Home Blog Page 33

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân bắt đầu thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc


Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu nhân, sáng 14/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14-17/4.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân bắt đầu thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14-17/4 – Ảnh: TTXVN

Đúng 9h18′ ngày 14/4 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã hạ cánh xuống Sân bay quốc tế Bắc Kinh.

Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại Sân bay quốc tế Bắc Kinh có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Doãn Lực; Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Liên lạc đối ngoại Trung ương, Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Hải Tinh; Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ và Phu nhân; Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình và Phu nhân; đông đảo cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc; đại diện cộng đồng và lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân bắt đầu thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc - 2

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân bắt đầu thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc - 3

Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân tại Sân bay quốc tế Bắc Kinh – Ảnh: TTXVN

Đồng chí Doãn Lực, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Bắc Kinh đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân tại chân cầu thang máy bay. Tiếp đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân di chuyển dọc thảm đỏ, lần lượt bắt tay quan chức Trung Quốc và cán bộ phía Việt Nam, vẫy chào đại diện cộng đồng và sinh viên Việt Nam tại Trung Quốc.

Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đánh dấu một khởi đầu mới trong quan hệ song phương khi cả hai nước đều bước vào giai đoạn phát triển mới: Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới sau thành công rất tốt đẹp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Trung Quốc khởi đầu triển khai Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần thứ 15.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân bắt đầu thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc - 4

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đại diện kiều bào, lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân bắt đầu thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc - 5

Đại diện kiều bào, lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân – Ảnh: TTXVN

Chuyến thăm là dịp rất quan trọng để nâng tầm gắn kết chiến lược và xác lập tầm cao mới cho quan hệ hai Đảng, hai nước. Lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước sẽ cùng xác định những định hướng mới, đột phá mới trong hợp tác kinh tế – thương mại, đầu tư và du lịch, hợp tác chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, nỗ lực cùng hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng phát triển của mỗi nước./.

Theo TTXVN




Nguồn: Arttimes.vn

Nhạc, nghe bằng văn xuôi


Thơ, với những đặc điểm hình thức phổ biến của nó – như “vần” và “nhịp điệu” – mang sức mạnh khiến cho “nhạc tính” được vang lên trong văn bản ngôn ngữ và góp phần đáng kể vào việc hình thành cảm xúc nghệ thuật của người tiếp nhận. Vậy còn văn xuôi thì sao? Có thể “nghe” nhạc bằng văn xuôi và trong văn xuôi được không?

Có thể, nếu ta hiểu “nghe” không chỉ như một hành vi đón bắt âm thanh, mà còn là, thậm chí chủ yếu là, sự cảm nhận về tình huống mà âm thanh – ở đây là nhạc – lên tiếng trong tác phẩm văn xuôi. Khi ấy, nếu là ở tác phẩm của những nhà văn tài năng, thì nhạc đã không còn là nhạc nữa, mà nó là tâm trạng con người, là số phận cuộc đời, là cái đặc vị của không gian và thời gian, là bản chất của lịch sử v.v… trong hình dung của tác giả. Ta hãy thử lấy một ví dụ: tự truyện Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng (in liên tiếp trên tám số báo Ngày Nay, từ 22/10 đến 10/12/1938, trước khi in thành sách).

Nguyên Hồng viết tự truyện này năm ông tròn hai mươi tuổi, viết như thể làm một cuộc nhìn lại, tự phanh phui và tự tính sổ quãng đời thơ ấu của chính mình, một cách không né tránh, không khoan nhượng. Quãng đời ấy đóng khung trong bối cảnh một gia đình mong manh: ông bố nghiện thuốc phiện; bà mẹ ngoại tình và có con ngoài giá thú; cậu con trai nhạy cảm bất thường, một linh hồn yếu và đuối, luôn bị giằng xé giữa những xung lực trái chiều khởi phát từ cõi vô thức hỗn độn mà cậu còn chưa kịp biết cách gọi tên.

Cậu con trai yêu mẹ và ghét bố, và bởi thế mà cậu tự nhiên trở thành kẻ đồng lõa với tội lỗi của mẹ. Nhiều chi tiết có thể kể ra để chứng minh cho sự đồng lõa này, nhưng đắt giá nhất ắt phải là đoạn viết về tiếng kèn của cai H, người tình của mẹ cậu: “Cứ khi nào tốp lính đến gần nhà tôi ở xế cổng đề lao thì tiếng kèn vang lên, vui vẻ quá, hùng tráng quá. Át cả tiếng vỏ lưỡi lê đập phanh phách vào đùi và những bước chân xoàn xoạt, tiếng kèn mỗi giây một dướn cao, một vang to, rung động cả làn không khí êm ả của một góc trời. Rồi nương tiếng gió lao xao trong những chòm cây phấp phới, âm thanh náo nức, dồn dập của tiếng kèn càng cuốn lên cao, tràn ra xa, rất xa, đến những vùng xa tươi sáng nào đó”. Tiếng kèn ấy, rõ ràng, ta không “nghe” từ chiếc kèn lính của cai H, mà “nghe” từ bộ thu âm của cậu bé/ người kể chuyện/ tác giả. Nói cho chính xác, cậu bé đã hóa thân vào người mẹ đang yêu để cảm nhận tiếng kèn. Và sự thực là, tiếng kèn ấy đã thoát ra khỏi cái vỏ âm thanh mang chức năng lính tráng công bộc để trở thành tín hiệu của tình yêu, sự sống, niềm vui, và niềm mong đợi. “Những con mắt của mẹ tôi sáng lên nhìn người thổi kèn và hai gò má mẹ tôi ửng hồng khi gặp cặp mắt long lanh của người đàn ông nọ hướng tới”. Câu văn sau bổ nghĩa cho đoạn văn trước, nó ghi nhận sức hoán cải tuyệt vời mà tình yêu tạo tác trên diện mạo của người phụ nữ tưởng đã héo mòn, nó hoàn tất một trong những trường đoạn đẹp nhất về tình yêu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, mà tiếng kèn/ âm nhạc chính là yếu tố đóng vai trò một hoán dụ.

Nhạc, nghe bằng văn xuôi - 1

Ảnh minh họa

Tiếng kèn trong Những ngày thơ ấu, ở thời điểm đó, dẫu sao cũng là âm thanh của thứ nhạc khí Tây phương còn chưa mấy quen với tai người Việt Nam. Muốn được “nghe” các nhạc cụ “thuần Việt” một cách toàn bích, có lẽ phải chờ tới Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Trong tác phẩm xuất sắc này, đặc biệt ở phần cuối câu chuyện, cả một bữa tiệc âm nhạc ca trù đã được Nguyễn Tuân soạn ra bằng chữ nghĩa, đủ sức gây rung động kịch liệt cho bất cứ người đọc nào.

Này là tiếng phách của cô đầu Tơ: “Tiếng đôi lá con cỗ phách cô Tơ dồn như tiếng chim kêu thương trên dậm cát nổi bão lốc. Nhiều tiếng tay ba ngừng gục xuống bàn phách, nghe tàn rợn như tiếng con cắt lao mạnh xuống thềm đá sau một phát tên. Tay phách không một tiếng nào là nhụt. Mỗi tiếng phách sắc như một nhát đao thuận chiều”. Này là tiếng trống của Lãnh Út: “Trống người chủ ấp trẻ ấy sát phạt thật. Thật là một thứ trống lợi hại. Trong tiếng trống, có tiếng đổ nhào của ngói gạch vụn rời. Hình như tất cả những lâu đài cung điện của cuộc đời nhỡn tiền đều tan rã theo một cái roi quất xuống mặt da loài thú. Hình như phải có được vô vàn vàng lụa lũy thế mà phí đi thì mới đổi được ra thành cái tiếng âm âm đục đục ấy”. Và này nữa, tiếng đàn của Bá Nhỡ: “Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết được ra. Nó là một nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than thở của một cảnh ngộ vô tri âm. Nó là cái tấm tức sinh ly của một cuộc giao hoan lưng chừng. Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đứt chân sóng…”.

Đây là một cuộc hòa nhạc ma quái và đầy oan nghiệt. Nó mang sự hồi sinh lại cho người này và đem cái chết đến cho người kia, cùng lúc, như một hoán đổi ngang bằng, sòng phẳng. Bá Nhỡ chấp nhận chơi đàn, tức là chấp nhận lời thách thức định mệnh để trả nghĩa cho cậu chủ Lãnh Út, nhưng đồng thời cũng là chấp nhận lấy sự sống của mình để đánh đổi một lần được đi đến tận cùng của thăng hoa.

Cô đầu Tơ biết điều đó, bởi vậy cô không những không ngăn cản, mà còn “cố bắt buông từng chữ cho thật chín nục để kẻ sắp hết làm người kia đem đi cho thật đầy đủ cái dư âm của cõi sống”. Còn Lãnh Út: “Tưởng lúc bấy giờ, cả quê Nhộn này có phát hỏa, cả xung quanh cậu đất có sụt nứt hết, cậu cũng mặc. Cậu đang ngủ cái giấc ngủ thôi miên của âm nhạc”. Cả ba người tham gia vào cuộc hòa nhạc đều như mê mụ đi, đều như đang rời bỏ chính mình để thực sự hóa thân thành ba vật tế thần bùng cháy đến giọt sống cuối cùng trên bàn thờ Nghệ Thuật. Tiếng phách, tiếng trống, tiếng đàn do vậy, đều vang lên ở đây như những âm thanh của một cuộc vĩnh quyết vô tiền khoáng hậu.

Hai ví dụ về nhạc trong văn xuôi dẫn trên là hai ví dụ về khí nhạc. Còn thanh nhạc, tức nhạc hát, thì thế nào? Thiên truyện Gió dại của Bảo Ninh có lẽ sẽ là một gợi ý không tồi cho sự “nghe” của người đọc. Gió dại được kể lại từ nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”, một người lính Bắc Việt có mặt tại Quảng Trị năm 1973, sau chiến dịch thành cổ. Từ người lính ấy, ngay ở đầu thiên truyện, ta đã nghe thấy tiếng hát của Diệu Nương, cô ca sĩ Sài Gòn thình lình bị chiến sự cầm chân trong vùng giải phóng, và đó là một tiếng hát đầy ma mị: “Cùng với ngày mới tiếng hát dường như lớn lên mãi và tràn rộng ra, vừa sâu trầm vừa vút cao, tự thoát đi trở thành âm thanh vô chủ, ngân lên hoang dã trở thành khúc du ca của thiên nhiên”. Diệu Nương hát, những lời ca vút lên, vừa như một đối trọng, vừa như một diễn giải đầy ý nghĩa về tình thế chiến tranh: “Trong cuộc huynh đệ tương tàn/ Chúng ta chỉ là con sâu cái kiến/ Nhưng ôi, chúng ta, chính chúng ta đây/ Một thời chúng ta cũng có/ Một quê hương và một mối tình…”. Bảo Ninh nhiều lần nói đến sức mạnh của tiếng hát Diệu Nương trên những đối tượng người nghe khác nhau: ông linh mục, người lính, trẻ con, người lớn làng Diêm… Nhưng gây ấn tượng mạnh nhất chính là trường đoạn Diệu Nương hát trước những người tù và những người áp giải tù: “Như thể nghẹn ngào, Diệu Nương dừng lại lấy hơi rồi hát tiếp. Ở giữa khối tù một người chợt cất cao giọng. Rồi một người khác nối theo. Rồi nhiều người. Giọng hát của Diệu Nương như một cái hôn dài trên môi tất cả. Đoàn tù biến thành dàn đồng ca.

Những giọng đàn ông chung nhau một bè trầm át tiếng chân bước. Đội áp giải không bắt tù nhân phải im tiếng. Những ngọn lê chúc cả xuống”. Trong bối cảnh khốc liệt của cuộc chiến tranh, trong cái không gian tàn rữa của chuyện kể, tiếng hát Diệu Nương ở trường đoạn này quả thực đã mang kích cỡ của một biểu trưng: nó vang lên nỗi thiết tha xóa nhòa lằn ranh phân cách hai chiến tuyến, nó là niềm ước ao về cái thiện, sự cảm thông, là khát vọng về hai chữ Hòa Bình viết hoa…

Có thể lấy thêm nữa, rất nhiều, những ví dụ minh họa cho cuộc thẩm nhập của nhạc vào trong văn xuôi với tư cách “cái được viết”. Nói như thế cũng có nghĩa rằng, ở phương diện nào đó, nhạc còn có thể tham gia và trở thành một yếu tố tạo nên “cái viết” của tác phẩm văn xuôi.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Hyundai SantaFe thế hệ mới tiếp tục có thêm ảnh phác thảo


Mẫu xe SUV Hyundai Santa Fe để lộ thay đổi thiết kế các chi tiết mặt trước và sau được

Mẫu Hyundai Santa Fe mới dự kiến ra mắt cuối năm nay hoặc đầu năm sau. Xe không chỉ có diện mạo thay đổi mà còn ẩn chứa những đổi mới về mặt kỹ thuật. Xe có thể sẽ được trang bị hệ thống động cơ điện hoàn toàn mới.

Sự ra mắt của Hyundai SantaFe thế hệ thứ năm với kiểu dáng vuông vức và táo bạo vẫn còn in đậm trong tâm trí người tiêu dùng. Mẫu xe này từng gây nhiều tranh cãi, song Hyundai không dừng lại ở đó mà tiếp tục cho thấy tham vọng đổi mới khi để lộ diện hình ảnh của SantaFe mới với một phong cách hoàn toàn khác.

Hyundai SantaFe thế hệ mới tiếp tục có thêm ảnh phác thảo - 1

Ảnh phác thảo mới nhất về dòng xe Hyundai SantaFe.

Qua những hình ảnh ghi lại được, có thể cảm nhận hãng xe Hàn Quốc đang chuẩn bị cho một bước ngoặt lớn, vượt xa khái niệm nâng cấp thông thường. Nếu SantaFe hiện tại mang đến cảm giác mạnh mẽ và táo bạo thì phiên bản mới lại đem tới ấn tượng thanh thoát và hiện đại hơn. Từ đường nét thân xe đến cụm đèn và mui xe, mọi chi tiết đều được tái thiết kế, giúp tổng thể trở nên hài hòa và tinh tế.

Phần đầu và đuôi xe là nơi thể hiện rõ nhất sự thay đổi. Cụm đèn hậu hình chữ H trước đây được thay bằng dải đèn mảnh đặt dọc hai bên, gợi ý rằng cửa hậu có thể đã được thu nhỏ. Ở phía trước, lưới tản nhiệt và hệ thống chiếu sáng cũng được làm mới hoàn toàn. Dải đèn định vị ban ngày dạng mảnh chạy dọc hai bên thay thế cho thiết kế chữ H cũ, trong khi cụm đèn chiếu sáng được hạ thấp xuống phần cản, giúp đầu xe gọn gàng và hiện đại hơn.

Hyundai SantaFe thế hệ mới tiếp tục có thêm ảnh phác thảo - 2

Phần sau xe Hyundai SantaFe vẫn giữ thiết kế vuông và góc cạnh. 

Bên trong khoang lái, Hyundai tiếp tục mang đến nhiều đổi mới. Vô lăng có kiểu dáng vuông vức hơn, trong khi màn hình trung tâm nhỏ gọn thay thế cho kiểu màn hình liền khối kéo dài giữa bảng điều khiển và khu vực trung tâm. Một số chi tiết vẫn đang được giữ kín, nhưng nhiều khả năng hãng vẫn trang bị thêm màn hình phụ phía sau lớp che.

Một điểm khiến giới quan sát đặc biệt chú ý là việc SantaFe mới xuất hiện cửa nạp nhiên liệu ở cả hai bên thân xe. Đây được xem là dấu hiệu cho thấy mẫu xe này có thể đã bước vào giai đoạn điện hóa. Dù Hyundai chưa từng sản xuất xe điện mở rộng tầm hoạt động, nhưng việc họ dừng phiên bản PHEV của Santa Fe từ năm 2023 có thể là bước đi chuẩn bị cho hướng phát triển mới này.

Hyundai SantaFe thế hệ mới tiếp tục có thêm ảnh phác thảo - 3

Nội thất xe Hyundai SantaFe được thay đổi nhiều chi tiết. 

Vị trí ống xả cũng được thay đổi, cho thấy sự điều chỉnh về cấu trúc để dành không gian cho gói pin. Theo người chụp ảnh thử nghiệm, chiếc xe vận hành gần như không phát ra tiếng động, càng củng cố khả năng đây là một mẫu xe chạy điện hoàn toàn.

Khi ra mắt vào năm 2024, Hyundai Santa Fe từng coi đó là một cú chuyển mình mạnh mẽ với phong cách thiết kế táo bạo phản ánh xu hướng sống ngoại ô đang phát triển. Giờ đây, với xe mới, có thể thấy hãng đang tiếp tục tiến hóa triết lý ấy theo hướng tinh giản và tinh tế hơn, đồng thời mở ra một chương mới trong hành trình chuyển đổi sang kỷ nguyên xe điện.



Nguồn: Arttimes.vn

10 mẫu ô tô bán chạy nhất tại Việt Nam tháng 3/2026


Xe điện áp đảo toàn diện top 10 xe bán chạy với 7 cái tên góp mặt.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Trái bóng bất ngờ lăn ra đường, xe máy không kịp tránh ngã sõng soài


Đang lưu thông, người đi xe máy không kịp tránh trái bóng lăn ra đường nên gặp tai nạn nguy hiểm.




Nguồn: Arttimes.vn

Liên kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái


Dẫu kí hiệu học hiện đại “đang trải qua giai đoạn buộc phải xét lại một số khái niệm cơ bản”, nhưng hiện nay, lí thuyết về kí hiệu học đã trở thành phổ biến và được vận dụng như một khung tri thức để tham chiếu, giải mã văn bản nghệ thuật.

Từ góc nhìn kí hiệu học, nếu xem tác phẩm văn học là một “kí hiệu đa văn hóa” thì trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đa văn hóa/liên văn hóa gắn liền với liên kí hiệu. Mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái đều có sự va đập các kí hiệu thẩm mỹ. Sự liên kết chuỗi kí hiệu nằm trong chiến lược trần thuật của nhà văn.

Liên kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái - 1

Nhà văn Hồ Anh Thái.

Liên kí hiệu – một mô thức kiến tạo văn bản 

Với chủ trương lấy văn bản làm trung tâm, trong công trình Kí hiệu học văn hóa, Iu. M. Lotman khẳng định: “Văn bản mới bao giờ cũng gắn với các văn bản cũ bằng những quan hệ đối thoại, nó bảo tồn các văn bản ấy trong kí ức của mình”; “Các kí hiệu tạo thành văn bản, các văn bản tạo thành văn hóa, các văn bản tạo thành kí hiệu quyển”. “Trong một văn bản văn chương, mỗi kí hiệu có thể trở thành một chức năng văn bản chính mà việc giải mã nó tuyệt đối cần thiết cho việc lĩnh hội đầy đủ văn bản”. Theo nghĩa đó, kí hiệu tồn tại trong tác phẩm văn học như một công cụ kiến tạo văn bản nghệ thuật. Mô thức kiến tạo này rõ nét trong một kiểu tác giả, tiêu biểu là Hồ Anh Thái. Tạo mã với các chuỗi kí hiệu đặc thù (lặp lại trong một và nhiều tiểu thuyết) chính là một chiến lược trần thuật của Hồ Anh Thái, với lối tự sự đa thanh, nhiều gợi mở. Chuỗi kí hiệu xuyên suốt tiểu thuyết Hồ Anh Thái với chất kết dính của nó đã làm nên một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát cao. Lượng thông tin về các miền văn hóa, các cộng đồng văn hóa “phì đại” trong thế giới nghệ thuật của nhà văn qua một hệ thống kí hiệu liên kết chặt chẽ. Tính chất liên kí hiệu khiến tác phẩm trở thành những mã thẩm mĩ, dung chứa nhiều vấn đề trong mạch ngầm văn bản. Việc giải mã khiến hàm lượng thông tin, hàm lượng văn hóa bung nở đa chiều kích.

Theo Trần Đình Sử, “trong tác phẩm có những mã văn học ẩn sâu trong hệ thống hình tượng, cần có cách mô hình hóa mới phát hiện ra. Việc này đòi hỏi phân tích các motip, sự lặp lại có tính quy luật của chúng. Đó là mã của tác phẩm văn học. Nhưng trong tác phẩm còn có các mã văn hóa, như điển cố, các mối liên hệ do quá trình văn hóa tạo nên”. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái tính liên kí hiệu biểu hiện ở hai mối quan hệ. Một là, sự tương tác giữa các kí hiệu trong một văn bản tiểu thuyết. Hai là, chuỗi kí hiệu xuyên suốt nhiều tiểu thuyết với các nghĩa phái sinh.

Trường hợp thứ nhất, trong mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn có một hệ thống kí hiệu chằng chịt, mỗi kí hiệu thẩm mĩ đều có sự tương tác với các kí hiệu khác để tạo nghĩa mới.  Trong tiểu thuyết Tranh Van Gogh mua để đốt sự tương hỗ giữa các kí hiệu đã làm nên một “tổ hợp kí hiệu” mở rộng nội dung tác phẩm. Hồ Anh Thái luôn tạo lực hút từ nhan đề. Xâu chuỗi toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn, nhan đề chính là những mã văn hóa, hình thành từ sự liên kết các kí hiệu. Ngoài tính chất gợi dẫn của nhan đề, chuỗi kí hiệu liên kết, phái sinh là Lửa (đốt/hủy) và Trắng (sương mù/vô minh). Phái sinh từ bức Chân dung bác sĩ Gachet của Van Gogh là vô vàn những bức tranh trắng (“Trắng tinh, Trắng xóa, Trắng bạch, Trắng muốt, Trắng hếu, Trắng nhởn, Trắng mù như sương, Trắng nhờ nhờ như khoảng sáng trước bình minh. …”; “Nhiều trắng quá. Giả sử mở một cuộc triển lãm, tên triển lãm sẽ là Trắng. Một chữ thôi. Trắng”). Những bức trắng lại phái sinh vô số những cái. Từ một bức tranh nhân bội lên nhiều bức tranh. Trắng hiện diện xuyên khắp, như một kí hiệu đa bội, gắn kết các mảnh, các mã văn hóa. Trắng là một ảnh tượng siêu hình về ý nghĩa cuộc đời; là phi lí, ngụy tín trong văn học nghệ thuật và những hệ lụy của nó trong đời sống con người. 

Trường hợp thứ hai, nhìn một cách hệ thống, có thể thấy tính lặp lại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua chuỗi kí hiệu xuyên văn bản. Tác phẩm phái sinh có mối quan hệ với tác phẩm gốc, có khi trùng một mẫu đề, có lúc trùng lặp một phần, một chương, một nhân vật… của tác phẩm gốc. Nói cách khác, cuốn tiểu thuyết này dung chứa một phần của tiểu thuyết khác qua sự trùng lặp kí hiệu, hoặc tái hiện nguyên văn như một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Tính phái sinh rõ nhất là ở hai tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và tôiTranh Van Gogh mua để đốt. Cả hai tiểu thuyết đều gây ấn tượng ngay từ nhan đề với sự liên kết kí hiệu. 

Liên kí hiệu từ huyền thoại, biểu tượng và sự truyền dẫn 

Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh, có quan niệm đồng nhất kí hiệu với biểu tượng (tiêu biểu là E. Cassirer, Ch. Pierce); có quan niệm coi biểu tượng như một dạng kí hiệu đặc biệt (Lotman, Todorov, Freud, Jung); có quan niệm xem biểu tượng là “một hiện tượng thiêng liêng thần bí, một thông điệp của đấng tối cao gửi đến con người”. Từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa, tính kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái thống hợp các quan niệm trên. Sự tĩnh lược đối thoại, để cho biểu tượng lên tiếng là đặc điểm của tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Biểu tượng vốn mang trong bản thân nó những “kinh nghiệm văn hóa cộng đồng”, qua nghệ thuật sáng tạo, dụng ngôn của nhà văn, càng phái sinh nhiều ý nghĩa. Bằng liên kí hiệu, qua hệ thống huyền thoại, biểu tượng, các motif… lặp lại theo dụng ý nghệ thuật, tác giả đã tạo các mã văn học/văn hóa. Tiếng nói bên trong văn bản nằm ở sự tương hỗ, va đập giữa huyền thoại, cổ mẫu, biểu tượng.

Mã huyền thoại về trinh nữ 

Theo Roland Bathes, “là ngôn từ, nên tất cả đều có thể là huyền thoại, nó liên quan đến diễn ngôn. Huyền thoại không xác định bởi đối tượng thông điệp của nó, mà bởi cách nó phát ra thông điệp ấy: có những giới hạn về hình thức đối với huyền thoại, chứ không có những giới hạn về thực thể”. Chính huyền thoại đã mở ra nhiều tầng nghĩa qua những liên tưởng phong phú. Một trong những huyền thoại lặp đi lặp lại trong văn bản tiểu thuyết Hồ Anh Thái là câu chuyện về trinh nữ với nhiều nghĩa tiềm ẩn. Dẫu không muốn đặt ra vấn đề nữ quyền, thậm chí có lúc giễu nhại những giáo điều của nữ quyền luận, tuy vậy, có thể xem Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sớm quan tâm đến số phận những người phụ nữ từ cái nhìn văn hóa nhân văn. Trong hệ thống biểu tượng trùng phức, trinh tiết biểu đạt đến cùng thân phận đàn bà. Người đàn bà trên đảo (1985) là cuốn tiểu thuyết sớm đề cập phận đời của những cô gái trong và sau chiến tranh – một chủ đề được văn học hậu chiến quan tâm. 

Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, các mã huyền thoại về trinh nữ phái sinh từ cổ mẫu Thánh Nữ Đồng Trinh. Từ mẫu hình trong huyền thoại, trong tập tục đến những phái sinh, nhà văn đã tạo mã về dục vọng đàn bà, vấn đề không phải là không còn sức gợi. Nhà văn như vừa chép lại huyền thoại vừa “tiếp tục sáng tạo ra huyền thoại”. Huyền thoại quần hôn được ghép thêm những mảnh ghép của năm đêm tân hôn êm ái dịu dàng ê chề rã rời hoan lạc. Mượn huyền thoại nhà văn thấu cảm nỗi đau dày vò thân xác của phụ nữ từ khoái lạc đàn ông. Từ đó, chuỗi huyền thoại trong tác phẩm Hồ Anh Thái không chỉ thuộc về cổ xưa mà “là những huyền thoại về cái hiện tại, của ngày hôm nay.

Chiêm bao – một chuỗi kí hiệu đa nghĩa 

Về mặt lí thuyết, chiêm bao được xem là vấn đề cốt lõi của phân tâm học. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, hai dạng giấc mơ xuất hiện xuyên văn bản là giấc mơ tính dục và cơn ác mộng về “ác giả ác báo”. Giấc mơ là “kí hiệu của ham muốn”, “giọng nói của ẩn ức tính dục” (Freud). Nhân vật tiểu thuyết Hồ Anh Thái thường có đời sống tính dục phong phú. Trong những hoàn cảnh đặc biệt, họ thường rơi vào trạng huống kìm nén bản năng và để lộ ra phần “bí mật nhất và trơ trẽn nhất” qua những cơn mơ phóng đãng với một chuỗi ảo ảnh ma quái. Sống ở nông trại gần như thiếu vắng bóng đàn bà, “cách dăm ngày, Hòa lại cảm thấy một cái đầu quay cuồng, vật vã trên ngực mình…” (Người đàn bà trên đảo). Những giấc mơ tính dục của công chúa Savitri (tiền kiếp) là tiếng nói của dục vọng giữa bể khổ trần gian. Trong giấc mơ của Savitri, người đàn bà tuổi hồi xuân, người tình Yasa hiện về, “vẻ quằn quại vật vã. Mười mấy năm theo Phật, ám ảnh dục lạc tưởng như đã dẹp bỏ, nay lại thức dậy quay cuồng (Đức Phật, nàng Savitri và tôi). Những giấc mơ dục lạc, những thao tác, hành vi tính dục thừa mứa, đôi khi quá ngưỡng lại mang chứa quan niệm bể khổ đời người. Giấc mơ của những người đàn bà ở Xóm Chửa Hoang thấy mình ngủ với cá voi (biểu tượng đàn ông mạnh mẽ; tiếng nói của những cơn khát và hưng phấn tính dục)- “Một thứ hương đê mê. Gió dồi sóng dập. Trời đất quay cuồng đảo ngược. Núi đá vặn mình tung tóe nước non” (Dấu về gió xóa). Giấc mơ về tội ác và trừng phạt cũng lặp lại nhiều lần, là một mã văn hóa xuyên văn bản. Thiện ác là qui luật tự nhiên. G. Bataille, nhà triết học người Pháp, người ủng hộ cho văn học viết về cái ác, cho rằng: “Văn học là cơ sở của tồn tại hoặc không là gì cả. Nó là hình thức thể hiện rõ nét của cái Ác, một cái Ác theo tôi nghĩ, có một giá trị tối thượng. Quan điểm này không đòi hỏi sự thiếu vắng đạo đức, nó yêu cầu một “siêu đạo đức”.

Trong văn học Việt Nam đương đại, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sớm viết về cái ác với quan niệm “Cuộc sống chỉ chia ra hai màu Thiện – Ác, không hơn” (Dấu về gió xóa). Trong nhiều tiểu thuyết Hồ Anh Thái, cái ác chiếm lĩnh, bầy đàn, đông đúc, dai dẳng. Cái ác muôn hình vạn trạng dưới mọi hình thức tàn độc. Cái ác hủy hoại nhân tính. Trong kí hiệu quyển đó, có những giấc mơ thoáng qua, như những “kí hiệu vô bổ”(chữ dùng của A. Compagnon), chìm khuất giữa các sự kiện xảy ra dồn dập nhưng chính là tiếng nói chất vấn của lương tri con người. Những giấc mơ thiêng hóa giải lời nguyền, hướng thiện trong cõi ác; những giấc mơ nhân quả (Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế, Năm lá quốc thư). Khi Hồ Anh Thái viết về nhân quả, cái chết, nghiệp báo, cứu chuộc, motif tội lỗi – trừng phạt trở thành chủ đề đạo đức xuyên văn bản, cảnh báo về cái ác ngự trị dẫn đến sự suy thoái đạo đức nhân văn, đạo đức sinh thái. Tuy vậy, những yếu tố siêu nhiên trong sáng tạo của Hồ Anh Thái “không quá xúc phạm tới lí trí” (Todorov). Nó là phương tiện, là kí hiệu để nhà văn biểu đạt hiện thực thậm phồn, với các chiều kích tâm linh.  Tiểu thuyết Hồ Anh Thái giàu chất triết lí. Có lúc nhà văn diễn giải dài dòng qua lời trần thuật, nhưng phần lớn những suy tư chiêm nghiệm toát lên từ các chuỗi kí hiệu xuyên văn bản, thành nét chủ đạo trong phong cách nhà văn.

 Liên kí hiệu biểu đạt hiệu quả tính liên văn hóa/liên tôn giáo 

Từ lĩnh vực triết học, liên văn hóa là sự liên kết giữa các nền văn hóa của các dân tộc có căn tính, bản sắc khác nhau. Nhà triết học người Áo, Ludwig Josef Johann Wittgenstein – người được xem là có đóng góp lớn đối với sự ra đời của triết học liên văn hóa, chủ trương “dung hoà chủ nghĩa tương đối văn hóa với chủ nghĩa phổ quát văn hóa và cố gắng tìm ra tính thống nhất trong sự đa dạng của các nền văn hóa, các thế giới quan và các phương thức sống khác nhau”. 

Từ góc nhìn liên văn hóa, dẫu tác phẩm Hồ Anh Thái đa dạng về đề tài, các kiểu nhân vật cũng như nghệ thuật tự sự nhưng điểm thống nhất trong tiểu thuyết của ông là luôn có sự đối thoại và thống hợp các nền văn hóa. Ngay cả những tiểu thuyết về chuyện đời xô bồ nhốn nháo dục lạc và cái ác cũng đan xen những mảnh ghép giàu trữ lượng liên văn hóa. Trong các văn bản, chuỗi kí hiệu với chất kết dính của nó đã kiến tạo một thế giới nghệ thuật mang tầm khái quát cao. Đặc biệt, trong số các nhà văn chuyên viết về tôn giáo, Hồ Anh Thái là người thể hiện nhất quán quan niệm liên tôn. Nhà văn nhìn thấy sự hòa hợp giữa các tôn giáo trên nền tảng riêng của từng giáo phái. Điểm gặp gỡ giữa các tôn giáo Đông Tây là tinh thần vì con người, hướng về cuộc sống hài hòa, ổn định của con người. Dẫu Đức tin có khác nhau, nhưng các tôn giáo lớn đều hướng đến khổ nạn kiếp người; mong mỏi cuộc sống an yên cho muôn loài.

Liên kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái - 2

Mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái đều có sự va đập các kí hiệu thẩm mỹ.

Erich Fromm đã chỉ ra điểm chung giữa các tôn giáo với quan niệm: “Vấn đề tôn giáo không phải là vấn đề thượng đế mà là vấn đề con người; sự hình thành các tôn giáo và những biểu tượng tôn giáo là những nỗ lực nhằm diễn đạt một số dạng trải nghiệm của con người”. Xoay quanh vấn đề con người, thiện – ác, Hồ Anh Thái cho rằng, tôn giáo “như một cái phanh hãm, nó có thể phanh thắng con người dừng lại bên bờ vực tội lỗi, trước vùng ranh giới thiện – ác, bóng tối – ánh sáng” (Dấu về gió xóa).

Tư duy liên tôn giáo thể hiện một cách nhìn, một lối suy nghiệm đa chiều về thế giới và con người.  Vốn tri thức phong phú từ việc tiếp nhận các luồng tư tưởng Đông Tây cộng với những thực chứng từ nhiều vùng đất thánh nhà văn đã sống, qua hệ thống liên kí hiệu đã chuyển hóa thành những khái quát mang tầm triết lí nhân sinh. Cõi người rung chuông tận thế đan xen những quan niệm, nghi thức của tín ngưỡng dân gian, Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đức Phật, nàng Savitri và tôi không đơn thuần là Phật sử. Năm lá quốc thư chủ yếu viết về căn tính của người Việt nhưng bên cạnh đó là những mảnh ghép về Hồi giáo. Quan niệm liên tôn giáo có khi được biểu đạt qua hình thức liên văn bản (Kinh Phật, Thánh kinh, lời của Hindu giáo, Hồi giáo…) hoặc qua diễn ngôn người kể chuyện; có lúc qua chuỗi kí hiệu/biểu tượng về tính thiêng. Từ quan niệm liên tôn, tiếng chuông trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là “tiếng nói” của nhiều tôn giáo. Dấu về gió xóa là tác phẩm luận bàn nhiều về các tôn giáo.

Nhà văn nhìn ra điểm chung của các tôn giáo là đều hướng con người đến thiện lành. Vì vậy, ở Đảo Xanh có một ngôi đền Đa giáo, Hợp chủng giáo; có tiếng chuông dành cho mọi tín đồ: “Chuông nhà thờ đánh suốt ngày, ban đầu là đánh chuông cho người Tin Lành người Thiên Chúa giáo. Sau rung chuông cho người Hindu, người Hồi giáo người Hỏa giáo, sau thỉnh chuông cho Phật giáo”. Trong Cõi người rung chuông tận thế, từ tiếng chuông chùa, một biểu tượng thiêng của Phật giáo, kết thúc câu chuyện về cái ác là thông điệp mang tinh thần Thuyết mạt thế của Thiên chúa giáo. “Bất đồ chuông chùa rung thảng thốt… Sư cụ đã bị cướp mất bình yên. Chuông giận dữ đổ ập vào không gian… Cả cõi người bị nhấn chìm trong một trận hồng thủy ngập tràn kim loại”…

Hồ Anh Thái là một trong số hiếm hoi những nhà tiểu thuyết có ý thức trong việc tạo ra những chùm tác phẩm cùng một đề tài hay cùng một thủ pháp. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, lượng thông tin về các miền văn hóa, các cộng đồng văn hóa “phì đại” qua một hệ thống kí hiệu liên kết chặt chẽ. Tính chất liên kí hiệu khiến tác phẩm trở thành những mã thẩm mĩ, dung chứa nhiều vấn đề trong mạch ngầm văn bản. Điều này khiến các tác phẩm của Hồ Anh Thái không chỉ là những văn bản độc lập, có đời sống riêng mà còn là những văn bản luôn được phái sinh cùng với các văn bản khác. Kiến tạo văn bản từ các chuỗi kí hiệu, hàm lượng thông tin, hàm lượng văn hóa trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái được bung nở đa chiều kích. Vừa thống nhất, vừa lạ hóa trong lối viết, qua hệ thống liên kí hiệu, có thể xem tiểu thuyết Hồ Anh Thái là “những cuốn tiểu thuyết biết suy nghĩ” (Kundera).

Lê Thị Hường




Nguồn: Arttimes.vn

Một bài thơ của sứ giả Đại Việt được Trung Quốc khắc vào bia đá


Bài thơ của sứ giả Đại Việt khắc trên bia đá năm 1691 ở Trung Quốc hiện vẫn còn nguyên vẹn.

Tác giả bài thơ là Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) Trần Thọ, tên chữ là Nhuận Phủ, chức Bồi tụng, tước Phương Trì Hầu, người làng  Điền Trì, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, nay là xã Trần Phú, TP Hải Phòng.

Ông là nhà thơ, tác giả Nhuận Phủ thi tập, hiện còn 3 bài thơ trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Ông sinh giờ Hợi ngày 6 tháng 10 năm Kỉ Mão (1639), mất giờ Dần ngày 6 tháng 8 năm Canh Thìn (1700), là con Dụ Phái Hầu, Hàn Lâm viện Thừa chỉ Trần Phúc, là cha Tiến sĩ – Tham tụng Thượng thư, Diệu Quân Công, Thượng Trụ quốc Trần Cảnh, tác giả Minh nông chiêm phả – bộ sách nông học đầu tiên của Việt Nam, ông nội Tiến sĩ  – Phó đô Ngự sử, Sách Huân Bá Trần Tiến (sau khi mất được truy phong Thượng thư  – Từ thời Lê, Phạm Đình Hổ đã ghi Trần Tiến là Thượng thư), người sáng lập thể kí tự thuật trong văn xuôi trung đại Việt Nam từ năm 1764, tác giả Niên phả lục, Đăng Khoa lục sưu giảng…, cụ nội Trợ giáo Thái tử nhà Lê, Trần Quý (sách in ghi theo chức là Trần Trợ), tác giả Tục biên Công dư tiệp kí… Các tác phẩm này, đến nay vẫn được tái bản.

Khi vua Lê cử làm sứ giả đi Trung Quốc, Trần Thọ là Tả Thị lang bộ Hộ (Thứ trưởng thứ nhất bộ Hộ, phụ trách về đất đai – lãnh thổ, lãnh hải). Nhiệm vụ của ông là đòi lại đất 4 châu: Vị Xuyên, Bảo Lạc, Quỳnh  Nhai, Thủy Vĩ ở biên giới phía Bắc, bị nhà Thanh lấn chiếm, trong đó Vị Xuyên còn tên đến ngày nay. Chánh sứ là Quốc Bảo khanh Nguyễn Danh Nho làm nhiệm vụ triều cống. Nguyễn Danh Nho, cùng họ cùng quê với thiền sư – nhà thuốc Nam đại tài Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh –  bị bắt cống sang Trung Quốc chữa bệnh cho Hoàng hậu rồi qua đời ở Giang Nam).

Một bài thơ của sứ giả Đại Việt được Trung Quốc khắc vào bia đá - 1

Miếu Trọng Tử hiện nằm ở thôn Trọng Thiển, trấn Lỗ Kiều, huyện Vi Sơn, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

Nguyễn Danh Nho đỗ Tiến sĩ cùng 1 khoa với Trần Thọ, làng quê của 2 ông ở gần nhau (cách 1 con sông là sông Thái Bình). Đoàn đi tháng 4  năm 1690, về năm 1691, có qua Giang Nam, thăm mộ Tuệ Tĩnh. Hai ông đã cho dập dòng chữ khắc trên bia mộ Tuệ Tĩnh mang về nước, và ngày nay chúng ta biết đến tâm nguyện của vị Thiền sư là từ sau cuộc đi này: “Mai sau ai người nước Nam qua đây, xin đưa hài cốt tôi về với”.

Trên đường về, ngày Rằm tháng 7 nhuận, năm Tân Mùi (1691), đoàn sứ bộ qua tỉnh Sơn Đông, ghé thăm đền/ miếu Trọng Phu Tử. Trần Thọ đề thơ, được quan sở tại cho khắc bài thơ vào bia đá. Đến nay đã 335 năm (1691 – 2026), bài thơ trên bia vẫn còn nguyên vẹn. 

 Bài thơ như sau:

谒仲夫子庙

Viếng miếu Trọng Phu Tử

 得天賦予性剛強,袨杏初曾遊聖墻.

六藝詩書精旨奧,四科政事好才長.

巍巍廟貌容儀肅,歷歷春秋黍稷香.

介使南來思景仰,河山帶礪久名芳.

康熙辛未金秋闰七月望日

(bản gốc chữ Hán do Đặng Văn Lộc cung cấp) 

Sứ giả nước Đại Việt Trần Thọ, phụng mệnh đi triều cống, khi đi qua miếu Trọng Phu Tử, đã vào miếu bái yết và kính cẩn đề một bài thơ:

Đắc thiên phú dữ tính cương cường,

Huyễn hạnh sơ tằng du Thánh tường.

Lục nghệ thi thư tinh chỉ áo,

Tứ khoa chính sự hảo tài trường.

Uy uy miếu mạo dung nghi túc,

Lịch lịch Xuân Thu thử tắc hương.

Giới sứ Nam lai tư cảnh ngưỡng,

Hà sơn đái lệ cửu danh phương.

Dịch nghĩa:

Trời ban tính tình cương trực

Xuân về áo gấm đi viếng tường Thánh xưa.

Sáu môn thơ hoạ đều rất tinh thông

Bốn khoa chính sự tài năng vẹn toàn.

Miếu cao dáng mạo trang nghiêm 

Hương thơm dạt dào quanh năm vào mùa xuân thu

Sứ giả phương Nam đến bái miếu với lòng kính trọng

Non sông bền vững, tiếng tăm lưu truyền.

                   

Dịch thơ:

Cương trực trời ban tính dũng quan

Xuân về áo gấm viếng dung nhan

Họa, thơ sáu loại đều tinh giỏi

Chính sự bốn khoa lại vẹn toàn

Dáng mạo miếu cao lòng kính ngưỡng

Hương thơm ngát tỏa tiết thu sang

An Nam phó sứ vào chiêm bái

Bền vững non sông tiếng khải hoàn

                    

                    Khang Hy năm Tân Mùi (1691), tiết thu vàng 

                                            – tháng bảy nhuận, ngày rằm.

TRẦN NHUẬN MINH dịch

                           

Trần Nhuận Minh




Nguồn: Arttimes.vn

Nữ nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc trong Lễ bế mạc Thế vận hội Olympic Paris 2024 sẽ biểu diễn tại Việt Nam


Chuyến lưu diễn này đánh dấu một cuộc gặp gỡ nghệ thuật và nhân văn giữa một gương mặt tiêu biểu của đời sống âm nhạc Pháp và các thiết chế âm nhạc lớn của Việt Nam.

Theo lời mời của Viện Pháp tại Việt Nam, nữ nhạc trưởng Zahia Ziouani sẽ có các buổi biểu diễn tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cùng hai dàn nhạc giao hưởng hàng đầu của Việt Nam là Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam (VNSO) và Dàn nhạc Giao hưởng TP Hồ Chí Minh (HBSO).

Tại Hà Nội, Zahia Ziouani và Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam sẽ có buổi biểu diễn tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam ngày 11/4/2026. Tại TP Hồ Chí Minh, Zahia Ziouani và Dàn nhạc Giao hưởng và Vũ kịch TPHCM sẽ biểu diễn tại Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/4/2026.

Nữ nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc trong Lễ bế mạc Thế vận hội Olympic Paris 2024 sẽ biểu diễn tại Việt Nam - 1

Nữ nhạc trưởng Zahia Ziouani.

Không chỉ dừng lại ở các buổi hòa nhạc, Zahia Ziouani sẽ chia sẻ kinh nghiệm thông qua các lớp masterclass về chỉ huy dàn nhạc phối hợp cùng Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng thời, nữ nhạc trưởng sẽ tham gia các buổi giao lưu với công chúng sau những buổi chiếu phim Divertimento tại hai thành phố (ngày 8/4/2026 tại Trường quốc tế Pháp Alexandre Yersin Hà Nội và ngày 15/4/2026 tại Trường Marguerite Duras TP HCM), qua đó thúc đẩy đối thoại xoay quanh âm nhạc, hành trình nghệ thuật và vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chỉ huy dàn nhạc.

Chuyến lưu diễn tại Việt Nam vì thế là một dịp đặc biệt để nghệ sĩ và công chúng cùng gặp gỡ, trao đổi và trải nghiệm âm nhạc.

Nữ nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc trong Lễ bế mạc Thế vận hội Olympic Paris 2024 sẽ biểu diễn tại Việt Nam - 2

Zahia Ziouani được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu của đời sống âm nhạc giao hưởng đương đại của Pháp.

Với phong cách chỉ huy nghiêm cẩn, giàu năng lượng nhưng đầy tinh tế, Zahia Ziouani để lại dấu ấn riêng nhờ khả năng truyền cảm hứng mạnh mẽ, góp phần tôn vinh cả di sản giao hưởng kinh điển lẫn âm nhạc Pháp trong hơi thở đương đại.

Là nữ nhạc trưởng người Pháp có uy tín trên trường quốc tế, Zahia Ziouani được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu của đời sống âm nhạc giao hưởng đương đại của Pháp. Bà không chỉ được ghi nhận bởi tài năng nghệ thuật xuất sắc mà còn bởi tầm nhìn nhân văn và cam kết bền bỉ trong việc thúc đẩy đối thoại văn hóa, cũng như lan tỏa âm nhạc hàn lâm đến đông đảo công chúng.

Năm 1998, khi mới tròn hai mươi tuổi, bà sáng lập Dàn nhạc Giao hưởng Divertimento và đảm nhiệm vai trò Giám đốc âm nhạc. Trong suốt hơn hai mươi lăm năm qua, dưới sự dẫn dắt của bà, Divertimento không ngừng phát triển và nhanh chóng trở thành một trong những dàn nhạc giao hưởng uy tín hàng đầu tại Pháp, đồng thời ghi dấu ấn trên trường quốc tế thông qua nhiều dự án nghệ thuật mang tinh thần đổi mới, chất lượng nghệ thuật cao và định hướng tiếp cận cộng đồng rõ nét.

Năm 2007, Zahia Ziouani được bổ nhiệm làm nữ nhạc trưởng khách mời đầu tiên của Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia Algeria, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp quốc tế của bà. Bên cạnh đó, bà từng giữ vai trò Phó nhạc trưởng của Dàn nhạc Densités 93 và thường xuyên cộng tác với nhiều nghệ sĩ độc tấu danh tiếng tại các sân khấu lớn ở châu Âu và trên thế giới.

Một dấu son nổi bật trong sự nghiệp của Zahia Ziouani là việc bà chỉ huy dàn nhạc trong Lễ bế mạc Thế vận hội Olympic Paris 2024 tại sân vận động Stade de France. Sự kiện mang tầm vóc toàn cầu này đã đưa bà trở thành một trong số rất ít nữ nhạc trưởng trên thế giới đảm nhiệm vai trò chỉ huy giao hưởng trước hàng chục nghìn khán giả trực tiếp và đông đảo công chúng quốc tế.

Song hành với sự nghiệp chỉ huy, Zahia Ziouani theo đuổi một chiến lược dấn thân văn hóa – giáo dục dài hạn và có chiều sâu. Năm 2008, bà sáng lập Học viện Divertimento (Divertimento Academy) nhằm đào tạo các nhạc sĩ trẻ trong lĩnh vực biểu diễn dàn nhạc. Là Giám đốc của Liên hoan âm nhạc Classiq’ tại Stains, bà đồng thời triển khai nhiều chương trình đào tạo, hợp tác với các cơ sở giáo dục để góp phần dân chủ hóa âm nhạc giao hưởng. Hành trình nghệ thuật đầy cảm hứng ấy đã trở thành chất liệu cho bộ phim Divertimento (2023) của đạo diễn Marie-Castille Mention-Schaar, được công chúng và giới phê bình đánh giá cao như một biểu tượng của cơ hội bình đẳng và sự giải phóng con người thông qua âm nhạc.

Sự nghiệp âm nhạc của Zahia Ziouani đã được ghi nhận bằng nhiều huân chương cao quý của nước Cộng hòa Pháp, trong đó có Huân chương Công trạng Quốc gia (cấp Chỉ huy) và Huân chương Văn học và Nghệ thuật (cấp Sĩ quan và Hiệp sĩ). Những danh hiệu này không chỉ tôn vinh chất lượng nghệ thuật trong lao động sáng tạo của bà mà còn ghi nhận những đóng góp bền bỉ cho sự phát triển văn hóa và bình đẳng trong tiếp cận nghệ thuật.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Đảm bảo tiến độ, chất lượng tổ chức Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026


Ngày 14/4, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Trịnh Thị Thủy đã có buổi làm việc với Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam và các đơn vị liên quan về công tác chuẩn bị các hoạt động trong khuôn khổ Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4 năm 2026, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Các hoạt đồng trong khuôn khổ Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 17-19/4/2026 tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Đoài Phương, Hà Nội)

Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026 sẽ có sự tham gia của khoảng hơn 300 nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín, đồng bào 54 dân tộc của 34 tỉnh, thành phố; Huy động khoảng 125 đồng bào: 40 đồng bào dân tộc Kinh, Hoa, Khmer (tỉnh Vĩnh Long); 25 đồng bào dân tộc Chu Ru (tỉnh Lâm Đồng); 30 đồng bào dân tộc Thái (tỉnh Thanh Hóa); 30 đồng bào dân tộc Tày (tỉnh Quảng Ninh); Hơn 100 nghệ nhân, đồng bào của 16 nhóm đồng bào, 11 địa phương đang hoạt động hằng ngày tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Đảm bảo tiến độ, chất lượng tổ chức Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026 - 1Thứ trưởng Bộ VHTTDL Trịnh Thị Thủy chủ trì buổi làm việc

Báo cáo tại buổi làm việc, Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam Trịnh Ngọc Chung cho biết: Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026 sẽ diễn ra với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Hội nghị toàn quốc triển khai công tác văn hóa dân tộc và tuyên dương già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín; Báo công, viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và gặp mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; Giao lưu cộng đồng các dân tộc chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam;…

Ngoài ra, trong khuôn khổ chương trình còn diễn ra các hoạt động trình diễn giới thiệu di sản, văn hóa các địa phương như: Ngày hội giao lưu văn hóa các dân tộc tỉnh Vĩnh Long; Sắc màu văn hóa dân tộc Chu Ru tỉnh Lâm Đồng; Sắc màu văn hóa dân tộc Thái tỉnh Thanh Hóa; Sắc màu văn hóa dân tộc Tày tỉnh Quảng Ninh;… Cùng với đó là các hoạt động hằng ngày của đồng bào tại Làng.

Để đảm bảo các hoạt động được diễn ra thành công, tạo dấu ấn mạnh mẽ cho người dân và du khách, ông Trịnh Ngọc Chung cho biết: Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam đã chủ động triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, bảo đảm tiến độ và chất lượng tổ chức Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2026.

Đảm bảo tiến độ, chất lượng tổ chức Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026 - 2Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam Trịnh Ngọc Chung báo cáo tại buổi làm việc

Công tác phối hợp với các địa phương tham gia đã được thực hiện chặt chẽ, trong đó, tập trung hướng dẫn xây dựng kịch bản chi tiết cho từng hoạt động của các địa phương, lựa chọn thành phần nghệ nhân, đồng bào tiêu biểu, đồng thời rà soát nội dung trình diễn nhằm bảo đảm tính đặc trưng, tiêu biểu của từng dân tộc. 

Về công tác tổ chức tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam, các đơn vị chức năng đã tích cực chuẩn bị cơ sở vật chất, không gian tổ chức các hoạt động, bao gồm khu vực sân khấu, khu trình diễn, trưng bày, trải nghiệm văn hóa. Công tác chỉnh trang cảnh quan, vệ sinh môi trường, bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống cháy nổ và y tế cũng được xây dựng kế hoạch cụ thể, sẵn sàng phương án ứng phó với các tình huống phát sinh. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, quảng bá sự kiện cũng được đẩy mạnh.

“Đến thời điểm hiện tại, các nội dung chuẩn bị cơ bản được triển khai đúng tiến độ, sẵn sàng cho việc tổ chức các hoạt động theo kế hoạch đề ra, bảo đảm trang trọng, thiết thực, hiệu quả, góp phần tôn vinh, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam trong giai đoạn mới” – ông Trịnh Ngọc Chung nói. 

Đảm bảo tiến độ, chất lượng tổ chức Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026 - 3Các đại biểu tham dự buổi làm việc

Phát biểu tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Trịnh Thị Thủy ghi nhận sự nỗ lực và tinh thần chủ động của Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam và các đơn vị liên quan trong công tác chuẩn bị các hoạt động trong khuôn khổ Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4 năm 2026

Thứ trưởng Trịnh Thị Thủy nhấn mạnh, các hoạt động được tổ chức nhằm chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4); kỷ niệm 80 năm ngày Bác Hồ gửi thư cho Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam (19/4/1946 – 19/4/2026) và 18 năm thực hiện Quyết định số 1668/QĐ- TTg ngày 17/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc lấy ngày 19/4 hằng năm là Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam; đồng thời triển khai Nghị quyết số 80- NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Bên cạnh đó, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác văn hóa dân tộc; phát huy vai trò của nghệ nhân, đồng bào các dân tộc thiểu số trong bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống; nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân, chủ thể văn hóa góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, giới thiệu, quảng bá giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương qua các hoạt động trình diễn di sản, nghi lễ truyền thống thúc đẩy bảo tồn văn hóa phi vật thể và phát triển du lịch.

Đảm bảo tiến độ, chất lượng tổ chức Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) năm 2026 - 4Quang cảnh buổi làm việc

Từ nay đến thời điểm diễn ra sự kiện không còn nhiều, Thứ trưởng Trịnh Thị Thủy đề nghị, các đơn vị cần khẩn trương rà soát toàn bộ nội dung công việc, bám sát kế hoạch đã đề ra. Các hoạt động của Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam cần phải được tổ chức trang trọng, hiệu quả, an toàn, tiết kiệm, đồng thời tạo không khí vui tươi, phấn khởi, đoàn kết. Đặc biệt, đề cao vai trò chủ thể văn hoá tại “Ngôi nhà chung”, đảm bảo yếu tố bảo tồn, tôn vinh giá trị truyền thống dân tộc../.



Nguồn: Arttimes.vn

Tại Hoa Kỳ có một học viện mang tên Trần Nhân Tông


Cách xa đến nửa vòng trái đất, bên kia bán cầu, tên tuổi của một vị vua anh minh của nhà Trần được đặt tên cho một viện nghiên cứu “Học viện Trần Nhân Tông” (Tran Nhan Tong Academy, thuộc Đại học Harvard nổi tiếng ở Thành phố Boston, bang Massachusetts), Hoa Kỳ.

Nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới đánh giá rất cao thời đại nhà Trần (1225-1400) là một trong những giai đoạn hoàng kim phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Đại Việt. Nhà Trần với các chiến công quân sự oanh liệt, sự phát triển văn hóa thuần Việt, phổ biến chữ Nôm và tinh thần tự tôn, độc lập cao độ, vượt xa ảnh hưởng của phương Bắc. Triều Trần được xem là một hiện tượng lịch sử quân sự bởi đây là một quốc gia nhỏ bé, nhưng đã 3 lần đánh bại quân xâm lược Nguyên – Mông, lực lượng quân sự hùng mạnh bậc nhất thời Trung đại. Nhiều học giả phương Tây coi chiến thắng của nhà Trần là một trong những chiến thắng hiếm hoi và có ý nghĩa. Một sử gia người Anh từng viết: “Việc Đại Việt đứng vững trước làn sóng bành trướng của Mông Cổ cho thấy sức mạnh tinh thần, tổ chức xã hội và bản lĩnh văn hóa có thể làm thay đổi cục diện lịch sử, ngay cả khi tương quan lực lượng hết sức chênh lệch”. Theo các nghiên cứu quốc tế, nếu Đại Việt thất bại, cánh cửa Đông Nam Á có thể đã hoàn toàn rơi vào tay đế quốc Mông Cổ, kéo theo sự biến đổi sâu sắc về chính trị và văn minh khu vực. 

Các học giả, nhà nghiên cứu thế giới quan tâm đến nhà Trần của Vương quốc Đại Việt nói chung đặc biệt họ lưu ý nhiều đến Trần Nhân Tông, một vị Phật hoàng trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc.

Tại Hoa Kỳ có một học viện mang tên Trần Nhân Tông - 1

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông, bảo vật quốc gia. Ảnh: Bảo tàng Quảng Ninh

Trần Nhân Tông (Trần Khâm) là con của Hoàng đế Trần Thánh Tông (Trần Hoảng), lên ngôi vua năm 21 tuổi (1278). Ông làm vua được 15 năm, đến năm 35 tuổi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để lên làm Thái Thượng hoàng, rồi xuất gia trở thành một nhà tu hành.

Dưới sự trị vì của Trần Nhân Tông, triều đại Nhà Trần bước vào một thời kỳ thịnh trị và trở thành một trong những triều đại hiển hách nhất trong lịch sử Việt Nam, cả về võ công lẫn văn trị. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn Đại Việt phải đối mặt với nhiều thử thách. Lãnh thổ quốc gia còn nhỏ hẹp, thường xuyên chịu sức ép từ các thế lực bên ngoài. Đặc biệt, thời kỳ này trùng với sự trỗi dậy và bành trướng mạnh mẽ của đế chế Mông Cổ, sau này là triều Nhà Nguyên, một trong những đế chế rộng lớn và hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại.

Vó ngựa của quân Mông Cổ từng tung hoành khắp Á – Âu, chinh phục nhiều quốc gia và tạo nên nỗi kinh hoàng đối với nhiều dân tộc. Tuy nhiên, trước sức mạnh tưởng chừng không thể cản phá ấy, Đại Việt – một quốc gia nhỏ bé – đã ba lần đánh bại quân xâm lược. Cùng với vua cha là Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba (1287-1288), giành thắng lợi vang dội, đỉnh cao là chiến thắng trong Trận Bạch Đằng năm 1288. Những thắng lợi này đã chấm dứt ý đồ xâm lược Đại Việt của nhà Nguyên và khẳng định ý chí độc lập của dân tộc.

Trong thời kỳ đó cũng xuất hiện nhiều danh tướng kiệt xuất như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải và Phạm Ngũ Lão, những người đã góp phần làm nên chiến công hiển hách của triều Trần.

Sau khi lãnh đạo toàn dân đánh bại quân xâm lược phương Bắc, Trần Nhân Tông chú trọng khôi phục và xây dựng đất nước. Ông khởi xướng tinh thần hòa hợp, khoan dung và đoàn kết dân tộc, chủ trương “yêu thương – hòa giải”, coi những người xung quanh là anh em thân thuộc, còn những người lầm lỗi hay lưu lạc là những người con cần được cảm hóa và trở về.

Sau ngày về lại kinh thành Thăng Long, công việc đầu tiên là nhà vua ra lệnh đốt tất cả những bằng chứng có thể kết tội những người đã từng hợp tác với giặc bán nước hại dân. Trong Hoàng tộc, nhà vua thực hiện chính sách đoàn kết, không truy bức gắt gao với những ai lỡ lầm phạm tội lần đầu. Đối với dân chúng vua dùng kế sách “nới sức dân”, cho phép chuộc lại nô tì và ruộng đất. Đối với kẻ thù, vua dùng lời ôn tồn, mềm dẻo trong các thư từ qua lại với mục đích tranh thủ nền hòa bình. Mặc dầu giặc độc ác dã man như vậy, song khi đại thắng vua vẫn đối xử nhân đạo, sai đưa “đại vương Tích Lệ Cơ Ngọc” và các tướng tá bị bắt về nước an toàn  và tha cho hơn 8.000 quân Nguyên – Mông bị bắt làm tù binh về đoàn tụ với gia đình.

Đối với nước láng giềng phương Nam Chăm Pa, ngài kiến lập nền hòa bình với vương quốc này.

Trần Nhân Tông còn đặc biệt nổi tiếng là người sáng lập dòng thiền Phật giáo “Trúc Lâm Yên Tử”.

Những sự việc này đã được sử sách ca ngợi là có tác dụng an dân và định nhân tâm một cách sâu sắc, để rồi trong toàn bộ công cuộc mở rộng bờ cõi và xây dựng nền văn hóa, ngài đã hội tụ được những người giỏi giúp sức cho đại nghiệp.

Với tinh thần hòa giải – yêu thương đó của ngài đã làm rung động nhiều con tim của các học giả thế giới. Chính vì vậy, cách xa hàng nửa vòng trái đất, bên kia bán cầu, tên tuổi của một vị vua anh minh của nhà Trần được đặt tên cho một viện nghiên cứu “Học viện Trần Nhân Tông” (Tran Nhan Tong Academy, thuộc Đại học Harvard nổi tiếng ở Thành phố Boston, bang Massachusetts), Hoa Kỳ.

Thực ra ý tưởng thành lập Học viện Trần Nhân Tông và giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông là do nhà báo Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Tổng biên tập báo điện tử Vietnamnet đề xuất từ năm 2009. Sau đó được cụ thể hóa qua buổi biểu diễn nhạc giao hưởng dưới chủ đề: “Hòa giải và Yêu thương” vào ngày 22/4/2019 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

Sáng kiến thành lập Học viện Trần Nhân Tông và Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về “Hòa giải và Yêu thương” của ông Tuấn đã được sự ủng hộ nhiệt tình của các giáo sư, viện sỹ có uy tín ở Đại học Harvard, đặc biệt được Gs. Thomas Patterson đề xuất phương án để Học viện Trần Nhân Tông triển khai xây dựng tại Hà Nội một bảo tàng mang tên Trần Nhân Tông, đồng thời giáo sư đã động viên vợ là bà Lorie Conway, nhà làm phim tài liệu có uy tín sang Việt Nam làm một bộ phim tài liệu về Phật hoàng Trần Nhân Tông. Gs. Patterson còn cho biết nhiều đồng nghiệp của ông là những giáo sư nổi tiếng ở Harvard cùng với một số nhà báo ở Mỹ cũng rất sẵn sàng đồng hành cùng Viện Trần Nhân Tông, bởi tư tưởng minh triết và sự nghiệp lẫy lừng của Trần Nhân Tông mang một giá trị rất quý không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của cả nhân loại.

Vì vậy, ngày 16/2/2011, tại Hà Nội đã diễn ra một cuộc Hội nghị bàn về vấn đề này. Tham dự hội nghị ngoài các học giả thế giới còn có bà cựu Tổng thống Latvia  Vaira Vike Freiberga.

Tại Hoa Kỳ có một học viện mang tên Trần Nhân Tông - 2

Quang cảnh buổi hòa nhạc ngày 11/7 tại Boston.

Học viện Trần Nhân Tông do một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Harvard,  một trong những cái nôi của trí tuệ Mỹ đứng ra thành lập  và do Gs Thomas Patterson làm Chủ tịch. Gs Patterson hiện là Giám đốc nghiên cứu trung tâm Shorenstein thuộc Đại học Harvard, được đánh giá là một trung tâm nghiên cứu Báo chí, Chính trị và Chính sách công có uy tín trên toàn cầu, nơi thu hút được nhiều nhà lãnh đạo truyền thông, nhà báo nổi tiếng thế giới về đây nghiên cứu.

Giáo sư Patterson còn cho hay: “Khi được mời làm Chủ tịch Viện Trần Nhân Tông, tôi đã chấp nhận với tất cả sự nhún nhường. Nhiều năm trước tôi là một lính Mỹ tới Việt Nam và tôi đã đem lòng yêu đất nước, con người và lịch sử Việt Nam. Đó là thời điểm lần đầu tiên tôi nhận biết về Trần nhân Tông, vị vua đã hoàn thành được điều mà nhiều người không làm được: chiến thắng quân Mông Cổ ở thế kỷ XIII. Tuy nhiên, mãi đến năm 2010, tôi mới có được một sự hiểu biết đầy đủ về tầm vóc của ông, khi tôi cùng vợ đến viếng thăm Yên Tử, Quảng Ninh. Chính vào thời điểm này tôi bắt đầu ngưỡng mộ sự hy sinh lớn lao của ông đối với đất nước. Tôi vinh dự khi được đóng góp một phần  nhỏ trong việc thúc đẩy di sản Trần Nhân Tông để lại, thu hút được con tim của mọi người Việt Nam và các nơi khác”.

Viện Trần Nhân Tông (Tran Nhan Tong Academy) được thành lập nhằm mục đích:

Thứ nhất: Tổ chức nghiên cứu về Trần Nhân Tông theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời xuất bản các kết quả nghiên cứu các ấn phẩm  về Trần Nhân Tông bằng nhiều loại hình.

Thứ hai: Thúc đẩy, ứng dụng những tư tưởng nhân ái, giàu trí tuệ của Phật hoàng Trần Nhân Tông vào cuộc sống.

Thứ ba: Quảng bá những tư tưởng với sự nghiệp vĩ đại của vua Trần nhân Tông trên toàn thế giới.

Viện Trần Nhân Tông, một cơ sở nghiên cứu khoa học về một danh nhân Việt Nam, truyền bá các giá trị và tìm kiếm các giải pháp cho các xung đột xã hội đương đại trên thế giới, đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà hoạt động chính trị và truyền thông, các nhà nghiên cứu về khoa học chính trị, pháp lý…, các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới, như bà Ann L. McDaniel, Phó giám đốc tập đoàn Truyền thông  The Washington Post, ông Michael Dukakis, nguyên ứng cử viên tranh cử Tổng thống Mỹ năm 1988, cựu Tổng thống Latvia bà Vaira Vike  Freiberga và một số học giả Việt Nam như cố Gs. Hoàng Tụy, cố Gs. Phan Huy Lê… 

Ngay sau khi ra đời, ngày 19/6/2011, viện chính thức công bố thành lập Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông  về “Hòa giải và Yêu thương”. Giải thưởng bao gồm huân chương, bằng chứng nhận và một tác phẩm âm nhạc cổ điển hoặc một bài thơ. Giải thưởng được xét chọn hàng năm cho những người bằng hành động, ảnh hưởng của mình, có những đóng góp nổi bật cho sự nghiệp hòa giải và yêu thương nhân loại, xây dựng tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc, tôn giáo, giải quyết các mối xung đột, chấm dứt chiến tranh, những người đóng góp to lớn trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái trên thế giới.

Năm 2012, Ủy ban xét duyệt Giải thưởng Trần Nhân Tông được thành lập, gồm Chủ tịch Viện Trần Nhân Tông, Giáo sư Thomas E. Patterson; Giám đốc Học viện là nhà báo Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Tổng biên tập báo điện tử Vietnamnet, khi đó là nghiên cứu sinh tại Trung tâm Báo chí, Chính trị và Chính sách công Shorenstein Center on Media Politics and Public Policy thuộc Harvard University. Ủy ban còn có sự tham gia của Giáo sư Thomas Fiedler, nguyên Tổng biên tập tờ The Miami Herald, cùng một số học giả của Đại học Harvard.

Bên cạnh đó, Ban Cố vấn của giải thưởng quy tụ nhiều nhân vật uy tín như Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam; Vaira Vīķe-Freiberga, cựu Tổng thống Latvia; Michael Dukakis, cựu Thống đốc bang Massachusetts; Ann McDaniel, Phó Chủ tịch thường trực Công ty truyền thông The Washington Post; cùng ông Philip Balboni, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Công ty truyền thông GlobalPost.

Cùng với giải thưởng, vào tháng 8 hàng năm tại Boston, bang Massachusetts Học viện Trần Nhân Tông còn tổ chức buổi hòa nhạc Trần Nhân Tông chủ đề “Hòa giải và Yêu thương”. Viện Trần Nhân Tông nhận được sự đồng hành của một số nhà lãnh đạo cơ quan có uy tín, của các học giả lớn  của Đại học Harvard và vùng Boston, cùng với tâm huyết  của các nhà khoa học, nhà văn hóa Việt Nam như nhà văn Việt Phương, GS Hoàng Tụy, GS Phan Huy Lê, PGS Trần Ngọc Vương…

Trần Mạnh Thường




Nguồn: Arttimes.vn