Home Blog Page 34

Phát huy truyền thống hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc, nâng tầm kết nối chiến lược trong giai đoạn phát triển mới


Trước thềm chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài viết đăng trên Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc – với tiêu đề: “Phát huy truyền thống hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc, nâng tầm kết nối chiến lược trong giai đoạn phát triển mới”. Thời báo Văn học nghệ thuật xin trân trọng giới thiệu bài viết đến bạn đọc.

Nhận lời mời của đồng chí Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tôi và Đoàn đại biểu cấp cao sẽ thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 đến 17/4/2026. Đây là hoạt động đối ngoại cấp Nhà nước đầu tiên của tôi ngay sau khi được Quốc hội khoá XVI bầu giữ chức Chủ tịch nước. Tôi gửi gắm tình cảm chân thành, sự trân trọng và ưu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nước cũng như mong muốn của Nhân dân Việt Nam cùng Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống hữu nghị, nâng tầm kết nối chiến lược và cùng nhau đề ra những tầm nhìn phát triển mới cho quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong kỷ nguyên mới.

Phát huy truyền thống hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc, nâng tầm kết nối chiến lược trong giai đoạn phát triển mới - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tại Lễ đón trọng thể Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam ngày 14/4/2025. Ảnh: Sơn Tùng

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”, có nhiều nét tương đồng về văn hoá. Quan hệ giữa hai dân tộc được bồi đắp qua giao lưu lâu dài trong lịch sử và được thử thách, tôi luyện qua thời gian. Trong quan hệ giữa các quốc gia láng giềng, điều có ý nghĩa bền vững nhất là biết nhìn nhận quan hệ từ tầm cao chiến lược với tầm nhìn lâu dài; biết trân trọng những giá trị đã được các thế hệ đi trước dày công vun đắp; biết đặt lợi ích căn bản, lâu dài của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Đó cũng là cách Việt Nam nhìn nhận và phát triển quan hệ với Trung Quốc.

Trong suốt hơn 100 năm qua, cách mạng Việt Nam gắn bó sâu sắc với cách mạng Trung Quốc. Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, lãnh tụ kính yêu của Nhân dân Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Hội), chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trụ sở của Hội tại đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu, Trung Quốc và sự kiện ra đời của Báo Thanh Niên đã trở thành những địa danh và dấu mốc không thể tách rời khỏi lịch sử cách mạng Việt Nam. Đầu năm 1941, từ Quảng Tây, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Pác Bó, Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mở ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc của Nhân dân Việt Nam.

Tình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc được các thế hệ lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp, từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai đến nhiều thế hệ những người cộng sản và nhân dân hai nước. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, hai bên đã dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu. Bước sang giai đoạn xây dựng đất nước, hai nước lại cùng kiên trì lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình, cùng tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế, qua đó đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng sự hỗ trợ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc dành cho Việt Nam trong các giai đoạn khó khăn.

Năm 2026 đánh dấu 76 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Trong suốt chặng đường đó, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vượt qua thử thách thăng trầm, song hữu nghị và hợp tác vẫn là dòng chảy chính. Thực tiễn lịch sử cho thấy quan hệ tốt đẹp, bền vững giữa hai nước phù hợp với lợi ích thiết thực của Nhân dân Việt Nam – Trung Quốc và có lợi cho hoà bình, phát triển của khu vực.

Với nhận thức quan trọng đó, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc luôn được hai Đảng, hai nước quan tâm vun đắp. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hoá, đa dạng hoá. Đảng, Nhà nước Trung Quốc cũng xác định Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong ngoại giao láng giềng và có vị trí quan trọng trong đường lối đối ngoại tổng thể của Trung Quốc. Đó không chỉ là sự kế thừa của lịch sử, mà còn là lựa chọn xuất phát từ lợi ích căn bản, lâu dài của hai nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân hai nước và yêu cầu giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển trong giai đoạn mới.

Trên nền tảng quan hệ láng giềng hữu nghị, coi trọng lẫn nhau và hợp tác bình đẳng, những năm qua, Lãnh đạo cao nhất hai bên đã kịp thời đưa ra những quyết sách đúng đắn, từ việc xác định phương châm “16 chữ”, tinh thần “4 tốt”, đến thiết lập khuôn khổ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược và thúc đẩy quan hệ theo định hướng “6 hơn”. Điều quan trọng không chỉ là những khái niệm mới, mà là ở chỗ hai bên đã cùng khẳng định cần nhìn nhận và phát triển quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ tầm cao chiến lược với tầm nhìn lâu dài, coi sự phát triển của Bạn là cơ hội phát triển của mình.

Với những nhận thức chung đó, trao đổi cấp cao giữa hai Đảng, hai nước được duy trì thường xuyên hơn; các cơ chế hợp tác trên tất cả kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội/Nhân đại, Mặt trận Tổ quốc/Chính hiệp được triển khai đồng bộ hơn. Tháng 3 vừa qua, hai nước đã tổ chức thành công rất tốt đẹp Đối thoại chiến lược “3+3” cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng, Công an lần thứ nhất, là bước phát triển mới trong hợp tác kết nối chiến lược giữa hai nước, cho thấy quan hệ song phương đang đi vào chiều sâu hơn, thực chất hơn.

Bất chấp tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương không ngừng phát triển. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 tăng trưởng ấn tượng với hai con số; Việt Nam duy trì vị thế đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong các nước ASEAN và lớn thứ tư của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu; Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Hợp tác kết nối chuỗi cung ứng, logistics, hạ tầng, khoa học, công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh đều tiến triển nhanh. Hai nước quyết tâm đẩy mạnh hợp tác kết nối đường sắt, ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn khu vực phía Bắc Việt Nam được cả hai bên chủ động thúc đẩy, đạt đột phá tích cực.

Giao lưu nhân dân tiếp tục phát triển sâu sắc hơn, tạo nền tảng xã hội ngày càng vững chắc hơn cho quan hệ song phương. Năm Giao lưu nhân văn Việt Nam – Trung Quốc 2025 được triển khai bằng nhiều hoạt động phong phú; các chương trình giao lưu thanh niên, học giả, địa phương và văn hoá được đẩy mạnh. Chương trình “Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập của thanh niên Việt Nam ở Trung Quốc” do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và tôi cùng khởi động từ tháng 4/2025 đã được triển khai tích cực, thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Thông qua đó giúp thế hệ trẻ hai nước hiểu nhau rõ hơn, nhận thức sâu sắc hơn về truyền thống hữu nghị, ý thức sâu sắc hơn về sứ mệnh trở thành lực lượng có chí hướng tiếp bước thế hệ cha anh, tiếp tục vun đắp cho quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Phát huy truyền thống hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc, nâng tầm kết nối chiến lược trong giai đoạn phát triển mới - 2

Ngày 20/3/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm dự chương trình Gặp gỡ lưu học sinh, sinh viên Việt Nam-Trung Quốc các thời kỳ, do Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, ngành liên quan tổ chức. 

Để quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đạt được những thành quả toàn diện, thực chất như ngày hôm nay, yếu tố quan trọng hàng đầu là sự chân thành, tin cậy, hiểu biết lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; sự chung tay, vào cuộc quyết liệt, sự ủng hộ mạnh mẽ, nỗ lực bền bỉ của các ban, bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân hai nước. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam hết sức trân trọng tình cảm hữu nghị, tâm huyết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đối với từng bước phát triển của quan hệ Việt – Trung trong những năm qua.

Thế giới đang trải qua những biến chuyển mang tính thời đại rất sâu sắc, tạo ra cả cơ hội và thách thức lớn. Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV với hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị Việt Nam cũng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính cho phát triển nhanh và bền vững. Về phía Trung Quốc, năm 2026 mở đầu cho thời kỳ thực hiện Quy hoạch 5 năm lần thứ 15 với trọng tâm phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học – công nghệ, chuyển đổi xanh và mở cửa ở trình độ cao hơn.

Chính từ yêu cầu mới của thời đại và từ những nhiệm vụ phát triển mới của mỗi nước, theo tôi, hai bên cần cùng tập trung làm tốt bốn việc lớn.

Trước hết, cần tiếp tục củng cố nền tảng chính trị của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng vững chắc hơn. Định hướng chiến lược của lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước có vai trò quyết định đối với sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ song phương. Vì vậy, cần tiếp tục duy trì thường xuyên trao đổi cấp cao, tăng cường chia sẻ chiến lược, phát huy tốt vai trò của các cơ chế hiện có, đồng thời triển khai hiệu quả hơn hợp tác trên tất cả các kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội/Nhân đại, Mặt trận Tổ quốc/Chính hiệp, cũng như giữa các ngành, các cấp. Quan hệ càng có tin cậy chiến lược sâu thì càng có điều kiện để mở rộng hợp tác thực chất và xử lý tốt hơn những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

Thứ hai, cần tạo bước chuyển mạnh hơn trong hợp tác thực chất, lấy kết quả cụ thể làm thước đo. Trong giai đoạn tới, hợp tác giữa hai nước cần chuyển mạnh từ “tăng quy mô” sang “nâng chất lượng”; từ mở rộng giao thương sang kết nối sâu hơn giữa các chiến lược phát triển, các hành lang kinh tế, các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng và hạ tầng chiến lược. Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc đẩy nhanh triển khai các dự án kết nối đường sắt, đường bộ cao tốc, hạ tầng thương mại biên giới (logistics, cửa khẩu thông minh…); thúc đẩy thương mại phát triển cân bằng, lành mạnh và bền vững hơn; tạo điều kiện để đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam ngày càng tập trung hơn vào những lĩnh vực Việt Nam ưu tiên và Trung Quốc có thế mạnh.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành điểm nhấn mới của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Việt Nam đang đặt lĩnh vực này vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước; Trung Quốc cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học – công nghệ và các lực lượng sản xuất mới. Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực này vừa có ý nghĩa phát triển kinh tế, vừa có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực tự chủ của mỗi quốc gia.

Thứ ba, cần làm sâu sắc hơn nữa nền tảng xã hội của quan hệ hai nước. Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thực sự bền vững khi được nuôi dưỡng, bồi đắp trong lòng nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy kết quả của Năm Giao lưu nhân văn Việt Nam – Trung Quốc 2025; tạo bước đột phá thực sự trong phát triển, hợp tác du lịch 2026 – 2027, mở rộng hơn giao lưu thanh niên, giáo dục, du lịch, văn hoá, báo chí, địa phương; khai thác hiệu quả hơn những “địa chỉ đỏ” của lịch sử cách mạng hai nước để giáo dục truyền thống và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Tôi mong rằng ngày càng có nhiều sinh viên, nhà khoa học trẻ, doanh nhân trẻ hai nước đến với nhau trong các chương trình học tập, nghiên cứu, khởi nghiệp và trao đổi thực tiễn, bởi chính họ sẽ viết tiếp chương mới của quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong thế kỷ XXI.

Thứ tư, cùng với mở rộng hợp tác, hai bên cần tiếp tục giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định, kiểm soát tốt bất đồng và xử lý thoả đáng những vấn đề còn tồn tại. Trong quan hệ giữa hai nước láng giềng, giá trị của quan hệ tốt đẹp không chỉ thể hiện ở những lĩnh vực hợp tác thuận lợi, mà còn thể hiện ở năng lực cùng nhau xử lý khác biệt bằng đối thoại, kiềm chế, tôn trọng lẫn nhau và trách nhiệm với tổng thể quan hệ hai nước. Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở nhận thức chung cấp cao, luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của mỗi bên; đồng thời tăng cường phối hợp tại các cơ chế đa phương, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với ý chí và khát vọng rất lớn. Chúng tôi hiểu rõ rằng muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải giữ vững môi trường hoà bình; muốn thực hiện thành công các mục tiêu đến năm 2030 và 2045 thì phải phát huy cao nhất nội lực, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế hiệu quả trên cơ sở độc lập, tự chủ. Trong toàn bộ định hướng đó, quan hệ với Trung Quốc luôn được Việt Nam xác định là một ưu tiên chiến lược. Điều này xuất phát từ sự gần gũi về địa lý, sự gắn bó của lịch sử, có nhiều nét tương đồng về văn hoá, lợi ích đan xen ngày càng sâu về phát triển, và từ trách nhiệm chung của hai nước đối với hoà bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.

Tôi tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với hạt nhân là đồng chí Tập Cận Bình, nhân dân Trung Quốc sẽ tiếp tục thực hiện thắng lợi Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ 15, đạt thêm nhiều thành tựu mới trong công cuộc hiện đại hoá đất nước. Việt Nam luôn coi sự phát triển ổn định, chất lượng cao của Trung Quốc là nhân tố quan trọng đối với hoà bình, hợp tác và phát triển ở khu vực, đồng thời là cơ hội cho các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam.

Tôi cũng tin tưởng rằng, với nền tảng hữu nghị do các thế hệ tiền bối hai nước dày công vun đắp, với nhận thức chung cấp cao đã được xác lập, với quyết tâm của các cấp, các ngành, các địa phương và với sự đồng hành của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc nhất định sẽ tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh, bền vững lâu dài, mang lại lợi ích thiết thực hơn cho hai Đảng, Nhà nước và Nhân dân hai nước, đóng góp tích cực hơn cho hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Chuyến thăm lần này của tôi tới Trung Quốc diễn ra với tinh thần đó, với kỳ vọng đó, và với mong muốn cùng các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục mở ra một không gian phát triển mới, nâng tầm kết nối chiến lược giữa hai nước trong thời gian tới.




Nguồn: Arttimes.vn

Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2: Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng


Sáng 13/4, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương trình bày Chuyên đề “Quy định thi hành Điều lệ Đảng”.

Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2: Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng - 1

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương giới thiệu chuyên đề “Quy định thi hành Điều lệ Đảng”. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng; căn cứ đề xuất của các cấp ủy trực thuộc Trung ương, cơ quan, đơn vị ở Trung ương và ý kiến góp ý của các cấp ủy trực thuộc Trung ương, các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương; sau khi xem xét, Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Quy định thi hành Điều lệ Đảng. Ngày 8/4/2026, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 20-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng (thay thế Quy định số 294-QĐ/TW, ngày 26/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII).

Quy định thi hành Điều lệ Đảng (Quy định số 20-QĐ/TW) được xây dựng trên cơ sở bám sát các nguyên tắc: Bảo đảm tuân thủ Điều lệ Đảng; Sửa đổi, bổ sung những nội dung đã được thực tế chứng minh là đúng, được đa số cấp ủy, tổ chức đảng đồng tình đề xuất và thuộc thẩm quyền quy định của Ban Chấp hành Trung ương; Cập nhật, bổ sung một số nội dung mới, quan trọng liên quan đến thi hành Điều lệ Đảng đã được Trung ương đề ra trong nhiệm kỳ khóa XIII và một số nội dung thực tiễn đặt ra, cần Trung ương cho chủ trương thí điểm thực hiện để tổng kết, rút kinh nghiệm.

Quy định gồm 33 mục, trong đó, giữ 12 mục như Quy định 294 và bổ sung, sửa đổi một số nội dung cụ thể về trình độ học vấn của người vào Đảng; về thời hạn tổ chức lễ kết nạp và công nhận đảng viên chính thức; về xử lý các trường hợp kết nạp người vào Đảng và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; về phát thẻ và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên; về việc đảng viên xin miễn công tác và sinh hoạt đảng; thời hạn hoàn thành giải quyết khiếu nại về xóa tên đảng viên; quy chế làm việc của cấp ủy; thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình; một số quy định về hệ thống tổ chức của Đảng; cấp ủy triệu tập đại hội quyết định và thông báo thời gian khai mạc đại hội đối với những đảng bộ thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập; tham gia đoàn đại biểu dự đại hội của đại biểu chính thức chuyển công tác và sinh hoạt đảng đến đơn vị mới; số lượng ủy viên ban thường vụ cấp ủy mỗi cấp; thành viên đoàn chủ tịch đại hội; tặng huy hiệu Đảng; tài chính của Đảng…

Năm nội dung mới, trọng tâm của Quy định số 20-QĐ/TW

Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc giới thiệu một số nội dung mới, trọng tâm của Quy định thi hành Điều lệ Đảng so với Quy định số 294. Cụ thể như sau:

Một là: Về hệ thống tổ chức của Đảng và lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, giữ vững vai trò, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của các tổ chức đảng và bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị sau sắp xếp, Ban Chấp hành Trung ương đã bổ sung một số quy định theo thẩm quyền và triển khai thí điểm đối với một số nội dung mới như:

“Thí điểm lập đảng bộ khối doanh nghiệp ngoài nhà nước cấp cơ sở ở xã, phường, đặc khu” (Tiết b Điểm 10.4.2).

Thời gian qua, công tác phát triển Đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước ở nhiều địa phương đạt kết quả tích cực, thành lập nhiều tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp này đặt trực thuộc cấp ủy cấp xã, trong đó, ở nhiều nơi có số lượng tổ chức đảng rất lớn (trên 250 tổ chức đảng), gây khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp xã.

Do vậy, việc Trung ương cho phép lập đảng bộ khối nhằm giảm đầu mối tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy cấp xã để tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy cấp xã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu quả trong triển khai các chủ trương, nghị quyết của Đảng trên địa bàn; đồng thời, góp phần thực hiện công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước đồng bộ và hiệu quả hơn. Liên quan đến nội dung này, Trung ương giao Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn cụ thể, chi tiết để bảo đảm kiểm soát chặt chẽ việc thành lập này.

“Thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy của đảng bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy xã, phường đặc khu; cho đảng ủy của đảng bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy doanh nghiệp nhà nước mà trước đây là đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng khi có đủ điều kiện” (Điểm 10.6.3).

Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2: Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng - 2

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, Đảng, Nhà nước và đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu chính Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Thực tiễn thời gian qua, từ việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và thí điểm cấp ủy cấp xã là cấp ủy cấp trên trực tiếp; chuyển tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy doanh nghiệp nhà nước về trực thuộc cấp ủy cấp xã; hạ cấp các tổ chức đảng trực thuộc cấp ủy cấp tỉnh… đã xuất hiện nhiều tổ chức đảng có quy mô lớn (với nhiều đảng bộ, chi bộ trực thuộc, đông đảng viên) trực thuộc cấp ủy cấp xã hoặc cấp ủy cơ sở doanh nghiệp nhà nước; trong khi đó, các quy định hiện hành chưa bao quát hết các trường hợp này dẫn đến cấp ủy cấp xã, đảng ủy doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện rất nhiều thủ tục hành chính trong công tác đảng, ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Bên cạnh đó, cấp ủy cấp xã và đảng ủy doanh nghiệp nhà nước cùng gặp nhiều khó khăn trong triển khai các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo. Do vậy, bổ sung quy định thí điểm giao quyền nêu trên để tăng cường phân cấp, phân quyền, giảm bớt thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao tính linh hoạt, kịp thời trong lãnh đạo, chỉ đạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và góp phần tạo điều kiện thuận lợi để cấp ủy cấp xã, đảng ủy doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức đảng trực thuộc hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ chính trị được giao.

Bổ sung quy định Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định thành lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp khác với quy định trong Quy định thi hành Điều lệ Đảng của 6 đảng bộ mới thành lập ở Trung ương và cấp tỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn; Bộ Chính trị, Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan Trung ương của đoàn thể chính trị – xã hội, các cơ quan Trung ương của hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và các cơ quan ngành dọc ở địa phương.

Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh tổ chức bộ máy tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh, gọn, mạnh, bảo đảm vừa đúng nguyên tắc, vừa sát với điều kiện thực tiễn, vừa đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Hai là: Về những nội dung tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số trong Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã bổ sung một số quy định về: Thực hiện số hóa và quản lý hồ sơ điện tử của đảng viên; xây dựng, cập nhật, quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng dữ liệu đảng viên (Điểm 6.2.2); chuyển sinh hoạt đảng trên môi trường số (Tiểu mục 6.3)….

Việc bổ sung quy định nêu trên đang từng bước tạo cơ sở chính trị để đẩy mạnh chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng. Việc số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử tập trung sẽ giúp nâng cao tính chính xác, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cấp ủy và cơ quan liên quan.

Trong thực tiễn thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện thí điểm sinh hoạt trực tuyến ở một số tổ chức đảng trong các trường hợp đặc biệt (dịch bệnh hoặc khi đảng viên công tác, học tập xa nơi sinh hoạt) đã khẳng định nhiều ưu điểm khi triển khai cách làm mới về thời gian, không gian, tăng khả năng tham gia đầy đủ của các đảng viên.

Ba là: Về điều động, chỉ định cấp ủy viên, Trung ương đã bổ sung, sửa đổi một số nội dung quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong công tác cán bộ, bảo đảm sự lãnh đạo liên tục của tổ chức đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cấp ủy các cấp. Cụ thể:

Quy định “Trường hợp chi bộ khuyết, thiếu cả bí thư, phó bí thư, chi ủy viên thì cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, chỉ định” (Điểm 16.2.2).

Xuất phát từ thực tiễn tại một số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi có sự biến động về tổ chức, cán bộ (như điều động, luân chuyển, nghỉ hưu, thôi việc…) dẫn đến tình trạng chi bộ không còn đủ nhân sự cấp ủy để duy trì hoạt động; ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức sinh hoạt đảng, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng tại cơ sở. Do đó, bổ sung quy định về việc trao thẩm quyền cho cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, chỉ định là cần thiết, kịp thời nhằm bảo đảm tính liên tục, không gián đoạn trong lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng.

Quy định “Trường hợp cần thiết, cấp ủy cấp trên trực tiếp có thể… chỉ định đảng viên là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức giữ chức danh bí thư cấp ủy (chi bộ) cơ quan, đơn vị, tổ chức đó” (Điểm 16.2.3).

Quy định này nhằm cụ thể hóa chủ trương tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với cơ quan, đơn vị, đồng thời bảo đảm thực hiện nhất quán mô hình “bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị”. Thực tiễn cho thấy, ở những nơi thực hiện tốt mô hình này sẽ có sự thống nhất cao trong lãnh đạo, điều hành, giảm tình trạng chồng chéo, phân tán trách nhiệm, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Quy định “Thí điểm việc cấp ủy cấp trên khi chỉ định nhân sự tham gia cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, giữ các chức danh lãnh đạo cấp dưới trực tiếp thì đồng thời chỉ định tham gia cấp ủy, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy theo cơ cấu của cấp dưới các cấp” (Điểm 16.3.2).

Thực tiễn việc kiện toàn nhân sự trong thời gian qua cho thấy cùng một nhân sự nhưng phải thực hiện nhiều quy trình, thủ tục cho từng cấp, từng chức danh kiêm nhiệm theo cơ cấu dẫn đến chậm trễ, ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cán bộ. Do đó, việc bổ sung nội dung này nhằm đổi mới quy trình công tác cán bộ, thuận lợi trong việc kiện toàn nhân sự cấp ủy, bảo đảm đồng bộ, giảm thủ tục hành chính và các bước trung gian, tăng tính chủ động của cấp trên, đồng thời vẫn giữ vững nguyên tắc, quy định của Đảng trong công tác cán bộ.

Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2: Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng - 3

Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương II, khóa XIV tại điểm cầu chính Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN

Bốn là: Về đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền giải quyết công việc đối với tập thể thường trực đảng ủy. Nhằm tạo điều kiện xử lý công việc kịp thời, linh hoạt; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và rút ngắn thời gian, quy trình trong công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai công việc, theo thẩm quyền, Trung ương đã bổ sung quy định “Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị, Ban Bí thư quy định thí điểm về thành phần tập thể thường trực đảng ủy và phân cấp, ủy quyền cho tập thể thường trực đảng ủy: Các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc hội; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; đảng uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở bộ, ngành, cơ quan, tổ chức ở Trung ương; các cơ quan đảng cấp tỉnh; ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy để thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp, cấp ủy cấp trên” (Mục 17).

Theo Trưởng ban Tổ chức Trung ương, việc bổ sung quy định này là bước thể chế hóa Kết luận số 210-KL/TW, ngày 12/11/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh khối lượng công việc của các đảng ủy mới thành lập ở Trung ương và cấp tỉnh, đảng ủy các bộ, ngành là rất lớn, tính chất công việc đa dạng, phức tạp, bao quát, liên thông, nhiều lĩnh vực…, có những công việc đòi hỏi phải được xử lý nhanh chóng, kịp thời.

Nếu tập trung toàn bộ về cấp ủy, ban thường vụ thảo luận, quyết định theo quy trình đầy đủ sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, kéo dài thời gian xử lý, làm giảm tính chủ động, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo; đồng thời, cấp ủy, ban thường vụ phải thực hiện rất nhiều công tác đảng vụ. Do đó, việc giao thẩm quyền cho tập thể thường trực giúp rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và bảo đảm triển khai nhanh, kịp thời các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực hoạt động của các tổ chức đảng trong tình hình mới.

Đồng thời, Trung ương đã cho phép địa phương được thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức, cách làm mới trong khuôn khổ Điều lệ Đảng và phải báo cáo Bộ Chính trị đồng ý chủ trương trước khi thực hiện (Mục 17). Quy định này thể hiện việc đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng theo hướng linh hoạt, chủ động và sát với thực tiễn; khuyến khích, tạo điều kiện để các cấp ủy địa phương, người đứng đầu dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung mạnh dạn đề xuất, thử nghiệm các mô hình mới phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của địa phương.

Việc yêu cầu báo cáo, xin ý kiến Bộ Chính trị trước khi thực hiện vừa khuyến khích đổi mới, vừa bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, kiểm soát chặt chẽ, giữ vững nguyên tắc của Đảng; tránh tình trạng triển khai tùy tiện, thiếu kiểm soát hoặc không phù hợp với nguyên tắc, Điều lệ Đảng. Đây là cơ chế vừa khuyến khích đổi mới, sáng tạo, vừa bảo đảm kiểm soát chặt chẽ về định hướng, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong toàn hệ thống; đồng thời, tạo cơ sở quan trọng để chúng ta tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế trong thời gian tới.

Năm là, bổ sung quy định cụ thể, thống nhất về việc thực hiện nhiệm kỳ của chi bộ trực thuộc 5 năm một lần, bắt đầu thực hiện từ nhiệm kỳ chi bộ 2025 – 2030; cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ đạo chi bộ đã đại hội trong năm 2025 xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ, kiện toàn bí thư, phó bí thư, chi ủy viên cho phù hợp” (Tiểu mục 23.1).

Việc bổ sung chính thức áp dụng quy định này nhằm thống nhất nhiệm kỳ 5 năm trong toàn hệ thống tổ chức đảng, bảo đảm sự đồng bộ giữa nhiệm kỳ chi bộ với nhiệm kỳ của cấp ủy cấp trên và tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng nghị quyết, chương trình công tác dài hạn, gắn với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; góp phần nâng cao tính ổn định, chủ động và hiệu quả trong công tác lãnh đạo của chi bộ. Liên quan đến nội dung này, các chi bộ trực thuộc đã tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2025 – 2027 cần thực hiện ngay việc rà soát, bổ sung phương hướng, nhiệm vụ, chương trình hành động của chi bộ nhiệm kỳ 5 năm bảo đảm đồng bộ, thống nhất với nghị quyết của đại hội đảng bộ cấp trên và phù hợp thực tiễn.

Cụ thể hóa thành các quy định, hướng dẫn để thực hiện thống nhất trong Quý II/2026

Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2: Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng - 4

Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu chính Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Trưởng ban Tổ chức Trung ương đề nghị, sau hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nghiêm túc nghiên cứu, học tập và quán triệt toàn văn Quy định. Đồng thời, để các nội dung quy định đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, cùng với Quy định thi hành Điều lệ Đảng, Ban Bí thư cũng sẽ ban hành Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng, Ban Tổ chức Trung ương ban hành các hướng dẫn chi tiết có liên quan về nghiệp vụ, đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thực hiện nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu sắc, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ Quy định, hướng dẫn của Trung ương, bảo đảm giữ vững nguyên tắc của Đảng; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh theo thẩm quyền và báo cáo với Trung ương những vấn đề vượt thẩm quyền.

Các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Trung ương, cấp ủy các cấp khẩn trương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy hoàn thành việc thể chế hóa, cụ thể hóa nội dung Quy định thi hành Điều lệ Đảng thành các quy định, hướng dẫn để thực hiện thống nhất trong Quý II/2026, tập trung vào:

Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định, quyết định, hướng dẫn về điều động, chỉ định cấp ủy viên; về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quy chế làm việc mẫu của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh để làm rõ thành phần tập thể thường trực và cơ chế phân cấp, ủy quyền; làm rõ ranh giới trách nhiệm giữa tập thể cấp ủy, ban thường vụ và tập thể thường trực, bảo đảm thống nhất về thẩm quyền, phạm vi ủy quyền, quy trình thực hiện, chế độ báo cáo, cũng như cơ chế kiểm soát quyền lực, tránh tình trạng lạm quyền hoặc buông lỏng lãnh đạo.

Hướng dẫn và đôn đốc triển khai các nội dung về phương pháp, quy trình, thủ tục, nghiệp vụ, tiêu chuẩn dữ liệu, bảo mật thông tin và việc tổ chức sinh hoạt đảng trên môi trường số để bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ, an toàn thông tin và giữ vững nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, đồng thời, tạo thuận lợi cho các cấp ủy, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy triển khai thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị của Đảng.

Nghiên cứu kỹ lưỡng, mạnh dạn đề xuất Bộ Chính trị cho thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức, cách làm mới phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của địa phương. Chủ động rà soát, cụ thể hóa Quy định, Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, các ban, cơ quan của Đảng ở Trung ương thành các quy định, quyết định, quy trình, hướng dẫn cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị để thực hiện. Đồng thời, căn cứ quy định này và các hướng dẫn có liên quan, chỉ đạo, hướng dẫn các chi bộ trực thuộc đã tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2025 – 2027 khẩn trương rà soát, điều chỉnh, xây dựng, bổ sung phương hướng, nhiệm vụ, chương trình hành động của chi bộ nhiệm kỳ 2025 – 2030 trên cơ sở cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nghị quyết của đại hội đảng bộ cấp trên cho phù hợp; xem xét kiện toàn nhân sự bí thư, phó bí thư, chi ủy viên nhằm bảo đảm tính liên tục, thống nhất trong lãnh đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ; nội dung này hoàn thành trong quý II/2026.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nêu rõ, việc Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ban hành Quy định thi hành Điều lệ Đảng lần này là bước chuẩn bị rất quan trọng cho việc tổng kết thực tiễn, đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng cùng với bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh Chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội XV của Đảng vào dịp 100 năm thành lập Đảng ta (1930 – 2030) theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Theo TTXVN




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Tránh chó chạy ra đường, xe máy bị ô tô lao qua dải phân cách đâm trúng


Người đàn ông đi xe máy bất ngờ gặp tai nạn khi tránh được con chó chạy ra đường nhưng lại bị ô tô đâm trúng.




Nguồn: Arttimes.vn

Phát động “Tháng Nhân đạo 2026”: Lan tỏa yêu thương, kết nối trách nhiệm cộng đồng


Ngày 11/4, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động Thư kêu gọi ủng hộ “Tháng Nhân đạo 2026” tới toàn thể cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước.

Trong những năm qua, tinh thần “tương thân, tương ái” đã trở thành giá trị cốt lõi, gắn kết cộng đồng người Việt. Các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân không chỉ tích cực hỗ trợ đồng bào trong nước khi gặp thiên tai, hoạn nạn mà còn chung tay chia sẻ với bạn bè quốc tế trong những thời điểm khó khăn. Những nghĩa cử đó đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Phát động “Tháng Nhân đạo 2026”: Lan tỏa yêu thương, kết nối trách nhiệm cộng đồng - 1

Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động Thư kêu gọi ủng hộ “Tháng Nhân đạo 2026”.

Theo chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Tháng Nhân đạo” được tổ chức vào tháng 5 hằng năm, trở thành cao điểm hành động vì cộng đồng. Đây không chỉ là dịp để hỗ trợ người yếu thế mà còn là cơ hội để tuyên truyền các giá trị nhân đạo, kết nối nguồn lực xã hội và lan tỏa tinh thần sẻ chia.

Đặc biệt, năm 2026 mang ý nghĩa sâu sắc khi đánh dấu 80 năm thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, một chặng đường dài gắn bó với công tác nhân đạo và cứu trợ.

Trong thư kêu gọi, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhấn mạnh hai trọng tâm lớn: Thứ nhất là việc kiến tạo sinh kế và bảo đảm an sinh bền vững trong nước thông qua hỗ trợ vốn, công cụ sản xuất, xây dựng các công trình nhân đạo, chăm sóc sức khỏe và kịp thời cứu trợ người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

Thứ hai, là khẳng định trách nhiệm nhân đạo quốc tế, bằng việc hỗ trợ các quốc gia chịu tác động nặng nề bởi thiên tai, dịch bệnh và bất ổn, đặc biệt là các nước bạn bè truyền thống, qua đó góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam nhân văn, trách nhiệm và yêu chuộng hòa bình.

Thông qua thư kêu gọi này, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ sự trân trọng và gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các tổ chức, cá nhân đã và đang chung tay vì cộng đồng, góp phần xây dựng một xã hội nhân ái, đoàn kết và phát triển bền vững.

Mọi sự đóng góp xin gửi về Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam – cơ quan nòng cốt được giao tiếp nhận, quản lý và điều phối trực tiếp, cam kết bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng và hiệu quả cao nhất.

Tên tài khoản: Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

Số tài khoản: 2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB bank), Sở Giao dịch 3

Nội dung: Tháng Nhân đạo 2026.

Theo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Xe máy mất lái lao lên vỉa hè, thanh niên lộn nhào rơi xuống vườn rau


Vỉa hè cao thấp không đồng đều khiến chiếc xe lao vào gờ, nam thanh niên bị hất văng rồi gặp tai nạn.




Nguồn: Arttimes.vn

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV


Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Thời báo Văn học nghệ thuật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương,

Thưa các đồng chí đảng viên, cán bộ, đồng bào cả nước.

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV. Hội nghị đã được nghe 5 nội dung chuyên đề chi tiết, cụ thể do các đồng chí Lãnh đạo các cơ quan Trung ương trình bày. Tôi cơ bản nhất trí với những định hướng thực hiện đối với các chuyên đề đó.

Hôm qua, tôi có trả lời báo Quân đội Nhân dân liên quan đến nhiệm vụ triển khai các Nghị quyết của Đảng, trong đó có những nội dung liên quan đến các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV (Nhiều báo hôm nay đã đăng toàn văn). Các đồng chí có thể tham khảo thêm.

Những diễn biến nhanh, rộng của tình hình quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến văn hóa, khoa học kỹ thuật, làm thay đổi nhiều trật tự đã được thiết lập trên phạm vi toàn cầu. Trong nước, sau thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; Kết quả của đợt 1- kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; Cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự, của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả.

Tôi cho rằng: yêu cầu đặt ra sau Hội nghị lần này là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành động lực phát triển trong toàn xã hội.

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Ảnh: Báo Chính phủ

Trên tinh thần đó, tôi xin nhấn mạnh thêm 05 vấn đề sau đây:

Thứ nhất: phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề bảo đảm Đảng ta vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.

Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng thời cũng phải đáp ứng với những yêu cầu rất cao, rất mới, rất lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn Đảng càng trở thành yếu tố then chốt nhằm nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.

Thực tiễn cho thấy, ở đâu quy định được quán triệt nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, ở đó kỷ cương được giữ vững, tổ chức được củng cố, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao. Ngược lại, nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động, làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được thực hiện thống nhất, đồng bộ, nhất quán từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích, biểu dương các cách làm hay, sáng tạo theo quy định.

Thứ hai: Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững

Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước.

Do đó, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.

Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.

Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Đặc biệt, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân. Khi được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hóa thành động lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế.

Thứ ba: Kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển.

Quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai. Nếu quy hoạch được làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún, mạnh ai nấy làm, thì không những không mở ra không gian phát triển mới, mà còn tạo ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy liên kết, và kéo tụt hiệu quả phát triển chung, thậm chí kìm hãm sự phát triển.

Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn “hướng Đông- tỏa Tây”, “trục Bắc-Nam liền dải” – đó là tầm nhìn tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sâu vào phía Tây đất nước; trục Bắc- Nam như dải xương sống của cơ thể con người. Từ nền tảng đó, mỗi quyết định phát triển phải được xem xét trong quan hệ hữu cơ với hạ tầng, năng lượng, dân cư, lao động, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, và yêu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.

Đặc biệt, trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới. Năng lượng phải được đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trong tương quan với công nghiệp, đô thị, logistics, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc gia, phải đảm bảo tự chủ.

Đi liền với quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin – cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, được xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự. Không thể đầu tư lớn mà tiêu chuẩn thấp, làm nhanh mà chất lượng không bảo đảm. Càng không thể xây dựng hôm nay mà ngày mai đã lạc hậu, thiếu đồng bộ, khó kết nối, khó khai thác. Phải đưa tầm nhìn hàng thế kỷ vào quy hoạch tổng thể.

Một dự án tốt phải được đánh giá dựa trên tác động phát triển và hiệu quả kinh tế – xã hội thực chất, trong đó mức độ thụ hưởng của người dân là tiêu chí trung tâm. Tuyệt đối, không lấy quy mô vốn thay cho hiệu quả, không lấy số lượng dự án thay cho chất lượng tăng trưởng, càng không lấy tốc độ giải ngân bề ngoài thay cho hiệu quả dài hạn. Mỗi đồng vốn bỏ ra, dù là vốn nhà nước hay vốn xã hội, đều phải được tính toán cẩn trọng về hiệu quả, độ lan tỏa, khả năng kích hoạt đầu tư tiếp theo, khả năng tạo việc làm, tạo giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng phúc lợi xã hội.

Thứ tư, giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực trong dân, đảm bảo mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi hộ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều trở thành chủ thể của tăng trưởng.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.

Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Vì vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.

Vì vậy, phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.

Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng, và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Sau gần một năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vượt qua giai đoạn khởi động ban đầu, bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt, và đang chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực, hiệu quả thực chất. Dự kiến tháng 7 sẽ sơ kết 1 năm thực hiện mô hình này.

Tuy nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức mạnh, cần được nhìn nhận trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia, với một nguyên lý xuyên suốt, đó là: “Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát, địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống”. Năm 2026, Trung ương đã xác định là “Năm cán bộ cơ sở”, từng cơ sở phải thay đổi.

Để hiện thực hóa tư duy này, trước hết cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định. Cấp xã phải được phân quyền rõ ràng, gắn với nguồn lực và trách nhiệm cụ thể, để có thể chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh, từ hạ tầng, dịch vụ xã hội đến quản lý kinh tế – xã hội. Quyền hạn gắn liền trách nhiệm sẽ tạo ra hiệu quả thực chất, tránh chồng chéo và trì trệ trong quản lý.

Tiếp đó, cấp xã mạnh về huy động nguồn lực sẽ giúp cấp tỉnh chủ động hơn trong việc điều phối và triển khai các dự án chiến lược. Cấp xã là nơi kết nối trực tiếp các nguồn lực xã hội, kinh tế và nhân lực địa phương. Khả năng huy động và phân bổ hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn lực được sử dụng tối ưu, nâng cao năng lực thực thi của cả hệ thống chính quyền hai cấp.

Cuối cùng là cấp xã mạnh về giám sát và phản hồi. Cấp xã năng động sẽ cung cấp dữ liệu và thông tin chính xác về thực trạng và nhu cầu của người dân, từ đó giúp cấp tỉnh ra quyết sách phù hợp, kịp thời và chính xác. Đây chính là cơ chế tạo sức bật, đảm bảo hiệu lực tổng thể của chính quyền địa phương hai cấp.

Để cấp xã trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh, mọi nghị quyết, chính sách và dự án phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Đồng thời, các quyết định này phải hướng trực tiếp tới nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và củng cố năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây cũng chính là nền tảng để bảo đảm sự thông suốt, kỷ luật và hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị,

Những nội dung tôi vừa trao đổi không chỉ là những yêu cầu cụ thể trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, mà là những vấn đề có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.

Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, các đồng chí cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt mình trong tổng thể chung, nhìn rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong bức tranh phát triển chung của đất nước, từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ luật và có hiệu quả.

Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Xin chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Xin trân trọng cảm ơn.




Nguồn: Arttimes.vn

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả


(Chinhphu.vn) – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu nghị quyết không chỉ đúng, mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết. Trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng, để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương.

Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập một tầm nhìn lịch sử. Dư luận và nhân dân đang rất quan tâm đến việc làm thế nào để những quyết sách lớn sớm đi vào thực tiễn. Đồng chí đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải triệt tiêu “độ trễ” và chuyển mạnh từ “nói” sang “làm” và “làm hiệu quả”. Xin đồng chí cho biết rõ hơn về tư duy hành động này trong bối cảnh hiện nay?

Đồng chí Tô Lâm: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kết tinh trí tuệ, ý chí và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc; giá trị của nghị quyết chỉ được khẳng định đầy đủ khi được tổ chức thực hiện bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thành tựu của đất nước đều gắn với những giai đoạn mà chủ trương đúng được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, trong đó khâu tổ chức thực hiện giữ vai trò then chốt.

Chúng ta thẳng thắn nhìn nhận rằng, điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm ở chỗ thiếu đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành chuyển biến phát triển cụ thể. Hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng thực thi chính sách ở một số nơi vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước. Vì vậy, tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ này là phải biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm có hiệu quả.

Giai đoạn 5-10 năm tới có ý nghĩa quyết định đối với các mục tiêu chiến lược của Đảng và đất nước. Nếu chúng ta để lãng phí dù chỉ một khoảng thời gian ngắn vì chần chừ, né tránh, làm việc theo lối cũ hoặc trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm, thì cái giá phải trả ít nhất là đánh mất cơ hội phát triển của cả dân tộc.

Vì vậy, mệnh lệnh hành động lúc này là phải chuyển thật mạnh từ “nhận thức đúng” sang “triển khai hiệu quả”, từ “ban hành chủ trương” sang “tạo ra sản phẩm và kết quả thực tế”. Mọi cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu đi đầu, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả thực chất, để nhân dân được thụ hưởng ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ.

Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trong nhiệm kỳ này, việc cải cách phương thức tổ chức thực hiện được đặt ra như thế nào để chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên kết quả, nhằm triệt tiêu tình trạng “nghẽn” ở khâu thực thi?

Đồng chí Tô Lâm: Đại hội XIV xác định thể chế là “đột phá của đột phá”, đi trước mở đường. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà phải trở thành động lực phát triển, giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Muốn triệt tiêu tình trạng “nghẽn”, trước hết phải đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện.

Thứ nhất, phải quyết liệt rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, quy trình, thủ tục để tháo gỡ mọi điểm nghẽn. Tinh thần là vướng mắc ở cấp nào thì cấp đó phải chủ động sửa đổi, không trông chờ, không đùn đẩy trách nhiệm. Phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý, cấp phép sang kiến tạo phát triển và phục vụ; từ nặng tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm ở những lĩnh vực đủ điều kiện; từ cách làm thiên về thủ tục sang cách làm thiên về kết quả.

Thứ hai, phải thay đổi thước đo đánh giá. Không thể tiếp tục lấy độ dày của báo cáo hay số lượng cuộc họp làm căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đánh giá một tổ chức, một cán bộ phải nhìn vào sản phẩm phát triển cụ thể, vào tiến độ công việc, vào hiệu quả xã hội, vào mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Mọi chương trình hành động đều phải được lượng hóa, đo lường được và có lộ trình rõ ràng.

Thứ ba, phải tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Việc Trung ương quyết định chuyển Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng thời tiếp nhận các đảng bộ của 5 cơ quan này từ Đảng ủy Chính phủ sang Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, chính là một bước điều chỉnh tổ chức rất quan trọng. Đây không chỉ là sắp xếp đầu mối, mà còn là điều chỉnh phương thức lãnh đạo để tăng cường sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Trung ương đối với những lĩnh vực đặc biệt quan trọng về tư tưởng, truyền thông và khoa học chiến lược.

Thứ tư, mọi chương trình, đề án, dự án lớn đều phải xác định rõ mục tiêu, tiến độ, người chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát. Có như vậy mới chấm dứt được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “đúng về tinh thần nhưng tắc ở khâu thực hiện”.

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả - 2

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc sáng ngày 20/1/2026.

Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đồng chí đã chỉ rõ việc thực hiện nghị quyết phải gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó yếu tố con người và công tác chính trị, tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vậy yêu cầu cốt lõi đặt ra hiện nay là gì, thưa đồng chí?

Đồng chí Tô Lâm: Trong giai đoạn mới, đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, kỷ cương, minh bạch, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Muốn vậy, yếu tố quyết định vẫn là con người – trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là có phẩm chất và năng lực chung, mà phải có bản lĩnh thực thi, có tư duy hành động thực chất, có khả năng tổ chức công việc đến cùng và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đi liền với đó, phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Hội nghị Trung ương 2 vừa qua đã ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đây là nội dung rất mới, rất cần trong giai đoạn hiện nay, bởi chúng ta đang triển khai nhiều chủ trương lớn cùng lúc, cải cách mạnh, đổi mới mạnh; nếu không giữ vững nền tảng chính trị, không tạo được sự thống nhất cao trong Đảng và đồng thuận trong xã hội, thì chủ trương đúng cũng khó đi đến kết quả như mong muốn.

Công tác chính trị, tư tưởng phải thực sự đi trước, mở đường; không thể làm theo kiểu hình thức hay chỉ dừng ở khâu quán triệt, học tập nghị quyết cho đủ thủ tục. Điều cốt lõi là phải cụ thể hóa các yêu cầu về chính trị, tư tưởng thành trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, củng cố niềm tin, xây dựng bản lĩnh chính trị, nâng cao tính chiến đấu và tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Đối với đội ngũ cán bộ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng giỏi tham mưu nhưng yếu tổ chức thực hiện. Trong tổ chức thực hiện, phải bảo đảm “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả. Không để tình trạng lấy tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân; đồng thời phải có cơ chế bảo vệ những người dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đảng cầm quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả - 3

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Quyết định bổ nhiệm cho 6 Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Công an, Bộ trưởng Ngoại giao. Thủ tướng Lê Minh Hưng và nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính tặng hoa chúc mừng các đồng chí mới được bổ nhiệm – Ảnh: qdnd.vn

Để bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết mới của Trung ương được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng cần được đổi mới ra sao, thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước?

Đồng chí Tô Lâm: Kiểm tra, giám sát không phải là công việc làm sau cùng, càng không chỉ là xử lý sai phạm khi sự việc đã xảy ra. Đây là một phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng, là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, đúng hướng.

Trước hết, phải quán triệt và tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết mới của Trung ương về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Việc Trung ương ban hành nghị quyết mới trong lĩnh vực này cho thấy yêu cầu của giai đoạn phát triển hiện nay là rất cao: Phát triển nhanh phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương; cơ chế thông thoáng hơn thì kiểm soát quyền lực phải chặt chẽ hơn; phân cấp, phân quyền mạnh hơn thì trách nhiệm chính trị phải rõ hơn.

Thứ hai, phải chuyển mạnh công tác kiểm tra, giám sát sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; phát hiện nguy cơ ngay trong quá trình vận hành, không để hạn chế, khuyết điểm tích tụ thành sai phạm lớn. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, từng chi bộ, từng đảng viên đều phải xác định đây là trách nhiệm chính trị của mình; không thể khoán trắng cho cơ quan kiểm tra. Kiểm tra phải gắn với từng chương trình hành động, từng nhiệm vụ trọng tâm, từng dự án, từng cam kết của người đứng đầu.

Thứ ba, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp làm trưởng đoàn để kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương tại toàn bộ các tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, trong đó có các đảng ủy ở Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy. Tinh thần là vừa kiểm tra, giám sát, vừa đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vừa phát hiện cách làm mới để nhân rộng, chứ không làm theo kiểu hình thức, đối phó.

Bản thân tôi cũng đã trực tiếp làm việc, dự hội nghị triển khai với Quân ủy Trung ương, với Đảng ủy Công an Trung ương; đồng thời trực tiếp làm Trưởng đoàn kiểm tra, giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội và Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội. Điều đó thể hiện rất rõ yêu cầu nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo: Đã xác định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, thì lãnh đạo cấp cao phải trực tiếp làm, trực tiếp nghe, trực tiếp kiểm tra, trực tiếp chỉ đạo và trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả.

Mục tiêu cuối cùng là làm cho toàn hệ thống vận hành có kỷ luật hơn, minh bạch hơn, quyết liệt hơn và hiệu quả hơn. Kỷ luật phải để hành động tốt hơn; giám sát phải để kết quả rõ hơn; kiểm tra phải góp phần tháo gỡ khó khăn, siết chặt trách nhiệm, bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết của Trung ương được triển khai nghiêm túc, thống nhất, hiệu quả trong toàn Đảng.

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả - 4

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Quân ủy Trung ương sáng 30/3/2026 – Ảnh: Báo Quân đội nhân dân

Năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương có điều gì căn dặn cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam?

Đồng chí Tô Lâm: Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng tiên phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Quân đội càng phải phát huy tốt hơn truyền thống ấy, phải thật sự mẫu mực về bản lĩnh chính trị, tinh thần hành động, kỷ luật, hiệu quả công tác và chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết.

Trước hết, toàn quân phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và các chương trình hành động của Quân ủy Trung ương; nhưng quán triệt không dừng ở nhận thức, mà phải chuyển thành việc làm cụ thể ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, từng cương vị công tác. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải xác định rõ việc gì cần làm ngay, việc gì là khâu đột phá, ai chịu trách nhiệm và kiểm tra bằng cách nào.

Toàn quân phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý kỷ luật, xây dựng chính quy, đẩy mạnh chuyển đổi số và tiến lên hiện đại.

Tôi đặc biệt lưu ý vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ. Cán bộ càng ở cương vị cao càng phải mẫu mực về tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm. Mỗi cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; phải được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Kết quả thực hiện nghị quyết trong Quân đội phải được đo bằng chuyển biến thực chất trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, chấp hành kỷ luật và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Quyết tâm cao phải biến thành kết quả rõ; hành động phải chắc, trúng và hiệu quả đến cùng. Quân đội phải tiếp tục là lực lượng đi đầu trong hành động, gương mẫu trong kỷ luật, nói đi đôi với làm, làm đến đâu chắc đến đó, “quyết tâm gấp mười lần, hành động gấp trăm lần”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.

Trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương! 

Theo Báo Quân đội nhân dân




Nguồn: Arttimes.vn

Bà Lê Thị Thủy giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam


Chiều ngày 12/4, Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam tổ chức Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ 7, khóa X, nhằm hiệp thương cử bổ sung, thay thế nhân sự tham gia Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X.

Bà Lê Thị Thủy giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - 1

Bà Lê Thị Thủy, Ủy viên TƯ Đảng, Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy MTTQ, đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam

Với sự nhất trí cao, 100% đại biểu tham dự Hội nghị đã biểu quyết, hiệp thương cử bà Lê Thị Thủy, Ủy viên TƯ Đảng, Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy MTTQ, đoàn thể Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, tham gia Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X nhiệm kỳ 2024 – 2029.

Báo Phụ nữ Việt Nam trân trọng giới thiệu tiểu sử Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Lê Thị Thủy:

Bà Lê Thị Thủy giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - 2

Theo Báo Phụ Nữ Việt Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Infographic: Tiểu sử Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Phi Long


Chiều ngày 12/4, Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam tổ chức Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ 7, khóa X, nhằm hiệp thương cử bổ sung, thay thế nhân sự tham gia Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X.

Với sự nhất trí cao, 100% đại biểu tham dự Hội nghị đã biểu quyết, hiệp thương cử ông Nguyễn Phi Long, Uỷ viên TƯ Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, tham gia Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, nhiệm kỳ 2024 – 2029.

Báo Phụ nữ Việt Nam trân trọng giới thiệu tiểu sử Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Phi Long:

Infographic: Tiểu sử Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Phi Long - 1

Theo Báo Phụ Nữ Việt Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Gần 2,2 triệu đảng viên tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2


(Chinhphu.vn) – Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức diễn ra vào sáng nay (13/4).

Gần 2,2 triệu đảng viên tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 - 1

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 – Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng

Tham dự Hội nghị có: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (dự tại điểm cầu Tây Ninh), nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị;…

Hội nghị được kết nối trực tuyến tới 36.323 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị với gần 2,2 triệu đảng viên tham dự tại các điểm cầu.

Gần 2,2 triệu đảng viên tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 - 2

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu dự Hội nghị – Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng

Hội nghị sẽ nghe 5 chuyên đề. Cụ thể là, Chuyên đề Quy định thi hành Điều lệ Đảng do đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trình bày.

Chuyên đề về những vấn đề mới, cốt lõi của Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng do đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trình bày.

Gần 2,2 triệu đảng viên tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 - 3

Các đại biểu tham dự Hội nghị – Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng

Chuyên đề những nội dung cơ bản của quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng do đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

Chuyên đề Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới do đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương trình bày.

Chuyên đề về kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày.

Cuối cùng, Hội nghị sẽ nghe phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm./.




Nguồn: Arttimes.vn