Home Blog Page 66

BMW 3-Series chạy điện mới xuất hiện trong nhà máy tại Đức


Mẫu xe sedan mới thuần điện của BMW có tên i3 EV được phủ lớp ngụy trang và chạy thử.

BMW vừa công bố quá trình hoàn thiện sedan i3 EV đầu tiên thuộc giai đoạn tiền sản xuất. Đây là nền móng của 3-Series thuần điện thế hệ mới sẽ sản xuất cuối năm 2026. Trước đó, tên gọi “i3” được BMW đặt cho chiếc hatchback nhỏ gọn được ra mắt vào năm 2013 và dừng sản xuất năm 2022. 

Nay BMW đã hồi sinh tên gọi “i3” đặt cho chiếc sedan thuần điện hoàn toàn mới. Đây là mẫu xe tương lai của dòng 3-Series trứ danh của thương hiệu. Sedan i3 EV mới được sản xuất tại nhà máy BMW ở Munich. Theo hãng BMW, việc sản xuất tiền thương mại nhằm kiểm tra và tinh chỉnh toàn bộ quy trình sản xuất từ thân vỏ, lớp sơn, quá trình lắp ráp, hệ thống hậu cần thông minh… Quá trình kiểm tra thực hiện trong điều kiện thực tế, tương tư dây chuyền sản xuất hàng loạt.

BMW 3-Series chạy điện mới xuất hiện trong nhà máy tại Đức - 1

BMW đang đẩy nhanh lộ trình điện hóa các dòng sedan chủ lực.

“Việc hoàn thiện những chiếc i3 đầu tiên là dấu mốc lớn đối với nhà máy Munich. Đây là lần đầu tiên i3 hoàn toàn được sản xuất tại đây, sử dụng công nghệ sản xuất tiên tiến cùng quy tr ình số hóa hoàn toàn. Chúng tôi đang bước vào giai đoạn hoàn thiện cuối để đảm bảo quy trình sản xuất hàng loạt diễn ra mượt mà,” ông Peter Weber – Giám đốc Nhà máy BMW Group Munich – cho biết.

BMW 3-Series chạy điện mới xuất hiện trong nhà máy tại Đức - 2

BMW đã hồi sinh tên gọi “i3” đặt cho chiếc sedan thuần điện hoàn toàn mới.

Phiên bản thử nghiệm của BMW i3 EV được phủ lớp ngụy trang, nhưng các hình ảnh ghi lại khi xe chạy trên đường thử cho thấy có ngoại hình giống hệt BMW 3-Series thế hệ mới. Những điểm tương đồng cho thấy BMW sẽ sớm chuyển đổi 3-Series sang nền tảng điện khí hoá.

BMW 3-Series chạy điện mới xuất hiện trong nhà máy tại Đức - 3

BMW đang đẩy nhanh lộ trình điện hóa các dòng sedan chủ lực, trong bối cảnh thị trường toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang ô tô điện. Việc giữ lại tên gọi “i3” mang ý nghĩa hoàn toàn mới nhưng cũng là cách mà BMW gợi nhớ di sản xe điện mà BMW từng khởi xướng cách đây một thập kỷ.



Nguồn: Arttimes.vn

Người đi muôn trùng non nước


GS.TS, Nhà văn Trình Quang Phú mới hoàn thành tập truyện ký thứ hai viết về Bác Hồ giai đoạn từ tuổi thơ đến khi Người rời Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước mang tựa “Người đi muôn trùng non nước”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đang quá trình hoàn thiện các khâu xuất bản. Thời báo Văn học nghệ thuật xin giới thiệu tới quý độc giả trích đoạn ở chương cuối của tác phẩm.

Sài Gòn, những ngày giáp Tết Tân Hợi 1911, út Huệ rủ Tất Thành đi chợ hoa nổi ở kênh Bến Nghé. Thành đơn giản trong bộ áo trắng, guốc mộc. Huệ tay xách chiếc giỏ cói, gọn gàng trong bộ cánh bà ba, áo chít ly, ôm gọn thân hình, làm nổi bật khuôn ngực tròn đầy sức thanh xuân. Thấy Tất Thành im lặng mê mải ngắm trời đất, đang mải suy nghĩ không nói chuyện với mình nên nói với giọng phụng phịu:

– Em muốn có cơn mưa cho nó mát và sạch bụi. 

Thành “ừ”, nhưng đầu vẫn nghĩ đâu đó. Huệ hỏi thẳng luôn:

– Anh Ba đang nghĩ gì thế?

– Không, không – Thành giật mình – Tôi đang nghĩ về bầu trời. Mà này, Huệ có biết không? Sài Gòn đang trong cảnh lầm than nô lệ thì có cơn mưa nào rửa sạch được bụi đó không o?

– Anh nói như người làm quốc sự.

– Đâu có. Thực tế nó là như rứa. O không thấy sao?

– Em thấy rồi, thấy từ Huế vô tới tận đây. Mà nè, anh không gọi o nữa được không?

– Vì sao? – Thành nhìn Huệ như truy hỏi với giọng thân thiết.

– Thì… thì, ở trong Nam không có o, ô gì hết.

– Thế tui gọi là gì đây? – Thành hỏi trêu.

– Là… là… hay muốn gọi tôi là chị?

Huệ làm giả mặt giận truy Tất Thành. 

– Không, tôi xin lỗi, từ nay gọi là Huệ nhá.

– Gọi là em được hông?

Thành cười mỉm và chỉ tay về phía bờ rạch Bến Nghé như muốn lái câu chuyện:

– Ồ, Huệ xem cả bến sông đầy hoa.

– Ừ. Mà anh biết không, các thuyền đó từ Bến Tre, Mỹ Tho, Đồng Tháp mười, có cả Lái Thiêu, Thủ Dầu Một… Họ đến đậu và bán từ giờ đến chiều 30 Tết. Có nhiều thuyền các nơi đến mua sỉ, trên bờ là khách mua lẻ thôi.

– Ừ. Nhiều loại hoa và cả trái cây nữa.

– Trái cây để cúng Tết đó anh. Nhà nào cũng dưa hấu đỏ, mãng cầu, bưởi, vú sữa, có nhà chưng dừa, có nhà chưng măng cụt, có nhà chưng cả nải chuối, nói là tượng trưng cho bàn tay Phật, nhưng phải đủ năm loại.

– Gọi là ngũ quả phải không?

– Đúng rồi anh.

Hai người đến bên bờ kênh Bến Nghé, thuyền bè đậu thành hai, ba hàng kéo dài hết bờ kênh, toàn hoa và hoa.

Người đi muôn trùng non nước - 1

Minh họa của họa sĩ Ngô Xuân Khôi.

Thành nhìn dọc theo con kênh, gần cả trăm chiếc thuyền lớn nhỏ nối nhau. Mỗi thuyền là một sắc xuân: Mai vàng nhú nụ, khoe cánh, rồi huệ trắng, lay dơn, thược dược, mồng gà. Màu vàng chiếm ưu thế, đó là cúc, là trường sanh, và đặc biệt là vạn thọ. Khách đi chợ hoa, ai cũng mua vạn thọ.

– Anh thấy nông dân nhà mình giỏi hông? Mỗi nhà trồng một vài thứ hoa, quả, rồi họ rủ nhau mang đến đây, tạo nên một dòng sông hoa – Huệ nói.

– Họ giỏi thật. 

Huệ chọn mua một cặp dưa hấu, mấy thứ trái cây, ba chậu vạn thọ còn nguyên đất. Thành hăng hái xách quằn cả tay.

Huệ kiếm được đôi quang gánh cũ và mượn được hai cái thúng, cô chất hết trái cây và hoa và gánh chạy nhịp nhàng phía trước. Thành đi theo, nói:

– Tết ở ngoài quê tôi mưa phùn, rét lắm. Với lại chợ ở quê nhỏ không đông như ri.  

– Anh thấy đó, một sông đầy bông hoa và trái cây.

– Đẹp hết sức, lần đầu tiên trong đời tôi được thấy và được đi rảo chợ tết nổi trên sông lạ thường như ri.

– Mỗi năm cứ Tết đến, họ bắt đầu bán lai rai từ 23 tháng Chạp, lúc đầu là gạo, là nếp, là đậu xanh, rồi bánh tét, khô cá, lạp xưởng, pháo và giấy đỏ có viết chữ Phúc. Càng gần tết, càng nhiều hoa. Và rất nhiều người không phải đến để mua, mà đến để xem hoa, xem chợ nổi. Đẹp quá, em muốn là nó sẽ còn mãi.

– Huệ nói không sai. Cái chi trở thành tiềm thức, thành thông lệ của dân ta, thì nó sẽ là một nếp văn hóa của nơi đó, thì nó sẽ trường tồn mãi.

*

*     *

Đêm giao thừa Tết Tân Hợi đã đến. Tiếng pháo nổ từ góc phố này qua góc phố kia. Tiếng còi tàu thủy kéo lên, pháo nổ rền cả thành phố. Ông Hai Hưng kéo mọi người ra sân và châm ngòi đốt tràng pháo. Pháo nổ giòn tan trước sự hân hoan đoàn tụ của các ông Nghè Mô, ông Phó bảng Sắc, ông Hồ Tá Bang, ông Bùi Văn Tiêu, Nguyễn Tất Thành và cha con ông Lê Trung Hưng. Tràng pháo nổ, khói pháo tỏa ra mù mịt như làn sương nhẹ, làm cho mọi người thấy lòng nhẹ lâng lâng và vô vùng ấm áp, mọi người vỗ tay và trở vào thắp hương trên bàn thờ. Huệ đứng sau lưng Tất Thành nói khẽ vào tai:

– Anh nhớ rước linh mẹ về ăn Tết.

Dâng hương xong, tất cả ngồi quanh mâm cỗ đón giao thừa năm mới. Huệ bưng bánh tét mặn và bánh tét chay có màu tím của đậu đỏ và màu vàng của đậu xanh chạy thành hai vòng tròn và dưa món, củ kiệu, một đĩa xoài và tôm nõn khô mời mọi người. Thấy Huệ cẩn thận bê trái dưa hấu to ra, ông Hai Hưng nói:

– Ừa, con chẻ trái dưa trước, xanh vỏ đỏ lòng lấy hên năm mới.

– Ừ, đúng đấy, ông Ba Tiêu hưởng ứng.

Huệ và Thành cắt dưa ra 8 miếng, Huệ đưa dưa mời từng người, ông Hồ Tá Bang lấy một miếng đưa cho Tất Thành nói:

– Miếng dưa đỏ đầu năm, các chú mong hiền điệt dù có gặp gì, thì lòng vẫn đỏ.

– Dạ, con cảm ơn các chú, nhất định như rứa ạ.

Thành quay qua lấy một miếng mời Huệ:

– Huệ cũng vậy nhá, năm mới luôn có vận đỏ.

Mọi người vui vẻ.

Lê Trung Hưng tay cầm ly rượu, tay cầm miếng dưa nói:

– Ta khai tiệc đầu xuân, chúc các đại huynh sức khỏe, an khang thịnh vượng. 

Champagne nổ, bọt trào trắng xóa, mọi người cười hả hê vừa lòng. Mọi người hào hứng cạn ly với ông Phó bảng. Ông Sắc rót cốc rượu nữa, giơ lên và nói:

– Nguyễn Tất Thành, giờ con là cánh chim bằng (1), con phải nhớ: làm trai thì nợ nước là nợ lớn nhất. Đã là cánh chim bằng thì không được gãy cánh, phải bay đến nơi về đến chốn, con hãy nhận sự trao gởi của các chú. Đó là tình cảm to hơn biển cả, cao hơn đại sơn, con hãy lấy đó làm sức mạnh.

– Dạ, thưa cha, thưa các chú, con nhớ và con sẽ cố gắng.

Nguyễn Tất Thành đã có một cái Tết đặc biệt giữa Sài Gòn trước lúc đi xa. Anh thấy lòng bồn chồn, rộn vui và cũng nặng lo, nặng nghĩ bởi con đường phía trước. Làm sao để xứng với tình cảm to lớn, sâu sắc đầy ý chí ái quốc của cả lớp cha, chú. Tất Thành nhớ từng lời của Thượng thư Cao Xuân Dục, của cố Thượng thư Đào Tấn, nỗi niềm tâm sự ở xứ Duồng của chú Nghè Mô, của các chú bạn thân hữu của cha, và đặc biệt là sự dặn dò của cha.

*

*      *

Vừa dưới tàu thủy gặp thuyền trưởng Michel xin việc và được ông nhận làm thủy thủ. Tất Thành lên bờ, tìm ngay đến miếu Linh Sơn (2), một ngôi miếu linh thiêng của người Sài Gòn, ông Nguyễn Sinh Sắc đang ở nhờ gian nhà phía sau miếu, để ngày ngày đến tiệm thuốc bắc Trường Thọ Viên xem mạch, kê toa. Ông Nguyễn Sinh Sắc mới từ đồn điền cao su Phú Riềng trở về, thấy Thành đến, ông vội đưa con vào nhà và hỏi:

– Công việc răng rồi con. Chú Nho có giúp được không?

– Thưa cha, mọi việc ổn cả. Các chú ai cũng tận tình. Con vừa dưới tàu “đô đốc” Latouche-Tréville lên. Viên thuyền trưởng rất tử tế, tử tế như thầy Queignee ở trường Quốc học ngày trước vậy cha.

– Ừ, thực dân Pháp thì xấu, chứ dân Pháp thì nhiều người tốt lắm con.

– Ông thuyền trưởng đã nhận con, từ mai con là thủy thủ rồi, ngày mồng 9 tháng 5 này, tức thứ hai ngày 5 tháng 6 lịch tây con rời bến rồi cha.

– Ôi, tốt quá, nhanh vậy răng?

Ông Sắc nói xong lặng im, suy nghĩ một lúc rồi nhìn Tất Thành với tất cả sự trìu mến – Vậy là có đường rồi, tốt rồi. Ông im lặng để nén xúc động, xúc động vì mừng, xúc động vì sẽ phải chia tay con trai, không biết ngày gặp lại. Ông nhìn Tất Thành và nhắc lại ba chữ: “Có đường rồi” và nói tiếp:

– Nhưng… hôm con đi, cha không còn ở Sài Gòn, trên đồn điền họ cần cha chữa bệnh cho phu cao su nghèo khó.

Thực ra, ông Sắc không muốn có mặt trong giờ phút chia tay đó, vì nó sẽ làm cho Nguyễn Tất Thành bịn rịn mềm lòng. Ông quyết định đi Bình Long ngay để tránh cảnh chia tay khó xử.

– Vậy hả cha? – Thành thưa và thấy lòng bồi hồi.

– Ừ. Con ngồi xuống đây, chiều nay ăn cơm chay với cha, coi như buổi chia tay, mai cha đi rồi. Hôm nay, cha con mình nói cho hết ý, lâu nay cha và con đã bàn nhau nhiều lần. Giờ cha muốn tổng lại với con.

– Dạ.

– Con còn nhớ hôm ở nhà Thượng thư Cao Xuân Dục không? Dân ta từ Nam chí Bắc đâu cũng có lớp người ái quốc, các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương, cụ Đề Thám, cụ Phan Đình Phùng đều vào rừng lập căn cứ trường kỳ tranh đấu đến mười năm, hai mươi năm, tranh đấu bằng súng đạn hẳn hoi. Cụ Phan Bội Châu định Đông Du, kéo thanh niên ưu tú qua Nhật cầu viện vũ trang để giải phóng đất nước. Phó bảng Phan Châu Trinh thì dự tính ôn hòa để dựa vào Pháp nhằm đổi thay. Phong trào Cần Vương có đến hai mươi tỉnh, chiếm hai phần ba số tỉnh cả nước, có các cuộc khởi nghĩa. Kể cả phong trào chống thuế cũng vậy, con biết cả rồi, nhưng đều bị đàn áp. Vua thì bị đày biệt xứ. Các thủ lĩnh người bị giết, người bị ngục tù. Con có suy nghĩ rút ra được điều chi không?

– Thưa cha. Con đang suy ngẫm để tìm ra cái nguyên cớ chưa thành công.

– Qua bên đó, xem chuyện xứ họ làm, so chuyện xứ mình sẽ sáng hơn. Con phải tìm cho ra nguyên cớ, thì sau này mới may ra.

– Dạ.

Hai cha con đều im lặng, một khoảng lặng giữa hai người. Trong Tất Thành nhiều câu hỏi đặt ra… 

Ông Nguyễn Sinh Sắc chuyển giọng:

– Thành này, còn một điều nữa, cha muốn nói, đó là chuyện con và Huệ. Cha biết hai con phải lòng nhau, Huệ nó thương con thật lòng và nó rất xứng đáng với con, nhưng con vì nghĩa lớn phải ra đi. Con phải nói với nó có đầu có đuôi, nó mà chờ con là lỡ đời con gái đó. Nói cho khéo, đừng làm khổ nó, con hiểu chưa?

– Dạ, con hiểu, thưa cha.

– Phần cha, con đừng lo. Bỏ cái vòng kim cô làm quan trên đầu là cha vui rồi, cha ở đâu cũng giúp người nghèo được, chữa bệnh, dạy học… nên lúc nào cha cũng sống được. Cái lo lớn nhất của cha lâu nay là tìm con đường cho con. Nay được rồi là cha vui. Làm trai con nhớ, nợ lớn nhất là nợ nước. Đền được nợ nước là báo hiếu lớn nhất cho cha, cho dòng tộc, con hiểu chưa?

– Thưa cha, con hiểu.

– Lớp của cha và các bác, các chú muốn hết sức, đã làm hết sức, nhiều người quyên khu báo quốc (có nghĩa: hy sinh thân mình vì tổ quốc), nhưng vẫn chưa làm được điều mong muốn – Ông Sắc nhìn Tất Thành rồi bật lên một câu chữ Nôm: “Trưởng giả chí ư hậu duệ” (có nghĩa lớp đi trước gởi gắm chí hướng cho lớp cháu con).

Tất Thành khoanh tay đáp:

– Thưa cha, “Tiền hiền tân hỏa, tương truyền bất tức” (ngọn lửa của đấng cha ông mãi mãi được lan truyền).

– Tốt, nhớ nhá, con không chỉ “tử thừa phụ” (con nối chí cha), mà là làm thay cho cha, cho các bác, các chú.

Tất Thành đứng dậy xúc động nghẹn ngào, anh đưa một ngón tay lên trời như một cách tuyên hứa và nghiêm túc nói:

– Thưa cha, con hứa! Con hứa với cha. 

Nước mắt Tất Thành trào ra. Ông Sắc xúc động nắm và lắc hai vai Tất Thành nói trong nghẹn ngào: 

– Cha chờ tin con.

Buông tay khỏi vai Tất Thành, để xúc động trôi qua, ông lại hỏi:

– Còn việc ni, ra đi gia tài con có được bao nhiêu?

– Thưa cha, xuống tàu con có lương rồi, lo chi. Số tiền các chú ở Liên Thành cho con đã nhờ đổi ra đồng quan Pháp.

Tất Thành móc trong túi ra một đồng bạc tròn có đường kính bằng hai đốt ngón tay dơ lên và nói:

– Cha xem này, gọi là đồng bạc Đông Dương mà mặt chính là hình bà đầm xòe đội vương miện, tay cầm cây bút quyền lực và ghi rõ Cộng hòa Pháp (Republique Francaise).

Tất Thành lật ra mặt sau:

– Còn bên ni thì ghi: Indo Chine nhưng liền với chữ Francaise có nghĩa là Đông Dương của Pháp còn gì. Cha nghĩ xem đến đồng tiền cũng nô lệ.

– Ừa, rứa đó con. Các triều Nguyễn từ thời Gia Long đều có đúc tiền. Thời Hàm Nghi, có đồng Hàm Nghi Trọng Bảo. Khi Hàm Nghi bị đi đày thì Pháp không cho dùng nữa. Vua Thành Thái thì có đồng Thành Thái Thông Bảo bằng kẽm nhỏ có lỗ vuông. Đến khi Thành Thái bị truất ngôi thì đồng tiền Việt bị truất luôn.

– Cha, trên đồng Piastre (3) ghi rõ 1908.

– Ừ, Thành Thái bị truất ngôi 1907, năm sau Pháp ra đồng tiền ni. Đông Dương cái chi, đây là tiền Pháp dùng ở Đông Dương, nói như con là đồng tiền nô lệ. Dân bị nô lệ phải chịu thôi con.

– Dạ! 

– Thành lấy hết 10 đồng Piastre trong túi ra để lên bàn và nói với cha:

– Con còn 10 đồng Đông Dương ni, con xin được phụ cha những ngày mới vô xứ ni.

– Không, con đi đường xa nhiều bất trắc, đừng lo cho cha, gia tài con chỉ mấy đồng bạc, kể chi.

– Thưa cha, tiền thì con không nhiều, nhưng con có tài sản lớn lắm, đó là sự trao gởi của cha, của các chú.

– Con nhớ, cái lớn nhất là truyền thống vĩ đại của dân tộc Việt. Gia tài ni sẽ giúp con thành người giàu có.

Ông Nguyễn Sinh Sắc đứng nhìn kỹ con trai, cảm thấy dù đang xúc động, lòng vẫn nhẹ nhàng. Bỗng ông bật lên: “Lập chí dĩ đạt, thủ chí dĩ thành” (Nghĩa là: có chí khí thì đạt, giữ vững ý chí thì sẽ thành công).

Biết cha nhắc mình phải giữ vững ý chí để giành lấy thành công, nhưng trong đó cha muốn nhắc đến hai chữ đạt và thành là tên của hai anh em mà ông đã đặt ngày “nhập làng”. Nguyễn Tất Thành vẫn đứng và nghiêm túc thưa với cha:

“Chí dĩ lập, tâm dĩ quyết

Túng vạn trùng, diệc đạt thành”

(có nghĩa chí đã chọn, lòng đã quyết thì dù có muôn trùng gian khó vẫn đạt đến thành công)

Tất Thành nhấn mạnh lại ba chữ: “diệc đạt thành” để nhắc lại với cha hai cái tên mà cha đã đặt cho hai anh em là Tất Đạt và Tất Thành. Đồng thời, cũng muốn nói với cha nhất định anh sẽ đạt được thành công.

Ông Nguyễn Sinh Sắc ôm chầm lấy hai vai Tất Thành vỗ, vỗ và lắp bắp:

– Cha yên tâm rồi, cha yên tâm rồi.

Sáng Chủ nhật của tuần đầu tháng 5 âm lịch, Tất Thành rủ út Huệ đi thăm vườn Bách Thảo Sài Gòn (4). 

*

*      *

Hai người đã qua khỏi khu vườn thú, đi lần đến bìa vĩa rừng có thảm cây cao đầy bóng mát, họ dừng chân bên gốc cây thị to tỏa nhánh. Dưới gốc có một khúc cây được vạt và bào nhẵn mặt làm ghế ngồi. Thành nói:

– Mình ngồi đây nghỉ chân nói chuyện một lúc.

– Dạ! 

Huệ ngồi xuống ngước nhìn cây thị và reo lên: 

– Ôi, cây thị, có trái chín trên cao, thơm quá!

Thành thấy một quả thị nhỏ chín vàng rụng sát chỗ ngồi, anh lượm và dấu trong người. Thành hỏi Huệ:

– Em có nhớ truyện Tấm Cám không?

– Có, em có nhớ.

– Vậy thì đứng lên đưa tay ra, nhắm mắt lại làm bà già đọc câu: “Thị ơi, thị rơi vào tay bà, bà đem về bà ngửi chứ bà không ăn”, thị sẽ rơi vào tay em.

– Làm sao có chuyện đó.

– Thử xem sao? Huệ không xin, thì tôi làm bà cụ để xin cô Tấm nghe.

– Không, để em – Huệ liền xăng xái.

Huệ không đứng dậy, cô ngồi, nhắm nghiền hai mắt, xòe hai bàn tay ra và nhẩm nhẩm đọc. Thành nhanh tay bỏ quả thị vào tay Huệ. Huệ giật mình ngơ ngác reo lên:

– Ôi, quả thị.

Thành cười ngặt nghẽo. Huệ như chợt hiểu ra:

– Thì ra của anh. Cái anh này! – Huệ vừa nói, vừa đưa quả thị lên mũi ngửi.

– Của nàng Tấm cho đấy.

– Của chàng Tấm… Thành thì có. Cả hai lại càng cười vui.

Bỗng Tất Thành bâng quơ hỏi Huệ:

– Lúc ở Huế, em có nghe chuyện vua Hàm Nghi, vua Thành Thái chống Tây không?

– Em có nghe lỏm khi cha anh với cha em và các chú bàn chuyện quốc sự này. Sao anh hỏi chuyện này?

– Huệ, em nghĩ gì về chuyện quốc sự.

– Em là thân gái thì nghĩ được gì.

– Ái quốc là chuyện của tất cả mọi người mà em. Hôm nay, anh muốn nói với em chuyện nớ. Anh suy nghĩ hoài, muốn tìm xem có cách chi để những mong muốn của tiền nhân, của cha chú có thể làm được, nên anh định sẽ đi ra nước ngoài để xem ra răng?

– Trời, anh định đi đâu?

– Anh đi sang xứ Tây.

– Anh không nói giỡn chứ? Ở xứ mình khổ, anh đi tìm nơi sung sướng phải không?

– Nỏ phải em. Ở đây có cha, có các chú. Chú Hưng và em xem anh như người trong nhà, có chi sướng hơn là sống trong khung cảnh đó. Anh biết đi là gian khổ, là khổ lắm, nhưng anh phải đi để cố học được điều chi đó mang về giúp dân mình.

– Anh đi một mình, thân cô thế cô vậy sao?

– Anh sẽ cố gắng.

– Lấy tiền đâu anh đi?

– Anh xin làm thủy thủ tàu viễn dương để đi, tiền là ở đây em – Thành giơ hai bàn tay ra để khẳng định. 

– Em biết cái chí lớn của anh. Giờ em mới hiểu vì sao các bác gọi anh là cánh chim bằng – Huệ dừng lại nhìn Thành và hỏi tiếp: Nhưng chừng nào anh đi?

– Ngày mai anh xuống tàu.

– Trời, mai anh đi thiệt sao? – Huệ nhìn Thành ngơ ngác, thất thần, hai hàng nước mắt trào ra.

– Nhưng…

– Nhưng mà mần răng?

– Anh đi, em buồn… Em nhớ…

– Huệ à, anh biết em thương anh, anh cũng thương em lắm. Nhưng đạo làm trai, cha dạy nợ nước phải đền. Anh cảm ơn em thời gian qua đã giúp cho anh nhiều.

Nói đến đây Thành lấy ra một gói nhỏ bằng vải đỏ đưa cho Huệ và nói:

– Anh có kỷ vật này, đây là chiếc lược của mẹ anh để lại, nó vốn là lược của cha anh tặng mẹ, bà dùng nhiều năm, khi bà mất anh giữ suốt một thập niên để làm vật kỷ niệm bất ly thân. Nay anh trao lại cho em, em giữ lấy. Anh muốn nói với em điều ni: Anh đi không biết khi mô về. Em đừng đợi.

Cầm chiếc lược trong tay, nước mắt càng giàn dụa hơn, Huệ nói:

– “Tín vật định tình” (5) anh trao, em xin nhận, anh hãy an tâm. Cha ở nhà để em lo. Anh đi, em chờ… nói đến đó Huệ nghẹn ngào nấc lên.

Thành nắm chặt tay Huệ.

– Em đừng khóc, nhớ nhau là quí, nhưng đừng chờ anh, lỡ đời con gái.

Huệ nhìn Tất Thành và nói như khẳng định:

– Không!

Sau những khoảng lặng vì xúc động, hai người đứng dậy, sánh vai đi ra trạm tàu hơi Jardin Botanique nằm ngay xế cửa vườn Bách Thảo. Thành nói:

– Chú Hai Hưng hẹn anh chiều nay về nhà em ăn cơm.

– Hèn chi, cha biết anh đi, mà kín như bưng, chỉ dặn em chuẩn bị món gì đãi anh.

– Giờ anh về Chợ Lớn lấy tư trang, chào các chú, các anh ở Liên Thành, rồi về nhà em. Tối nay, cha em bảo anh ở lại để tâm tình.

– Thế chứ.

– Rứa là răng?.

– Thì chí ít nhà em cũng giữ được anh đêm cuối cùng.

Huệ nói và nhìn Thành với đôi mắt long lanh mừng rỡ, thể hiện một tình cảm sâu sắc. Nhưng ngay sau đó, như nhận ra điều thiêng liêng hơn, cô nói bằng âm Hán Nôm:

– Đắc giao như quân, vinh hạnh chi chí (được có anh là niềm vinh dự). Cô nói thêm: “Dư chi sơ vinh, duy quân dã” (Em lấy làm vinh hạnh khi có anh, và chỉ có anh mà thôi).

Thành vỗ nhẹ vào vai Huệ nói nhỏ: 

– Ngày mai hành khử, anh sẽ luôn dặn lòng thương ký (6) của em (ý: mai anh đi xa, lời em nói ghi sâu trong lòng anh).

Như sợ nói âm Hán Nôm chưa hết ý, Thành nói thêm:

– Câu nói vừa rồi của em là một động lực theo anh suốt đời.

*

Sáng thứ hai, ngày 5 tháng 6 năm 1911, tức mồng 9 tháng 5 Tân Hợi. Sài Gòn trời tạnh, không mưa. Mặt trời chiếu sáng rực rỡ. – Chú Hai Hưng hỏi Thành:

– Cháu coi hành trang đủ chưa?

– Dạ, đủ rồi, đơn giản mà chú.

– Còn mấy thứ này. – Huệ xách một túi cói nhỏ từ dưới bếp lên: em chuẩn bị cho anh mấy thứ này.

– Thứ chi nữa em?

– Đây là mấy củ khoai lang sống. Thứ này cha nói khi say sóng ăn nó giả say.

– Ôi, anh nghe chú Nho dặn, mà lu bu quên mất. Em hay quá.

– Ừ, phải rồi. – Ông Hai Hứng nói thêm: Khi say sóng cháu ăn sống cả vỏ, nó sẽ giã sóng đó nghen.

– Dạ.

– Em mua khoai lang mới đào còn mủ, sẽ chống say tốt hơn, anh ăn nhớ rửa sạch. Còn đây là gói rim gừng, em đưa cho anh luôn củ gừng già nữa và chai dầu Nhị thiên đường, anh bỏ trong người để phòng khi gió máy.

– Em chu đáo quá, thế này làm sao anh quên được. – Nguyễn Tất Thành nói.

– Anh không được dùng chữ quên nghe.

– Thế em muốn dùng chữ chi?

– Em muốn bỏ chữ quên, lấy chữ nhớ nè.

Nguyễn Tất Thành “à” lên một tiếng và cười nói: 

– Học trò của ông Phó bảng Sắc dùng từ chuẩn quá.

Huệ cắn môi, liếc nhẹ Nguyễn Tất Thành:

– Ghét cái anh này!

Ông Hai Hưng đưa Thành một đoạn rồi nói:

– Thôi, cháu đi. Nhớ bảo trọng và nhớ rằng: Tư trị thông giám (ý nói thành công không phải một sớm một chiều, phải kiên nhẫn).

– Dạ, cháu hiểu. Cháu xin cảm ơn chú.

– Huệ đưa anh con ra bến tàu. 

Ông Hai Hưng nói xong quay lại để giấu đi sự xúc động và không muốn nặng lòng bịn rịn.

Nguyễn Tất Thành và Lê Thị Huệ dừng lại bên hiên Hotel d’AnNam (7). Huệ đưa một gói nhỏ xíu bọc bằng giấy nhật trình (8) và nói:

– Đây là 5 bông hoa Huệ, em lặt tỉa từ bình hoa Huệ anh cúng mẹ tối qua, tượng trưng cho ngũ hành, cho sự phù trợ để anh đi xa. 

– Ôi! 

Tất Thành nín lặng mấy giây, đè nén cảm xúc, rồi nói: 

– Cảm ơn em. Em ở lại mạnh khỏe và luôn như ý nhá.

– Như ý của em là anh mau trở về.

– Ừ, chưa biết khi nào về, nhưng anh nhất định sẽ về.

– Về phải tìm nhau. 

Huệ vừa nói, vừa tháo chiếc khăn rằn đang quàng trên cổ và choàng vào cổ Tất Thành:

– Trời Tây lạnh lắm. Anh nhớ giữ ấm.

Nhìn Thành với tất cả sự thương yêu, Huệ nói:

– Hứa đi.

– Em bảo anh hứa gì?

– Hứa… mau về.

Một lần nữa, Huệ tức tưởi. Thành một tay giữ giải khăn rằn, một tay nắm chặt bàn tay mềm mại ấm áp của Huệ.

– Em hãy nín đi, nhất định anh sẽ về. Em cười lên để tiễn anh chứ.

– Dạ!… Anh phải nhớ rằng… anh là muối của đời em.

Huệ nhìn khuôn mặt đầy cương nghị với đôi mắt hiền dịu yêu thương của Thành và nở nụ cười trong nước mắt:

– Anh đi… mau về.

Nguyễn Tất Thành buông tay Huệ, dằn lòng, bước nhanh về phía cầu tàu của Thương cảng Sài Gòn, nơi ấy có con tàu Năm Sao sẽ đưa anh rời Sài Gòn, rời đất nước Việt Nam, để băng qua sóng to, biển lớn, tìm đường tháo xiềng gông nô lệ cho dân tộc thân yêu của mình.

Người đi muôn trùng non nước - 2

Nhà văn Trình Quang Phú và gia đình bên tượng đài Bác Hồ.

Chú thích:

(1): Cánh chim bằng: là hình ảnh ẩn dụ trong văn học và triết học Phương Đông, tượng trưng cho sức mạnh, vóc dáng phi thường, bay xa vạn dặm, tượng trưng cho vươn tới trời cao, mang hoài bão lớn, vượt qua giông bão khó khăn để bay đến đất.

(2): Miếu Linh Sơn mấy năm sau được tu sửa thành chùa Linh Sơn nằm trên đường Cô Giang, Quận 1.

(3): Piastre là tên đơn vị tiền Đông Dương.

(4): Vườn Bách thảo Sài Gòn, thành lập năm 1865, sau được đổi tên là Thảo cầm viên Sài Gòn.

(5): Chữ Nôm có nghĩa vật kỷ niệm cho lời hẹn ước.

(6): Âm Nôm Hành khử: có nghĩa lên đường đi xa. Thương ký: có nghĩa ghi khắc trong lòng.

(7): Nay là khách sạn Majestic.

(8): Giấy nhật trình tức là giấy báo in.

Trích truyện ký của Trình Quang Phú




Nguồn: Arttimes.vn

10 mẫu ô tô ‘kén khách’ nhất tại Việt Nam năm 2025


Bức tranh ô tô Việt Nam 2025 cho thấy thị trường tăng tốc mạnh mẽ, nhưng không phải mẫu xe nào cũng tìm được chỗ đứng.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Chở quất về tới nhà chơi Tết, người phụ nữ gặp tai nạn “dở khóc dở cười”


Mua được cây quất mang về nhà an toàn suốt quãng đường dài, nhưng khi vừa dừng xe trước sân, người phụ nữ lại gặp sự cố bất ngờ khiến cả người lẫn xe ngã nhào.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: “Cô bé hạt tiêu” điều khiển xe phân khối lớn, thao tác cực ngầu ở đèn đỏ


Dù có chiều cao khiêm tốn, cô gái vẫn khiến nhiều người trầm trồ khi thuần thục dừng xe, chống chân rồi leo lên xe phân khối lớn đầy tự tin.




Nguồn: Arttimes.vn

Chọn mua ô tô màu hợp mệnh năm Bính Ngọ: Bí quyết tăng vận khí


Chọn màu ô tô theo phong thủy Ngũ hành đang trở thành tiêu chí được nhiều người cân nhắc bên cạnh thiết kế và công nghệ, với kỳ vọng mang lại may mắn và sự an tâm khi sử dụng.

Trong văn hóa Á Đông, chiếc ô tô không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn được xem như tài sản lớn gắn bó lâu dài với chủ nhân. Vì vậy, bên cạnh yếu tố thiết kế, công nghệ hay khả năng vận hành, nhiều người Việt còn cân nhắc màu xe theo phong thủy, với mong muốn mang lại may mắn, hanh thông và hạn chế rủi ro trên mỗi hành trình.

Chọn mua ô tô màu hợp mệnh năm Bính Ngọ: Bí quyết tăng vận khí - 1

Dựa trên học thuyết Ngũ hành gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cùng quy luật tương sinh – tương khắc, việc chọn màu xe phù hợp được cho là giúp chủ xe thêm vững tâm và tự tin khi cầm lái.

Với người mệnh Kim, gam màu bản mệnh gồm trắng, xám bạc và ghi – những sắc thái đại diện cho kim loại, sự tinh khiết và hiện đại. Đây cũng là nhóm màu phổ biến trên thị trường, dễ bán lại và ít lỗi mốt. Theo quan niệm tương sinh, Thổ sinh Kim, vì vậy các tông vàng nhạt, nâu đất cũng là lựa chọn đáng cân nhắc, tượng trưng cho nền tảng vững chắc nâng đỡ bản mệnh. Ngược lại, người mệnh Kim thường tránh màu đỏ, hồng hoặc tím – thuộc hành Hỏa, vì Hỏa khắc Kim.

Chọn mua ô tô màu hợp mệnh năm Bính Ngọ: Bí quyết tăng vận khí - 2

Người mệnh Mộc hợp với các gam xanh lá, xanh rêu – biểu trưng cho cây cối và sự phát triển. Trong bối cảnh thị trường ô tô ngày càng đa dạng màu sắc, những tông xanh đậm hoặc xanh lục bảo trên SUV, crossover đang được nhiều hãng đưa vào danh mục lựa chọn, đáp ứng tốt nhu cầu cá tính lẫn phong thủy. Thủy sinh Mộc, vì vậy màu đen và xanh dương cũng được xem là tương sinh, hỗ trợ cho vận khí. Tuy nhiên, người mệnh Mộc thường hạn chế chọn xe màu trắng hoặc ánh kim thuộc hành Kim, do Kim khắc Mộc.

Đối với mệnh Thủy, hai màu sắc tiêu biểu là đen và xanh dương – gợi liên tưởng đến nước và sự linh hoạt. Đây cũng là nhóm màu được ưa chuộng bởi tính sang trọng, dễ phối nội thất và ít bám bẩn tương đối. Kim sinh Thủy nên xe màu trắng, bạc cũng được xem là lựa chọn tốt. Trong khi đó, người mệnh Thủy thường tránh màu vàng đất, nâu sậm thuộc hành Thổ vì Thổ khắc Thủy.

Chọn mua ô tô màu hợp mệnh năm Bính Ngọ: Bí quyết tăng vận khí - 3

Người mệnh Hỏa nổi bật với các gam nóng như đỏ, cam, hồng hoặc tím – thể hiện năng lượng và cá tính mạnh mẽ. Trên thực tế, xe màu đỏ luôn tạo hiệu ứng thị giác cao và phù hợp với những mẫu xe mang thiên hướng thể thao. Theo quy luật tương sinh, Mộc sinh Hỏa nên màu xanh lá cũng có thể cân nhắc. Ngược lại, Hỏa khắc Kim, đồng thời bị Thủy khắc, vì vậy người mệnh Hỏa thường hạn chế các màu đen, xanh dương hoặc trắng ánh kim nếu quá coi trọng yếu tố phong thủy.

Cuối cùng là mệnh Thổ, đại diện cho sự ổn định và bền vững. Các gam vàng, nâu, be hoặc cam đất được xem là màu bản mệnh. Bên cạnh đó, Hỏa sinh Thổ nên xe màu đỏ, hồng, tím cũng có thể mang lại nguồn năng lượng tích cực. Người mệnh Thổ thường tránh màu xanh lá cây – thuộc hành Mộc, vì Mộc khắc Thổ theo quan niệm Ngũ hành.

Riêng với người tuổi Ngọ – năm con Ngựa – việc chọn màu xe nên kết hợp cả yếu tố con giáp và bản mệnh ngũ hành theo năm sinh cụ thể. Trong hệ thống địa chi, Ngọ thuộc hành Hỏa, do đó nhìn chung hợp với các gam đỏ, cam, tím hoặc xanh lá (tương sinh). Tuy nhiên, mỗi năm sinh lại mang một nạp âm khác nhau như Giáp Ngọ (Kim), Bính Ngọ (Thủy), Mậu Ngọ (Hỏa), Canh Ngọ (Thổ) hay Nhâm Ngọ (Mộc). Vì vậy, để chính xác, chủ xe nên xác định rõ mệnh theo năm sinh âm lịch của mình rồi đối chiếu màu sắc phù hợp như đã phân tích ở trên.

Chọn mua ô tô màu hợp mệnh năm Bính Ngọ: Bí quyết tăng vận khí - 4

Dù phong thủy là yếu tố mang tính tham khảo và niềm tin cá nhân, việc chọn màu xe hợp mệnh vẫn tạo ra cảm giác an tâm, từ đó giúp chủ nhân thêm tự tin trong quá trình sử dụng. Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh, bảng màu cũng trở thành một phần quan trọng trong chiến lược sản phẩm của các hãng xe. Kết hợp hài hòa giữa sở thích cá nhân, yếu tố phong thủy và giá trị thực tiễn sẽ là cách tiếp cận hợp lý, để chiếc xe không chỉ đẹp mắt mà còn đồng hành lâu dài và bền vững cùng chủ nhân.



Nguồn: Arttimes.vn

Hệ thống camera AI và thiết bị flycam được vận hành để đảm bảo an ninh, an toàn tại Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026


Ban Tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 đã lắp đặt, vận hành hệ thống camera AI và thiết bị flycam dọc theo tuyến suối Yến nhằm theo dõi tình hình giao thông đường thủy, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Việc ứng dụng công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch hóa hoạt động kiểm tra, đồng thời hỗ trợ điều hành nhanh chóng trong các tình huống phát sinh, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

 25.000 lượt khách trẩy hội trong hai ngày đầu năm mới

Theo thống kê của Ban Tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026, trong hai ngày đầu năm mới Bính Ngọ, đã có khoảng 25.000 lượt du khách về trẩy hội, du Xuân tại quần thể di tích và danh thắng Chùa Hương. Riêng trong ngày 18/02 (mùng 2 Tết), lượng khách tăng mạnh, ước tính khoảng 20.000 lượt. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy sức hút của lễ hội ngay từ những ngày đầu năm, đồng thời đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành, phân luồng, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông đường bộ và đường thủy.

Đến thời điểm hiện tại, tất cả các bộ phận phục vụ lễ hội đã được triển khai đồng bộ, nghiêm túc. Các lực lượng tham gia đã có mặt đầy đủ tại các vị trí, thực hiện đúng nhiệm vụ được phân công. Công tác tổ chức trong hai ngày đầu năm mới diễn ra an toàn, chưa ghi nhận sự cố đáng tiếc nào. Các phương án đảm bảo an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và hướng dẫn du khách được thực hiện bài bản, chặt chẽ.

Hệ thống camera AI và thiết bị flycam được vận hành để đảm bảo an ninh, an toàn tại Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 - 1

Đáng chú ý, mặc dù lượng khách tăng cao trong ngày mùng 2 Tết, song không xảy ra tình trạng ùn tắc kéo dài tại những điểm từng được xem là “điểm nóng” của các mùa lễ hội trước đây như bến Yến, bến Thiên Trù, khu vực lối ra vào chùa Thiên Trù hay khu vực động Hương Tích. Công tác phân luồng giao thông, điều tiết phương tiện đò thuyền và hướng dẫn khách tham quan được triển khai linh hoạt, kịp thời, góp phần đảm bảo dòng khách di chuyển ổn định, trật tự.

Theo đánh giá của nhiều du khách, không gian di tích năm nay có sự thay đổi rõ rệt về diện mạo và cảnh quan. Nhiều hàng quán kinh doanh lấn chiếm không gian di tích đã được giải tỏa, trả lại sự thông thoáng, trang nghiêm và linh thiêng vốn có của khu danh thắng. Việc chỉnh trang, sắp xếp lại hoạt động kinh doanh dịch vụ không chỉ góp phần nâng cao mỹ quan mà còn tạo cảm giác thoải mái, văn minh cho du khách khi hành hương, chiêm bái.

Trong ngày 18/2, Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 đã trực tiếp đến thăm, chúc Tết và làm việc với các tổ, trạm phục vụ lễ hội. 

Tại các buổi làm việc, ông Lê Văn Trang – Chủ tịch UBND xã Hương Sơn, Trưởng Ban Tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 – đã gửi lời chia sẻ, động viên tới các lực lượng đang làm nhiệm vụ trong những ngày vui Xuân của nhân dân cả nước và du khách thập phương.

Trưởng Ban Tổ chức ghi nhận và đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực cũng như khí thế làm việc nghiêm túc ngay từ ngày đầu ra quân của các cán bộ, chiến sĩ và người lao động. Đồng thời, ông nhấn mạnh rằng mùa lễ hội mới chỉ bắt đầu, dự báo trong những ngày tiếp theo, đặc biệt là các dịp cuối tuần và cao điểm sau Rằm tháng Giêng, lượng du khách sẽ tiếp tục tăng cao. Vì vậy, các lực lượng cần phát huy tinh thần chủ động, nâng cao ý thức trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo công tác tổ chức theo đúng tinh thần chung của lễ hội năm nay: An toàn – Thân thiện – Chất lượng.

Hệ thống camera AI và thiết bị flycam được vận hành để đảm bảo an ninh, an toàn tại Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 - 2

Chủ tịch UBND xã Hương Sơn cũng yêu cầu từng cán bộ, chiến sĩ, từng hộ kinh doanh dịch vụ phải nâng cao ý thức phục vụ, giữ gìn hình ảnh văn minh, lịch sự, tạo ấn tượng tốt đẹp để du khách hài lòng khi đến và thoải mái khi ra về. Đặc biệt, tại các khu vực trọng điểm như chùa Thiên Trù, động Hương Tích và những nơi cán bộ, chiến sĩ lưu trú dài ngày, công tác hậu cần phải được đảm bảo chu đáo. Bếp ăn tập thể, chỗ nghỉ ngơi cho lực lượng làm nhiệm vụ cần được vệ sinh thường xuyên, đảm bảo điều kiện sinh hoạt tốt nhất, giúp các lực lượng yên tâm công tác.

Miễn hoàn toàn phí gửi xe ô tô các loại ở tất cả các bãi xe 

Một điểm mới đáng chú ý của mùa lễ hội năm nay là việc siết chặt quản lý hoạt động phương tiện trên suối Yến. Những năm trước, tình trạng xuồng máy của các lực lượng thường xuyên di chuyển trên suối Yến đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các đò chèo tay phục vụ du khách, tạo sóng lớn, gây khó khăn trong việc điều khiển đò và ảnh hưởng đến trải nghiệm của du khách. Bên cạnh đó, tiếng ồn và khí thải từ xuồng máy cũng gây phản cảm, làm giảm tính trang nghiêm và yên tĩnh của không gian lễ hội.

Hệ thống camera AI và thiết bị flycam được vận hành để đảm bảo an ninh, an toàn tại Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 - 3Lễ hội du lịch Chùa Hương: Bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, lấy du khách làm trung tâm

Rút kinh nghiệm từ các mùa trước, Ban Tổ chức Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 chỉ bố trí 3 xuồng máy tại các vị trí bến Yến, cầu Hội và bến Thiên Trù, nhằm sẵn sàng ứng phó trong các tình huống khẩn cấp. Tất cả các lực lượng tham gia tổ chức lễ hội nếu không xử lý tình huống đặc biệt đều phải sử dụng đò chèo tay để di chuyển. Quy định này không chỉ góp phần đảm bảo an toàn mà còn giữ gìn không gian văn hóa truyền thống, tạo điều kiện để du khách được trải nghiệm hành trình lễ hội trong sự yên tĩnh, thanh bình đặc trưng của vùng sơn thủy hữu tình.

Song song với đó, công tác đảm bảo an toàn đường thủy được siết chặt. Các đò xuất bến bắt buộc phải trang bị đầy đủ áo phao; nếu không có áo phao hoặc du khách không sử dụng áo phao, lực lượng chức năng sẽ kiên quyết không cho xuất bến. Ban Tổ chức bố trí lực lượng thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở các lái đò chấp hành nghiêm quy định. Trường hợp cố tình vi phạm sẽ bị lập biên bản xử lý; nếu vi phạm nghiêm trọng có thể bị đình chỉ hoạt động.

Năm nay, Ban Tổ chức cũng ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý, giám sát. Hệ thống camera AI và thiết bị flycam được lắp đặt, vận hành dọc theo tuyến suối Yến nhằm theo dõi tình hình giao thông đường thủy, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Việc ứng dụng công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch hóa hoạt động kiểm tra, đồng thời hỗ trợ điều hành nhanh chóng trong các tình huống phát sinh.

Hệ thống camera AI và thiết bị flycam được vận hành để đảm bảo an ninh, an toàn tại Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 - 4

Ban Tổ chức lễ hội cho biết, bắt đầu mùa lễ hội năm nay, sẽ miễn hoàn toàn phí gửi xe ô tô các loại ở tất cả các bãi xe tại Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026. Đây là quyết định mới nhất của Ban Chỉ đạo lễ hội nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho du khách hành hương đến với Hương Sơn.

Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành và tinh thần trách nhiệm cao của các lực lượng tham gia, Lễ hội Du lịch Chùa Hương 2026 đang khởi đầu thuận lợi, an toàn và trật tự. 

Những kết quả tích cực trong những ngày đầu Xuân là tiền đề quan trọng để Ban Tổ chức tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trong suốt mùa lễ hội, hướng tới xây dựng hình ảnh Chùa Hương ngày càng văn minh, thân thiện, xứng đáng là điểm đến tâm linh, văn hóa tiêu biểu của Thủ đô và cả nước.



Nguồn: Arttimes.vn

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất tại Việt Nam tháng 1/2026


Suzuki XL7 hybrid bất ngờ vươn lên dẫn đầu với doanh số bỏ xa các đối thủ khác.

Sau nhịp tăng mạnh ở tháng cuối năm 2025, thị trường ô tô Việt Nam bước vào giai đoạn điều chỉnh trong tháng 1/2026 khi sức mua chững lại do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Theo số liệu từ Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), tổng doanh số của các thành viên đạt 36.875 xe, giảm 22% so với tháng 12/2025, nhưng vẫn cao gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái (18.893 xe).

Trong bối cảnh tổng cầu toàn thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt, phân khúc hybrid với 792 xe bán ra từ 5 mẫu dẫn đầu vẫn còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn so với quy mô hàng chục nghìn xe mỗi tháng. 

Cụ thể, Suzuki XL7 hybrid bất ngờ vượt lên với 427 xe, chiếm hơn một nửa tổng doanh số top 5. Xếp thứ hai là HR-V e:HEV của Honda với 180 xe. Hai vị trí tiếp theo thuộc về Innova Cross HEV (81 xe) và Corolla Cross HEV (65 xe) của Toyota. Khép lại danh sách là Civic e:HEV với 39 xe, đại diện hiếm hoi của nhóm sedan trong bảng xếp hạng.

Có thể thấy, cấu trúc doanh số phân khúc hybrid tại Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào một vài mẫu xe có mức giá dễ tiếp cận và cấu hình thực dụng. Tuy nhiên, sự góp mặt đồng thời của SUV đô thị, MPV gia đình lẫn sedan hạng C cũng phản ánh xu hướng đa dạng hóa sản phẩm. Nếu đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong các tháng tới, hybrid có thể trở thành một trụ cột quan trọng trong quá trình chuyển dịch sang các dòng xe tiết kiệm nhiên liệu và thân thiện môi trường hơn tại thị trường Việt Nam.

Dưới đây là danh sách 5 mẫu xe hybrid bán chạy nhất tại Việt Nam tháng 1/2026

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất tại Việt Nam tháng 1/2026 - 1

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất tại Việt Nam tháng 1/2026 - 2

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất tại Việt Nam tháng 1/2026 - 3

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất tại Việt Nam tháng 1/2026 - 4

Đây là 5 mẫu xe hybrid bán nhiều nhất tại Việt Nam tháng 1/2026 - 5



Nguồn: Arttimes.vn

Hồn quê, hồn dân tộc trong thơ Nguyễn Bính và Huy Cận (trong Phong trào Thơ Mới)


Phong trào Thơ Mới bắt đầu từ những năm ba mươi của thế kỷ XX, chỉ kéo dài hơn mười năm nhưng đã hình thành một lớp nhà thơ thật sự xuất sắc, làm thay đổi diện mạo của thơ Việt Nam lúc bấy giờ. Trong số những nhà thơ xuất sắc ấy có Nguyễn Bính và Huy Cận.

Trên trường thẩm mỹ chung của cả phong trào, mỗi một cây bút xuất sắc thường là một cá tính sáng tạo độc đáo, tuy không tách biệt với bầu khí quyển chung, nhưng cũng có những đặc tính riêng biệt, như là những “bí mật của ngòi bút” xuyên suốt cả quá trình sáng tạo của họ, góp phần làm nên phong cách của họ.

Trong phong trào Thơ Mới, trước sự “Âu hóa” đang như một cơn gió lạ cuốn hút tâm trí của mọi người, có một mạch nguồn thoạt nhiên có cảm giác tách biệt, dường như ít hòa nhập với xu thế chung kia, đó là những sáng tác về thôn quê của những Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ… và Nguyễn Bính, như thể là tà áo dài Việt Nam trước những trang phục lạ mắt nhập từ phương Tây.

Chẳng phải trước cái “biến thiên” (chữ của Hoài Thanh) của đời sống chính trị xã hội, lay thức đến toàn bộ mọi tầng lớp, trong đó trực tiếp và sâu sắc nhất là tầng lớp thanh niên, như Thế Lữ, với những vần thơ mới lạ “đã làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch”, Xuân Diệu say sưa với “phương xa” bằng những “y phục tối tân”, J Leiba ưa dùng “những lời quý phái”, rồi Hàn Mặc Tử với bút pháp tượng trưng, Chế Lan Viên “lẻ loi và bí mật như một cái Tháp Chàm”… nghĩa là, như Hoài Thanh nói “mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm, bảy nhà thơ Pháp”… Vậy mà, những bài thơ viết về làng quê kia, tuy lúc đầu có bị đôi lời nghi ngại, nhưng rồi vẫn không hề lạc lõng, vẫn không quê mùa, vẫn được đón nhận và đề cao đặc biệt như trường hợp Nguyễn Bính. 

Tô Hoài nhận xét: “Trước sau và mãi mãi… Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ của chân quê, hồn quê” (Lời giới thiệu – Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, H.1986, tr.23). Nhưng không hẳn là cái chân quê, hồn quê thường hằng, cố hữu đã ngàn năm. Bí mật trong câu chữ của Nguyễn Bính là cái khắc khoải, lo buồn khi cái “chân quê’, “hồn quê” mà ông tưởng là ngàn năm kia đang có nguy cơ mai một trước sự “biến thiên” của cơn bão Tây hóa “đến cả ông giời cũng đổi thay” thời ấy.

Rất nhiều trong thơ Nguyễn Bính, hình ảnh mùa xuân, mưa xuân, mưa bụi “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”, và cũng rất nhiều những khung cảnh làng quê luôn gắn với những đêm hội, những tập tục văn hóa “Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”, những trò chơi dân gian, những ngày Tết cổ truyền, những giấc mơ quan Trạng…

Và cũng rất nhiều trong thơ Nguyễn Bính những thảng thốt, buồn lo: “Lòng em gió bụi kinh thành”, “Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”, rồi “Kinh kỳ bụi quá xuân không đến”… Rồi cũng đến lúc: “Khoa cử bỏ rồi thôi hết Trạng” (Xóm Ngự Viên); rồi cũng đã đến lúc nhà thơ gần như bất lực: “Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa”… Chữ “van” trong câu thơ này cho thấy Nguyễn Bính đã “nhuốm màu thất bại” trước cái “gió mưa phai” đến từ chốn “kinh kỳ, thị thành” kia. Thơ Nguyễn Bính vì vậy là nỗi buồn vô tận trước cái “hồn quê” đang mai một.

Hồn quê, hồn dân tộc trong thơ Nguyễn Bính và Huy Cận (trong Phong trào Thơ Mới) - 1

Nhà thơ Nguyễn Bính (1918 – 1966).

Hồn quê trong thơ Nguyễn Bính thường gắn với không gian thôn làng (thôn Đoài, thôn Đông, thôn Vân, làng Đặng… “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”, “Thôn Vân có biếc, có hồng”; không gian vườn (vườn chè, vườn trầu, vườn dâu: “Sáng trăng sáng cả vườn chè”, “Nhà tôi có một vườn dâu”, “Đầy vườn hoa bưởi, hoa xoan rụng”); gắn với những đêm hội “Thôn Đoài vào hội hát thâu đêm”; gắn với những gương mặt giai nhân thực và mộng: người hàng xóm, người con gái lẻ, cô lái đò, cô hái mơ, chị Trúc, cô Oanh; gắn với những ngày “lưu đày” xa xứ khách thường đêm của những gác trọ, sân ga, bè bạn cùng những tháng ngày lăn lóc: “Trót đà mang số sinh ly/ Bao giờ tôi mới được về cố hương?”.

*

Khác Nguyễn Bính, với Huy Cận, cái mênh mang trong thời gian, vô hạn trong không gian (“Lòng quê dợn dợn vời con nước”, “Mênh mông không một chuyến đò ngang” – Tràng Giang), gợi đến, liên tưởng đến “hồn xưa”, “hồn dân tộc”, “hồn đất nước”, đã vượt qua nỗi buồn lo cụ thể như Nguyễn Bính, để lắng trong một âm điệu trầm buồn của một nỗi “sầu vạn thuở” (Trò chuyện). Với Huy Cận, thời gian là những hoài niệm dằng dặc “mang mang thiên cổ”, không gian là vũ trụ vô tận: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”, “Không gian ôi, xin hẹp bớt mông mênh”, và cái tôi của Huy Cận là buồn thương, sầu não vô cớ, như có tự xa xưa, ngàn năm trước: “Nắng không xế và lòng sầu mất hướng”.

Hoài Thanh cho rằng ở Huy Cận nỗi buồn nhân thế, nỗi ngậm ngùi nhân gian, nỗi đau đời đã “gọi dậy nỗi buồn Đông Á,… mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” (Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học 1988). Cái “Hồn Đông Á” mà Hoài Thanh nói ở đây cũng có thể hiểu là văn hiến tự ngàn xưa của cha ông.

Nguyễn Bính lo âu với cái chân quê, hồn quê bị mai một, bị lai tạp, biến dạng trong những biểu hiện khác dị của cái cụ thể đối lập với ý niệm có từ xưa tưởng như bất biến trong ông (“cái yếm lụa sồi, cái khăn mỏ quạ”, nghĩa là cái hồn quê, chân quê trong thời buổi đang mất dần vị trí giữa chốn “Kinh kỳ bụi quá xuân không đến”, giữa nơi thành thị “gió mưa phai”, cho đến một ngày ngọn đèn điện tân kỳ đang thay thế những ngọn bạch lạp trên bàn thờ Phật…).

Huy Cận hướng đến những cảm hoài bao la về nhân thế và vũ trụ, là linh hồn của nỗi buồn trời đất với tâm trạng ngậm ngùi tiền kiếp – thế giới nội tâm tinh thần của hầu hết những người dân Việt mất nước dằng dặc suốt chiều dài lịch sử. Với Huy Cận cuộc đời trước mắt là một vũ trụ “bao la sầu” không có lý do: “Cô đơn hướng lạc phương mờ”, “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, xuyên suốt thời gian và tràn đầy không gian với sông dài, trời rộng. Nhưng dù “sầu thiên cổ”, thơ Huy Cận vẫn làm người đọc đôi khi cảm nhận được sự níu giữ của trần gian (nhớ nhà) trong tâm hồn ông: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Thơ Huy Cận (trong Lửa Thiêng) vượt qua lối “giãi bày, kể lể” của cá nhân trước những khát khao trần thế, để sang địa hạt của những linh cảm, cõi hư vô của tâm thức và sự giao hòa với cảnh sắc không gian.

Cái hồn quê của Nguyễn Bính, hồn xưa của Huy Cận đã xích gần hai cây bút này lại trong thi pháp biểu hiện. Bên cạnh những thể loại khác, cả hai đều ưa thích và rất nhuần nhuyễn thể lục bát. Một sự lựa chọn thể loại để biểu hiện, tuy là cá tính của mỗi người, nhưng như là sự gặp gỡ giữa ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc qua hình thức thể hiện. Bởi vì, nói về hồn quê, hồn dân tộc, không gì phù hợp hơn nếu dùng thể loại lục bát là hồn cốt của thơ ca dân tộc.

Hồn quê, hồn dân tộc trong thơ Nguyễn Bính và Huy Cận (trong Phong trào Thơ Mới) - 2

Nhà thơ Huy Cận (1919 – 2005).

Thơ lục bát của Huy Cận và Nguyễn Bính, cho dù mỗi người mỗi vẻ, để biểu hiện những trạng thái tinh thần khác nhau, nhưng đều êm mượt, thấm đậm chất trữ tình đặc biệt của ca dao, dân ca Việt Nam. Nguyễn Bính gần hơn với ngôn từ ca dao dân ca, với lời quê, lời ăn tiếng nói giao đãi nơi thôn dã, vì thế thơ của Nguyễn Bính tình tứ trong giản dị. Còn Huy Cận, ông chỉ mượn cái hơi của ca dao dân ca làm đà để dẫn người đọc như bước sang một cõi vô định khó lý giải bằng lý trí. Chỉ có thể cảm được chứ khó có thể gọi ra bằng lời điều mà Huy Cận gửi gắm. Ngay cả cái “hồn xưa”, “hồn dân tộc”, “hồn Đông Á”… cũng chỉ là những cảm nhận từ rất xa, từ rất sâu, từ phía sau ngôn từ của Huy Cận, chứ ít khi Huy Cận chú tâm gọi ra những “khái niệm” này. Nhưng chưa cần phải biết các tác giả định diễn đạt điều gì, thì cũng có thể thừa nhận rằng, một phần “hồn dân tộc”, “hồn quê” được khơi dậy từ những vần lục bát. Với Nguyễn Bính, là “lời quê” đầu làng, cuối xóm, được thi vị hóa, “lãng mạn hóa” từ những sự việc hàng ngày:

“Thôn Vân có biếc, có hồng

Biếc trong nắng sớm, hồng trong vườn chiều

Đê cao có đất thả diều

Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay

Quả lành trĩu nặng từng cây

Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen”

(Anh về quê cũ)

Với Huy Cận nhịp điệu sáu – tám trong trẻo, tự nhiên và “nguyên khối”, như là điệu tâm hồn của ông, xác minh lời ông nói: “Tôi yêu tiếng Việt, một ngôn ngữ giàu có và thanh lịch. Cũng vì thế mà, không ảnh hưởng ngoại lai nào làm cho tôi lung lạc” (Hà Minh Đức, Huy Cận, ngọn lửa thiêng không tắt, NXB Giáo dục, H.2010, tr. 280). Xin dẫn một trong số rất nhiều những bài lục bát của Huy Cận, để thấy sự  điêu luyện của ngòi bút ông: 

“Buồn gieo theo gió veo hồ

Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa

Đồn xa quằn quại bóng cờ

Phất phơ buồn tự thuở xưa thổi về

Ngàn năm sực tỉnh lê thê

Trên thành son nhạt – chiều tê cúi đầu

Bờ tre rung động trống chầu

Tưởng chừng còn vọng trên lầu ải quan

Đêm mơ lay ánh trăng tàn

Hồn xưa gởi tiếng thời gian, trống dồn”

(Chiều xưa)

Thơ Huy Cận, tiếng trống vẳng lại như là tiếng vọng của thời gian, của quá khứ, của hoài niệm, của “hồn xưa”. Thơ Nguyễn Bính dẫn ta về với hội chèo “thôn Đoài hát tối nay” của nông thôn Bắc bộ. 

Nguyễn Bính tự học tiếng Pháp và thơ Đường, Huy Cận tốt nghiệp “tú tài Tây” rất giỏi ngôn ngữ Pháp, thuộc nhiều thơ Đường, nhưng trong thơ của hai nhà thơ này ít thấy “mô phỏng” bên ngoài một cách lộ liễu như ở một vài nhà thơ khác thuộc Phong trào Thơ mới. Một đôi từ “mây Tần”, “kinh kỳ”… gợi hơi hướng của Đường thi trong thơ Nguyễn Bính; cái cảm khái mênh mang của đất trời trong Tràng giang gợi đến một sáng tác của thơ Đường trong thơ Huy Cận. Nhưng ít thấy một thứ “tân kỳ” của cú pháp, cái “lý trí” trong giọng điệu của thơ phương Tây ở thơ Nguyễn Bính và Huy Cận. Điều này, ở Nguyễn Bính thì có thể không thật sự khó hiểu, nhưng Huy Cận, ông đọc thơ Pháp, tôn sùng Charles Baudelaire, trong khi người bạn thơ gần gũi của ông là Xuân Diệu “tây nhất” trong phong trào Thơ mới…, thì Huy Cận cứ một mình một lối đi vào hồn xưa, hồn dân tộc, hồn Đông Á hòa trộn với nỗi sầu vũ trụ…, thì như một bí mật khó lý giải. 

Sau Cách mạng Tháng Tám, nhiều các nhà Thơ Mới đều tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Huy Cận tham gia Việt Minh, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Chính phủ mới. Nguyễn Bính cũng tham gia chống Pháp tại Nam bộ rồi tập kết ra Bắc sau 1954. Với cuộc đời mới, cả hai đều hăng hái hòa nhập. Có thời kỳ Huy Cận về thâm nhập thực tế tại vùng mỏ, hòa mình với những người thợ. Nguyễn Bính cũng có thời gian đắm mình trong không khí sản xuất của những người thợ dệt tại thành phố quê hương ông. Nhưng cái mạnh nhất của hai ông là cái “hồn xưa”, “hồn quê”… hình như khó phát huy ở đề tài này.

Bằng chứng là Nguyễn Bính chỉ có vài sáng tác về “thành phố dệt” không mấy ấn tượng bằng những đề tài khác, những nơi dễ dàng để tác giả bộc lộ cái tôi trữ tình, như đề tài đấu tranh thống nhất, đề tài nông thôn. Ông hợp với cái ao cấy cần, với giàn thiên lý, và tiếng thoi đưa trong khung cửi của “người hàng xóm” chứ không hẳn là những âm thanh ồn ào nơi nhà máy, công xưởng.

Huy Cận hòa nhập dễ hơn với cuộc sống lao động, đã có một đôi bài khá ấn tượng có được không khí lao động (Đoàn thuyền đánh cá), nhưng mạch trữ tình sâu lắng của ông lại thường đi với nỗi đau đời (“Quay đi tám hướng hỏi trời sâu” – Các vị La Hán chùa Tây Phương), thường gắn với những nơi thôn dã (Sớm mai gà gáy), gắn với không gian mưa gợi buồn vắng quen thuộc, rất hợp với tạng tâm hồn ông (Mưa xuân trên biển), gắn với những vùng dân ca từng nuôi dưỡng mạch trữ tình đặc sắc của ngòi bút ông (Gửi bạn người Nghệ Tĩnh)…

Như vậy, mỗi người một phong cách, Huy Cận và Nguyễn Bính đã để lại ấn tượng thật sâu đậm trong lòng độc giả. Phong trào Thơ Mới trở nên nhiều thanh sắc, nhiều giọng điệu… vì có sự đóng góp đặc sắc của hai cây bút này. 

“Cái hồn quê của Nguyễn Bính, hồn xưa của Huy Cận đã xích gần hai cây bút này lại trong thi pháp biểu hiện. Bên cạnh những thể loại khác, cả hai đều ưa thích và rất nhuần nhuyễn thể lục bát. Một sự lựa chọn thể loại để biểu hiện, tuy là cá tính của mỗi người, nhưng như là sự gặp gỡ giữa ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc qua hình thức thể hiện.

Lê Thành Nghị




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Rợn người cảnh xe máy bị cây nêu xuyên ngang tay lái


Một thanh niên vác cây nêu dài đi từ trong ngõ ra đường lớn mà không quan sát, khiến người đi xe máy ngược chiều suýt gặp tai nạn nguy hiểm.




Nguồn: Arttimes.vn