Home Blog Page 31

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương


Ngày 17/4, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức buổi ra mắt tiểu thuyết “Hoa dành ngày gặp lại” của TS. Nhà văn Dương Thanh Biểu – một tác phẩm gây chú ý khi tiếp cận đề tài hình sự từ chất liệu đời thực. Không đơn thuần tái hiện một vụ án đã từng xảy ra, cuốn sách mở ra góc nhìn sâu rộng, nhân văn, nơi sự thật pháp lý được soi chiếu qua lăng kính nghệ thuật, với cách kể chắt lọc và giàu dụng ý.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 1

Đại biểu, văn nghệ sĩ tham dự buổi ra mắt sách “Hoa dành ngày gặp lại” của TS. Nhà văn Dương Thanh Biểu.

Khẳng định năng lực viết về các câu chuyện tư pháp

Phát biểu khai mạc chương trình, ông Nguyễn Đức Thái – Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao nhận xét, với hơn 40 năm công tác trong ngành kiểm sát, TS. Nhà văn Dương Thanh Biểu luôn không ngừng nỗ lực, học tập và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Từ một cán bộ, ông đã phấn đấu trở thành Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng thể hiện bản lĩnh, ý chí vươn lên và trở thành tấm gương tiêu biểu, để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ cán bộ trong ngành noi theo.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 2

Ông Nguyễn Đức Thái – Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao phát biểu tại chương trình.

Từ chính hành trình thực tiễn phong phú ấy, nhà văn Dương Thanh Biểu đã tích lũy được nguồn tư liệu dồi dào về con người và các sự kiện trong hoạt động tư pháp. Đây là nền tảng để ông sáng tác hơn 10 tác phẩm văn học, trong đó có 4 tiểu thuyết mang dấu ấn riêng về lĩnh vực kiểm sát. Trong các tác phẩm, ông đều vận dụng những chất liệu đời sống tư pháp một cách chắt lọc, tinh tế, tạo nên những trang viết sinh động, giàu sức nặng và tính chân thực.

Hoa dành ngày gặp lại đã tái hiện sinh động những con người và sự kiện, trong đó nêu bật những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn không chỉ đối với cán bộ thực hiện công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp mà còn là bài học cho những cán bộ có chức danh tư pháp trước đòi hỏi bức thiết của thực tiễn xã hội hiện nay về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có chống oan, sai”, ông Nguyễn Đức Thái chia sẻ.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 3

Không gian buổi ra mắt sách.

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng cũng cho rằng, nhà văn Dương Thanh Biểu có một lối nẻo riêng vào văn chương, đó là năng lực viết về các câu chuyện tư pháp. Những năm tháng công tác trong ngành kiểm sát đã cung cấp cho ông một “mỏ vàng ròng” chất liệu về tư pháp, về pháp đình, về con người trong ngành. Và quan trọng hơn là một cách nhìn đời, nhìn người thấu thị, công bằng, độ lượng và nhân ái.

“Viết với Dương Thanh Biểu là một cách thể hiện khát vọng thành thực sống và sáng tác văn chương. Tác giả viết rất mạnh tay về cái xấu nhưng không làm người đọc rối trí, tất cả khởi nguồn từ tấm lòng nhân ái của nhà văn với cuộc đời, con người. Tất cả phân minh chính trực, chẳng cần lấy lòng ai cả. Đó là bản lĩnh sống và bản lĩnh nghệ thuật của một nhà văn đã dư trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa”, nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét về ngòi bút của Dương Thanh Biểu.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 4

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng chia sẻ về văn chương của Dương Thanh Biểu.

Từ vụ án đời thực đến trang văn giàu nhân tính

Trong số hơn 10 tác phẩm văn học, Hoa dành ngày gặp lại là cuốn tiểu thuyết thứ tư của nhà văn Dương Thanh Biểu, tác phẩm tái hiện về vụ án đã xảy ra trong thực tiễn nhưng với cách thể hiện rất riêng và có chọn lọc về câu chuyện của một vụ án hình sự. Trong đó có nhiều tình tiết hấp dẫn, bất ngờ, gay cấn, ly kỳ trong xử lý các tình huống éo le của số phận con người liên quan đến công lý. Từ cách xây dựng các tình tiết của sự việc, tác giả đã làm nổi bật vấn đề lớn, nóng bỏng của xã hội: vạch trần, lên án cái ác, yêu thương, bảo vệ cái tốt đẹp, cái đúng và cao hơn là bài học bảo vệ công lý và lẽ phải.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 5

Cuốn tiểu thuyết “Hoa dành ngày gặp lại”.

Nhà văn Vũ Nho cho biết, trong tác phẩm này, tác giả không nói về chuyện phá một chuyên án cụ thể, mà đề cập đến chuyện khắc phục một vụ án đền bù danh dự và thiệt hại về vật chất, tinh thần cho những người bị hại qua 17 chương vừa mạch lạc, vừa căng thẳng về quá trình làm sáng tỏ những góc khuất, những kẻ lợi dụng chức vụ, lợi dụng pháp luật để làm phương tiện ăn không tha thứ gì của dân.

Theo ông, với Hoa dành ngày gặp lại, ngòi bút của Dương Thanh biểu đã ngày càng thuần thục, những trang miêu tả pháp đình, cuộc xử án, việc tranh tụng được ngòi bút già dặn của nhà văn miêu tả rất sinh động, hấp dẫn. Bạn đọc như được trực tiếp tham dự phiên tòa, lo lắng, hồi hộp cùng các nhân vật.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 6

Nhà văn Vũ Nho chia sẻ những nét đặc sắc của tác phẩm.

Nhà văn Vũ Đảm thì khẳng định, giá trị lớn nhất của Hoa dành ngày gặp lại có lẽ nằm ở thông điệp nhân văn mà nó gửi gắm. Tác phẩm nhắc nhở người đọc rằng trong cuộc sống, những giá trị như tình yêu, gia đình và lòng nhân ái luôn là điều quan trọng nhất. Con người có thể mắc sai lầm, xã hội có thể có những mặt tối, nhưng công lý và sự thật cuối cùng vẫn sẽ được làm sáng tỏ. Niềm tin ấy giống như một bông hoa được giữ lại cho ngày gặp lại – ngày mà những đau thương được xoa dịu và những giá trị tốt đẹp được khẳng định.

Hoa dành ngày gặp lại không chỉ là một tiểu thuyết về tình yêu hay một câu chuyện trinh thám. Đó còn là một bản hòa âm của ký ức, của tình người và của niềm hy vọng. Đọc cuốn tiểu thuyết này, người ta không chỉ theo dõi một câu chuyện mà còn suy ngẫm về cuộc đời. Cuốn tiểu thuyết gợi nhớ rằng, mỗi con người đều mang theo trong mình một quá khứ, một ký ức và một khát vọng. Có những nỗi đau không thể xóa nhòa, nhưng chính tình người và niềm tin vào lẽ phải sẽ giúp con người bước tiếp”, nhà văn Vũ Đảm cho hay.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 7

Nhà văn Vũ Đảm khẳng định thông điệp nhân văn của tác phẩm.

Tại chương trình, tác giả Dương Thanh Biểu đã bày tỏ niềm cảm ơn và trân trọng ghi nhận những nhận xét, góp ý của các nhà văn, nhà thơ, học giả về tác phẩm Hoa dành ngày gặp lại.

Về tiểu thuyết mới nhất của mình, nhà văn Dương Thanh Biểu chia sẻ, trong quá trình công tác trong ngành kiểm sát, ông đã được chứng kiến nhiều sự kiện và con người trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Hoa dành ngày gặp lại được ông viết từ những chất liệu đời thực trong quá trình giải quyết vụ án, với mong muốn tái hiện câu chuyện một cách logic, thấu tình đạt lý nhưng vẫn giữ được chiều sâu cảm xúc. Ông hướng tới cách kể dung hòa giữa chất liệu pháp luật và hơi thở đời sống, để câu chuyện không chỉ khô cứng ở lý lẽ mà còn mang sự nhẹ nhàng, nhân văn, qua đó góp phần làm rõ những vấn đề xã hội như đấu tranh với cái ác, bảo vệ những giá trị tốt đẹp và điều đúng đắn.

Tác giả cũng bày tỏ kỳ vọng, những trải nghiệm và bài học tích lũy của mình trong quá trình công tác có thể phần nào hữu ích đối với thế hệ trẻ trong các cơ quan tư pháp, đặc biệt là ngành kiểm sát, khi tiếp cận và vận dụng vào thực tiễn.

“Hoa dành ngày gặp lại”: Hành trình chuyển hóa hiện thực pháp lý thành văn chương - 8

TS. Nhà văn Dương Thanh Biểu chia sẻ về tác phẩm của mình.

Có thể thấy, dấu ấn rõ nét trong sáng tác của Dương Thanh Biểu nằm ở sự am hiểu sâu sắc đời sống pháp đình – nơi ông từng gắn bó và trải nghiệm trong suốt nhiều năm công tác. Chính sự thấu tỏ những công việc đặc thù, phức tạp của những người thực thi công lý, cùng với năng lực văn chương chín chắn, đã giúp ông chuyển hóa những hiểu biết ấy thành chất liệu nghệ thuật thuyết phục. Qua từng trang viết, bạn đọc không chỉ tiếp cận một câu chuyện hấp dẫn mà còn được mở ra cái nhìn chân thực, giàu chiều sâu về một lĩnh vực vốn nhiều áp lực và thử thách, từ đó thêm cảm thông và trân trọng những con người đang gìn giữ lẽ công bằng trong xã hội.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc


Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc tiếp tục làm sâu sắc Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới, theo Báo Nhân dân.

1. Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc từ ngày 14 đến 17/4/2026.

Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình chứng kiến Lễ ký các văn kiện hợp tác giữa hai nước. (Ảnh: TTXVN)

Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có các cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và các cuộc hội kiến với Thủ tướng Quốc Vụ viện Lý Cường, Ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Nhân Đại toàn quốc Triệu Lạc Tế, Chủ tịch Chính Hiệp toàn quốc Vương Hộ Ninh. Trong các cuộc hội đàm, hội kiến, hai bên đã thông báo cho nhau tình hình của mỗi Đảng, mỗi nước, đi sâu trao đổi ý kiến và đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng về quan hệ hai Đảng, hai nước cũng như tình hình quốc tế và khu vực hiện nay.

2. Hai bên nhất trí cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc đều gánh vác sứ mệnh lịch sử vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp phát triển của đất nước và vì sự tiến bộ của nhân loại. Kiên trì và tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của hai Đảng là bảo đảm căn bản để thực hiện hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước và bảo đảm quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định và lâu dài, liên quan tương lai của hai nước, quan hệ hai Đảng, hai nước và sự phát triển lớn mạnh của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Trước sự biến chuyển của thế giới, biến chuyển của thời đại và biến chuyển của lịch sử, hai Đảng, hai nước Việt Nam-Trung Quốc cùng nỗ lực thúc đẩy sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước phát triển mạnh mẽ, thể hiện với thế giới sức sống mạnh mẽ và triển vọng tươi sáng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hai bên cần kiên trì lý tưởng và ý chí, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình của mỗi nước, thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển chất lượng cao, tăng cường đoàn kết, hợp tác, học hỏi lẫn nhau, không ngừng làm sâu sắc nhận thức về quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản, quy luật về xây dựng chủ nghĩa xã hội, quy luật phát triển của nhân loại, cùng bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa của hai nước, cùng chung tay nỗ lực vì sự nghiệp cao cả cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại, luôn đi tiên phong trước thời đại, tiến về phương hướng đúng đắn trong tiến trình lịch sử với sự thay đổi sâu sắc của tình hình thế giới.

Hai bên cho rằng, Việt Nam-Trung Quốc cùng chung chí hướng và con đường, chia sẻ tương lai chung, phát triển tốt quan hệ Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, toàn cục và lịch sử, là sự lựa chọn chiến lược chung của hai nước. Trung Quốc nhấn mạnh kiên trì chính sách hữu nghị với Việt Nam, luôn coi Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng. Việt Nam tái khẳng định luôn coi quan hệ với Trung Quốc là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Hai bên cần kế thừa, bảo vệ và phát huy tốt tình hữu nghị truyền thống “vừa là đồng chí vừa là anh em” do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các nhà lãnh đạo tiền bối đích thân gây dựng và dày công vun đắp; đây là tài sản quý báu của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước; kiên trì nhìn nhận và phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Quốc từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn dài hạn, kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” và mục tiêu tổng thể “6 hơn”: “tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác quốc phòng-an ninh thực chất hơn, hợp tác thực chất sâu sắc hơn, nền tảng xã hội vững chắc hơn, phối hợp đa phương chặt chẽ hơn, kiểm soát và giải quyết bất đồng tốt hơn”, thúc đẩy quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc trong thời đại mới phát triển lành mạnh, ổn định, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn.

3. Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 105 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhiệt liệt chúc mừng Trung Quốc tổ chức thành công kỳ họp Lưỡng hội toàn quốc, đánh giá cao Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc với đồng chí Tập Cận Bình là hạt nhân đã đoàn kết, lãnh đạo nhân dân Trung Quốc ứng phó hiệu quả trước một loạt các rủi ro, thách thức lớn, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trong Quy hoạch 5 năm lần thứ 14, thúc đẩy thực lực kinh tế, sức mạnh khoa học công nghệ, sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc nâng lên tầm cao mới, công cuộc hiện đại hóa kiểu Trung Quốc có bước tiến mới vững chắc.

Phía Việt Nam chúc và tin tưởng, dưới sự lãnh đạo kiên cường của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc với đồng chí Tập Cận Bình là hạt nhân, Đảng, Chính phủ và Nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Quy hoạch 5 năm lần thứ 15, tiếp tục viết nên chương mới về Hai kỳ tích: kinh tế phát triển nhanh chóng và xã hội ổn định lâu dài, nỗ lực mở ra cục diện mới trong xây dựng hiện đại hóa kiểu Trung Quốc, xây dựng toàn diện cường quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu 100 năm lần thứ hai, phát huy vai trò quan trọng hơn nữa cho hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực và thế giới.

Phía Trung Quốc nhiệt liệt chúc mừng Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI; nhiệt liệt chúc mừng đồng chí Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đánh giá cao Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm đã kiên định và không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối Đổi mới phù hợp với thực tiễn, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết lãnh đạo nhân dân Việt Nam đạt được thành tựu nổi bật trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc Đổi mới, mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.

Phía Trung Quốc chúc và tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ mà Đại hội XIV đề ra, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và năm 2045. Trung Quốc tái khẳng định ủng hộ Việt Nam phát triển phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, xây dựng nền kinh tế lớn mạnh, độc lập, tự chủ, thúc đẩy đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế toàn diện, phát triển quan hệ đối ngoại rộng mở, hữu nghị, phát huy vai trò quan trọng hơn cho hòa bình, ổn định, phát triển và phồn vinh của khu vực và thế giới.

4. Hai bên nhất trí cho rằng, để phát triển tốt quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, định hướng chiến lược của Lãnh đạo cao nhất hai Đảng là then chốt, giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực là động lực, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước là nền tảng. Hai bên đã tổng kết những thành quả phong phú trong quan hệ hai Đảng, hai nước thời gian qua về tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác quốc phòng-an ninh, làm sâu sắc hợp tác thực chất, củng cố nền tảng xã hội, tăng cường phối hợp đa phương, thúc đẩy kiểm soát và xử lý bất đồng; nhất trí cho rằng, các thành quả này đã thể hiện đầy đủ tính chiến lược và mức độ cao trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, thể hiện thành tựu hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc và công cuộc Đổi mới của Việt Nam; nhất trí tiếp tục bám sát mục tiêu tổng thể “6 hơn”, không ngừng thúc đẩy Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.

(1) Hai bên cho rằng, Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước duy trì tiếp xúc thường xuyên, xác định phương hướng và dẫn dắt quan hệ Việt-Trung, có vai trò định hướng chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước. Hai bên nhất trí tiếp tục thông qua nhiều hình thức như thăm lẫn nhau, cử đặc phái viên, đường dây nóng, gửi thư, gặp gỡ hằng năm, gặp gỡ tại các diễn đàn đa phương…, duy trì và tăng cường truyền thống tốt đẹp của giao lưu cấp cao giữa hai Đảng, hai nước, kịp thời trao đổi ý kiến về các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương cũng như tình hình quốc tế, khu vực, định hướng và chỉ đạo quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc thời đại mới phát triển lành mạnh, ổn định từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn dài hạn.

Hai bên nhất trí tiếp tục phát huy đầy đủ vai trò đặc biệt của kênh Đảng, tạo cơ sở để bảo vệ hai Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở hai nước, thúc đẩy quan hệ Việt-Trung ổn định và phát triển. Phát huy tốt vai trò chỉ đạo và điều phối của cơ chế gặp gỡ cấp cao hai Đảng, cũng như vai trò điều phối tổng thể, thúc đẩy của Đảng ủy Bộ Ngoại giao Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, tiếp tục triển khai Kế hoạch hợp tác mới giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, tổ chức tốt Hội thảo lý luận giữa hai Đảng, tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các cơ quan tương ứng của hai Đảng ở Trung ương, các tổ chức đảng địa phương, đặc biệt là các tỉnh (khu) giáp biên, tiếp tục triển khai giao lưu, học hỏi lý luận và kinh nghiệm về quản lý Đảng và đất nước, chống tham nhũng.

Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa giao lưu, hợp tác hữu nghị giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc. Tiếp tục tổ chức tốt Phiên họp Ủy ban hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc, Giao lưu hữu nghị giữa Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc và các tổ chức của Mặt trận và Chính hiệp các tỉnh giáp biên. Phát huy vai trò của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc và cơ chế Đối thoại chiến lược “3+3” cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng, Công an, điều phối tổng thể giữa phát triển và an ninh, làm sâu sắc hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược tiến triển tích cực hơn nữa. Thực hiện tốt Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao hai nước về tăng cường hợp tác trong tình hình mới, duy trì sự tiếp xúc thường xuyên giữa lãnh đạo hai Bộ, tăng cường giao lưu giữa các Vụ/Cục hai Bộ, ủng hộ và tạo thuận lợi cho việc cải thiện điều kiện trụ sở và nhà ở của cơ quan đại diện ngoại giao hai nước.

Phía Việt Nam tái khẳng định kiên định thực hiện chính sách “một Trung Quốc”, công nhận trên thế giới chỉ có một Trung Quốc, Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc, Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là Chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho toàn Trung Quốc. Ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức, nhất quán ủng hộ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Phía Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ cấp Nhà nước với Đài Loan.

Việt Nam cho rằng các vấn đề liên quan Hồng Công, Tân Cương, Tây Tạng là công việc nội bộ của Trung Quốc, ủng hộ Trung Quốc duy trì sự phát triển ổn định của Hồng Kông, Tân Cương, Tây Tạng. Phía Trung Quốc ủng hộ phía Việt Nam bảo vệ ổn định xã hội; bảo đảm an ninh và phát triển của quốc gia; thực hiện đại đoàn kết dân tộc; ứng phó với các thách thức an ninh, chính trị, an ninh phi truyền thống.

(2) Hai bên nhất trí tăng cường giao lưu cấp cao và các cấp giữa quân đội hai nước; phát huy tốt vai trò của các cơ chế như Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, Đối thoại an ninh quốc phòng; đẩy mạnh giao lưu, hợp tác giữa quân đội hai nước trong các lĩnh vực như công tác chính trị, đào tạo cán bộ, diễn tập chung, huấn luyện chung, nghiên cứu chung, công nghiệp quốc phòng, tàu hải quân thăm lẫn nhau và kiểm sát quân sự; tiếp tục mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực như y tế hậu cần, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và an ninh phi truyền thống. Đi sâu hợp tác biên phòng; tăng cường điều phối, phối hợp về quản lý biên giới; triển khai tuần tra liên hợp biên giới trên đất liền; khuyến khích bộ đội biên phòng hai nước thiết lập quan hệ hữu nghị. Phát huy vai trò cơ chế tuần tra liên hợp trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ, triển khai tốt các hoạt động tuần tra liên hợp trên Vịnh Bắc Bộ; làm sâu sắc cơ chế trao đổi, hợp tác giữa hải quân và cảnh sát biển hai nước. Làm sâu sắc hợp tác an ninh đa phương, cùng thúc đẩy hòa bình và ổn định tại khu vực.

Hai bên nhất trí tăng cường và làm sâu sắc hơn nữa hợp tác giữa các cơ quan an ninh, thực thi pháp luật hai nước; phát huy tốt vai trò của cơ chế Hội nghị cấp Bộ trưởng Công an về phòng chống tội phạm, Đường dây nóng giữa hai Bộ trưởng Công an, Đối thoại cấp Thứ trưởng về an ninh chính trị, tăng cường trao đổi cấp cao, hợp tác bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ an ninh an toàn các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, các sự kiện chính trị, đối ngoại quan trọng của mỗi nước. Triển khai hiệu quả hợp tác trên các lĩnh vực an ninh, tình báo, phòng chống khủng bố, phối hợp phòng chống các loại tội phạm qua biên giới như lừa đảo, đánh bạc qua mạng viễn thông, tội phạm ma túy, đấu tranh với hoạt động tôn giáo trái pháp luật, tội phạm mua bán người, tội phạm kinh tế, tội phạm xuất nhập cảnh trái phép, quản lý xuất nhập cảnh, truy bắt và bàn giao đối tượng truy nã, thu hồi tài sản bất hợp pháp; bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, tổ chức của nước mình tại nước bên kia. Phối hợp triển khai các hành động Liên hợp quốc tế trong chiến dịch “Con rồng Mê Công”; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, buôn bán ma túy, tiền chất, động vật, sản phẩm động vật có nguy cơ tuyệt chủng, chất nổ dân dụng, hàng hóa lưỡng dụng, thuốc lá và các mặt hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Phát huy tốt vai trò của Cơ chế Đối thoại an ninh chiến lược cấp Thứ trưởng, tăng cường trao đổi về thông tin tình báo và chia sẻ kinh nghiệm về phòng chống can thiệp, chống ly khai, phòng chống “cách mạng màu”, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh công nghệ, an ninh các dự án hợp tác trọng điểm và quan ngại chung của khu vực, ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống. Phía Việt Nam sẽ chính thức tham gia Trung tâm Hợp tác an ninh thực thi pháp luật Mê Công-Lan Thương với tư cách thành viên, đồng thời sẵn sàng tham gia Liên minh quốc tế về Phòng chống lừa đảo viễn thông với tư cách quốc gia đồng sáng lập.

Hai bên nhất trí đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp; tiếp tục tăng cường trao đổi giữa các cơ quan tương ứng Bộ Tư pháp hai nước, thực hiện hiệu quả Bản ghi nhớ hợp tác, chương trình hợp tác đã ký giữa hai Bộ Tư pháp; triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ hợp tác giữa hai Bộ Tư pháp về tăng cường hợp tác giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới, duy trì hiệu quả cơ chế Hội nghị Tư pháp các tỉnh có chung đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc; tăng cường học hỏi, trao đổi kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục tổ chức tốt các cuộc gặp làm việc giữa Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao giữa cơ quan kiểm sát khu vực biên giới Việt Nam-Trung Quốc; triển khai tốt các đoàn đại biểu cơ quan kiểm sát địa phương thăm và trao đổi lẫn nhau, cùng cử cán bộ kiểm sát tham gia các lớp tập huấn; tăng cường hợp tác kiểm soát bảo vệ lợi ích công và nhóm yếu thế. Tiếp tục tăng cường trao đổi kinh nghiệm phòng chống tham nhũng; làm sâu sắc trao đổi, điều phối trong khuôn khổ đa phương; thúc đẩy hợp tác thực thi pháp luật trong lĩnh vực tư pháp về phòng chống tham nhũng.

(3) Hai bên nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác cùng nhau thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, Một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường; thúc đẩy thương mại song phương gắn với kết nối hạ tầng, kết nối logistics và kết nối thị trường, phát triển mạnh xây dựng các hành lang kinh tế qua biên giới, các trung tâm logistics, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, cụm công nghiệp tại khu vực biên giới và các tuyến vận tải đa phương thức, đẩy mạnh kết nối các tuyến đường sắt giữa hai nước kết nối với Trung Á và châu Âu, tăng lưu lượng vận tải hàng hóa qua các tuyến đường sắt này; đẩy nhanh kết nối hạ tầng giữa hai nước về đường sắt, đường bộ, hạ tầng cửa khẩu; đưa hợp tác đường sắt trở thành điểm sáng mới trong hợp tác chiến lược giữa hai nước. Hai bên đánh giá cao dự án viện trợ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án xây dựng tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng đã hoàn thành trước thời hạn, hoan nghênh hai bên ký kết Thỏa thuận thực hiện dự án hỗ trợ lập quy hoạch các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Đồng Đăng-Hà Nội, Móng Cái-Hạ Long-Hải Phòng, tiếp tục thúc đẩy kết nối đường sắt khổ tiêu chuẩn qua biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Trung Quốc sẵn sàng triển khai hợp tác với Việt Nam về vốn vay, công nghệ, đào tạo, năng lực công nghiệp trong lĩnh vực đường sắt, chỉ đạo doanh nghiệp có thực lực tham gia xây dựng đường sắt.

Ủng hộ tăng cường hợp tác đường sắt Việt Nam-Trung Quốc, phát triển vận tải hành khách và hàng hóa liên vận quốc tế bằng đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục xuất nhập cảnh đối với hành khách, mở rộng danh mục hàng hóa thông quan qua cửa khẩu đường sắt, tích cực thúc đẩy hợp tác về kiểm nghiệm hàng hóa xuất nhập khẩu. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong việc lần lượt xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới tại Quảng Tây, Vân Nam của Trung Quốc và Quảng Ninh, Lào Cai của Việt Nam.

Hai bên nhất trí làm sâu sắc hợp tác trong các ngành nghề trọng điểm. Nghiên cứu triển khai hợp tác khoáng sản then chốt trên cơ sở phù hợp các quy định pháp luật và chính sách ngành nghề của mỗi nước. Tích cực tham gia xây dựng quan hệ đối tác hợp tác năng lượng sạch toàn cầu. Thúc đẩy hợp tác liên kết điện lực giữa hai nước. Tích cực triển khai hợp tác trong lĩnh vực năng lượng mới, tăng cường kết nối chuỗi cung ứng và hợp tác phát triển công nghệ năng lượng tái tạo trên nguyên tắc thị trường và cùng có lợi. Nghiên cứu tăng cường trao đổi, hợp tác trong lĩnh vực an toàn hạt nhân, cùng nâng cao mức độ an toàn tại các cơ sở hạt nhân dân dụng. Ủng hộ hai bên tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hàng không dân dụng, hoan nghênh các hãng hàng không của Việt Nam đưa vào sử dụng và vận hành tàu bay thương mại của Trung Quốc.

Hai bên nhất trí cùng nhau duy trì thương mại đầu tư tự do, cởi mở, xây dựng chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng an toàn ổn định, thành lập Nhóm công tác hợp tác về chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, thúc đẩy tăng cường hợp tác chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất. Khuyến khích, ủng hộ các doanh nghiệp có thực lực, có uy tín của hai nước đầu tư tại nước kia. Tạo môi trường kinh doanh công bằng, thuận lợi, minh bạch cho các doanh nghiệp. Nghiên cứu thúc đẩy phát triển chất lượng cao các khu hợp tác kinh tế-thương mại. Tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực mới nổi như kinh tế số, phát triển xanh. Tích cực thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như chế tạo thông minh, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử, bán dẫn, đường sắt cao tốc; ủng hộ hai bên triển khai hợp tác công nghệ. Ủng hộ doanh nghiệp hai nước đi sâu hợp tác trong lĩnh vực ngành nghề số như 5G, dữ liệu lớn phù hợp với pháp luật của mỗi nước và cam kết quốc tế của Việt Nam, bảo đảm an toàn dữ liệu, an ninh mạng, hiệu quả kinh tế và lợi ích lâu dài của mỗi bên. Cùng nghiên cứu ứng dụng sâu các công nghệ số như 5G, dữ liệu lớn vào các hoạt động công nghiệp như chế tạo thông minh, kho vận thông minh; thúc đẩy ngành chế tạo truyền thống của hai nước thực hiện nâng cấp số hóa, internet hóa, thông minh hóa. Đẩy mạnh hợp tác tài chính, hỗ trợ tài chính cho các dự án liên doanh liên kết theo nguyên tắc thị trường. Nghiên cứu xây dựng cơ chế hợp tác mã nguồn mở, thúc đẩy giao lưu giữa các tổ chức mã nguồn mở, cùng xây dựng dự án, chia sẻ thành quả, đưa hợp tác vào thực tế, chia sẻ lợi ích phát triển mã nguồn mở. Đi sâu trao đổi kinh nghiệm cải cách và quản lý doanh nghiệp nhà nước giữa hai nước, triển khai hợp tác đào tạo nhân lực. Phát huy tốt vai trò Nhóm công tác hợp tác về tài chính tiền tệ giữa hai nước, tăng cường trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm điều hành và cải cách chính sách trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, thực hiện tốt dự án hợp tác kết nối thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nghiên cứu mở rộng phạm vi thanh toán bằng đồng bản tệ, nâng cao năng lực ứng phó rủi ro tài chính. Làm sâu sắc hợp tác phát triển trên các lĩnh vực, thúc đẩy tổng thể các dự án lớn mang tính biểu tượng và các dự án viện trợ dân sinh “nhỏ mà đẹp”, tăng cường hợp tác phát triển nguồn nhân lực. Hai bên nhất trí đẩy nhanh triển khai các dự án viện trợ dành cho Việt Nam như xây dựng mới cơ sở 2 giai đoạn 1 Học viện Y-Dược cổ truyền Việt Nam, duy tu, bảo trì Cung Hữu nghị Việt-Trung; nâng cấp, cải tạo đường giao thông và cải thiện điều kiện giáo dục tại các tỉnh phía Bắc của Việt Nam; nghiên cứu triển khai các lớp bồi dưỡng về đường sắt trong khuôn khổ viện trợ hợp tác phát triển về nguồn nhân lực, tạo nên những thành quả hợp tác thực chất.

Hai bên nhất trí tăng cường kết nối chính sách sáng tạo khoa học công nghệ, thực hiện tốt Hiệp định hợp tác khoa học công nghệ, tiếp tục phát huy tốt vai trò của Ủy ban hỗn hợp hợp tác khoa học công nghệ giữa hai nước. Phát huy vai trò dẫn dắt phát triển của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ thúc đẩy phát triển, tăng cường nghiên cứu chung, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), chăm sóc sức khỏe, năng lượng sạch, công nghệ số. Mở rộng giao lưu nhân văn về khoa học công nghệ; thúc đẩy thanh niên hai nước trao đổi, hợp tác về nhân lực nghiên cứu khoa học và nhân lực ngành công nghiệp. Thúc đẩy việc kết hợp giữa sáng tạo khoa học công nghệ và sáng tạo công nghiệp, phát huy vai trò của Trung tâm chuyển giao công nghệ ASEAN-Trung Quốc; triển khai thiết thực, cùng có lợi hợp tác chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp sáng tạo. Tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ như sáng chế, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý.

Phía Trung Quốc hoan nghênh phía Việt Nam tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu của Việt Nam tại Trung Quốc, tiếp tục tạo thuận lợi sớm thành lập thêm các Văn phòng xúc tiến thương mại Việt Nam tại các địa phương liên quan. Phía Trung Quốc ủng hộ, tạo thuận lợi để Việt Nam tham gia chuỗi hoạt động “Chia sẻ thị trường lớn – Xuất khẩu Trung Quốc”.

Phía Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường Trung Quốc. Xem xét đơn giản hóa thủ tục, thiết lập các kênh xúc tiến thương mại chuyên biệt dành cho các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Make in Vietnam.

Hai bên nhất trí tích cực nghiên cứu triển khai hợp tác trong khuôn khổ cơ chế hợp tác an toàn thực phẩm hải quan “Vành đai và Con đường”, không ngừng nâng cao mức độ tiện lợi hóa thương mại trên cơ sở bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Tăng cường hợp tác kiểm dịch động, thực vật; thúc đẩy công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn và phương pháp kiểm dịch động thực vật và an toàn thực phẩm các mặt hàng nông-thủy sản của nhau; thúc đẩy hợp tác về phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh trên động, thực vật qua biên giới; tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm dịch diễn ra nhanh và hiệu quả; cho phép các sản phẩm nông, lâm, thủy sản chất lượng cao tiếp cận thị trường. Đẩy nhanh hợp tác công nhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên (AEO), hợp tác “một cửa”, tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế hợp tác kiểm nghiệm, kiểm dịch hải quan khu vực biên giới, bảo đảm thông quan thông suốt tại các cửa khẩu. Cùng nâng cao hiệu suất thông quan tại các cửa khẩu, giảm thiểu áp lực thông quan. Phía Trung Quốc hoan nghênh phía Việt Nam hợp tác, trao đổi về việc xây dựng “hải quan thông minh”.

Hai bên nhất trí tiếp tục phát huy vai trò của cơ chế Ủy ban liên hợp hợp tác nông nghiệp Việt Nam-Trung Quốc. Thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực lai tạo giống lúa; số hóa việc chăn nuôi gia súc, gia cầm; phòng ngừa, kiểm soát dịch bệnh động, thực vật; đào tạo nguồn nhân lực; xóa đói giảm nghèo và chấn hưng nông thôn. Hai bên nhất trí sớm bàn bạc, ký kết Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ; tiếp tục triển khai hợp tác thả giống tái tạo và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Vịnh Bắc Bộ. Thực hiện tốt Thỏa thuận thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển Việt Nam-Trung Quốc và Thỏa thuận hợp tác tìm kiếm cứu nạn trên biển. Tiếp tục triển khai trao đổi, hợp tác trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và y tế, phát triển nguồn nhân lực y tế, y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, phòng ngừa và kiểm soát bệnh truyền nhiễm, y dược cổ truyền.

Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài nguyên nước, thực hiện tốt Bản ghi nhớ về việc chia sẻ dữ liệu thủy văn mùa lũ, xây dựng cơ chế hợp tác thông báo thông tin khẩn cấp liên quan sông suối qua biên giới, bảo đảm an toàn phòng chống lũ tại khu vực biên giới. Tăng cường hợp tác xử lý ô nhiễm môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Đi sâu triển khai đối thoại chính sách và trao đổi kỹ thuật trong lĩnh vực xử lý ô nhiễm không khí. Trên cơ sở các cơ chế hợp tác môi trường khu vực như ASEAN-Trung Quốc, Mê Công-Lan Thương, thúc đẩy chia sẻ kiến thức và thực tiễn về môi trường và phát triển bền vững. Căn cứ nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng khác biệt về năng lực của mỗi bên, tăng cường các hành động tập thể và hợp tác quốc tế trong việc ứng phó biến đổi khí hậu; cùng thúc đẩy triển khai toàn diện, cân bằng và hiệu quả Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Thỏa thuận Paris. Làm sâu sắc giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực ứng phó khẩn cấp.

(4) Hai bên nhất trí tăng cường tuyên truyền, giáo dục về tình hữu nghị truyền thống “vừa là đồng chí, vừa là anh em” giữa hai Đảng, hai nước và những điển hình hợp tác giữa nhân dân hai nước. Tăng cường giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực điện ảnh, xuất bản, truyền thông, thúc đẩy triển khai dự án biên dịch, xuất bản các tác phẩm kinh điển của Việt Nam và Trung Quốc.

Hai bên nhất trí, tăng cường giao lưu giữa các tổ chức quần chúng như công đoàn, phụ nữ, thanh niên và giữa các địa phương có quan hệ hữu nghị. Tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động có thương hiệu như Diễn đàn Nhân dân Việt Nam – Trung Quốc, Liên hoan Nhân dân biên giới, Chương trình “Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập của thanh niên Việt Nam tại Trung Quốc”.

Hai bên nhất trí tiếp tục triển khai “Kế hoạch thực hiện hợp tác văn hóa – du lịch giai đoạn 2023-2027” giữa các cơ quan văn hóa và du lịch hai nước, khuyến khích các tổ chức văn hóa, các đoàn nghệ thuật triển khai giao lưu, hợp tác. Việt Nam ủng hộ Trung tâm văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội triển khai hoạt động tại Việt Nam. Trung Quốc hoan nghênh Việt Nam thành lập Trung tâm văn hóa tại Bắc Kinh.

Hai bên tuyên bố khởi động “Năm hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Quốc 2026-2027”, nhất trí tăng cường hợp tác du lịch trở thành cầu nối quan trọng trong giao lưu nhân dân, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của hai nước. Hoạt động hợp tác du lịch cần thực chất, hiệu quả, bền vững. Hai bên cần tăng cường trao đổi, điều phối chính sách, nâng cao hình ảnh, thương hiệu du lịch quốc gia của mỗi nước, tạo thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh của ngành du lịch hai nước. Cùng nhau khai thác các tuyến du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch. Vận hành tốt Khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam)-Đức Thiên (Trung Quốc). Ủng hộ Liên minh hợp tác thành phố du lịch Mê Công-Lan Thương triển khai hoạt động, khuyến khích du khách hai bên sang du lịch bên kia. Tăng cường giao lưu, hợp tác về thể thao, khuyến khích các tổ chức thể thao hai nước tăng cường liên hệ, trao đổi và điều phối trong các sự kiện thể thao quốc tế. Khuyến khích vận động viên, huấn luyện viên và cán bộ quản lý thể thao triển khai giao lưu, hữu nghị.

Hai bên nhất trí thực hiện tốt Hiệp định hợp tác giáo dục Việt Nam-Trung Quốc, tích cực nghiên cứu thành lập Ủy ban liên hợp hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; tăng cường giao lưu giáo viên, học sinh, học giả. Trung Quốc hoan nghênh và khuyến khích ngày càng nhiều học sinh xuất sắc của Việt Nam đến Trung Quốc học tập và nghiên cứu, sẵn sàng tiếp tục cung cấp nhiều hơn học bổng du học. Làm sâu sắc hợp tác đào tạo nghề. Thúc đẩy giao lưu đào tạo ngôn ngữ giữa hai nước, cùng triển khai đào tạo giáo viên dạy tiếng Trung của Việt Nam, hợp tác xây dựng ngày càng nhiều các kỳ thi và địa điểm thi HSK, triển khai tốt các suất học bổng ngành giảng viên tiếng Trung quốc tế dành cho Việt Nam; tích cực phát huy vai trò của Học viện Khổng Tử tại Đại học Hà Nội và cuộc thi “Nhịp cầu Hán ngữ”. Khuyến khích các trường trung học và tiểu học hai nước xây dựng quan hệ kết nghĩa, triển khai giao lưu hữu nghị. Tăng cường giao lưu giữa các trường đại học, cao đẳng, cơ quan nghiên cứu của hai nước.

Hai bên nhất trí, ủng hộ các địa phương hai nước, đặc biệt là các tỉnh (khu) giáp biên triển khai giao lưu hợp tác, tiếp tục tổ chức tốt gặp gỡ đầu xuân giữa Bí thư các tỉnh/thành Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng và Bí thư Quảng Tây; Hội nghị thường niên giữa Bí thư các tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang, Điện Biên, Lai Châu với Bí thư Vân Nam. Khuyến khích mở rộng giao lưu hữu nghị hợp tác giữa các địa phương khác ngoài các tỉnh giáp biên; ủng hộ tăng cường các chương trình, hoạt động thăm làm việc cấp Sở/ngành giữa địa phương hai nước; nghiên cứu triển khai các hoạt động, sự kiện quảng bá, giới thiệu về địa phương hai nước.

(5) Hai bên cho rằng, cục diện biến đổi trăm năm chưa từng có đang diễn biến nhanh chóng, tình hình quốc tế phức tạp đan xen. Hai bên tái khẳng định kiên định bảo vệ hệ thống quốc tế với Liên hợp quốc làm hạt nhân, trật tự quốc tế với luật pháp quốc tế làm nền tảng và các chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế với tôn chỉ và nguyên tắc Hiến chương Liên hợp quốc làm nền tảng. Hai bên sẽ cùng bảo vệ công bằng, chính nghĩa quốc tế, giữ gìn đoàn kết, hợp tác trong cộng đồng quốc tế, phát huy các giá trị chung của toàn nhân loại về hòa bình, phát triển, công bằng, chính nghĩa, dân chủ, tự do; ủng hộ một thế giới đa cực bình đẳng, có trật tự và toàn cầu hóa kinh tế bao trùm, mang lại lợi ích chung, thúc đẩy xây dựng hệ thống quản trị toàn cầu phát triển theo hướng công bằng và hợp lý hơn. Hai bên sẽ luôn thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình độc lập, tự chủ, kiên trì chủ nghĩa đa phương đích thực, cùng phản đối chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền, phản đối chủ nghĩa đơn phương dưới mọi hình thức, phản đối các cách làm gây nguy hại đến hòa bình, ổn định khu vực.

Hai bên nhất trí, thúc đẩy hợp tác trong khuôn khổ các sáng kiến lớn như xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai nhân loại, Sáng kiến Phát triển toàn cầu, Sáng kiến An ninh toàn cầu, Sáng kiến Văn minh toàn cầu và Sáng kiến Quản trị toàn cầu, cùng ứng phó các thách thức mang tính toàn cầu. Tiếp tục tăng cường điều phối, phối hợp trong các khuôn khổ quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS), Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), ASEAN-Trung Quốc, Mê Công-Lan Thương, ủng hộ lẫn nhau trong ứng cử vào vị trí của các tổ chức quốc tế, cùng bảo vệ hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực và thế giới. Việt Nam đánh giá tích cực vai trò quan trọng của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) trong duy trì ổn định và phát triển của khu vực, sẵn sàng duy trì trao đổi về việc trở thành đối tác của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Hai nước sẽ tiếp tục thúc đẩy các thủ tục nội bộ để sớm phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), thúc đẩy Công ước sớm có hiệu lực và thực thi hiệu quả, qua đó tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tội phạm mạng.

Hai bên sẽ thúc đẩy triển khai toàn diện hiệu quả “Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP), tích cực hoan nghênh đơn gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) của Khu hành chính đặc biệt Hồng Công. Việt Nam ủng hộ Trung Quốc gia nhập Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trên cơ sở phù hợp với các tiêu chuẩn và trình tự của Hiệp định. Việt Nam ủng hộ Trung Quốc tổ chức Hội nghị APEC năm 2026, Trung Quốc ủng hộ Việt Nam tổ chức Hội nghị APEC năm 2027, hai bên sẽ tăng cường trao đổi, phối hợp chặt chẽ để bảo đảm thành công của các Hội nghị này. Hai bên ủng hộ các nước đàm phán bình đẳng để giải quyết vấn đề thương mại thông qua các biện pháp phù hợp với quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Hai bên cho rằng, khu vực châu Á duy trì ổn định tổng thể và phát triển nhanh chóng là không hề dễ dàng, cần cùng nhau thực hiện chủ nghĩa khu vực mở, duy trì phương hướng lớn của châu Á là “láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng thắng”. Năm 2026 là năm kỷ niệm 5 năm thiết lập Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ASEAN-Trung Quốc, Trung Quốc ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, thống nhất, tự cường và phát triển, ủng hộ ASEAN duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực đang không ngừng biến đổi; sẵn sàng cùng các nước ASEAN thúc đẩy sáng kiến về xây dựng “5 ngôi nhà chung” hòa bình, an ninh, phồn vinh, tươi đẹp và hữu nghị; cùng đẩy nhanh việc phê duyệt và thực thi Nghị định thư nâng cấp Hiệp định Khu thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc phiên bản 3.0 (ACFTA 3.0), góp phần thúc đẩy nhất thể hóa liên kết kinh tế khu vực ở mức độ cao hơn, làm sâu sắc quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ASEAN-Trung Quốc.

Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Mê Công-Lan Thương (MLC), ủng hộ tổ chức tốt Hội nghị cấp cao Mê Công-Lan Thương lần thứ 5, phối hợp tốt trên vai trò đồng chủ trì hợp tác Mê Công-Lan Thương, chung tay xây dựng hợp tác Mê Công-Lan Thương phiên bản 2.0, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai vì hòa bình, thịnh vượng giữa các nước Mê Công-Lan Thương. Bộ Tư pháp hai nước phối hợp Bộ Tư pháp/Pháp luật các quốc gia Mê Công-Lan Thương trao đổi, thống nhất dự thảo Bản ghi nhớ về việc thiết lập Cơ chế giao lưu hợp tác Mê Công-Lan Thương trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp và dự thảo Tuyên bố chung Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp lần thứ nhất giữa các quốc gia Mê Công-Lan Thương; thúc đẩy việc tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp/Pháp luật Mê Công-Lan Thương lần thứ nhất trong năm 2026.

Hai bên nhất trí, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là sự nghiệp chung của toàn nhân loại. Cần xuất phát từ tình hình thực tế của mỗi nước, tìm kiếm con đường phát triển quyền con người phù hợp với nhu cầu của nhân dân; sẵn sàng triển khai giao lưu, hợp tác về vấn đề nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, kiên quyết phản đối “chính trị hóa”, “công cụ hóa” và tiêu chuẩn kép trong vấn đề nhân quyền, cũng như lợi dụng vấn đề nhân quyền để tùy tiện can thiệp công việc nội bộ của quốc gia có chủ quyền, cùng thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của sự nghiệp nhân quyền của nhân loại.

(6) Hai bên đi sâu trao đổi chân thành về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, cùng duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Hai bên nhất trí tuân thủ nhận thức chung quan trọng giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, căn cứ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, tích cực tìm kiếm các giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, không có các hành động làm phức tạp tình hình, mở rộng tranh chấp, cùng duy trì ổn định trên biển. Thúc đẩy bàn bạc về phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển sớm đạt tiến triển thực chất; tích cực triển khai hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển, tăng cường hợp tác tìm kiếm cứu nạn trên biển.

Hai bên tái khẳng định cùng nhau thúc đẩy các nước ASEAN và Trung Quốc thực hiện toàn diện, hiệu quả “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất sớm đạt được “Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) hiệu lực, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Hai bên nhất trí, tiếp tục thực hiện tốt 3 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc và các thỏa thuận liên quan; phát huy tốt vai trò của các cơ chế Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền, Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc; tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới, giải quyết ổn thỏa các sự việc phát sinh trên biên giới; tích cực thúc đẩy mở và nâng cấp cửa khẩu biên giới; tích cực thúc đẩy hợp tác phát triển qua biên giới, mang lại phồn vinh cho khu vực biên giới giữa hai nước.

5. Trong thời gian thăm, hai bên đã ký văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh Đảng, công an, tư pháp, kinh tế, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương.

6. Hai bên cho rằng, chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc đã thành công tốt đẹp, đóng góp tích cực cho phát huy truyền thống hữu nghị Việt-Trung, đẩy nhanh xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển, phồn vinh của khu vực và thế giới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và Đảng, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc về sự tiếp đón trọng thị, thân tình và hữu nghị; trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình sớm thăm lại Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình bày tỏ cảm ơn và vui vẻ nhận lời.

Bắc Kinh, ngày 17/4/2026



Nguồn: Arttimes.vn

Triết lý truyền thống Ấn Độ trong kịch Tagore


Chặng đường hơn nửa thế kỷ sáng tác kịch của Rabindranath Tagore với số lượng lớn kịch bản nhiều thể loại (42 vở kịch 52 tập thơ, 12 tiểu thuyết, 80 truyện ngắn), R.Tagore “không chỉ là nhà thơ rất lớn trong các thi sĩ lớn nhất” (theo Nâzim Hikmet) mà còn là một kịch tác gia lớn của Ấn Độ và thế giới.

Xem kịch Tagore, ta thấy trong nhiều vở đằng sau những câu chữ là triết lý sâu xa, thâm thúy của nhà tư tưởng về đạo làm người. Trong Lời tựa cho vở kịch trữ tình triết lý Sự trừng phạt của thiên nhiên (1883), Tagore đã tuyên bố thế giới quan sáng tác của ông: “Có thể xem vở kịch này là sự mở đầu cho toàn bộ hoạt động văn học của tôi sau này, hay nói đúng hơn, đó là chủ đề thu hút toàn bộ công việc viết văn của tôi – niềm hân hoan nắm được cái vô hạn trong cái hữu hạn”. Ở vở kịch này cơ sở thế giới quan của Tagore nhằm đạt tới khai hóa con người thoát khỏi vòng u mê tăm tối bị trói buộc bởi những giáo lý giả dối viển vông về hư vô và về cái gọi là cao đạo của tăng lữ Bà-la-môn. Điều mong muốn này Tagore đã đưa vào lời đề từ “Xin dẫn dắt chúng tôi từ Hư vô về với thực tại” ghi dưới tên vở kịch Sự trừng phạt của thiên nhiên (đến năm 1916 đổi tên là Xiniaxi (Thầy tu khổ hạnh).

Với vở kịch tuyên ngôn thế giới quan sáng tác của mình, Tagore đã có sự chuyển biến mới về tư tưởng. Ông lên tiếng chống lại giáo điều, chống lại lễ giáo Bà-la-môn, qua đó ông đã đụng chạm trực tiếp đến một khía cạnh xã hội quan trọng và bức xúc của xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ – đó là vấn đề khai hóa cho người Ấn Độ mê muội bị tôn giáo trói buộc.

Vở kịch có sức thu hút người dân vì trước hết nó được viết bằng thơ và giàu chất thơ – yếu tố tinh thần quen thuộc đối với người dân Ấn Độ. Cốt truyện vở kịch hết sức hấp dẫn, không hề xa lạ với người xem. Chủ đề tư tưởng “trở về với thực tại” cũng chính là cốt truyện của truyện ngắn Đắc đạo, kể lại câu chuyện nàng Mênaka, một vũ nữ trong thần thoại Ấn Độ dan díu với với hiền sĩ đắc đạo Visua Mita rồi sinh ra nàng Sơcuntơra – một nhân vật bất hủ trong vở kịch cổ điển Kaliđaxa ở thế kỷ V.

Triết lý truyền thống Ấn Độ trong kịch Tagore - 1

Rabindranath Tagore là người châu Á đầu tiên được trao Giải Nobel Văn học (1913).

Ý định bỏ Trời, bỏ tu khổ hạnh để trở về với cuộc đời thật cũng là chủ đề được nhắc lại trong bài thơ Từ biệt Trời, trong đó nhân vật tu sĩ quyết rũ áo ra đi từ biệt trời cao xa, từ biệt các vũ nữ Mênaka, Urơvaxi để quay về trần thế Đất Mẹ với người con gái bằng xương bằng thịt – người vợ chưa cưới với bao niềm mơ ước ở một tập thơ khác (Người thoáng hiện).

Tagore cũng để cho thực tại cuộc đời thắng cái hư vô viển vông, dù đó là thiên đường rực rỡ ánh hào quang, bởi vì chỉ có thực tại mới là cái thiết thân đối với mỗi người dân đang sống và lao động. Chủ đề tư tưởng vở kịch Sự trừng phạt của thiên nhiên và tập thơ Người thoáng hiện xét ra cũng chỉ là một. Ở vở kịch, người thầy tu khổ hạnh cuối cùng đã quay về với thực tại đã mất của mình để đi tìm cô gái Vanxati hèn mọn bị xã hội ruồng bỏ. Còn ở tập thơ Người thầy tu khổ hạnh tự hành hạ thể xác tu luyện để được lên thiên đường, cuối cùng đã hiểu ra bản thân mình cũng không cần đến cái thiên đường xa vời ấy nữa mà lại muốn được hưởng một phần thưởng bình dị trong thực tại – cô gái hái củi ở trần thế.

Về hình thức thể hiện chủ đề “trở về với thực tại”, Rabindranath Tagore đã sử dụng những yếu tố gần gũi với tiềm thức người dân Ấn Độ trong triết lý cổ đại Ấn Độ – đó là con đường trần gian mà mọi người qua lại. Đưa vào vở kịch con đường như nơi hội tụ của nhiều hạng người, Tagore muốn nói đến con đường phủ đầy bụi trần gian. Đi trên con đường ấy khó mà tránh khỏi bụi trần. Ở đây, với lối viết tượng trưng triết lý, Tagore muốn truyền đạt tới người xem một cảm nhận tự nhiên: hễ là con người thì phải tiếp xúc với bụi trần của cuộc đời thế tục. Với con đường làm nền không gian bụi trần Tagore đã sáng tác những vở kịch tiếp theo như Ngày hội mùa thu (1908), Vương công (1910), Phòng bưu điện (1912), Dòng tự do (1912), Những cây trúc đào (1926), v.v… 

Thần thoại – món ăn tinh thần quen thuộc không thể thiếu trong đời sống người dân Ấn Độ cũng được Tagore sử dụng hợp lý để nói lên chủ đề tư tưởng của mỗi vở kịch. Ngoài vở kịch trữ tình triết lý Sự trừng phạt của thiên nhiên được xây dựng theo cốt truyện vũ nữ Mênaka trong thần thoại Ấn Độ, Tagore đã khai thác trước đó một cách sáng tạo đề tài thần thoại trong kịch. Sau vở ca kịch ngắn đầu tay Trái tim tan vỡ (1881), Tagore bắt đầu thử nghiệm đưa đề tài thần thoại với nền nhạc ngợi ca thần linh để sáng tác nên vở ca kịch Valmiki tỉnh ngộ (1881).

Cốt truyện của vở ca kịch này lấy từ truyện thần thoại về tên cướp Rotnakor được nữ thần Xarasvati cảm hóa phú cho tài làm thơ nên đã sáng tác được kiệt tác Ramayana. Trong kịch, cốt truyện thần thoại được Tagore điểm xuyết khéo léo khớp với nền nhạc phụ họa, trong đó Tagore cho diễn biến của cốt truyện lặp lại nguyên xi diễn biến lễ ca môngôlcápbô vốn có từ lâu đời trong sáng tác dân gian xứ sở Belgali thời trung cổ. Theo truyền thống lễ ca môngôlcápbô, thì tài hoa của nhân vật tên tướng cướp chỉ “bột phát” sau cuộc gặp gỡ với nữ thần có sức mạnh siêu nhiên trong hình tượng cô gái.

Khai thác theo hướng tích cực, cốt truyện thần thoại phục vụ cho ý niệm chân thiện Tagore đã xử lý diễn biến trong vở ca kịch này một cách tài tình, thấm đượm tính nhân văn. Tagore đã cho bước ngoặt diễn biến tính cách của nhân vật diễn ra ngay trong cuộc gặp gỡ với cô gái bất lực, yếu đuối. Và ở đây hành động kịch diễn biến rất logic theo sự tự vận động trong bản tính con người trước sự lựa chọn giữa cái thiện và cái ác. Người xem hoàn toàn tán thưởng khi thấy trong cách xử lý tác giả đã để cho nguyên nhân tỉnh ngộ của nhân vật tên cướp chính là sự đồng cảm trước tình cảnh của cô gái yếu đuối, chứ tuyệt nhiên không phải là sự sợ hãi trước uy linh của nữ thần.

Để đạt được hiệu quả chuyển tải diễn biến tâm lý của nhân vật đến người xem, Tagore đã đưa âm nhạc lễ ca đan xen vào vở kịch làm tôn lên những tính cách của nhân vật chính diện hoặc phản diện, Tagore chủ trương sử dụng tiết tấu của giai điệu để truyền đạt tâm tư tình cảm của nhân vật trong tình huống cụ thể. Trong khi các nhà viết kịch cùng thời thường để cho lễ ca đi sau lặp lại nguyên xi ý của đoạn đối thoại trước đó thì Tagore chủ trương đưa lễ ca vào kịch và bắt nó phải đóng vai trò một thành tố hữu cơ hòa quyện vào cốt truyện, nghĩa là nhạc lễ ca phải tiếp tục và phát triển được ý của phát ngôn của nhân vật, phải đi trước hành động kịch và chuẩn bị cho đoạn mở nút của kịch.

Vở ca kịch thể nghiệm này Tagore đã cho trình diễn tại gia đình (vào ngày 26/2/1881), song điều ghi nhận rút ra được là Tagore đã đến với kịch từ rất sớm, ngay từ khi bắt đầu con đường sáng tác của mình. Điều này có thể cắt nghĩa là vào những năm 70, 80 của thế kỷ XIX ở Ấn Độ, kịch, trong đó có ca kịch, là một loại hình nghệ thuật khá thịnh hành, hơn nữa trong gia đình Tagore mọi thành viên đều say mê kịch và âm nhạc. Và cũng hoàn toàn tự nhiên khi thấy những vở kịch đầu tiên của Tagore là ca kịch: Trái tim tan  vỡ, Valmiki tỉnh ngộ, Trò chơi số phận.

Nhưng phải đến vở kịch Lễ hiến máu (1890) thì chủ đề chống lễ giáo phong kiến trói buộc con người mới được thể hiện sâu sắc và triệt để. Vở kịch Lễ hiến máu là một trong những bi kịch xuất sắc của Tagore. Mặc dù Tagore lấy đề tài có tính lịch sử, nhưng vấn đề đặt ra lại mang tính thời đại sâu sắc. Sử dụng những tài liệu lịch sử cụ thể, Tagore không trình bày những sự kiện mà bóc trần tôn giáo chính thống như nguyên nhân sâu xa làm cho đạo đức sa sút, xã hội trì trệ.

Trong kịch Lễ hiến máu, Tagore phê phán gay gắt sự cuồng tín tôn giáo mù quáng vào hủ tục lễ hiến máu tồn tại qua bao đời đến mức người dân nào cũng coi đó là cần thiết như “khí trời của tất cả mọi người” (lời của Vương hậu Gunapoti). Cái nút của vở kịch là xung đột của thầy tu Bà-la-môn Rogokhupoti và Vương công Gobinđo. Trong kịch cái cớ của xung đột giữa Rogokhupoti và Gobinđo được Tagore vạch trần bọn đội lốt Bà-la-môn đang tâm bắt con dê của cô gái nghèo Apacna để dâng máu cho thần ác Kali. Đây cũng là một đặc trưng khác của kịch Tagore những năm 90 của thế kỷ XIX. Đó là sự nhấn mạnh vai trò của cảnh huống trong mối tương quan tính cách của hành động. Cảnh huống ở đây là việc bắt một con dê (loại súc vật không được che chở) của dân đen yếu ớt thuộc hạng cùng đinh bị tước mọi quyền tạo nên toàn cảnh một âm hưởng phổ quát chung đối với mọi tục lệ cổ hủ phản nhân đạo mà trong vở kịch, ngay cả Vương hậu Gunapoti, một kẻ cuồng tín mù quáng vào việc thờ thần linh, cũng mang mối hận thù đẳng cấp đối với lực lượng chính nghĩa, trung thực.

Điều mà Tagore muốn thông qua vở kịch vạch ra cho người xem là sự cuồng tín, mê muội thực chất đang hủy hoại đạo đức con người, kể cả trong quan hệ với những người thân thích ruột thịt (Vương hậu Gunapoti vì cuồng tín đã câu kết với thầy tu Rogokhupoti chống lại chồng mình là Vương công Gobinđo). Thật là cao thượng và nhân ái khi Vương công Gobinđo, đại diện cho lẽ phải dám hiên ngang đứng ra chống lại số đông mù quáng để ra lệnh hủy bỏ lễ hiến máu 100 con trâu và 300 con dê. Lệnh chỉ của Vương công Gobinđo chính là thái độ của Tagore muốn làm ngừng chảy máu của biết bao sinh linh: “Hãy truyền bảo cho mọi người đến lễ từ nay trở đi, người nào mà giết sinh vật lấy máu dâng Đức Mẹ của muôn vật thì người đó sẽ phải đi đày”.

Tagore đã khai thác triệt để mặt phản nhân đạo của lễ hiến máu và để gây ấn tượng mạnh, cuối vở kịch tác giả đã cho Giaixinh, môn đệ của thầy tu Bà-la-môn phải tự nhận lấy cái chết. Theo chỉ thị của sư phụ thầy tu Bà-la-môn Rogokhupoti, chàng thanh niên Giaixinh đã phải đứng trước ảnh thánh thề sẽ giết Vương công Gobinđo để dâng máu cho nữ thần. Nhưng cuối cùng, lương tri con người đã đánh thức chàng trai, Giaixinh thấy mình sẽ là kẻ phạm tội khi thực hiện chỉ thị của thầy tu. Để thoát cảnh huống đầy mâu thuẫn, Giaixinh đã rút dao tự vẫn. Cái chết của Giaixinh đã gây nên sự giác ngộ đột biến của thầy tu và đưa vở kịch vào cái hậu tươi sáng theo lý tưởng “cái thiện thắng cái ác” của Tagore. Cái chết của Giaixinh cũng nói lên nỗi đau khổ của những người thanh niên trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ: phải hy sinh tình cảm cho lễ giáo (theo nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh).

Để cho nhân vật phản diện trở về với cái thiện, coi thần linh thượng đế không phải là thần tượng mà chỉ là một ý niệm cao siêu – đó là chủ đề tư tưởng mà Tagore chủ trương đưa vào nhiều vở kịch. Trong vở kịch Lễ hiến máu, cái chết của chàng trai Giaixinh và sự mất mát không gì bù đắp nổi của cô gái nghèo bị mất người yêu làm người xem quặn đau trước một tập tục cổ hủ phản nhân đạo truyền từ bao đời nay và càng thấy ý nghĩa to lớn của cái giá phải trả cho bất cứ sự tỉnh ngộ nào của những kẻ đã gây ra bao nhiêu cuộc tàn sát sinh linh. Trong số những tác phẩm kịch xuất sắc của Tagore, phải kể trước hết đến các vở kịch Vương công và Vương hậu (1889), Lễ hiến máu (1890), Dòng tự do (1922). 

Vở Vương công và Vương hậu về hình thức rất gần với bi kịch và được đánh giá là một trong những bi kịch xuất sắc viết bằng tiếng Bengali. Nội dung tư tưởng toát lên tinh thần nhân đạo, lòng căm thù đối với chiến tranh và bạo lực đang làm què quặt tâm hồn những kẻ nắm bạo lực ấy trong tay. 

Dòng tự do là vở kịch viết theo lối tượng trưng phúng dụ. Về nội dung tư tưởng Dòng tự do là vở kịch đầu tiên đề cập trực tiếp những vấn đề của thời đại. Với lối viết bóng gió Tagore lên án chính sách thực dân của chế độ Anh ở Ấn Độ và lên án bộ máy của nó. Miêu tả sự xung đột giữa hai công quốc hư cấu Tagore đã tái tạo về thực chất mô hình của mối quan hệ quan lại giữa mẫu quốc với thuộc địa. Cuộc xung đột diễn ra nhân có sự kiện xây dựng đập nước trên sông Muktotkhara (Dòng tự do). Cốt truyện kể Vương công của công quốc Uttorokut cho xây đập nước để ngăn nước tràn về cánh đồng của công quốc láng giềng, bằng cách đó bắt thần dân công quốc láng giềng phải quy phục. Nhưng nhờ sự hy sinh quên mình của Hoàng tử nối ngôi Opkhitgit của công quốc Uttorokut, đập nước đã bị phá tan và chính nghĩa đã thắng.

Trong vở kịch Dòng tự do vai trò của quần chúng nhân dân được đề cao. Họ là lực lượng hùng hậu để xây nên đạp nước, nhưng cũng chính họ là những nạn nhân đã bị thiệt mạng vì việc xây dựng đập nước làm công cụ nô dịch người dân ở công quốc khác. Ngay chính tên chỉ huy xây dựng công trình đập nước Bipkhuti vì lòng tin mù quáng cũng bị thiệt mạng khiến ta nhớ tới nhân vật thầy tu Bà-la-môn Rogokhupoti tôn thờ nữ thần ác Kali. Điều đáng chú ý ở đây là dụng ý của Tagore xây dựng một nhân vật chính diện biết trọng lẽ phải (Hoàng tử nối ngôi Opkhitgit quyết định cho phá đập nước là hợp với lòng dân) xuất phát từ nguồn gốc xuất thân thật của Hoàng tử. Nguyên do Hoàng tử không phải là dòng dõi hoàng tộc mà chỉ là đứa con rơi nhặt được ở bờ sông Muktotkhara, vì vậy Hoàng tử chính là đứa con của “Dòng tự do” nên được số phận giao cho phải phá đập nước giải phóng cho dân chúng ở công quốc láng giềng. Với lối viết tượng trưng đề cao vai trò của quần chúng nhân dân Tagore đã tạo nên hình tượng “ông hoàng bình dân” đại diện cho chính nghĩa được nhân dân yêu mến và ủng hộ. Vì thế cái chết của Hoàng tử Opkhitgit được coi như sự hy sinh cao cả vì nó gắn liền với niềm hy vọng về một ngày mai tươi sáng trong quang cảnh ngày hội mùa rộn rã, những bài ca tưng bừng của dân chúng hai công quốc láng giềng ngợi ca chàng thợ cày Siva – đây cũng là một cái hậu tươi sáng theo lý tưởng “cái thiện thắng cái ác”.

Rabindranath Tagore (1861-1941) là đại thi hào của Ấn Độ từ lâu đã quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. Từ năm 1924, bạn đọc đã biết đến tên tuổi R. Tagore qua bài giới thiệu Bàn phiếm về văn hóa Đông – Tây của Thượng Chi (Báo Nam Phong, số 89), ít năm sau, năm 1929, người dân Việt Nam lại có dịp được chào đón Tagore trên đường từ Nhật Bản về Ấn Độ, có dừng chân lại Sài Gòn. Nhưng rồi phải đến thập niên 1960, bạn đọc Việt Nam mới có dịp làm quen với tập Thơ Dâng (Gitanjali – Giải thưởng Nobel văn học năm 1913).

Ảnh hưởng của thi hào, kịch tác gia Rabindranath Tagore trong nhân dân Ấn Độ vô cùng to lớn trong suốt thế kỷ XX và sang cả thế kỷ XXI. Ở Ấn Độ, người dân rất ngưỡng mộ R. Tagore và M. Gandhi, quen gọi hai ông là những vị thánh “đã sáng lập ra nước Ấn Độ” (theo:  Tagore and our time – Nehru J.). 

Nguyễn Xuân Hòa




Nguồn: Arttimes.vn

Lấy ý kiến nhân dân vào Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI


Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 sẽ diễn ra từ ngày 11 đến 13-5-2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị – xã hội có ý nghĩa quan trọng diễn ra ngay sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trân trọng và mong muốn nhận được nhiều ý kiến quý báu, tâm huyết của toàn thể nhân dân đối với dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Lấy ý kiến nhân dân vào Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI - 1

Ảnh minh họa: xaydungchinhsach.chinhphu.vn 

Dự thảo Báo cáo chính trị được đăng tải trên website của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại địa chỉ: http://www.mattran.org.vn, website của Báo Đại đoàn kết, website của Trung ương các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thời gian xin ý kiến góp ý đối với dự thảo Báo cáo chính trị đến hết ngày 22-4-2026. Ý kiến góp ý xin gửi về Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 107 Quán Thánh, phường Ba Đình, thành phố Hà Nội. Email: vanphongubtwmttqvn@gmail.com.

Toàn văn dự thảo báo cáo trong file đính kèm

Theo QĐND




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: “Dở khóc dở cười” thanh niên đi xe máy cắm thẳng vào dải phân cách


Không va chạm, không bị ép đường, nam thanh niên bất ngờ lao thẳng vào dải phân cách giữa đường.




Nguồn: Arttimes.vn

Đây là 5 mẫu sedan bán chạy nhất tháng 3/2026, Vios bỏ xa các đối thủ


Sedan hạng B tiếp tục cho thấy sức bền đáng nể khi áp đảo bảng xếp hạng doanh số trong nhóm xe gầm thấp tháng vừa qua

Tháng 3/2026, thị trường ô tô Việt Nam phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn trũng do yếu tố mùa vụ. Doanh số tổng của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), VinFast và Hyundai Thành Công đạt khoảng 70.859 xe. Lũy kế Quý I/2026, tổng dung lượng thị trường đã vượt 162.000 xe, tăng trưởng khoảng 27% so với cùng kỳ.

Ở nhóm xe gầm thấp (sedan), top 5 bán chạy tháng 3/2026 phản ánh khá rõ xu hướng tiêu dùng hiện tại khi các mẫu xe hạng B tiếp tục chiếm ưu thế. Toyota Vios dẫn đầu với 1.004 xe, bỏ xa phần còn lại, trong khi Mazda2, Honda City, Hyundai Accent và Mazda3 chia nhau các vị trí tiếp theo. Điểm chung của danh sách này là mức giá dễ tiếp cận, chi phí sử dụng thấp và phù hợp nhu cầu xe gia đình hoặc dịch vụ, giúp sedan hạng B duy trì sức hút bất chấp làn sóng SUV/CUV.

Tuy nhiên, nếu đặt trong bức tranh toàn thị trường, sedan nói chung vẫn đang chịu áp lực lớn từ xu hướng dịch chuyển sang xe gầm cao và đặc biệt là xe điện. Sự áp đảo của các mẫu VinFast trong bảng xếp hạng toàn thị trường gần đây cho thấy người dùng đang ưu tiên các yếu tố mới như chi phí vận hành và công nghệ.

Dưới đây là danh sách 5 mẫu xe gầm thấp (sedan) bán chạy nhất tháng 3/2026 tại thị trường Việt Nam:

Đây là 5 mẫu sedan bán chạy nhất tháng 3/2026, Vios bỏ xa các đối thủ - 1

Đây là 5 mẫu sedan bán chạy nhất tháng 3/2026, Vios bỏ xa các đối thủ - 2

Đây là 5 mẫu sedan bán chạy nhất tháng 3/2026, Vios bỏ xa các đối thủ - 3

Đây là 5 mẫu sedan bán chạy nhất tháng 3/2026, Vios bỏ xa các đối thủ - 4

Đây là 5 mẫu sedan bán chạy nhất tháng 3/2026, Vios bỏ xa các đối thủ - 5



Nguồn: Arttimes.vn

Top 5 xe gầm cao bán chạy nhất tháng 3/2026


Xe điện tiếp tục chiếm ưu thế áp đảo ở phân khúc SUV/crossover phổ thông.

Thị trường ô tô Việt Nam trong tháng 3/2026 ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn thấp điểm đầu năm, với tổng doanh số đạt khoảng 70.859 xe nếu cộng gộp Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), VinFast và Hyundai Thành Công. Lũy kế quý I/2026, tổng dung lượng thị trường đã vượt 162.000 xe, tăng trưởng khoảng 27% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng hồi phục bền vững của nhu cầu tiêu dùng ô tô trong nước.

Trong bức tranh chung đó, VinFast tiếp tục đóng vai trò đầu tàu khi bàn giao tới 27.609 ô tô điện chỉ riêng trong tháng 3, chiếm khoảng 1/3 thị phần toàn thị trường và bỏ xa nhóm bám đuổi phía sau. Các thành viên thuộc VAMA vẫn duy trì tỷ trọng lớn với khoảng 58% thị phần, chủ yếu đến từ xe xăng/dầu truyền thống. Hyundai Thành Công (TC Motor) giữ vị trí thứ ba với doanh số hơn 4.500 xe trong tháng, đóng góp khoảng 8% thị phần, nhưng đang chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ làn sóng điện hóa.

Nhìn vào top 5 xe gầm cao bán chạy tháng 3/2026 có thể thấy xu hướng xe điện đang áp đảo rõ rệt. Cả 4/5 vị trí dẫn đầu đều thuộc về các mẫu điện của VinFast như VinFast VF 3, VinFast VF 5, VinFast VF 6 và VinFast VF 7, trong khi mẫu xe xăng hiếm hoi là Toyota Yaris Cross đứng ở vị trí thứ 4.

Thực tế, xe điện VinFast cũng chiếm tới 7/10 vị trí trong bảng xếp hạng toàn thị trường tháng này, cho thấy sự dịch chuyển rất nhanh từ xe động cơ đốt trong sang xe điện tại Việt Nam, được thúc đẩy bởi giá nhiên liệu biến động và chính sách ưu đãi từ hãng. Xu hướng này đang định hình lại cục diện thị trường, đặc biệt ở nhóm xe gầm cao SUV/crossover – phân khúc chiếm gần một nửa doanh số xe du lịch hiện nay.

Dưới đây là danh sách 5 mẫu xe gầm cao bán chạy nhất tháng 3/2026 tại thị trường Việt Nam:

Top 5 xe gầm cao bán chạy nhất tháng 3/2026 - 1

Top 5 xe gầm cao bán chạy nhất tháng 3/2026 - 2

Top 5 xe gầm cao bán chạy nhất tháng 3/2026 - 3

Top 5 xe gầm cao bán chạy nhất tháng 3/2026 - 4

Top 5 xe gầm cao bán chạy nhất tháng 3/2026 - 5



Nguồn: Arttimes.vn

Trái tim nghệ sĩ


Nhà văn muốn trưởng thành cũng giống như cây phải chăm bón. Có điều khác với cây được người chăm bón, nhà văn chủ yếu phải tự chăm bón mình. Không ai đọc thay nhà văn, cũng không ai có thể đi, có thể sống thay nhà văn được.

Trái tim thức ngủ

Gần đây có nhà văn còn viết trên báo rằng: Nhờ có cách mạng giáo dục, anh em chúng tôi sống nghèo nàn thanh bạch nên mới viết văn được. Cũng có người cho rằng thời kỳ Bác gian khổ nhất thì thơ Bác hay nhất. Thường các nhà văn nhà thơ tự hào về cái nghèo của mình.

Theo tôi, cái nghèo của giới nào, thời nào cũng đều không đáng khen cả, và cái nghèo tự nó không làm nên tài năng.

Giàu hay nghèo chỉ là hoàn cảnh riêng của mỗi người. Có người nghèo viết hay như Đỗ Phủ, Nguyễn Du, M.Gorki… Nhưng cũng có người giàu sáng tác hay như L.Tolstoy, Márquez… Và cũng có biết bao nhà văn nhà thơ nghèo viết không hay… Vấn đề là cái tâm của nghệ sĩ thức hay ngủ. Ai trăn trở với cuộc đời bằng bá tước L.Tolstoy, ông quan Bạch Cư Dị? Nhưng cũng có bao người nghèo khổ lại không hề rung động trước nỗi khổ của đồng loại.

Vừa rồi, nhà văn H.P. viết trên báo Văn nghệ rằng: Thơ tình yêu chỉ có thơ thất tình mới hay. Thực tế có nhiều nhà thơ nổi tiếng vì thơ thất tình: Heine, Puskin, Musset… nên ý kiến ấy thoạt nghe thì đúng, nghĩ kỹ cũng còn phiến diện. Thất tình là một nỗi đau có trái tim thức. Nhưng tình yêu hạnh phúc đâu phải là có trái tim ngủ? Những tập thơ tình nổi tiếng của Aragon và Neruda đâu phải là thơ thất tình? Bài thơ Khóc người vợ hiền của Tú Mỡ nói về tình vợ chồng hạnh phúc mà có nhà thơ trẻ nổi tiếng cho rằng đó là bài thơ tình hay nhất của Việt Nam.

Chẳng lẽ, mai sau nhân loại sống giàu có và hạnh phúc thì những tác phẩm nghệ thuật hay không còn? Theo tôi, đến lúc đó những tác phẩm nghệ thuật hay sẽ nhiều gấp bội bây giờ.

Văn nghệ sĩ thường được mọi người chú ý hơn các giới khác. Phải chăng do họ gắn bó mật thiết với con người? Viết về số phận con người, vẽ về cuộc sống con người, hát về nỗi niềm của con người. Có lẽ vì được chú ý hơn, trong đó có cuộc sống riêng của họ, nên tất cả những cái tốt đẹp cũng như những điều còn đục chưa thật trong đều hiện lên đầy đủ. Nhưng thực tế cuộc sống, là hương thơm khó thấy hơn mùi xú uế, sự sạch sẽ ít được chú ý hơn một vết nhơ, đêm rằm trăng sáng thì coi như đương nhiên nhưng mây che thì khó chịu… Vì vậy, văn nghệ sĩ có một số điểm để những người không có thiện cảm hay để ý thường gán cho là: bướng bỉnh, tự do vô tổ chức, quan hệ tình ái lãng mạn, rượu chè…

Về những điểm tốt của văn nghệ sĩ, tôi không muốn khẳng định họ đẹp hơn những giới khác. Điều ấy để cuộc sống tự trả lời. Nhưng tôi không cần một chút đắn đo rằng về tất cả các mặt, họ không xấu hơn bất cứ một giới nào.

Nhưng người nghệ sĩ là gì, họ khác người thường ở chỗ nào? Tất nhiên họ không phải là những siêu nhân và cũng không hề lập dị. Cái hâm và lập dị có ở mọi giới. Nhưng họ khác mọi người ở chỗ họ không sống bình thường được: nhiều niềm vui và nhiều nỗi buồn hơn. Họ nhạy cảm hơn mọi người trước cái xấu và cái đẹp, và có chính kiến riêng. Những tài năng đều do sự phát triển thái quá về một mặt nào đấy. Người nghệ sĩ là sự phát triển thái quá của chất nghệ sĩ có sẵn trong con người.

Thấy được cái hay cái đẹp trong thiên nhiên, trong xã hội, trong tâm hồn, người nghệ sĩ không giữ làm của riêng, họ mang cho mọi người một cách hào phóng.

Mọi giới đều có của rởm. Có người dạy học cả đời nhưng chưa bao giờ là nhà sư phạm. Có những nguyên thủ quốc gia nhưng không đại diện cho dân tộc. Có người viết hàng chục cuốn sách được gọi là văn học, nhưng chưa mon men đến được ngưỡng cửa văn chương. Nhưng những văn nghệ sĩ đích thực thì đời nào cũng có…

Trái tim nghệ sĩ - 1

Ảnh minh họa.

Sống một trăm lần

Nhà thơ cộng sản P. Neruda (Chile) có lần bị kẻ thù nói xấu ông là kẻ hai mặt. Ông nói: Không, tôi có một trăm bộ mặt.

Người nghệ sĩ là người có cuộc sống phong phú, họ hóa thân vào nhiều kiếp người. Muốn xây dựng được các nhân vật của mình thành công, nhà văn phải sống với tư tưởng, tình cảm của nhân vật. Hàng trăm nhân vật trong một tiểu thuyết, mỗi nhân vật có một cuộc đời khác nhau, có suy nghĩ và tâm hồn khác nhau. Nhà văn có thực sự sống cuộc đời nhân vật thì các nhân vật mới sống với đời. Mà các nhân vật càng khác nhau thì tác phẩm mới càng sống trong lòng mọi người. Tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của L. Tolstoy là một ví dụ. Andrei Bolkonsky khác Pierre Bezukhov, Natasha khác Hélène,Kutuzov khác Napoleon … Nhà thơ Tố Hữu phải thực sự sống tâm trạng của lão đầy tớ, của chị vú em, cô gái sông Hương, của mẹ Tơm, anh giải phóng quân, của Bác Hồ… 

Tầm vĩ đại của nhà văn thể hiện ở chỗ họ thực sự sống (thể hiện bằng tác phẩm) nhiều cảnh ngộ, nhiều số phận của con người ở mức độ độc đáo và có sức sống cao, chứ không phải ở những lời phát biểu to tát, những chức vụ, những huân chương… Số phận những nhân vật là tượng đài kỳ vĩ nhất mà nhà nghệ sĩ tự dựng cho mình. Không ai nhớ đến ông quan Bạch Cư Dị, mà nhân loại chỉ biết đến nhà thơ Bạch Cư Dị với Tỳ bà hành. Người ta sẽ quên đi P. Neruda đã từng được Đảng Cộng sản Chile đưa ra ứng cử tổng thống, để nhớ đến nhà thơ Neruda với Một trăm bài thơ tình

Ngôi báu trong nghệ thuật không phải chỉ có một, nên không cần tranh giành, cũng không có người cản đường, chỉ có người nghệ sĩ tự cản đường mình mà thôi. Thế giới nghệ thuật là một thế giới tuyệt diệu mà nghệ sĩ có tự do tuyệt đối để sáng tạo nếu trái tim đã hiến dâng cho Con Người, cho Cái Đẹp. Điều này chỉ trong sáng tạo nghệ thuật mới có được.

Sống cuộc sống thường ngày của con người, với những vui buồn thường ngày, với những sướng khổ, yêu thương và căm giận hàng ngày, nhưng đừng để những cái bực dọc vặt vãnh thường ngày chế ngự tâm hồn mình. Tôi nhớ đến Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Tuân… Người nghệ sĩ phải như bông hoa sen bất tử “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Khác với những người thường, cuộc đời của những nghệ sĩ chân chính có thể được sống hàng trăm, hàng nghìn lần cuộc sống có hạn của con người. Riêng có điều này, họ không bị ai tranh giành cả.

Sáng tạo tác phẩm 

Nhà thơ Phạm Tiến Duật có lần nói: Các nhà thơ nhà văn cần chia đều thời gian cho đọc, đi và viết.

Quả thật đó là ba việc cần thiết của mỗi nhà thơ nhà văn. Nhưng chia đều hay phân chia một cách cân đối đó cũng là một nghệ thuật. Và việc phân chia này cũng mỗi nhà văn một khác, sao cho phù hợp với nét riêng mỗi người.

Đọc tức là học những kiến thức, những tư tưởng, những giá trị thẩm mỹ mà các thế hệ truyền lại. Sách thì nhiều vô cùng, nhất là thời mở cửa hội nhập. Biết bao nhiêu vàng ngọc của đời ở bao nhiêu nước đem đến cho chúng ta. Làm cách nào để tiếp nhận được hết? Cũng nhà thơ Phạm Tiến Duật đã khuyên tôi lúc trẻ: hãy chọn những sách hay mà đọc. Đúng rồi, phải chọn những sách hay, bởi nếu đọc sách dở thì nó làm hỏng người, còn đọc sách tuy không dở nhưng chưa hay thì cũng phí thời gian. Đời người có hạn lắm, mấy ai sống được trăm năm! Vậy đừng để phí thời gian đọc sách không hay. Muốn vậy phải học thì mới biết, chứ đừng để bị lừa bởi những lời quảng cáo. Đọc tức là học suốt đời.

“Đi một ngày đàng học một sàng khôn!”. Ông cha mình đã đúc kết thế. Tức là đi cũng là học. Nhưng đây là học trong thực tế, nó là những trang sách mới, khác với cuộc sống hiện tại của mỗi nhà văn. Cuộc sống hiện tại cũng là sống, mà đi cũng là sống. Nhưng sống cũng có người sâu sắc và có người hời hợt. Đi cũng có người học được sàng khôn, nhưng cũng có người chỉ cưỡi ngựa xem hoa. Thì xem ra, cùng một việc thôi mà mỗi người làm đã khác nhau nhiều lắm. Đi có người ghi chép có người không. Đa số các nhà văn đi thực tế ghi chép rất tỉ mỉ. Paustovsky(Nga) thì cho rằng cứ đi và sống bình thường không cần ghi chép, khi nào cần đến điều gì thì tự nó đã có mặt ở đấy rồi. Đấy là phong cách đi thực tế của nhà văn viết truyện ngắn đầy chất thơ chăng?

Đọc và đi là quá trình “nạp chất” của mỗi nhà văn. Không có quá trình này thì mầm năng khiếu không thể phát triển . Nhà văn muốn trưởng thành cũng giống như cây phải chăm bón. Có điều khác với cây được người chăm bón, nhà văn chủ yếu phải tự chăm bón mình. Không ai đọc thay nhà văn, cũng không ai có thể đi, có thể sống thay nhà văn được. Môi trường sống là cần, nhưng không phải quyết định. Điều này đòi hỏi bản lĩnh và nghị lực của mỗi người. Người thể hiện được tài năng là những người có bản lĩnh vượt lên làm chủ hoàn cảnh và điều kiện sống. Bản lĩnh của nhà văn là ở chỗ: đọc nhiều nhưng không loạn chữ đối với người giàu sách, mà nếu nghèo sách thì đọc chữ nào phải được chữ ấy.

Còn viết thì lại là quá trình khác. Đó là quá trình chuyển đổi chất từ cây lá xanh thành quả chín. Anh đọc lắm đi nhiều, mọi điều đều hay, nhưng cuối cùng là anh viết được cái gì. Có những loại cây ra rất nhiều quả, sai bện từ gốc tới ngọn hết năm này qua năm khác; có loại cây cả đời chỉ ra quả một lần. Nhà văn nhà thơ cũng phần nào giống vậy.

Đinh Quang Tốn




Nguồn: Arttimes.vn

Trái tim nghệ sĩ


Nhà văn muốn trưởng thành cũng giống như cây phải chăm bón. Có điều khác với cây được người chăm bón, nhà văn chủ yếu phải tự chăm bón mình. Không ai đọc thay nhà văn, cũng không ai có thể đi, có thể sống thay nhà văn được.

Trái tim thức ngủ

Gần đây có nhà văn còn viết trên báo rằng: Nhờ có cách mạng giáo dục, anh em chúng tôi sống nghèo nàn thanh bạch nên mới viết văn được. Cũng có người cho rằng thời kỳ Bác gian khổ nhất thì thơ Bác hay nhất. Thường các nhà văn nhà thơ tự hào về cái nghèo của mình.

Theo tôi, cái nghèo của giới nào, thời nào cũng đều không đáng khen cả, và cái nghèo tự nó không làm nên tài năng.

Giàu hay nghèo chỉ là hoàn cảnh riêng của mỗi người. Có người nghèo viết hay như Đỗ Phủ, Nguyễn Du, M.Gorki… Nhưng cũng có người giàu sáng tác hay như L.Tolstoy, Márquez… Và cũng có biết bao nhà văn nhà thơ nghèo viết không hay… Vấn đề là cái tâm của nghệ sĩ thức hay ngủ. Ai trăn trở với cuộc đời bằng bá tước L.Tolstoy, ông quan Bạch Cư Dị? Nhưng cũng có bao người nghèo khổ lại không hề rung động trước nỗi khổ của đồng loại.

Vừa rồi, nhà văn H.P. viết trên báo Văn nghệ rằng: Thơ tình yêu chỉ có thơ thất tình mới hay. Thực tế có nhiều nhà thơ nổi tiếng vì thơ thất tình: Heine, Puskin, Musset… nên ý kiến ấy thoạt nghe thì đúng, nghĩ kỹ cũng còn phiến diện. Thất tình là một nỗi đau có trái tim thức. Nhưng tình yêu hạnh phúc đâu phải là có trái tim ngủ? Những tập thơ tình nổi tiếng của Aragon và Neruda đâu phải là thơ thất tình? Bài thơ Khóc người vợ hiền của Tú Mỡ nói về tình vợ chồng hạnh phúc mà có nhà thơ trẻ nổi tiếng cho rằng đó là bài thơ tình hay nhất của Việt Nam.

Chẳng lẽ, mai sau nhân loại sống giàu có và hạnh phúc thì những tác phẩm nghệ thuật hay không còn? Theo tôi, đến lúc đó những tác phẩm nghệ thuật hay sẽ nhiều gấp bội bây giờ.

Văn nghệ sĩ thường được mọi người chú ý hơn các giới khác. Phải chăng do họ gắn bó mật thiết với con người? Viết về số phận con người, vẽ về cuộc sống con người, hát về nỗi niềm của con người. Có lẽ vì được chú ý hơn, trong đó có cuộc sống riêng của họ, nên tất cả những cái tốt đẹp cũng như những điều còn đục chưa thật trong đều hiện lên đầy đủ. Nhưng thực tế cuộc sống, là hương thơm khó thấy hơn mùi xú uế, sự sạch sẽ ít được chú ý hơn một vết nhơ, đêm rằm trăng sáng thì coi như đương nhiên nhưng mây che thì khó chịu… Vì vậy, văn nghệ sĩ có một số điểm để những người không có thiện cảm hay để ý thường gán cho là: bướng bỉnh, tự do vô tổ chức, quan hệ tình ái lãng mạn, rượu chè…

Về những điểm tốt của văn nghệ sĩ, tôi không muốn khẳng định họ đẹp hơn những giới khác. Điều ấy để cuộc sống tự trả lời. Nhưng tôi không cần một chút đắn đo rằng về tất cả các mặt, họ không xấu hơn bất cứ một giới nào.

Nhưng người nghệ sĩ là gì, họ khác người thường ở chỗ nào? Tất nhiên họ không phải là những siêu nhân và cũng không hề lập dị. Cái hâm và lập dị có ở mọi giới. Nhưng họ khác mọi người ở chỗ họ không sống bình thường được: nhiều niềm vui và nhiều nỗi buồn hơn. Họ nhạy cảm hơn mọi người trước cái xấu và cái đẹp, và có chính kiến riêng. Những tài năng đều do sự phát triển thái quá về một mặt nào đấy. Người nghệ sĩ là sự phát triển thái quá của chất nghệ sĩ có sẵn trong con người.

Thấy được cái hay cái đẹp trong thiên nhiên, trong xã hội, trong tâm hồn, người nghệ sĩ không giữ làm của riêng, họ mang cho mọi người một cách hào phóng.

Mọi giới đều có của rởm. Có người dạy học cả đời nhưng chưa bao giờ là nhà sư phạm. Có những nguyên thủ quốc gia nhưng không đại diện cho dân tộc. Có người viết hàng chục cuốn sách được gọi là văn học, nhưng chưa mon men đến được ngưỡng cửa văn chương. Nhưng những văn nghệ sĩ đích thực thì đời nào cũng có…

Trái tim nghệ sĩ - 1

Ảnh minh họa.

Sống một trăm lần

Nhà thơ cộng sản P. Neruda (Chile) có lần bị kẻ thù nói xấu ông là kẻ hai mặt. Ông nói: Không, tôi có một trăm bộ mặt.

Người nghệ sĩ là người có cuộc sống phong phú, họ hóa thân vào nhiều kiếp người. Muốn xây dựng được các nhân vật của mình thành công, nhà văn phải sống với tư tưởng, tình cảm của nhân vật. Hàng trăm nhân vật trong một tiểu thuyết, mỗi nhân vật có một cuộc đời khác nhau, có suy nghĩ và tâm hồn khác nhau. Nhà văn có thực sự sống cuộc đời nhân vật thì các nhân vật mới sống với đời. Mà các nhân vật càng khác nhau thì tác phẩm mới càng sống trong lòng mọi người. Tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của L. Tolstoy là một ví dụ. Andrei Bolkonsky khác Pierre Bezukhov, Natasha khác Hélène,Kutuzov khác Napoleon … Nhà thơ Tố Hữu phải thực sự sống tâm trạng của lão đầy tớ, của chị vú em, cô gái sông Hương, của mẹ Tơm, anh giải phóng quân, của Bác Hồ… 

Tầm vĩ đại của nhà văn thể hiện ở chỗ họ thực sự sống (thể hiện bằng tác phẩm) nhiều cảnh ngộ, nhiều số phận của con người ở mức độ độc đáo và có sức sống cao, chứ không phải ở những lời phát biểu to tát, những chức vụ, những huân chương… Số phận những nhân vật là tượng đài kỳ vĩ nhất mà nhà nghệ sĩ tự dựng cho mình. Không ai nhớ đến ông quan Bạch Cư Dị, mà nhân loại chỉ biết đến nhà thơ Bạch Cư Dị với Tỳ bà hành. Người ta sẽ quên đi P. Neruda đã từng được Đảng Cộng sản Chile đưa ra ứng cử tổng thống, để nhớ đến nhà thơ Neruda với Một trăm bài thơ tình

Ngôi báu trong nghệ thuật không phải chỉ có một, nên không cần tranh giành, cũng không có người cản đường, chỉ có người nghệ sĩ tự cản đường mình mà thôi. Thế giới nghệ thuật là một thế giới tuyệt diệu mà nghệ sĩ có tự do tuyệt đối để sáng tạo nếu trái tim đã hiến dâng cho Con Người, cho Cái Đẹp. Điều này chỉ trong sáng tạo nghệ thuật mới có được.

Sống cuộc sống thường ngày của con người, với những vui buồn thường ngày, với những sướng khổ, yêu thương và căm giận hàng ngày, nhưng đừng để những cái bực dọc vặt vãnh thường ngày chế ngự tâm hồn mình. Tôi nhớ đến Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Tuân… Người nghệ sĩ phải như bông hoa sen bất tử “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Khác với những người thường, cuộc đời của những nghệ sĩ chân chính có thể được sống hàng trăm, hàng nghìn lần cuộc sống có hạn của con người. Riêng có điều này, họ không bị ai tranh giành cả.

Sáng tạo tác phẩm 

Nhà thơ Phạm Tiến Duật có lần nói: Các nhà thơ nhà văn cần chia đều thời gian cho đọc, đi và viết.

Quả thật đó là ba việc cần thiết của mỗi nhà thơ nhà văn. Nhưng chia đều hay phân chia một cách cân đối đó cũng là một nghệ thuật. Và việc phân chia này cũng mỗi nhà văn một khác, sao cho phù hợp với nét riêng mỗi người.

Đọc tức là học những kiến thức, những tư tưởng, những giá trị thẩm mỹ mà các thế hệ truyền lại. Sách thì nhiều vô cùng, nhất là thời mở cửa hội nhập. Biết bao nhiêu vàng ngọc của đời ở bao nhiêu nước đem đến cho chúng ta. Làm cách nào để tiếp nhận được hết? Cũng nhà thơ Phạm Tiến Duật đã khuyên tôi lúc trẻ: hãy chọn những sách hay mà đọc. Đúng rồi, phải chọn những sách hay, bởi nếu đọc sách dở thì nó làm hỏng người, còn đọc sách tuy không dở nhưng chưa hay thì cũng phí thời gian. Đời người có hạn lắm, mấy ai sống được trăm năm! Vậy đừng để phí thời gian đọc sách không hay. Muốn vậy phải học thì mới biết, chứ đừng để bị lừa bởi những lời quảng cáo. Đọc tức là học suốt đời.

“Đi một ngày đàng học một sàng khôn!”. Ông cha mình đã đúc kết thế. Tức là đi cũng là học. Nhưng đây là học trong thực tế, nó là những trang sách mới, khác với cuộc sống hiện tại của mỗi nhà văn. Cuộc sống hiện tại cũng là sống, mà đi cũng là sống. Nhưng sống cũng có người sâu sắc và có người hời hợt. Đi cũng có người học được sàng khôn, nhưng cũng có người chỉ cưỡi ngựa xem hoa. Thì xem ra, cùng một việc thôi mà mỗi người làm đã khác nhau nhiều lắm. Đi có người ghi chép có người không. Đa số các nhà văn đi thực tế ghi chép rất tỉ mỉ. Paustovsky(Nga) thì cho rằng cứ đi và sống bình thường không cần ghi chép, khi nào cần đến điều gì thì tự nó đã có mặt ở đấy rồi. Đấy là phong cách đi thực tế của nhà văn viết truyện ngắn đầy chất thơ chăng?

Đọc và đi là quá trình “nạp chất” của mỗi nhà văn. Không có quá trình này thì mầm năng khiếu không thể phát triển . Nhà văn muốn trưởng thành cũng giống như cây phải chăm bón. Có điều khác với cây được người chăm bón, nhà văn chủ yếu phải tự chăm bón mình. Không ai đọc thay nhà văn, cũng không ai có thể đi, có thể sống thay nhà văn được. Môi trường sống là cần, nhưng không phải quyết định. Điều này đòi hỏi bản lĩnh và nghị lực của mỗi người. Người thể hiện được tài năng là những người có bản lĩnh vượt lên làm chủ hoàn cảnh và điều kiện sống. Bản lĩnh của nhà văn là ở chỗ: đọc nhiều nhưng không loạn chữ đối với người giàu sách, mà nếu nghèo sách thì đọc chữ nào phải được chữ ấy.

Còn viết thì lại là quá trình khác. Đó là quá trình chuyển đổi chất từ cây lá xanh thành quả chín. Anh đọc lắm đi nhiều, mọi điều đều hay, nhưng cuối cùng là anh viết được cái gì. Có những loại cây ra rất nhiều quả, sai bện từ gốc tới ngọn hết năm này qua năm khác; có loại cây cả đời chỉ ra quả một lần. Nhà văn nhà thơ cũng phần nào giống vậy.

Đinh Quang Tốn




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Vượt ẩu đoạn khuất tầm nhìn, thanh niên bỏ xe nhảy thoát thân trước đầu ô tô


Khoảnh khắc đối mặt xe tải trong cự ly gần khiến nam thanh niên chỉ còn cách “bỏ của chạy lấy người” để giữ an toàn.




Nguồn: Arttimes.vn