Home Blog Page 19

 Đồng hành cùng ký ức…


Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954 -1975) một tiến trình độc đáo đã “làm sống lại những tấm lòng, những việc làm và những giá trị trong lửa đạn ngày nào” (145). Cuốn sách khá đồ sộ với gần 1000 trang đã thể hiện tâm huyết và sự công phu của hai tác giả vừa là đồng nghiệp, vừa là bạn đời, vừa là những người dự phần trong những năm tháng gian lao và ác liệt của lịch sử đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào. Các tác giả đã chọn một vấn đề không chỉ mang tính đặc thù mà còn có ý nghĩa bao quát của văn học giải phóng, mang tới cho người đọc những cảm xúc và nhận thức mới từ một “di sản văn học” vẫn dư vang và truyền cảm hứng đến hôm nay.

Văn nghệ giải phóng một tiến trình độc đáo

Cuốn sách được cấu trúc thành hai phần: Phần thứ nhất: Văn nghệ giải phóng một tiến trình độc đáo (145 trang) gồm bảy chương được trình bày hệ thống: Từ khái niệm, lịch sử vấn đề, bối cảnh xã hội đến hiện tượng ra đời Hội văn nghệ giải phóng năm 1961. Từ những bước “dò đường” đầy gian nan, thử thách đến sự lớn mạnh và phát triển của một nền văn nghệ gắn với những “huyền thoại” về sự dấn thân và nhập cuộc của đông đảo văn nghệ sĩ là những chiến sĩ từ trong hiểm địa, nguy nan sáng tác nên những lời ca tiếng hát, những điệu múa, vở kịch, những bài thơ, những áng văn xuôi ánh xạ trong đó những thông điệp nghệ thuật không chỉ có giá trị với đời sống đương thời mà với cả hôm nay.

 Đồng hành cùng ký ức… - 1

“Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954 -1975) một tiến trình độc đáo” – Lê Quang Trang, Trần Thị Thắng đồng biên soạn, nghiên cứu và tuyển chọn, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2025   

Có thể nói, các tác giả biên soạn đã tham bác nhiều tư liệu, xâu chuỗi các hiện tượng, sự kiện, thậm chí không ngại ngần tranh luận, đối thoại với quan điểm cho rằng văn học giải phóng/ văn nghệ giải phóng không phải là hiện tượng có thực trong đời sống, hoặc chỉ có hai nền văn học của hai chế độ khác nhau ở hai miền. Một là của Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ở miền Bắc) và hai là của Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam).

Nhưng dựa vào thực tiễn, vào hoàn cảnh phức tạp có một không hai ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, với cái nhìn “xuyên văn bản” các tác giả cho thấy trước đó, khi nói đến văn học giải phóng/ văn nghệ giải phóng, trong giới nghiên cứu, đều biết đó là hình thức dùng văn học nghệ thuật để thể hiện tinh thần giải phóng dân tộc trong thời kỳ 1954 – 1975 ở miền Nam, cụ thể hơn là từ năm 1960 khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Đó chính là nền tảng giúp “chúng ta hiểu Văn học giải phóng miền Nam theo nghĩa một giai đoạn cụ thể – hình thành chính thức ngày 20/7/1961, ngày thành lập hội văn nghệ giải phóng miền Nam” (tr12). 

Hội có cơ quan ngôn luận là Tạp chí Văn nghệ giải phóng. Bằng các hoạt động văn học nghệ thuật đã góp phần tích cực và hiệu quả vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ và bè lũ tay sai, giành độc lập tự do cho đất nước.

Năm 1975, chiến tranh kết thúc, non sông liền một dải cũng là lúc văn học/ văn nghệ giải phóng hòa nhập vào nền văn học Việt Nam hiện đại, như các tác giả cuốn sách ghi nhận: “Văn học/ Văn nghệ giải phóng khép lại một chặng hành trình nhưng không phải kết thúc, đóng lại, mà là góp phần cho việc mở ra những ngả đường mới trên một hành trình mới” (tr19). Đây cũng là lúc người nghiên cứu có điều kiện lưu giữ những ký ức hào hùng và bi tráng của đời sống văn học nghệ thuật thời kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam “thông qua những chứng nhân trực tiếp của lịch sử cụ thể hơn, cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá của người trong cuộc giúp ta có thể tìm thấy giá trị riêng, mà những khảo sát và suy luận gián tiếp khó hoặc không thể khám phá được” (tr19).

Từ những trải nghiệm của những người làm văn nghệ cùng thời, chuyên luận Văn học giải phóng miền Nam 1954 – 1975 một tiến trình độc đáo đã có dư địa triển khai kỹ lưỡng, sâu sắc và thuyết phục sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại “đối tượng nghiên cứu” một cách khách quan và khoa học, cụ thể và sống động.

Các tác giả cuốn sách đã cho thấy một trong chiến lược quan trọng của văn học giải phóng là củng cố và gây dựng đội ngũ, lực lượng sáng tác. Dù ở các địa bàn khác nhau nhưng vấn đề có ý nghĩa, tạo nên sức mạnh và thành tựu của văn học giải phóng là “nối vòng tay lớn”, rút ngắn khoảng cách địa lý các vùng miền từ trung ương cục kết hợp giữa lực lượng dân chính: Hội Văn nghệ giải phóng, Tiểu ban Văn nghệ của Ban Tuyên huấn với Phòng Văn hóa Văn nghệ thuộc Tổng cục Chính trị quân giải phóng.

Trải qua thời gian cùng thực tiễn sống và sáng tác, đội ngũ những người cầm bút ngày càng hùng hậu và chuyên nghiệp từ các nẻo đường, địa bàn kết nối và hợp lưu dưới ngọn cờ văn nghệ giải phóng. Ở Khu V với Phan Tứ (Lê Khâm), Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), Dương Hương Ly, Dương Thị Minh Hương, Chu Cẩm Phong, Ở Trị Thiên Huế có Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Trần Phương, Trà Nguyễn, Quang Hà… Ở trung tâm Hội quy tụ các nhà văn Trần Hiếu Minh, Lý Văn Sâm, Giang Nam, Viễn Phương, Hưởng Triều, Anh Đức, Nguyễn Sáng (Nguyễn Quang Sáng), Trang Thế Hy, Đinh Quang Nhã, Hoài Vũ, Lê Văn Thảo, Chim Trắng, Lê Anh Xuân

 Đồng hành cùng ký ức… - 2

Các văn nghệ sĩ ở chiến khu những ngày gian khổ trước giải phóng. Ảnh FB nhà văn Trần Thị Thắng

Có thể nói, với tính đặc thù, văn học giải phóng còn là sự hòa nhập, “chung dòng máu anh hùng” không chỉ được tiếp sức từ các cây bút từ miền Bắc vào như Triệu Bôn, Lê Điệp, Vũ Ân Thi, Lê Quang Trang, Dương Trọng Dật, Phan An, Trần Thị Thắng…, mà còn “hòa mạng” với sáng tác của những người yêu nước, tham gia tranh đấu bị giam cầm trong ngục tù Mỹ ngụy, luôn mang trong mình niềm tin vào chiến thắng và khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc. 

Tác giả và tác phẩm tiêu biểu

Phần thứ hai, Tác giả và tác phẩm tiêu biểu (800 trang). Các tác giả biên soạn với nỗ lực lớn đã giới thiệu và tuyển chọn những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả đã từng “sống và viết ở chiến trường”, biết cách ứng xử và sáng tác sao cho xứng đáng với Nhân dân và đất nước trong những thử thách cao nhất của lịch sử và thời đại. Các tác phẩm đã giúp người đọc hồi nhớ ký ức những năm tháng chiến tranh khốc liệt, đẫm máu ở miền Nam qua các sáng tác thơ, văn xuôi và lý luận phê bình. Những tác phẩm giờ đọc lại vẫn khiến ta cảm động đến từng câu chữ, lan truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

 Đồng hành cùng ký ức… - 3

Nhà văn Trần Thị Thắng (giữa) tại Hội nghị Sáng tác văn học năm 1973

Đó là những tác phẩm đã tái hiện thực tiễn sáng tác dồi dào sinh lực, cùng khả năng truyền cảm hứng tranh đấu và chiến thắng sống cùng với thời gian và công chúng: Bóng cây Kơ nia (Ngọc Anh), Bài ca chim Chơ rao (Thu Bồn), Mồ anh hoa nở (Thanh Hải), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Chúng con chiến đấu (Nam Hà), Bài thơ hạnh phúc (Dương Hương Ly), Quê hương (Giang Nam), Bài thơ của một người yêu nước mình (Trần Vàng Sao),  Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Con người miền Nam (Trần Bạch Đằng), Bút máu (Vũ Hạnh), Người tị nạn (Lê Vĩnh Hòa), Anh thơm râu rồng (Trang Thế Hy), Con thú tật nguyền (Ngụy Ngữ), Rét tháng giêng (Chu Cẩm Phong), Hiện tượng thoát ly thực tại trong 9 năm văn học Ngô triều (Lữ Phương), Chiếc lược ngà (Nguyễn Sáng), Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành), Đêm Tháp Mười (Lê Văn Thảo), Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi), Chiếc guốc xinh xinh (Thủy Thủ), Dân tộc đây rồi (Lý Chánh Trung), Về làng (Phan Tứ), Sống như anh (Trần Đình Vân), Trí thức và tri thức (Nguyễn Trọng Văn), Đâu có giặc là ta cứ đi (Nguyễn Vũ), Những vòng hoa ngụy tín (Thế Vũ), Bức thư làng mực (Nguyễn Chí Trung), Những người tham gia trận đánh (Tô Nhuận Vỹ)… Trong cuốn sách nặng ký này có đến 119 tác giả hiện diện với lý lịch trích ngang và sáng tác tiêu biểu hoạt động trên các chiến trường, địa bàn ở nông thôn, ở rừng hay đô thị song với bài viết này, tôi không thể điểm xuyết tất cả, chỉ có thể dẫn chứng một vài gương mặt trong tổng số tác giả kể trên. 

Các tác giả Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng là người trong cuộc, bao năm qua, ở họ luôn có ý thức đồng hành cùng ký ức, không chỉ hoài niệm quá khứ mà còn nuôi dưỡng ý tưởng phục hiện diện mạo, khẳng định một cách thuyết phục văn học giải phóng là một thực thể, một bộ phận không tách rời trên sinh thể văn học Việt Nam hiện đại. Cuốn sách không chỉ có chức năng “bảo lưu ký ức” mà còn khơi nguồn cảm hứng cho hậu thế tiếp nhận và ứng dụng từ một  “di sản văn học” đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong quá trình vận động và phát triển văn học nghệ thuật nước nhà.



Nguồn: Arttimes.vn

 Đồng hành cùng ký ức…


Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954 -1975) một tiến trình độc đáo đã “làm sống lại những tấm lòng, những việc làm và những giá trị trong lửa đạn ngày nào” (145). Cuốn sách khá đồ sộ với gần 1000 trang đã thể hiện tâm huyết và sự công phu của hai tác giả vừa là đồng nghiệp, vừa là bạn đời, vừa là những người dự phần trong những năm tháng gian lao và ác liệt của lịch sử đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào. Các tác giả đã chọn một vấn đề không chỉ mang tính đặc thù mà còn có ý nghĩa bao quát của văn học giải phóng, mang tới cho người đọc những cảm xúc và nhận thức mới từ một “di sản văn học” vẫn dư vang và truyền cảm hứng đến hôm nay.

Văn nghệ giải phóng một tiến trình độc đáo

Cuốn sách được cấu trúc thành hai phần: Phần thứ nhất: Văn nghệ giải phóng một tiến trình độc đáo (145 trang) gồm bảy chương được trình bày hệ thống: Từ khái niệm, lịch sử vấn đề, bối cảnh xã hội đến hiện tượng ra đời Hội văn nghệ giải phóng năm 1961. Từ những bước “dò đường” đầy gian nan, thử thách đến sự lớn mạnh và phát triển của một nền văn nghệ gắn với những “huyền thoại” về sự dấn thân và nhập cuộc của đông đảo văn nghệ sĩ là những chiến sĩ từ trong hiểm địa, nguy nan sáng tác nên những lời ca tiếng hát, những điệu múa, vở kịch, những bài thơ, những áng văn xuôi ánh xạ trong đó những thông điệp nghệ thuật không chỉ có giá trị với đời sống đương thời mà với cả hôm nay.

 Đồng hành cùng ký ức… - 1

“Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954 -1975) một tiến trình độc đáo” – Lê Quang Trang, Trần Thị Thắng đồng biên soạn, nghiên cứu và tuyển chọn, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2025   

Có thể nói, các tác giả biên soạn đã tham bác nhiều tư liệu, xâu chuỗi các hiện tượng, sự kiện, thậm chí không ngại ngần tranh luận, đối thoại với quan điểm cho rằng văn học giải phóng/ văn nghệ giải phóng không phải là hiện tượng có thực trong đời sống, hoặc chỉ có hai nền văn học của hai chế độ khác nhau ở hai miền. Một là của Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ở miền Bắc) và hai là của Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam).

Nhưng dựa vào thực tiễn, vào hoàn cảnh phức tạp có một không hai ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, với cái nhìn “xuyên văn bản” các tác giả cho thấy trước đó, khi nói đến văn học giải phóng/ văn nghệ giải phóng, trong giới nghiên cứu, đều biết đó là hình thức dùng văn học nghệ thuật để thể hiện tinh thần giải phóng dân tộc trong thời kỳ 1954 – 1975 ở miền Nam, cụ thể hơn là từ năm 1960 khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Đó chính là nền tảng giúp “chúng ta hiểu Văn học giải phóng miền Nam theo nghĩa một giai đoạn cụ thể – hình thành chính thức ngày 20/7/1961, ngày thành lập hội văn nghệ giải phóng miền Nam” (tr12). 

Hội có cơ quan ngôn luận là Tạp chí Văn nghệ giải phóng. Bằng các hoạt động văn học nghệ thuật đã góp phần tích cực và hiệu quả vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ và bè lũ tay sai, giành độc lập tự do cho đất nước.

Năm 1975, chiến tranh kết thúc, non sông liền một dải cũng là lúc văn học/ văn nghệ giải phóng hòa nhập vào nền văn học Việt Nam hiện đại, như các tác giả cuốn sách ghi nhận: “Văn học/ Văn nghệ giải phóng khép lại một chặng hành trình nhưng không phải kết thúc, đóng lại, mà là góp phần cho việc mở ra những ngả đường mới trên một hành trình mới” (tr19). Đây cũng là lúc người nghiên cứu có điều kiện lưu giữ những ký ức hào hùng và bi tráng của đời sống văn học nghệ thuật thời kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam “thông qua những chứng nhân trực tiếp của lịch sử cụ thể hơn, cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá của người trong cuộc giúp ta có thể tìm thấy giá trị riêng, mà những khảo sát và suy luận gián tiếp khó hoặc không thể khám phá được” (tr19).

Từ những trải nghiệm của những người làm văn nghệ cùng thời, chuyên luận Văn học giải phóng miền Nam 1954 – 1975 một tiến trình độc đáo đã có dư địa triển khai kỹ lưỡng, sâu sắc và thuyết phục sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại “đối tượng nghiên cứu” một cách khách quan và khoa học, cụ thể và sống động.

Các tác giả cuốn sách đã cho thấy một trong chiến lược quan trọng của văn học giải phóng là củng cố và gây dựng đội ngũ, lực lượng sáng tác. Dù ở các địa bàn khác nhau nhưng vấn đề có ý nghĩa, tạo nên sức mạnh và thành tựu của văn học giải phóng là “nối vòng tay lớn”, rút ngắn khoảng cách địa lý các vùng miền từ trung ương cục kết hợp giữa lực lượng dân chính: Hội Văn nghệ giải phóng, Tiểu ban Văn nghệ của Ban Tuyên huấn với Phòng Văn hóa Văn nghệ thuộc Tổng cục Chính trị quân giải phóng.

Trải qua thời gian cùng thực tiễn sống và sáng tác, đội ngũ những người cầm bút ngày càng hùng hậu và chuyên nghiệp từ các nẻo đường, địa bàn kết nối và hợp lưu dưới ngọn cờ văn nghệ giải phóng. Ở Khu V với Phan Tứ (Lê Khâm), Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), Dương Hương Ly, Dương Thị Minh Hương, Chu Cẩm Phong, Ở Trị Thiên Huế có Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Trần Phương, Trà Nguyễn, Quang Hà… Ở trung tâm Hội quy tụ các nhà văn Trần Hiếu Minh, Lý Văn Sâm, Giang Nam, Viễn Phương, Hưởng Triều, Anh Đức, Nguyễn Sáng (Nguyễn Quang Sáng), Trang Thế Hy, Đinh Quang Nhã, Hoài Vũ, Lê Văn Thảo, Chim Trắng, Lê Anh Xuân

 Đồng hành cùng ký ức… - 2

Các văn nghệ sĩ ở chiến khu những ngày gian khổ trước giải phóng. Ảnh FB nhà văn Trần Thị Thắng

Có thể nói, với tính đặc thù, văn học giải phóng còn là sự hòa nhập, “chung dòng máu anh hùng” không chỉ được tiếp sức từ các cây bút từ miền Bắc vào như Triệu Bôn, Lê Điệp, Vũ Ân Thi, Lê Quang Trang, Dương Trọng Dật, Phan An, Trần Thị Thắng…, mà còn “hòa mạng” với sáng tác của những người yêu nước, tham gia tranh đấu bị giam cầm trong ngục tù Mỹ ngụy, luôn mang trong mình niềm tin vào chiến thắng và khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc. 

Tác giả và tác phẩm tiêu biểu

Phần thứ hai, Tác giả và tác phẩm tiêu biểu (800 trang). Các tác giả biên soạn với nỗ lực lớn đã giới thiệu và tuyển chọn những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả đã từng “sống và viết ở chiến trường”, biết cách ứng xử và sáng tác sao cho xứng đáng với Nhân dân và đất nước trong những thử thách cao nhất của lịch sử và thời đại. Các tác phẩm đã giúp người đọc hồi nhớ ký ức những năm tháng chiến tranh khốc liệt, đẫm máu ở miền Nam qua các sáng tác thơ, văn xuôi và lý luận phê bình. Những tác phẩm giờ đọc lại vẫn khiến ta cảm động đến từng câu chữ, lan truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

 Đồng hành cùng ký ức… - 3

Nhà văn Trần Thị Thắng (giữa) tại Hội nghị Sáng tác văn học năm 1973

Đó là những tác phẩm đã tái hiện thực tiễn sáng tác dồi dào sinh lực, cùng khả năng truyền cảm hứng tranh đấu và chiến thắng sống cùng với thời gian và công chúng: Bóng cây Kơ nia (Ngọc Anh), Bài ca chim Chơ rao (Thu Bồn), Mồ anh hoa nở (Thanh Hải), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Chúng con chiến đấu (Nam Hà), Bài thơ hạnh phúc (Dương Hương Ly), Quê hương (Giang Nam), Bài thơ của một người yêu nước mình (Trần Vàng Sao),  Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Con người miền Nam (Trần Bạch Đằng), Bút máu (Vũ Hạnh), Người tị nạn (Lê Vĩnh Hòa), Anh thơm râu rồng (Trang Thế Hy), Con thú tật nguyền (Ngụy Ngữ), Rét tháng giêng (Chu Cẩm Phong), Hiện tượng thoát ly thực tại trong 9 năm văn học Ngô triều (Lữ Phương), Chiếc lược ngà (Nguyễn Sáng), Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành), Đêm Tháp Mười (Lê Văn Thảo), Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi), Chiếc guốc xinh xinh (Thủy Thủ), Dân tộc đây rồi (Lý Chánh Trung), Về làng (Phan Tứ), Sống như anh (Trần Đình Vân), Trí thức và tri thức (Nguyễn Trọng Văn), Đâu có giặc là ta cứ đi (Nguyễn Vũ), Những vòng hoa ngụy tín (Thế Vũ), Bức thư làng mực (Nguyễn Chí Trung), Những người tham gia trận đánh (Tô Nhuận Vỹ)… Trong cuốn sách nặng ký này có đến 119 tác giả hiện diện với lý lịch trích ngang và sáng tác tiêu biểu hoạt động trên các chiến trường, địa bàn ở nông thôn, ở rừng hay đô thị song với bài viết này, tôi không thể điểm xuyết tất cả, chỉ có thể dẫn chứng một vài gương mặt trong tổng số tác giả kể trên. 

Các tác giả Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng là người trong cuộc, bao năm qua, ở họ luôn có ý thức đồng hành cùng ký ức, không chỉ hoài niệm quá khứ mà còn nuôi dưỡng ý tưởng phục hiện diện mạo, khẳng định một cách thuyết phục văn học giải phóng là một thực thể, một bộ phận không tách rời trên sinh thể văn học Việt Nam hiện đại. Cuốn sách không chỉ có chức năng “bảo lưu ký ức” mà còn khơi nguồn cảm hứng cho hậu thế tiếp nhận và ứng dụng từ một  “di sản văn học” đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong quá trình vận động và phát triển văn học nghệ thuật nước nhà.



Nguồn: Arttimes.vn

Nhiều chương trình ý nghĩa trong chuỗi hoạt động tháng 5 “Bác Hồ trong trái tim đồng bào”


Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ ngày 3 đến 31/5/2026, tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 5 với chủ đề “Bác Hồ trong trái tim đồng bào”.

Chuỗi hoạt động do Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức, nhằm lan toả tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện đẩy mạnh học tập, làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong từng việc làm, hoạt động cụ thể thiết thực của đồng bào các dân tộc và du khách tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Đồng thời, tiếp tục giới thiệu văn hoá và gắn kết cộng đồng nhằm giới thiệu nét văn hóa, phong tục tập quán truyền thống, cùng các hoạt động trải nghiệm tại “Ngôi nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, góp phần tăng cường giao lưu giữa các dân tộc, vùng, miền thu hút khách du lịch đến với Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Nhiều chương trình ý nghĩa trong chuỗi hoạt động tháng 5 “Bác Hồ trong trái tim đồng bào” - 1

Chuỗi hoạt động tháng 5 với chủ đề “Bác Hồ trong trái tim đồng bào” sẽ diễn ra với đa dạng hoạt động. Ảnh: BTC

Các hoạt động tháng 5 có sự tham gia của khoảng hơn 100 đồng bào của 16 dân tộc (Nùng, Tày, Dao, Mông, Mường, Lào, Thái, Khơ Mú, Tà Ôi, Cơ Tu, Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai, Raglai, Ê Đê, Khmer) với sự tham gia của 11 địa phương có đồng bào hoạt động hằng ngày (Thái Nguyên, Hà Nội, Phú Thọ, Tuyên Quang, Sơn La, Huế, Gia Lai, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Cần Thơ). Huy động khoảng 25 đồng bào dân tộc Tày, Nùng, tỉnh Thái Nguyên ngày 16, 17/5/2026.

Chuỗi hoạt động tháng 5 “Bác Hồ trong trái tim đồng bào” sẽ mở đầu với sự kiện “Thương nhớ áo chàm”. Tại đây, Ban Tổ chức sẽ tái hiện nghi lễ cầu an, giải hạn của dân tộc Tày, Nùng tỉnh Thái Nguyên. Đây là nghi lễ cúng tạ trời đất đã ban cho bản làng, dòng họ, gia đình, sức khoẻ vào mùa xuân, để cầu mong một năm thuận hòa, đầm ấm, no đủ. Bên cạnh đó sẽ tổ chức các trò chơi như: ném còn, đi cà kheo, nhảy sạp và tổ chức phần hội mang đậm sắc màu văn hóa của đồng bào các dân tộc.

Chương trình dân ca dân vũ “Việt Bắc nhớ Bác Hồ” gồm các chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ với các tiết mục dân ca dân vũ thể hiện tình cảm của cộng đồng các dân tộc đối với Bác Hồ, đặc biệt là sắc áo chàm từ Việt Bắc hướng về Người và giao lưu cùng một số nhóm đồng bào lân cận cùng thể hiện tình cảm của đồng bào với Bác Hồ kính yêu.

Trưng bày ảnh với chủ đề “Bác Hồ trong trái tim đồng bào” sẽ giới thiệu đến công chúng khoảng 50 bức ảnh từ quỹ ảnh của Làng Văn hóa đang quản lý.

Chương trình dân ca dân vũ “Quà tháng Năm dâng Bác” của đồng bào đang hoạt động hằng ngày tại Làng với lời ca tiếng hát, biểu diễn nhạc cụ, điệu múa ca ngợi Bác Hồ, thể hiện tình cảm của đồng bào các dân tộc đối với Bác Hồ kính yêu.

Chương trình dân ca dân vũ “Ơn Bác Hồ với người Tây Nguyên” là chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ với các tiết mục dân ca dân vũ thể hiện tình cảm của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Bác Hồ. Kết hợp với những câu chuyện kể của những người con đồng bào dân tộc Tây Nguyên về tình cảm của Bác Hồ, cũng như từ tấm gương của Người đồng bào noi theo Bác học tập và làm theo Bác.

Hoạt động điểm nhấn cuối tuần của các nhóm đồng bào đang hoạt động hằng ngày tại Làng cũng góp phần lan tỏa từ những câu chuyện kể về Bác, góp phần giúp đồng bào các dân tộc học tập theo tấm gương, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

Tháng Năm sinh nhật Bác cũng là dịp để đồng bào các dân tộc thể hiện tình cảm với Bác Hồ kính yêu không chỉ bằng việc biết đến câu chuyện kể về Bác, những lời ca tiếng hát về Bác mà từ các hoạt động chân thực, giản dị gắn với đời sống của đồng bào.

Đối với các hoạt động lao động sản xuất, mỗi đồng bào học tập, rèn luyện tăng gia sản xuất như trồng nhiều rau xanh, chăm sóc vườn cây, hoa… phát huy những phẩm chất tự nhiên của đồng bào, rèn luyện tính chăm chỉ, ý thức trách nhiệm tập thể, gần gũi trong mỗi bản làng.

Đối với các nhóm làng có thế mạnh về dân ca dân vũ, tổ chức các hoạt động dân ca dân vũ, những lời ca tiếng hát, diễn xướng dân gian về Bác Hồ kính yêu, thể hiện tình cảm của đồng bào mình với Bác.

Đối với các nhóm làng có thế mạnh về nghề thủ công truyền thống, tăng cường giới thiệu đến du khách các nghề thủ công từ các thao tác chọn nguyên liệu, các khâu hoàn thiện sản phẩm, giới thiệu cho du khách cách thực hiện và các sản phẩm khi hoàn thiện. Tăng cường tính chủ động và linh hoạt của các nghệ nhân đồng bào trong phương thức tiếp cận đến du khách.

Hoạt động hằng ngày của các nhóm đồng bào đang hoạt động hằng ngày tại Làng nổi bật là các hoạt động giới thiệu các chương tình trải nghiệm, kết nối giữa tuổi trẻ với đồng bào các dân tộc qua nét văn hóa truyền thống tại mỗi buôn, bản làng đặc biệt quan tâm đến các nơi có treo ảnh Bác Hồ, tình cảm của đồng bào đối với Bác kính yêu.

Cùng với đó là các hoạt động trải nghiệm văn hóa truyền thống, mang tới không gian dừng chân cho du khách và tham gia trải nghiệm một số trò chơi như: đánh chắt chơi truyền, chơi ô ăn quan, cờ ca rô, chơi rối tre… tại không gian trong nhà; đi cà kheo, nhảy sạp, chơi đu, bập bênh… tại không gian ngoài trời.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Ford Everest Platinum 2026 xuất hiện tại Hà Nội, thu hút sự chú ý


Ford Everest Platinum máy xăng lộ diện, được vận chuyển trên xe chuyên dụng, có thể ra mắt vào ngày mai 6/5/2026.

Những hình ảnh thực tế của Ford Everest phiên bản Platinum hoàn toàn mới đang lan truyền trên mạng xã hội, cho thấy thời điểm ra mắt tại Việt Nam đã cận kề, nhiều khả năng diễn ra ngay trong sự kiện ngày 6/5 của hãng.

Ford Everest Platinum 2026 xuất hiện tại Hà Nội, thu hút sự chú ý - 1

Các xe được bắt gặp khi đang vận chuyển trên đường phố Hà Nội, đồng thời trước đó cũng từng xuất hiện tại trung tâm thử nghiệm khí thải. Song song, dữ liệu từ Cục Đăng kiểm Việt Nam cho thấy mẫu SUV này đã hoàn tất đăng ký nhãn năng lượng cho một biến thể dùng động cơ xăng, với mức tiêu thụ trung bình khoảng 10 lít/100 km. Thông tin kỹ thuật đi kèm mã động cơ N3WS, được xác định tương ứng với máy xăng 2.3L EcoBoost tăng áp quen thuộc trên Ford Explorer.

Khối động cơ 4 xy-lanh này dự kiến cho công suất khoảng 280 mã lực và mô-men xoắn 420 Nm, kết hợp hộp số tự động 10 cấp. Tuy nhiên, cấu hình dẫn động vẫn chưa được xác nhận rõ ràng khi chiếc xe lộ diện không có logo “4×4”, cho thấy khả năng tồn tại cả phiên bản một cầu bên cạnh tùy chọn hai cầu.

Ford Everest Platinum 2026 xuất hiện tại Hà Nội, thu hút sự chú ý - 2

So với bản máy dầu đang bán trong nước, Ford Everest Platinum máy xăng có một số thay đổi dễ nhận diện, đáng chú ý nhất là hệ thống ống xả lộ thiên, hướng thẳng ra phía sau thay vì giấu dưới gầm. Chi tiết này tương đồng với các phiên bản Everest máy xăng đang phân phối tại Trung Đông và Argentina. Tuy vậy, xe xuất hiện tại Việt Nam lại sở hữu trang bị cao cấp hơn khi được bổ sung đèn LED ma trận, thay vì đèn LED dạng chóa như các thị trường kể trên.

Việc bổ sung biến thể máy xăng được xem là bước đi chiến lược, giúp Everest gia tăng sức cạnh tranh với các đối thủ như Toyota Fortuner hay Isuzu mu-X, vốn cũng đang duy trì tùy chọn động cơ xăng. Đồng thời, động thái này cũng được cho là nhằm đón đầu sự xuất hiện của Toyota Land Cruiser FJ trong thời gian tới.

Ford Everest Platinum 2026 xuất hiện tại Hà Nội, thu hút sự chú ý - 3

Hiện tại, Ford Everest Platinum bản máy dầu đang được niêm yết ở mức 1,545 tỷ đồng. Với động cơ xăng tăng áp mạnh mẽ cùng các trang bị cao cấp hơn, phiên bản mới được dự báo sẽ có giá cao hơn, có thể tiệm cận mốc 1,7 tỷ đồng khi chính thức mở bán.



Nguồn: Arttimes.vn

Sau xe điện, doanh số xe hybrid đang tăng đáng kể tại Việt Nam


Người tiêu dùng Việt ngày càng chuộng xe động cơ lai hybrid và điều đó thể hiện qua doanh số bán ra.

rong khi xe điện vẫn đang thu hút sự chú ý lớn nhờ xu hướng “không phát thải”, một phân khúc khác âm thầm tăng trưởng mạnh mẽ tại Việt Nam: xe hybrid (lai xăng – điện). Số liệu mới nhất từ Toyota Việt Nam cho thấy thị trường này đang bước vào giai đoạn bứt tốc rõ rệt, với mức tăng trưởng ấn tượng qua từng năm.

Theo báo cáo kinh doanh năm 2025, Toyota Việt Nam đã bán ra 8.474 xe hybrid, tăng 58% so với năm trước. Đây là mức tăng đáng chú ý trong bối cảnh thị trường ô tô nói chung còn nhiều biến động. Đà tăng trưởng không chỉ diễn ra trong cả năm mà còn thể hiện rõ theo từng giai đoạn. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025, hãng đã tiêu thụ 3.444 xe hybrid, gấp đôi cùng kỳ. Riêng quý I/2026, doanh số đạt 3.174 xe, tăng tới 114% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu vẫn tiếp tục đi lên.

Sau xe điện, doanh số xe hybrid đang tăng đáng kể tại Việt Nam - 1

Toyota Việt Nam đã bán ra 8.474 xe hybrid, tăng 58% so với năm trước.

Bên cạnh Toyota, Honda là hãng Nhật có phân khúc hybrid tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy mô vẫn còn khiêm tốn hơn. Trong năm 2025, mẫu CR-V e:HEV RS đạt doanh số 1.888 xe, nằm trong nhóm hybrid bán chạy trên thị trường. Doanh số cụ thể cho mẫu xe HR-V Hybrid đạt 889 xe và Civic Hybrid chỉ đạt 266 xe

Những con số này cho thấy một thực tế: xe hybrid của Honda có chỗ đứng nhất định, nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào từng dòng sản phẩm. Các mẫu SUV như CR-V hay HR-V dễ tiếp cận hơn, trong khi sedan hybrid như Civic vẫn khá “kén khách” do thị hiếu người Việt đang nghiêng về xe gầm cao. Dù vậy, việc Honda bắt đầu lắp ráp phiên bản hybrid trong nước từ năm 2026 được kỳ vọng sẽ giúp giá bán cạnh tranh hơn và thúc đẩy doanh số trong thời gian tới.

Xe Trung Quốc bắt đầu nhập cuộc, nhưng còn ở giai đoạn đầu và chưa có doanh số ấn tượng. Trong khi các hãng Nhật đã xây dựng nền tảng hybrid từ sớm, các thương hiệu Trung Quốc mới chỉ bắt đầu tăng tốc tại Việt Nam, tiêu biểu là BYD.

Sau xe điện, doanh số xe hybrid đang tăng đáng kể tại Việt Nam - 2

Honda là hãng Nhật có phân khúc xe hybrid đa dạng tại Việt Nam.

Theo công bố, BYD đã bán hơn 5.000 xe tại Việt Nam chỉ sau chưa đầy 2 năm, bao gồm cả xe điện và hybrid. Hãng cũng đang mở rộng mạnh hệ thống phân phối và dự kiến tung thêm nhiều mẫu xe mới, trong đó có cả hybrid, nhằm tiếp cận đa dạng phân khúc khách hàng. Một số mẫu hybrid như Sealion 6 được giới thiệu với mức tiêu thụ nhiên liệu chỉ khoảng 3,3 lít/100 km, cho thấy định hướng cạnh tranh bằng hiệu quả vận hành và giá trị sử dụng.

Những con số này phản ánh sự thay đổi trong lựa chọn của người tiêu dùng Việt. Nếu như trước đây xe hybrid còn khá xa lạ và bị xem là lựa chọn “trung gian”, thì nay lại trở thành phương án thực dụng hơn trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động và hạ tầng xe điện chưa hoàn thiện. Không cần phụ thuộc vào trạm sạc như xe điện, nhưng vẫn tiết kiệm nhiên liệu đáng kể so với xe xăng truyền thống, hybrid đáp ứng được nhu cầu của đa số người dùng đô thị.

Thực tế thị trường cũng cho thấy, các mẫu xe hybrid đang dần phổ biến ở nhiều phân khúc, từ SUV đô thị đến MPV cao cấp. Toyota hiện là hãng dẫn đầu phân khúc này tại Việt Nam, với danh mục nhiều mẫu xe hybrid trải dài, góp phần củng cố vị thế trên thị trường. Một số mẫu xe ghi nhận mức tăng trưởng doanh số cao, cho thấy sức hút ngày càng lớn của công nghệ lai.

Sau xe điện, doanh số xe hybrid đang tăng đáng kể tại Việt Nam - 3

Hãng BYD đã bán hơn 5.000 xe tại Việt Nam chỉ sau chưa đầy 2 năm.

Sự tăng trưởng của xe hybrid diễn ra song song với làn sóng xe điện, nhưng không hoàn toàn đối đầu trực tiếp. Trong khi xe điện hướng đến nhóm khách hàng sẵn sàng thay đổi toàn diện thói quen sử dụng, thì hybrid lại đóng vai trò như một bước chuyển tiếp hợp lý.

Điều này đặc biệt phù hợp với thị trường Việt Nam, nơi người tiêu dùng vẫn còn cân nhắc về hạ tầng sạc, chi phí đầu tư ban đầu và tính tiện dụng lâu dài. Dữ liệu từ Toyota, Honda và các hãng xe Trung Quốc cho thấy một bức tranh rõ ràng: xe hybrid tại Việt Nam không còn là xu hướng phụ, mà đang bước vào giai đoạn tăng trưởng thực sự. 

Nếu Toyota tiếp tục dẫn đầu, Honda giữ vai trò bám đuổi, thì các hãng Trung Quốc như BYD đang đóng vai trò “nhân tố mới”, góp phần làm thị trường sôi động hơn. Trong giai đoạn chuyển đổi năng lượng, hybrid nhiều khả năng sẽ tiếp tục là “làn sóng thứ hai” song hành cùng xe điện tại Việt Nam.

Sau xe điện, doanh số xe hybrid đang tăng đáng kể tại Việt Nam - 4

Có thể thấy, sau xe điện, xe hybrid đang nổi lên như một “làn sóng thứ hai” của thị trường ô tô xanh. Và với những gì đang diễn ra, làn sóng này không còn là xu hướng ngắn hạn mà đang dần trở thành một phần tất yếu của bức tranh giao thông tương lai.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Ô tô quay đầu ẩu, người đi xe máy bị hất văng trượt dài trên đường


Pha chuyển hướng thiếu quan sát của ô tô khiến người đi xe máy phía sau không kịp xử lý và gặp tai nạn.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Thanh niên say xỉn “hạ gục” thanh chắn tàu rồi ngã nhào xuống đường ray


Bất chấp thanh chắn đã hạ xuống, nam thanh niên vẫn phóng xe lao tới và nhận cái kết khiến ai chứng kiến cũng thót tim.




Nguồn: Arttimes.vn

Geely trình làng mẫu sedan siêu tiết kiệm nhiên liệu, giá từ 230 triệu đồng


Mẫu sedan hybrid mới của Geely gây chú ý với mức tiêu thụ nhiên liệu cực thấp đi kèm giá bán phổ thông.




Nguồn: Arttimes.vn

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” – một diễn ngôn về nước


Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ – Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,…), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.

Hệ sinh thái văn hóa và văn học xanh

Quốc gia (Nước) Việt Nam trong truyền thống hàng ngàn năm tựa vào núi non (Đất) để tồn tại và phát triển (nên mới có truyền thuyết Sơn tinh thắng Thủy tinh). Nhưng đến thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành một quốc gia biển, vì thế kiến tạo thực tế tâm thức cộng đồng mới Tổ quốc nhìn từ biển (nhan đề một trường ca thành công của thi sĩ Nguyễn Việt Chiến, không hẳn về ý nghĩa đề tài, mà nhờ chủ đề về cương vực lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân khí và hào khí Đông A).

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước - 1

Cuộc phiêu du của Chép Hồng – Tác giả Phạm Hồng Điệp

Đọc xong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, đang suy nghĩ tìm cách viết phê bình một tác phẩm mới lạ, hấp dẫn thì hoàn toàn bất chợt và ngẫu nhiên tôi đọc được trên Tạp chí Tia Sáng (Online, 10/3/2026) bài viết hấp dẫn Giáo sư Chung Hoàng Chương – Người đi tìm “vân tay sinh thái” của sông Cửu Long. Bài viết dưới dạng tiểu sử khoa học, đã đành, nhưng quan trọng hơn là nói về năng lực phát kiến của nhà khoa học có tâm và có tầm: “Tại sao một nhà xã hội học lại chuyển hướng sang nghiên cứu thủy văn? Trong thế giới quan của thầy Chương, dòng sông chính là “vân tay” của vùng đất. Nếu mỗi con người có một mã định danh riêng thì mỗi khúc sông Mekong cũng có một bản sắc độc đáo (…).

Trong những cuộc đối thoại gần đây với một số bạn trẻ khởi nghiệp bên dòng Mekong, giáo sư Chương đặc biệt nhấn mạnh khái niệm hydro – humanities – tạm dịch là thủy nhân văn học. Khung lý thuyết hiện đại này được giới thiệu trong cuốn sách Hydrohumanities: Water Discourse and Environmental Futures (Thủy nhân văn học: Diễn ngôn về Nước và Tương lai môi trường) xuất bản năm 2021 của nhóm tác giả Mỹ, theo đó, nước không chỉ là thực thể vật lý mà là chở theo diễn ngôn định hình bản sắc”.

Tôi mạnh dạn gọi Cuộc phiêu du của Chép Hồng của Tiến sĩ – Doanh nhân Phạm Hồng Điệp là một tác phẩm đặc tuyển thuộc về phạm trù “văn học xanh” trong hệ sinh thái văn hóa, theo quan điểm hiện đại. Nó rất gần gũi với những tác phẩm thành công gần đây góp phần kiến thiết “văn học xanh”, “văn học sinh thái” sẽ thống ngự trong tương lai trên văn đàn kiểu như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa, Thương ngàn của Vĩnh Quyền…

Chép Hồng như một biểu tượng nghệ thuật

Cá chép (tiếng Hán: Lý Ngư) trong tâm thức dân gian biểu trưng cho trí thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó, chí tiến thủ “vượt vũ môn”, “hóa rồng”, đem lại niềm vui và lợi ích cho cộng đồng như câu chuyện sự tích Cá Chép Đỏ lưu truyền trong văn học dân gian Trung Hoa.

Trong tác phẩm đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng, trong một không gian thủy sinh có tên hồ Cá Chéo điển hình (rộng hơn 30 mẫu bắc Bộ/ gần 11 héc-ta/ 108.000 mét vuông), Chép Hồng được xây dựng thành một “nhân vật” trung tâm, sinh động, đáng yêu, trong một không gian sinh tồn đặc trưng bởi tính chất “quần ngư tranh thực” (cá lớn nuốt cá bé); nơi tác giả gửi gắm những nỗi niềm được nâng lên thành triết lý về đời sống xã hội thông qua cuộc khám phá thế giới thủy sinh bằng phương pháp “nhân cách hóa”.

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước - 2

Tác giả Phạm Hồng Điệp và nhà văn, nhà báo Hoàng Dự tại Lễ ra mắt sách “Cuộc phiêu du của Chép Hồng”

Nếu nhìn thế giới từ con mắt của Cá Chép Hồng thì trước tiên hẳn là từ đôi mắt xanh của tuổi trẻ. Khi người ta trẻ ắt hẳn cái nhìn cuộc đời bằng con mắt xanh, sẽ đậm tính chất viễn kiến. Viễn kiến trên quan điểm hiện sinh. Vũ trụ quan, thế giới quan của Cá Chép Hồng với nơi mình trú ngụ và sinh tồn (hồ Cá Chéo), ắt hẳn luôn là “vừa là mái nhà quen thuộc, vừa là vùng nước chất chứa không ít rủi ro trong cuộc sống của Cá Chép Hồng”. Đó là nhãn giới cần được trang bị và bất ly thân với những công dân tương lai, sớm có cái nhìn thấu thị về quy luật sinh tồn trong những không gian và thời gian mặc định, khi mới bước vào đời.

Thế giới hẳn không chỉ có một màu hồng hay chỉ một màu đen. Những bài học đầu đời mà Cá Chép Hồng thấm nhuần là nhận được từ bác Cá Trê, lão làng ở thế giới thủy sinh nơi hồ Cá Chéo. Rõ ràng tác giả không có ý định dọn “mâm cao cỗ đầy” cho nhân vật chính, cũng không bày đặt ra đại lộ thẳng tắp rải đầy hoa lá, đan kết cổng chào rực rỡ để nó thẳng tiến bước trong những điệu hoan ca vang rền, mà có thể tạo nên con đường chông gai để thử thách, theo lối “lửa thử vàng gian nan thử sức”, hay “thất bại là mẹ của thành công”.

Bác Cá Trê ưu ái truyền đạt kinh nghiệm ứng xử khi vào đời cho Cá Chép Hồng: “Sau này nhớ tránh xa những chỗ nước nông, kẻo gặp nguy hiểm cháu nhé”. Đúng vậy, đồng thời có triết lý của nhân gian “dưới chân cột đèn là nơi tối nhất”. Đây chính là cách thức dạy kĩ năng sống cho trẻ thơ từ khi rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình và vòng tay âu yếm ôm ấp chở che của ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột thịt. Nó trái với cách hiện nay chúng ta dạy trẻ thơ bắt đầu từ yêu những cái lớn lao quá đỗi, nhưng xa xôi, vô hình, thiếu tinh thần “thực” học, thực hành, thực tế. Theo cách nói hiện đại là thiếu hay kém hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả.

Sau khi gặp gỡ bác Cá Trê, Chép Hồng còn có cơ hội được giao kiến với cụ Trắm Đen, bác Cá Trôi, cụ Cá Rô, bác Lươn Già, chú Cua Đực, cụ Cá Vược,… toàn là những vị tiên chỉ lão làng. Bài học tiếp theo giúp Cá Chép Hồng trưởng thành là “cuộc sống thú vị nhưng luôn có hiểm nguy”. Vượt qua những hiểm nguy bất thường đã là khó. Nhưng khó hơn là bản thân có trở nên hữu ích, có thể tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là với những ai yếu thế, sức hèn lực cạn. Rõ ràng là, cuộc sống không đơn thuần chỉ là chuyện mưu sinh, mà còn là hành trình biết quan tâm, giúp đỡ nhau để mỗi ngày trôi qua đều có giá trị và đáng sống. Bài học đầu đời của Cá Chép Hồng chính là mối quan hệ mật thiết giữa “tôi” và “ta” (mình vì mọi người, mọi người vì mình). Bài học về mục đích sống và giá trị của đời sống.

Nhưng nếu Cá Chép Hồng chỉ ru rú trong hồ Cá Chéo (dù được coi là rộng lớn, khoáng đạt, sung túc cái ăn), thì cũng chỉ là một góc quê kiểng, khó tiến bộ, trưởng thành nếu không được ném ra biển lớn (môi trường, không gian vĩ mô, có tính mở với giao diện rộng lớn hơn gấp bội). Cá Chép Hồng không thể không chấp nhận và thực thi một cuộc phiêu bạt (dạt) ra cánh đồng mẫu lớn. Mà thường là những cánh đồng bất tận. Đây là một cuộc phiêu dạt, xê dịch, viễn du, phiêu du làm thỏa chí tang bồng của một trang  thanh niên tuấn tú (nếu chúng ta coi Cá Chép Hồng là một nhân vật). Nay Cá Chép Hồng tạm coi là đủ lông đủ cánh, đủ sức đi xa, sẵn sàng vượt vũ môn, sẵn sàng hóa rồng.

Ở giai đoạn trưởng thành, Cá Chép Hồng học được kĩ năng sống ở cấp độ cao sâu hơn – nhận biết thế giới xung quanh càng thấu tỏ thì càng gia tăng tính an toàn trong quy luật sinh tồn khắc nghiệt. Cũng như trong chiến trận, khi người chiến binh phải “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”.

Đi ra cánh đồng lớn như ra biển lớn, điều thu lượm bổ ích nhất với Cá Chép Hồng là “thiên nhiên có quy luật riêng”, vì thế ai hiểu được và tôn trọng quy luật ấy (ta thường gọi là quy luật “thuận thiên”, hợp lẽ trời) thì sẽ biết cách tránh được nguy hiểm và tìm kiếm niềm vui sống, kể cả khi bĩ cực hay thái lai. Cứ như thế từng bước một, Cá Chép Hồng đã trưởng thành với ý thức “cứ đi, cứ đi, trời xanh thêm”. Càng đi càng thấm thía chân lý sức mạnh của tập thể (cộng đồng) lớn hơn rất nhiều sức mạnh của một cá nhân đơn lẻ, nhất là khi mọi người biết chung tay vì mục đích chung. Càng trải nghiệm, Cá Chép Hồng càng nhanh chóng từ bỏ được cái tâm thế ếch ngồi đáy giếng, thoát khỏi cái gọi là “tiểu nhân đắc chí” của những “vĩ nhân tỉnh lẻ”.

Người ta thường nói một cá thể (người hay vật) chỉ có giá trị trong một hệ thống nhất định nào đó. Đúng như thế. Nên kể từ khi Cá Chép Hồng giáp mặt với con người và can dự vào “cuộc chiến với con người” (từ chương 13) thì tình thế xoay vần, kết cục cũng sẽ khác nếu như chỉ sống chung với cùng họ hàng nhà mình hay cùng loài thủy sinh. Một tình huống mới sẽ xảy ra bởi “Sắp có một cuộc đánh bắt cá động trời, có thể hủy diệt cả họ nhà chúng ta”. Do đó “Dưới lòng hồ, các loài cá và toàn bộ thủy sinh đều bị chấn động bởi cơn “địa chấn” mang tên loài người”. Đây không phải là “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” như trong văn học giả tưởng nữa, đây đích thực là một cuộc chiến giữa người và loài vật ở chính trên mảnh đất này. Tất cả khẩn trương cho một cuộc di cư lớn vì chiến tranh giữa người và loài vật sắp nổ ra. Vì cuộc sống là một hành trình không ngừng dịch chuyển. Khi biến cố và hoàn cảnh khắc nghiệt đến, chúng ta cần chủ động tìm lối đi mới để tồn tại và vươn lên. Đây không đơn thuần là triết lý, mà là thực tiễn, có tác dụng kiểm tra chân lý.

Cuộc sống mới của Cá Chép Hồng và họ hàng cua cá, thủy sinh bây giờ trong không gian sinh tồn mới – mương nổi, rồi ra đầm lúa. Tưởng bề yên thân, yên vị, yên hàn để mưu sinh nhưng thực ra “hiểm nguy ở đầm lúa” vẫn cứ rình rập (từ chương 20). Nhưng Cá Chép Hồng đã thông minh và dũng cảm “dẫn đàn vượt qua hiểm nguy” (từ chương 25). Cứ thế, đàn cá do Chép Hồng dẫn dắt cứ phiêu du từ đầm lúa qua đầm nước lợ (chương 26). Một khoảng cách di chuyển thêm, Cá Chép Hồng lại tích lũy thêm được “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, đoàn kết hơn để thêm bạn bớt thù. Kết quả mỹ mãn nhất với Cá Chép Hồng và loài cá là càng đi càng có cơ hội khám phá thiên nhiên kỳ thú (từ chương 31). Mỗi chặng phiêu du của Cá Chép Hồng và đồng loại là giúp nó tri nhận quy luật: Không phải loài thông minh, không phải kẻ mạnh, mà kẻ nào thích nghi nhanh, kẻ đó sẽ tồn tại và phát triển; ai chậm trễ và trì trệ sẽ nhận thất bại.

Nhưng Cá Chép Hồng, bản thân nó không vượt thoát được tấm xiêm áo dù đẹp nhưng bó hẹp tầm nhìn nếu không có chuyến vượt vũ môn, hóa rồng, cùng với Chép Đực như là song kiếm hợp bích, hơn thế một cặp đôi hoàn hảo. Trong tình huống của truyện đồng thoại này, với nhân vật Cá Chép Hồng là “giấc mơ vượt đê” (từ chương 37). Vì theo bậc “tiền bối’ là bác Cá Măng thì “Bác đã bơi sang đó nhiều lần rồi. Ở bên rừng nước mặn có rất nhiều điều lý thú đó, mang tiếng là rừng nước mặn nhưng nước bên đó lên xuống điều hòa vì vậy độ mặn của nước cũng chỉ bằng ở bên này thôi các cháu ạ. Nếu các cháu muốn chu du chinh phục rừng nước mặn thì bác sẽ mở lối đưa đường nhé. Các cháu cứ yên tâm đi với bác”. Kể từ đó, cá  Chép Hồng và đồng loại cùng chung cái tâm tưởng “hướng tới rừng nước mặn”, “chinh phục rừng nước mặn”, tìm ra “lợi ích của rừng ngập mặn”. Từ đây Cá Chép Hồng có thêm người bạn đường tin tưởng, cùng chí hướng là Chép Đực.

Cái kết của truyện đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng tương thích với tư duy hình tượng của folklore: “Đúng lúc đó, vòng xoáy trôn ốc tích tụ đầy năng lượng thò sâu xuống mặt hồ, hút trọn nguồn năng lượng tuyệt đối của đôi chép hóa rồng. Một tiếng nổ “Bùng! Bùng!”, vang trời, tiếng thần sấm dội xuống, đưa Chép Hồng và Chép Đực bay vút lên thiên đình với nguồn năng lượng đỉnh cao, mang theo những tinh túy thuần khiết nhất của trời và đất, ghi dấu một ấn tượng tuyệt vời về câu chuyện Chép Hồng. Và từ đó, trong nhân gian vẫn lưu truyền câu chuyện cá chép hóa rồng đưa Táo Quân lên báo cáo Ngọc Hoàng”.

Một thông điệp về nhân sinh, hòa bình, hữu nghị

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là hình ảnh tái tạo một thế giới khả nhiên, vừa tĩnh vừa động, một dòng chảy thao thiết bất tận phù hợp với quy luật thuận thiên (hợp lẽ trời, hợp tự nhiên), không có sự can thiệp của ý chí luận. Trong con mắt của các nhà hiện thực cổ điển thì cuộc sống đã đến mức “mốc lên, gỉ ra, mòn đi” (Sống mòn – Nam Cao). Nhưng trong con mắt của các nhà tân hiện thực, tân cổ điển thì thế giới mang tính “mở”. Vì thế, văn học thời đại cũng là văn học của thế kỷ mở. Với văn học đương đại Việt Nam, có thể nói, tính mở hằn sâu vào sự chuyển dịch góc nhìn, góc trần thuật tạo nên diễn ngôn mới. đa chiều, đa dạng, đa phong cách, đa  trào lưu và khuynh hướng sáng tác theo lối “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”.

 Tinh thần cộng sinh, nghiệm sinh, hiện sinh (cùng tồn tại và chung sống hòa bình) của các sự vật (thế giới động vật, thực vật) là cách thức tồn tại lấy đối thoại thay cho đối đầu, chung sống hòa bình thay cho chiến tranh hủy diệt chính là triết lý trường tồn mới. Thế giới mở đòi hỏi tương thích một thế hệ mới dám dấn thân, chấp nhận, xả thân qua những trải nghiệm đủ các cung bậc.

Với thế hệ này, ý thức về tự nhiên hài hòa với ý thức về xã hội, tránh cực đoan. Tinh thần thích nghi với hoàn cảnh là một chỉ dấu đánh giá năng lực thực tiễn của mỗi cá nhân. Một thế hệ có tư duy viễn kiến trong một thế giới tranh đấu giữa kỹ trị và tâm linh, giữa cái tôi và cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại. Cá chép vượt vũ môn, hóa rồng dù hiển thị trong tâm thức dân gian hay suy tư triết học hiện đại đều hướng tới xây dựng nhân vật lý tưởng – những “con người khổng lồ” kiểu thời đại Phục hưng theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác.

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là biểu tượng của một cuộc ra đi tìm kiếm sự sống và chân lý bằng cả lý trí anh minh và tình cảm sâu sắc để thực hiện thành công quá trình đổi mới, khi một thế hệ trẻ khỏe, thông minh và sáng tạo đã sẵn sàng lên đường chinh phục thế giới mới. Tác phẩm khoác bộ xiêm áo “đồng thoại” non tơ và cổ điển “viết cho thiếu nhi” nhưng độ bền, độ đẹp, độ hữu dụng mang tính đại chúng, đặng có thể dành cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ và khác nhau về sở thích đọc sách văn học. Riêng tôi, tràn đầy hy vọng về Cuộc phiêu du của Chép Hồng sẽ thuộc loại sách hay và đồng thời là “best-seller”.



Nguồn: Arttimes.vn

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” – một diễn ngôn về nước


Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ – Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,…), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.

Hệ sinh thái văn hóa và văn học xanh

Quốc gia (Nước) Việt Nam trong truyền thống hàng ngàn năm tựa vào núi non (Đất) để tồn tại và phát triển (nên mới có truyền thuyết Sơn tinh thắng Thủy tinh). Nhưng đến thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành một quốc gia biển, vì thế kiến tạo thực tế tâm thức cộng đồng mới Tổ quốc nhìn từ biển (nhan đề một trường ca thành công của thi sĩ Nguyễn Việt Chiến, không hẳn về ý nghĩa đề tài, mà nhờ chủ đề về cương vực lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân khí và hào khí Đông A).

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước - 1

Cuộc phiêu du của Chép Hồng – Tác giả Phạm Hồng Điệp

Đọc xong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, đang suy nghĩ tìm cách viết phê bình một tác phẩm mới lạ, hấp dẫn thì hoàn toàn bất chợt và ngẫu nhiên tôi đọc được trên Tạp chí Tia Sáng (Online, 10/3/2026) bài viết hấp dẫn Giáo sư Chung Hoàng Chương – Người đi tìm “vân tay sinh thái” của sông Cửu Long. Bài viết dưới dạng tiểu sử khoa học, đã đành, nhưng quan trọng hơn là nói về năng lực phát kiến của nhà khoa học có tâm và có tầm: “Tại sao một nhà xã hội học lại chuyển hướng sang nghiên cứu thủy văn? Trong thế giới quan của thầy Chương, dòng sông chính là “vân tay” của vùng đất. Nếu mỗi con người có một mã định danh riêng thì mỗi khúc sông Mekong cũng có một bản sắc độc đáo (…).

Trong những cuộc đối thoại gần đây với một số bạn trẻ khởi nghiệp bên dòng Mekong, giáo sư Chương đặc biệt nhấn mạnh khái niệm hydro – humanities – tạm dịch là thủy nhân văn học. Khung lý thuyết hiện đại này được giới thiệu trong cuốn sách Hydrohumanities: Water Discourse and Environmental Futures (Thủy nhân văn học: Diễn ngôn về Nước và Tương lai môi trường) xuất bản năm 2021 của nhóm tác giả Mỹ, theo đó, nước không chỉ là thực thể vật lý mà là chở theo diễn ngôn định hình bản sắc”.

Tôi mạnh dạn gọi Cuộc phiêu du của Chép Hồng của Tiến sĩ – Doanh nhân Phạm Hồng Điệp là một tác phẩm đặc tuyển thuộc về phạm trù “văn học xanh” trong hệ sinh thái văn hóa, theo quan điểm hiện đại. Nó rất gần gũi với những tác phẩm thành công gần đây góp phần kiến thiết “văn học xanh”, “văn học sinh thái” sẽ thống ngự trong tương lai trên văn đàn kiểu như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa, Thương ngàn của Vĩnh Quyền…

Chép Hồng như một biểu tượng nghệ thuật

Cá chép (tiếng Hán: Lý Ngư) trong tâm thức dân gian biểu trưng cho trí thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó, chí tiến thủ “vượt vũ môn”, “hóa rồng”, đem lại niềm vui và lợi ích cho cộng đồng như câu chuyện sự tích Cá Chép Đỏ lưu truyền trong văn học dân gian Trung Hoa.

Trong tác phẩm đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng, trong một không gian thủy sinh có tên hồ Cá Chéo điển hình (rộng hơn 30 mẫu bắc Bộ/ gần 11 héc-ta/ 108.000 mét vuông), Chép Hồng được xây dựng thành một “nhân vật” trung tâm, sinh động, đáng yêu, trong một không gian sinh tồn đặc trưng bởi tính chất “quần ngư tranh thực” (cá lớn nuốt cá bé); nơi tác giả gửi gắm những nỗi niềm được nâng lên thành triết lý về đời sống xã hội thông qua cuộc khám phá thế giới thủy sinh bằng phương pháp “nhân cách hóa”.

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước - 2

Tác giả Phạm Hồng Điệp và nhà văn, nhà báo Hoàng Dự tại Lễ ra mắt sách “Cuộc phiêu du của Chép Hồng”

Nếu nhìn thế giới từ con mắt của Cá Chép Hồng thì trước tiên hẳn là từ đôi mắt xanh của tuổi trẻ. Khi người ta trẻ ắt hẳn cái nhìn cuộc đời bằng con mắt xanh, sẽ đậm tính chất viễn kiến. Viễn kiến trên quan điểm hiện sinh. Vũ trụ quan, thế giới quan của Cá Chép Hồng với nơi mình trú ngụ và sinh tồn (hồ Cá Chéo), ắt hẳn luôn là “vừa là mái nhà quen thuộc, vừa là vùng nước chất chứa không ít rủi ro trong cuộc sống của Cá Chép Hồng”. Đó là nhãn giới cần được trang bị và bất ly thân với những công dân tương lai, sớm có cái nhìn thấu thị về quy luật sinh tồn trong những không gian và thời gian mặc định, khi mới bước vào đời.

Thế giới hẳn không chỉ có một màu hồng hay chỉ một màu đen. Những bài học đầu đời mà Cá Chép Hồng thấm nhuần là nhận được từ bác Cá Trê, lão làng ở thế giới thủy sinh nơi hồ Cá Chéo. Rõ ràng tác giả không có ý định dọn “mâm cao cỗ đầy” cho nhân vật chính, cũng không bày đặt ra đại lộ thẳng tắp rải đầy hoa lá, đan kết cổng chào rực rỡ để nó thẳng tiến bước trong những điệu hoan ca vang rền, mà có thể tạo nên con đường chông gai để thử thách, theo lối “lửa thử vàng gian nan thử sức”, hay “thất bại là mẹ của thành công”.

Bác Cá Trê ưu ái truyền đạt kinh nghiệm ứng xử khi vào đời cho Cá Chép Hồng: “Sau này nhớ tránh xa những chỗ nước nông, kẻo gặp nguy hiểm cháu nhé”. Đúng vậy, đồng thời có triết lý của nhân gian “dưới chân cột đèn là nơi tối nhất”. Đây chính là cách thức dạy kĩ năng sống cho trẻ thơ từ khi rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình và vòng tay âu yếm ôm ấp chở che của ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột thịt. Nó trái với cách hiện nay chúng ta dạy trẻ thơ bắt đầu từ yêu những cái lớn lao quá đỗi, nhưng xa xôi, vô hình, thiếu tinh thần “thực” học, thực hành, thực tế. Theo cách nói hiện đại là thiếu hay kém hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả.

Sau khi gặp gỡ bác Cá Trê, Chép Hồng còn có cơ hội được giao kiến với cụ Trắm Đen, bác Cá Trôi, cụ Cá Rô, bác Lươn Già, chú Cua Đực, cụ Cá Vược,… toàn là những vị tiên chỉ lão làng. Bài học tiếp theo giúp Cá Chép Hồng trưởng thành là “cuộc sống thú vị nhưng luôn có hiểm nguy”. Vượt qua những hiểm nguy bất thường đã là khó. Nhưng khó hơn là bản thân có trở nên hữu ích, có thể tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là với những ai yếu thế, sức hèn lực cạn. Rõ ràng là, cuộc sống không đơn thuần chỉ là chuyện mưu sinh, mà còn là hành trình biết quan tâm, giúp đỡ nhau để mỗi ngày trôi qua đều có giá trị và đáng sống. Bài học đầu đời của Cá Chép Hồng chính là mối quan hệ mật thiết giữa “tôi” và “ta” (mình vì mọi người, mọi người vì mình). Bài học về mục đích sống và giá trị của đời sống.

Nhưng nếu Cá Chép Hồng chỉ ru rú trong hồ Cá Chéo (dù được coi là rộng lớn, khoáng đạt, sung túc cái ăn), thì cũng chỉ là một góc quê kiểng, khó tiến bộ, trưởng thành nếu không được ném ra biển lớn (môi trường, không gian vĩ mô, có tính mở với giao diện rộng lớn hơn gấp bội). Cá Chép Hồng không thể không chấp nhận và thực thi một cuộc phiêu bạt (dạt) ra cánh đồng mẫu lớn. Mà thường là những cánh đồng bất tận. Đây là một cuộc phiêu dạt, xê dịch, viễn du, phiêu du làm thỏa chí tang bồng của một trang  thanh niên tuấn tú (nếu chúng ta coi Cá Chép Hồng là một nhân vật). Nay Cá Chép Hồng tạm coi là đủ lông đủ cánh, đủ sức đi xa, sẵn sàng vượt vũ môn, sẵn sàng hóa rồng.

Ở giai đoạn trưởng thành, Cá Chép Hồng học được kĩ năng sống ở cấp độ cao sâu hơn – nhận biết thế giới xung quanh càng thấu tỏ thì càng gia tăng tính an toàn trong quy luật sinh tồn khắc nghiệt. Cũng như trong chiến trận, khi người chiến binh phải “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”.

Đi ra cánh đồng lớn như ra biển lớn, điều thu lượm bổ ích nhất với Cá Chép Hồng là “thiên nhiên có quy luật riêng”, vì thế ai hiểu được và tôn trọng quy luật ấy (ta thường gọi là quy luật “thuận thiên”, hợp lẽ trời) thì sẽ biết cách tránh được nguy hiểm và tìm kiếm niềm vui sống, kể cả khi bĩ cực hay thái lai. Cứ như thế từng bước một, Cá Chép Hồng đã trưởng thành với ý thức “cứ đi, cứ đi, trời xanh thêm”. Càng đi càng thấm thía chân lý sức mạnh của tập thể (cộng đồng) lớn hơn rất nhiều sức mạnh của một cá nhân đơn lẻ, nhất là khi mọi người biết chung tay vì mục đích chung. Càng trải nghiệm, Cá Chép Hồng càng nhanh chóng từ bỏ được cái tâm thế ếch ngồi đáy giếng, thoát khỏi cái gọi là “tiểu nhân đắc chí” của những “vĩ nhân tỉnh lẻ”.

Người ta thường nói một cá thể (người hay vật) chỉ có giá trị trong một hệ thống nhất định nào đó. Đúng như thế. Nên kể từ khi Cá Chép Hồng giáp mặt với con người và can dự vào “cuộc chiến với con người” (từ chương 13) thì tình thế xoay vần, kết cục cũng sẽ khác nếu như chỉ sống chung với cùng họ hàng nhà mình hay cùng loài thủy sinh. Một tình huống mới sẽ xảy ra bởi “Sắp có một cuộc đánh bắt cá động trời, có thể hủy diệt cả họ nhà chúng ta”. Do đó “Dưới lòng hồ, các loài cá và toàn bộ thủy sinh đều bị chấn động bởi cơn “địa chấn” mang tên loài người”. Đây không phải là “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” như trong văn học giả tưởng nữa, đây đích thực là một cuộc chiến giữa người và loài vật ở chính trên mảnh đất này. Tất cả khẩn trương cho một cuộc di cư lớn vì chiến tranh giữa người và loài vật sắp nổ ra. Vì cuộc sống là một hành trình không ngừng dịch chuyển. Khi biến cố và hoàn cảnh khắc nghiệt đến, chúng ta cần chủ động tìm lối đi mới để tồn tại và vươn lên. Đây không đơn thuần là triết lý, mà là thực tiễn, có tác dụng kiểm tra chân lý.

Cuộc sống mới của Cá Chép Hồng và họ hàng cua cá, thủy sinh bây giờ trong không gian sinh tồn mới – mương nổi, rồi ra đầm lúa. Tưởng bề yên thân, yên vị, yên hàn để mưu sinh nhưng thực ra “hiểm nguy ở đầm lúa” vẫn cứ rình rập (từ chương 20). Nhưng Cá Chép Hồng đã thông minh và dũng cảm “dẫn đàn vượt qua hiểm nguy” (từ chương 25). Cứ thế, đàn cá do Chép Hồng dẫn dắt cứ phiêu du từ đầm lúa qua đầm nước lợ (chương 26). Một khoảng cách di chuyển thêm, Cá Chép Hồng lại tích lũy thêm được “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, đoàn kết hơn để thêm bạn bớt thù. Kết quả mỹ mãn nhất với Cá Chép Hồng và loài cá là càng đi càng có cơ hội khám phá thiên nhiên kỳ thú (từ chương 31). Mỗi chặng phiêu du của Cá Chép Hồng và đồng loại là giúp nó tri nhận quy luật: Không phải loài thông minh, không phải kẻ mạnh, mà kẻ nào thích nghi nhanh, kẻ đó sẽ tồn tại và phát triển; ai chậm trễ và trì trệ sẽ nhận thất bại.

Nhưng Cá Chép Hồng, bản thân nó không vượt thoát được tấm xiêm áo dù đẹp nhưng bó hẹp tầm nhìn nếu không có chuyến vượt vũ môn, hóa rồng, cùng với Chép Đực như là song kiếm hợp bích, hơn thế một cặp đôi hoàn hảo. Trong tình huống của truyện đồng thoại này, với nhân vật Cá Chép Hồng là “giấc mơ vượt đê” (từ chương 37). Vì theo bậc “tiền bối’ là bác Cá Măng thì “Bác đã bơi sang đó nhiều lần rồi. Ở bên rừng nước mặn có rất nhiều điều lý thú đó, mang tiếng là rừng nước mặn nhưng nước bên đó lên xuống điều hòa vì vậy độ mặn của nước cũng chỉ bằng ở bên này thôi các cháu ạ. Nếu các cháu muốn chu du chinh phục rừng nước mặn thì bác sẽ mở lối đưa đường nhé. Các cháu cứ yên tâm đi với bác”. Kể từ đó, cá  Chép Hồng và đồng loại cùng chung cái tâm tưởng “hướng tới rừng nước mặn”, “chinh phục rừng nước mặn”, tìm ra “lợi ích của rừng ngập mặn”. Từ đây Cá Chép Hồng có thêm người bạn đường tin tưởng, cùng chí hướng là Chép Đực.

Cái kết của truyện đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng tương thích với tư duy hình tượng của folklore: “Đúng lúc đó, vòng xoáy trôn ốc tích tụ đầy năng lượng thò sâu xuống mặt hồ, hút trọn nguồn năng lượng tuyệt đối của đôi chép hóa rồng. Một tiếng nổ “Bùng! Bùng!”, vang trời, tiếng thần sấm dội xuống, đưa Chép Hồng và Chép Đực bay vút lên thiên đình với nguồn năng lượng đỉnh cao, mang theo những tinh túy thuần khiết nhất của trời và đất, ghi dấu một ấn tượng tuyệt vời về câu chuyện Chép Hồng. Và từ đó, trong nhân gian vẫn lưu truyền câu chuyện cá chép hóa rồng đưa Táo Quân lên báo cáo Ngọc Hoàng”.

Một thông điệp về nhân sinh, hòa bình, hữu nghị

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là hình ảnh tái tạo một thế giới khả nhiên, vừa tĩnh vừa động, một dòng chảy thao thiết bất tận phù hợp với quy luật thuận thiên (hợp lẽ trời, hợp tự nhiên), không có sự can thiệp của ý chí luận. Trong con mắt của các nhà hiện thực cổ điển thì cuộc sống đã đến mức “mốc lên, gỉ ra, mòn đi” (Sống mòn – Nam Cao). Nhưng trong con mắt của các nhà tân hiện thực, tân cổ điển thì thế giới mang tính “mở”. Vì thế, văn học thời đại cũng là văn học của thế kỷ mở. Với văn học đương đại Việt Nam, có thể nói, tính mở hằn sâu vào sự chuyển dịch góc nhìn, góc trần thuật tạo nên diễn ngôn mới. đa chiều, đa dạng, đa phong cách, đa  trào lưu và khuynh hướng sáng tác theo lối “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”.

 Tinh thần cộng sinh, nghiệm sinh, hiện sinh (cùng tồn tại và chung sống hòa bình) của các sự vật (thế giới động vật, thực vật) là cách thức tồn tại lấy đối thoại thay cho đối đầu, chung sống hòa bình thay cho chiến tranh hủy diệt chính là triết lý trường tồn mới. Thế giới mở đòi hỏi tương thích một thế hệ mới dám dấn thân, chấp nhận, xả thân qua những trải nghiệm đủ các cung bậc.

Với thế hệ này, ý thức về tự nhiên hài hòa với ý thức về xã hội, tránh cực đoan. Tinh thần thích nghi với hoàn cảnh là một chỉ dấu đánh giá năng lực thực tiễn của mỗi cá nhân. Một thế hệ có tư duy viễn kiến trong một thế giới tranh đấu giữa kỹ trị và tâm linh, giữa cái tôi và cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại. Cá chép vượt vũ môn, hóa rồng dù hiển thị trong tâm thức dân gian hay suy tư triết học hiện đại đều hướng tới xây dựng nhân vật lý tưởng – những “con người khổng lồ” kiểu thời đại Phục hưng theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác.

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là biểu tượng của một cuộc ra đi tìm kiếm sự sống và chân lý bằng cả lý trí anh minh và tình cảm sâu sắc để thực hiện thành công quá trình đổi mới, khi một thế hệ trẻ khỏe, thông minh và sáng tạo đã sẵn sàng lên đường chinh phục thế giới mới. Tác phẩm khoác bộ xiêm áo “đồng thoại” non tơ và cổ điển “viết cho thiếu nhi” nhưng độ bền, độ đẹp, độ hữu dụng mang tính đại chúng, đặng có thể dành cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ và khác nhau về sở thích đọc sách văn học. Riêng tôi, tràn đầy hy vọng về Cuộc phiêu du của Chép Hồng sẽ thuộc loại sách hay và đồng thời là “best-seller”.



Nguồn: Arttimes.vn