Home Blog Page 45

Bộ VHTTDL phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045


Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 373/QĐ-BVHTTDL phê duyệt điều chỉnh một số nội dung của Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Bộ VHTTDL phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 - 1Ảnh minh họa. Nguồn: baochinhphu.vn

Việc điều chỉnh nhằm cập nhật các định hướng phát triển mới của đất nước, bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, các chiến lược phát triển văn hóa, thể thao, công nghiệp văn hóa và yêu cầu tổ chức bộ máy chính quyền địa phương trong giai đoạn mới. 

Hoàn thiện mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao đồng bộ, hiện đại

Theo nội dung điều chỉnh, mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia bao gồm nhiều loại hình thiết chế quan trọng như bảo tàng, thư viện, cơ sở điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, cơ sở triển lãm văn hóa – nghệ thuật, trung tâm văn hóa trong nước, trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành văn hóa – nghệ thuật và Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, hệ thống này còn bao gồm các di sản thế giới và di tích quốc gia đặc biệt, trụ sở cơ quan về văn hóa – thể thao và các cơ sở số hóa dữ liệu văn hóa, thể thao, tạo thành một mạng lưới thiết chế đồng bộ phục vụ bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Quy hoạch xác định phát triển văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, là động lực lớn cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hóa cần được gắn kết hài hòa với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và đối ngoại, qua đó góp phần nâng cao “sức mạnh mềm” của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đồng thời, việc phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao sẽ được triển khai theo hướng kết nối chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, gắn với các không gian phát triển kinh tế – xã hội quan trọng của đất nước như các cực tăng trưởng, vùng động lực và hành lang kinh tế. Quy hoạch cũng chú trọng quan tâm đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn khó khăn và các đối tượng chính sách nhằm bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng của người dân đối với các hoạt động văn hóa, thể thao.

Mục tiêu đến năm 2030: Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trên cả nước

Theo mục tiêu đặt ra, đến năm 2030, mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao sẽ cơ bản được hoàn thiện, phù hợp với điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và định hướng tổ chức không gian phát triển mới sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.

Trong đó, phấn đấu 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh có đủ ba loại hình thiết chế văn hóa cơ bản gồm trung tâm văn hóa – nghệ thuật, bảo tàng và thư viện được đầu tư đồng bộ, hiện đại và gắn với chuyển đổi số. Đồng thời, 100% tỉnh, thành phố có đủ ba công trình thể thao cơ bản là nhà thi đấu, sân vận động và bể bơi; từng bước hình thành các khu liên hợp hoặc tổ hợp thể dục thể thao đạt chuẩn quốc gia.

Quy hoạch cũng đặt mục tiêu xây dựng và nâng cấp các cơ sở văn hóa, thể thao đồng bộ, hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao quy mô quốc gia và quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế thể thao và hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, thể thao sẽ được đẩy mạnh, trong đó phấn đấu hoàn thành số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt. Các địa phương thuộc Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO sẽ hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa và giải trí quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm mở rộng khả năng tiếp cận của người dân và du khách.

Định hướng đầu tư các thiết chế văn hóa, thể thao trọng điểm và đẩy mạnh chuyển đổi số

Theo quy hoạch điều chỉnh, trong giai đoạn tới sẽ xây dựng mới và nâng cấp nhiều thiết chế văn hóa quan trọng. Trong lĩnh vực bảo tàng, một số bảo tàng quốc gia sẽ được xây dựng mới như Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam tại Hà Nội và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam khu vực phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời cải tạo, nâng cấp Bảo tàng Lịch sử quốc gia cùng nhiều bảo tàng lớn khác nhằm nâng cao chất lượng trưng bày và trải nghiệm cho công chúng.

Hệ thống thư viện công cộng tại nhiều địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hải Phòng, Thái Nguyên, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Điện Biên, Lạng Sơn, Khánh Hòa, Đắk Lắk… sẽ được nâng cấp thành các trung tâm tri thức vùng, góp phần tăng cường kết nối và chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các địa phương.

Trong lĩnh vực điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn, quy hoạch định hướng xây dựng các trung tâm điện ảnh hiện đại, phát triển hệ thống trường quay đạt tiêu chuẩn quốc tế tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời xây dựng các nhà hát và trung tâm nghệ thuật biểu diễn quy mô lớn, trong đó có Nhà hát Opera tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với lĩnh vực thể thao, quy hoạch tập trung phát triển mạng lưới trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia và các trung tâm vệ tinh tại nhiều địa phương; xây dựng các khu liên hợp thể thao quy mô lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đủ điều kiện đăng cai các sự kiện thể thao tầm cỡ khu vực và châu lục.

Một nội dung mới quan trọng là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về văn hóa và thể thao, hình thành các trung tâm dữ liệu tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, tích hợp dữ liệu về di sản văn hóa, vận động viên, huấn luyện viên, cơ sở vật chất và hệ thống thi đấu thể thao. Hệ thống này sẽ ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức hoạt động và dự báo phát triển ngành.

Cũng theo Quyết định, các nội dung khác của Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 991/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2024 vẫn giữ nguyên.

Việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045 được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển toàn diện của lĩnh vực văn hóa và thể thao, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, sức khỏe của nhân dân, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Vượt ẩu khuất tầm nhìn, xe máy khiến xe ben drift quay 180 độ


Bất chấp tầm nhìn bị che khuất, hai người đi xe máy vẫn liều lĩnh vượt ô tô tải, khiến xe ben đi ngược chiều phải đánh lái gấp.




Nguồn: Arttimes.vn

Truyện ngắn Việt Nam đương đại, trường hợp Nguyễn Tham Thiện Kế


Nguyễn Tham Thiện Kế, cây bút lãng tử đất Phong Châu Bạch Hạc xưa, Việt Trì Phú Thọ nay, vốn thuận tay với nhiều thể loại văn xuôi nghệ thuật: tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, bút ký, chân dung văn học, nhưng theo tôi đáng kể nhất vẫn là truyện ngắn. Tập truyện ngắn đầu tay của ông, “Nơi con tàu không trở lại”, xuất bản năm 1980, sau đó ông có thêm ba tập truyện nữa: “Nhà của mẹ” (1985), “Khuôn mặt đẹp” (2003), “Tiếng kêu của ngôi nhà thủng mái” (2007). Nhưng tất cả tinh hoa truyện ngắn của Nguyễn Tham Thiện Kế trong hơn bốn mươi năm viết chừng như chỉ bừng nở mãn khai – sau đó chắc khó có thể thêm gì được nữa – ở tập thứ năm, “Một mùa hè dưới bóng cây”, gồm ba mươi lăm truyện, xuất bản năm 2023 và ngay lập tức được nhận giải thưởng văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam.

Truyện ngắn trong văn chương Việt Nam hiện đại, nếu tính từ những tác phẩm ở “làn sóng thứ nhất”, kiểu như Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, đến Nguyễn Tham Thiện Kế thì cũng đã có cả trăm năm vận động, phát triển và biến đổi. Nhiều tác giả truyện ngắn đã nổi danh trên văn đàn, nhiều tác phẩm truyện ngắn, ngoài Bắc lẫn trong Nam, đã xuất hiện và khắc ghi những dấu mốc đáng nhớ trong lịch sử của cái thể loại luôn được xem là rất cơ động này (Ấy là còn chưa bàn đến truyện ngắn thuộc nhiều nền văn chương nước ngoài mà chúng ta có điều kiện được tiếp xúc). Có cảm giác như, cả về chủ đề, đề tài, nhân vật, nghệ thuật tạo tình huống, phong cách, lối viết v.v – tóm lại là cái mà nhiều người thường gọi chung là “thi pháp” – truyện ngắn của Nguyễn Tham Thiện Kế không/ chưa mang lại một cái gì đó thật sự mới lạ, đặc sắc, độc đáo “đến kinh người” vào bức tranh chung.

Vậy nhưng vẫn có. Trong bài viết có tính chất tổng kết về giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2023 của hai tác giả Yên Ba và Nguyễn Chí Hoan, phần về tập truyện ngắn đoạt giải của Nguyễn Tham Thiện Kế, có những đánh giá nồng nhiệt: “Trong tập truyện này, Nguyễn Tham Thiện Kế, vẫn tự nhận là “người quá yêu tiếng Việt”, đã kỳ khu dọn ra một bữa tiệc ngôn ngữ đẹp, sang chảnh, lịch lãm… Mất tới 15 năm mới hoàn thành trọn vẹn “Một mùa hè dưới bóng cây”, tập truyện không chỉ cho thấy sự bền bỉ trong lao động nhà văn mà hơn thế nữa, đọc từng truyện trong tập sách có thể nhận thấy sự kiên nhẫn vô bờ của tác giả khi dụng công sử dụng những từ ngữ đẹp đẽ trong tiếng Việt để diễn tả vẻ đẹp văn chương. Tác giả chủ ý lựa chọn cách hành văn chậm rãi, tỉ mỉ như chọn chữ cho thơ” (“Can đảm viết, bản lĩnh trao (giải)”, in trong Viết & Đọc, chuyên đề mùa xuân 2024).

Truyện ngắn Việt Nam đương đại, trường hợp Nguyễn Tham Thiện Kế - 1

Tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế.

Cá nhân tôi chia sẻ với những nhận định này, và nói thêm: chú ý lọc lựa, trang hoàng để có một tiếng Việt đẹp và tinh tế đến mức rất gần với “điêu khắc chữ” như Nguyễn Tham Thiện Kế, trong văn xuôi nghệ thuật Việt ngữ đương đại, ở đây ta đang nói thể loại truyện ngắn, thật ra không nhiều. Đọc xong tập truyện Một mùa hè dưới bóng cây, đặc biệt ở những truyện hay nhất – vì không phải tất cả các truyện đều hay như nhau – tôi mới nghĩ tới một người mang “chất chữ” tương tự Nguyễn Tham Thiện Kế, là Trần Vũ, hiện đang sống và viết ở hải ngoại (Một trong những tác phẩm của Trần Vũ, tập truyện Phép tính của một Nho sĩ, đã được xuất bản và phát hành trong nước mấy năm trước). Đó là số ít những nhà văn thuộc về một kiểu người viết, dù sự thương hải tang điền có đến đâu chăng nữa, vẫn nỗ lực giữ cho văn chương được thực sự là văn chương, thực sự là nghệ thuật của ngôn từ, nghệ thuật của chữ. 

Tuy nhiên có một khác biệt cơ bản giữa văn họ Nguyễn và văn họ Trần. Ở chỗ, cùng là mỹ văn, nhưng cái đẹp trong văn Trần Vũ là cái đẹp lạnh lùng, khắc bạc, đôi khi đầy nghiệt ngã và rất bạo lực, thì cái đẹp trong văn Nguyễn Tham Thiện Kế là cái đẹp xuất phát từ tình yêu thương con người và cuộc đời, cái đẹp của tâm hồn, hồi ức và hoài niệm, cảnh trí thiên nhiên và lao động sinh hoạt đã được thăng hoa bởi một niềm yêu chân thành và một nghệ thuật điêu luyện trong sai sử, phối trí chữ nghĩa tiếng Việt (Không khỏi có những lúc cái chữ nghĩa tiếng Việt ấy trở nên điệu đàng quá mức cần thiết, nhất là khi nó được nhà văn dùng vào việc mô tả, kể chuyện những gã đàn ông phong lưu lãng tử gặp gỡ những người đàn bà đài các kiêu sa, những bồn tắm rải cánh hoa hồng đỏ thắm, những phòng ngủ thơm nức nước hoa, những bữa tiệc sang trọng với cigar thượng hạng và rượu vang cao cấp…, đó có lẽ là những truyện ngắn thuộc vào loại kém hay nhất của Nguyễn Tham Thiện Kế).

Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây: đọc truyện ngắn Nguyễn Tham Thiện Kế chúng ta sẽ thấy, bối cảnh không gian của truyện, dù đó là một cái làng cổ vùng trung du Bắc Bộ, hay một miền quê toàn gió nắng và cát bỏng vùng duyên hải Nam Trung Bộ, hay những cung đường đèo trồi sụt khúc khuỷu, gió lạnh táp điên cuồng hoặc những phiên chợ ồn ào nồng mùi rượu ngô, mùi thắng cố và phân ngựa trộn lẫn ở miền núi cao phía Bắc…, thì bao giờ chúng cũng đẹp cái vẻ đẹp mang đặc thù của cảnh sắc, con người và sinh hoạt văn hóa các vùng miền. Ở đó, bao giờ cũng xuất hiện một nhân vật khách lữ hành “đường trần gian xuôi ngược” mang tâm hồn nghệ sĩ, hoặc bản thân anh ta cũng là nghệ sĩ – nhà báo, nhà văn, nhiếp ảnh gia, họa sĩ, kiến trúc sư v.v – kẻ luôn tìm kiếm những vẻ đẹp trên đời và sẵn sàng dấn thân để trải nghiệm cảm giác được hòa mình vào những vẻ đẹp ấy, một cách trọn vẹn nhất, như sự nỗ lực được sống nhiều hơn một cuộc đời hữu hạn.

Hãy thử lấy ví dụ trước nhất bằng chính cái truyện ngắn được tác giả dùng làm tên chung cho cả tập truyện: Một mùa hè dưới bóng cây. Thời gian của chuyện kể thì đã rõ: một mùa hè. Không gian của chuyện kể: đâu đó ở miền duyên hải Nam Trung Bộ, nơi có đại dương xanh thẳm, có những vách núi đá dựng đứng sát biển, có những cồn cát trập trùng nhấp nhô trải ra vô tận, thơ mộng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều bất trắc. Địa điểm để nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” lần đầu tiên gặp gỡ các nhân vật của mình chính là bóng râm duy nhất của cây bàng trơ trọi bên bờ kè trên bến cá thiếp ngủ giữa dãy quán, kho đông lạnh lụp xụp, nơi hai gã trai miệt biển đang nhậu, “ôm oang giật nắp bia, cụng cụp cụp, chốc lại tiếng vỗ đùi tèn tẹt. Khói thuốc lửng lơ”. Màn chào hỏi làm quen giữa nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” với hai gã trai này, cùng ba người đàn bà làm những nghề biển lặt vặt khác, là một cuộc nhậu dân dã và hào sảng, đủ để các nhân vật tự bộc lộ thân phận như là những người dân biển bình thường, dẫu phải lam lũ vất vả vì sinh kế hàng ngày nhưng vẫn không sao bỏ được những cái thú “tiêu dao” của mình: hoặc là cờ bạc lô đề (cu Nhỡ), hoặc là mê coi đào hát cải lương đến mức bỏ nhà bỏ cửa có khi cả tháng (cu Vược).

Sau đó, cu Vược cu Nhỡ đã nhiệt tình giúp nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” đưa chiếc xe Ranger Raptor ra khỏi hố cát mà không nhận tiền công, vì một lẽ: “Tụi con luôn thiếu trước hụt sau, nhưng hổng nhận của chú đâu. Mới gặp đã chung độ là quá đã rồi”. Cu Nhỡ là người đã cho nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” được thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên lúc bình minh, trên đỉnh cao nhất của vách núi sát biển.Và cũng chính cu Nhỡ, kẻ đang bị tầm nã vì nghi là thủ phạm tháo trộm máy xuồng cao tốc tuần tra của đồn biên phòng, cũng là kẻ đã tạo sinh một cái đẹp bạo liệt từ chính sự manh động của mình: “Tưởng người ta đến bắt, cu Nhỡ hốt hoảng cắm xuống vực liệng liệng như con mực một nắng. Chỉ thấy sóng nhòa váng đỏ sủi bọt bềnh bềnh một lát rồi lại xanh yên. Y như con cá heo nhiễu loạn sóng âm tự tận đâm vào đá ngầm”. Có thể nói, kể chuyện một cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên trên con đường rong chơi thiên lý với những “công dân hạng bét” mà tâm hồn vô cùng đơn sơ khoáng đạt, Nguyễn Tham Thiện Kế đã viết nhẹ như đùa, nhưng mà thật, cái thật của sự đồng cảm và sẻ chia với những phận người khốn khổ.

Trong tập Một mùa hè dưới bóng cây có một mảng truyện kể trên bối cảnh không gian và cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người ở những vùng Mường, vùng Thái, vùng Tày Nùng và vùng H’mông, trong đó truyện kể vùng H’mông thuộc vào hàng những truyện ngắn hay nhất. Tôi muốn nói đến hai truyện: Lời hẹn mùa hoa cũMùa hoa bạc hà chưa hết ở sơn nguyên, kèm một niềm tin xác quyết, rằng đây là một cách tìm về căn tính H’mông rất đặc biệt của Nguyễn Tham Thiện Kế.

Lời hẹn mùa hoa cũ, nghe tên truyện đã thấy như thể một chuyện tình yêu. Nhưng không phải, đây là lời hẹn giữa nhân vật Gã, một “phượt thủ” người Kinh với lão già người H’mông có tên Mí Chạ. Hai người ngẫu nhiên gặp nhau ở chợ Mèo Vạc, Hà Giang, với sự kết nối của rượu ngô Mèo Vạc và thắng cố, món ăn trứ danh miền cực bắc. Chảo thắng cố đã được miêu tả ngay từ đầu truyện, như một nét nhấn để phác ra cái khác biệt của vùng đất. Bên chảo thắng cố và trong men nồng rượu ngô, Gã với Mí Chạ đã trở thành tri kỷ, bởi cả hai người đều yêu chó, đều sành chó – con chó H’mông thuần chủng, dứt sữa chưa lâu của Mí Chạ – và đều phục nhau bởi cái sự sành sỏi ấy. Chung cuộc, để tạ ơn tri ngộ, Mí Chạ bán cho Gã con chó, để rồi sáng hôm sau lại say mèm, liêu xiêu khóc lóc trước cửa homestay của Gã, đòi được nhìn con chó yêu lần cuối. Không nỡ dứt tình người và chó, Gã đã trả lại con chó H’mông cho lão già H’mông, với lời hẹn mùa hoa đào năm sau sẽ trở lại để xin một con chó lứa mới.

Ba năm Gã mới quay lại, Mí Chạ đã chết, nhưng thằng cháu nội của lão vẫn thực hiện di chúc của ông: cứ đúng mùa hoa đào là lại xuống chợ, đợi người bạn Kinh về để tặng một con chó H’mông xuất sắc nhất thuộc lứa sau. Ấy chính là tinh thần thủ tín đến chết của H’mông tộc.

Truyện ngắn Việt Nam đương đại, trường hợp Nguyễn Tham Thiện Kế - 2

Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế.

Còn ở truyện Mùa hoa bạc hà chưa hết ở sơn nguyên, nhân vật “phượt thủ” là Hắn, kẻ lên cao nguyên đá để theo dấu một người bạn, “nữ họa sĩ Việt kiều muốn đi tìm cái cảm giác tận cùng của sự cô đơn”. Quá trình theo dấu ấy là quá trình mà Hắn làm quen với cô gái H’mông có cái tên Kinh là Thuốc Lào, một cô gái H’mông đã từ núi xuống phố để bổ sung vào các thành phần lao động tạp dịch: sáng quay nước mía, chiều làm phu hồ, tối làm tiếp viên karaoke, cần thiết thì cũng làm cả xe ôm.

Và quả thực Hắn đã ngồi sau xe của cô để đi tìm bạn, thực chất là để được “sống trong sợ hãi” trước sự nguy hiểm của những cung đường tử thần và để được bàng hoàng trước cái khí chất H’mông hoang dã, ngang tàng của người thiếu phụ… Hàng loạt hành động truyện ngắn diễn ra dồn dập, và ở mỗi hành động ấy, qua cảm nhận và suy nghĩ của nhân vật Hắn, có thể nhận thấy ở cô gái sự tích tụ và thể hiện những phẩm chất tính cách truyền đời của người H’mông: một tộc người đề cao tinh thần phóng khoáng cởi mở, sự công bằng trong mọi mối quan hệ, lòng kiêu hãnh và sự tôn trọng phẩm giá.

Về vùng Mường, hay rộng ra, vùng trung châu quê quán bản thổ của mình, Nguyễn Tham Thiện Kế cũng có nhiều truyện ngắn rất đáng chú ý. Các nhân vật truyện ngắn thuộc mảng này cũng vậy. Ở truyện Chỉ còn cây và nắng, ta bắt gặp một già Téc độc thân người Mường Sụ khéo tay hay làm, một tay đa nghệ, mà cao thủ nhất là cái sự bóc tách ngọc kê (thiến gà) rất thiện xảo. Nhưng già Téc còn là, trước hết là, một chiến sĩ của chiến dịch Điện Biên Phủ, bị thương nặng nhưng lại chẳng nhận được chế độ chính sách nào. Cho đến khi già Téc “đã ngủ quên không dậy trên sàn bương”, qua hồi ức của một vị tướng, người ta mới biết đến già Téc và mọi truy lĩnh tưởng thưởng mới về, thì số tiền ấy cũng chỉ dùng vào việc là người Mường Sụ xây cho già một ngôi mộ ốp đá mà thôi.

Trớ trêu và cay đắng, là chuyện về già Téc. Nhưng còn đau khổ và sống trong nỗi dằn vặt đến hết đời, lại là chuyện về bà giáo Lê, trong truyện ngắn Sông Thao miền chảy chậm. “Manteau mỏng, búi tóc cao đầy đặn trắng cước, kính cận sẫm màu, bốt da nâu kéo khóa, cô giáo Lê của tôi đứng lút mình trong ngàn lau sậy phơ phơ. Sau lưng cô, hai chú nhóc thi nhau vồ châu chấu. Hương nước hoa Chanel thoảng qua rồi lưu lại lãng đãng trong cảm giác. Gương mặt thanh nhã u uẩn sáng lên khi cô Lê thấy tôi. Thứ ánh sáng tinh khiết, thông tuệ nhưng bất lực”. Người phụ nữ cao tuổi và sang trọng lịch lãm ấy là vợ liệt sĩ và đã từng là một giáo viên phổ thông mẫu mực thời chiến tranh, được nhiều học trò cũ kính phục và yêu mến, và giờ đây là mẹ của một vị tiến sĩ y khoa xuất sắc bên Pháp. Tuy nhiên bà không hạnh phúc, chỉ bởi chính những dòng tự tay bà ghi trong học bạ của một học sinh vào những năm chiến tranh đó: “Quan hệ bất chính. Nhân cách sa đọa. Động cơ phấn đấu ngụy tạo. Không thể đào tạo lâu dài”.

Sự kết án nhân danh đạo đức, thực chất là đầy thành kiến nanh nọc ấy, là dành cho học sinh Đ.Ng, kẻ bị bắt quả tang đang ôm bạn gái trong lúc học ôn thi. Sự kết án ấy đã bịt hết mọi đường sống để trở thành người tử tế của một con người đầu xanh tuổi trẻ: không được đi bộ đội, không được thi đại học, không được làm công nhân nhà nước, rút lại chỉ có ăn cắp, nghiện rượu, vào tù rồi lại ra tù như cơm bữa, lập gia đình thì vợ hỏng con hư. Cuối truyện xuất hiện nhân vật người đàn ông lái đò với cánh tay xăm dòng chữ Đ.Ng = Đ.Ng như là một giả thiết về cậu học trò mà cả đời bà giáo Lê vẫn muốn gặp lại để nói lời tạ tội. Nhưng cho dù là thế thì chắc cũng chẳng thay đổi được gì: người thanh niên đã chết khi chưa kịp trưởng thành, vì lời phê của cô giáo của mình.

Trong tập Một mùa hè dưới bóng cây, Nguyễn Tham Thiện Kế còn có một vệt truyện ngắn khác nữa, không gây ấn tượng bằng sự góc cạnh sắc sảo hay đau đớn da diết, mà bằng những tình cảm rất nhẹ nhàng trong sáng, nên thơ và như mơ, là tình yêu mà đôi khi cũng chẳng thể gọi tên là tình yêu, như Trái hồng xanh trong tay, Hoa trắng rụng dòng trong, Làng đồi dưới gốc hoa, Nếu trở về qua cây cầu cũ v.v… Ở vệt truyện này, chất truyện và chất tùy bút hòa quyện, đôi khi từ trục chính của truyện vẫn rẽ ra một nhánh để tác giả cho bung nở hết vẻ đẹp của chữ nghĩa tiếng Việt. Tóm lại, tôi có thể tạm kết luận: với truyện ngắn, Nguyễn Tham Thiện Kế đã nỗ lực đi đến tận cùng cái giới hạn văn chương của thế hệ mình.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Bạn nên tiết kiệm bao nhiêu tiền lương?


Việc tiết kiệm cho những tình huống khẩn cấp và tương lai là điều quan trọng để bảo đảm an toàn tài chính. Nhưng bạn nên dành bao nhiêu phần trăm lương để tiết kiệm?

Theo lời khuyên chung từ các chuyên gia tài chính, bạn nên dành khoảng 20% thu nhập của mình để tiết kiệm. Tuy nhiên, nếu con số này quá cao so với khả năng hiện tại của bạn, vẫn có nhiều cách để bạn có thể bắt đầu tiết kiệm, dù chỉ là một khoản nhỏ. Điều quan trọng là tạo dựng được quỹ dự phòng để đối mặt với những khó khăn tài chính không ngờ đến trong cuộc sống.

Cuộc sống luôn tiềm ẩn những tình huống bất ngờ có thể gây áp lực tài chính, từ những việc nhỏ như thay lốp xe cho đến những chuyện lớn hơn như đi chăm sóc người thân bị bệnh. Nếu bạn không có quỹ dự phòng, những tình huống này có thể khiến bạn rơi vào vòng xoáy nợ nần. Theo một khảo sát năm 2024, cứ 4 người Mỹ thì có 1 người không có đủ tiền để tiết kiệm sau khi trả các hóa đơn hàng tháng. Việc xây dựng quỹ dự phòng có thể mang lại cho bạn sự yên tâm và giảm bớt căng thẳng khi gặp phải những chi phí bất ngờ.

Bạn nên tiết kiệm bao nhiêu tiền lương? - 1

Các chuyên gia cho rằng mục tiêu hữu ích là dành riêng 20% ​​thu nhập của bạn để tiết kiệm

Các chuyên gia khuyến nghị bạn nên có một quỹ dự phòng đủ để trang trải từ 3 đến 6 tháng chi phí sinh hoạt. Ví dụ, nếu bạn chi tiêu khoảng 4.000 USD mỗi tháng cho tiền thuê nhà, thực phẩm và các chi phí thiết yếu khác, thì quỹ dự phòng của bạn nên đạt từ 12.000 đến 24.000 USD. Nếu con số này vượt ngoài khả năng của bạn, hãy bắt đầu bằng một khoản nhỏ hơn, như 1.000 USD hoặc thậm chí 100 USD, để tạo nền tảng tài chính ổn định hơn.

Việc tiết kiệm cho hưu trí là cần thiết, và các chuyên gia khuyến cáo bạn nên tiết kiệm từ 10% đến 15% thu nhập cho mục tiêu này. Tuy nhiên, nếu bạn bắt đầu tiết kiệm muộn, con số này có thể cần phải cao hơn. Nếu công ty bạn có chương trình đóng góp vào quỹ hưu trí, hãy tận dụng nó để giảm bớt gánh nặng tài chính. Ví dụ, nếu công ty bạn đóng góp thêm 5% lương vào quỹ hưu trí, bạn chỉ cần tiết kiệm 5% lương của mình để đạt mục tiêu 10% tổng thu nhập hàng năm.

Nếu bạn sống ở nơi có chi phí cao hoặc phải đối mặt với các chi phí lớn khác, việc dành 20% thu nhập cho tiết kiệm có thể là một thách thức. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể bắt đầu từ những khoản nhỏ, như 5 USD hay 10 USD mỗi tháng. Những chiến lược như mở tài khoản tiết kiệm lãi suất cao, tăng thêm thu nhập hoặc sử dụng các công cụ tiết kiệm tự động có thể giúp bạn tạo quỹ tiết kiệm dễ dàng hơn mà không cần phải thay đổi nhiều thói quen chi tiêu hàng ngày.



Nguồn: Arttimes.vn

Hyundai dừng bán một số phiên bản Palisade vì lỗi ghế chỉnh điện


Sau tai nạn liên quan ghế điện mẫu xe SUV Palisade được Hyundai dừng bán một số phiên bản.

Hyundai tạm dừng bán một số phiên bản Palisade 2026 sau vụ tai nạn có thương vong, nguyên nhân được xác định liên quan đến hệ thống ghế chỉnh điện và cảm biến an toàn. Một vụ tai nạn tại bang Ohio, Mỹ khiến một bé gái 2 tuổi tử vong khi bị kẹt bởi hàng ghế chỉnh điện trên xe Hyundai Palisade 2026.

Theo thông tin từ Hyundai, sự cố liên quan đến hệ thống ghế ở hàng thứ hai và thứ ba. Các cảm biến an toàn có thể không phát hiện được vật cản, kể cả con người, trong quá trình ghế trượt hoặc gập. Nguy hiểm có thể xảy ra khi người dùng sử dụng tính năng trượt và gập một chạm để ra vào hàng ghế thứ ba, hoặc khi ghế đang trong quá trình gập xuống.

Hyundai dừng bán một số phiên bản Palisade vì lỗi ghế chỉnh điện - 1

Hyundai tạm dừng bán một số phiên bản Palisade 2026 sau vụ tai nạn có thương vong.

Trong trường hợp cảm biến chống kẹt không hoạt động đúng, mô-tơ vẫn tiếp tục vận hành và tạo lực ép lớn, dẫn đến nguy cơ gây thương tích nghiêm trọng. Hyundai cho biết lỗi này xuất hiện trên các phiên bản Palisade 2026 sử dụng ghế sau chỉnh điện, bao gồm bản Limited và Calligraphy.

Tổng số xe bị ảnh hưởng khoảng 68.500 chiếc, trong đó có 60.500 xe tại Mỹ và 8.000 xe tại Canada. Các phiên bản sử dụng ghế chỉnh cơ không nằm trong diện bị tác động. Trước mắt, Hyundai đã phát lệnh dừng bán toàn bộ các xe thuộc diện ảnh hưởng để phục vụ điều tra và khắc phục. Hãng dự kiến phát hành bản cập nhật phần mềm qua mạng (OTA) vào cuối tháng 3/2026 nhằm tăng độ nhạy của cảm biến, được xem là giải pháp tạm thời.

Song song, Hyundai đang hoàn tất thủ tục triệu hồi với Cục An toàn giao thông đường cao tốc Mỹ (NHTSA). Giải pháp sửa lỗi lâu dài, bao gồm phần mềm hoặc phần cứng, sẽ được triển khai miễn phí tại các đại lý. Ngoài ra, hãng cũng cung cấp xe thuê miễn phí cho khách hàng không muốn tiếp tục sử dụng xe trong thời gian chờ khắc phục. Hyundai khuyến cáo chủ xe Palisade 2026 thuộc diện ảnh hưởng cần thận trọng khi sử dụng các chức năng ghế điện.

Hyundai dừng bán một số phiên bản Palisade vì lỗi ghế chỉnh điện - 2

Hyundai đã phát lệnh dừng bán toàn bộ các xe thuộc diện ảnh hưởng để phục vụ điều tra và khắc phục.

Người dùng được khuyến nghị không để trẻ em hoặc vật nuôi gần khu vực ghế khi kích hoạt chức năng gập hoặc trượt. Đồng thời, tránh sử dụng tính năng này khi có người đang lên xuống xe. Sự việc đặt ra thêm yêu cầu về độ tin cậy của các hệ thống hỗ trợ điện tử trên ô tô, đặc biệt là các tính năng liên quan trực tiếp đến an toàn hành khách.

Trong thời gian tới, hiệu quả của các biện pháp khắc phục và phản hồi từ cơ quan quản lý sẽ là yếu tố quyết định đến mức độ ảnh hưởng của sự cố này đối với thị trường.



Nguồn: Arttimes.vn

“Ngọn núi tình yêu” – Khúc trầm lặng giữa núi rừng ký ức


“Ngọn núi tình yêu” là bài thơ được in trong tập “Ý nghĩ ban mai” – NXB Hội Nhà văn 2015 của nhà thơ, nhà giáo Bùi Thị Biên Linh – một tập thơ viết về vùng đất, con người Bình Phước và đã đoạt giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2016. Bài thơ đã được Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước, Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn đưa vào chương trình ngữ văn địa phương tỉnh Bình Phước (từ năm 2023).

Như là một cái duyên đã định. Tôi gặp Biên Linh tại Trại viết lý luận phê bình văn học nghệ thuật khóa VIII, do Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Huế. Mới gặp mà đã như tri kỷ. Cũng như tôi, một cô giáo dạy văn, mê viết nhưng Biên Linh tài hoa lắm. Đến tận bây giờ, đã hơn 60 mùa xuân qua, cô vẫn vừa dạy học, vừa viết văn (đủ thể loại: thơ, ký, tiểu thuyết, phê bình văn học). Và ở công việc nào cô cũng khẳng định được cái tầm, cái tâm của một nhà giáo – nhà thơ. 

Những ngày ở bên nhau ngắn ngủi, chúng tôi kể cho nhau nghe chuyện gia đình, chuyện dạy học, viết văn… Tôi được nghe những bản nhạc của các nhạc sĩ phổ thơ của Biên Linh. Có bài thơ được sự quan tâm của ba nhạc sĩ. Đó là bài thơ Ngọn núi tình yêu. Tôi cũng như các nhạc sĩ đó, mê nó! Bởi Ngọn núi tình yêu là một bài thơ không cần nhiều từ hoa mỹ, không cần những khái niệm lớn lao mà vẫn khiến lòng người rung động – bởi chúng nói bằng trái tim, bằng những điều rất thật: một ngọn núi, một buổi tiễn chân,… lặng lẽ, sâu sắc và đầy rung động.

Bài thơ Ngọn núi tình yêu không chỉ là một bức tranh về vẻ đẹp hùng vĩ của ngọn núi Bà Rá, mà còn là một khúc tự tình sâu lắng về tình yêu quê hương, tình đồng đội và những ký ức chiến tranh. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống gắn bó với quân đội, Biên Linh đã mang vào thơ mình những trải nghiệm và cảm xúc đặc biệt, tạo nên một tác phẩm giàu giá trị nhân văn và nghệ thuật.

“Ngọn núi tình yêu” - Khúc trầm lặng giữa núi rừng ký ức - 1

Nhà văn, nhà giáo Bùi Thị Biên Linh.

Ngay từ nhan đề, Ngọn núi tình yêu đã gợi lên một sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp thiên nhiên và tình cảm con người. Ngọn núi Bà Rá, biểu tượng của quê hương Bình Phước, không chỉ là một địa danh mà còn là một nhân chứng lịch sử, chứng kiến bao thăng trầm của đất nước. Tình yêu ở đây không chỉ là tình yêu đôi lứa mà còn là tình yêu quê hương, tình đồng đội, tình cảm gia đình và cả những ký ức về một thời chiến tranh gian khổ. 

Không gian địa danh Bà Rá hiện lên từ những câu thơ đầu tiên không chỉ là tọa độ địa lý, mà đã trở thành không gian tâm tưởng. Núi Bà Rá – biểu tượng thiêng liêng của quê hương Bình Phước – hiện lên như một nhân vật sống động, mang hồn cốt của đất và người miền Đông trong ký ức của người lính:“Vẫn là ngọn núi ấy phải không em/Bao năm rồi núi có còn xanh thế/Bao năm rồi đá có còn bền bỉ/Ngả tấm lưng nâng từng bước chân người”.

Bốn câu thơ mở đầu là một chuỗi những câu hỏi không chỉ hướng về người yêu mà còn là lời độc thoại nội tâm của người lính khi trở về với ký ức. Trong từng câu hỏi có nỗi xao xuyến, tiếc nuối, và cả một nỗi đau âm thầm khi thời gian đã đi xa mà người vẫn chưa thể trở lại quê nhà. Ngọn núi Bà Rá không đơn thuần là địa danh, mà đã trở thành một thực thể sống động – chứng nhân của lịch sử, chốn tựa của tâm hồn.

“Thương! Thương lắm ngọn núi quê em ngày gian khổ/Bà Rá kiên trung che bom đạn cho làng”. Chữ “Thương!” được nhà thơ nhấn mạnh như một tiếng kêu từ đáy tim. Tôi cảm nhận ở đây không chỉ là tình yêu quê hương mà còn là niềm xót xa khi nghĩ về những năm tháng đạn bom, khi từng thớ đất, từng vách đá phải oằn mình lên che chở: “Núi vững vàng như người mẹ Miền Đông/Chở che đàn con chiến sĩ”. Ở đây, người viết nhận ra sự giao hòa giữa hai nguồn cảm xúc lớn: tình yêu quê hương – đất mẹ, và tình yêu đôi lứa. Cái “vững vàng” của núi là hình ảnh của hậu phương bền bỉ, là người mẹ tảo tần, nhưng cũng là tình yêu thầm lặng nâng đỡ người lính nơi tiền tuyến. Hình ảnh núi được nhân cách hóa: không còn là tĩnh vật, mà là một nhân vật lịch sử – gan góc, kiên trung, như một người mẹ miền Đông hiền hậu nhưng quyết liệt. Bà Rá trong bài thơ cũng như vậy: vừa là nơi gắn với chiến tranh, vừa là nơi lưu dấu một tình yêu, một lý tưởng.

“Em yêu ơi! Đừng hỏi vì sao anh nhớ/Dù bao tháng năm chưa thể trở về”. Câu thơ như một lời thú tội dịu dàng. Không cần nhiều lời để lý giải, bởi tình yêu chân thật không cần được giải thích – nó là cảm xúc chảy âm ỉ trong mạch máu của thời gian. Trong câu thơ này là một chút dằn vặt, một chút nỗi buồn: vì chiến tranh, vì nghĩa lớn mà người lính chưa thể trở về, nhưng trong tim anh – hình bóng em chưa bao giờ mờ nhạt.

“Em không nói gì buổi tiễn anh đi/Mà gió! Gió cồn cào! Gió xôn xao sườn núi”. Thơ hay ở chỗ không cần kể lể nhiều mà gợi được cả một khoảng lặng đau đáu. Người con gái không nói, nhưng thiên nhiên đã nói hộ lòng em. Gió ở đây là hình tượng của cảm xúc bị dồn nén, gió thấm vào lòng núi, thấm vào hồn người. Tôi chợt nhớ tới những cuộc chia ly thầm lặng của bao đôi lứa thời chiến, nhớ đến một dòng mạch thơ Lưu Quang Vũ, nơi những cuộc chia tay, những lời hẹn thề thường được ẩn sau khung cảnh thiên nhiên: “Nào đâu phải người đi không lưu luyến/Mắt người trong như giếng nước ban đầu/Mảnh trăng liềm nghiêng một nỗi nhớ nhau” (Đêm hành quân – Lưu Quang Vũ).

Tình yêu trong Ngọn núi tình yêu là sự tiếp nối truyền thống đó: không ồn ào, không lời thề nguyền, nhưng sâu sắc đến nao lòng. Góp vào “lửa yêu thương” âm thầm trong chiến trường là sự hy sinh lặng lẽ và dồn nén nội tâm của người lính: “Gió không lời hẹn ước/Lửa yêu thương âm thầm trong mỗi bước hành quân”. Chính cái “lửa yêu thương” ấy âm ỉ cháy trong tim người lính – không bao giờ tắt, đã tiếp sức cho anh băng qua chiến trường, băng qua khốc liệt và cái chết.

Bài thơ khép lại bằng một đoạn trữ tình sâu sắc, nơi đọng lại tình yêu, sự mất mát và lòng tri ân:“Đồng đội anh đi qua chiến tranh/Lặng lẽ gửi tuổi xuân mình ở lại”. Câu thơ khiến người ta đau nhói. Có một sự thật trong chiến tranh:  nhiều người đã ra đi ở tuổi mười tám, hai mươi – khi chưa kịp sống trọn một đời, chưa kịp yêu trọn một người “Tuổi hai mươi chưa từng hò hẹn”, “Ngã vào lòng đất vẫn con trai”. Nhưng họ đã “gửi tuổi xuân mình ở lại” – không phải trong lãng quên, mà là trong những ngọn núi, cánh rừng, trong đất đai quê hương: “Đồng đội anh đã ngã xuống đất này!Giọt máu hồng nuôi sắc biếc vòm cây/Giọt máu hồng góp màu xanh đỉnh núi”. Những câu thơ thật đẹp và thật thiêng liêng!

“Em có nghe không thì thầm gió gọi/Giữa ngàn xanh Bà Rá anh hùng”. Bài thơ kết lại bằng một lời gọi – một tiếng vọng từ quá khứ. Tôi tưởng tượng như gió đang thì thầm bên tai, như núi đang nhắn nhủ: “Đừng quên chúng tôi – những người đã hóa thân vào đất này”. Tình yêu lứa đôi, tình đồng đội, tình quê hương – tất cả hội tụ thành một tiếng gọi bất tử từ thiên nhiên và ký ức. Và tôi – một người hậu sinh, khi đọc bài thơ này – cũng xin giữ lại một điều, rằng: Tình yêu lớn nhất, đôi khi không nằm trong lời thề, mà trong lặng lẽ nhớ – như ngọn núi Bà Rá – còng lưng mà không bao giờ cúi mặt.

Bài thơ Ngọn núi tình yêu của Bùi Thị Biên Linh, một tác phẩm đầy ắp tình cảm và giàu giá trị, không chỉ là một bức tranh về vẻ đẹp của ngọn núi Bà Rá mà còn là một khúc ca sâu lắng về tình yêu quê hương, tình đồng đội và những ký ức không thể phai mờ của một thời chiến tranh. Bài thơ đã khẳng định giá trị của mình trên nhiều phương diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, và để lại trong lòng người đọc những cảm xúc lắng đọng, khó quên.

Ngọn núi tình yêu là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện tài năng và tâm hồn của nhà thơ Bùi Thị Biên Linh. Bài thơ với nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại có sức lay động lớn. Việc sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, điệp ngữ đã làm tăng thêm tính biểu cảm, gợi cảm của câu thơ. Những chi tiết đời thường được lồng ghép một cách khéo léo, tạo nên một không gian nghệ thuật vừa gần gũi, vừa thiêng liêng. 

Bài thơ cũng kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình nhẹ nhàng, chất tự sự chân thành và âm hưởng sử thi lặng lẽ mà sâu xa. Không lên gân, không kêu gọi, bài thơ chỉ đơn giản kể lại một thời – kể bằng trái tim và sự trung thực của ký ức nhưng lại khiến người đọc xúc động sâu sắc bởi sự dung dị, chân thành và ngôn ngữ giàu biểu cảm. 

Là người đọc hôm nay, tôi không chỉ thưởng thức một văn bản nghệ thuật, mà còn thấy mình được đồng hành trên hành trình trở về của một người lính – một người yêu – một người mang ký ức chiến tranh. Từ hình ảnh ngọn núi Bà Rá, nhà thơ Bùi Thị Biên Linh đã làm sống dậy một không gian lịch sử – văn hóa – tâm linh của đất và người Phước Long. Đó là nơi tình yêu cá nhân chan hòa với tình yêu Tổ quốc, là nơi những giọt máu không chỉ rơi xuống mà hóa thành nhựa cây, màu xanh, thành sự sống bất diệt. Từng câu thơ như nhịp bước trên bậc đá Bà Rá: bền bỉ, âm thầm, và chở nặng yêu thương. Một bài thơ lặng lẽ mà vĩ đại – hợp âm của ký ức, tình yêu và quê hương.

 

Hoàng Kim Ngọc




Nguồn: Arttimes.vn

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em”


Cuộc thi Mỹ thuật Thiếu nhi Việt Nam 2026 với chủ đề “Di sản trong mắt em” đã chính thức được phát động ngày 28/3, tại di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). Cuộc thi hứa hẹn là hành trình giáo dục – nghệ thuật giàu giá trị nhân văn, lan tỏa trong cộng đồng, góp phần kết nối con người với di sản và khơi dậy tình yêu, ý thức gìn giữ di sản trong đời sống đương đại.

Cuộc thi do Xưởng Nghệ thuật ART TREE phối hợp cùng Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Hoạt động văn hoá khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám phát động.

Cùng sự đồng hành của Viện Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Truyền thống, Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, Tạp chí Ngày Nay và sự bảo trợ truyền thông của Trung tâm Điều phối các Hoạt động Sáng tạo Hà Nội (Hanoi Creative City), Báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 1

Đại biểu tham dự Lễ phát động Cuộc thi “Di sản trong mắt em”. Ảnh: Huyền Thương

Phát biểu tại Lễ phát động Cuộc thi, TS. Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám bày tỏ kỳ vọng, Cuộc thi không chỉ là một sân chơi bổ ích mà còn trở thành cầu nối lan tỏa tình yêu di sản. Đồng thời, khơi dậy được sự quan tâm, đồng hành của các bậc phụ huynh và các em học sinh trong việc tìm hiểu, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trong đó có di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 2

TS. Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám phát biểu tại Lễ phát động. Ảnh: Huyền Thương

Theo Ths. Nguyễn Hoàng Minh, Giám đốc Xưởng Nghệ thuật Art Tree, di sản không chỉ là những công trình cổ kính hay hiện vật trong bảo tàng, mà là ký ức sống động của một dân tộc – được gìn giữ, tiếp nối và tái tạo qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển nhanh chóng, việc nuôi dưỡng tình yêu di sản và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa ngay từ lứa tuổi thiếu nhi trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Với tinh thần đó, Cuộc thi hướng tới việc giúp các em nhỏ tiếp cận di sản văn hóa Việt Nam bằng những góc nhìn sáng tạo, gần gũi và giàu cảm xúc. Thông qua hội họa, các em có cơ hội thể hiện suy nghĩ, trí tưởng tượng và tình yêu quê hương bằng ngôn ngữ tạo hình đa dạng, từ đó góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ di sản văn hóa.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 3

Ths. Nguyễn Hoàng Minh, Giám đốc Xưởng Nghệ thuật Art Tree chia sẻ về ý nghĩa Cuộc thi. Ảnh: Huyền Thương

Ban Tổ chức kỳ vọng, mỗi tác phẩm dự thi không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật mà còn là một câu chuyện cá nhân – phản ánh cách nhìn trong trẻo nhưng sâu sắc của trẻ thơ về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên và con người Việt Nam.

Cuộc thi Mỹ thuật “Di sản trong mắt em” được tổ chức với quy mô toàn quốc, dành cho thiếu nhi trên toàn quốc từ 4 đến 15 tuổi, được chia thành các nhóm tuổi phù hợp: 4 đến 6 tuổi; 7 đến 10 tuổi; 11 đến 15 tuổi.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 4

Không gian trải nghiệm mỹ thuật dành cho các em nhỏ trong khuôn khổ chương trình. Ảnh: BTC

Hội đồng Ban Giám khảo gồm những chuyên gia uy tín trong lĩnh vực mỹ thuật và di sản, gồm: PGS.TS Trần Thị An, Giảng viên cao cấp Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội; TS. Nhà nghiên cứu Mỹ thuật Trần Hậu Yên Thế, giảng viên Trường Khoa học Liên ngành và nghệ thuật Đại học Quốc Gia Hà Nội; Giám tuyển – họa sĩ Nguyễn Thế Sơn, giảng viên của Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Ths. Bùi Hà Trang, giảng viên Khoa Công Nghiệp Văn Hóa và Di sản – Nghiên cứu sinh ngành Di sản học – Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc Gia Hà Nội; Ths. Nguyễn Hoàng Minh, Giám đốc Xưởng nghệ thuật ART TREE.

Về cầu đối với tác phẩm dự thi, mỗi thí sinh được gửi tối đa 2 tác phẩm, kích thước khổ A3.

Thí sinh có thể có nhiều cách thể hiện bài thi: bằng tranh vẽ, poster, tác phẩm thủ công từ vật liệu tái chế, vẽ bằng phần mềm máy tính.

Chất liệu để thể hiện không giới hạn: màu sáp, màu dạ, màu bột, màu nước, phấn màu, acrylic, giấy màu, chất liệu tái chế, các chất liệu sáng tạo khác…

Các tác phẩm dự thi cần thể hiện được thông điệp chủ đề của cuộc thi và thể hiện chủ đề một cách sáng tạo và sinh động.

Riêng đối với 2 nhóm tuổi từ 7–10 và 11–15, mỗi tác phẩm cần đính kèm bản thuyết minh ngắn không quá 100 từ, nhằm làm rõ ý tưởng hoặc câu chuyện được thể hiện bằng hình ảnh.

Ngoài ra, thí sinh có thể tự quay 1 video giới thiệu tranh dự thi để tranh giải “Sứ giả Di sản” gửi qua fanpage Xưởng nghệ thuật ART TREE.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 5

Tọa đàm của các chuyên gia trong lĩnh vực nghệ thuật – di sản – giáo dục.

Ảnh: Huyền Thương

Không chỉ là một cuộc thi, “Di sản trong mắt em” còn hướng tới trở thành một chương trình giáo dục – nghệ thuật có tính lan tỏa xã hội, góp phần kết nối cộng đồng và nâng cao nhận thức về giá trị di sản trong đời sống đương đại.

Trong khuôn khổ chương trình, đã diễn ra phiên tọa đàm với sự tham gia của những chuyên gia trong lĩnh vực nghệ thuật, di sản và giáo dục.

Cùng với đó, không gian trải nghiệm mỹ thuật dành cho học sinh được thiết kế như một điểm nhấn, tạo cơ hội để các em trực tiếp khám phá, sáng tạo và nuôi dưỡng cảm thụ nghệ thuật.

Ban Tổ chức nhận bài dự thi từ ngày 28/3 đến hết ngày 4/5/2026. Thí sinh gửi bài dự thi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện tại Xưởng nghệ thuật ART TREE (số 41, ngõ 168 đường Hào Nam, Quận Đống Đa, TP Hà Nội). Hoặc qua đường link Google Form do ART TREE cung cấp với tác phẩm vẽ hình thức digital.

Ban Tổ chức sẽ trao 1 giải Kim cương, 3 giải Vàng, 6 giải Bạc, 1 giải “Sứ giả Di sản”, 1 giải “Đại sứ Ước mơ”, 1 giải “Họa sĩ Di sản số”, 3 giải “Kết nối Di sản”, 1 giải “Dấu ấn Văn Miếu”, 1 giải “Nhà sáng tạo Hồng Hà”.

Lễ trao giải và triển lãm top 60 tác phẩm dự kiến được diễn ra ngày 10/5/2026, tại Hà Nội.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật


Chuỗi triển lãm mỹ thuật “Việt Nam – Kỷ nguyên vươn mình” và “Hà Nội trong mắt ai” do Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp Ban Vận động Mỹ thuật & Ngoại giao Văn hóa tổ chức đã chính thức khai mạc chiều 19/3, tại Hà Nội.

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 1

Quang cảnh Lễ khai mạc chuỗi triển lãm.

Triển lãm “Việt Nam – Kỷ nguyên vươn mình” giới thiệu một số bức chân dung các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc nhiệm kỳ tới. Bằng ngôn ngữ hội họa trang trọng, giàu chiều sâu, các nghệ sĩ đã khắc họa chân dung của Tổng Bí thư Tô Lâm, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang…

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 2

Chân dung Tổng Bí thư Tô Lâm của hoạ sĩ Nguyễn Cường.

Điểm nhấn của các tác phẩm không chỉ nằm ở độ chuẩn xác về tạo hình mà còn ở khả năng khắc họa “cái thần”, qua đó làm nổi bật bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Từ góc độ này, không gian trưng bày góp phần tôn vinh vai trò của đội ngũ lãnh đạo trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nếu không gian triển lãm “Việt Nam – Kỷ nguyên vươn mình” góp phần lan tỏa tinh thần đổi mới, mang đến niềm tin vào sự vững chãi của hệ thống chính trị thì không gian “Hà Nội trong mắt ai” là lời tri ân sâu sắc dành cho di sản con người – những cá nhân đã góp phần làm nên bản sắc và sức sống của Thủ đô.

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 3

Tiết mục nghệ thuật chào mừng.

Triển lãm “Hà Nội trong mắt ai” trưng bày hơn 70 tác phẩm, gồm các bức chân dung và phong cảnh. Đây là một cuộc đối thoại thị giác giữa ký ức và hiện tại, khắc họa chân dung những con người ở nhiều thời kỳ khác nhau, từ các nhà lãnh đạo, quản lý, nhà văn hóa, giáo dục đến nghệ sĩ, ca sĩ, doanh nhân… Tất cả đều là những cá nhân có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như quá trình xây dựng, phát triển Thủ đô và đất nước.

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 4

Không gian triển lãm “Hà Nội trong mắt ai”.

Đến với triển lãm, công chúng được gặp lại chân dung những vị tướng lừng danh như: Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Chí Thanh… họ là những người đã ghi dấu ấn đậm nét trong các trang sử vàng của dân tộc.

Bên cạnh các danh tướng quân đội là các nhà văn, nhà thơ, nhà báo như: Nguyễn Bính, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Hữu Việt, Vũ Hoàng Chương, Trần Thị Trường, Thu Huệ…; các biên kịch, đạo diễn phim: Lưu Quang Vũ, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Trần Văn Thủy; các nhạc sĩ: Phó Đức Phương, Đỗ Hồng Quân, Phú Quang, Nguyễn Quốc Trung, Đỗ Quốc Bảo, Dương Thụ; các ca sĩ: Thanh Lam, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Mỹ Linh, Tùng Dương…

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 5

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 6

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 7

Chân dung một số văn nghệ sĩ tiêu biểu.

Không gian triển lãm cũng dành sự tôn vinh cho các trí thức, nhà giáo và doanh nhân tiêu biểu như: GS. Hoàng Xuân Sính, Lê Trường Tùng… doanh nhân Phạm Nhật Vượng, Trương Gia Bình…

Bên cạnh đó là chân dung các gương mặt hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác như: nhiếp ảnh gia Nguyễn Thị Minh Hải, chuyên gia văn thư – lưu trữ Vũ Minh Hương, luật sư Nguyễn Quỳnh Anh, Phạm Thúy Anh; nhà thể thao Hoàng Vĩnh Giang, huấn luyện viên Hoàng Đức Chung, huấn luyện viên Kim Sang-sik…

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 8

Công chúng tham quan triển lãm.

Các tác phẩm không chỉ là những lát cắt ký ức hay góc nhìn nghệ thuật, mà còn là sự tri ân đối với những con người đã âm thầm cống hiến, góp phần làm nên diện mạo và tầm vóc của Hà Nội – một thành phố giàu truyền thống, không ngừng chuyển mình trong dòng chảy thời đại.

Ngoài ra, triển lãm cũng trưng bày hơn 50 bức tranh phong cảnh, tĩnh vật, trừu tượng của các họa sĩ: Bùi Hữu Hùng, Hồng Việt Dũng, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Cường, Lê Đức Tùng, Hải Kiên, Bình Nhi, Nguyễn Quốc Thắng, Trần Nhật Thăng, Trương Trọng Quyền, Minh Phố, Hương Đào, Nguyễn Ngọc Tuấn…

Lan tỏa tinh thần đổi mới, tôn vinh giá trị con người qua hai triển lãm mỹ thuật - 9

Tranh phong cảnh trưng bày tại triển lãm.

Chuỗi triển lãm “Việt Nam – Kỷ nguyên vươn mình” và “Hà Nội trong mắt ai” không chỉ dừng ở giá trị thưởng lãm, mà còn tạo dấu ấn như một sự kiện văn hóa có ý nghĩa. Từ những lát cắt nghệ thuật giàu cảm xúc, triển lãm đã tạo nên nhịp cầu kết nối giữa tinh thần thời đại và chiều sâu truyền thống dân tộc, đồng thời khắc họa rõ nét chân dung những con người tiêu biểu – những chủ thể đã và đang góp phần kiến tạo diện mạo, nâng tầm vị thế của đất nước và Thủ đô trên hành trình phát triển.

Chuỗi triển lãm diễn ra đến hết tháng 3/2026 tại số 47 Hàng Dầu (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội).

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Tượng đài Bác Hồ lồng lộng giữa trời xanh Buenos Aires 


Máy bay hạ dần độ cao, thủ đô Buenos Aires hiện rõ bên bờ Nam sông La Plata trong xanh và thơ mộng. Từ trên cao ngắm nhìn thành phố Buenos Aires mang đậm màu sắc văn hóa châu Âu, nơi có cả tượng đài Bác Hồ lồng lộng giữa trời xanh.

Người hướng dẫn giới thiệu với chúng tôi: Buenos Aires đôi lúc được mệnh danh là “Paris phương Nam” hay còn gọi “Paris Nam Mỹ”. Buenos Aires là một đô thị phồn hoa nhất của Mỹ La Tinh, nổi tiếng với nhiều công trình kiến trúc đặc sắc. Về đêm tưng bừng nhịp sống và sinh hoạt văn hóa năng động. Buenos Aires là một trong những thành phố sung túc nhất châu Mỹ La Tinh, mà cư dân đông đúc nhất là tầng lớp trung lưu, có kiến thức rộng.

Tượng đài Bác Hồ lồng lộng giữa trời xanh Buenos Aires  - 1

Quảng trường Congreso, Buenos Aires

Là một người am hiểu khá sâu về lịch sử đất nước Argentina, hướng dẫn viên cho biết: Người châu Âu đầu tiên đến sông La Plata vào năm 1516 là thủy thủ Juan Diaz de Solis, người Tây Ban Nha. Nhưng cuộc thám hiểm của ông bị chấm dứt, bởi ông bị bộ tộc người da Đỏ Charua ở Uruguay tấn công, giết chết.

Nhưng chẳng bao lâu sau đó, Buenos Aires bị người Tây Ban Nha xâm chiếm. Tuy nhiên giai đoạn đầu của cuộc xâm lược và quá trình thuộc địa hóa diễn ra rất chậm chạp, do sự chống đối quyết liệt của người dân bản xứ. Nhân dân Argentina, dưới sự lãnh đạo của San Martin đã vùng lên làm cách mạng, lật đổ ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha. Năm 1816, Argentina tuyên bố độc lập và thành phố Buenos Aires trở thành thủ đô của nước Cộng hòa Argentina độc lập. 

Thành phố Buenos Aires do Pedro de Mendoza thành lập ngày 02 tháng 02 năm 1536, tức là 20 năm sau khi người Tây Ban Nha đến vùng sông Rio de La Plata. Thành phố đầu tiên có tên Ciudad de Nuestra Senora Santa Maria del Buen Ayre (theo nghĩa đen là Đức Mẹ Thánh Maria của làn gió lành). Song thành phố Buenos Aires bị lãng quên trong nhiều năm, do sự chống đối dữ dội của người dân da đỏ bản địa. Cho nên mãi đến năm 1580 mới được xây dựng lại. Buenos Aires trở thành cảng trung tâm của các tỉnh vùng núi Andes, nơi có nhiều mỏ khoáng sản quý, đặc biệt là mỏ bạc ở Potosi. Năm 1776, Buenos Aires là thủ đô của Tiểu vương Rio de La Plata.

Vào thế kỷ XIX, từ năm 1853 đến năm 1860, trở thành một bang độc lập. Năm 1880, thành phố Buenos Aires trở thành thủ đô của nước Cộng hòa Argentina, thì Buenos Aires tách khỏi tỉnh mang cùng tên.

Buenos Aires vừa là thành phố vừa là hải cảng, nằm trên bờ Nam sông Rio de La Plata. Dân số chỉ riêng khu vực này chỉ có khoảng 2.808.000 người. Dần dần thành phố phát triển mở rộng ra các vùng: Avellanada, General San Martin, Moron, Quilmes, và San Isidro… đã đưa dân số Buenos Aires lên đến 10.990.000 người, chiếm hơn 1/3 dân số cả nước Argentina.

Sự tăng dân số một cách nhanh chóng  từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là do sự nhập cư ngày càng ồ ạt của người Italia đổ vào Buenos Aires, thêm vào đó, do đời sống ngày một khó khăn, những người ở nông thôn rời bỏ quê hương ra thành phố kiếm sống ngày một nhiều lên, đó cũng là tác nhân tăng dân số Buenos Aires.

Ở Buenos Aires cũng có Tòa Giám mục của Giáo hội Công giáo. Buenos Aires là trung tâm kinh tế đầu não của Argentina. Buenos Aires nằm ở cửa sông Parana, chảy ra Đại Tây Dương, lại gần đồng cỏ Pampa, một nơi chăn nuôi rất phát đạt, càng làm cho thành phố có điều kiện phát triển nhanh, nhất là khi hoàn tất mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt nối với toàn quốc càng làm cho thành phố trở thành một trung tâm  thương mại quan trọng bậc nhất của Argentina.

Đặc biệt cảng Buenos Aires là trung tâm vận chuyển của các tỉnh vùng núi Andes, nơi có nhiều mỏ khoáng sản. Cảng Buenos Aires là cảng quan trọng nhất nhì Nam Mỹ chiếm 75% hàng hóa xuất khẩu của cả nước.

Buenos Aires có một nền công nghiệp dệt lớn thứ hai ở Nam Mỹ, sau Sao Paulo. Trong đó các ngành công nghiệp dệt, da, chất dẻo, chế biến thực phẩm, hóa học, dầu khí… chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngành công nghiệp hóa lọc dầu của Buenos Aires chiếm 2/3 lượng dầu thô của cả nước.

Di sản kiến trúc của Buenos Aires rất tuyệt vời, đặc biệt các dãy nhà có từ thời thuộc địa, đó là sự pha trộn giữa nghệ thuật kiến trúc Italia và Pháp.

Dạo quanh trung tâm thành phố Buenos Aires tôi cảm thấy ở đây, có nhiều khu phố rất giống quận 16 giàu có của Paris hoa lệ. Nhiều du khách thích phong cảnh của San Telmo, la Boca, nơi có những tòa biệt thự tráng lệ, trong đó đáng chú ý công trình chợ Matadores ở San Telmo và đảo Parano Delta.

Điều mà người viết bài này quan tâm nhất khi đến thủ đô Buenos Aires là được đến chiêm ngưỡng tượng đài Bác Hồ do Nhân dân và Chính phủ Argentina dựng lên tại công viên mang tên CHXHCN Việt Nam, thuộc quận 12, thủ đô Buenos Aires.

Tượng đài Bác Hồ lồng lộng giữa trời xanh Buenos Aires  - 2

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Argentina. 

Người hướng dẫn cho biết: Đây là bức tượng bán thân bằng đồng, dựa theo mẫu của nhà điêu khắc Trần Văn Lắm, được khánh thành ngày 30 tháng 8 năm 2012, nhân kỷ niệm 67 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam. Đến dự lễ khánh thành tượng đài có Bộ trưởng Bộ Môi trường và Không gian công cộng thành phố Buenos Aires Ngài Diego Santilli. Tham dự buổi lễ đặc biệt còn có ông Miguel Carlos Contreras, người con trai của ông Miguel Contreras, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Argentina đã từng gặp và trò chuyện thân mật với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, trong thời gian hai lãnh tụ tham gia Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 tại Moscow, năm 1924. Một điểm tham quan đáng giá là có kiến trúc đặc sắc của thành phố là khu nghĩa trang Recoleta với hơn 7.000 ngôi mộ được thiết kế khác nhau, mỗi ngôi mộ một vẻ, của những gia đình danh giá nhất của Buenos Aires. Họ là những nguyên thủ quốc gia, anh hùng quân đội, chính trị gia, giới thượng lưu giàu có và những nhân vật nổi tiếng  trong giới văn nghệ sỹ…

Có ngôi mộ được xây bằng đá cẩm thạch đen tuyền, ngày ngày luôn có hoa tươi đặt trên mộ và dòng người đến chụp ảnh kỷ niệm. Đó là mộ của Evita Peron, vợ kế của nhà lãnh đạo Juan Peron nổi tiếng. Buenos Aires được coi là cội nguồn của vũ điệu Tango sôi nổi. Cuối thế kỷ XIX, vào năm 1870, tại Buenos Aires người da đen bắt đầu được phép tập hợp với nhau theo từng cộng đồng dân tộc. Trong lễ hội họ múa hát tập thể theo nhịp tiếng trống dân gian và người Argentina gọi đó là Baile de tango. Đây chính là cái nôi của tango, trước khi được người da trắng cải tiến theo “gu” của họ lúc bấy giờ. Đó là kiểu khiêu vũ từng đôi nam – nữ. Từ đó đến nay điệu tango vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn với nhịp điệu sôi nổi, ấm áp, truyền cảm, cuốn hút từ thế hệ này đến thế hệ khác và trên bất cứ đường phố nào của Buenos Aires, du khách đều có thể bắt gặp các đôi nghệ sĩ đường phố biểu diễn tango thật lãng mạn.



Nguồn: Arttimes.vn

Nhiều điểm nhấn đặc sắc tại Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa – Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026


Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa – Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra trong 10 ngày, từ 17 đến 26/4/2026 (tức mùng 1 đến 10/3 âm lịch), tại Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng và nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng là sự kiện văn hóa – tín ngưỡng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đồng bào cả nước và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Đây là dịp để tưởng nhớ, tri ân công đức các Vua Hùng và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, giữ nước; đồng thời góp phần củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng về cội nguồn.

Năm 2026 mang dấu mốc đặc biệt khi lễ hội được tổ chức trong bối cảnh thực hiện chủ trương sắp xếp, hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình thành tỉnh Phú Thọ mới, đồng thời vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trong bối cảnh đó, Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa-Du lịch Đất Tổ năm nay được tổ chức với quy mô rộng hơn, nội dung phong phú hơn và phương thức tổ chức có nhiều đổi mới, linh hoạt.

Nhiều điểm nhấn đặc sắc tại Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026 - 1

Ban Tổ chức thông tin về Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa – Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026, tại buổi họp báo ngày 27/3.

Thông tin tại buổi họp báo ngày 27/3, đại diện Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cho biết, Lễ hội năm nay được tổ chức với nhiều hoạt động đặc sắc, mang hào khí của thời đại Hùng Vương và được kế thừa, tiếp nối trong xã hội đương đại.

Trong đó, các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức trang nghiêm, trọng thể, thành kính theo truyền thống văn hóa dân tộc với nghi thức dâng hương, dâng hoa của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành cùng đông đảo Nhân dân trong cả nước.

Lễ hội được chia thành hai phần gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi thức truyền thống như dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng, Giỗ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân, dâng hương Tổ Mẫu Âu Cơ và Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày 26/4 (tức 10/3 âm lịch).

Nhiều điểm nhấn đặc sắc tại Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026 - 2

Lễ hội được tổ chức với nhiều hoạt động đặc sắc, mang hào khí của thời đại Hùng Vương và được kế thừa, tiếp nối trong xã hội đương đại. (Ảnh minh họa)

Phần hội là chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú như: chương trình nghệ thuật khai mạc, hội trại văn hóa, liên hoan văn nghệ quần chúng, lễ hội văn hóa dân gian đường phố, trình diễn nghệ thuật dân gian, thi đấu thể thao truyền thống, hội sách, triển lãm và hội chợ… được tổ chức theo 18 cụm xã, phường tạo sự liên kết vùng và tăng cường giao lưu, lan tỏa văn hóa cơ sở.

Đáng chú ý, đây là năm đầu tiên tỉnh Phú Thọ tổ chức triển lãm mỹ thuật quốc tế. Hoạt động này góp phần mở rộng hoạt động đối ngoại văn hóa và quảng bá hình ảnh Phú Thọ đến với bạn bè quốc tế.

Cùng với đó là các sự kiện thể thao như: giải bóng chuyền Cúp Hùng Vương, marathon “Về nguồn”, bơi chải truyền thống, golf Cúp Hùng Vương… góp phần làm phong phú bức tranh lễ hội.

Điểm nhấn của chuỗi sự kiện là màn bắn pháo hoa tầm cao vào tối 25/4 tại Công viên Văn Lang (thành phố Việt Trì).

Ban Tổ chức Lễ hội đã xây dựng các phương án bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông; phòng, chống dịch bệnh và vệ sinh môi trường phục vụ đồng bào, du khách thập phương về với đất Tổ Hùng Vương.

Đến thời điểm hiện tại, công tác chuẩn bị cho Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa-Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026 cơ bản đã hoàn tất, bảo đảm tiến độ và yêu cầu đề ra. Các sở, ngành, đơn vị liên quan đã chủ động triển khai nhiệm vụ, sẵn sàng để các hoạt động diễn ra trang trọng, an toàn, tiết kiệm và hiệu quả.

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn