa giá trị sống lành mạnh, đứa trẻ sẽ có nền tảng vững chắc để bước vào tương lai.

Vì vậy, dù nhiều người tin trẻ có một số đặc điểm khuôn mặt là “may mắn”, bố mẹ cũng không nên vội dùng ngoại hình để phán định số phận. Mỗi đứa trẻ là cá thể độc lập, xứng đáng được tôn trọng và yêu thương.

Bằng sự kiên nhẫn, bình tĩnh và nỗ lực từ chính mình, bố mẹ  có thể giúp con trở thành phiên bản tốt, từ đó mở ra một tương lai tươi sáng và hạnh phúc hơn cho con.



Nguồn: Arttimes.vn

Toyota Urban Cruiser Ebella trình làng, SUV chạy điện giá từ 520 triệu đồng


Toyota Urban Cruiser Ebella sở hữu thiết kế cứng cáp, nhiều công nghệ hiện đại cùng giá hấp dẫn.




Nguồn: Arttimes.vn

Giá đồng tăng vọt khi nguồn cung thắt chặt


Sự gián đoạn nguồn cung cùng những xáo trộn thương mại liên quan đến thuế quan đang đưa giá đồng tiến sát mức cao nhất mọi thời đại. Dù nhu cầu toàn cầu chưa thực sự bứt phá, kim loại được xem là “phong vũ biểu” của kinh tế công nghiệp thế giới vẫn ghi nhận một năm tăng giá mạnh hiếm thấy.

Giá đồng tiếp tục leo thang khi những khó khăn phía nguồn cung và sự dịch chuyển dòng chảy thương mại do thuế quan tạo lực đẩy kéo dài nhiều tháng. Trên Sàn Kim loại London (LME), giá đồng tăng 0,4%, tiến sát kỷ lục lịch sử 11.996 USD/tấn được ghi nhận đầu tuần này.

Tính từ đầu năm, giá đồng đã tăng khoảng 37%, hướng tới mức tăng mạnh nhất trong một năm kể từ 2009, phản ánh mức độ căng thẳng ngày càng lớn giữa cung và cầu trên thị trường toàn cầu.

Giá đồng tăng vọt khi nguồn cung thắt chặt - 1

Dòng chảy đồng sang Mỹ đang tác động thế nào tới thị trường?

Yếu tố cốt lõi đứng sau đà tăng là kỳ vọng một lượng lớn đồng sẽ tiếp tục được vận chuyển vào Mỹ, qua đó làm cạn kiệt tồn kho tại các khu vực khác. Điều này tạo ra sự mất cân đối cục bộ, đẩy giá đồng lên cao ngay cả khi nhu cầu chung chưa thực sự bùng nổ.

Bên cạnh đó, tâm lý tích cực trên thị trường tài sản rủi ro trong những ngày gần đây cũng góp phần hỗ trợ giá, dù không phải là động lực mang tính nền tảng.

Một số chuyên gia cảnh báo rằng đà tăng của giá đồng hiện nay chưa được hậu thuẫn vững chắc bởi nhu cầu thực. Theo ông Zhang Ping, chuyên gia phân tích tại CCB Futures, mức tăng hiện tại chủ yếu xuất phát từ yếu tố vĩ mô và diễn biến phía nguồn cung hơn là tiêu thụ cuối cùng.

Dù vậy, ông cho rằng giá đồng nhiều khả năng vẫn tiếp tục đi lên trong ngắn hạn, nhờ tâm lý thị trường đang nghiêng về xu hướng tăng.

Các kim loại công nghiệp khác đang diễn biến ra sao?

Không chỉ đồng, nhiều kim loại công nghiệp khác cũng trải qua một năm tích cực. Nhôm, kẽm, thiếc, chì và niken đều đang trên đà ghi nhận mức tăng cả năm. Riêng nhôm đã chạm mức cao nhất trong ngày kể từ sau xung đột Nga–Ukraine năm 2022.

Trong phiên gần nhất, toàn bộ kim loại trên sàn LME đều tăng giá: nhôm tăng 0,6%, trong khi niken bật mạnh 1,8%, phản ánh sự lan tỏa của xu hướng tích cực trên thị trường kim loại cơ bản.



Nguồn: Arttimes.vn

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025


Ngày 10/12, tại Cao Bằng, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng tổ chức Lễ bế mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025.

Trại sáng tác văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 diễn ra từ ngày 4/12 – 10/12/2025 với sự tham gia của 28 văn nghệ sĩ đến từ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên. Sau 7 ngày tham dự trại, các văn nghệ sĩ đã cho ra đời 65 tác phẩm thuộc 5 chuyên ngành: văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc và sân khấu.

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 1

Lễ bế mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025.

Phát biểu tại Lễ bế mạc, TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam nhấn mạnh, Cao Bằng – với núi Các Mác, suối Lê-nin, với Trùng Khánh – Trà Lĩnh – Nguyên Bình – Hòa An… đã mở ra trước mắt các văn nghệ sĩ tham dự trại sáng tác một không gian văn hóa nguyên sơ, những lớp trầm tích lịch sử và những câu chuyện đời sống dung dị nhưng đầy tinh tế. Chính nguồn giá trị phong phú ấy đã trở thành chất liệu và cảm hứng để nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật được hình thành.

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 2

TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phát biểu tại Lễ bế mạc.

Về lĩnh vực văn học, TS. Đoàn Thanh Nô đánh giá, lực lượng sáng tác của trại năm nay đã để lại nhiều dấu ấn nổi bật. Các tác giả không chỉ tái hiện vẻ đẹp cảnh sắc mà còn đi sâu vào những trải nghiệm núi rừng và hình ảnh con người Cao Bằng hiền hòa, kiên cường. Các tác phẩm cho thấy khả năng quan sát tinh tế, cảm thụ sâu sắc cùng giọng điệu giàu bản sắc của từng cây bút.

Về lĩnh vực mỹ thuật, các họa sĩ đã phát huy tối đa thế mạnh của chất liệu tạo hình miền núi, dùng sắc màu để kể những câu chuyện của núi rừng, của con người và của lịch sử nơi đây. Nhìn tổng thể, các tác phẩm mang đậm dấu ấn tạo hình dân tộc học, giàu sức gợi tả và thể hiện rõ chiều sâu văn hóa đặc trưng của vùng đất Cao Bằng.

Về lĩnh vực nhiếp ảnh, theo Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, năm 2025 ghi nhận chất lượng nổi bật của nhóm nhiếp ảnh. Các tác giả đã tiếp cận đề tài với tinh thần chuyên nghiệp, biết khai thác ánh sáng vùng cao – thứ ánh sáng trong trẻo và giàu nhạc tính. Trong đó, một số tác phẩm như “Người Dao Tiền gìn giữ văn hóa vẽ sáp ong” của Đỗ Vinh, hay “Sớm vùng cao” của Nguyễn Mạnh Hải đã thực sự trở thành tiếng nói của ánh sáng, đầy chất thơ và giàu chiều sâu văn hóa.

Về lĩnh vực âm nhạc, các tác phẩm đã phát huy tốt chất liệu dân gian, không chỉ đẹp về giai điệu mà còn giàu bản sắc vùng và chiều sâu cảm xúc. Đặc biệt là âm hưởng then, đàn tính, pí lè và các nguyên thể âm nhạc dân tộc Tày – Nùng. Nhiều ca khúc sử dụng chất liệu dân gian Tày, nếu được biểu diễn kết hợp giọng nữ cao với tiếng đàn tính, tạo nên một không gian âm nhạc vang ngân, thanh khiết, rất phù hợp với không khí thiêng liêng của Pác Bó. Có thể kể tới ca khúc “Em ơi lên Cao Bằng” nhạc và lời của nhạc sĩ Thanh Phương với giai điệu mềm mại, da diết, cấu trúc rõ ràng, kết hợp âm hưởng dân ca, tạo nên một bản tình ca về vùng biên cương thiêng liêng mà duyên dáng.

Về lĩnh vực sân khấu, tuy chỉ có 2 tác phẩm nhưng đều có chất lượng tốt và thể hiện rõ nỗ lực nghiêm túc của tác giả. Tổ khúc chèo “Cao Bằng trong khúc tình ca” của Nguyễn Sỹ Sang sử dụng hệ thống làn điệu chèo cổ kết hợp chất liệu miền núi, dựng nên một trường đoạn cảm xúc trải dài qua những địa danh như: Bản Giốc, Pác Bó, Sóc Giang. Ngôn ngữ sân khấu giàu hình tượng, có màu sắc trữ tình, vừa trang trọng vừa mềm mại, khiến tác phẩm trở thành một “bản tình ca” thực sự về non nước Cao Bằng. Kịch bản “Cánh buồm mở hướng” của Hồng Bàng thuộc dòng chính luận – sử thi, dựa trên hình tượng đồng chí Ngô Gia Tự, tác phẩm đã tái hiện khí thế vùng lên của phong trào cách mạng Nam Kỳ. Nhịp kịch chắc, lời thoại đậm chất hùng ca, cho thấy nỗ lực nghiêm túc trong việc đưa lịch sử cách mạng vào sân khấu đương đại.

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 3

Ban Tổ chức cùng các văn nghệ sĩ tham dự trại sáng tác.

TS. Đoàn Thanh Nô nhận định: “Trại sáng tác văn học nghệ thuật Cao Bằng 2025 đã khép lại với nhiều cảm xúc và thành tựu. Những tác phẩm được sáng tác trong trại sẽ không chỉ nằm lại ở đây, mà sẽ tiếp tục đồng hành cùng sự nghiệp quảng bá văn hóa, lịch sử và hình ảnh con người Cao Bằng ra khắp mọi miền đất nước”.

Thay mặt Thường trực Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, TS. Đoàn Thanh Nô gửi lời cảm ơn Tỉnh ủy, UBND, UBMTTQ tỉnh Cao Bằng; cảm ơn các ban ngành, các đơn vị, địa phương đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để trại sáng tác thành công tốt đẹp.

Đồng thời bày tỏ sự trân trọng và ghi nhận tâm huyết của các chuyên gia thẩm định của từng chuyên ngành đã làm việc với tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc nghề nghiệp và chuẩn mực chuyên môn cao. Những nhận xét sâu sắc, những góp ý mang tính gợi mở của các đồng chí đã giúp trại viên mở rộng tư duy thẩm mỹ, nâng cao kỹ năng sáng tác và hiểu sâu hơn giá trị của từng loại hình nghệ thuật.

Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam kỳ vọng rằng, những trải nghiệm sáng tạo tại Cao Bằng sẽ tiếp tục nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ, trở thành chất liệu cho nhiều tác phẩm giàu giá trị trong thời gian tới. Cảm hứng từ núi rừng, từ chiều sâu văn hóa và đời sống nơi đây được kỳ vọng sẽ còn lan tỏa trong từng trang viết, đường nét, khuôn hình, giai điệu và biểu đạt sân khấu của các văn nghệ sĩ.

Trong không khí trang trọng, Ban Tổ chức trại sáng tác đã chính thức tuyên bố bế mạc Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025, khép lại một đợt hoạt động giàu dấu ấn và mở ra những kỳ vọng mới cho hành trình sáng tạo sắp tới.

Một số hình ảnh tại Lễ bế mạc:

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 4

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 5

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 6

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 7

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 8

65 tác phẩm ra đời từ Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Cao Bằng năm 2025 - 9

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn