Home Blog Page 41

Ra mắt Mitsubishi Xforce phiên bản siêu tiết kiệm xăng, giá từ 720 triệu đồng


Sau khi gặt hái thành công với các phiên bản chạy xăng, Mitsubishi đã chính thức bổ sung biến thể hybrid cho dòng SUV đô thị Xforce tại thị trường Thái Lan, đánh dấu bước đi mới trong chiến lược điện hóa tại Đông Nam Á.




Nguồn: Arttimes.vn

Kỳ tích Porsche Cayenne đứt đôi nhưng người lái vẫn an toàn


Theo trang Carscoops, mẫu xe SUV đứt làm đôi nhưng tài xế Porsche Cayenne chỉ bị thương nhẹ

Một chiếc Porsche Cayenne đứt làm đôi sau vụ tai nạn kinh hoàng tại Georgia (Mỹ), nhưng tài xế may mắn thoát chết và chỉ bị thương nhẹ nhờ khoang lái nguyên vẹn. Một vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng vừa xảy ra tại bang Georgia (Mỹ) khiến một chiếc Porsche Cayenne bị biến dạng hoàn toàn và đứt làm hai đoạn.

Theo báo cáo từ lực lượng cảnh sát địa phương, dù mức độ hư hại của phương tiện cực kỳ khủng khiếp, tài xế vẫn may mắn sống sót và có thể tự bước ra khỏi xác xe với những vết thương không đáng kể. Cảnh sát Dunwoody cho biết vụ tai nạn xảy ra vào tối muộn ngày thứ Ba trên đường Meadow Lane. Hình ảnh từ hiện trường cho thấy chiếc Porsche Cayenne gặp nạn là biến thể Coupe sơn màu đỏ Carmine.

Kỳ tích Porsche Cayenne đứt đôi nhưng người lái vẫn an toàn - 1

Hình ảnh từ hiện trường cho thấy chiếc Porsche Cayenne gặp nạn là biến thể Coupe sơn màu đỏ Carmine.

Nửa trước của xe nằm cách phần đuôi vài mét, hai phần này chỉ còn kết nối lỏng lẻo bằng hệ thống dây điện và một vài mảnh khung xe rời rạc. Mức độ khốc liệt của vụ việc còn được thể hiện qua việc ghế phụ của xe bị văng hoàn toàn khỏi vị trí ban đầu và rơi xuống mặt đường. Tuy nhiên, điều kỳ diệu là phần ghế lái nơi tài xế ngồi lại là bộ phận duy nhất của khoang cabin giữ được cấu trúc nguyên vẹn sau cú tông mạnh.

Dựa trên các chỉ dấu tại hiện trường như hệ thống phanh gốm carbon và ống xả thể thao, đây được xác định là một trong những phiên bản cao cấp và đắt tiền của dòng Cayenne, có giá trị vượt con số niêm yết 130.000 USD. Cảnh sát bước đầu xác định chạy quá tốc độ là yếu tố then chốt dẫn đến vụ tai nạn này, dù con số vận tốc cụ thể tại thời điểm va chạm vẫn đang trong quá trình điều tra.

Chuyên trang ô tô Carscoops nhận định rằng dù hệ thống khung gầm và hiệu suất cao của những mẫu xe sang có thể hỗ trợ người lái, nhưng chúng cũng chỉ phát huy tác dụng ở một giới hạn nhất định khi đối mặt với lực tác động quá lớn. Hiện tại, cảnh sát vẫn tiếp tục điều tra và chưa đưa ra bất kỳ cáo buộc chính thức nào đối với người điều khiển phương tiện.

Kỳ tích Porsche Cayenne đứt đôi nhưng người lái vẫn an toàn - 2

Vụ tai nạn này đã dấy lên những bình luận về tiêu chuẩn an toàn của các dòng ô tô đời mới. Dù chiếc xe bị phá hủy hoàn toàn và đứt đôi, nhưng “khoang bảo vệ” bao quanh người lái đã thực hiện đúng chức năng thiết kế khi hấp thụ lực và duy trì không gian sống sót cho tài xế.

Sự việc là lời nhắc nhở về tầm quan trọng của việc tuân thủ tốc độ khi tham gia giao thông. Đồng thời, kết quả hy hữu của vụ tai nạn cũng cho thấy những bước tiến đáng kinh ngạc trong kỹ thuật đảm bảo an toàn va chạm của ngành công nghiệp ô tô hiện đại, giúp hạn chế tối đa thương vong trong những tình huống tưởng chừng như không thể sống sót.



Nguồn: Arttimes.vn

Trong ánh sáng của Đức tin


Về cuốn tiểu luận – phê bình văn học “Trong Ơn Gọi của Vincent Mai Văn Phấn”, Nxb Đồng Nai, 2025.

Khi chọn văn học Công giáo làm đối tượng nghiên cứu, phê bình, Mai Văn Phấn đã bộc lộ một ý thức và tâm thế viết đặc biệt. Với ông, viết mang ý nghĩa “sự mầu nhiệm của Ơn Gọi”, thấm đẫm ánh sáng của đức tin hướng về những giá trị thiêng liêng của Thiên Chúa và Cõi Sáng tạo. Viết cũng là sự thôi thúc mãnh liệt tự bên trong, nhằm đáp lời tiếng gọi mầu nhiệm của Thiên Chúa, tiếng gọi của Cõi Thiêng cuộc đời, nghệ thuật. Sự kết hợp nhiều tư cách trong ngòi bút Mai Văn Phấn – một tác giả phê bình, một nghệ sĩ sáng tạo, một Kitô hữu nhiệt thành – vừa tự nhiên, tất yếu, lại vừa mang tính chủ đích, giúp ông trở nên đặc biệt bén nhạy trong việc nắm bắt, khai mở những điều huyền nhiệm, sâu xa trong tác phẩm, điều mà một độc giả bình thường như tôi khó có thể đọc ra.

Trong Ơn Gọi, ngoài phần Giới thiệu (của Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản) và Lời bạt (của Linh mục Giuse Cao Gia An, S.J.) được cấu trúc thành hai phần, gồm phần 1. Hạt Giống Tin Mừng; phần 2: Ánh Sáng Đấng – Tình – Yêu. Phần 1 có tính tổng quan, gồm 4 tiểu luận, 3 bài đầu tập trung vào các vấn đề nổi bật trong văn học Công giáo Việt Nam (hành trình cứu chuộc, cảm thức đức tin, ngôn ngữ cầu nguyện…); tiểu luận thứ tư nói về hành trình sáng tạo của chính tác giả, vốn là một tín hữu Công giáo, đồng thời cũng là một tác giả có một quá trình sáng tạo lâu dài. Tiểu luận thứ tư vừa có tính chia sẻ, đồng thời là sự kết nối, cộng thông tinh thần của cá nhân Mai Văn Phấn với cộng đoàn Công giáo. Phần 2 gồm 20 tiểu luận, mở đầu bằng tiểu luận bàn về cuốn tự truyện Hy vọng của Đức Giáo hoàng Phanxicô và tiếp đó là các tiểu luận bàn về các hiện tượng văn học Công giáo Việt Nam hiện đại tiêu biểu, bao gồm  nhiều tác giả thơ, truyện, tùy bút, dịch thuật. Sự tập trung chủ đề tạo nên tính chất nhất quán, liền mạch, thể hiện khát vọng xây dựng, cống hiến cho cộng đoàn rất rõ.

Theo tôi hiểu, Hạt giống Tin MừngÁnh sáng Đấng – Tình – Yêu là những mô típ thiêng liêng, thường được sử dụng như biểu tượng nghệ thuật để nói về mầm mống tôn giáo, niềm khát khao thiêng liêng và ánh sáng cứu độ được gieo vào đời sống, văn hoá và thơ ca. Hành trình cứu chuộc là nền tảng để hình thành niềm tin và đời sống cầu nguyện của tín hữu. Đức tin là con đường để con người đón nhận ơn cứu chuộc. Cầu nguyện là cách thức để con người liên hệ với Thiên Chúa và đối thoại với Ngài. Như vậy, cứu chuộc – đức tin – cầu nguyện là ba yếu tố cốt lõi, gắn bó hữu cơ trong Ki tô giáo, là “tam vị nhất thể”, tạo nên cấu trúc nhỏ nằm trong cấu trúc lớn – Hạt giống Tin Mừng. Nội dung tập phê bình Trong Ơn Gọi, về căn bản, được xây dựng trên cấu trúc hệ thống biểu tượng này.

Trong ánh sáng của Đức tin - 1

Cuốn tiểu luận – phê bình văn học “Trong Ơn Gọi của Vincent Mai Văn Phấn”.

Có thể nói, đây là một cấu trúc văn bản vừa chặt chẽ, sáng rõ về phương diện tổ chức, đồng thời, mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc, thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc giáo lí, đức tin và cảm thức sáng tạo hướng về Cõi Thánh. Nghệ thuật đích thực luôn mang sự thật và sự đẹp, lòng tin tưởng và tình yêu thương của Thiên Chúa, do đó, chính là những Hạt giống Tin Mừng và luôn mang chứa Ánh sáng Đấng – Tình – Yêu, mang ý nghĩa soi sáng và cứu độ. Ở góc độ người viết, Mai Văn Phấn luôn tìm thấy sức mạnh ngòi bút của mình trong ánh sáng của đức tin, tình yêu, niềm tin tưởng vào tương lai, tha nhân và sự sáng tạo.

Quan tâm tới các hiện tượng văn học Công giáo, Mai Văn Phấn đặc biệt chú ý mối quan hệ giữa Kitô giáo và văn học trên những phương diện nổi bật như cảm thức thẩm mĩ, cấu trúc không gian, hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ… Ông cũng chú ý tới phương pháp luận tiếp cận các hiện tượng văn học Công giáo thông qua những trải nghiệm sáng tạo và nghiên cứu của mình. Chính tư duy và nhãn quan Kitô giáo đã cho ông khả năng/ sự bén nhạy đặc biệt, như là ân sủng, trong việc đọc ra vẻ đẹp linh thánh, huyền nhiệm trong sáng tác của các tác giả Công giáo. Đấy không đơn thuần là vẻ đẹp của ngôn từ, biểu tượng hay kĩ thuật, thủ pháp. Nó là vẻ đẹp của tư tưởng và thi pháp hướng về đức tin. Nó là vẻ đẹp của tinh thần Kitô giáo, của đức tin, đức cậy, đức mến – vẻ đẹp của niềm tín thác vào Thiên Chúa, của hy vọng hướng về tương lai cứu độ, và của tình yêu thương gắn bó với Thiên Chúa cùng tha nhân. Đó là vầng sáng tâm linh cao cả, huyền nhiệm, lộng lẫy trong đời sống các tín hữu nhưng giữ nguyên vẻ bí mật và lạ lùng với những kẻ ngoại đạo.

Điều này giải thích vì sao Mai Văn Phấn có góc nhìn và cách tiếp cận khá nhất quán về thế giới nghệ thuật và thi pháp của các tác giả Công giáo. Chẳng hạn, ông chú ý tới “vòng sóng quy tâm, từ cõi người đến cõi thiêng” trong không gian thơ Cao Gia An S.J; hình tượng Đức mẹ Mari trong thơ Xuân Ly Băng; mĩ học Kitô giáo trong thơ Trần Vạn Giã; quá trình chuyển hóa của biểu tượng trăng trong thơ Trăng Thập Tự; ánh sáng đức tin trong tùy bút của Nguyễn Tham Thiện Kế, hoặc trong truyện ngắn của Vinh Kiu, ông nhận ra “thập giá tình yêu trong hôn nhân ngoại giáo”… Khi đọc lại sáng tác của Hàn Mặc Tử, Mai Văn Phấn phân tích rất thuyết phục (và cũng đầy xuất thần) về trạng thái sáng tạo có tính thần khí, đầy huyền nhiệm trong bài Thánh nữ Đồng Trinh Maria. Có thể nói, đó là một cách đọc, cách viết mang tinh thần cộng thông sâu sắc của Mai Văn Phấn với các tác giả Công giáo. Tâm thức Kitô giáo khiến Mai Văn Phấn có khả năng tương thông và kết nối với những thi hữu – tín hữu là lẽ đương nhiên. Nhưng điều này cũng ban cho ông sự bén nhạy đặc biệt trong việc phát hiện những vẻ đẹp linh thánh, cao cả, tinh thần hướng tới cái thiêng, ánh sáng và sự cứu rỗi ở những người viết vốn không phải tín đồ Công giáo.

Bài viết về thơ Nguyễn Quang Thiều “dưới cái cây ánh sáng” là một ví dụ tiêu biểu. Tôi nghĩ bài viết này cũng là một gợi ý hay về tính mở trong đức tin và mĩ học Kitô giáo. Nó không giới hạn ở bộ phận văn học Công giáo hay khép kín trong phạm vi giáo hội hoặc cộng đoàn tín hữu mà còn có thể mở ra nhiều kênh giao tiếp với văn học ngoài Công giáo, làm phong phú và đa dạng hóa tư duy thẩm mĩ của văn học Việt Nam hiện đại.  

Trong cuốn sách này, tác giả không giới hạn việc khảo sát, nghiên cứu ở các hiện tượng văn học công giáo Việt Nam mà còn mở rộng liên hệ, đối sánh với một số hiện tượng văn học Công giáo trên thế giới. Việc gắn kết các hiện tượng văn học Công giáo trong bối cảnh lịch sử, xã hội giúp nhà phê bình có thêm căn cứ để xác định, đánh giá giá trị của các hiện tượng ấy cả về phương diện văn học lẫn thần học. Mặt khác, cách làm này cũng giúp ông có thể định vị chính xác hơn tiến trình tinh thần – tư tưởng thẩm mĩ của văn học Công giáo trong bối cảnh văn học của Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung.  

Phê bình văn học từ góc độ tư tưởng – thẩm mĩ, Mai Văn Phấn đặc biệt quan tâm đến cái đẹp, cái đẹp của Đức tin, cái đẹp của cấu trúc và ngôn ngữ sáng tạo. Thậm chí, ta có thể nói đến ý thức cấu trúc trong phê bình văn học của ông – cấu trúc không gian, cấu trúc nhịp điệu, cấu trúc chủ đề – tư tưởng… Điều này thể hiện ngay trong các tác phẩm phê bình của ông. Từ Không gian khác (2016) đến Nhịp điệu vẽ lối đi (2024), và hiện tại là Trong Ơn Gọi (2025), mỗi tác phẩm là một cấu trúc mang tính tượng trưng (đây là kiểu tư duy nghệ thuật quen thuộc của Mai Văn Phấn). Riêng với Trong Ơn Gọi, cuốn sách đã tạo ra một cấu trúc tinh thần toàn vẹn, thống nhất, thấm đượm sâu sắc đức tin, niềm hy vọng, tình yêu thương Thiên Chúa, tình yêu tha nhân và sự sáng tạo nghệ thuật.

Mai Văn Phấn rất mạnh về khả năng đọc văn bản, khả năng phát hiện những giá trị thẩm mĩ trong các tác phẩm văn chương, nhất là những hiện tượng mới, có tính cách tân, gây khó với độc giả phổ thông. Ông chú ý gắn phân tích văn bản với các tri thức lí luận, dùng tri thức lí luận để tiếp cận, lí giải.

Tuy nhiên, trong cuốn sách này, có đôi chỗ tôi vẫn muốn trao đổi thêm cùng ông. Ví dụ, trong bài Hành trình cứu chuộc trong văn xuôi công giáo hậu hiện đại, một số đối tượng khảo sát không hoàn toàn phù hợp với khái niệm “văn xuôi hậu hiện đại”. Cho dù những sáng tác này có thể sử dụng một số thủ pháp hậu hiện đại thì về căn bản, tâm thức, thái độ mĩ học chi phối chúng không phải là tâm thức, thái độ hậu hiện đại. Mặt khác, “hậu hiện đại” là khái niệm lí thuyết phức tạp, cần được thuyết minh chặt chẽ, đặc biệt, trong trường hợp này, khi tác giả sử dụng chúng nhằm chỉ một loại hình văn xuôi Công giáo có tính đặc thù. Nên chăng, trong bài viết, tác giả có thể cân nhắc để: thứ nhất, dùng khái niệm hoặc cách diễn đạt phù hợp hơn với đối tượng và mục đích nghiên cứu (ví dụ, “văn xuôi Công giáo hiện đại” thay cho “văn xuôi Công giáo hậu hiện đại”); thứ hai, nên giới thuyết rõ hơn về giới hạn và tính quy ước trong cách dùng thuật ngữ, khái niệm. Bên cạnh đó, do say sưa với cấu trúc tư tưởng – thẩm mĩ của các tác phẩm, Mai Văn Phấn ít khi đề cập hoặc lí giải tường tận sự chi phối và lấn át của đề tài, chủ đề tôn giáo tới các phương diện hình thức thể hiện, hoặc lí do dẫn đến sự giản đơn, trùng lặp trong cách sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng (xuất phát từ mục đích phục vụ giáo lí…) trong sáng tác của một số tác giả thuộc giới tu trì. Nếu làm được điều đó, sự lí giải, đánh giá về các hiện tượng văn học này chắc chắn sẽ khách quan, toàn diện hơn.

Đọc Trong Ơn Gọi, có thể thấy rõ sự kết hợp giữa nhiều vai trò, tư cách trong chủ thể người viết phê bình. Tư cách tín đồ tạo nên cảm hứng, đức tin, khát vọng đọc và viết. Tư cách người sáng tạo, người viết phê bình tạo nên chiều sâu hóa thân, trải nghiệm và phương pháp, thao tác làm việc. Sự kết hợp này cũng tạo ra sự độc đáo của sản phẩm – vừa là kết quả của đức tin Thiên Chúa, đồng thời là kết quả của tinh thần lao động khoa học. Tập sách thể hiện tính nghiêm túc, tư duy thẩm mĩ đồng thời, cũng cho thấy rõ cá tính con người của Mai Văn Phấn: sự khiêm nhu trong vẻ ngoài và hành xử đời sống, sự quyết đoán và quyết liệt trong công việc, nhằm đạt đến mục tiêu đã xác định.

Trong Ơn Gọi là một cuốn sách tầm vóc, có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp độc giả hiểu sâu hơn về văn học Công giáo trong dòng chảy rộng lớn, phong phú và đa dạng của văn học dân tộc. Nó cung cấp một cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể về văn học Công giáo Việt Nam, khẳng định vẻ đẹp, giá trị và những đóng góp quan trọng của bộ phận văn học này đối với văn học dân tộc. Công trình này nối tiếp nghiên cứu của nhiều học giả tên tuổi: Lịch sử văn học Công giáo (1965) của Võ Long Tê; Văn học Công giáo Việt Nam – Những chặng đường (2010) của Lê Đình Bảng, Văn học Công giáo Việt Nam đương đại (2022) của Bùi Công Thuấn, Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam (2023) của Nguyễn Vy Khanh,… Đó là một sự kế thừa, tiếp nối và mở rộng, phát triển đầy ý thức, nhằm hướng tới cái đích khẳng định và tôn vinh văn học Công Giáo Việt Nam, và nói rộng hơn, là của văn học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.

Đức tin Công giáo, rộng ra, là đức tin tôn giáo nói chung, từ góc nhìn văn học, không chỉ cung cấp vật liệu nghệ thuật, mà còn đem lại một nhãn quan, một kiểu tư duy thẩm mĩ riêng, góp phần làm phong phú, đa dạng hóa cách con người nhìn về đời sống và tâm hồn mình. Tiếng nói tâm linh, huyền nhiệm cũng tạo nên vẻ đẹp và những giá trị tinh thần, tư tưởng sâu sắc. Nó nhắc con người hướng đến Đấng – Cao – Cả, những giá trị hướng thượng, ở đó, đức tin vào những giá trị lớn lao, vĩnh hằng, sự tin cậy, niềm hy vọng vào tương lai, tình yêu thương, sự trắc ẩn hướng tới tha nhân và cõi người là những giá trị muôn thuở, cho con người được thanh lọc và cứu rỗi, thực sự trở thành Người. Đó chính là những phương diện giá trị cốt tử của một nền văn học nhân bản, tiến bộ.

Trong Ơn Gọi không chỉ là kết quả của những phân tích, khảo cứu dựa trên kiến thức tín lí và tư duy khoa học, mà trên hết và sâu xa hơn, nó được viết trong ánh sáng thấm nhuần đức tin hướng về Thiên Chúa, cũng là đức tin hướng về những giá trị tâm linh và Cõi Thiêng Sáng Tạo. Nghệ thuật, ở đó, chính là sự liên hội, hợp thông, cất tiếng của mĩ học tâm linh, mĩ học của Đức tin, là “minh chứng thiêng liêng và ân sủng của Thiên Chúa”.   

Lê Hồ Quang




Nguồn: Arttimes.vn

Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai tổng kết hoạt động văn học nghệ thuật năm 2025 và Ngày thơ Việt Nam – Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai năm 2026


Chiều 3/3, Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai tổ chức chương trình Ngày thơ Việt Nam – Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai năm 2026, đồng thời Tổng kết hoạt động văn học nghệ thuật năm 2025 và Triển khai nhiệm vụ năm 2026.

Tham dự chương trình có bà Lê Thị Thái – Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy; ông Nguyễn Thành Trí – nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức Hội nghị Đồng Nai; ông Nguyễn Sơn Hùng – nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai; TS. Đoàn Thanh Nô – Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; NSND – Đạo diễn Giang Mạnh Hà – Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Đồng Nai; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành cùng hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai.

Tại chương trình, Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai đã báo cáo kết quả hoạt động năm 2025 và phát động phong trào thi đua năm 2026.

NSND – Đạo diễn Giang Mạnh Hà – Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Đồng Nai cho biết, năm 2025 là một năm nhiều dấu ấn đối với đất nước ta, cũng là một năm hoạt động sôi nổi, hiệu quả của Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai. Hội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, giữ vững nhịp độ sáng tạo, đồng thời mở rộng không gian ảnh hưởng của văn học nghệ thuật tỉnh nhà.

Tiếp nối những thành công trong năm vừa qua, năm 2026, Hội sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động giới thiệu, quảng bá tác phẩm mới đến đông đảo công chúng. Trọng tâm là tổ chức các chương trình ra mắt, tọa đàm, giao lưu tác giả – tác phẩm; tăng cường truyền thông trên các nền tảng báo chí, mạng xã hội; đồng thời mở rộng phối hợp với các đơn vị văn hóa, nghệ thuật nhằm lan tỏa giá trị sáng tạo, tạo thêm cơ hội để tác phẩm đến gần hơn với đời sống.

Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai tổng kết hoạt động văn học nghệ thuật năm 2025 và Ngày thơ Việt Nam - Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai năm 2026 - 1

Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao tặng cờ thi đua xuất sắc năm 2025 cho Hội Văn học nghệ thuật Đồng Nai. Ảnh: My Ny

Ghi nhận và biểu dương những thành tích đã đạt được của Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai trong thời gian qua, TS. Đoàn Thanh Nô – Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam bày tỏ mong muốn Hội sẽ tiếp tục giữ vững tinh thần đổi mới, chuyên nghiệp hóa hoạt động, nâng cao chất lượng tổ chức, chăm lo tốt hơn đời sống tinh thần cho hội viên, tăng cường phát hiện, bồi dưỡng tài năng trẻ. Đồng thời tiếp tục nâng cao chất lượng sáng tác, mở rộng giao lưu, phát huy vai trò phản biện và đồng hành cùng sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Để ghi nhận và tôn vinh thành tích của tập thể và các cá nhân văn nghệ sĩ Đồng Nai đã xuất sắc giành được trong 5 năm qua, Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật đã tặng Cờ thi đua xuất sắc cho Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai giai đoạn 2020-2025.

Ghi nhận sự đóng góp nổi bật của những cá nhân tiêu biểu, trong dịp này, Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã trao tặng Bằng khen cho các cá nhân có nhiều đóng góp nổi bật trong hoạt động Hội năm 2025. Đồng thời, trao Kỷ niệm chương cho 15 văn nghệ sĩ có thành tích xây dựng và phát triển vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai tổng kết hoạt động văn học nghệ thuật năm 2025 và Ngày thơ Việt Nam - Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai năm 2026 - 2

Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lê Thị Thái trao bằng khen UBND tỉnh cho các cá nhân. Ảnh: My Ny

Cũng trong dịp này, UBND tỉnh Đồng Nai đã trao Bằng khen, khen thưởng các cá nhân đã đạt thành tích cao tại các cuộc thi, Hội diễn Cấp tỉnh, cấp Khu vực, cấp toàn quốc và Quốc tế năm 2025.

Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai tặng Giấy khen cho các Tập thể và cá nhân có thành tích tốt trong hoạt động văn học nghệ thuật năm 2025.

Trong khuôn khổ chương trình, Ngày thơ Việt Nam – Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai năm 2026 đã diễn ra với những tiết mục ngâm thơ và biểu diễn âm nhạc do các nghệ sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh và các nghệ sĩ, nhà thơ của Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai biểu diễn.

Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai tổng kết hoạt động văn học nghệ thuật năm 2025 và Ngày thơ Việt Nam - Ngày Văn nghệ sĩ Đồng Nai năm 2026 - 3

Một tiết mục ngâm thơ trong chương trình Ngày thơ Việt Nam và Ngày văn nghệ sĩ Đồng Nai năm 2026. Ảnh: My Ny

Qua một số thi phẩm được chọn lọc như: “Tổ quốc” của nhà thơ Nguyễn Hữu Diên; “Khẽ chạm miền xuân” của nhà thơ Lưu Thiện Vương; “Ban mai” của nhà thơ Biên Linh; “Khai hoa” của nhà thơ Nguyệt Minh; “Chiếc ba lô anh mang có nặng không” của tác giả Lý Thăng Long… đã góp phần lan tỏa thông điệp về mùa xuân, về tình yêu Tổ quốc, tình yêu con người Đồng Nai.

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025


Ngày 4/4, tại Hà Nội, Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025.

Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam và ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì Hội nghị.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 1

Quang cảnh Hội nghị.

Cùng dự có các đồng chí là lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức liên hiệp: Bế Xuân Trường, Phó chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Nguyễn Xuân Định, Phó chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Nguyễn Thị Minh Hương, Phó chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam; Nguyễn Tường Lâm, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Nguyễn Quyết Chiến, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; Nguyễn Ngọc Hùng, Phó chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 2

Đại biểu tham dự Hội nghị.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước, nhiều chủ trương, chính sách lớn được ban hành và triển khai đồng bộ, tạo đột phá về thể chế, cơ chế, chính sách. Đặc biệt là cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn bộ máy được triển khai toàn diện từ trung ương đến địa phương; cả nước vận hành chính quyền địa phương hai cấp.

Trong bối cảnh đó, theo Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp đã chủ động, linh hoạt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có công tác thi đua, khen thưởng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và đạt được nhiều kết quả tích cực. Các phong trào thi đua đã góp phần tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 3

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát biểu khai mạc Hội nghị.

Báo cáo Tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2025, bà Thái Thu Xương, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, công tác thi đua, khen thưởng của Khối tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Các đơn vị đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng. Các phong trào thi đua hướng tới chào mừng các ngày lễ lớn của Đảng, Nhà nước, của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được triển khai đồng bộ, thiết thực; đồng thời hưởng ứng tích cực các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động và các cuộc vận động do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trì, với nội dung ngày càng phong phú, hình thức tổ chức đa dạng, sát thực tiễn.

Cùng với đó, việc xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí thi đua ngày càng rõ ràng, gắn với phân công nhiệm vụ cụ thể đã trở thành một trong những giải pháp quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả các phong trào thi đua, từng bước đưa phong trào đi vào thực chất, chiều sâu.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 4

Bà Thái Thu Xương, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam báo cáo công tác thi đua khen thưởng của toàn Khối trong năm 2025.

Về nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, Khối thi đua các tổ chức Chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp xác định 7 nhiệm vụ trọng tâm: Tiếp tục quán triệt, triển khai chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; Tổ chức tốt Đại hội nhiệm kỳ 2026-2031; Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước gắn với nhiệm vụ chính trị và các sự kiện lớn của đất nước; Đẩy mạnh tuyên truyền, phát hiện và nhân rộng điển hình tiên tiến; Tiếp tục triển khai các phong trào thi đua gắn với bảo đảm an sinh xã hội; Nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội và đẩy mạnh công tác đối ngoại Nhân dân; Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 5

Đại diện các tổ chức góp ý, đề xuất tại Hội nghị.

Phát biểu tổng kết Hội nghị, bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam ghi nhận và đánh giá cao những kết quả Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp đã đạt được trong năm 2025. Đặc biệt, khi các tổ chức trong Khối triển khai mô hình tổ chức mới theo chủ trương của Đảng, đưa các tổ chức chính trị – xã hội, hội quần chúng về hoạt động thống nhất trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dù còn không ít khó khăn, vướng mắc trong quá trình vận hành, song với tinh thần chủ động, trách nhiệm cao, các đơn vị đã hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ đề ra, tạo được những kết quả đáng ghi nhận.

Nhấn mạnh năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt trong triển khai những chủ trương, đường lối của Đảng và các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bà Hà Thị Nga đề nghị, các tổ chức trong Khối bám sát 7 nhóm nhiệm vụ đã ký kết, chủ động cụ thể hóa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị. Bên cạnh việc tăng cường sự chủ động, phối hợp chặt chẽ trong công tác thi đua – khen thưởng, các đơn vị cần chú trọng nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo trở thành việc làm thường xuyên, tạo ra những giá trị tích cực cho xã hội.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 6

Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam phát biểu tổng kết Hội nghị.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã biểu quyết thống nhất đề nghị tặng Cờ thi đua của Chính phủ cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

Hội nghị đã thống nhất suy tôn UBTƯ MTTQ Việt Nam là Khối trưởng Khối thi đua; Trung ương Hội Nông dân Việt Nam là Khối phó Khối thi đua năm 2026.

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 7

Kết quả thi đua của Khối thi đua các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức Liên hiệp năm 2025 - 8

Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga và đại diện các tổ chức thành viên Khối thi đua ký kết Giao ước thi đua năm 2026. 

Cũng trong dịp này, các đơn vị thành viên Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức Liên hiệp đã tiến hành ký kết Giao ước thi đua năm 2026.

Góp phần quan trọng vào những kết quả chung của Khối, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong năm 2025 đã đạt những kết quả thi đua nổi bật sau:

– Tổ chức các hoạt động kỷ niệm, chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc, trọng tâm là thực hiện triển khai Kế hoạch 390-KH/BTGTW ngày 15/11/2023 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về việc tổ chức các hoạt động tổng kết 50 năm nền văn học, nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất.

– Hưởng ứng phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời”: Liên hiệp đã tăng cường quán triệt, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời; Tổ chức các hoạt động chuyên môn, hội thảo, tọa đàm, trao đổi nghiệp vụ, tổng kết thực tiễn sáng tác, lý luận, phê bình… tạo điều kiện để hội viên, văn nghệ sĩ tiếp cận tri thức mới, mở rộng hiểu biết thực tiễn, nâng cao chất lượng sáng tạo tác phẩm.

– Chú trọng nâng cao chất lượng giám sát và hoạt động phản biện xã hội: Triển khai có trọng tâm, trọng điểm, bám sát các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, văn nghệ sĩ; Thường xuyên quan tâm, tăng cường tiếp xúc, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của các hội viên và văn nghệ sĩ.

– Thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị khác như: Tham gia vào các Ban Tổ chức và Ban Chỉ đạo các hoạt động liên quan đến tổng kết 50 năm nền văn học, nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất; Tham gia Ban Tổ chức Cuộc vận động sáng tác ca khúc về Quốc hội và HĐND nhân kỷ niệm 80 năm ngày Tổng Tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam; Tích cực triển khai công tác đối ngoại nhân dân, đẩy mạnh hoạt động giao lưu, quảng bá trong lĩnh vực văn học nghệ thuật…

– Về công tác khen thưởng: Liên hiệp đã xét tặng Bằng khen cho tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp trong hoạt động văn học, nghệ thuật của các Hội Văn học nghệ thuật trên cả nước, trong đó trao Kỷ niệm chương cho 111 cá nhân, Cờ Thi đua cho 2 tập thể, Bằng khen cho 7 tập thể và 70 cá nhân.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Lotus bàn giao “quái thú” Eletre X mạnh 939 mã lực, đợi ngày về Việt Nam


Lotus Eletre X là mẫu PHEV sở hữu sức mạnh gần 1.000 mã lực và tầm hoạt động vượt 1.400 km.




Nguồn: Arttimes.vn

Thị trường Đông Nam Á đón nhận nhiều dòng xe bán tải điện mới


Phân khúc xe bán tải thuần điện đang hình thành tại Đông Nam Á.

Trong nhiều năm, bán tải với động cơ diesel là “vua” tại các thị trường ô tô Đông Nam Á, đáp ứng nhu cầu đi lại, chuyên chở từ công trường xây dựng, nông nghiệp cho tới nhu cầu cá nhân tại Thái Lan, Việt Nam, Indonesia… Trong những tháng gần đây, sự xuất hiện của các mẫu bán tải điện đang mở ra một chương mới cho phân khúc này, khi các hãng xe bắt đầu thử nghiệm khả năng “điện hóa” một trong những dòng xe khó thay đổi nhất. 

Tâm điểm gần đây là sự ra mắt của Toyota Hilux EV tại Thái Lan – thị trường bán tải lớn nhất Đông Nam Á. Song song đó, Isuzu đã có kế hoạch sản xuất D-MAX thuần điện tại Thái Lan – cũng là nơi xe sẽ bán ra đầu tiên ở Đông Nam Á.

Trên thị trường toàn cầu, các mẫu như Ford F-150 Lightning hay Rivian R1T đã chứng minh rằng bán tải điện không chỉ khả thi mà còn có thể mang lại hiệu năng vượt trội. Những công nghệ này đang dần lan xuống các thị trường mới nổi. Tại Việt Nam, VinFast cũng đã nhiều lần trình diễn mẫu bán tải điện VF Wild, thu hút đáng kể sự chú ý của người tiêu dùng.

Thị trường Đông Nam Á đón nhận nhiều dòng xe bán tải điện mới - 1

Toyota Hilux Travo EV là mẫu xe bán tải điện mới nhất vừa được giới thiệu.

Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy xu hướng bán tải điện tại Đông Nam Á là bài toán chi phí. Trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động, xe điện với chi phí vận hành thấp hơn đang trở thành lựa chọn hấp dẫn, nhất là đối với các doanh nghiệp vận tải, xây dựng hay dịch vụ – những nhóm khách hàng truyền thống của xe bán tải. Chi phí bảo dưỡng của xe điện cũng thấp hơn do cấu trúc đơn giản, ít bộ phận chuyển động.

Song song với yếu tố kinh tế, chính sách hỗ trợ từ các quốc gia trong khu vực cũng đóng vai trò quan trọng. Thái Lan đang đặt mục tiêu trở thành trung tâm sản xuất xe điện của khu vực, Indonesia tận dụng lợi thế tài nguyên để phát triển ngành công nghiệp pin, trong khi Việt Nam cũng đẩy mạnh khuyến khích phương tiện xanh.

Về mặt kỹ thuật, bán tải điện thậm chí có những lợi thế tự nhiên so với các loại dùng động cơ diesel. Mô-men xoắn đạt cực đại ngay từ vòng tua thấp giúp xe dễ dàng kéo tải nặng, leo dốc hoặc vận hành trong điều kiện địa hình phức tạp. Khả năng kiểm soát lực kéo chính xác của hệ thống điện tử cũng hỗ trợ tốt hơn trong các tình huống off-road.

Thị trường Đông Nam Á đón nhận nhiều dòng xe bán tải điện mới - 2

Mẫu xe bán tải điện Isuzu D-Max EV vừa được ra mắt tại BIMS 2026.

Tại các công trường xây dựng đô thị, đặc biệt ở những khu vực đông dân cư, việc giảm tiếng ồn và khí thải đang trở thành tiêu chí quan trọng. Xe bán tải điện, với đặc tính vận hành êm và không phát thải trực tiếp, có thể giúp cải thiện đáng kể điều kiện môi trường làm việc cũng như giảm tác động đến khu vực xung quanh.

Bên cạnh đó, nhiều công trường hiện đại đang hướng tới mô hình “xanh” – sử dụng năng lượng tái tạo, kết hợp hệ thống điện mặt trời và lưu trữ năng lượng. Bán tải điện có thể dễ dàng tích hợp vào hệ sinh thái này, vừa đóng vai trò phương tiện vận chuyển, vừa có thể trở thành nguồn cấp điện di động cho thiết bị thi công thông qua các hệ thống cấp điện ngoài (V2L). Điều này cũng hữu ích tại các công trường tạm thời hoặc khu vực hạ tầng điện chưa hoàn thiện.

Đối với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là những đơn vị tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, việc cắt giảm phát thải không còn là lựa chọn mà đã trở thành tiêu chuẩn bắt buộc. Nhiều tập đoàn đa quốc gia hiện yêu cầu đối tác Đông Nam Á phải báo cáo lượng khí thải carbon (ESG) và đưa ra lộ trình giảm phát thải rõ ràng. Việc chuyển sang sử dụng xe điện, bao gồm cả bán tải điện, là một trong những giải pháp đáng cân nhắc.

Dĩ nhiên, bán tải điện vẫn đang đối mặt với không ít thách thức, ví dụ như quãng đường di chuyển, hệ thống trạm sạc nhanh, giá bán cao… khi vận hành ngoài đường nhựa. Thế nhưng, việc triển khai loại xe trong không gian khép kín có thuận lợi hơn.

Thị trường Đông Nam Á đón nhận nhiều dòng xe bán tải điện mới - 3

Mẫu xe bán tải điện Wild đến từ thương hiệu xe VinFast.

Trước hết, phạm vi hoạt động của phương tiện trong công trường thường giới hạn, lộ trình lặp lại và có thể kiểm soát, giúp giảm áp lực về quãng đường di chuyển – vốn là một trong những rào cản lớn của xe điện. Doanh nghiệp cũng có thể chủ động bố trí hạ tầng sạc ngay tại chỗ, không phụ thuộc vào mạng lưới trạm sạc công cộng còn chưa đồng bộ.

Bên cạnh đó, môi trường vận hành khép kín cho phép tối ưu việc quản lý đội xe, từ lịch trình, tải trọng đến mức tiêu thụ năng lượng, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, các dòng xe phải chứng minh được độ tin cậy lâu dài, đặc biệt trong môi trường nhiệt đới, địa hình phức tạp và cường độ sử dụng cao.

Theo các chuyên gia, quá trình điện hóa phân khúc bán tải tại Đông Nam Á nhiều khả năng sẽ diễn ra theo lộ trình từng bước. Trong giai đoạn đầu, các mẫu xe điện sẽ chủ yếu phục vụ khách hàng doanh nghiệp hoặc đội xe vận hành trong phạm vi giới hạn. Khi công nghệ pin cải thiện, giá thành giảm và hạ tầng sạc hoàn thiện hơn, thị trường sẽ dần mở rộng sang người tiêu dùng cá nhân.

Thị trường Đông Nam Á đón nhận nhiều dòng xe bán tải điện mới - 4

Dù chưa thể thay thế ngay xe diesel, sự xuất hiện của các mẫu bán tải điện đầu tiên cho thấy xu hướng bắt đầu hình thành, và sẽ sớm trở thành một phần quan trọng của thị trường ô tô Đông Nam Á trong thập niên tới.



Nguồn: Arttimes.vn

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em”


Cuộc thi Mỹ thuật Thiếu nhi Việt Nam 2026 với chủ đề “Di sản trong mắt em” đã chính thức được phát động ngày 28/3, tại di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). Cuộc thi hứa hẹn là hành trình giáo dục – nghệ thuật giàu giá trị nhân văn, lan tỏa trong cộng đồng, góp phần kết nối con người với di sản và khơi dậy tình yêu, ý thức gìn giữ di sản trong đời sống đương đại.

Cuộc thi do Xưởng Nghệ thuật ART TREE phối hợp cùng Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Hoạt động văn hoá khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám phát động.

Cùng sự đồng hành của Viện Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Truyền thống, Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, Tạp chí Ngày Nay và sự bảo trợ truyền thông của Trung tâm Điều phối các Hoạt động Sáng tạo Hà Nội (Hanoi Creative City), Báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 1

Đại biểu tham dự Lễ phát động Cuộc thi “Di sản trong mắt em”. Ảnh: Huyền Thương

Phát biểu tại Lễ phát động Cuộc thi, TS. Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám bày tỏ kỳ vọng, Cuộc thi không chỉ là một sân chơi bổ ích mà còn trở thành cầu nối lan tỏa tình yêu di sản. Đồng thời, khơi dậy được sự quan tâm, đồng hành của các bậc phụ huynh và các em học sinh trong việc tìm hiểu, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trong đó có di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 2

TS. Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám phát biểu tại Lễ phát động. Ảnh: Huyền Thương

Theo Ths. Nguyễn Hoàng Minh, Giám đốc Xưởng Nghệ thuật Art Tree, di sản không chỉ là những công trình cổ kính hay hiện vật trong bảo tàng, mà là ký ức sống động của một dân tộc – được gìn giữ, tiếp nối và tái tạo qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển nhanh chóng, việc nuôi dưỡng tình yêu di sản và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa ngay từ lứa tuổi thiếu nhi trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Với tinh thần đó, Cuộc thi hướng tới việc giúp các em nhỏ tiếp cận di sản văn hóa Việt Nam bằng những góc nhìn sáng tạo, gần gũi và giàu cảm xúc. Thông qua hội họa, các em có cơ hội thể hiện suy nghĩ, trí tưởng tượng và tình yêu quê hương bằng ngôn ngữ tạo hình đa dạng, từ đó góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ di sản văn hóa.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 3

Ths. Nguyễn Hoàng Minh, Giám đốc Xưởng Nghệ thuật Art Tree chia sẻ về ý nghĩa Cuộc thi. Ảnh: Huyền Thương

Ban Tổ chức kỳ vọng, mỗi tác phẩm dự thi không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật mà còn là một câu chuyện cá nhân – phản ánh cách nhìn trong trẻo nhưng sâu sắc của trẻ thơ về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên và con người Việt Nam.

Cuộc thi Mỹ thuật “Di sản trong mắt em” được tổ chức với quy mô toàn quốc, dành cho thiếu nhi trên toàn quốc từ 4 đến 15 tuổi, được chia thành các nhóm tuổi phù hợp: 4 đến 6 tuổi; 7 đến 10 tuổi; 11 đến 15 tuổi.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 4

Không gian trải nghiệm mỹ thuật dành cho các em nhỏ trong khuôn khổ chương trình. Ảnh: BTC

Hội đồng Ban Giám khảo gồm những chuyên gia uy tín trong lĩnh vực mỹ thuật và di sản, gồm: PGS.TS Trần Thị An, Giảng viên cao cấp Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội; TS. Nhà nghiên cứu Mỹ thuật Trần Hậu Yên Thế, giảng viên Trường Khoa học Liên ngành và nghệ thuật Đại học Quốc Gia Hà Nội; Giám tuyển – họa sĩ Nguyễn Thế Sơn, giảng viên của Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Ths. Bùi Hà Trang, giảng viên Khoa Công Nghiệp Văn Hóa và Di sản – Nghiên cứu sinh ngành Di sản học – Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc Gia Hà Nội; Ths. Nguyễn Hoàng Minh, Giám đốc Xưởng nghệ thuật ART TREE.

Về cầu đối với tác phẩm dự thi, mỗi thí sinh được gửi tối đa 2 tác phẩm, kích thước khổ A3.

Thí sinh có thể có nhiều cách thể hiện bài thi: bằng tranh vẽ, poster, tác phẩm thủ công từ vật liệu tái chế, vẽ bằng phần mềm máy tính.

Chất liệu để thể hiện không giới hạn: màu sáp, màu dạ, màu bột, màu nước, phấn màu, acrylic, giấy màu, chất liệu tái chế, các chất liệu sáng tạo khác…

Các tác phẩm dự thi cần thể hiện được thông điệp chủ đề của cuộc thi và thể hiện chủ đề một cách sáng tạo và sinh động.

Riêng đối với 2 nhóm tuổi từ 7–10 và 11–15, mỗi tác phẩm cần đính kèm bản thuyết minh ngắn không quá 100 từ, nhằm làm rõ ý tưởng hoặc câu chuyện được thể hiện bằng hình ảnh.

Ngoài ra, thí sinh có thể tự quay 1 video giới thiệu tranh dự thi để tranh giải “Sứ giả Di sản” gửi qua fanpage Xưởng nghệ thuật ART TREE.

Khơi nguồn tình yêu di sản qua cuộc thi “Di sản trong mắt em” - 5

Tọa đàm của các chuyên gia trong lĩnh vực nghệ thuật – di sản – giáo dục.

Ảnh: Huyền Thương

Không chỉ là một cuộc thi, “Di sản trong mắt em” còn hướng tới trở thành một chương trình giáo dục – nghệ thuật có tính lan tỏa xã hội, góp phần kết nối cộng đồng và nâng cao nhận thức về giá trị di sản trong đời sống đương đại.

Trong khuôn khổ chương trình, đã diễn ra phiên tọa đàm với sự tham gia của những chuyên gia trong lĩnh vực nghệ thuật, di sản và giáo dục.

Cùng với đó, không gian trải nghiệm mỹ thuật dành cho học sinh được thiết kế như một điểm nhấn, tạo cơ hội để các em trực tiếp khám phá, sáng tạo và nuôi dưỡng cảm thụ nghệ thuật.

Ban Tổ chức nhận bài dự thi từ ngày 28/3 đến hết ngày 4/5/2026. Thí sinh gửi bài dự thi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện tại Xưởng nghệ thuật ART TREE (số 41, ngõ 168 đường Hào Nam, Quận Đống Đa, TP Hà Nội). Hoặc qua đường link Google Form do ART TREE cung cấp với tác phẩm vẽ hình thức digital.

Ban Tổ chức sẽ trao 1 giải Kim cương, 3 giải Vàng, 6 giải Bạc, 1 giải “Sứ giả Di sản”, 1 giải “Đại sứ Ước mơ”, 1 giải “Họa sĩ Di sản số”, 3 giải “Kết nối Di sản”, 1 giải “Dấu ấn Văn Miếu”, 1 giải “Nhà sáng tạo Hồng Hà”.

Lễ trao giải và triển lãm top 60 tác phẩm dự kiến được diễn ra ngày 10/5/2026, tại Hà Nội.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Hẹn ngoài vô tận (tản văn)


Còn lại một mình, tôi ngồi tựa lưng vào gốc liễu già sần sùi, nhìn ngắm con chim Rẽ đang háo hức ăn. Với sự chứng nhận của lão ngư – người tốt, chim đã có thể xem tôi vô hại…

“Ping!…”, tin nhắn của Akiko, cô chủ trang Heart for Wild Bird từ Nhật, kéo tôi khỏi chuỗi nghĩ nhớ êm ả mà linh tinh.

“Facebook vừa nhắc một kỷ niệm ấn tượng của ông: Đàn chim Sanderlings/ Rẽ cổ xám từ Bắc bán cầu đến trú đông tại bờ biển nhiệt đới Đà Nẵng. Tôi chia sẻ và giới thiệu lên trang của nhóm nhé?”

“Tất nhiên rồi, tks!”

Tôi gõ đáp, bỗng sực nhớ đang vào mùa chim biển di cư, liền xóa đi viết lại.

“Xin lỗi, cho tôi thêm chút thời gian. Tôi không muốn lặp lại. 5 giờ sáng mai tôi sẽ có mặt ở bờ biển, nơi đàn chim Rẽ ấy vẫn xuất hiện đúng hẹn hàng năm, vào cữ này, mỗi lần từ ba đến bốn ngày, hy vọng chúng vẫn còn ở đó, và Akiko sẽ nhận được ảnh mới, cùng status mới của tôi. Ok?”

“Great!”

Chuyện là, năm trước nhờ tình cờ đọc thấy thông báo của một nhà nhiếp ảnh người Úc chuyên săn ảnh các loài chim nước di cư, tôi có cơ hội gặp và quan sát loài chim Rẽ này. Không chỉ cung cấp bản đồ, lịch trình di trú của chim, nhà nhiếp ảnh còn kèm đường link đến các bài viết liên quan, đọc rất thú vị.

Nhờ vậy, tôi biết Rẽ cổ xám có nguồn gốc vùng Bắc Cực, là loài chim di cư phổ biến nhất trên thế giới, quanh năm lang thang khắp ven biển các châu lục, trừ Nam Cực (cũng dễ đoán ra lý do), và thường với số lượng áp đảo những loài chim di cư khác. Chỉ riêng ở Bắc Mỹ, giới điểu học ước tính có khoảng 300.000 chim Rẽ cổ xám xuất hiện vào mỗi cuối thu.

Hẹn ngoài vô tận (tản văn) - 1

Đàn chim Sanderlings/ Rẽ cổ xám từ Bắc bán cầu đến trú đông tại bờ biển nhiệt đới Đà Nẵng. Ảnh: Huynh Ngoc Chenh

Loài này xếp vị trí thứ hai trong vài loài chim di trú bé nhất, chỉ sau Hummingbird/ chim Ruồi. Nhưng lộ trình rong chơi của chúng lại ở top dẫn đầu. Mỗi mùa di trú chúng bay từ 3.000 đến 10.000 dặm, tỏa khắp các bãi biển ôn đới và nhiệt đới. Cùng một lúc, người ta có thể bất ngờ bắt gặp chúng ở những nơi rất xa nhau về địa lý và khác biệt nhau về khí hậu như Tacoma (Bắc Mỹ), Tierra del Fuego (Nam Mỹ), Thái Lan, Việt Nam ở Đông Nam Á…

Nhớ chiều hôm ấy nắng dịu và bầu trời la đà trên vịnh Đà Nẵng. Nên chi hơn trăm con nhưng đàn chim Rẽ màu trắng xám vẫn có thể “tàng hình” trên nền mây bạc, để bất thần vụt hiện ra chóa lóa ngược sáng khi còn cách tôi chừng trăm bước chân, nhắm thẳng hướng đất liền. Cả đàn bỗng đảo cánh lượn dọc bờ biển, thấp muốn chạm bọt nước tung lên, trông như một luồng cuồng phong tinh nghịch, cất tiếng reo náo động, át cả âm vang của muôn trùng sóng. Rồi, cũng đột ngột như khi xuất hiện, chúng vút lên cao, cao mãi, tiếp tục trò giấu hình dưới bóng mây, và mất hút. Tất cả diễn ra chưa tới một phút, là khoảnh khắc tôi choáng ngợp, vuột mất loạt ảnh vàng đầu tiên. Nhưng cái mất ấy sá gì so với được đắm mình trong thứ ánh sáng giao hòa giữa con người và hoang dã. Với tôi ảnh xếp sau chạm, cảm.

Đến vòng lượn thứ hai đàn chim Rẽ mới thật sự đáp xuống dải cát vàng được nhà xuất bản du lịch hàng đầu thế giới Lonely Planet bình chọn vào danh mục một trăm bãi biển đẹp nhất hành tinh, cũng là nơi rừng Sơn Trà dầm chân từ thuở hồng hoang.

Mỗi làn sóng biển vỗ bờ luôn mang theo ít nhiều thức ăn miễn phí cho chim trời. Thực đơn khá phong phú, bao gồm động vật thân mềm nhỏ, ốc non, trứng cua, các loại ấu trùng, và liên tục được bổ sung trong khoảng thời gian giữa hai làn sóng gối đầu, nhưng rõ ràng là vẫn khiêm tốn so với số lượng “thực khách”. Tôi biết khái niệm tiệc đứng/ buffet, nhưng không chắc trong lịch sử nghệ thuật ẩm thực của loài người có hay không loại hình “tiệc chạy” như đang chứng kiến lần đầu, và nếu có thì thuật ngữ quốc tế nào là thích hợp.

Từ mép bờ, đàn chim Rẽ chen chúc dàn hàng ngang vừa chạy đuổi theo làn sóng đang rút nhanh ra biển vừa dùng mỏ dài đen như những đôi đũa gỗ mun gắp nhặt hối hả thức ăn may mắn phát hiện được trên mặt cát mịn ẩm. Chỉ vài giây sau đó, làn sóng mới đã kịp nhào lên. Lập tức đàn Rẽ quay đầu hớt hãi chạy thoát thân. Để rồi khi lưỡi sóng hụt hơi chững lại và bắt đầu rút, chúng liền đảo ngược hướng, lao theo bữa tiệc di động mới bày ra. Nhịp con thoi tốc độ cao, cứ vậy lặp lại không chán. Trông tất bật nhưng vui vẻ như một lũ trẻ mải nghịch. Có lẽ với tập tính vừa ăn vừa chạy điên cuồng như vậy mà Rẽ cổ xám là loài sáo duy nhất không có ngón chân thứ tư hướng về phía sau, kết quả của tiến hóa cơ thể để thích nghi môi trường sinh tồn và “phong cách” ẩm thực độc đáo.

Khi Akiko nhắn tin, rằng Facebook vừa nhắc tấm ảnh đàn chim Rẽ chụp vào ngày này năm trước, tôi sực nhớ, theo những nhà chụp ảnh động vật hoang dã giàu kinh nghiệm thì hàng năm chim Rẽ luôn quay lại các bãi ăn dọc hành trình trốn tuyết rất đúng kỳ hạn. Tôi từng đọc, ở Borneo chim Rẽ đúng hẹn đến mức ngày xưa nông dân trên đảo từng dựa vào sự xuất hiện của chúng để tính lịch trồng trọt. Lâu dần thành phản xạ tự nhiên, ở những vùng ấm áp được cho là “đất lành” của các loài chim di, người dân có thói quen ngóng trông những cánh chim trời xứ tuyết xa xôi, để rồi xót xa, thương nhớ khi chúng không thể xuất hiện vì những lý do bí ẩn nào đó. Và cũng từ đó, sự vắng mặt bất thường của chim di luôn chứa đựng những cảnh báo, thường là chẳng lành, về biến đổi khí hậu, thậm chí chiến tranh. 

Và điều đó đang xảy ra với tôi lúc này.

Gần hai tiếng đồng hồ chờ đợi đã trôi qua. Góc biển vắng lặng quá, như thể nơi này chưa từng là điểm dừng trên lộ trình trú đông của đàn chim Rẽ hơn trăm cá thể.

Khoảng 7 giờ sáng, một thuyền thúng câu mực đêm ở ven bờ cặp bến, có lẽ là chiếc về muộn nhất.

Lúc giúp lão ngư kéo thuyền lên bãi, tôi hỏi thăm tình hình đàn chim Rẽ, giọng không giấu được ái ngại.

“Năm nay nước biển lạnh sớm, chim di cũng đến sớm hơn. Chúng rời khỏi đây hai hôm rồi”

Tôi thấy mình trút được nỗi lo lắng cho đàn chim, toan chào và quay về, thì ông cụ nhớ ra, “Vẫn còn một con. Mấy năm rồi, năm nào nó cũng ghé lại đây, nhưng đi lẻ…”.

Thấy tôi háo hức muốn biết thêm, lão ngư giải thích: “Con chim Rẽ này bị què, không theo kịp bầy đàn. Qua vết thương đã lành, có thể đoán cẳng chân trái của nó từng bị mắc bẫy lưới, do cố vùng thoát nên tuột cả thịt gân, còn trơ mỗi ống xương. Biết nó không còn khả năng chạy đua với các làn sóng lên-xuống để nhặt nhạnh cái ăn, nên mỗi lần nó quay lại, là bà con ngư dân thương tình bồi bổ, để cho nó còn có sức bay tiếp về Nam”.

Tôi theo lão ngư đi về hướng chân núi Sơn Trà, nơi chú chim Rẽ nấp gió bên một ghềnh đá. Nhận ra người quen thân, nó dạn dĩ bay ra, nhảy lò cò theo chân lão ngư. Từ xa, dễ tưởng nhầm một chú vịt con đang quấn bên chủ đòi bữa.

Tôi nằm áp lên mặt cát để có bức ảnh đặc tả cái chân đã khô héo quá nửa của con chim đáng thương, tự hỏi phải chăng nhờ nước biển và không khí biển mà vết thương chí tử kia đã không ung thối.

Xem lại tấm ảnh vừa bấm xong, tôi đọc ra lời nhắn nhủ: Không nên viện dẫn bất cứ lý do gì để từ bỏ bầu trời, mặt biển, cuộc sống. Bay được cứ bay dù bản thân khiếm khuyết, dù có lẻ đàn chăng nữa.

Tôi cũng muốn những kẻ đánh bẫy chim ngoài kia xem được ảnh này để dừng tay lại.

Một bữa trứng mực được bày trên mặt đá bằng phẳng, đúng nghĩa buffet tiệc đứng.

Xong phần việc từ tâm, lão ngư trở lại chiếc thuyền thúng, chuyển hàng đến khu chợ hải sản tươi sống gần đấy.

Còn lại một mình, tôi ngồi tựa lưng vào gốc liễu già sần sùi, nhìn ngắm con chim Rẽ đang háo hức ăn. Với sự chứng nhận của lão ngư – người tốt, chim đã có thể xem tôi vô hại.

Chúng tôi cách nhau chừng hai mét. Khoảng cách không tưởng giữa một con người và một cánh chim trời hoang dã.

Lát sau, xong bữa tiệc ngon, con chim thư thả hong nắng, tỉa lông.

Như đã hứa, tôi hứng khởi post tấm ảnh mới nhất lên trang của Akiko.

“Ping!…”

“Ping!…”

“Ping!…”

Loạt chuông báo nhận được bình luận từ Akiko và các bạn trong nhóm vang lên bất ngờ khiến chim Rẽ giật mình, tung bay.

Bay cao.

Cao mãi.

Sau một giây ngơ ngác nghẹn ngào tiếc nuối hối lỗi tôi vẫy tay chào cánh chim cô lẻ đã ngoài vô tận, hẹn thầm mùa thu năm tới.

Tản văn của Vĩnh Quyền




Nguồn: Arttimes.vn

Từ “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” đến những nỗi day dứt không nguôi


“Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của Hồ Anh Thái là một tiểu thuyết gợi nên sự khắc khoải. Đó là sự khắc khoải của một con người liên tục lỡ nhịp với thời gian, của những thân phận đi qua lịch sử mà không bao giờ thực sự làm chủ được số phận mình, và cũng là sự khắc khoải của chính người đọc khi nhận ra ranh giới giữa đời sống và văn bản trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Cuốn tiểu thuyết được xây dựng theo cấu trúc siêu hư cấu (metafiction), truyện lồng trong truyện. Mạch truyện thứ nhất xoay quanh người đàn ông trong không gian sân bay – một chốn “phi nơi chốn” điển hình của thế giới hiện đại. Những chi tiết tưởng chừng vụn vặt như hành lý quá cân, tranh cãi với nhân viên hàng không, hay sự nhầm lẫn về giờ giấc lại được Hồ Anh Thái khai thác đầy hài hước.

Không gian sân bay hiện lên như một “kho chuyện” sống động, nơi hội tụ đủ kiểu người, đủ tình huống, đủ những va chạm văn hóa và tâm lý. Nhưng đằng sau sự hài hước ấy là một cảm giác bất ổn: nhân vật dường như mắc kẹt trong một “vòng lặp thời gian”, liên tục trượt khỏi điểm hẹn với hiện tại.

Từ “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” đến những nỗi day dứt không nguôi - 1

Cuốn tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của Hồ Anh Thái.

Mạch truyện thứ hai – bản thảo mà nhân vật đọc được lại mở ra một không gian hoàn toàn khác: lịch sử Việt Nam từ năm 1949 đến những năm đầu thế kỷ XXI, qua số phận của ba thế hệ phụ nữ trong một gia đình.

Câu chuyện bắt đầu với “nàng” – một tiểu thư Hà Nội lưu lạc gia đình trong kháng chiến, đến khi trở về thành phố thì sa vào những tình huống oái oăm, bị lạm dụng và chịu tổn thương cả về thể xác lẫn tinh thần. Chính ở đây, ngòi bút đặc sắc của nhà văn đã tạo nên một hình tượng vô cùng sống động: nàng, từ một tiểu thư liễu yếu đào tơ, trong khúc quanh của lịch sử, đã khôn khéo trở thành một me Tây đáo để, sắc sảo và thành đạt.

Thế hệ thứ hai – con gái của “nàng”, lớn lên trong bối cảnh chiến tranh chống Mỹ, mang trong mình những rung động tình cảm trong trẻo với một anh “lính năm đồng”. Qua câu chuyện của cô, tác giả Hồ Anh Thái đã khắc họa rất thành công những cảm xúc riêng tư của con người cá nhân trong thời kỳ nhiều biến loạn.

Đến thế hệ thứ ba, tác phẩm dịch chuyển không gian sang nước Mỹ với câu chuyện về người cháu gái. Ở đây những vấn đề về căn cước, về sự nhầm lẫn sắc tộc và nỗ lực khẳng định bản thân trở nên nổi bật.

Cuốn tiểu thuyết kết thúc bằng cuộc gặp gỡ giữa hai thế hệ, nhưng thay vì sự hòa giải trọn vẹn, đó lại là dư âm của những chua chát, đứt gãy. Nhìn lại chặng đường dài dằng dặc ấy, có thể thấy số phận éo le, nhưng cũng đồng thời cả sức sống đặc biệt, của con người Việt Nam trong những thời điểm đất nước diễn ra cuộc chuyển mình lớn lao. Hai mạch truyện – một ở sân bay, một trong bản thảo không chỉ bổ sung mà còn chất vấn lẫn nhau, tạo nên một cấu trúc mở, giàu tính đối thoại.

Từ “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” đến những nỗi day dứt không nguôi - 2

Các diễn giả tại tọa đàm Đọc Hồ Anh Thái qua “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” do Nhã Nam tổ chức nhân dịp cuốn sách được ra mắt.

Từ những trao đổi tại tọa đàm do Nhã Nam tổ chức nhân dịp ra mắt cuốn tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân, với sự tham gia của các diễn giả: nhà thơ Hữu Việt, nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ và PGS. TS. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch, tác phẩm mới nhất của nhà văn Hồ Anh Thái đã được tiếp cận và diễn giải đa chiều trong bối cảnh văn học đương đại.

Theo các diễn giả, vẫn là phong cách ưa giễu nhại, giàu chất trí tuệ, và đặc biệt nhạy bén với những nghịch lý của đời sống, Hồ Anh Thái đưa đến bạn đọc cuốn tiểu thuyết mà ông đã dành nhiều năm để nghiền ngẫm. Tuy nhiên, tác phẩm không chỉ dừng lại ở sự chất vấn về mối quan hệ người đọc – tác giả, mà trong nó còn một câu chuyện khác, một bức tranh lớn lao về lịch sử đất nước, về những cuộc chiến tranh, những náo động của thời cuộc xuyên suốt gần một thế kỷ, và cả ở đó những phận người, những éo le, bi kịch và yêu thương khôn nguôi.

Hồ Anh Thái không kể theo giọng bi tráng quen thuộc, thay vào đó, ông thường xuyên “hạ giọng” bằng những chi tiết đời thường, thậm chí có phần trớ trêu. Một tiểu thư Hà Nội, sau những biến động dữ dội, lại bước vào nhà ả đào và từ đó vươn lên thành người làm chủ. Sự “đổi đời” này mang sắc thái nửa nghiêm túc, nửa mỉa mai, như thể số phận con người luôn chứa đựng một yếu tố ngẫu hứng khó lường.

Những câu chuyện về chiến tranh vốn dễ rơi vào khuôn mẫu sử thi lại được tác giả nhìn qua những chi tiết rất “đời”: những rung động đầu đời, những ước mơ nhỏ bé, hay cả chuyện một người lính khao khát ra trận nhưng lại không được đi. Chính sự “trật khớp” giữa kỳ vọng lớn lao và thực tế đời thường này tạo nên một dạng hài hước đặc trưng: không phải để cười to, mà để nhận ra những trớ trêu của lịch sử khi đi qua đời sống cá nhân.

Từ “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” đến những nỗi day dứt không nguôi - 3

Nhà văn Trần Thị Trường chia sẻ tại tọa đàm.

Chia sẻ tại tọa đàm, nhà văn Trần Thị Trường cho biết, Hồ Anh Thái luôn mang đến cho bà sự ngạc nhiên trong sáng tạo. Không chỉ kỹ lưỡng trong việc lựa chọn chữ và nghĩa, ông còn không ngừng làm mới ở hình thức câu văn.

Nhà văn Trần Thị Trường cũng bày tỏ sự thích thú trước những trang viết về sự sống và cái chết, cùng những triết lý về Phật, về cõi tạm được thể hiện một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu, tạo hiệu quả sâu sắc hơn nhiều so với những trang giáo điều dài. Theo bà, chính điều đó khiến tác phẩm của Hồ Anh Thái không gây nhàm chán; càng đọc, càng ngẫm lại càng thấy hấp dẫn, và mỗi lần đọc lại, người đọc lại phát hiện thêm một tầng ý nghĩa mới.

Ở tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã “tiểu thuyết hóa” ý niệm “cái chết của tác giả” một cách sinh động. Người đàn ông đọc bản thảo và nhận ra mình là tác giả, đó không chỉ là một cú xoay chuyển cốt truyện, mà là sự gợi mở sâu sắc đến một lý thuyết văn học. Tác phẩm không còn thuộc về người viết ban đầu, bản thảo được “phát tán” trong không gian công cộng, trao quyền đánh giá và diễn giải cho người đọc. Từ đó, hành vi đọc trở thành một hành vi sáng tạo. Người đọc không chỉ tiếp nhận mà còn tái cấu trúc văn bản, gán cho nó những ý nghĩa mới, và theo nghĩa đó, trở thành một “tác giả”.

Điều thú vị là Hồ Anh Thái không trình bày luận điểm này một cách trực tiếp, mà để nó “hiện hình” qua trải nghiệm của nhân vật. Người đọc, khi theo dõi hành trình ấy, cũng bị cuốn vào trò chơi: liệu ta có thực sự chỉ là người đọc, hay cũng đang góp phần “viết lại” câu chuyện?

Nhà văn Hồ Anh Thái từng giữ chức chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội hai nhiệm kỳ (2000-2010). Ông là nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng đi nhiều nơi và được bổ nhiệm làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam tại một số nước. Ngoài ra, ông cũng là nhà nghiên cứu văn hóa phương Đông, thỉnh giảng ở Đại học Washington và một số đại học nước ngoài. Hồ Anh Thái đã xuất bản hơn năm mươi cuốn sách thuộc nhiều thể loại, trong đó, một số tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được ấn hành ở nhiều nước.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn