Home Blog Page 44

Nửa thế kỷ thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh


Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tình hình văn học – nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực. Văn học thiếu nhi, trong đó có thơ, ở Thành phố mang tên Bác, có sự phát triển đa dạng, độc đáo không chỉ về đề tài, nội dung mà còn ở hình thức thể hiện. Bài viết khái quát các chặng đường phát triển và những thành tựu nổi bật của thơ viết cho thiếu nhi trong đời sống văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh nửa thế kỉ qua.

Trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, thơ viết cho thiếu nhi là bộ phận quan trọng. Đó là sản phẩm nghệ thuật vừa mang mục đích giáo dục vừa bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách, phẩm chất cho tuổi thơ. Nhờ nội dung và cách thể hiện phù hợp với đời sống, tâm lí, nhận thức và năng lực thụ cảm thẩm mĩ của bạn đọc nhỏ tuổi, mảng sáng tác này giúp thiếu niên, nhi đồng có được sự tưởng tượng bay bổng, góp phần phát triển khả năng ngôn ngữ của các em. 

Từ sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), trong đời sống văn chương Thành phố Hồ Chí Minh, thơ viết cho thiếu nhi có một vị trí riêng với những đường nét, gam màu sinh động. Những vần thơ dành riêng cho lứa tuổi măng non không chỉ phản ánh thế giới tâm hồn, hướng đến việc hình thành nhân cách cho trẻ em mà còn thể hiện được đời sống hiện đại, tinh thần hội nhập của một đô thị năng động, không ngừng đổi mới, phát triển. Nửa thế kỉ qua, thơ thiếu nhi Thành phố có nhiều đổi mới, vừa gìn giữ và tiếp nối nguồn mạch truyền thống của văn học dân tộc, vừa chuyển mình và cách tân theo hướng hiện đại hoá.

50 năm và hai chặng đường thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh 

Trong hành trình 50 năm, thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh có thể chia thành hai giai đoạn: từ 1975 – 1985 và từ 1986 đến nay. Ở mỗi giai đoạn, thơ thiếu nhi Thành phố đều có những vận động để kiếm tìm những phương thức phản ánh mới, nỗ lực khắc hoạ hình ảnh con người mới in đậm dấu ấn của trẻ thơ trong muôn mặt cuộc sống thời kinh tế thị trường. 

Sau sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, một thời kì mới của lịch sử dân tộc được mở ra, đồng thời cũng đem đến một giai đoạn mới trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam. Văn học Việt Nam từ 1975 – 1985 là giai đoạn trăn trở, tìm đường và chuẩn bị cho đổi mới. Thơ viết cho thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài tiến trình vận động đó. 

Nhìn chung, thơ thiếu nhi giai đoạn này vẫn gần với cách tiếp cận cũ. Chiến tranh lùi vào quá vãng, cả nước đồng lòng bắt tay vào công cuộc xây dựng phát triển trong hoà bình. Song, kí ức về một thời mưa bom bão đạn vẫn là “siêu đề tài” thu hút các nhà thơ viết cho thiếu nhi. Chiến tranh, tuổi thơ trong chiến tranh vẫn là nguồn cảm hứng của những người cầm bút. Đề tài viết về truyền thống, về lịch sử vẫn được các tác giả tiếp tục khai thác nhằm giáo dục truyền thống cho các em nhỏ. Đất nước thống nhất, hàng loạt những vấn đề của cuộc sống được đặt ra không chỉ với người lớn mà còn cả với trẻ nhỏ. Cuộc sống mới mẻ khi đất nước hoàn toàn thống nhất cũng được các nhà thơ chú ý tới. Số phận con người, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh sống cũng được các nhà thơ khéo léo chuyển tải đến các em qua các trang thơ sống động. Tuy vẫn tiếp nối với văn học giai đoạn trước, nhưng dần dần các tác phẩm cũng mở ra những bình diện mới về thể hiện con người, cá tính sáng tạo của các tác giả.

Trong 10 năm sau cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, thơ thiếu nhi tuy đã có những dấu hiệu mới nhưng chưa tạo ra được những chuyển biến rõ rệt, mảng thơ của giai đoạn này kém phát triển hơn văn xuôi. Tuy nhiên, đây là bước khởi đầu, tiền đề có ý nghĩa quan trọng cho những đổi mới trong giai đoạn tiếp theo.

Từ 1986, đặc biệt là từ sự kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI, không khí đổi mới chung của đất nước, của văn học đã dội vào những trang thơ viết cho thiếu nhi. Hàng loạt các bài thơ ra đời với cách đặt vấn đề mới, giúp trẻ em có thể nhận ra và hoà nhập, thích ứng với cuộc sống mới, hiểu thêm về chính mình và mối quan hệ giữa cá nhân với mọi người, với xã hội. 

Giai đoạn đầu đổi mới, sự chuyển đổi về kinh tế, xã hội tác động sâu sắc đến thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh. Thơ thiếu nhi chững lại, gặp nhiều trở ngại trong cơ chế thị trường. Các tập thơ viết cho thiếu nhi ít được in và xuất bản, một số người làm thơ cho thiếu nhi bỏ tiền túi ra in tập thơ riêng nhưng phát hành khó khăn. Đội ngũ làm thơ cho các em ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn này vẫn còn thiếu điều kiện để các tác giả phát huy hết tiềm năng của mình. Một số lí do có thể kể đến như các nhà xuất bản chưa tìm ra cách đưa thơ đến với thiếu nhi, các tác giả thiếu kinh phí để đầu tư…

Phải đến đầu những năm 90, tình trạng trên mới được điều chỉnh, thơ thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều khởi sắc, “tình hình thơ viết cho thiếu nhi – trong khung cảnh nền văn học chung của đất nước – có những bước tiến triển đáng mừng” (Định Hải, 1993). Nhiều cuộc thi viết, trại sáng tác cho thiếu nhi ở mọi lứa tuổi được Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Giáo dục, Nhà xuất bản Trẻ, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội đồng Văn học thiếu nhi… phát động và thu được nhiều kết quả tích cực, khả quan. Với số tiền lãi từ việc ấn hành bộ truyện tranh Đôrêmon, Nhà xuất bản Kim Đồng đã trích ra các khoản tiền để hỗ trợ in ấn, nâng đỡ các tác giả thơ trẻ.

Từ năm 2000 đến nay, cùng với sự ưu ái của xã hội và các đoàn thể trong nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em. Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em…) và quốc tế (Tổ chức cứu trợ trẻ em của Thuỵ Điển Radda Barnen, Tổ chức Unicef, Hội Nhà văn Đan Mạch…) thực hiện rất nhiều chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy, kích thích việc sáng tác cho thiếu nhi. Thơ thiếu nhi ở Thành phố được in nhiều hơn trước đây. Đơn cử như Sáng tác văn học “Vì trẻ em” năm 2000 – 2001, Văn học thiếu nhi “Vì tương lai đất nước” năm 2001 – 2002, Văn học thiếu nhi “Tình bạn tuổi thơ” năm 2006 – 2007, các cuộc vận động sáng tác mang chủ đề “Một ngày kì lạ” năm 2007 – 2008, “Bước qua hai thế giới” năm 2008 – 2009. “Gõ cửa trái tim” năm 2013 – 2015… Các Trại sáng tác cho thiếu nhi khu vực cũng được tổ chức định kì, Cuộc vận động Sáng tác văn học viết về đề tài thiếu nhi kéo dài trong 5 năm (2021 – 2025), cùng với hàng loạt những tặng thưởng, giải thưởng về văn học thiếu nhi… đã khơi dậy niềm đam mê văn học thiếu nhi, phát hiện và bồi dưỡng khả năng sáng tạo thơ cho thiếu nhi của Thành phố và cả nước. Ngoài ra, bên cạnh thơ cho nhi đồng, các nhà thơ cũng có những tập thơ dành riêng cho lứa tuổi thiếu niên, cho mẫu giáo. Thơ cho thiếu nhi giờ đây đã được phân loại theo các lứa tuổi khác nhau, đem đến những tác phẩm chất lượng phù hợp với tâm lí của từng nhóm trẻ. 

Về phương diện xuất bản, ngoài nhà xuất bản Kim Đồng, hiện nay các nhà xuất bản Văn học, Hội Nhà văn, Trẻ, Phụ nữ, Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh… đã góp sức đưa những tên tuổi chuyên viết thơ cho thiếu nhi đến gần hơn với công chúng: Nguyễn Ngọc Ký, Trần Quốc Toàn, Đặng Hấn, Nguyễn Ngọc Khương, Nguyễn Nhật Ánh, Bùi Chí Vinh, Lệ Bình, Cao Xuân Sơn, Trương Nam Hương, Lê Minh Quốc, Lê Luynh, Nguyễn Thánh Ngã, Trung Dũng KQĐ, Phan Trung Thành, Nguyễn Phong Việt, Hồ Huy Sơn,…

Thời kì mở cửa, giao lưu quốc tế cũng tác động nhiều đến thơ thiếu nhi Thành phố. Khá nhiều tập thơ viết cho thiếu nhi được xuất bản song ngữ Việt – Anh như: Xin chào những buổi sáng – Good Morning, Mornings, Những chiếc ghế trong căn bếp nhỏ – Chairs in a small kitchen, Chúc ngủ ngon – Goodnight my dear! của Nguyễn Phong Việt; Khoảng trời của ngoại – My Grandma’s sky của Hoa Mai…

Như vậy, nửa thế kỉ đồng hành và phát triển cùng đời sống văn chương Thành phố, thơ thiếu nhi đã có những bước chuyển mình đáng kể trên nhiều phương diện. Quá trình đổi mới văn học cũng mang đến cho các em nhỏ không ít sáng tác thú vị, hấp dẫn, giàu giá trị thẩm mĩ và tính nhân văn sâu sắc.

Nửa thế kỷ thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh - 1

Ảnh minh họa

Những thành tựu tiêu biểu của thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 2025

Giai đoạn này, đội ngũ sáng tác văn chương Thành phố Hồ Chí Minh (gồm nhiều nhà văn, nhà thơ trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, các văn nghệ sĩ tại chỗ và từ khắp mọi miền đến sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh…) đã tập hợp lại, góp sức sáng tạo để xây dựng một nền văn học tiến bộ, văn minh, đậm đà bản sắc, phản ánh chân thật cuộc sống, con người nơi đây. 

Khoảng thời gian đầu thống nhất đất nước, các nhà văn quân đội tiếp tục đồng hành cùng với thiếu nhi như: Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Đỗ Trung Quân, Hồ Thi Ca, Đặng Hấn, Nguyễn Thái Dương… Từ những năm 1980, đội ngũ sáng tác thơ cho thiếu nhi xuất hiện những cây bút trẻ, mới. Họ trưởng thành qua những cuộc thi viết cho thiếu nhi hoặc những Trại sáng tác cho các em như Nguyễn Ngọc Ký, Nguyễn Nhật Ánh, Cao Xuân Sơn,…

Từ năm 1986, người sáng tác có nhiều sự tìm tòi, khám phá, cách tân mạnh mẽ. Trong những năm 90, đội ngũ sáng tác thơ cho các em được bổ sung thêm rất nhiều những cây bút tài năng. Nó chứng tỏ tính chuyên nghiệp của bộ phận sáng tác dành cho các em. Các tác giả viết thơ cho thiếu nhi dần khẳng định được tên tuổi như Đoàn Vị Thượng, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Lê Minh Quốc, Nguyễn Thái Dương, Cao Xuân Sơn, Đặng Hấn, Lệ Bình, Lê Luynh… Các sáng tác đến với độc giả nhỏ tuổi qua các trang báo, tạp chí, tập san Khăn quàng đỏ, Nhi đồng, Tuổi hồng, Áo trắng, Mực tím,… Một lực lượng nữa cũng góp phần làm phong phú thêm cho đội ngũ sáng tác, đó chính là những cây bút thiếu nhi như Khánh Chi, Phan Thị Vàng Anh,… Tuy vậy, vẫn chưa có những hiện tượng thật sự nổi bật như trẻ em làm thơ thời kì chống Mĩ. 

Nửa thế kỉ qua, lực lượng sáng tác thơ cho thiếu nhi ở Thành phố mang tên Bác đông đảo, sự kế thừa, trải đều khắp các thế hệ. Mỗi nhà thơ như một người bạn, người anh, người đồng hành để thấu cảm, thấu hiểu, tâm tình, tâm sự với trẻ. Sứ mệnh của họ không chỉ làm phong phú thêm thế giới tinh thần, nâng bước giấc mơ tuổi thơ mà qua các trang thơ, những bài học về cuộc sống cũng được khơi dậy, vun đắp. 

Đặc sắc của thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ ở sự phong phú về đề tài, thế giới nghệ thuật, tư tưởng mà còn ở hình thức nghệ thuật điêu luyện, cách tân, gần gũi với chính các em. Thơ ca đã phản ánh xã hội thông qua lăng kính cá nhân của nhà thơ, tuy có tính độc lập nhưng cũng có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của xã hội. Thơ thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh trong gần 50 năm qua đã có những đóng góp xuất sắc cho văn học thiếu nhi Việt Nam cả về  mặt số lượng và chất lượng. Những tập thơ: Mèo đi guốc (Trần Mạnh Hảo), Cầu chữ Y (Đặng Hấn), Thành phố mười mùa hoa (Lệ Bình), Bữa tiệc của loài vật (Trần Quốc Toàn), Mèo khóc chuột cười, Con chuồn chuồn đẹp nhất (Cao Xuân Sơn), Sài Gòn sót mấy con ve (Trung Dũng KQĐ), Trái tim của đảo (Hồ Huy Sơn),… được nhiều bạn đọc nhỏ tuổi cả nước biết đến và yêu thích. Tình yêu và trách nhiệm của người viết với độc giả nhỏ tuổi đã tạo nên những trang thơ làm giàu thế giới tâm hồn tuổi thơ. Bám sát cuộc sống trẻ thơ qua các giai đoạn, viết bằng cách nghĩ, cách giao tiếp, cách hành động của chính các em, thơ thiếu nhi khẳng định được tính thời sự, cập nhật, hội nhập và không lệch pha với đời sống văn chương đương đại của Thành phố. 

Từ năm 2000, thơ thiếu nhi đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đột phá với hàng loạt các tập thơ: Lời vàng trao con (Nguyễn Ngọc Ký), Cháu là cổ tích (Đoàn Vị Thượng), Sài Gòn còn sót mấy con ve (Trung Dũng KQĐ), Thơ với tuổi thơ, Chào thế giới bây giờ con đã đến, Viết trên lá mới (Lê Minh Quốc), Khoảng trời của ngoại, Hoa thơm tay bé (Hoa Mai), Nếu không có trẻ con (Thục Linh), Những ngọn đèn thơm, Mùa hè ra biển, Trái tim của đảo (Hồ Huy Sơn), Hoa mưa – hoa nắng (Nguyệt Thu), Miền yêu thương (T.N.Thu Thuỷ), Xin chào những buổi sáng, Chiếc ghế trong căn bếp nhỏ, Chúc ngủ ngon (Nguyễn Phong Việt), Hạt bắp vỗ tay (Nguyễn Thánh Ngã),…

Về nội dung phản ánh, thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tập trung vào những sinh hoạt thường nhật của trẻ thơ trong thời đại mới với quan hệ cha mẹ, trường lớp, thầy cô, bạn bè, thiên nhiên… Không chỉ thể hiện những câu chuyện riêng của các em nhỏ, thơ thiếu nhi Thành phố còn hướng đến những vấn đề lớn, mới mẻ của xã hội, khuynh hướng quốc tế hoá của đời sống, cả cuộc cách mạng về khoa học kĩ thuật công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Nếu như trước 1975, cảm hứng lịch sử, cộng đồng chi phối các sáng tác thì sau 1975, thơ thiếu nhi ở Thành phố có sự mở rộng về đề tài và hướng tiếp cận cuộc sống, đặc biệt là khả năng khám phá con người cá nhân.

Về phương diện nghệ thuật, thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành công trong tiếp thu nguồn mạch của thơ ca thời kì trước, tinh hoa văn học nước ngoài. Tất cả các hình thức thể hiện về thể thơ, giọng điệu, ngôn ngữ thơ, các biện pháp tu từ… đều được sáng tạo bắt nguồn từ chính điểm nhìn của các em, đồng thời cũng được đổi mới, cách tân, biến hoá linh hoạt. Điều này tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, độc đáo. Các tác giả luôn luôn nỗ lực tìm tòi, khám phá thế giới nghệ thuật để phù hợp với tâm lí của thiếu nhi hôm nay. 

Lực lượng sáng tác đông đảo, số lượng và chất lượng tác phẩm được nâng cao, tuy nhiên cũng cần nhận ra rằng, các nhà nghiên cứu lí luận, phê bình và biên khảo về văn học thiếu nhi nói chung, thơ thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng khá ít ỏi. Nhiều tác phẩm hay cho thiếu nhi cũng đã được giới thiệu, xuất bản nhưng mảng nghiên cứu thơ thiếu nhi đương đại vẫn chưa được quan tâm và đầu tư tương xứng. “Có thể hình dung hoạt động nghiên cứu phê bình văn học ở ta không đến mức ảm đạm, nhưng riêng nghiên cứu phê bình về văn học thiếu nhi thì là… hoang lạnh. Tính tổng cộng những cuốn sách liên quan đến nghiên cứu phê bình văn học thiếu nhi từ trước đến nay đã xuất bản chắc chắn không quá con số 50, nghĩa là không bằng số lượng đầu sách nghiên cứu phê bình trong riêng năm 2023” Nhìn lại lịch sử tiếp nhận, lí luận, phê bình, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều vấn đề (Văn Thành Lê: Văn học thiếu nhi Việt Nam – trên con đường các em đặt chân, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2025, tr.126 – 127.) cần phải tập trung nghiên cứu để phác hoạ đầy đủ, toàn diện về diện mạo của thơ viết cho thiếu nhi. 

Thơ thiếu nhi đã phản ánh được cuộc sống muôn màu muôn vẻ của chính các em. Thơ ca đã trở thành người bạn tâm giao của các em, hướng các em đến những điều chân, thiện, mĩ. Hòa chung vào dòng chảy của văn chương Thành phố Hồ Chí Minh, văn học thiếu nhi nói chung, thơ viết cho thiếu nhi nói riêng cũng đã có những bước ngoặt chuyển mình tích cực, chuyên nghiệp với những thành tích ấn tượng. Thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần không nhỏ vào nhu cầu học tập và giải trí lành mạnh cho các em nhỏ. Nhìn chung, thơ thiếu nhi Thành phố đã và đang phát triển đúng hướng, mở ra những triển vọng tốt đẹp ở tương lai. Các tác phẩm thơ viết cho lứa tuổi nhi đồng đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng vẫn chưa theo kịp nhu cầu, đòi hỏi của các em. Đề tài, chủ đề sáng tác cần mở rộng hơn, bắt kịp các xu hướng của cuộc sống hiện đại. Mặt khác, chức năng giáo dục của thơ thiếu nhi cũng phải được chú trọng định hướng các em trở thành những công dân của thời đại, toàn cầu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thanh Tâm, Chu Thị Hà Thanh. (2022). Văn học thiếu nhi. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

2. Định Hải. (1993). Thơ cho thiếu nhi hôm qua và hôm nay. Tạp chí Văn học, 10-11.

3. Lã Thị Bắc Lý. (2006). Giáo trình Văn học trẻ em. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.

4. Nhiều tác giả. (1983). Bàn về văn học thiếu nhi. Nhà xuất bản Kim Đồng.

5. Nhiều tác giả. (2024). Sài Gòn của em (Thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh 1975 – 2025). Nhà xuất bản Văn học.

6. Văn Hồng. (2012). Văn học thiếu nhi, nửa thế kỉ một con đường. Nhà xuất bản Kim Đồng.

7. Văn Thành Lê. (2025). Văn học thiếu nhi Việt Nam – trên con đường các em đặt chân. Nhà xuất bản Kim Đồng.

 8. Vũ Ngọc Bình. (1985). Đôi điều tâm đắc. Nhà xuất bản Kim Đồng.

Bùi Thanh Truyền – Tsàn Dùng Nhành




Nguồn: Arttimes.vn

Nửa thế kỷ thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh


Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tình hình văn học – nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực. Văn học thiếu nhi, trong đó có thơ, ở Thành phố mang tên Bác, có sự phát triển đa dạng, độc đáo không chỉ về đề tài, nội dung mà còn ở hình thức thể hiện. Bài viết khái quát các chặng đường phát triển và những thành tựu nổi bật của thơ viết cho thiếu nhi trong đời sống văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh nửa thế kỉ qua.

Trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, thơ viết cho thiếu nhi là bộ phận quan trọng. Đó là sản phẩm nghệ thuật vừa mang mục đích giáo dục vừa bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách, phẩm chất cho tuổi thơ. Nhờ nội dung và cách thể hiện phù hợp với đời sống, tâm lí, nhận thức và năng lực thụ cảm thẩm mĩ của bạn đọc nhỏ tuổi, mảng sáng tác này giúp thiếu niên, nhi đồng có được sự tưởng tượng bay bổng, góp phần phát triển khả năng ngôn ngữ của các em. 

Từ sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), trong đời sống văn chương Thành phố Hồ Chí Minh, thơ viết cho thiếu nhi có một vị trí riêng với những đường nét, gam màu sinh động. Những vần thơ dành riêng cho lứa tuổi măng non không chỉ phản ánh thế giới tâm hồn, hướng đến việc hình thành nhân cách cho trẻ em mà còn thể hiện được đời sống hiện đại, tinh thần hội nhập của một đô thị năng động, không ngừng đổi mới, phát triển. Nửa thế kỉ qua, thơ thiếu nhi Thành phố có nhiều đổi mới, vừa gìn giữ và tiếp nối nguồn mạch truyền thống của văn học dân tộc, vừa chuyển mình và cách tân theo hướng hiện đại hoá.

50 năm và hai chặng đường thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh 

Trong hành trình 50 năm, thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh có thể chia thành hai giai đoạn: từ 1975 – 1985 và từ 1986 đến nay. Ở mỗi giai đoạn, thơ thiếu nhi Thành phố đều có những vận động để kiếm tìm những phương thức phản ánh mới, nỗ lực khắc hoạ hình ảnh con người mới in đậm dấu ấn của trẻ thơ trong muôn mặt cuộc sống thời kinh tế thị trường. 

Sau sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, một thời kì mới của lịch sử dân tộc được mở ra, đồng thời cũng đem đến một giai đoạn mới trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam. Văn học Việt Nam từ 1975 – 1985 là giai đoạn trăn trở, tìm đường và chuẩn bị cho đổi mới. Thơ viết cho thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài tiến trình vận động đó. 

Nhìn chung, thơ thiếu nhi giai đoạn này vẫn gần với cách tiếp cận cũ. Chiến tranh lùi vào quá vãng, cả nước đồng lòng bắt tay vào công cuộc xây dựng phát triển trong hoà bình. Song, kí ức về một thời mưa bom bão đạn vẫn là “siêu đề tài” thu hút các nhà thơ viết cho thiếu nhi. Chiến tranh, tuổi thơ trong chiến tranh vẫn là nguồn cảm hứng của những người cầm bút. Đề tài viết về truyền thống, về lịch sử vẫn được các tác giả tiếp tục khai thác nhằm giáo dục truyền thống cho các em nhỏ. Đất nước thống nhất, hàng loạt những vấn đề của cuộc sống được đặt ra không chỉ với người lớn mà còn cả với trẻ nhỏ. Cuộc sống mới mẻ khi đất nước hoàn toàn thống nhất cũng được các nhà thơ chú ý tới. Số phận con người, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh sống cũng được các nhà thơ khéo léo chuyển tải đến các em qua các trang thơ sống động. Tuy vẫn tiếp nối với văn học giai đoạn trước, nhưng dần dần các tác phẩm cũng mở ra những bình diện mới về thể hiện con người, cá tính sáng tạo của các tác giả.

Trong 10 năm sau cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, thơ thiếu nhi tuy đã có những dấu hiệu mới nhưng chưa tạo ra được những chuyển biến rõ rệt, mảng thơ của giai đoạn này kém phát triển hơn văn xuôi. Tuy nhiên, đây là bước khởi đầu, tiền đề có ý nghĩa quan trọng cho những đổi mới trong giai đoạn tiếp theo.

Từ 1986, đặc biệt là từ sự kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI, không khí đổi mới chung của đất nước, của văn học đã dội vào những trang thơ viết cho thiếu nhi. Hàng loạt các bài thơ ra đời với cách đặt vấn đề mới, giúp trẻ em có thể nhận ra và hoà nhập, thích ứng với cuộc sống mới, hiểu thêm về chính mình và mối quan hệ giữa cá nhân với mọi người, với xã hội. 

Giai đoạn đầu đổi mới, sự chuyển đổi về kinh tế, xã hội tác động sâu sắc đến thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh. Thơ thiếu nhi chững lại, gặp nhiều trở ngại trong cơ chế thị trường. Các tập thơ viết cho thiếu nhi ít được in và xuất bản, một số người làm thơ cho thiếu nhi bỏ tiền túi ra in tập thơ riêng nhưng phát hành khó khăn. Đội ngũ làm thơ cho các em ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn này vẫn còn thiếu điều kiện để các tác giả phát huy hết tiềm năng của mình. Một số lí do có thể kể đến như các nhà xuất bản chưa tìm ra cách đưa thơ đến với thiếu nhi, các tác giả thiếu kinh phí để đầu tư…

Phải đến đầu những năm 90, tình trạng trên mới được điều chỉnh, thơ thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều khởi sắc, “tình hình thơ viết cho thiếu nhi – trong khung cảnh nền văn học chung của đất nước – có những bước tiến triển đáng mừng” (Định Hải, 1993). Nhiều cuộc thi viết, trại sáng tác cho thiếu nhi ở mọi lứa tuổi được Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Giáo dục, Nhà xuất bản Trẻ, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội đồng Văn học thiếu nhi… phát động và thu được nhiều kết quả tích cực, khả quan. Với số tiền lãi từ việc ấn hành bộ truyện tranh Đôrêmon, Nhà xuất bản Kim Đồng đã trích ra các khoản tiền để hỗ trợ in ấn, nâng đỡ các tác giả thơ trẻ.

Từ năm 2000 đến nay, cùng với sự ưu ái của xã hội và các đoàn thể trong nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em. Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em…) và quốc tế (Tổ chức cứu trợ trẻ em của Thuỵ Điển Radda Barnen, Tổ chức Unicef, Hội Nhà văn Đan Mạch…) thực hiện rất nhiều chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy, kích thích việc sáng tác cho thiếu nhi. Thơ thiếu nhi ở Thành phố được in nhiều hơn trước đây. Đơn cử như Sáng tác văn học “Vì trẻ em” năm 2000 – 2001, Văn học thiếu nhi “Vì tương lai đất nước” năm 2001 – 2002, Văn học thiếu nhi “Tình bạn tuổi thơ” năm 2006 – 2007, các cuộc vận động sáng tác mang chủ đề “Một ngày kì lạ” năm 2007 – 2008, “Bước qua hai thế giới” năm 2008 – 2009. “Gõ cửa trái tim” năm 2013 – 2015… Các Trại sáng tác cho thiếu nhi khu vực cũng được tổ chức định kì, Cuộc vận động Sáng tác văn học viết về đề tài thiếu nhi kéo dài trong 5 năm (2021 – 2025), cùng với hàng loạt những tặng thưởng, giải thưởng về văn học thiếu nhi… đã khơi dậy niềm đam mê văn học thiếu nhi, phát hiện và bồi dưỡng khả năng sáng tạo thơ cho thiếu nhi của Thành phố và cả nước. Ngoài ra, bên cạnh thơ cho nhi đồng, các nhà thơ cũng có những tập thơ dành riêng cho lứa tuổi thiếu niên, cho mẫu giáo. Thơ cho thiếu nhi giờ đây đã được phân loại theo các lứa tuổi khác nhau, đem đến những tác phẩm chất lượng phù hợp với tâm lí của từng nhóm trẻ. 

Về phương diện xuất bản, ngoài nhà xuất bản Kim Đồng, hiện nay các nhà xuất bản Văn học, Hội Nhà văn, Trẻ, Phụ nữ, Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh… đã góp sức đưa những tên tuổi chuyên viết thơ cho thiếu nhi đến gần hơn với công chúng: Nguyễn Ngọc Ký, Trần Quốc Toàn, Đặng Hấn, Nguyễn Ngọc Khương, Nguyễn Nhật Ánh, Bùi Chí Vinh, Lệ Bình, Cao Xuân Sơn, Trương Nam Hương, Lê Minh Quốc, Lê Luynh, Nguyễn Thánh Ngã, Trung Dũng KQĐ, Phan Trung Thành, Nguyễn Phong Việt, Hồ Huy Sơn,…

Thời kì mở cửa, giao lưu quốc tế cũng tác động nhiều đến thơ thiếu nhi Thành phố. Khá nhiều tập thơ viết cho thiếu nhi được xuất bản song ngữ Việt – Anh như: Xin chào những buổi sáng – Good Morning, Mornings, Những chiếc ghế trong căn bếp nhỏ – Chairs in a small kitchen, Chúc ngủ ngon – Goodnight my dear! của Nguyễn Phong Việt; Khoảng trời của ngoại – My Grandma’s sky của Hoa Mai…

Như vậy, nửa thế kỉ đồng hành và phát triển cùng đời sống văn chương Thành phố, thơ thiếu nhi đã có những bước chuyển mình đáng kể trên nhiều phương diện. Quá trình đổi mới văn học cũng mang đến cho các em nhỏ không ít sáng tác thú vị, hấp dẫn, giàu giá trị thẩm mĩ và tính nhân văn sâu sắc.

Nửa thế kỷ thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh - 1

Ảnh minh họa

Những thành tựu tiêu biểu của thơ viết cho thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 2025

Giai đoạn này, đội ngũ sáng tác văn chương Thành phố Hồ Chí Minh (gồm nhiều nhà văn, nhà thơ trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, các văn nghệ sĩ tại chỗ và từ khắp mọi miền đến sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh…) đã tập hợp lại, góp sức sáng tạo để xây dựng một nền văn học tiến bộ, văn minh, đậm đà bản sắc, phản ánh chân thật cuộc sống, con người nơi đây. 

Khoảng thời gian đầu thống nhất đất nước, các nhà văn quân đội tiếp tục đồng hành cùng với thiếu nhi như: Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Đỗ Trung Quân, Hồ Thi Ca, Đặng Hấn, Nguyễn Thái Dương… Từ những năm 1980, đội ngũ sáng tác thơ cho thiếu nhi xuất hiện những cây bút trẻ, mới. Họ trưởng thành qua những cuộc thi viết cho thiếu nhi hoặc những Trại sáng tác cho các em như Nguyễn Ngọc Ký, Nguyễn Nhật Ánh, Cao Xuân Sơn,…

Từ năm 1986, người sáng tác có nhiều sự tìm tòi, khám phá, cách tân mạnh mẽ. Trong những năm 90, đội ngũ sáng tác thơ cho các em được bổ sung thêm rất nhiều những cây bút tài năng. Nó chứng tỏ tính chuyên nghiệp của bộ phận sáng tác dành cho các em. Các tác giả viết thơ cho thiếu nhi dần khẳng định được tên tuổi như Đoàn Vị Thượng, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Lê Minh Quốc, Nguyễn Thái Dương, Cao Xuân Sơn, Đặng Hấn, Lệ Bình, Lê Luynh… Các sáng tác đến với độc giả nhỏ tuổi qua các trang báo, tạp chí, tập san Khăn quàng đỏ, Nhi đồng, Tuổi hồng, Áo trắng, Mực tím,… Một lực lượng nữa cũng góp phần làm phong phú thêm cho đội ngũ sáng tác, đó chính là những cây bút thiếu nhi như Khánh Chi, Phan Thị Vàng Anh,… Tuy vậy, vẫn chưa có những hiện tượng thật sự nổi bật như trẻ em làm thơ thời kì chống Mĩ. 

Nửa thế kỉ qua, lực lượng sáng tác thơ cho thiếu nhi ở Thành phố mang tên Bác đông đảo, sự kế thừa, trải đều khắp các thế hệ. Mỗi nhà thơ như một người bạn, người anh, người đồng hành để thấu cảm, thấu hiểu, tâm tình, tâm sự với trẻ. Sứ mệnh của họ không chỉ làm phong phú thêm thế giới tinh thần, nâng bước giấc mơ tuổi thơ mà qua các trang thơ, những bài học về cuộc sống cũng được khơi dậy, vun đắp. 

Đặc sắc của thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ ở sự phong phú về đề tài, thế giới nghệ thuật, tư tưởng mà còn ở hình thức nghệ thuật điêu luyện, cách tân, gần gũi với chính các em. Thơ ca đã phản ánh xã hội thông qua lăng kính cá nhân của nhà thơ, tuy có tính độc lập nhưng cũng có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của xã hội. Thơ thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh trong gần 50 năm qua đã có những đóng góp xuất sắc cho văn học thiếu nhi Việt Nam cả về  mặt số lượng và chất lượng. Những tập thơ: Mèo đi guốc (Trần Mạnh Hảo), Cầu chữ Y (Đặng Hấn), Thành phố mười mùa hoa (Lệ Bình), Bữa tiệc của loài vật (Trần Quốc Toàn), Mèo khóc chuột cười, Con chuồn chuồn đẹp nhất (Cao Xuân Sơn), Sài Gòn sót mấy con ve (Trung Dũng KQĐ), Trái tim của đảo (Hồ Huy Sơn),… được nhiều bạn đọc nhỏ tuổi cả nước biết đến và yêu thích. Tình yêu và trách nhiệm của người viết với độc giả nhỏ tuổi đã tạo nên những trang thơ làm giàu thế giới tâm hồn tuổi thơ. Bám sát cuộc sống trẻ thơ qua các giai đoạn, viết bằng cách nghĩ, cách giao tiếp, cách hành động của chính các em, thơ thiếu nhi khẳng định được tính thời sự, cập nhật, hội nhập và không lệch pha với đời sống văn chương đương đại của Thành phố. 

Từ năm 2000, thơ thiếu nhi đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đột phá với hàng loạt các tập thơ: Lời vàng trao con (Nguyễn Ngọc Ký), Cháu là cổ tích (Đoàn Vị Thượng), Sài Gòn còn sót mấy con ve (Trung Dũng KQĐ), Thơ với tuổi thơ, Chào thế giới bây giờ con đã đến, Viết trên lá mới (Lê Minh Quốc), Khoảng trời của ngoại, Hoa thơm tay bé (Hoa Mai), Nếu không có trẻ con (Thục Linh), Những ngọn đèn thơm, Mùa hè ra biển, Trái tim của đảo (Hồ Huy Sơn), Hoa mưa – hoa nắng (Nguyệt Thu), Miền yêu thương (T.N.Thu Thuỷ), Xin chào những buổi sáng, Chiếc ghế trong căn bếp nhỏ, Chúc ngủ ngon (Nguyễn Phong Việt), Hạt bắp vỗ tay (Nguyễn Thánh Ngã),…

Về nội dung phản ánh, thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tập trung vào những sinh hoạt thường nhật của trẻ thơ trong thời đại mới với quan hệ cha mẹ, trường lớp, thầy cô, bạn bè, thiên nhiên… Không chỉ thể hiện những câu chuyện riêng của các em nhỏ, thơ thiếu nhi Thành phố còn hướng đến những vấn đề lớn, mới mẻ của xã hội, khuynh hướng quốc tế hoá của đời sống, cả cuộc cách mạng về khoa học kĩ thuật công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Nếu như trước 1975, cảm hứng lịch sử, cộng đồng chi phối các sáng tác thì sau 1975, thơ thiếu nhi ở Thành phố có sự mở rộng về đề tài và hướng tiếp cận cuộc sống, đặc biệt là khả năng khám phá con người cá nhân.

Về phương diện nghệ thuật, thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành công trong tiếp thu nguồn mạch của thơ ca thời kì trước, tinh hoa văn học nước ngoài. Tất cả các hình thức thể hiện về thể thơ, giọng điệu, ngôn ngữ thơ, các biện pháp tu từ… đều được sáng tạo bắt nguồn từ chính điểm nhìn của các em, đồng thời cũng được đổi mới, cách tân, biến hoá linh hoạt. Điều này tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, độc đáo. Các tác giả luôn luôn nỗ lực tìm tòi, khám phá thế giới nghệ thuật để phù hợp với tâm lí của thiếu nhi hôm nay. 

Lực lượng sáng tác đông đảo, số lượng và chất lượng tác phẩm được nâng cao, tuy nhiên cũng cần nhận ra rằng, các nhà nghiên cứu lí luận, phê bình và biên khảo về văn học thiếu nhi nói chung, thơ thiếu nhi ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng khá ít ỏi. Nhiều tác phẩm hay cho thiếu nhi cũng đã được giới thiệu, xuất bản nhưng mảng nghiên cứu thơ thiếu nhi đương đại vẫn chưa được quan tâm và đầu tư tương xứng. “Có thể hình dung hoạt động nghiên cứu phê bình văn học ở ta không đến mức ảm đạm, nhưng riêng nghiên cứu phê bình về văn học thiếu nhi thì là… hoang lạnh. Tính tổng cộng những cuốn sách liên quan đến nghiên cứu phê bình văn học thiếu nhi từ trước đến nay đã xuất bản chắc chắn không quá con số 50, nghĩa là không bằng số lượng đầu sách nghiên cứu phê bình trong riêng năm 2023” Nhìn lại lịch sử tiếp nhận, lí luận, phê bình, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều vấn đề (Văn Thành Lê: Văn học thiếu nhi Việt Nam – trên con đường các em đặt chân, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2025, tr.126 – 127.) cần phải tập trung nghiên cứu để phác hoạ đầy đủ, toàn diện về diện mạo của thơ viết cho thiếu nhi. 

Thơ thiếu nhi đã phản ánh được cuộc sống muôn màu muôn vẻ của chính các em. Thơ ca đã trở thành người bạn tâm giao của các em, hướng các em đến những điều chân, thiện, mĩ. Hòa chung vào dòng chảy của văn chương Thành phố Hồ Chí Minh, văn học thiếu nhi nói chung, thơ viết cho thiếu nhi nói riêng cũng đã có những bước ngoặt chuyển mình tích cực, chuyên nghiệp với những thành tích ấn tượng. Thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần không nhỏ vào nhu cầu học tập và giải trí lành mạnh cho các em nhỏ. Nhìn chung, thơ thiếu nhi Thành phố đã và đang phát triển đúng hướng, mở ra những triển vọng tốt đẹp ở tương lai. Các tác phẩm thơ viết cho lứa tuổi nhi đồng đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng vẫn chưa theo kịp nhu cầu, đòi hỏi của các em. Đề tài, chủ đề sáng tác cần mở rộng hơn, bắt kịp các xu hướng của cuộc sống hiện đại. Mặt khác, chức năng giáo dục của thơ thiếu nhi cũng phải được chú trọng định hướng các em trở thành những công dân của thời đại, toàn cầu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thanh Tâm, Chu Thị Hà Thanh. (2022). Văn học thiếu nhi. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

2. Định Hải. (1993). Thơ cho thiếu nhi hôm qua và hôm nay. Tạp chí Văn học, 10-11.

3. Lã Thị Bắc Lý. (2006). Giáo trình Văn học trẻ em. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.

4. Nhiều tác giả. (1983). Bàn về văn học thiếu nhi. Nhà xuất bản Kim Đồng.

5. Nhiều tác giả. (2024). Sài Gòn của em (Thơ thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh 1975 – 2025). Nhà xuất bản Văn học.

6. Văn Hồng. (2012). Văn học thiếu nhi, nửa thế kỉ một con đường. Nhà xuất bản Kim Đồng.

7. Văn Thành Lê. (2025). Văn học thiếu nhi Việt Nam – trên con đường các em đặt chân. Nhà xuất bản Kim Đồng.

 8. Vũ Ngọc Bình. (1985). Đôi điều tâm đắc. Nhà xuất bản Kim Đồng.

Bùi Thanh Truyền – Tsàn Dùng Nhành




Nguồn: Arttimes.vn

Công bố Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ


Ngày 24/3, tỉnh Điện Biên công bố Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ theo Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 19/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ.

Mục tiêu của quy hoạch là nhận diện đầy đủ giá trị nổi bật của di tích; bảo tồn, tôn tạo và từng bước phục hồi các điểm di tích, tái hiện một phần không gian lịch sử; tôn vinh ý nghĩa, giá trị mang tầm quốc tế của Chiến thắng Điện Biên Phủ; giáo dục truyền thống cách mạng, tri ân các anh hùng liệt sỹ.

Đồng thời, hướng tới phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch bền vững, từng bước đưa Điện Biên trở thành trung tâm du lịch của khu vực Trung du và miền núi phía Bắc.

Công bố Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ - 1

Việc quy hoạch nhằm tôn vinh ý nghĩa, giá trị mang tầm quốc tế của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Theo Quyết định, phạm vi lập quy hoạch là các xã, phường có di tích thành phần thuộc di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ gồm 2 phường: Điện Biên Phủ, Mường Thanh và các xã: Mường Phăng, Mường Pồn, Thanh Nưa, Thanh Yên, Thanh An, Quài Tở, Tuần Giáo và Búng Lao.

Tổng diện tích quy hoạch khoảng 358ha, trong đó khu vực bảo vệ di tích khoảng 281ha (gồm 46 di tích thành phần và 4 di tích đề xuất bổ sung), khu vực mở rộng khoảng 77ha, nhằm bảo vệ cảnh quan, kết nối các điểm di tích, phục vụ phát huy giá trị và phát triển du lịch.

Về nội dung, quy hoạch xác định hai vùng chính gồm vùng bảo vệ di tích và vùng bảo vệ cảnh quan, phát huy giá trị phục vụ du lịch. Công tác rà soát, điều chỉnh ranh giới các khu vực bảo vệ được thực hiện trên cơ sở hồ sơ khoa học và thực trạng, bảo đảm giữ gìn tối đa các yếu tố gốc và tính toàn vẹn của di tích.

Đối với bảo quản, tu bổ và phục hồi, định hướng chung là ưu tiên bảo tồn nguyên trạng, chống xuống cấp; chỉ phục hồi có chọn lọc các hạng mục như hầm, hào, trận địa khi có đủ cơ sở khoa học; không bê tông hóa di tích.

Các điểm di tích được phân nhóm để bảo tồn, phục dựng, tái hiện không gian chiến trường hoặc đầu tư hạ tầng phục vụ tham quan, du lịch; đẩy mạnh sưu tầm, bảo quản hiện vật, xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong trưng bày, diễn giải lịch sử.

Không gian di tích được tổ chức thành ba khu vực chính gồm: “Chiến trường xưa” tại lòng chảo Mường Thanh; “Bài ca Chiến thắng” tại Mường Phăng; “Con đường huyền thoại” tại khu vực đèo Pha Đin, gắn với các tuyến tham quan, trải nghiệm lịch sử và cảnh quan.

Cùng với bảo tồn di tích, việc phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc trong khu vực cũng được chú trọng; phát triển các sản phẩm du lịch lịch sử – văn hóa, sinh thái, nghỉ dưỡng; mở rộng thị trường khách trong nước và quốc tế; đầu tư hạ tầng đồng bộ phục vụ khai thác di tích.

Các nội dung được triển khai thông qua 3 nhóm dự án thành phần gồm: khoanh vùng, cắm mốc và hoàn thiện hồ sơ di tích; bảo quản, tu bổ, phục hồi; và phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch. Thời gian thực hiện từ năm 2026 đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các nguồn huy động hợp pháp khác.

Tuấn Anh




Nguồn: Arttimes.vn

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới


Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư vừa ký ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới - 1Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư 

Chỉ thị số 04-CT/TW nêu rõ: Sau hơn 70 năm xây dựng và phát triển, xuất bản cách mạng Việt Nam đã đạt được những kết quả và thành tựu quan trọng, thực hiện tốt vai trò và sứ mệnh, thực sự là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xuất bản, khẳng định và phát huy vai trò trụ cột tư tưởng, văn hóa, bồi đắp tri thức, định hướng thẩm mỹ, nâng cao dân trí, Ban Bí thư yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả các nội dung sau:

Quan điểm chỉ đạo

Xuất bản là một lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với nhiệm vụ tích lũy, sáng tạo và truyền bá các giá trị văn hóa, tinh thần; xây dựng và bồi đắp nền tảng tri thức quốc gia, tạo lập giá trị xã hội; dẫn dắt, định hướng thẩm mỹ, nâng cao dân trí và phát triển văn hóa; xây dựng, bảo vệ, phát huy giá trị con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Xuất bản phải đáp ứng tốt nhu cầu đọc, học, giải trí và hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân; trở thành ngành kinh tế-công nghệ phát triển, giữ vai trò hạt nhân trong hệ sinh thái kiến tạo các giá trị. Phát triển văn hóa đọc, lấy người đọc là trung tâm, là mục tiêu của hoạt động xuất bản. Cần xây dựng và hình thành thói quen đọc sách trong cộng đồng, hình thành văn hóa đọc.

Xuất bản là công cụ chủ đạo trong giáo dục, đào tạo; là một bộ phận quan trọng của ngành công nghiệp văn hóa, góp phần lan tỏa văn hóa, hình thành chuỗi giá trị nội dung số, tài sản số, gia tăng hiệu quả kinh tế và đóng góp vào thành tựu chung của nền kinh tế quốc dân cũng như khả năng cạnh tranh quốc gia. Xuất bản là cánh cửa mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là công cụ ngoại giao văn hóa quan trọng, góp phần khẳng định và phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.

Đảng và Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng và kiến tạo hoạt động xuất bản thông qua cơ chế, chính sách đầu tư phát triển văn hóa đọc; chính sách đặc thù đột phá về mô hình thúc đẩy hợp tác công tư; triển khai mô hình lãnh đạo công-quản trị tư; đầu tư công-quản lý tư; đầu tư tư-sử dụng công đối với xuất bản, in và phát hành; thúc đẩy sáng tạo nội dung, phát triển mạnh mẽ công nghệ và hạ tầng số, hiện đại hóa hoạt động xuất bản trong kỷ nguyên mới. Xây dựng nền xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạt động xuất bản là nhiệm vụ cấp bách. Cần đổi mới căn bản chương trình đào tạo, phương pháp quản trị nguồn nhân lực; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo; bảo đảm cho ngành xuất bản có đội ngũ cán bộ, biên tập viên, chuyên gia công nghệ, nhà quản trị giỏi đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.

Mục tiêu

Đến năm 2030

Xây dựng hệ thống xuất bản tinh gọn, mạnh, chất lượng, hiện đại hóa. Đầu tư, xây dựng và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, đa nền tảng, đa sản phẩm; chú trọng thực hiện các nhiệm vụ chính trị tư tưởng, văn hóa giải trí, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo. Trong đó, có tập đoàn thực hiện chức năng đối ngoại chiến lược quốc gia với nhiệm vụ tuyên truyền, hợp tác, trao đổi, đưa các ấn phẩm, sản phẩm quảng bá đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, đồng thời tiếp thu tinh hoa tri thức, văn hóa nhân loại vào Việt Nam.

Chuyển đổi số sâu rộng, đầu tư phát triển hạ tầng, nền tảng công nghệ, nội dung số; ưu tiên xuất bản các ấn phẩm số, số hóa theo hướng đa dạng, sáng tạo, hội nhập trong nước và quốc tế; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn vào các khâu, các lĩnh vực của hoạt động xuất bản; phát triển hệ thống xuất bản đa phương tiện.

Thúc đẩy mạnh mẽ văn hóa đọc, hình thành các thiết chế văn hóa tạo không gian văn hóa đọc, học tập, sáng tạo trong cộng đồng hướng đến xây dựng phong trào toàn dân đọc sách. Từ Trung ương đến mỗi tỉnh, thành phố cần xây dựng thư viện số, tủ sách điện tử, sử dụng thống nhất; có thư viện lớn, trung tâm phát hành quy mô, hiện đại gắn với chuyển đổi số. Đặc biệt, đầu tư hệ thống phát hành đến cơ sở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển sách song ngữ, xuất bản sách bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu của các đồng bào dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác quốc tế về xuất bản với các nước, cơ quan văn hóa uy tín trên thế giới; chủ động tích cực hợp tác với các nước để quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam ra thế giới; tham gia khai thác bản quyền và quảng bá sách, báo Việt Nam ra thế giới; đưa sách Việt vào hệ thống thư viện đại học toàn cầu. Đồng thời, tăng cường đưa sách, báo thế giới vào Việt Nam.

Phát triển xuất bản điện tử, 100% nhà xuất bản tham gia xuất bản điện tử và ứng dụng chuyển đổi số trong quy trình xuất bản; 80% cơ sở in có công nghệ hiện đại, quy mô và là ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng.

Đến năm 2045

Việt Nam có hệ thống xuất bản, truyền thông phát triển mạnh, đa dạng, hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu đọc, học, giải trí và hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân trong kỷ nguyên mới; trở thành ngành kinh tế số, doanh nghiệp số xuất bản Việt Nam, có năng lực vươn ra toàn cầu; là trung tâm sáng tạo, giao lưu, hợp tác hàng đầu với các nước có hoạt động xuất bản, truyền thông lớn ở khu vực Đông Nam Á và quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhiệm vụ và giải pháp

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, phát huy vai trò, trách nhiệm của xuất bản góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phục vụ công cuộc phát triển đất nước và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.

Xây dựng, hoàn thiện quy định của Đảng và pháp luật về xuất bản; tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực, có cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội thúc đẩy ngành xuất bản phát triển ngang tầm khu vực và thế giới. Phát triển không gian số và kinh tế số xuất bản, thực hiện hiệu quả các yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước trong kỷ nguyên mới. Xây dựng cơ chế tài chính hỗ trợ xuất bản; thành lập dự án hỗ trợ xuất bản nhằm huy động sự tham gia của các nhà xuất bản, nhà sách, công ty sách tạo nguồn lực chung để nâng cao chất lượng, mở rộng phạm vi và giá trị chung của thị trường sách.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ bản quyền, tăng cường bảo vệ quyền tác giả, nhất là bảo vệ bản quyền trong môi trường số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về tôn trọng quyền tác giả.

Xây dựng chiến lược phát triển xuất bản, định vị sản phẩm của xuất bản gắn với công nghiệp văn hóa, phát triển ngành xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; tăng cường đầu tư nguồn lực, hạ tầng kỹ thuật cho xuất bản, xuất bản điện tử; xây dựng và hoàn thiện các mô hình xuất bản mới, dữ liệu phù hợp xu thế truyền thông tích hợp và chuyển đổi số; thúc đẩy hợp tác công tư, trong đó, đơn vị xuất bản giữ vai trò then chốt, chủ đạo trong định hướng tư tưởng chính trị, văn hóa truyền thống của dân tộc.

Tập trung đầu tư cho nội dung xuất bản, trở thành sản phẩm cốt lõi để phát triển công nghiệp văn hóa; mở rộng thể loại, đề tài mới có giá trị tư tưởng, khoa học, thẩm mỹ; đặt hàng các công trình khoa học, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị, xứng tầm, đáp ứng nhu cầu tri thức và giải trí lành mạnh của nhân dân.

Nghiên cứu, bổ sung chính sách đầu tư, đãi ngộ, có cơ chế bảo vệ những người làm xuất bản, biên tập viên trước các hành vi vu khống, xuyên tạc, tấn công mạng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị hoạt động xuất bản, thích ứng tốt với cơ chế thị trường và thị hiếu công chúng, bạn đọc; chủ động cập nhật xu thế xuất bản mới trên thế giới, nâng cao năng lực, tiềm lực hoạt động xuất bản.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật về xuất bản, các hành vi lợi dụng tự do sáng tác, không gian mạng để tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, văn hóa phẩm không lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục, chống phá Đảng, Nhà nước.

Chăm lo, nuôi dưỡng và phát triển văn hóa đọc trong các tầng lớp nhân dân. Tăng cường quảng bá, tôn vinh giá trị của sách, nâng cao chất lượng Giải thưởng Sách quốc gia ngang tầm khu vực. Đẩy mạnh hoạt động của xuất bản trong cộng đồng; hình thành các thiết chế không gian văn hóa đọc, giải trí hiện đại, thân thiện, đề cao vai trò thiết yếu của sách trong đời sống xã hội; xây dựng thói quen và kỹ năng đọc, tạo nền tảng quan trọng cho việc học tập suốt đời, từ đó hình thành xã hội học tập.

Xây dựng hạ tầng kỹ thuật số, nền tảng dữ liệu xuất bản số dùng chung toàn ngành. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đa dạng hóa sản phẩm của xuất bản theo hướng số hóa. Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ trong nước tham gia phát triển hệ sinh thái xuất bản số. Đẩy mạnh cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tạo thuận lợi cho các nhà xuất bản, cơ sở in, phát hành trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

Tăng cường hợp tác công tư, liên thông, liên kết, hiện đại hóa công tác phát hành, xây dựng thư viện số và hệ thống phát hành sách số.

Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong tất cả các lĩnh vực của xuất bản. Đưa sách, báo Việt Nam ra thế giới, đưa sách thế giới vào Việt Nam thông qua trao đổi bản quyền, xuất bản song ngữ; mở rộng thị trường in, xuất khẩu các sản phẩm của xuất bản; khuyến khích các cơ sở in trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng hàng hóa công nghiệp toàn cầu… Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Thực hiện mô hình hợp tác công tư để lan tỏa giá trị văn hóa quốc gia thông qua xây dựng thư viện sách Việt Nam cho nước ngoài; đào tạo dịch giả chuyên sâu theo chuẩn quốc tế, đưa sách Việt vào hệ thống thư viện đại học toàn cầu. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các nhà xuất bản uy tín trên thế giới. Phát triển dịch vụ chuyển ngữ và xuất bản song ngữ. Hỗ trợ cơ quan xuất bản, đơn vị liên quan tham gia các hội chợ sách quốc tế. Tổ chức Hội sách quốc tế ở Việt Nam – định hướng bản quyền, tác giả, giao lưu chuyên môn và hợp tác.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ yêu cầu phát triển giai đoạn mới. Xây dựng đội ngũ người làm xuất bản có bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ chuyên môn, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý; thường xuyên bồi dưỡng về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ những người làm xuất bản.

Tổ chức thực hiện

Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về xuất bản và các chính sách, pháp luật liên quan đáp ứng yêu cầu phát triển xuất bản trong tình hình mới, thúc đẩy xuất bản điện tử, xuất bản số phát triển bên cạnh xuất bản truyền thống.

Giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan:

– Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về xuất bản; rà soát, sắp xếp, thu gọn các cơ quan có chức năng xuất bản. Hoàn thiện chính sách đầu tư công, cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội cho xuất bản; chính sách thu hút các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động xuất bản và khuyến khích xã hội hóa cho những mảng sách thiết yếu, nghiên cứu.

– Xây dựng chiến lược phát triển ngành xuất bản phù hợp với tình hình mới, theo hướng xuất bản đa nền tảng, đa sản phẩm bao gồm nhiều loại hình kết nối, chuỗi liên kết. Xuất bản là ngành có vai trò then chốt, cốt lõi trong hệ sinh thái sáng tạo nội dung để phát triển các lĩnh vực khác.

Đảng ủy Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường công tác quản lý nhà nước, chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan:

– Xây dựng Đề án về chương trình sách quốc gia, Đề án phát triển xuất bản điện tử. Phấn đấu trước năm 2030, Việt Nam có Thủ đô Sách thế giới; tăng tỷ lệ bản sách/người/năm.

– Chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Bộ Tài chính nghiên cứu, bổ sung các chính sách ưu đãi cụ thể cho xuất bản; chính sách đầu tư đối với doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xuất bản. Tổ chức, triển khai các Dự án hỗ trợ Xuất bản Việt Nam, Dự án dịch thuật Việt Nam; triển khai Chương trình “Đưa sách Việt Nam ra thế giới” và “Đưa sách thế giới vào Việt Nam”.

– Chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành về xuất bản và sản phẩm của xuất bản; xây dựng sàn giao dịch điện tử về các sản phẩm của xuất bản. Triển khai mô hình nhà xuất bản số tiên tiến theo chuẩn quốc tế. Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ tham gia sâu nhằm hiện đại hóa hoạt động xuất bản.

– Chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Thanh tra Chính phủ, Đảng ủy Công an Trung ương và các cơ quan chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất bản, nhất là các hành vi in lậu, phát hành lậu, vi phạm sở hữu trí tuệ, bản quyền…

– Tăng cường các hoạt động thông tin, triển lãm, hội chợ trong nước và quốc tế; trang bị các tủ sách, báo; xây dựng thiết chế văn hóa thư viện quốc gia tầm vóc, quy mô, hiện đại, đa dạng sản phẩm tri thức, truyền thông, đồng bộ từ Trung ương tới cơ sở; huy động các phương tiện thông tin đại chúng tham gia tuyên truyền, truyền thông về sản phẩm của xuất bản; nâng cao chất lượng truyền thông bằng nhiều hình thức phong phú.

Đảng ủy Bộ Tài chính nghiên cứu, bổ sung các chính sách ưu đãi về nguồn lực, thuế, cơ chế đặt hàng, chính sách đầu tư, giảm thuế thu nhập đối với cơ quan xuất bản; xây dựng Dự án hỗ trợ Xuất bản Việt Nam, Dự án dịch thuật Việt Nam với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước.

Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy Thanh tra Chính phủ chỉ đạo tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, có chế tài xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất bản, nhất là in, phát hành trái phép, vi phạm sở hữu trí tuệ, bản quyền…

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống xuất bản, thư viện trong quân đội hiện đại gắn với phát triển văn hóa đọc trong toàn quân, đáp ứng nhu cầu đọc, học, giải trí của bộ đội trong kỷ nguyên mới.

Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các cơ quan liên quan, cơ sở giáo dục đào tạo rà soát, nghiên cứu xây dựng khung chương trình chuẩn về đào tạo nhân lực ngành xuất bản và truyền thông theo hướng chuẩn hóa trình độ lý luận chính trị; phẩm chất đạo đức nghề nghiệp; năng lực, kỹ năng làm xuất bản trong môi trường xuất bản hiện đại.

Triển khai tiết đọc sách thành môn tự chọn trong hệ thống trường từ tiểu học đến trung học cơ sở để hình thành thói quen đọc sách, phát triển tư duy, xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời; xây dựng thiết chế thư viện hiện đại trong trường học đáp ứng việc đọc, học và giải trí của học sinh, sinh viên.

Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đảng ủy các bộ, cơ quan ngang bộ; cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan chủ quản xuất bản, cơ quan xuất bản quán triệt, triển khai thực hiện các nội dung của Chỉ thị; báo cáo những vấn đề phát sinh và kết quả thực hiện theo quy định.

Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện nội dung của Chỉ thị đối với các cơ quan xuất bản trực thuộc các hội thành viên của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.

Hội Xuất bản Việt Nam phát huy vai trò, trách nhiệm trong phát triển ngành xuất bản và văn hóa đọc.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương rà soát, tham mưu sửa đổi, bổ sung các quy định của Đảng nhằm tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng toàn diện của Đảng đối với hoạt động xuất bản; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức quán triệt, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tham mưu nội dung triển khai thực hiện Chỉ thị; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban Bí thư.



Nguồn: Arttimes.vn

Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ


Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 135/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Phạm vi lập quy hoạch là các xã, phường có di tích thành phần thuộc Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ bao gồm: phường Điện Biên Phủ, phường Mường Thanh, các xã: Mường Phăng, Mường Pồn, Thanh Nưa, Thanh Yên, Thanh An, Quài Tở, Tuần Giáo và Búng Lao.

Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ - 1

Quần thể Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ.

Tái hiện một phần cảnh quan lịch sử, hình ảnh chiến trường xưa

Mục tiêu quy hoạch là nhận diện đầy đủ giá trị nổi bật của Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ; giải quyết hài hòa các vấn đề bất cập, tác động tiêu cực đến di tích; hoàn thiện hệ thống hồ sơ, dữ liệu làm cơ sở chuyển đổi số và tự động hóa trong quản lý.

Bảo tồn, tôn tạo, từng bước phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ để gìn giữ lâu dài di tích, xây dựng các công trình liên quan, nhằm tái hiện một phần cảnh quan lịch sử, hình ảnh chiến trường xưa tại một số điểm di tích thành phần. Qua đó, tôn vinh ý nghĩa, giá trị lịch sử mang tầm quốc tế của Chiến thắng Điện Biên Phủ; giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ người dân Việt Nam; tri ân các anh hùng liệt sỹ và đồng bào đã hy sinh trong chiến dịch.

Phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ gắn với phát triển du lịch bền vững, hình thành thương hiệu du lịch đặc sắc của địa phương, sản phẩm du lịch lịch sử văn hóa tiêu biểu của vùng Tây Bắc, có sức hấp dẫn; từng bước đưa Điện Biên trở thành một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của khu vực Trung du miền núi phía Bắc, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân…

Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ - 2Điện Biên: Triển khai hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số

Định hướng bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

Ưu tiên phục hồi các hạng mục có nhiều giá trị lịch sử (lán chỉ huy, hầm hào, trận địa,…) khi có đủ cơ sở khoa học; bảo quản nguyên trạng, chống xuống cấp đối với các di tích gốc; tu bổ các công trình hiện có bằng vật liệu phù hợp đảm bảo tính nguyên gốc của di tích, không bê tông hóa di tích.

Bảo tồn cảnh quan tự nhiên và cây xanh làm cơ sở hình thành công viên lịch sử, gợi nhớ hình ảnh chiến trường xưa; tổ chức không gian “kể chuyện lịch sử” bằng tuyến tham quan, quảng trường, điểm nhìn, sân khấu thực cảnh; nghiên cứu xây dựng tháp quan sát toàn cảnh cánh đồng Mường Thanh nhằm gia tăng trải nghiệm và nhận diện về tổng thể không gian Chiến trường Điện Biên Phủ.

Nhóm các điểm di tích bảo tồn, phục dựng và tôn tạo hiện trạng: Các điểm di tích tiêu biểu như: Trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Đồi A1, Đồi C1, C2, D1, D2, D3, Đồi Độc Lập, Trung tâm đề kháng Him Lam,… thực hiện tu bổ, tôn tạo các công trình hiện có, phục dựng giao thông hào, công sự, lô cốt, bảo tồn hiện vật gốc (pháo, xe tăng, hầm hào….), tái hiện lại những nét cơ bản về cảnh quan và dấu tích lịch sử.

Nhóm các điểm di tích phục dựng hiện vật và tái hiện trận địa: Tại các điểm di tích thành phần có trận địa bao vây và tấn công của bộ đội ta, như: Cứ điểm 106, các điểm di tích trận địa pháo (105mm, 37mm),… nghiên cứu phục dựng, tái hiện lại thế trận thông qua việc mô phỏng lại chiến hào, làm tượng, biển thông tin,…

Nhóm các điểm di tích đầu tư công trình phụ trợ phục vụ du lịch: Các điểm di tích tiêu biểu, tạo điểm nhấn thu hút du khách và tổ chức các hoạt động phát huy giá trị di tích được đề xuất xây dựng mới các hạng mục phụ trợ gồm: trung tâm đón tiếp, bãi đỗ xe, nhà trưng bày, điểm diễn giải lịch sử, hạ tầng cảnh quan, dịch vụ du lịch.

Nhóm 04 điểm di tích đề xuất lập hồ sơ xếp hạng bổ sung, gồm: Sở chỉ huy Đại đoàn 308, Sở Chỉ huy Trung đoàn 36, Sở Chỉ huy Đại Đoàn 316 và Đồi Xanh, nghiên cứu thực hiện việc tu bổ, tô tạo hầm, hào hiện có, phục hồi tuyến giao thông hào, phục dựng công sự, lô cốt,…

Quy hoạch cấu trúc không gian Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ, gồm: Các không gian chính; các điểm trung tâm và các điểm có giá trị quan trọng; ngoài ra, còn có các điểm di tích thành phần khác thuộc khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ.

Phát triển 3 sản phẩm du lịch chính gắn với khu di tích

Theo định hướng, về thị trường khách du lịch quốc tế, sẽ tập trung khai thác hiệu quả các thị trường khách du lịch quốc tế truyền thống từ Pháp, Trung Quốc, Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào… Tăng cường liên kết với các tỉnh, thành phố Hà Nội, Lào Cai, Quảng Ninh và các tỉnh lân cận để mở rộng thị trường khách du lịch từ Trung Quốc, Đài Loan, các nước ASEAN và thị trường Châu Âu.

Bên cạnh đó, tập trung khai thác thị trường khách du lịch nội địa từ Hà Nội và kết nối với các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc bộ. Kết nối thu hút khách tại các trung tâm lớn trong cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ…

Về phát triển sản phẩm du lịch, Quy hoạch định hướng phát triển 03 sản phẩm du lịch chính gắn với khu di tích gồm: Du lịch văn hóa; du lịch sinh thái, khám phá cảnh quan thiên nhiên; du lịch nghỉ dưỡng, giải trí, chăm sóc sức khỏe.



Nguồn: Arttimes.vn

Phát động Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật cấp Quốc gia “Tự hào một dải biên cương” lần thứ IV


Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật cấp Quốc gia “Tự hào một dải biên cương” lần thứ IV tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, đa dạng hóa các phương thức tuyên truyền, thông tin đối ngoại về chủ quyền biên giới lãnh thổ; giới thiệu, quảng bá vẻ đẹp, tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, du lịch của các tuyến biên giới quốc gia trên đất liền tới đông đảo công chúng trong và ngoài nước, góp phần lan tỏa hình ảnh đẹp về đất nước, con người Việt Nam.

Cuộc thi do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện.

Phát động Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật cấp Quốc gia "Tự hào một dải biên cương" lần thứ IV - 1

Ban Tổ chức nhận bài dự thi đến hết ngày 15/8/2026.

Theo Ban Tổ chức, Cuộc thi nhằm tiếp tục tuyên truyền, khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước, những nỗ lực của các địa phương trong việc triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, thiết thực triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với công tác biên giới trên đất liền. Đồng thời, ghi nhận và tôn vinh những đóng góp, hy sinh của các thế hệ người Việt Nam, các lực lượng vũ trang để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thông qua Cuộc thi và Triển lãm ảnh, kịp thời động viên, tôn vinh sự tham gia, hưởng ứng của các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là đội ngũ nghệ sĩ và người yêu nhiếp ảnh; khuyến khích sáng tạo nhiều tác phẩm mới có giá trị về nội dung và nghệ thuật, phục vụ hiệu quả công tác tuyên truyền và góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân.

Cuộc thi dành cho tất cả công dân Việt Nam từ 15 tuổi trở lên trong và ngoài nước, người nước ngoài đang công tác và sinh sống ở Việt Nam.

Ảnh dự thi là ảnh màu hoặc đen trắng. Mỗi tác giả được gửi tối đa 10 tác phẩm dự thi (gồm cả ảnh đơn và ảnh bộ), chỉ được sử dụng một tên pháp lý theo Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân.

Phát động Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật cấp Quốc gia "Tự hào một dải biên cương" lần thứ IV - 2

Không gian sáng tác là 22 tỉnh có đường biên giới trên đất liền.

Các tác phẩm tham dự Cuộc thi tập trung giới thiệu vẻ đẹp quê hương, đất nước, con người tại khu vực biên giới trên đất liền; phản ánh chân thực, sinh động đời sống, sinh hoạt và lao động của Nhân dân ở khu vực biên giới, đặc biệt tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo.

Các hình ảnh, hoạt động tiêu biểu thể hiện thành tựu đổi mới, hội nhập quốc tế trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tại các vùng biên cương; Các giá trị lịch sử, văn hóa, con người và vẻ đẹp phong cảnh thiên nhiên dọc tuyến biên giới đất liền của Việt Nam; Hoạt động khai thác, khám phá và phát triển tiềm năng du lịch tại các tỉnh biên giới Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Lào, Việt Nam – Campuchia; Hoạt động chăm sóc sức khỏe Nhân dân, công tác y tế cơ sở tại khu vực biên giới; Công tác phòng, chống, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai tại khu vực biên giới; Phản ánh hoạt động hợp tác quốc tế về biên giới; Tôn vinh các tổ chức, cá nhân điển hình tiên tiến, tấm gương “người tốt”, “việc tốt” có đóng góp thiết thực trong phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu vực biên giới…

Không gian sáng tác gồm 22 tỉnh có đường biên giới trên đất liền tuyến Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Lào, Việt Nam – Campuchia: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang.

Cơ cấu giải thưởng gồm hai hệ thống dành cho ảnh đơn và ảnh bộ, với tổng cộng 2 giải Nhất, 4 giải Nhì, 6 giải Ba và 10 giải Khuyến khích, kèm theo Biểu trưng pha lê, Chứng nhận của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cùng Huy chương và Chứng nhận của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam.

Thời gian nhận tác phẩm dự thi đến hết ngày 15/8/2026.

Tác giả gửi tác phẩm dự thi trực tiếp trên Website chính thức của Cuộc thi tại địa chỉ: https://tuhaomotdaibiencuong2026.com

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê”


Triển lãm “Hồn Quê” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của họa sĩ Hoàng Sùng (1926 – 2026) không chỉ là dịp để tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp của một nghệ sĩ tài hoa mà còn mang tới cho công chúng cơ hội tiếp cận với một di sản nghệ thuật thấm đẫm bản sắc dân tộc, nơi hội tụ ký ức, văn hóa và tâm hồn Việt qua nét vẽ của một họa sĩ trọn đời gắn bó với quê hương.

Họa sĩ Hoàng Sùng (1926 – 2018), quê tại Hưng Yên, là một nghệ sĩ đa tài với những đóng góp quan trọng cho nền hội họa, điện ảnh hoạt hình và truyền hình Việt Nam. Xuyên suốt hành trình hoạt động cách mạng và nghệ thuật của mình, ông đã định hình một phong cách sáng tạo riêng biệt, vừa mộc mạc, khoáng đạt, vừa thấm đẫm chiều sâu văn hóa và cảm xúc.

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 1

Họa sĩ Hoàng Sùng (1926 – 2018). Ảnh tư liệu

Trong lĩnh vực hội họa, ông không chạy theo những tìm tòi hình thức cầu kỳ mà lựa chọn cách biểu đạt giản dị, giàu chất đời, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp nguyên sơ của con người và cảnh sắc vùng cao.

Những tác phẩm như Phiên chợ vùng cao (Giải khuyến khích Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1995) hay Về bản không chỉ ghi dấu ấn về mặt nghệ thuật mà còn có giá trị như những lát cắt sinh động của đời sống, phản ánh chân thực nhịp sống, phong tục và tâm hồn của đồng bào miền núi. Ở đó, người xem dễ dàng nhận ra một Hoàng Sùng luôn kiên trì đi tìm bản sắc, gìn giữ những giá trị văn hóa đang đứng trước nhiều biến chuyển.

Không dừng lại ở hội họa, dấu ấn của Hoàng Sùng còn lan tỏa mạnh mẽ sang lĩnh vực điện ảnh hoạt hình và truyền hình, cho thấy một tư duy nghệ thuật đa diện và năng lực sáng tạo bền bỉ. Với vai trò đạo diễn kiêm họa sĩ chính của các bộ phim hoạt hình như Giấc mơ hoa và đặc biệt là Khặm Phạ – Nàng Ngà (đạt giải Bông sen vàng), ông đã góp phần đưa chất liệu văn hóa dân gian vào ngôn ngữ điện ảnh, tạo nên những tác phẩm vừa giàu tính thẩm mỹ vừa mang ý nghĩa bảo tồn di sản.

Ở lĩnh vực truyền hình, trên cương vị Phó Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Truyền hình Việt Nam, ông tiếp tục đóng góp vào sự phát triển hạ tầng kỹ thuật và nội dung phát sóng, góp phần nâng cao chất lượng truyền hình quốc gia trong giai đoạn chuyển mình.

Những huân, huy chương cao quý mà ông được trao tặng như: Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương chống Mỹ hạng Nhất, Huy chương 10 năm xây dựng ngành Văn hóa, Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật, Huy chương Vì sự nghiệp truyền hình, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2022… không chỉ là sự ghi nhận cho một cá nhân, mà còn là minh chứng cho một đời cống hiến bền bỉ, nơi nghệ thuật và lý tưởng cách mạng luôn song hành, bổ trợ và nâng đỡ lẫn nhau.

Triển lãm “Hồn Quê” do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phối hợp cùng Hội Mỹ thuật Việt Nam và đơn vị May Living tổ chức.

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 2

Các đại biểu cắt băng khai mạc triển lãm “Hồn Quê”. Ảnh: BTC

Triển lãm giới thiệu đến công chúng những mảng màu nâu đậm nhạt huyền ảo của phù sa sông Hồng, những phiên chợ vùng cao mờ sương, hay hình ảnh người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ tần tảo qua các chất liệu sở trường của ông như sơn mài, lụa và giấy dó.

Tên gọi triển lãm nhắc nhớ về sự kiện lịch sử năm 1991, khi tranh của ông lần đầu tiên được trưng bày tại Quảng trường Louvre (Paris), trở thành chiếc cầu nối đưa “Hồn Quê” đất nước đến với bạn bè thế giới.

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 3

Công chúng tham quan triển lãm. Ảnh: BTC

Tại lễ khai mạc triển lãm diễn ra ngày 23/3, tại Hà Nội, gia đình họa sĩ Hoàng Sùng đã chính thức trao tặng tác phẩm hội họa tiêu biểu của ông cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Theo đại diện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đây là hành động ý nghĩa nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của một tâm hồn luôn khao khát yêu thương con người và cuộc đời, đưa di sản của ông đến gần hơn với các thế hệ mai sau.

Triển lãm diễn ra đến ngày 31/3/2026, tại Tầng 1 nhà B, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội.

Một số tác phẩm được trưng bày tại triển lãm:

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 4

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 5

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 6

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 7

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Âm nhạc góp phần làm sâu sắc hơn tình hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc


Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam đã có thư cảm ơn Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam về Chương trình Hòa nhạc mừng Xuân 2026 “Việt Nam – Trung Quốc: Láng giềng hữu nghị” diễn ra tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), tối 7 và 8/2/2026.

Âm nhạc góp phần làm sâu sắc hơn tình hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc - 1

Chương trình Hòa nhạc mừng Xuân 2026 “Việt Nam – Trung Quốc: Láng giềng hữu nghị”.

Nội dung bức thư nhấn mạnh: “Trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa bế mạc thắng lợi, nhân kỷ niệm 76 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Trung Quốc – Việt Nam, đồng thời là dịp nhân dân hai nước cùng chào đón Tết cổ truyền, phía Trung Quốc đã cử đoàn nghệ thuật chất lượng cao sang Việt Nam biểu diễn, nhằm tăng cường giao lưu văn hóa – nghệ thuật giữa hai nước, kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam, không ngừng củng cố nền tảng xã hội và lòng dân cho Cộng đồng chia sẻ tương lai Trung Quốc – Việt Nam”.

Theo Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Chương trình Hòa nhạc mừng Xuân 2026 “Việt Nam – Trung Quốc: Láng giềng hữu nghị” do Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công an Việt Nam đồng tổ chức đã được long trọng diễn ra tại Hà Nội. Tối ngày 7/2/2026, đồng chí Tô Lâm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cùng nhiều đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đã tham dự chương trình, cùng với đồng chí Đại sứ Hà Vĩ và phu nhân, đại diện các giới hữu nghị hai nước, các cơ quan, doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam; giới thuyền thông và lưu học sinh, với tổng số hơn 700 khách mời.

Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam nhận định, tại buổi hòa nhạc, các nghệ sĩ đến từ Nhà hát Ca kịch Trung ương Trung Quốc và các nghệ sĩ Việt Nam đã cùng nhau biểu diễn những tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, cũng như các giai điệu xúc động phản ánh tình hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam và những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng thế giới. Chương trình đã tạo được sự đồng cảm mạnh mẽ từ khán giả hai nước, nhận được nhiều đánh giá tích cực từ dư luận và đạt được thành công rực rỡ.

Âm nhạc góp phần làm sâu sắc hơn tình hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc - 2

Chương trình biểu diễn những tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, cũng như các giai điệu xúc động phản ánh tình hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam và những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng thế giới.

Với chủ đề “Khúc xuân rực rỡ – Quê hương khoác sắc mới”, chương trình Hòa nhạc mừng Xuân 2026 “Việt Nam – Trung Quốc: Láng giềng hữu nghị” được chia thành hai phần, với cấu trúc nghệ thuật chặt chẽ và giàu tính dẫn dắt, đưa khán giả đi từ không gian âm nhạc truyền thống Trung Hoa đến những giai điệu ca ngợi tình hữu nghị Việt-Trung và các trích đoạn opera kinh điển của thế giới.

Chương trình mở đầu trong không khí tươi vui, rộn ràng, gợi mở niềm tin và khát vọng hướng tới một tương lai tươi sáng được biểu đạt qua các tác phẩm mang đậm màu sắc Trung Hoa như: “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài”, “Cô gái Đạt Bản Thành”, “Đồng cỏ của Cha – dòng sông của Mẹ”…

Phần giao lưu nghệ thuật Việt – Trung đưa khán giả bước vào không gian “Hòa âm bốn biển – Vẻ đẹp giao hòa”, với phần biểu diễn của nghệ sĩ hai nước cùng qua những tác phẩm ca ngợi tình hữu nghị láng giềng như: “Việt Nam-Trung Hoa” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, “Hồng Hà-Trường Giang cùng chảy ra biển lớn” của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, “Dòng sông tình bạn” của nhạc sĩ Đức Trịnh và nhà thơ Lê tự Minh; cùng các tác phẩm kinh điển nổi tiếng thế giới như “O Sole Mio (Mặt trời của tôi)” dân ca Italy, “Đêm nay không ai ngủ” trích từ vở opera “Turandot”… vang lên trong sự hòa quyện giữa “phong vị” phương Đông và vẻ đẹp hàn lâm phương Tây.

Âm nhạc góp phần làm sâu sắc hơn tình hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc - 3

Âm nhạc góp phần làm sâu sắc hơn tình hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc - 4

Chương trình có sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của hai nước.

Tại chương trình, nghệ sĩ hai nước cùng xuất hiện và biểu diễn chung ca khúc “Hữu nghị mãi bền lâu”, truyền tải thông điệp mạnh mẽ về tình hữu nghị và tương lai hợp tác bền vững giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc.

Tham gia chương trình là các nghệ sĩ hàng đầu của Trung Quốc như: Cao Vĩ, Biện Gia Bình, Vương Nghệ Thanh, Lý Tinh Tinh… đại diện cho thế hệ nghệ sĩ ưu tú của Nhà hát Ca kịch Trung ương Trung Quốc, mang đến những phần trình diễn giàu cảm xúc và đẳng cấp nghệ thuật cao.

Chương trình còn có sự góp mặt đầy ấn tượng của các nghệ sĩ Việt Nam – những gương mặt từng ghi dấu ấn sâu đậm với công chúng Trung Quốc và quốc tế như: Nghệ sĩ Nhân dân Cồ Huy Hùng (đàn nguyệt), Nghệ sĩ Ưu tú Bùi Lệ Chi (đàn bầu), ca sĩ Đỗ Tố Hoa… mang tới cho công chúng một không gian âm nhạc giàu cảm xúc, nơi nghệ thuật trở thành nhịp cầu kết nối những tâm hồn.

Hòa nhạc mừng Xuân 2026 “Việt Nam – Trung Quốc: Láng giềng hữu nghị” mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thần hữu nghị, hợp tác và hiểu biết giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc. Thông qua chương trình, âm nhạc đã trở thành nhịp cầu kết nối, lan tỏa thông điệp về hòa bình, đoàn kết và cùng nhau phát triển thịnh vượng.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Đề nghị công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê là Di sản thế giới


Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đồng ý gửi Hồ sơ khoa học “Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê, tỉnh An Giang” tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) để đề nghị công nhận và ghi vào Danh mục Di sản thế giới, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Phó Thủ tướng ủy quyền Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch rà soát kỹ, hoàn thiện và ký Hồ sơ khoa học gửi Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO theo quy định, bảo đảm chất lượng, thời hạn quy định.

Đề nghị công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới - 1Văn hóa Óc Eo mang những giá trị nổi bật toàn cầu

Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện các thủ tục cần thiết để gửi Hồ sơ khoa học Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê, tỉnh An Giang tới Trung tâm Di sản thế giới UNESCO trước ngày 30/1/2026 theo quy định của Công ước Di sản thế giới 1972 và pháp luật về di sản văn hóa; chú trọng phát huy vị trí, vai trò của Việt Nam trong các cơ chế điều hành của UNESCO; tích cực hỗ trợ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và các cơ quan liên quan trong việc triển khai các biện pháp cần thiết nhằm tạo đồng thuận của quốc tế ủng hộ cho việc công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê là Di sản thế giới.

Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang rà soát, chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung, số liệu, tính chính xác của Hồ sơ khoa học “Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê” theo quy định của Công ước 1972 về Bảo tồn Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới của UNESCO và pháp luật về di sản văn hóa; chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai các biện pháp cần thiết, tạo thuận lợi cho quá trình UNESCO thẩm định, công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê là Di sản thế giới; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền theo quy định.

Đề nghị công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới - 2

Hố khai quật tại khu di tích Óc Eo-Ba Thê, tỉnh An Giang.

Di tích khảo cổ Óc Eo-Ba Thê nằm trên địa bàn tỉnh An Giang, có tổng diện tích quy hoạch bảo tồn khoảng 433,1 ha, trong đó, diện tích khu vực sườn và chân núi Ba Thê (khu A) gần 144 ha, cánh đồng Óc Eo (khu B) trên 289 ha.

Di tích Óc Eo-Ba Thê là dấu tích quan trọng của nền văn minh Óc Eo, từng phát triển rực rỡ ở vùng Nam Bộ từ thế kỷ I đến thế kỷ VII. 

Đây là một trong những trung tâm giao thương lớn của vương quốc Phù Nam xưa, với hệ thống kênh rạch, kiến trúc, di vật khảo cổ phản ánh trình độ phát triển cao về kinh tế, văn hóa và tín ngưỡng.

Năm 2012, Di tích Óc Eo-Ba Thê được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt.



Nguồn: Arttimes.vn

Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn khởi động mùa giải thứ 7 năm 2026


Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn đã chính thức khởi động mùa giải thứ 7 năm 2026. Hạn cuối nhận tác phẩm đến ngày 25/4/2026. Lễ tổng kết và trao giải dự kiến diễn ra vào dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế thiếu nhi (1/6) năm 2026.

Theo Ban tổ chức Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn thuộc Báo Thể thao và Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam), Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn, ngay từ khi ra đời, đã đặt mục tiêu bao quát rộng rãi các lĩnh vực sáng tạo, từ văn học, nghệ thuật đến giải trí; từ các hình thức xuất bản truyền thống đến những nền tảng số đương đại. Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, bước vào mùa giải thứ 7 (năm 2026), Ban Tổ chức quyết định nâng tầm Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn.

Không chỉ dừng lại ở việc phát hiện và tôn vinh các sáng tạo “của thiếu nhi” và “vì thiếu nhi”, Giải thưởng hướng tới mục tiêu dài hạn: góp phần kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa – nghệ thuật dành cho thiếu nhi Việt Nam trong kỷ nguyên số. Giải thưởng sẽ triển khai các giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển hóa những tác phẩm đoạt giải giàu tiềm năng thành các sản phẩm văn hóa có sức lan tỏa rộng rãi, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực điện ảnh thiếu nhi.

Bên cạnh việc phát hiện, tôn vinh các tài năng văn hóa, nghệ thuật, Giải thưởng còn trở thành bệ đỡ, bệ phóng cho các tác giả, tác phẩm “của thiếu nhi”, “vì thiếu nhi”, đồng thời khơi dậy nguồn lực sáng tạo trong thiếu nhi, cổ vũ văn hóa đọc, xây dựng môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh cho thế hệ tương lai của đất nước.

Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn khởi động mùa giải thứ 7 năm 2026 - 1

Nhạc sĩ Phạm Tuyên được vinh danh là Hiệp sĩ Dế Mèn tại Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn 2025. Ảnh: BTC

Bước sang mùa giải thứ 7 – 2026, Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn tiếp tục duy trì những tiêu chí cốt lõi, đồng thời kỳ vọng mở rộng hơn nữa sự tham gia của các tác giả, tổ chức và đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Quy chế giải thưởng cũng được xây dựng theo hướng cởi mở nhưng chặt chẽ: Không giới hạn độ tuổi tác giả, khuyến khích sự tham gia của cả nghệ sĩ chuyên nghiệp, không chuyên và đặc biệt là các tác giả nhỏ tuổi; đồng thời bảo đảm quy trình xét chọn nghiêm túc thông qua Hội đồng giám khảo uy tín.

Giải thưởng không giới hạn loại hình dự thi. Tác phẩm tham dự có thể thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: văn học, mỹ thuật, âm nhạc, nghệ thuật trình diễn, trò chơi…

Bên cạnh hoạt động trao giải, Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn còn gắn với các hoạt động xã hội mang ý nghĩa nhân văn, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa và tinh thần sáng tạo đến cộng đồng, đặc biệt là trong việc khuyến khích trẻ em tiếp cận và tham gia vào các hoạt động nghệ thuật.

Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn khởi động mùa giải thứ 7 năm 2026 - 2

Thể lệ Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn lần 7 năm 2026. Ảnh: BTC

Ra đời năm 2020, Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn đã từng bước khẳng định uy tín và sức lan tỏa, trở thành một trong những điểm hẹn đáng chú ý của đời sống văn học nghệ thuật thiếu nhi. Giải thưởng bao gồm 1 Giải thưởng Lớn mang tên Hiệp sĩ Dế Mèn (Cricket Knight) và một số Tặng thưởng mang tên Khát vọng Dế Mèn (Cricket Desire).

Trải qua 6 mùa giải đã có 4 giải Hiệp sĩ Dế Mèn lần lượt được trao cho nhà văn: Nguyễn Nhật Ánh (2020), Trần Đức Tiến (2023), Lý Lan (2024) và nhạc sĩ Phạm Tuyên (2025) cùng 27 giải Khát vọng Dế Mèn, 4 Tặng thưởng được trao cho các văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, trong đó có 8 tác giả là thiếu nhi.

Một số tác giả đã tạo dựng được vị trí đáng chú ý trong mảng sáng tác cho thiếu nhi với nhiều tác phẩm mới liên tục được xuất bản như: Nguyễn Hoàng Diệu Thủy (tác giả đầu tiên đoạt 2 giải Khát vọng Dế Mèn vào các năm 2022, 2025), Lữ Mai (Khát vọng Dế Mèn 2024), Uông Triều (Khát vọng Dế Mèn 2023), Lã Thanh Hà (Khát vọng Dế Mèn 2024), Lạc An (Khát vọng Dế Mèn 2023)… Qua đó cho thấy, từ một giải thưởng, Dế Mèn đã góp phần hình thành một lực lượng sáng tác mới, có sự gắn bó ngày càng rõ nét với thiếu nhi.

Trong khi đó, các tác giả là thiếu nhi từng được ghi danh tại giải thưởng cũng tiếp tục được truyền cảm hứng và động lực để duy trì hoạt động sáng tạo. Nhiều em đã có thêm các tác phẩm mới sau khi được vinh danh, từng bước nuôi dưỡng niềm đam mê và định hình con đường sáng tạo trong tương lai.

Có thể kể đến các gương mặt như: Xèo Chu (Khát vọng Dế Mèn 2021), Hoàng Nhật Quang (Khát vọng Dế Mèn 2023), Phạm Hải Nguyên (Khát vọng Dế Mèn 2025), Đoàn Lữ Thụy Phương (Tặng thưởng của Hội đồng giám khảo 2023)… Điều này cho thấy hiệu ứng lan tỏa tích cực của giải thưởng không chỉ dừng lại ở việc vinh danh, mà còn kéo dài trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân sáng tạo.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn