Home Blog Page 23

Nissan hồi sinh huyền thoại Terrano dưới dạng SUV khung gầm rời


Nissan đưa Terrano trở lại đường đua SUV địa hình, lần này dưới dạng xe khung gầm rời điện hóa.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Đánh võng trên cầu, 3 thanh niên ngã trượt dài ngay trước đầu ô tô


Chở ba, phóng nhanh rồi liên tục lạng lách trong làn ô tô, nhóm thanh niên nhanh chóng nhận cái kết thót tim.




Nguồn: Arttimes.vn

Chi tiết Omoda 4 sắp ra mắt tại Việt Nam, đa dạng phiên bản đấu BYD Dolphin


Omoda C4 chuẩn bị lắp ráp tại Việt Nam được cho là có cả bản xăng, Hybrid và thuần điện.

Thương hiệu Omoda vừa chính thức giới thiệu mẫu Omoda 4 (C4) tại Triển lãm Ô tô Bắc Kinh 2026, đánh dấu bước tiến tiếp theo trong chiến lược mở rộng toàn cầu. Sau lần xuất hiện trước đó tại hội nghị người dùng của Chery, việc góp mặt tại sự kiện lớn này cho thấy mẫu xe đang được đẩy mạnh truyền thông, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong dải sản phẩm mới của hãng.

Chi tiết Omoda 4 sắp ra mắt tại Việt Nam, đa dạng phiên bản đấu BYD Dolphin - 1

Tại Việt Nam, Omoda C4 đã được đưa vào kế hoạch nội địa hóa, trở thành mẫu xe lắp ráp thứ hai sau Jaecoo J5. Theo lộ trình, xe sẽ được sản xuất tại nhà máy ở Hưng Yên – dự án dự kiến hoàn thiện và đi vào hoạt động từ tháng 6/2026. Đáng chú ý, hãng dự kiến phân phối đầy đủ các cấu hình động cơ gồm xăng, hybrid và thuần điện nhằm đáp ứng xu hướng điện hóa ngày càng rõ nét.

Chi tiết Omoda 4 sắp ra mắt tại Việt Nam, đa dạng phiên bản đấu BYD Dolphin - 2

Omoda C4 được định vị ở khoảng giao giữa phân khúc B-hatchback và B-SUV, hướng đến nhóm khách hàng đô thị. Xe có kích thước dài 4.420 mm, rộng 1.860 mm, cao 1.570 mm, trục cơ sở 2.700 mm và khoảng sáng gầm 151 mm. Với cấu hình này, mẫu xe sẽ cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ như BYD Dolphin hay một số dòng xe điện cỡ nhỏ khác. Khoang hành lý phía sau có dung tích từ 402 lít và có thể mở rộng lên 1.126 lít khi gập hàng ghế thứ hai.

Chi tiết Omoda 4 sắp ra mắt tại Việt Nam, đa dạng phiên bản đấu BYD Dolphin - 3

Ở mảng truyền động, bản máy xăng tăng áp cho công suất khoảng 147 mã lực, mô-men xoắn 210 Nm, đi kèm hộp số ly hợp kép 6 cấp. Trong khi đó, biến thể hybrid sử dụng hệ thống SHS với mô-tơ điện mạnh 204 mã lực, mô-men xoắn 310 Nm, kết hợp động cơ xăng hút khí tự nhiên và hộp số DHT.

Đáng chú ý, phiên bản thuần điện cũng được phát triển song song với hai tùy chọn pin 50,6 kWh và 67 kWh, cho phạm vi hoạt động lần lượt khoảng 420 km và 500 km (theo chuẩn NEDC). Mô-tơ điện đặt tại cầu trước sản sinh công suất 204 mã lực, giúp xe tăng tốc 0–100 km/h trong 7,9 giây và đạt tốc độ tối đa 170 km/h.

Chi tiết Omoda 4 sắp ra mắt tại Việt Nam, đa dạng phiên bản đấu BYD Dolphin - 4

Phiên bản điện hỗ trợ sạc AC tối đa 11 kW và sạc nhanh DC lên tới 120 kW, đồng thời tích hợp tính năng V2L cho phép cấp điện ra ngoài với công suất 3,3 kW. Đây là trang bị hữu ích cho các nhu cầu dã ngoại hoặc sử dụng thiết bị ngoại vi.

Chi tiết Omoda 4 sắp ra mắt tại Việt Nam, đa dạng phiên bản đấu BYD Dolphin - 5

Về thiết kế, Omoda C4 gây ấn tượng với phong cách góc cạnh, cụm đèn định vị chữ X và lưới tản nhiệt dạng “mặt nạ đen”. Nội thất theo hướng tối giản, nổi bật với màn hình trung tâm đặt dọc, bảng đồng hồ kỹ thuật số và một số chi tiết tạo điểm nhấn như nút khởi động dạng nắp bật. Xe được trang bị mâm 18 inch, cửa sổ trời toàn cảnh, các chế độ lái tùy chỉnh cùng loạt tiện ích như Camping Mode hay Pet Mode.

Chi tiết Omoda 4 sắp ra mắt tại Việt Nam, đa dạng phiên bản đấu BYD Dolphin - 6

Danh mục an toàn cũng khá đầy đủ với camera 360 độ và gói hỗ trợ lái nâng cao ADAS tích hợp 19 tính năng, giúp Omoda C4 trở thành một trong những lựa chọn đáng chú ý trong phân khúc xe đô thị điện hóa khi chính thức ra mắt thị trường Việt Nam trong thời gian tới.



Nguồn: Arttimes.vn

Nghĩ từ phê bình văn chương


Quan hệ giữa sáng tác và phê bình đã từng là nỗi băn khoăn của nhiều người cầm bút. Bản chất của mối quan hệ này là sự tương tác tốt đẹp. Sáng tác là đối tượng của phê bình, nên có sáng tác mới có phê bình. Còn phê bình thì như bà mối giới thiệu sáng tác với công chúng. Thế thì phê bình và sáng tác phải là sự gắn bó thân thiết, ở mức độ cao phải là tri âm tri kỷ. Vậy vì sao trong thực tế lại có sự mâu thuẫn?

1. Chìa khóa phê bình văn chương?

Hơn hai chục năm trước tôi có đọc một bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật kể chuyện nhà thơ Xuân Diệu đưa cho anh tập tiểu thuyết Mái Tây (Tây sương ký của Vương Thực Phủ có lời bình của Kim Thánh Thán do Nhượng Tống dịch) và nói rằng: Chìa khóa của phê bình văn chương nằm cả ở trong đấy. Là một người mới viết phê bình ở tỉnh lẻ, tôi thực sự mong muốn được biết chiếc “chìa khóa” ấy, nhưng không làm sao tìm được. Vì vậy, tôi cứ làm phê bình văn chương theo ý mình. Rồi cũng có bạn đọc, cũng được khích lệ. Nhưng khao khát tìm chiếc chìa khóa thần của phê bình thì tôi không hề nguôi ngoai. 

Chuyển về Hà Nội, khi có điều kiện gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật (năm 2007, trước khi anh mất một thời gian), tôi có hỏi cụ thể về tập sách ấy, sao không thấy tái bản? Anh liền đọc thuộc lòng ký hiệu của tập sách ở Thư viện Quốc gia. Gần đây, tôi đã có trong tay toàn bộ lời bình của Kim Thánh Thán về tập tiểu thuyết Mái Tây.

Đọc lời dẫn và lời bình mấy chương đầu, tôi đã toan không đọc nữa, bởi chẳng thấy có gì đáng chú ý cả. Tôi nghĩ Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật cũng chỉ tán vậy thôi. Nhưng rồi tôi lại nghĩ những vĩ nhân dù nói đùa cũng phải có một điều gì đấy. Và tôi lại đọc tiếp một cách kỹ lưỡng. Khi đọc xong, nghĩ kỹ tôi đã ngộ ra: Phải chăng Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật đã tìm ra chìa khóa của phê bình văn chương, đó là phê bình văn chương không có chìa khóa nào cả? Ngẫm lại lời đại thi hào Nguyễn Du: “Mới hay không chữ chính là chân kinh” (Tài tri vô tự thị chân kinh) và danh nhân Trương Triều (sinh năm 1650, đời Thanh, Trung Quốc): “Có đọc được cuốn sách không chữ mới có những câu nói kinh nhân” (Năng độc vô tự chi thư phương khả đắc kinh nhân diệu cú).

Với phê bình văn chương thì không có chìa khóa cụ thể nào cả chính là chiếc chìa khóa vạn năng của phê bình. Đọc lại Kim Thánh Thán bình thơ Đường và bình các tập tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, thì thấy đúng như vậy. Bình mỗi tác phẩm, Thánh Thán lại có một chìa khóa riêng, một phương pháp riêng. Vì vậy tôi rất nghi ngờ những sách dạy về phương pháp phê bình và phương pháp sáng tác. Đúng rồi, phương pháp là cách thức tiến hành để làm ra kết quả. Vậy lại có một phương pháp để sản xuất ra tác phẩm văn chương và phê bình văn chương ư?

Kim Thánh Thán bình thơ Đường và tiểu thuyết cổ điển, tôi không thấy ông bám vào tác phẩm là mấy. Cứ thấy ông nói đẩu đâu. Nhưng dù nói đẩu đâu nó vẫn có một sợi dây liên hệ và giống như đứng ngắm tác phẩm từ xa, nên có thể thấy đầy đủ, toàn vẹn hơn. Khác với các nhà phê bình của ta lâu nay cứ chăm chắm vào tác phẩm, phân tích mổ xẻ một cách quá kỹ lưỡng làm nát cả tác phẩm mà không rút ra được điều gì thật hữu ích. Phân tích tác phẩm chỉ để phân tích tác phẩm thôi. Thánh Thán phân tích tác phẩm là trong tương quan với cõi đời, phân tích một tác phẩm là để thấy nhiều tác phẩm khác.

Đọc Tùy Viên thi thoại của Viên Mai, thì hơi khác một chút. Viên Mai có những nhận xét rất cụ thể về từng nhà thơ và thơ của họ. Những nhận xét xác đáng rất riêng, tức là làm hiện rõ khuôn mặt từng người, đặc điểm thơ của từng người. Nhưng Viên Mai cũng không phân tích, mổ xẻ cụ thể, mà nhận xét bình giá tác phẩm trong một chỉnh thể trọn vẹn.

Đọc những lời bình của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, thấy hàm súc mang phong cách phương Đông, gần với những lời bình từ trong di sản của ông cha ta. Sau này Hoài Thanh bình thơ cũng không kiệm lời nữa, nên thường loãng hơn.

Không có chìa khóa của phê bình, thì đúng rồi. Nhưng phong cách phê bình thì vẫn có. Nhiều nhà phê bình văn chương của ta, tôi thấy phong cách không thật rõ. Và cả nền phê bình văn chương thì phong cách nghiêng về phương Tây hơn là giữ được cốt cách phương Đông. Có thể các phương pháp phê bình thì phù hợp với các nền văn chương phương Tây nhưng không phù hợp với các ngôi đền văn chương phương Đông. Phê bình còn lệ vào phương pháp thì không thể cất cánh lên được. Còn một tác phẩm phê bình hay tự nó đã chứa tất cả các phương pháp ở trong đó rồi. Có phải vậy chăng mà thế kỷ XX, sau Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam, chúng ta không có tác phẩm phê bình và nhà chuyên làm phê bình nào lớn nữa?

Nghĩ từ phê bình văn chương - 1

Ảnh minh họa

2. Đừng bắt ngựa phải có sừng

Quan hệ giữa sáng tác và phê bình đã từng là nỗi băn khoăn của nhiều người cầm bút. Bản chất của mối quan hệ này là sự tương tác tốt đẹp. Sáng tác là đối tượng của phê bình, nên có sáng tác mới có phê bình. Còn phê bình thì như bà mối giới thiệu sáng tác với công chúng. Thế thì phê bình và sáng tác phải là sự gắn bó thân thiết, ở mức độ cao phải là tri âm tri kỷ. Vậy vì sao trong thực tế lại có sự mâu thuẫn?

Thực ra, trong lịch sử không phải bao giờ sáng tác và phê bình cũng mâu thuẫn. Cũng như không phải bao giờ nó cũng gắn bó mật thiết! Nó giống như cái thiện và cái ác, vẫn song hành trên đời, mạnh yếu tùy lúc. Viên Mai (Đời Thanh, Trung Quốc) và Hoài Thanh động bút thì làm sang cho các nhà thơ, nên hai nhà phê bình này được các nhà thơ yêu quý. Còn nhà tư tưởng Ả Rập Amin Rihani (1876-1940) thì lại viết: “Nhà phê bình – đó là nhà văn không có khả năng viết tác phẩm, đem tiêu tốn cả cuộc đời vào việc phê phán các tác phẩm mới. Trong cái bộ lạc hiếu chiến đem lều bạt của mình đến căng ở biên giới của văn học này hiếm thấy nổi lên một cá nhân xuất chúng nào…”. Như vậy, mối quan hệ giữa sáng tác và phê bình trong thực tế lại tùy thuộc vào những nhà văn và nhà phê bình cụ thể.

Năm 1970, tập 2 tiểu thuyết Vỡ bờ của nhà văn Nguyễn Đình Thi ra đời đã không nhận được sự cổ vũ của giới phê bình. Có thể là tập 2 tác giả viết đuối tay hơn tập 1! Cũng có thể giới phê bình lúc ấy không có được cái nhìn độ lượng cảm thông với những khó khăn của sáng tác. Với vị thế của Nguyễn Đình Thi lúc đó là Tổng thư ký Hội Nhà văn nên ông không bị quy kết, nhưng các nhà phê bình đặt câu hỏi nghi ngờ phương pháp sáng tác của ông. Bây giờ, chuyện phương pháp sáng tác đã trở thành cũ kỹ, nhưng lúc ấy nó gắn liền với hệ tư tưởng, lập trường, quan điểm.

Trong một buổi nói chuyện với sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội khi đó, nhà văn Nguyễn Đình Thi đã bực tức mà rằng: “Tôi mang đến cho mọi người một con ngựa, thì mọi người hãy xem nó có đẹp không, có khỏe không. Chứ đừng hỏi sao con ngựa này lại không có sừng?”. Chủ ý của nhà văn Nguyễn Đình Thi là tại sao các nhà phê bình không chăm chú đến những thành công hoặc chưa thành công của tác phẩm, mà lại đi đòi hỏi những điều vô lý. Sự đòi hỏi vô lý của các nhà phê bình là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa phê bình và sáng tác chăng? Theo tôi, điều này nhà văn Nguyễn Đình Thi đã có lý. Tác phẩm nghệ thuật cũng giống như một con người, được sinh ra đã là như thế, thì chúng ta hãy nhận xét bình giá trên thực tế đó, chứ không nên đòi hỏi người mẫu bây giờ phải thế này thế kia, còn chưa như thế thì không phải là phụ nữ! Bởi vẻ đẹp của mỗi người, mỗi tác phẩm nghệ thuật một khác, giống như trên đời có cả triệu loài hoa đẹp hương sắc tươi tắn và sinh động khác nhau. Câu chuyện này có thể giúp các nhà sáng tác và phê bình hiểu nhau: Không nên gò tác phẩm vào khuôn mẫu, kể cả sáng tác và phê bình.

Bây giờ thì về hình thức không có nhà văn, nhà phê bình nào đi gò tác phẩm vào khuôn mẫu. Vì thế, tất cả lại khá lung tung! Nhiều thứ được gọi là tác phẩm nghệ thuật nhưng lại phi nghệ thuật. Lại ở một thái cực mới chăng? Tất cả những sự lung tung ấy được lấy cớ là hiện đại. Và một số người làm phê bình đã chạy theo những cái lung tung ấy và coi đó là thành tựu hội nhập đổi mới. Phải chăng, đó là tri âm tri kỷ giữa phê bình và sáng tác? Thực ra thì đây lại là một kiểu khuôn mẫu mới mà các nhà “đổi mới” muốn gò giới văn nghệ theo một kiểu văn chương nghệ thuật, một kiểu văn hóa của nước ngoài. Sáng tác như thế này đã là “Tây” chưa, đã “đổi mới” chưa làm tiêu chí. Càng xa lạ với truyền thống, càng giống Tây thì mới là hiện đại? Thì cũng có khác gì đòi ngựa phải có sừng như nhà văn Nguyễn Đình Thi đã kêu lên từ cách gần nửa thế kỷ?

Đinh Quang Tốn




Nguồn: Arttimes.vn

Nghĩ từ phê bình văn chương


Quan hệ giữa sáng tác và phê bình đã từng là nỗi băn khoăn của nhiều người cầm bút. Bản chất của mối quan hệ này là sự tương tác tốt đẹp. Sáng tác là đối tượng của phê bình, nên có sáng tác mới có phê bình. Còn phê bình thì như bà mối giới thiệu sáng tác với công chúng. Thế thì phê bình và sáng tác phải là sự gắn bó thân thiết, ở mức độ cao phải là tri âm tri kỷ. Vậy vì sao trong thực tế lại có sự mâu thuẫn?

1. Chìa khóa phê bình văn chương?

Hơn hai chục năm trước tôi có đọc một bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật kể chuyện nhà thơ Xuân Diệu đưa cho anh tập tiểu thuyết Mái Tây (Tây sương ký của Vương Thực Phủ có lời bình của Kim Thánh Thán do Nhượng Tống dịch) và nói rằng: Chìa khóa của phê bình văn chương nằm cả ở trong đấy. Là một người mới viết phê bình ở tỉnh lẻ, tôi thực sự mong muốn được biết chiếc “chìa khóa” ấy, nhưng không làm sao tìm được. Vì vậy, tôi cứ làm phê bình văn chương theo ý mình. Rồi cũng có bạn đọc, cũng được khích lệ. Nhưng khao khát tìm chiếc chìa khóa thần của phê bình thì tôi không hề nguôi ngoai. 

Chuyển về Hà Nội, khi có điều kiện gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật (năm 2007, trước khi anh mất một thời gian), tôi có hỏi cụ thể về tập sách ấy, sao không thấy tái bản? Anh liền đọc thuộc lòng ký hiệu của tập sách ở Thư viện Quốc gia. Gần đây, tôi đã có trong tay toàn bộ lời bình của Kim Thánh Thán về tập tiểu thuyết Mái Tây.

Đọc lời dẫn và lời bình mấy chương đầu, tôi đã toan không đọc nữa, bởi chẳng thấy có gì đáng chú ý cả. Tôi nghĩ Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật cũng chỉ tán vậy thôi. Nhưng rồi tôi lại nghĩ những vĩ nhân dù nói đùa cũng phải có một điều gì đấy. Và tôi lại đọc tiếp một cách kỹ lưỡng. Khi đọc xong, nghĩ kỹ tôi đã ngộ ra: Phải chăng Xuân Diệu và Phạm Tiến Duật đã tìm ra chìa khóa của phê bình văn chương, đó là phê bình văn chương không có chìa khóa nào cả? Ngẫm lại lời đại thi hào Nguyễn Du: “Mới hay không chữ chính là chân kinh” (Tài tri vô tự thị chân kinh) và danh nhân Trương Triều (sinh năm 1650, đời Thanh, Trung Quốc): “Có đọc được cuốn sách không chữ mới có những câu nói kinh nhân” (Năng độc vô tự chi thư phương khả đắc kinh nhân diệu cú).

Với phê bình văn chương thì không có chìa khóa cụ thể nào cả chính là chiếc chìa khóa vạn năng của phê bình. Đọc lại Kim Thánh Thán bình thơ Đường và bình các tập tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, thì thấy đúng như vậy. Bình mỗi tác phẩm, Thánh Thán lại có một chìa khóa riêng, một phương pháp riêng. Vì vậy tôi rất nghi ngờ những sách dạy về phương pháp phê bình và phương pháp sáng tác. Đúng rồi, phương pháp là cách thức tiến hành để làm ra kết quả. Vậy lại có một phương pháp để sản xuất ra tác phẩm văn chương và phê bình văn chương ư?

Kim Thánh Thán bình thơ Đường và tiểu thuyết cổ điển, tôi không thấy ông bám vào tác phẩm là mấy. Cứ thấy ông nói đẩu đâu. Nhưng dù nói đẩu đâu nó vẫn có một sợi dây liên hệ và giống như đứng ngắm tác phẩm từ xa, nên có thể thấy đầy đủ, toàn vẹn hơn. Khác với các nhà phê bình của ta lâu nay cứ chăm chắm vào tác phẩm, phân tích mổ xẻ một cách quá kỹ lưỡng làm nát cả tác phẩm mà không rút ra được điều gì thật hữu ích. Phân tích tác phẩm chỉ để phân tích tác phẩm thôi. Thánh Thán phân tích tác phẩm là trong tương quan với cõi đời, phân tích một tác phẩm là để thấy nhiều tác phẩm khác.

Đọc Tùy Viên thi thoại của Viên Mai, thì hơi khác một chút. Viên Mai có những nhận xét rất cụ thể về từng nhà thơ và thơ của họ. Những nhận xét xác đáng rất riêng, tức là làm hiện rõ khuôn mặt từng người, đặc điểm thơ của từng người. Nhưng Viên Mai cũng không phân tích, mổ xẻ cụ thể, mà nhận xét bình giá tác phẩm trong một chỉnh thể trọn vẹn.

Đọc những lời bình của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, thấy hàm súc mang phong cách phương Đông, gần với những lời bình từ trong di sản của ông cha ta. Sau này Hoài Thanh bình thơ cũng không kiệm lời nữa, nên thường loãng hơn.

Không có chìa khóa của phê bình, thì đúng rồi. Nhưng phong cách phê bình thì vẫn có. Nhiều nhà phê bình văn chương của ta, tôi thấy phong cách không thật rõ. Và cả nền phê bình văn chương thì phong cách nghiêng về phương Tây hơn là giữ được cốt cách phương Đông. Có thể các phương pháp phê bình thì phù hợp với các nền văn chương phương Tây nhưng không phù hợp với các ngôi đền văn chương phương Đông. Phê bình còn lệ vào phương pháp thì không thể cất cánh lên được. Còn một tác phẩm phê bình hay tự nó đã chứa tất cả các phương pháp ở trong đó rồi. Có phải vậy chăng mà thế kỷ XX, sau Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam, chúng ta không có tác phẩm phê bình và nhà chuyên làm phê bình nào lớn nữa?

Nghĩ từ phê bình văn chương - 1

Ảnh minh họa

2. Đừng bắt ngựa phải có sừng

Quan hệ giữa sáng tác và phê bình đã từng là nỗi băn khoăn của nhiều người cầm bút. Bản chất của mối quan hệ này là sự tương tác tốt đẹp. Sáng tác là đối tượng của phê bình, nên có sáng tác mới có phê bình. Còn phê bình thì như bà mối giới thiệu sáng tác với công chúng. Thế thì phê bình và sáng tác phải là sự gắn bó thân thiết, ở mức độ cao phải là tri âm tri kỷ. Vậy vì sao trong thực tế lại có sự mâu thuẫn?

Thực ra, trong lịch sử không phải bao giờ sáng tác và phê bình cũng mâu thuẫn. Cũng như không phải bao giờ nó cũng gắn bó mật thiết! Nó giống như cái thiện và cái ác, vẫn song hành trên đời, mạnh yếu tùy lúc. Viên Mai (Đời Thanh, Trung Quốc) và Hoài Thanh động bút thì làm sang cho các nhà thơ, nên hai nhà phê bình này được các nhà thơ yêu quý. Còn nhà tư tưởng Ả Rập Amin Rihani (1876-1940) thì lại viết: “Nhà phê bình – đó là nhà văn không có khả năng viết tác phẩm, đem tiêu tốn cả cuộc đời vào việc phê phán các tác phẩm mới. Trong cái bộ lạc hiếu chiến đem lều bạt của mình đến căng ở biên giới của văn học này hiếm thấy nổi lên một cá nhân xuất chúng nào…”. Như vậy, mối quan hệ giữa sáng tác và phê bình trong thực tế lại tùy thuộc vào những nhà văn và nhà phê bình cụ thể.

Năm 1970, tập 2 tiểu thuyết Vỡ bờ của nhà văn Nguyễn Đình Thi ra đời đã không nhận được sự cổ vũ của giới phê bình. Có thể là tập 2 tác giả viết đuối tay hơn tập 1! Cũng có thể giới phê bình lúc ấy không có được cái nhìn độ lượng cảm thông với những khó khăn của sáng tác. Với vị thế của Nguyễn Đình Thi lúc đó là Tổng thư ký Hội Nhà văn nên ông không bị quy kết, nhưng các nhà phê bình đặt câu hỏi nghi ngờ phương pháp sáng tác của ông. Bây giờ, chuyện phương pháp sáng tác đã trở thành cũ kỹ, nhưng lúc ấy nó gắn liền với hệ tư tưởng, lập trường, quan điểm.

Trong một buổi nói chuyện với sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội khi đó, nhà văn Nguyễn Đình Thi đã bực tức mà rằng: “Tôi mang đến cho mọi người một con ngựa, thì mọi người hãy xem nó có đẹp không, có khỏe không. Chứ đừng hỏi sao con ngựa này lại không có sừng?”. Chủ ý của nhà văn Nguyễn Đình Thi là tại sao các nhà phê bình không chăm chú đến những thành công hoặc chưa thành công của tác phẩm, mà lại đi đòi hỏi những điều vô lý. Sự đòi hỏi vô lý của các nhà phê bình là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa phê bình và sáng tác chăng? Theo tôi, điều này nhà văn Nguyễn Đình Thi đã có lý. Tác phẩm nghệ thuật cũng giống như một con người, được sinh ra đã là như thế, thì chúng ta hãy nhận xét bình giá trên thực tế đó, chứ không nên đòi hỏi người mẫu bây giờ phải thế này thế kia, còn chưa như thế thì không phải là phụ nữ! Bởi vẻ đẹp của mỗi người, mỗi tác phẩm nghệ thuật một khác, giống như trên đời có cả triệu loài hoa đẹp hương sắc tươi tắn và sinh động khác nhau. Câu chuyện này có thể giúp các nhà sáng tác và phê bình hiểu nhau: Không nên gò tác phẩm vào khuôn mẫu, kể cả sáng tác và phê bình.

Bây giờ thì về hình thức không có nhà văn, nhà phê bình nào đi gò tác phẩm vào khuôn mẫu. Vì thế, tất cả lại khá lung tung! Nhiều thứ được gọi là tác phẩm nghệ thuật nhưng lại phi nghệ thuật. Lại ở một thái cực mới chăng? Tất cả những sự lung tung ấy được lấy cớ là hiện đại. Và một số người làm phê bình đã chạy theo những cái lung tung ấy và coi đó là thành tựu hội nhập đổi mới. Phải chăng, đó là tri âm tri kỷ giữa phê bình và sáng tác? Thực ra thì đây lại là một kiểu khuôn mẫu mới mà các nhà “đổi mới” muốn gò giới văn nghệ theo một kiểu văn chương nghệ thuật, một kiểu văn hóa của nước ngoài. Sáng tác như thế này đã là “Tây” chưa, đã “đổi mới” chưa làm tiêu chí. Càng xa lạ với truyền thống, càng giống Tây thì mới là hiện đại? Thì cũng có khác gì đòi ngựa phải có sừng như nhà văn Nguyễn Đình Thi đã kêu lên từ cách gần nửa thế kỷ?

Đinh Quang Tốn




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Hú hồn hai cô gái bỏ chạy khi “racing boy” phóng xe lao thẳng vào


Phóng nhanh khi vào cua, hai thanh niên mất lái lao thẳng vào lề đường, khiến hai cô gái hoảng hốt chạy thoát thân trong tích tắc.




Nguồn: Arttimes.vn

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc


Sáng 22/4, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (số 51 Trần Hưng Đạo – Hà Nội) Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã có buổi tiếp đón và làm việc với đoàn Văn liên Trung Quốc.

Thực hiện Chương trình giao lưu, hợp tác văn hóa nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc, thúc đẩy kết nối giao lưu nhân dân và thắt chặt tình cảm gắn bó văn hóa giữa hai nước, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Văn liên Trung Quốc tổ chức Triển lãm quốc tế với chủ đề: “Hòa mỹ đồng hành – Nghệ thuật kết nối Con đường Tơ lụa trên biển”. Triển lãm khai mạc vào chiều 22/4/2026 tại Trung tâm Văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội.

Nhân dịp này, đoàn Văn liên Trung Quốc do ông Mạnh Quảng Lộc (Meng Guanglu), Phó Chủ tịch Văn liên Trung Quốc làm trưởng đoàn đã đến thăm, làm việc với lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 1

Quang cảnh buổi làm việc của lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và đoàn Văn liên Trung Quốc.

Đại diện Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tiếp đón đoàn có: PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; NSND Trần Quốc Chiêm, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội; Thiếu tướng, Nhạc sĩ Nguyễn Đức Trịnh, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam; Ông Trần Viết Điệp, Chánh Văn phòng Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Bà Nguyễn Thị Hoài Thương, Trưởng Ban Chuyên môn nghiệp vụ Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; TS. Nhà viết kịch Nguyễn Đăng Chương, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam; Nhà báo Ngô Xuân Tiến, Tổng biên tập Tạp chí Tạp chí Mỹ thuật.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 2

Đại diện Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 3

Đoàn Văn liên Trung Quốc.

Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Đỗ Hồng Quân đã gửi lời chào mừng nồng nhiệt tới đoàn Văn liên Trung Quốc. Ông cho rằng, trong bối cảnh giao lưu văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng, cuộc gặp gỡ lần này không chỉ là dịp trao đổi kinh nghiệm mà còn mở ra những hướng đi mới cho hợp tác song phương trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, từ sáng tạo, biểu diễn đến đào tạo, quảng bá.

PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, nhấn mạnh vai trò là mái nhà chung quy tụ đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo, với hệ thống gồm các hội chuyên ngành trung ương và các hội địa phương trải dài trên khắp cả nước. Ông cũng giới thiệu những thế mạnh nổi bật của văn học nghệ thuật Việt Nam, từ bề dày truyền thống, bản sắc đa dạng đến sức sáng tạo đương đại; đồng thời chỉ ra những lĩnh vực giàu tiềm năng có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai.

Nhấn mạnh chiều sâu của mối quan hệ hợp tác, Chủ tịch Liên hiệp cho biết, trong nhiều năm qua, Việt Nam và Trung Quốc đã xây dựng được nền tảng hợp tác bền chặt giữa các tổ chức nghề nghiệp trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Các chương trình giao lưu, trao đổi đoàn, phối hợp tổ chức triển lãm, biểu diễn, cũng như giới thiệu, dịch thuật, đào tạo và quảng bá tác phẩm đã góp phần tạo nên những dấu ấn đáng ghi nhận. Theo ông, những hoạt động này không chỉ thúc đẩy sự giao thoa giữa các nền văn hóa mà còn làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật như một nhịp cầu bền vững trong quan hệ hữu nghị và hợp tác lâu dài.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 4

PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (giữa) phát biểu tại buổi làm việc.

Bày tỏ niềm vinh dự khi được đến thăm và làm việc tại Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, ông Mạnh Quảng Lộc, Phó Chủ tịch Văn liên Trung Quốc nhấn mạnh, chuyến thăm không chỉ mang ý nghĩa giao lưu nghề nghiệp đơn thuần mà còn là dịp để vun đắp thêm tình hữu nghị, tăng cường sự hiểu biết và tin cậy giữa giới văn nghệ sĩ hai nước.

Chia sẻ về triển lãm “Hòa mỹ đồng hành – Nghệ thuật kết nối Con đường Tơ lụa trên biển” được tổ chức tại Việt Nam dịp này, ông Mạnh Quảng Lộc cho biết, đây là một sáng kiến giàu ý nghĩa, hướng tới việc khơi dậy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tạo dựng không gian giao thoa nghệ thuật đương đại giữa các quốc gia trong khu vực. Trong khuôn khổ hoạt động lần này, Văn liên Trung Quốc mong muốn giới thiệu tới bạn bè Việt Nam những tinh hoa tiêu biểu của nghệ thuật Trung Hoa, từ thư pháp, hội họa đến gốm sứ, đây không chỉ là sự chia sẻ mà còn là một cách để nghệ thuật trở thành cầu nối gắn kết, giúp các nền văn hóa xích lại gần nhau hơn.

Ông Mạnh Quảng Lộc và các thành viên Đoàn công tác cũng mong muốn được học hỏi từ chính nền văn hóa Việt Nam – một nền văn hóa giàu truyền thống, đa dạng và giàu sức sống. Đồng thời kỳ vọng, từ nền tảng của sự thấu hiểu và tôn trọng lẫn nhau, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa hai nước sẽ tiếp tục được củng cố, phát triển và ngày càng đi vào chiều sâu.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 5

Ông Mạnh Quảng Lộc, Phó Chủ tịch Văn liên Trung Quốc (thứ ba từ trái qua) phát biểu.

Khép lại buổi làm việc, hai bên thống nhất đánh giá cao ý nghĩa của cuộc gặp gỡ trong việc hợp tác, mở rộng không gian giao lưu và thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật giữa văn nghệ sĩ hai nước. Những trao đổi thẳng thắn, cởi mở không chỉ góp phần làm sâu sắc thêm sự hiểu biết lẫn nhau mà còn gợi mở nhiều hướng hợp tác thiết thực trong thời gian tới.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 6

Văn liên Trung Quốc tặng quà lưu niệm Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 7

Đại diện Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Đỗ Hồng Quân trao quà lưu niệm cho đoàn Văn liên Trung Quốc.

Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật giữa Việt Nam và Trung Quốc - 8

Chuyến thăm của đoàn Văn liên Trung Quốc tại Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã thành công tốt đẹp, góp phần mở ra những bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Trên tinh thần tôn trọng, cầu thị và cùng phát triển, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và Văn liên Trung Quốc bày tỏ tin tưởng rằng, từ những nền tảng đã được vun đắp, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực văn học nghệ thuật sẽ tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, đồng thời trở thành nhịp cầu bền vững gắn kết tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 sẽ diễn ra từ ngày 11-13/5


Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 sẽ được tổ chức trong các ngày 11, 12 và 13/5/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội, với sự tham dự của hơn 1.300 đại biểu.

Ngày 28/4, UBTƯ MTTQ Việt Nam đã công bố thông tin về Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031.

Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị – xã hội quan trọng, thể hiện cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới, diễn ra ngay sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Đại hội là dấu mốc lịch sử, mở đầu cho nhiệm kỳ vận hành bộ máy với tầm vóc và chặng đường phát triển mới khi các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ về trực thuộc MTTQ Việt Nam.

Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 sẽ diễn ra từ ngày 11-13/5 - 1

Logo chính thức của Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031.

Chủ đề của Đại hội là “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển”.

Thông tin về công tác chuẩn bị Đại hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cho biết, Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 được tổ chức trong các ngày 11,12 và 13/5/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội. Đại hội có sự tham dự của hơn 1.300 đại biểu.

Đại biểu chính thức có 1.138 đại biểu bao gồm: Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X, nhiệm kỳ 2024 – 2029 đương nhiệm; Đại biểu do Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên cử theo số lượng được phân bổ; Đại biểu chỉ định; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cán bộ Mặt trận chuyên trách.

Đại biểu khách mời dự kiến 200 người gồm các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương; đại diện cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Việt Nam; lãnh đạo và phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và một số địa phương.

Về công tác xây dựng Báo cáo chính trị Đại hội và sửa đổi Điều lệ, sau khi tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã chỉnh sửa dự thảo Báo cáo chính trị và dự thảo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi, bổ sung); tổ chức lấy ý kiến của các vị Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục tiếp thu và hoàn thiện dự thảo các văn kiện để trình Đại hội.

Tiêu đề của Báo cáo chính trị là “Nâng cao vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phát huy dân chủ, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”.

Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 sẽ diễn ra từ ngày 11-13/5 - 2

Tranh cổ động chào mừng Đại hội.

Chương trình hành động Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI bao gồm 7 chương:

Chương trình hành động Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, bao gồm:

Chương trình 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chương trình 2: Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội, thực hiện dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

Chương trình 3: Động viên các tầng lớp nhân dân thi đua học tập, lao động, sáng tạo, tham gia phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, chăm lo đời sống Nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chương trình 4: Tham gia phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Chương trình 5: Phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của nhân dân, xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc.

Chương trình 6: Thực hiện hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, hợp tác quốc tế.

Chương trình 7: Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; hoàn thiện, vận hành tổ chức bộ máy chuyên trách tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Về đề án nhân sự Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Khoá XI, dự kiến số lượng Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là 405 vị.

Dự kiến số lượng Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Viết Nam là 72 vị (Tại Đại hội hiệp thương 70 vị).

Dự kiến số lượng Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là 12 vị và dự kiến số lượng Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là 8 vị.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam


Danh sách chiến thắng của Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 đã phác họa một bức tranh đầy tự hào về nghệ thuật biểu diễn nước nhà, nơi các nghệ sĩ không chỉ chứng minh được năng lực làm chủ kỹ thuật cá nhân, tư duy sản xuất hiện đại mà còn thể hiện rõ trách nhiệm công dân. Đồng thời, sự hài hòa giữa tính học thuật và đại chúng trong các tác phẩm được vinh danh tiếp tục khẳng định hướng đi đúng đắn của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam.

Kết quả Giải Cống hiến lần 20 – 2026

Chương trình của năm: SOOBIN LIVE CONCERT: ALL – ROUNDER (SOOBIN và SS Label)

Chuỗi chương trình của năm: LIVE TOUR: BÙI CÔNG NAM “THE STORY” (BCN Entertainment)

Bài hát của năm: Còn gì đẹp hơn (Nguyễn Hùng)

Music Video của năm: Mục hạ vô nhân (SOOBIN ft Binz & NSND Huỳnh Tú)

Album của năm: Phao cứu sinh (Hương Tràm)

Nhà sản xuất của năm: DTAP

Nhạc sĩ của năm: Nguyễn Văn Chung

Nghệ sĩ mới của năm: CONGB

Nữ ca sĩ của năm: HÒA MINZY

Nam ca sĩ của năm: SOOBIN

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 1

Lễ trao giải Cống hiến lần thứ 20 – 2026 do Báo Thể thao và Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam – TTXVN) tổ chức đã diễn ra tối 15/4, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô (Hà Nội).

Cú “Hat-trick” vô tiền khoáng hậu của SOOBIN

Cái tên nổi bật nhất của mùa giải Cống hiến lần thứ 20 chính là SOOBIN, khi anh lập “cú ăn ba” gồm: Chương trình của năm, Music Video của nămNam ca sĩ của năm.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 2

SOOBIN lập cú “Hat-trick” trong hai mùa giải Cống hiến liên tiếp.

Với thành tích này, SOOBIN chính thức xác lập một kỷ lục vô tiền khoáng hậu trong lịch sử 20 mùa giải của Giải thưởng Cống hiến: Nghệ sĩ đầu tiên giành cú “hat-trick” trong hai mùa Cống hiến liên tiếp, tính đến mùa giải Cống hiến 20.

Trước đó, tại mùa giải 2025, anh cũng được vinh danh ở ba hạng mục: Nam ca sĩ của năm, Album của năm Music video của năm. Chiến thắng này thuyết phục nhờ khả năng dung hòa xuất sắc giữa kỹ năng trình diễn đỉnh cao và tư duy văn hóa sắc bén.

Với SOOBIN Live Concert: All-rounder (giải Chương trình của năm), SOOBIN đã thiết lập một “giáo trình mẫu mực” về cách làm chủ không gian sân vận động khổng lồ. Anh dũng cảm gạt bỏ sự phụ thuộc vào beat điện tử thu sẵn, kết hợp mượt mà âm nhạc R&B/Hip-hop thời thượng với năng lượng bùng nổ của dàn nhạc cụ thật (live band).

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 3

Nam nghệ sĩ nhận giải Chương trình của năm với “SOOBIN Live Concert: All-rounder”.

Tiếp đó, tác phẩm Mục hạ vô nhân (giải Music Video của năm) là một minh chứng xuất sắc cho tư duy: bảo tồn di sản không phải là “đóng băng” quá khứ, mà là cho nó một hơi thở đương đại. Bằng việc đặt làn điệu xẩm và dàn nhạc cụ dân tộc vào một bản phối hiện đại, MV đã mở ra một không gian nghệ thuật vừa truyền thống vừa đầy tính thể nghiệm.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 4

SOOBIN nhận giải Music Video của năm với tác phẩm “Mục hạ vô nhân”.

Giành giải Nam ca sĩ của năm, SOOBIN chứng minh bản thân là một nghệ sĩ hội tụ trọn vẹn kỹ năng thanh nhạc xuất sắc, vũ đạo điêu luyện, khả năng tự sản xuất âm nhạc và ý thức chủ động tiếp thu tinh hoa thế giới để tôn vinh di sản dân tộc.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 5

SOOBIN giành Nam ca sĩ của năm với nhiều dấu ấn trong sáng tạo nghệ thuật.

Hòa Minzy và DTAP: Minh chứng của sự giao thoa giữa di sản và văn hóa đại chúng

Hạng mục Nữ ca sĩ của năm gọi tên Hòa Minzy – phần thưởng xứng đáng cho hành trình lao động nghệ thuật bền bỉ của nữ nghệ sĩ. Trong năm qua, Hòa Minzy minh chứng giải quyết bài toán hóc búa của ngành biểu diễn: đưa nghệ thuật truyền thống lên sân khấu giải trí đương đại. Những dự án của cô, đặc biệt là Bắc Bling đã sở hữu sức công phá mãnh liệt trên các nền tảng số nhờ giọng hát ấn tượng, cùng bản lĩnh trình diễn lôi cuốn.

Hòa Minzy đã trở thành hình mẫu nghệ sĩ xuất sắc dùng sức ảnh hưởng của mình để đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào đời sống giới trẻ một cách tự nhiên và đầy cảm hứng.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 6

Hòa Minzy nhận giải Nữ ca sĩ của năm – phần thưởng xứng đáng cho hành trình lao động nghệ thuật bền bỉ của nữ nghệ sĩ.

Cùng chia sẻ hệ quy chiếu tôn vinh bản sắc ấy, DTAP xuất sắc giành cúp Nhà sản xuất của năm. Nhóm “kiến trúc sư âm nhạc” trẻ tuổi này đã khẳng định “vị thế độc tôn” trong dòng nhạc Pop mang âm hưởng dân gian. Tư duy nhào nặn âm thanh của DTAP đạt đến độ điêu luyện khi giúp các nhạc cụ truyền thống đứng bình đẳng, đồng thời dẫn dắt những dải âm thanh EDM, Trap, House hạng nặng.

Cả DTAP và Hòa Minzy đều góp phần chứng minh rằng, bản sắc dân tộc chính là “chìa khóa vàng” để âm nhạc đại chúng Việt Nam tạo “dấu ấn độc bản” trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.

Nguyễn Văn Chung và Nguyễn Hùng: Sức mạnh của ngòi bút và sự nguyên bản

Giải thưởng Cống hiến 2026 tiếp tục làm tròn sứ mệnh bảo vệ những giá trị chuẩn mực, thuần khiết của âm nhạc giữa kỷ nguyên số.

Hạng mục Nhạc sĩ của năm được trao cho Nguyễn Văn Chung ghi nhận một bước chuyển mình ngoạn mục sang dòng nhạc chính luận đương đại. Bằng cấu trúc Epic Pop (Pop sử thi) hào hùng cùng ngôn từ dung dị, các sáng tác của anh đã khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và khát vọng của thế hệ trẻ.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 7

Nguyễn Văn Chung nhận giải Nhạc sĩ của năm.

Trong khi đó, chiếc cúp Bài hát của năm vinh danh Còn gì đẹp hơn (Nguyễn Hùng) mang đến một nốt trầm xao xuyến. Giữa một thị trường bão hòa kỹ xảo điện tử và ca từ “khẩu ngữ hóa”, tác phẩm chinh phục người nghe bằng cấu trúc Pop/Ballad khuôn thước, giai điệu tuyệt đẹp và cảm xúc nguyên bản. Chiến thắng này khẳng định sức sống mãnh liệt của những sáng tác giàu chất thơ, đi từ trái tim chân thành.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 8

Nguyễn Hùng nhận giải Bài hát của năm với bài hát “Còn gì đẹp hơn”.

Hương Tràm và Bùi Công Nam: Chiều sâu tự sự và giá trị nghệ thuật bền vững

Ở hạng mục Album của năm, sản phẩm Phao cứu sinh của Hương Tràm đã xuất sắc được vinh danh. Tác phẩm mang tính chỉnh thể cao, ghi nhận một sự trưởng thành vượt bậc về tư duy âm nhạc của nữ nghệ sĩ. Sự dịch chuyển mượt mà giữa Pop/Ballad truyền thống và âm hưởng Pop/Rock, R&B đương đại đã giúp album thỏa mãn trọn vẹn thính giác của tệp khán giả trưởng thành.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 9

Ca sĩ Hương Tràm nhận giải Album của năm cho sản phẩm “Phao cứu sinh”.

Hạng mục Chuỗi chương trình của năm vinh danh Live Tour: Bùi Công Nam “The Story” – một chiến thắng mang tính cổ vũ mạnh mẽ cho nghệ thuật độc lập (Indie/Singer-songwriter).

Vượt qua các gameshow truyền hình quy mô lớn, chuỗi đêm diễn này được tôn vinh nhờ khả năng kiến tạo không gian thưởng thức thân mật, mộc mạc. Bùi Công Nam dùng âm nhạc tự sự kết hợp cùng dàn nhạc cụ để kể câu chuyện thanh xuân, định hình một văn hóa thưởng thức chiều sâu, trân trọng sức bền và nội lực thanh nhạc của người nghệ sĩ.

CONGB: Thiết lập tiêu chuẩn mới cho công nghiệp đào tạo “tân binh”

Chiếc cúp Nghệ sĩ mới của năm thuộc về CONGB là một chỉ dấu rõ nét về sự chuyên nghiệp hóa của thị trường giải trí.

Trở về từ chương trình Boys Planet của Hàn Quốc, CONGB (Thành Công) mang đến thị trường âm nhạc đại chúng Việt Nam một dấu ấn của ngành công nghiệp thần tượng K-pop.

Từ EP CongBday cho đến MV debut Nhớ em 8 lần, anh cho thấy sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt: giọng hát, vũ đạo, tư duy hình ảnh và chiến lược xây dựng cộng đồng người hâm mộ (fandom).

CONGB được nhận xét là đại diện cho một thế hệ “tân binh” văn minh, sẵn sàng thích ứng với nền công nghiệp idol toàn cầu, đáp ứng trực tiếp nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật chất lượng cao của công chúng.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 nhìn ra bước tiến của ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam - 10

CONGB nhận giải Nghệ sĩ mới của năm.

Từ Giải Âm nhạc Cống hiến 2026 có thể nhận diện rõ một diện mạo âm nhạc Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ, nơi giá trị nghệ thuật, tinh thần sáng tạo và hơi thở thời đại được kết nối chặt chẽ trong từng sản phẩm. Không chỉ dừng lại ở những thành tựu được tôn vinh, dòng chảy âm nhạc hôm nay còn cho thấy khát vọng làm mới, bứt phá và chinh phục những chuẩn mực cao hơn. Với nền tảng ấy, âm nhạc Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển theo hướng chuyên nghiệp, giàu bản sắc và đủ sức lan tỏa, khẳng định vị thế ngày càng rõ nét trên bản đồ âm nhạc khu vực và quốc tế.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Phê duyệt Đề án xây dựng Dàn nhạc dân tộc quốc gia Việt Nam


Đề án xây dựng Dàn nhạc dân tộc quốc gia Việt Nam góp phần phát huy các hệ giá trị văn hóa để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; định hướng nhận thức thẩm mỹ nghệ thuật cho khán giả, công chúng; đẩy mạnh giao lưu, hợp tác quốc tế để nghệ thuật biểu diễn âm nhạc dân tộc, truyền thống Việt Nam vừa giữ vững bản sắc, vừa nâng cao khả năng hội nhập và trở thành một trong những trụ cột của văn hóa đối ngoại.

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 905/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án xây dựng Dàn nhạc dân tộc quốc gia Việt Nam góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc (sau đây gọi tắt là Đề án).

Theo Quyết định, Đề án có mục tiêu sưu tầm, bảo tồn, khai thác, sáng tạo thể nghiệm, phát triển hiện đại nhằm phát huy tối đa giá trị nhạc cụ truyền thống của các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của Việt Nam trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật và sinh hoạt cộng đồng; Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa âm nhạc thế giới làm giàu bản sắc văn hóa, âm nhạc Việt Nam. Lan tỏa các giá trị âm nhạc truyền thống đặc sắc của Việt Nam đến bạn bè quốc tế; Xây dựng các gói sản phẩm biểu diễn nghệ thuật âm nhạc dân gian, dân tộc đa dạng nhằm quảng bá tới công chúng, phục vụ nhu cầu thưởng thức của mọi tầng lớp nhân dân; Tăng cường sức hấp dẫn, kết hợp các loại hình nghệ thuật dân gian, truyền thống, góp phần nâng cao chất lượng biểu diễn nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của nhân dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Mục tiêu cụ thể, đến năm 2026 – 2027, xây dựng và hoàn thiện dàn nhạc dân tộc có quy mô, quy chuẩn đáp ứng hoạt động phục vụ các chương trình văn hóa – nghệ thuật mang tầm quốc gia và quốc tế. Đến năm 2031, trở thành một “Không gian nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam” đáp ứng các sự kiện văn hóa trong nước và quốc tế.

Phê duyệt Đề án xây dựng Dàn nhạc dân tộc quốc gia Việt Nam - 1

Ảnh minh họa

Đề án được thực hiện trên phạm vi toàn quốc và quốc tế. Thời gian thực hiện Đề án từ năm 2026; tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án vào Quý IV năm 2031.

Dàn nhạc có tên gọi chính thức là “Dàn nhạc Dân tộc Quốc gia Việt Nam”. Dàn nhạc do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và giao Nhà hát trực tiếp quản lý và tổ chức điều hành. Dàn nhạc có chức năng biểu diễn, sưu tầm, bảo tồn, phát huy, phát triển nghệ thuật âm nhạc dân gian, truyền thống các dân tộc Việt Nam; trình diễn các tác phẩm âm nhạc thế giới được chuyển soạn cho Dàn nhạc.

Về cấu trúc, Dàn nhạc được xây dựng trên cơ sở khoa học, sự hài hòa về cường độ âm thanh và màu sắc đặc trưng của mỗi loại nhạc cụ. Tiếp thu những tinh hoa về hình thức tổ chức các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng trên thế giới, Dàn nhạc được chia thành các bộ nhạc cụ khác nhau, quy định số lượng nhạc công cho mỗi loại nhạc cụ dựa vào tính chất âm thanh của loại nhạc đó.

Điểm nổi bật trong dàn nhạc là các loại nhạc cụ gảy (nhạc cụ dây gảy) đóng vai trò quan trọng, mang đến âm sắc đa dạng và màu sắc đặc trưng.

Cùng với đó, Dàn nhạc là một tập hợp gồm nhiều nhạc công sử dụng các nhạc cụ dân gian, truyền thống các dân tộc Việt Nam; các nhạc cụ truyền thống của Việt Nam được cải tiến về tính năng, hiệu quả, hiệu năng sử dụng; kết hợp với một số nhạc cụ, bộ nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng phương tây hoặc được kết hợp với các giọng hát được sử dụng theo những nguyên tắc nhất định nhằm phục vụ cho việc trình diễn một tác phẩm âm nhạc Việt Nam và quốc tế.

Dàn nhạc thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu như sau: Dàn dựng và biểu diễn các chương trình, tiết mục nghệ thuật âm nhạc đặc sắc dân gian dân tộc; các chương trình nghệ thuật âm nhạc đương đại; Sưu tầm, lưu giữ, sáng tạo thể nghiệm và phát triển hiện đại nghệ thuật âm nhạc dân gian, dân tộc; đúc kết kinh nghiệm, nâng cao chất lượng nghệ thuật trong sáng tác và biểu diễn; tiếp thu tinh hoa nghệ thuật âm nhạc của các dân tộc trên thế giới; Xây dựng chương trình, kế hoạch phục vụ các sự kiện chính trị, ngoại giao cấp Nhà nước trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, phê duyệt; Liên kết, phối hợp với các đơn vị nghệ thuật trong nước và ngoài nước tổ chức dàn dựng, biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, chất lượng cao; Nghiên cứu, tiếp thu, chọn lọc, chuyển soạn những tác phẩm, tinh hoa âm nhạc của Việt Nam và thế giới; Ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến để phát triển âm nhạc dân gian, dân tộc truyền thống Việt Nam.

Dàn nhạc thuộc sự quản lý, tổ chức, điều hành trực tiếp của Giám đốc Nhà hát Ca, Múa, Nhạc Quốc gia Việt Nam; đảm bảo không phát sinh tổ chức bộ máy mới trực thuộc Nhà hát. Nội dung các chương trình nghệ thuật do Nhà hát xây dựng, thực hiện theo quy định đảm bảo hợp pháp, quy mô, chất lượng. Trong quá trình xây dựng kế hoạch tổ chức biểu diễn nghệ thuật, tùy theo tính chất, quy mô, yêu cầu của chương trình, Nhà hát chủ động bổ sung nhạc cụ, nghệ sĩ, diễn viên, cộng tác viên đảm bảo tính chuyên nghiệp và hiệu quả.

Kinh phí hoạt động của Dàn nhạc được lấy từ nguồn kinh phí tự chủ của Nhà hát; ngân sách sự nghiệp văn hóa thông tin hàng năm của Nhà nước đặt hàng thực hiện các chương trình, vở diễn, tác phẩm nghệ thuật theo kế hoạch và mục tiêu cụ thể; nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, và nguồn viện trợ, tài trợ (nếu có).

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn