Home Blog Page 14

Hệ thống MTTQ Việt Nam chung sức, đồng lòng cùng Đảng, Nhà nước xây dựng đất nước Việt Nam phát triển hùng cường trong kỷ nguyên mới


(Mặt trận) – Tại phiên khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 sáng ngày 12/5, thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội, bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã trình bày tóm tắt dự thảo Báo cáo chính trị của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X trình Đại hội.

Hệ thống MTTQ Việt Nam chung sức, đồng lòng cùng Đảng, Nhà nước xây dựng đất nước Việt Nam phát triển hùng cường trong kỷ nguyên mới - 1

Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã trình bày tóm tắt dự thảo Báo cáo chính trị của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X trình Đại hội.

Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga nhấn mạnh, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 là sự kiện có ý nghĩa chính trị – xã hội quan trọng, thể hiện cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới, diễn ra ngay sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Đại hội là dấu mốc lịch sử của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với vị thế, tầm vóc và chặng đường phát triển mới sau khi hoàn thành chủ trương sắp xếp tinh gọn tổ chức, bộ máy.

Đề cập tới tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga nêu rõ, sau 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ta không ngừng được nâng cao, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, phát huy. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, đóng vai trò chủ thể, nòng cốt trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước.

Các giai cấp, tầng lớp nhân dân vui mừng, phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 14 với quyết tâm chính trị mạnh mẽ về phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật được ban hành, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Bên cạnh đó, Nhân dân mong muốn Đảng, Nhà nước tiếp tục có các quyết sách đột phá để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Những điểm nhấn nổi bật trong giai đoạn 2024-2026

Điểm lại những kết quả nổi bật trong thực hiện chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2024 – 2026, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký nhấn mạnh tới 6 nội dung nổi bật:

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp Nhân dân được đẩy mạnh với nhiều điểm mới: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tập trung tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân đồng thuận thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng và Nhà nước.

Chú trọng nâng cao chất lượng công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tập hợp ý kiến Nhân dân với nhiều cách làm mới như: vận hành “Hệ thống tiếp nhận, phản hồi ý kiến cử tri”, phần mềm quản lý công tác giám sát, phản biện xã hội và tổng hợp ý kiến cử tri và Nhân dân trên nền tảng “Mặt trận số”; Phần mềm quản lý công tác giám sát, phản biện xã hội và tổng hợp ý kiến cử tri và Nhân dân.

Chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức đánh giá sự hài lòng của người dân đối với hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị… Công tác vận động, đoàn kết đồng bào các dân tộc, các tôn giáo tiếp tục được tăng cường, đổi mới về nội dung, nâng cao về chất lượng.

Thứ hai, chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội, thực hiện dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị được nâng cao, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò hạt nhân của MTTQ trong phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tổ chức gần 62 nghìn hội nghị, tổng hợp trên 51 triệu ý kiến đóng góp sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013; tổng hợp gần 530 nghìn ý kiến góp ý xây dựng văn kiện Đại hội đảng các cấp và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng; chủ động, trách nhiệm tham gia vào cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 16 và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031, góp phần vào thành công của sự kiện chính trị trọng đại – “Ngày hội non sông” của đất nước.

Công tác giám sát, phản biện xã hội được triển khai đồng bộ, nền nếp trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội với trên 2.300 cuộc giám sát, trên 1.300 hội nghị phản biện, tham gia góp ý trên 7.800 đề án, chương trình phát triển kinh tế, xã hội. Duy trì và nhân rộng các mô hình về giám sát cán bộ, đảng viên, giám sát đầu tư cộng đồng, giám sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Thứ ba, động viên các tầng lớp nhân dân thi đua, sáng tạo, thực hiện hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động với nhiều dấu ấn đậm nét trong xã hội, góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước và sức mạnh cộng đồng. Nổi bật là, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị, nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Đặc biệt, hưởng ứng phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025”, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã có nhiều nỗ lực, góp phần cùng Chính phủ, các cấp, các ngành xóa trên 300 nghìn căn nhà tạm, nhà dột nát, huy động trên 24.700 tỉ đồng, hơn 2,7 triệu ngày công và về đích sớm so với mục tiêu đề ra.

Phát huy tinh thần tương thân – tương ái “Tình dân tộc – nghĩa đồng bào”, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên cũng đã huy động hàng trăm tỷ đồng trong các tầng lớp nhân dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài để xây dựng nhà đại đoàn kết, ủng hộ người nghèo, cứu trợ thiên tai, bão lũ, thực hiện an sinh xã hội đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch, lan tỏa giá trị nhân văn, tạo niềm tin của xã hội trong chung tay giúp đỡ cộng đồng.

Thứ tư, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của Nhân dân, xây dựng khu dân cư đoàn kết, ấm no, hạnh phúc: thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; tiếp tục duy trì, nhân rộng hiệu quả các mô hình tự quản, huy động sự tham gia tự giác của người dân tại khu dân cư.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư được tiếp tục được triển khai rộng rãi, tạo sức lan tỏa trên phạm vi cả nước; là cầu nối quan trọng giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, đồng thời là dịp tuyên truyền, giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, gắn kết cộng đồng. Đặc biệt, lần đầu tiên Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức trong cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản, đây là dịp để củng cố sức mạnh và quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Thứ năm, thực hiện đa dạng các hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế và nâng cao hiệu quả đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài, tiêu biểu như: Phối hợp tổ chức Hội nghị Chủ tịch Mặt trận 3 nước Campuchia – Lào – Việt Nam lần thứ 5; Giao lưu hữu nghị giữa Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam với Chính hiệp Toàn quốc Trung Quốc; tổ chức tổng kết và ký kết thỏa thuận hợp tác với Hiệp hội Nhân dân Singapore và Phòng Xã hội Liên bang Nga. Các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cũng đã tổ chức hiệu quả các hoạt động giao lưu nhân dân, đóng góp vào thành công trong hoạt động đối ngoại song phương của Đảng, ngoại giao của Nhà nước.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên ở các địa bàn biên giới đã tổ chức triển khai các biên bản ghi nhớ; tích cực vận động Nhân dân tham gia xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác cùng phát triển.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của các vị Ủy viên là người Việt Nam ở nước ngoài, các cá nhân có uy tín trong tập hợp, đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại, góp phần mở rộng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ sáu, đổi mới mạnh mẽ tổ chức bộ máy, nội dung phương thức hoạt động; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp: Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã chủ động triển khai, sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và mô hình tổ chức mới; chú trọng phát huy vai trò của các Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các hội đồng tư vấn, ban tư vấn, tổ tư vấn; nâng cao vai trò, trách nhiệm chủ trì của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trách nhiệm phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên cùng cấp trong đổi mới phương thức phối hợp hành động, vừa bảo đảm tính chất liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện; vừa phát huy vai trò độc lập theo Điều lệ của các tổ chức thành viên.

Theo Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga, để đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện nêu trên, trong quá trình triển khai nhiệm vụ, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sắc của Đảng, nhất là việc kịp thời ban hành các chủ trương đối với công tác Mặt trận; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Nhà nước và các cấp chính quyền; sự chủ động, sáng tạo và tích cực của các tổ chức thành viên; sự nỗ lực, tâm huyết, trách nhiệm, sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận các cấp; sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước, cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp…

Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động trong giai đoạn 2024 – 2026, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm:

Một là, phải bám sát sự lãnh đạo của Đảng, kịp thời cụ thể hóa, chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện.

Hai là, quan điểm “Dân là gốc” phải được cụ thể hóa trong các nội dung hiệp thương thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lấy sự ủng hộ, đồng thuận của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác Mặt trận.

Ba là, hoạt động phối hợp với chính quyền các cấp và các tổ chức thành viên phải đi vào thực chất nhằm phát huy sức mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Bốn là, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ trì của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và trách nhiệm chủ động phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Năm là, thường xuyên củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ Ủy viên Ủy ban MTTQ các cấp, chủ động thích ứng để hoàn thiện tổ chức, bộ máy, đảm bảo hoạt động chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Phát huy phải đi đôi với chăm lo đội ngũ các chuyên gia, nhà khoa học, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, trong các tôn giáo để cùng đóng góp công sức, trí tuệ cho công tác mặt trận tổ quốc.

Hệ thống MTTQ Việt Nam chung sức, đồng lòng cùng Đảng, Nhà nước xây dựng đất nước Việt Nam phát triển hùng cường trong kỷ nguyên mới - 2

Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã trình bày tóm tắt dự thảo Báo cáo chính trị của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X trình Đại hội. 

15 chỉ tiêu cụ thể, 3 nhiệm vụ đột phá và 7 chương trình hành động trong nhiệm kỳ mới

Về phương hướng, mục tiêu và chương trình hành động của Mặt trân Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga cho biết, Đại hội đề ra phương hướng nhằm tăng cường vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh nội sinh, khát vọng phát triển đất nước; thúc đẩy thi đua học tập, lao động sáng tạo. Tiếp tục đổi mới toàn diện về tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thực chất, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, đồng hành cùng Nhân dân. Tăng cường vai trò chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sự phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên. Thực hành dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động của Mặt trận.

Đại hội cũng đề ra mục tiêu chung và 15 chỉ tiêu cụ thể có tính định lượng cao cùng 3 nhiệm vụ đột phá: (1) Hoàn thiện cơ chế; đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; (2) Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội theo hướng chủ động, từ sớm, từ xa; (3) Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận chuyên nghiệp, tâm huyết, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Kế thừa và phát huy những kết quả đạt được, Đại hội đã đề ra 7 chương trình hành động nhiệm kỳ 2026 – 2031

Chương trình 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Xây dựng Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Đổi mới công tác tuyên truyền, tập hợp, vận động các tầng lớp Nhân dân; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển nền tảng Mặt trận số, tiếp nhận – phản hồi kiến nghị của người dân và triển khai việc đánh giá độc lập Bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh.

Chương trình 2: Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội, thực hiện dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị

Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội ngay từ khâu xây dựng, triển khai chính sách; xây dựng cơ chế theo dõi đến cùng việc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phối hợp tổ chức đối thoại trực tiếp giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân.

Chương trình 3: Động viên các tầng lớp nhân dân thi đua học tập, lao động, sáng tạo, tham gia phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, chăm lo đời sống Nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Đổi mới mạnh mẽ việc xây dựng, phát động các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động theo hướng thực chất, dựa trên dữ liệu, số liệu và sự hài lòng của Nhân dân

Chương trình 4: Tham gia phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tập trung triển khai Đề án chuyển đổi số Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn dân, nhất là Phong trào “Bình dân học vụ số”.

Chương trình 5: Phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của nhân dân, xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc: Trong đó sẽ sớm cụ thể hóa danh mục mô hình tự quản phù hợp thực tế phong phú ở cơ sở, gắn với trách nhiệm và tiêu chí thi đua. Mặt trận Tổ quốc sẽ phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng thí điểm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa ở các địa phương trong cả nước.

Chương trình 6: Thực hiện hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, hợp tác quốc tế

Chương trình 7: Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; hoàn thiện, vận hành tổ chức bộ máy chuyên trách tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ: Tăng cường hiệp thương dân chủ, phối hợp thống nhất hành động và vai trò, trách nhiệm chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”. Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội các cấp.

Thực hiện kỷ cương, minh bạch trong quá trình thực thi, thi đua thiết thực, kiểm tra đến cùng. Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể phải giữ “3 gần”: Gần dân – gần cơ sở – gần không gian số; “5 phải”: Phải lắng nghe – phải đối thoại – phải làm mẫu – phải chịu trách nhiệm – phải báo cáo kết quả; “4 không”: Không hình thức – không né tránh – không đùn đẩy – không làm sai chức năng.

“Với tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội kêu gọi đồng bào ta ở trong nước cũng như ở nước ngoài tiếp tục nhân lên những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam, đó chính là truyền thống đoàn kết, khát vọng dân tộc, ý chí tự chủ, tự cường, đồng lòng cùng Đảng, Nhà nước xây dựng đất nước Việt Nam phát triển hùng cường trong kỷ nguyên mới.”, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga nhấn mạnh.

mattran.org.vn




Nguồn: Arttimes.vn

Ford chốt lịch ra mắt dòng xe F-150 bản nâng cấp mới


Hãng xe Ford vừa chốt lịch ra mắt dòng xe F-150 thế hệ mới vào năm 2029.

Trong nỗ lực làm mới toàn diện danh mục sản phẩm, Ford vừa chính thức xác nhận “át chủ bài” F-150 thế hệ tiếp theo sẽ trình làng vào năm 2029, đi kèm với đó là sự xuất hiện của dòng Super Duty hoàn toàn mới. Nhằm hiện thực hóa kế hoạch thay máu dải sản phẩm, Ford đã thành lập bộ phận “Sáng tạo và Công nghiệp hóa Sản phẩm” mới.

Đây là cơ quan nòng cốt hỗ trợ chiến dịch làm mới 80% danh mục xe tại thị trường Bắc Mỹ tính theo doanh số từ nay đến năm 2029. Đáng chú ý, bên cạnh những dòng xe động cơ đốt trong truyền thống, hãng cũng sẽ giới thiệu một mẫu xe tải điện cỡ trung mới phát triển trên nền tảng xe điện vạn năng (Universal EV platform) của Blue Oval.

Ford chốt lịch ra mắt dòng xe F-150 bản nâng cấp mới - 1

Mẫu xe Ford F-150 thế hệ thứ 15 sẽ có nhiều thay đổi. (Ảnh minh họa)

Thực tế, kế hoạch ra mắt F-150 thế hệ thứ 15 đã có nhiều biến động. Các báo cáo vào đầu năm 2025 từng kỳ vọng mẫu xe này sẽ đi vào sản xuất từ năm 2027, tuy nhiên Ford đã phải điều chỉnh thời điểm sang năm 2028. Với thông báo mới nhất, thời điểm xe chính thức lăn bánh đến tay khách hàng vào năm 2029 được xem là khớp với các tin đồn về việc trì hoãn trước đó.

Hiện tại, thế hệ thứ 14 của F-150 đã có mặt trên thị trường từ năm 2020, trong khi dòng Super Duty “trẻ” hơn một chút khi vừa ra mắt vào năm 2023. Tuy nhiên, phân khúc xe bán tải đang trở nên nóng hơn bao giờ hết khi các đối thủ không hề đứng yên.

F-150 vẫn là “con gà đẻ trứng vàng” và đóng vai trò sống còn đối với Ford. Dù hiện tại mẫu xe này vẫn duy trì được sức cạnh tranh tốt, nhưng áp lực đang đè nặng khi Chevrolet dự kiến tung ra Silverado 1500 thế hệ mới ngay trong năm nay. 

Việc phải đối đầu với một đối thủ mới tinh trong khi bản thân đang bước vào cuối vòng đời khiến sự xuất hiện của F-150 thế hệ thứ 15 trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.



Nguồn: Arttimes.vn

Phiếm luận về thơ và nhà thơ


Sự tráo trở của thơ

Marcel Reich Ranicki (1920 – 2013), nhà phê bình văn học người Đức gốc Ba Lan, người được ca ngợi là “Giáo hoàng của văn chương Đức”, sinh thời từng tỏ một thái độ đầy cảnh giác với thơ. Ông nhận định rằng, nói chung, thơ là thứ tráo trở nhất trong các thể loại của văn chương. Nghĩa là, thơ tráo trở hơn truyện ngắn, tráo trở hơn tiểu thuyết, tráo trở hơn bi kịch và hài kịch, tráo trở hơn các loại ký và tiểu luận. Tráo trở hơn tất thảy.

Ranicki không nói rõ sự tráo trở ở đây mang nghĩa cụ thể như thế nào? Và tại sao lại là thơ chứ không phải bất kỳ thể loại nào khác? Nhưng xét ở vị trí hành nghề của ông, một nhà phê bình văn học, hiểu đơn giản là người tiếp nhận và diễn giải các văn bản nghệ thuật ngôn từ, thì sự tráo trở mà Ranicki đề cập, có thể là bởi cái phẩm tính mông lung hoặc trơn chuội, khó nắm bắt, khó định dạng và định giá của các tác phẩm được gọi là thơ. Thơ giống như vốc cát trong bàn tay nhà phê bình, phần giữ lại được thì ít, phần tuột ra khỏi các kẽ tay thì nhiều. Hoặc giả nó như bóng ma, tưởng đã tóm được nó ở đây, thì sau đó nó lại xuất hiện ở kia, với một hình thù khác, và đang lớn tiếng cười nhạo những nỗ lực trước đó của nhà phê bình.

Phiếm luận về thơ và nhà thơ - 1

Nhà phê bình Marcel Reich Ranicki.

Và nếu vậy, chắc hẳn nhiều nhà phê bình sẽ chia sẻ được với thái độ của Marcel Reich Ranicki về sự tráo trở của thơ. Rằng thật ra, phê bình thơ là một công việc cực kỳ xương xẩu, bất kể đó là một tập thơ hoặc một bài thơ. Tất cả đều hiện lên trên bề mặt câu chữ, nhưng dường như vẫn có một “cái gì đó” ở bài thơ hoặc tập thơ cứ thoát ra ngoài, lẩn đi, cưỡng chống mọi cố gắng truy đuổi của nhà phê bình. Ấy là chưa kể, các nhà phê bình, bằng hướng tiếp cận, công cụ, quan điểm và cá tính phê bình khác nhau, lại đọc thơ theo các cách khác nhau và có thể cho ra những kết quả cũng rất khác nhau. Lịch sử của việc đọc thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, ở thời điểm năm 1948, trong Hội nghị văn nghệ Việt Bắc, và lịch sử của việc đọc thơ Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao trong những năm cuối thập niên 1950, nếu so với sau này, thì quả là một đất một trời. Trước, chúng là thứ bí hiểm tắc tỵ, chỉ đáng vứt đi. Sau, chúng là những đặc phẩm thơ được tắm trong ánh sáng của chủ nghĩa hiện đại, rất hiện đại và đầy tinh thần khai mở.

Nhưng những ví dụ mà tôi đưa ra để nói về sự tráo trở của thơ, oái oăm thay, lại là thơ của những “đấng, bậc” đích thực trên thi đàn Việt Nam thế kỷ XX. Dù có cố tình vùi dập thơ của họ, vì những lý do này hay khác, hoặc đơn giản chỉ là thấy không hợp, không thích, thì người ta vẫn cứ phải “kiềng” họ, thậm chí vẫn ngấm ngầm công nhận họ là những tài năng. Cho nên, trong trường hợp này, cái gọi là sự tráo trở của thơ thực chất lại là sự tráo trở của những người đọc thơ. 

Thật ra gọi nó là thơ hay là gì đấy không phải thơ, không hề là điều quan trọng. Miễn nó phải là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ, ít nhất ở mức “sạch nước cản”. Nhưng trong nhiều trường hợp, gọi là thơ lại chỉ thuần là những văn bản mang ý hướng tuyên truyền rõ rệt, đơn nghĩa, thể hiện một năng lực huy động, sử dụng tiếng Việt khá nghèo nàn và còn xa mới có thể nói được gì đó về “nghệ thuật ngôn từ” của nó. Cũng chẳng sao. Trong thi quốc này, không ai cấm ai cái quyền được làm thơ, cũng chẳng ai bắt buộc mỗi người làm thơ dứt khoát phải trở thành một “thi sĩ của non sông”. Ai thích làm thơ thì cứ việc làm thơ, như một sự bộc bạch với chính mình. Nhưng cái mà người ta, tôi muốn nói đến các tờ báo có trang văn hóa văn nghệ, ít nhất cũng phải đưa lên thành nguyên tắc: không in thơ chưa “sạch nước cản”, không nương tay, và càng không tìm mọi cách chiều nịnh để biến cát thành vàng.

Tất nhiên là khó. Càng khó hơn cho các biên tập viên và cho chính ông Tổng biên tập tờ báo một khi tác giả những bài (gọi là) thơ ấy có lời gửi gắm. Nhưng vẫn buộc phải tìm cách mà thực hiện nguyên tắc thôi. Vì nó là đạo đức báo chí và là lương tri cần cho thơ. Nếu không, sự tráo trở của thơ chưa thấy đâu thì đã thấy sự tráo trở của những người đăng thơ.

Nhà thơ thì chơi với ai?

Nhà văn “cao bồi già phố cổ” Nguyễn Việt Hà từng xuất bản một tập tản văn có tên Nhà văn thì chơi với ai?, cách nay chừng trên dưới mười năm thì phải. Đọc đã lâu nên tôi không nhớ trong sách ấy Nguyễn Việt Hà trả lời câu hỏi chủ đề này như thế nào? Nhưng từ việc chợt nhớ ra nó, tôi lại có một câu hỏi cho riêng mình: nhà thơ thì chơi với ai? Từ sự quan sát, ghi nhận đời sống văn chương cũng như từ sự đọc cho riêng mình, tôi có thể có câu trả lời ngay lập tức mà không sợ sai: đã/ hễ nhà thơ thì chơi với ai cũng được, bất kể.

Phiếm luận về thơ và nhà thơ - 2

Ảnh minh họa.

Nhà thơ thì đương nhiên chơi với nhà thơ, và với nhà văn, nếu chúng ta vẫn muốn phân biệt “thơ” và “văn” như hai phương thức biểu hiện khác nhau của sáng tạo văn chương. Khác nhau nhưng vẫn chung nhau một kiểu lời nói “quái gở” (như học giả Phan Ngọc từng nhận định. Đại khái là vì lời nói trong các tác phẩm thơ, văn khác với lời nói ngoài đời, ngoài đời chẳng mấy ai ăn nói đối đáp theo những cấu trúc ngôn ngữ “bị vặn xoắn” như vậy cả). Từ cái sự chơi với nhau của nhà thơ với nhà thơ hoặc của nhà thơ với nhà văn, chơi đến mức hiểu thấu lòng nhau, có thể khóc hoặc cười thay cho nhau mặc sự chênh lệch tuổi tác, nhiều tình bạn văn chương đã được khắc tạc vào thiên thu và trở thành huyền thoại. Như khi Trần Huyền Trân viết bài Uống rượu với Tản Đà: “Cụ hâm rượu nữa đi thôi/ Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau/ Rót đau lòng ấy vào đau lòng này…”

Nhà thơ cũng có thể chơi với các nghệ sĩ thuộc giới âm nhạc, các nghệ sĩ sân khấu, các nghệ sĩ điện ảnh, các họa sĩ, các điêu khắc gia, các kiến trúc sư, các nghệ sĩ nhiếp ảnh v.v… tóm lại là những người sáng tạo nghệ thuật nói chung, kiểu người cả đời bị chứng “săn bắt con nghệ thuật” nó hành hạ, đôi khi là bị hành hạ đến mức thê thảm. Có lẽ, đó là do cái lý “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Khi con chim hót, thậm chí khi con chim chẳng cần hót, thì những tần số âm thanh cất tiếng và không cất tiếng đã giao nhau như một tín hiệu gọi bầy.

Nhà thơ cũng có thể chơi với tất cả những ai ngoài “nghệ giới”, tức là tất cả nhân quần xã hội. Như nhà thơ, chiến sĩ cộng sản Tố Hữu đã náo nức tuyên ngôn trong bài thơ “Từ ấy”: “Tôi đã là con của vạn nhà/ Là em của vạn kiếp phôi pha/ Là anh của vạn đầu em nhỏ/ Không áo cơm, cù bất cù bơ…”

Thấp xuống nữa, đến cực hạn của độ thấp, nhà thơ có thể chơi với kỹ nữ/ gái làng chơi. Một ví dụ khá ít người biết, là Liễu Vĩnh, nhà thơ Trung Quốc thời Bắc Tống. Liễu Vĩnh đỗ tiến sĩ, làm quan một thời gian ngắn thì bỏ quan trường vào sống trong lầu xanh, ăn cơm kỹ nữ để viết những từ khúc đưa tên tuổi ông nhập hạng đại từ gia của văn chương Trung Quốc cổ điển. Lúc Liễu Vĩnh mất, các kỹ nữ còn góp tiền để chôn cất và làm lễ truy điệu cho ông. Nói chung, cái giao tình giữa nhà thơ với kỹ nữ/ gái làng chơi là một sự thực rất phổ biến trong đời. Còn trong văn chương tự cổ chí kim, như một sự biểu hiện và được biểu hiện, nó đáng để người ta bỏ sức ra nghiên cứu, làm vài chục luận văn tiến sĩ cũng chưa hết việc.

Còn cao hơn nữa, đến cực hạn của độ cao, nhà thơ có thể chơi với nhà giàu và quan chức. Sẽ là điều bình thường, bởi thực tế là có không ít nhà giàu hoặc quan chức cũng chính là những thi sĩ đích thực, như Hàn Dũ, một trong bát đại gia thời Đường Tống của Trung Quốc, hay như Alexander Pushkin, mặt trời của thi ca Nga. Nhưng sẽ là điều không bình thường nữa, nếu nhà giàu chỉ là nhà giàu và quan chức chỉ là quan chức. Khi ấy, việc nhà thơ có giao tình thân hữu với họ – nhà giàu và quan chức – rất dễ bị người đời xem là biểu hiện của một sự kém cỏi về nhân cách: thói nịnh bợ hoặc tính vụ lợi, hoặc cả hai. Không phải là không có những chuyện này, cũng như ở chiều ngược lại, không phải là không có nhiều nhà giàu và quan chức chơi với nhà thơ chỉ để tỏ ra có tinh thần “yêu văn nghệ” mà thôi, không hơn. Tuy nhiên cần phải kể đến một thực tế là người ta có cả trăm lý do để chơi với nhau một cách thành thực, thành bạn tâm giao của nhau, ngoài những lý do thơ, nghệ thuật, tiền bạc và quyền lực. Nhưng mấy ai để tâm khi đang trong cơn say xỉ vả? “Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”, lời bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dường như là một sự thấm tận đáy nỗi đời cay nghiệt…

Sở dĩ cái sự “chơi với ai” của nhà thơ trở nên nhiêu khê như thế, là vì, có thể dùng như một trùng ngôn với câu của nhà thơ Nga Evgeny Evtushenko: “Ở Việt Nam, là một nhà thơ thì còn hơn cả một nhà thơ”.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Phiếm luận về thơ và nhà thơ


Sự tráo trở của thơ

Marcel Reich Ranicki (1920 – 2013), nhà phê bình văn học người Đức gốc Ba Lan, người được ca ngợi là “Giáo hoàng của văn chương Đức”, sinh thời từng tỏ một thái độ đầy cảnh giác với thơ. Ông nhận định rằng, nói chung, thơ là thứ tráo trở nhất trong các thể loại của văn chương. Nghĩa là, thơ tráo trở hơn truyện ngắn, tráo trở hơn tiểu thuyết, tráo trở hơn bi kịch và hài kịch, tráo trở hơn các loại ký và tiểu luận. Tráo trở hơn tất thảy.

Ranicki không nói rõ sự tráo trở ở đây mang nghĩa cụ thể như thế nào? Và tại sao lại là thơ chứ không phải bất kỳ thể loại nào khác? Nhưng xét ở vị trí hành nghề của ông, một nhà phê bình văn học, hiểu đơn giản là người tiếp nhận và diễn giải các văn bản nghệ thuật ngôn từ, thì sự tráo trở mà Ranicki đề cập, có thể là bởi cái phẩm tính mông lung hoặc trơn chuội, khó nắm bắt, khó định dạng và định giá của các tác phẩm được gọi là thơ. Thơ giống như vốc cát trong bàn tay nhà phê bình, phần giữ lại được thì ít, phần tuột ra khỏi các kẽ tay thì nhiều. Hoặc giả nó như bóng ma, tưởng đã tóm được nó ở đây, thì sau đó nó lại xuất hiện ở kia, với một hình thù khác, và đang lớn tiếng cười nhạo những nỗ lực trước đó của nhà phê bình.

Phiếm luận về thơ và nhà thơ - 1

Nhà phê bình Marcel Reich Ranicki.

Và nếu vậy, chắc hẳn nhiều nhà phê bình sẽ chia sẻ được với thái độ của Marcel Reich Ranicki về sự tráo trở của thơ. Rằng thật ra, phê bình thơ là một công việc cực kỳ xương xẩu, bất kể đó là một tập thơ hoặc một bài thơ. Tất cả đều hiện lên trên bề mặt câu chữ, nhưng dường như vẫn có một “cái gì đó” ở bài thơ hoặc tập thơ cứ thoát ra ngoài, lẩn đi, cưỡng chống mọi cố gắng truy đuổi của nhà phê bình. Ấy là chưa kể, các nhà phê bình, bằng hướng tiếp cận, công cụ, quan điểm và cá tính phê bình khác nhau, lại đọc thơ theo các cách khác nhau và có thể cho ra những kết quả cũng rất khác nhau. Lịch sử của việc đọc thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, ở thời điểm năm 1948, trong Hội nghị văn nghệ Việt Bắc, và lịch sử của việc đọc thơ Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao trong những năm cuối thập niên 1950, nếu so với sau này, thì quả là một đất một trời. Trước, chúng là thứ bí hiểm tắc tỵ, chỉ đáng vứt đi. Sau, chúng là những đặc phẩm thơ được tắm trong ánh sáng của chủ nghĩa hiện đại, rất hiện đại và đầy tinh thần khai mở.

Nhưng những ví dụ mà tôi đưa ra để nói về sự tráo trở của thơ, oái oăm thay, lại là thơ của những “đấng, bậc” đích thực trên thi đàn Việt Nam thế kỷ XX. Dù có cố tình vùi dập thơ của họ, vì những lý do này hay khác, hoặc đơn giản chỉ là thấy không hợp, không thích, thì người ta vẫn cứ phải “kiềng” họ, thậm chí vẫn ngấm ngầm công nhận họ là những tài năng. Cho nên, trong trường hợp này, cái gọi là sự tráo trở của thơ thực chất lại là sự tráo trở của những người đọc thơ. 

Thật ra gọi nó là thơ hay là gì đấy không phải thơ, không hề là điều quan trọng. Miễn nó phải là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ, ít nhất ở mức “sạch nước cản”. Nhưng trong nhiều trường hợp, gọi là thơ lại chỉ thuần là những văn bản mang ý hướng tuyên truyền rõ rệt, đơn nghĩa, thể hiện một năng lực huy động, sử dụng tiếng Việt khá nghèo nàn và còn xa mới có thể nói được gì đó về “nghệ thuật ngôn từ” của nó. Cũng chẳng sao. Trong thi quốc này, không ai cấm ai cái quyền được làm thơ, cũng chẳng ai bắt buộc mỗi người làm thơ dứt khoát phải trở thành một “thi sĩ của non sông”. Ai thích làm thơ thì cứ việc làm thơ, như một sự bộc bạch với chính mình. Nhưng cái mà người ta, tôi muốn nói đến các tờ báo có trang văn hóa văn nghệ, ít nhất cũng phải đưa lên thành nguyên tắc: không in thơ chưa “sạch nước cản”, không nương tay, và càng không tìm mọi cách chiều nịnh để biến cát thành vàng.

Tất nhiên là khó. Càng khó hơn cho các biên tập viên và cho chính ông Tổng biên tập tờ báo một khi tác giả những bài (gọi là) thơ ấy có lời gửi gắm. Nhưng vẫn buộc phải tìm cách mà thực hiện nguyên tắc thôi. Vì nó là đạo đức báo chí và là lương tri cần cho thơ. Nếu không, sự tráo trở của thơ chưa thấy đâu thì đã thấy sự tráo trở của những người đăng thơ.

Nhà thơ thì chơi với ai?

Nhà văn “cao bồi già phố cổ” Nguyễn Việt Hà từng xuất bản một tập tản văn có tên Nhà văn thì chơi với ai?, cách nay chừng trên dưới mười năm thì phải. Đọc đã lâu nên tôi không nhớ trong sách ấy Nguyễn Việt Hà trả lời câu hỏi chủ đề này như thế nào? Nhưng từ việc chợt nhớ ra nó, tôi lại có một câu hỏi cho riêng mình: nhà thơ thì chơi với ai? Từ sự quan sát, ghi nhận đời sống văn chương cũng như từ sự đọc cho riêng mình, tôi có thể có câu trả lời ngay lập tức mà không sợ sai: đã/ hễ nhà thơ thì chơi với ai cũng được, bất kể.

Phiếm luận về thơ và nhà thơ - 2

Ảnh minh họa.

Nhà thơ thì đương nhiên chơi với nhà thơ, và với nhà văn, nếu chúng ta vẫn muốn phân biệt “thơ” và “văn” như hai phương thức biểu hiện khác nhau của sáng tạo văn chương. Khác nhau nhưng vẫn chung nhau một kiểu lời nói “quái gở” (như học giả Phan Ngọc từng nhận định. Đại khái là vì lời nói trong các tác phẩm thơ, văn khác với lời nói ngoài đời, ngoài đời chẳng mấy ai ăn nói đối đáp theo những cấu trúc ngôn ngữ “bị vặn xoắn” như vậy cả). Từ cái sự chơi với nhau của nhà thơ với nhà thơ hoặc của nhà thơ với nhà văn, chơi đến mức hiểu thấu lòng nhau, có thể khóc hoặc cười thay cho nhau mặc sự chênh lệch tuổi tác, nhiều tình bạn văn chương đã được khắc tạc vào thiên thu và trở thành huyền thoại. Như khi Trần Huyền Trân viết bài Uống rượu với Tản Đà: “Cụ hâm rượu nữa đi thôi/ Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau/ Rót đau lòng ấy vào đau lòng này…”

Nhà thơ cũng có thể chơi với các nghệ sĩ thuộc giới âm nhạc, các nghệ sĩ sân khấu, các nghệ sĩ điện ảnh, các họa sĩ, các điêu khắc gia, các kiến trúc sư, các nghệ sĩ nhiếp ảnh v.v… tóm lại là những người sáng tạo nghệ thuật nói chung, kiểu người cả đời bị chứng “săn bắt con nghệ thuật” nó hành hạ, đôi khi là bị hành hạ đến mức thê thảm. Có lẽ, đó là do cái lý “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Khi con chim hót, thậm chí khi con chim chẳng cần hót, thì những tần số âm thanh cất tiếng và không cất tiếng đã giao nhau như một tín hiệu gọi bầy.

Nhà thơ cũng có thể chơi với tất cả những ai ngoài “nghệ giới”, tức là tất cả nhân quần xã hội. Như nhà thơ, chiến sĩ cộng sản Tố Hữu đã náo nức tuyên ngôn trong bài thơ “Từ ấy”: “Tôi đã là con của vạn nhà/ Là em của vạn kiếp phôi pha/ Là anh của vạn đầu em nhỏ/ Không áo cơm, cù bất cù bơ…”

Thấp xuống nữa, đến cực hạn của độ thấp, nhà thơ có thể chơi với kỹ nữ/ gái làng chơi. Một ví dụ khá ít người biết, là Liễu Vĩnh, nhà thơ Trung Quốc thời Bắc Tống. Liễu Vĩnh đỗ tiến sĩ, làm quan một thời gian ngắn thì bỏ quan trường vào sống trong lầu xanh, ăn cơm kỹ nữ để viết những từ khúc đưa tên tuổi ông nhập hạng đại từ gia của văn chương Trung Quốc cổ điển. Lúc Liễu Vĩnh mất, các kỹ nữ còn góp tiền để chôn cất và làm lễ truy điệu cho ông. Nói chung, cái giao tình giữa nhà thơ với kỹ nữ/ gái làng chơi là một sự thực rất phổ biến trong đời. Còn trong văn chương tự cổ chí kim, như một sự biểu hiện và được biểu hiện, nó đáng để người ta bỏ sức ra nghiên cứu, làm vài chục luận văn tiến sĩ cũng chưa hết việc.

Còn cao hơn nữa, đến cực hạn của độ cao, nhà thơ có thể chơi với nhà giàu và quan chức. Sẽ là điều bình thường, bởi thực tế là có không ít nhà giàu hoặc quan chức cũng chính là những thi sĩ đích thực, như Hàn Dũ, một trong bát đại gia thời Đường Tống của Trung Quốc, hay như Alexander Pushkin, mặt trời của thi ca Nga. Nhưng sẽ là điều không bình thường nữa, nếu nhà giàu chỉ là nhà giàu và quan chức chỉ là quan chức. Khi ấy, việc nhà thơ có giao tình thân hữu với họ – nhà giàu và quan chức – rất dễ bị người đời xem là biểu hiện của một sự kém cỏi về nhân cách: thói nịnh bợ hoặc tính vụ lợi, hoặc cả hai. Không phải là không có những chuyện này, cũng như ở chiều ngược lại, không phải là không có nhiều nhà giàu và quan chức chơi với nhà thơ chỉ để tỏ ra có tinh thần “yêu văn nghệ” mà thôi, không hơn. Tuy nhiên cần phải kể đến một thực tế là người ta có cả trăm lý do để chơi với nhau một cách thành thực, thành bạn tâm giao của nhau, ngoài những lý do thơ, nghệ thuật, tiền bạc và quyền lực. Nhưng mấy ai để tâm khi đang trong cơn say xỉ vả? “Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”, lời bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dường như là một sự thấm tận đáy nỗi đời cay nghiệt…

Sở dĩ cái sự “chơi với ai” của nhà thơ trở nên nhiêu khê như thế, là vì, có thể dùng như một trùng ngôn với câu của nhà thơ Nga Evgeny Evtushenko: “Ở Việt Nam, là một nhà thơ thì còn hơn cả một nhà thơ”.

Hoài Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam đề xuất xây dựng luật về giám sát và phản biện xã hội


Tại phiên thảo luận chuyên đề của Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, đại biểu đã đề xuất sớm xây dựng luật riêng về giám sát và phản biện xã hội, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng cường lắng nghe nhân dân, hoàn thiện cơ chế tiếp thu phản hồi và phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân trong bối cảnh chuyển đổi số.

Chiều 11/5, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, diễn ra các phiên thảo luận chuyên đề.

Tại Trung tâm thảo luận số 2, các đại biểu tập trung trao đổi về nội dung: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tăng cường lắng nghe nhân dân nói, làm tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân.

Đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam đề xuất xây dựng luật về giám sát và phản biện xã hội - 1

Ông Nguyễn Phi Long, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát biểu tại buổi thảo luận. Ảnh: Xuân Huy.

Phiên thảo luận do ông Nguyễn Phi Long, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và ông Lương Quốc Đoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, đồng chủ trì, với sự tham dự của đại diện 13 tổ chức thành viên.

Giám sát, phản biện phải là nhiệm vụ xuyên suốt

Phát biểu đề dẫn, ông Nguyễn Phi Long nhấn mạnh hoạt động giám sát và phản biện xã hội cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm và xuyên suốt của công tác mặt trận trong giai đoạn tới.

Ông đề nghị các đại biểu tập trung góp ý vào dự thảo báo cáo chính trị, điều lệ sửa đổi bổ sung; đánh giá kết quả công tác mặt trận giai đoạn 2024-2026; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới.

Theo ông Long, trong điều kiện chuyển đổi số mạnh mẽ, thông tin đa chiều và yêu cầu minh bạch ngày càng cao, MTTQ Việt Nam cần có giải pháp hiệu quả để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

Đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam đề xuất xây dựng luật về giám sát và phản biện xã hội - 2

Ông Nguyễn Phi Long, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và ông Lương Quốc Đoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chủ trị buổi thảo luận. Ảnh: Xuân Huy.

Ông đề nghị đại biểu góp ý về việc lựa chọn nội dung giám sát trọng tâm, hình thức giám sát phù hợp; tăng cường theo dõi việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân; đồng thời đẩy mạnh phản biện xã hội từ sớm, ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách.

“Cần có cơ chế phản hồi rõ ràng về việc tiếp thu hay không tiếp thu các ý kiến phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam”, ông Nguyễn Phi Long nói.

Ông cũng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong các lĩnh vực dân sinh như đất đai, môi trường, lao động, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, chính sách với người yếu thế và đồng bào dân tộc thiểu số.

Về chuyển đổi số, ông Long đề nghị phát huy hiệu quả các nền tảng trực tuyến, cơ sở dữ liệu và kênh tiếp nhận phản ánh của người dân theo hướng đơn giản, dễ sử dụng và dễ theo dõi, qua đó giúp người dân thấy ý kiến của mình được tiếp nhận và xử lý có trách nhiệm.

Đa dạng kênh lắng nghe người dân

Tham luận tại hội nghị, ông Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội, cho biết thời gian qua, MTTQ các cấp tại Hà Nội đã đẩy mạnh nhiều hình thức nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân như đối thoại, tiếp xúc cử tri, hội nghị đại biểu nhân dân, bữa cơm đại đoàn kết…

Cùng với đó, các kênh tiếp nhận phản ánh trực tuyến cũng được triển khai nhằm tăng khả năng tương tác với người dân.

Theo ông Tuấn, thông qua hoạt động giám sát, nhiều tồn tại, hạn chế đã được phát hiện và kiến nghị xử lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.

Đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam đề xuất xây dựng luật về giám sát và phản biện xã hội - 3

Ông Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội trình bày tại buổi thảo luận. Ảnh: Xuân Huy.

Tuy vậy, ông cũng nhìn nhận việc lắng nghe và nắm bắt ý kiến nhân dân ở một số nơi còn thiếu chủ động, chưa sâu sát; một bộ phận cán bộ chưa bám sát địa bàn; hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa đồng đều, còn dàn trải và chưa tập trung vào các vấn đề nổi cộm.

“Một số vụ việc khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết triệt để”, ông Tuấn nói.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới, ông đề xuất MTTQ và các tổ chức thành viên tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động theo hướng gần dân, sát dân; tăng cường ứng dụng công nghệ số; nâng cao năng lực cán bộ và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội.

Đề xuất xây dựng luật về giám sát, phản biện xã hội

Ông Vũ Trọng Kim, Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong Việt Nam, cho rằng Báo cáo chính trị trình Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI cần làm rõ hơn ý nghĩa chiến lược của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời nhấn mạnh vai trò của công tác dân vận khéo trong hoạt động Mặt trận.

Theo ông, báo cáo cũng cần xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của MTTQ Việt Nam cả trước mắt lẫn lâu dài; làm sâu sắc hơn vai trò, tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức thành viên, đặc biệt là các tổ chức chính trị – xã hội.

Ông Vũ Trọng Kim kiến nghị MTTQ Việt Nam chủ động đề xuất Quốc hội xây dựng luật riêng về giám sát và phản biện xã hội.

Đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam đề xuất xây dựng luật về giám sát và phản biện xã hội - 4

Ông Vũ Trọng Kim, Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong Việt Nam, nhấn mạnh cần làm rõ hơn ý nghĩa chiến lược của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ảnh: Xuân Huy.

Ông cho biết thời gian qua, MTTQ Việt Nam đang nỗ lực phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của người dân thông qua xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc. Từ thực tiễn này, Mặt trận cần tiếp tục hình thành các mô hình hiệu quả về giám sát và phản biện xã hội.

“Tại các khu dân cư kiểu mẫu về tự quản, nếu người dân được nói lên ý kiến, được thực hiện đầy đủ quyền dân chủ theo tinh thần Luật Trưng cầu ý dân và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thì dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ bắt đầu từ địa bàn dân cư”, ông nói.

PGS.TS Nguyễn Kim Hồng, Hiệu trưởng Đại học Nguyễn Tất Thành (TP.HCM), cho rằng để Mặt trận thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện và bảo vệ quyền lợi nhân dân, yếu tố quan trọng nhất là nắm bắt được thông tin từ thực tiễn đời sống.

Ông đề xuất MTTQ Việt Nam đa dạng hóa kênh tiếp nhận thông tin trong kỷ nguyên số, triển khai đồng bộ ba kênh gồm truyền thống, mạng xã hội và chuyên gia.

Đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam đề xuất xây dựng luật về giám sát và phản biện xã hội - 5

Ông Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam, cho biết giám sát và phản biện xã hội luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của MTTQ Việt Nam. Ảnh: Xuân Huy.

Theo ông Hồng, để bảo đảm dòng chảy thông tin thông suốt, Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam nên định kỳ gửi báo cáo tổng hợp dư luận xã hội hằng tuần hoặc hằng tháng cho các ủy viên qua email hoặc ứng dụng nội bộ. Nội dung cần tóm lược các vấn đề nổi bật mà người dân quan tâm để phục vụ thảo luận, phản biện.

Ông cũng cho rằng mỗi ủy viên MTTQ cần phát huy trách nhiệm trước nhân dân, chủ động phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân.

“Muốn làm được điều đó trước hết phải có một trái tim nóng. Nếu không thực sự vì dân thì rất dễ bỏ qua những phản ánh, kiến nghị từ nhỏ đến lớn”, ông nói, đồng thời đề xuất lấy việc phản ánh thông tin định kỳ làm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các ủy viên.

“Lắng nghe nhân dân không chỉ là ngồi nghe, mà phải biết chọn lọc, thấu hiểu và có phản hồi trách nhiệm. Khi làm chủ được nguồn thông tin và bảo đảm tính xác thực, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận mới thực sự hiệu quả”, ông Hồng nói.

Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam, cho biết giám sát và phản biện xã hội luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của MTTQ Việt Nam qua các kỳ đại hội.

Tuy nhiên, theo ông, vấn đề quan trọng là làm sao để các cấp chính quyền thực sự lắng nghe và tiếp thu các kiến nghị sau giám sát, phản biện, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế tư nhân.

Ông Nguyễn Văn Đệ đề nghị nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về vai trò, ý nghĩa của hoạt động giám sát và phản biện xã hội, từ đó tạo điều kiện để tiếng nói của doanh nghiệp và người dân được lắng nghe, thấu hiểu nhiều hơn.

Theo báo Dân Việt




Nguồn: Arttimes.vn

Nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa mới: Thực sự là trung tâm của khối đại đoàn kết


Đại hội XI diễn ra trong bối cảnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thay đổi về căn bản hệ thống tổ chức. Bởi vậy, Đại hội lần này sẽ ghi những dấu mốc đặc biệt. Trong đó, đề án nhân sự tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (UBTƯ MTTQ) Việt Nam khóa mới đã được lựa chọn để trình Đại hội với những đổi mới đậm nét nhằm đáp ứng yêu cầu của mô hình tổ chức, thực sự là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Điểm nhấn lớn nhất của Đại hội XI là việc đánh dấu một mô hình tổ chức mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Còn nhớ ở các kỳ đại hội trước, không ít đại biểu chia sẻ với chúng tôi về sức mạnh của Mặt trận là sức mạnh của một liên minh chính trị rằng: Đoàn thể mạnh thì Mặt trận mạnh. Như vậy ở lần này, sức mạnh của MTTQ Việt Nam đã được nâng lên gấp bội khi Mặt trận đã thực sự trở thành một mái nhà chung. Việc đưa các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ về trực thuộc Mặt trận Tổ quốc đã thể hiện một tầm nhìn mang tính chiến lược, cụ thể hóa hơn ý nghĩa của một liên minh chính trị.

Nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa mới: Thực sự là trung tâm của khối đại đoàn kết - 1

Đại hội XI MTTQ Việt Nam ghi dấu mốc đổi mới quan trọng về tổ chức và nhân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong một mô hình mới, yêu cầu về nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa mới đã có những thay đổi căn bản. Trước hết ở tính đại diện. Chưa có đại hội nào như lần này, người đứng đầu 5 đoàn thể: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Nông dân Việt Nam; Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam sẽ đồng thời là Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Hơn nữa, điểm mới cốt lõi của đề án nhân sự UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa mới nằm ở việc gia tăng mạnh mẽ số lượng các chuyên gia, trí thức và cá nhân tiêu biểu trong các thành phần kinh tế. Theo đề án nhân sự, số lượng nhân sự là ủy viên của Ủy ban không tăng so với nhiệm kỳ trước, nhưng ở một số lĩnh vực, đối tượng có tăng. Cụ thể, cơ cấu là nhân sĩ, trí thức, chuyên gia trên các lĩnh vực và một số cá nhân tiêu biểu trong các thành phần kinh tế tăng 21 người.

Nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa mới: Thực sự là trung tâm của khối đại đoàn kết - 2

Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ X. Ảnh: Quang Vinh.

Trong số này, tăng ở cơ cấu các lĩnh vực: khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, pháp luật, các tập đoàn kinh tế, văn học nghệ thuật, giáo dục, y tế và chuyên gia quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, sẽ có thêm thành phần là đại diện các thành phần kinh tế ở các địa bàn kinh tế trọng điểm, các doanh nghiệp tư nhân trực tiếp sản xuất. Đặc biệt hơn nữa, tỷ lệ người ngoài Đảng tham gia Ủy ban dự kiến đạt trên 50%.

Những con số trên hẳn là “biết nói”. Như lần đầu tiên MTTQ Việt Nam chú trọng mở rộng sự hiện diện của các đại diện từ các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp tư nhân trực tiếp sản xuất tại các địa bàn trọng điểm. Sự điều chỉnh này không chỉ nhằm nâng cao những đóng góp quan trọng trong công tác giám sát, phản biện xã hội từ sớm, từ xa mà còn giúp Mặt trận nắm bắt sát thực tế vận động của nền kinh tế, từ đó bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân một cách hiệu quả hơn trong bối cảnh mới.

Như rõ ràng tính đại diện, tính dân chủ, sự đa dạng của Mặt trận đã được khẳng định qua tỷ lệ người ngoài Đảng, một minh chứng sống động về khả năng quy tụ mọi người Việt Nam yêu nước cùng hướng tới mục tiêu chung của “mái nhà” rộng mở của mọi tầng lớp nhân dân.

Trong mô hình mới, MTTQ Việt Nam có một sức mạnh mới. Một cơ sở để xây dựng một hệ thống Mặt trận thích ứng với bối cảnh mới của đất nước đang từng ngày từng giờ hiện đại hơn, chuyển đổi số mạnh mẽ và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Điều này, đòi hỏi nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam thể hiện đúng vai trò của mình trong mô hình tổ chức mới. Đó là những đại diện tiêu biểu, có uy tín, có khả năng tham gia hiệu quả trong mô hình Mặt trận mới. Mỗi một nhân sĩ, trí thức, kiều bào, doanh nhân… tham gia vào UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI theo đề án đang được chuẩn bị cho thấy tinh thần gắn chặt vai trò đại diện với năng lực hành động, bảo đảm mỗi Ủy viên thực sự có tiếng nói và đóng góp thiết thực.

Mỗi nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa mới là những “hạt nhân” thực sự, là trung tâm của khối đại đoàn kết, nơi mà mỗi Ủy viên không chỉ đến để “có mặt”, mà là để “hiện diện” bằng trí tuệ và tiếng nói có trọng lượng.

Điểm nhấn mạnh mẽ với việc bổ sung 21 nhân sĩ, trí thức và chuyên gia đầu ngành trong bối cảnh đất nước cần sự đóng góp ý kiến, tham vấn, phản biện của các nhà khoa học về các chủ trương, chính sách thông qua tổ chức Mặt trận trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, pháp luật, quốc phòng và an ninh mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Đây sẽ là một điểm sáng của nhiệm kỳ mới giúp Mặt trận thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội “từ sớm, từ xa”. Khi những người phản biện là các chuyên gia am tường luật pháp và công nghệ, tiếng nói của Mặt trận sẽ trở thành những ý kiến đóng góp hiệu quả, đảm bảo mọi quyết sách đều vì lợi ích tối thượng của nhân dân.

Lần đầu tiên, sự hiện diện của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp tư nhân trực tiếp sản xuất được nhấn mạnh như một phần nòng cốt của UBTƯ MTTQ Việt Nam. Đây chính là thông điệp về đại đoàn kết trong thời đại mới: Đoàn kết để phát triển, đoàn kết để dân giàu nước mạnh.

Thời nào thì việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc bao giờ cũng quan trọng. Chỉ có đoàn kết mới đủ sức vượt lên trong thời kỳ đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Với một đề án nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI mang nhiều điểm mới, kỳ vọng công tác Mặt trận bước vào thời kỳ mới với những dấu ấn bứt phá, trong đó Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thực sự trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết dân tộc.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn – Ủy Viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội: Mặt trận đang chuyển động theo yêu cầu mới của đất nước

UBTƯ MTTQ Việt Nam xây dựng nhân sự tham gia Ủy ban khóa XI với 405 nhân sự, giữ ổn định về số lượng so với khóa X nhưng điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng đại diện, cho thấy một tư duy rất mới: không mở rộng hình thức, mà tập trung làm sâu sắc hơn năng lực tập hợp, kết nối và phát huy sức mạnh toàn dân tộc.

Nhân sự tham gia UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa mới: Thực sự là trung tâm của khối đại đoàn kết - 3

MTTQ Việt Nam là nơi hội tụ lòng dân, là không gian chính trị – xã hội rộng lớn để các giai tầng, dân tộc, tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân, người lao động cùng gặp nhau trong mẫu số chung là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì vậy, Ủy ban khóa mới phải thực sự trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết, không chỉ bằng cơ cấu đại diện, mà bằng năng lực lắng nghe, thấu hiểu và chuyển hóa tiếng nói của nhân dân thành đồng thuận xã hội.

Các tỷ lệ dự kiến như nữ chiếm 23,31%, người ngoài Đảng 50,62%, người dân tộc thiểu số 26,57%, tôn giáo 19,55% là những con số có ý nghĩa chính trị- xã hội sâu sắc. Đó là thông điệp về một Mặt trận rộng mở, tôn trọng sự đa dạng và phát huy mọi nguồn lực trong xã hội. Đại đoàn kết là sự thống nhất trong đa dạng; càng đa dạng mà càng gắn bó trong lợi ích quốc gia – dân tộc thì sức mạnh đoàn kết càng bền vững.

Đáng chú ý là việc tăng cơ cấu nhân sĩ, trí thức, chuyên gia, văn nghệ sĩ, nhà giáo, thầy thuốc, chuyên gia pháp luật, quốc phòng, an ninh, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, cùng đại diện các thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp tư nhân trực tiếp sản xuất ở các địa bàn kinh tế trọng điểm, cho thấy Mặt trận đang chuyển động theo yêu cầu mới của đất nước. Trong kỷ nguyên phát triển mới, đại đoàn kết không chỉ là sức mạnh tinh thần, mà còn là nguồn lực phát triển; không chỉ là vận động phong trào, mà còn là quy tụ trí tuệ, sáng tạo, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến.

UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa XI vì thế cần là “trung tâm kết nối” giữa ý Đảng, lòng dân và trí tuệ xã hội. Mỗi vị ủy viên không chỉ đại diện cho một giới, một lĩnh vực, một cộng đồng, mà còn là một nhịp cầu đưa tiếng nói nhân dân đến với Đảng, Nhà nước; đồng thời lan tỏa chủ trương, chính sách bằng sự gần gũi, thuyết phục và trách nhiệm. Khi Mặt trận tập hợp được dân, hiểu được dân và khơi dậy được sức dân, khối đại đoàn kết sẽ trở thành điểm tựa vững chắc cho sự phát triển đất nước.

Việt Hà (ghi)

“UBTƯ MTTQ Việt Nam xây dựng nhân sự tham gia Ủy ban khóa mới thực sự là trung tâm của khối đại đoàn kết, có tư duy đổi mới, có năng lực tổ chức thực hiện.

Cụ thể, dự kiến bổ sung thêm 12 tổ chức thành viên; dự kiến tăng thêm 15 vị là các chuyên gia trên các lĩnh vực, góp phần nâng cao chất lượng công tác giám sát và phản biện xã hội; tăng thêm số lượng các thành phần kinh tế tham gia Ủy ban khóa mới; tăng tỷ lệ người ngoài Đảng đạt khoảng 50,6% (so với khóa X là 50,1%); tăng tỷ lệ các thành viên có trình độ Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Giáo sư.

Thực hiện nhất quán việc sắp xếp, thống nhất tinh gọn các cơ quan tham mưu giúp việc của UBTƯ MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, UBTƯ MTTQ Việt Nam đã thực hiện sắp xếp cơ quan tham mưu giúp việc chung từ Trung ương đến cấp huyện. Bước đầu cho thấy cơ quan giúp việc chung đi vào hoạt động ổn định, nâng cao chất lượng công tác phối hợp, thống nhất hành động trong việc thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; hoạt động giám sát, phản biện xã hội và các chương trình hành động mà MTTQ Việt Nam đã đề ra”.

(Bà Nông Thị Mai Huyền – Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng ban Tổ chức – Kiểm tra Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam).

Theo Báo Đại đoàn kết




Nguồn: Arttimes.vn

Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ nhất Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031


Thứ hai, ngày 11/5/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 (sau đây xin viết tắt là Đại hội) đã bước vào ngày làm việc đầu tiên.

Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ nhất Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 - 1

Quang cảnh phiên làm việc của Đại hội chiều ngày 11/5/2026.

Buổi sáng:

Từ 8h00 – 9h00: Đại biểu tham dự Đại hội đã đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Tiếp đó, Đoàn đến đặt vòng hoa và dâng hương tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ, đường Bắc Sơn, Hà Nội; vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn các Anh hùng, Liệt sỹ”.

Buổi chiều:

Từ 14h00 – 15h00: Đại hội bước vào phiên làm việc thứ nhất.

Tham dự Đại hội có bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá X; Bà Hà Thị Khiết, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Dân vận Trung ương, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa X; Bà Nguyễn Thị Doan, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Nước, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam khóa X.

Cùng tham dự có các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Các đồng chí đại biểu các Ban, Bộ, ngành, Đoàn thể Trung ương; các vị Phó Chủ tịch, nguyên Phó Chủ tịch; các vị Ủy viên Đoàn Chủ tịch, nguyên Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tại phiên làm việc, Đại hội đã hiệp thương cử Đoàn Chủ tịch và Đoàn Thư ký của Đại hội; thông qua Chương trình, Quy chế làm việc của Đại hội.

Đại hội đã nghe Báo cáo tình hình đại biểu tham dự Đại hội. Tổng số đại biểu chính thức tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 là 1.136 đại biểu.

Trong đó, đại biểu đương nhiên là 362 đại biểu là các vị Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X; Đại biểu do Đại hội cấp tỉnh và các tổ chức thành viên chọn cử là 705 đại biểu gồm: 129 đại biểu là các tổ chức thành viên ở Trung ương cử; 576 đại biểu do Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố hiệp thương cử.

Đại biểu chỉ định gồm 69 đại biểu là các đại biểu được giới thiệu lần đầu tham gia Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI gồm: 11 vị đại diện tổ chức thành viên; 02 vị Chủ tịch MTTQ cấp tỉnh; 24 vị trí thức, chuyên gia; 04 vị đại diện cơ cấu Công nhân, Nông dân, Lực lượng vũ trang; 11 vị người dân tộc thiểu số; 05 vị chức sắc tôn giáo; 06 vị thuộc các thành phần kinh tế; 01 vị là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; 05 vị là cán bộ chuyên trách của Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Các đại biểu chính thức đều đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham dự Đại hội theo quy định.

Tại phiên làm việc, đại biểu đã nghe Dự thảo Báo cáo kiểm điểm hoạt động của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam giai đoạn 2024 – 2026.

Báo cáo nhấn mạnh, giai đoạn 2024 – 2026, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả của Quốc hội, Chính phủ, các cấp, các ngành; sự chủ động, sáng tạo và tích cực của các tổ chức thành viên; sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp Nhân dân, Ủy ban, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hoàn thành kịp thời, chất lượng, hiệu quả các nhiệm vụ đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

Từ kết quả hoạt động trong giai đoạn 2024-2026, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam rút ra các bài học kinh nghiệm:

Một là, phải bám sát sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Đại hội.

Hai là, tập thể Ủy ban, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực đoàn kết, thống nhất, thực sự tâm huyết, trách nhiệm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động Mặt trận.

Ba là, phát huy dân chủ trong sinh hoạt của Ủy ban, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực là yêu cầu quan trọng, hàng đầu tạo động lực sáng tạo của tổ chức Mặt trận.

Bốn là, luôn gắn bó, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của các tầng lớp nhân dân, quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, tăng cường phối hợp với các cơ quan Nhà nước để đảm bảo về cơ chế hoạt động hiệu quả; tăng cường hiệp thương, phối hợp, thống nhất hành động với các tổ chức thành viên.

Sáu là, phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thành viên, thật sự đổi mới về tư duy và hành động của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đại hội đã lắng nghe Tờ trình sửa đổi, bổ sung Điều lệ MTTQ Việt Nam khóa X. Dự thảo Điều lệ cơ bản giữ nguyên kết cấu của Điều lệ MTTQ Việt Nam hiện hành, gồm Phần đầu, 8 chương, 37 Điều. Giữ nguyên, không sửa đổi 19 Điều do các quy định này đang được thực hiện ổn định và phù hợp với các nội dung của Luật MTTQ Việt Nam (sửa đổi, bổ sung) và các chủ trương của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của MTTQ Việt Nam. Sửa đổi, bổ sung: Phần mở đầu và 18 Điều.

Từ 15h00 đến 17h00: Đại biểu tham gia tại 5 Trung tâm thảo luận của Đại hội.

Đại biểu tập trung góp ý kiến vào các nội dung: (1) Về tiêu đề của báo cáo, phương châm của Đại hội; (2) Đánh giá, bổ sung tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc; (3) Phân tích, đánh giá để bổ sung, nhấn mạnh hơn những kết quả đạt được của công tác Mặt trận trong giai đoạn 2024 – 2026; (4) Những thách thức và vấn đề đặt ra đối với việc tập hợp, phát huy truyền thống, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời gian tới; (5) Về phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam của nhiệm kỳ tới; (6) Về nội dung Dự thảo Điều lệ MTTQ Việt Nam sửa đổi, bổ sung.

Sáng ngày 12/5/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 sẽ diễn ra phiên khai mạc trọng thể với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam.

Chiều ngày 12/5/2026, Các đại biểu thảo luận và thông qua Đề án nhân sự Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031; Hiệp thương cử Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031; Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ nhất khoá XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

TIỂU BAN TUYÊN TRUYỀN

mattran.org.vn




Nguồn: Arttimes.vn

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng


Những ngày tháng 5, không khí tại Dải trung tâm thành phố Hải Phòng trở nên sôi động, rực rỡ hơn bao giờ hết với hàng loạt hoạt động nghệ thuật đặc sắc nằm trong mùa Lễ hội Hoa Phượng Đỏ – sự kiện văn hóa, du lịch tiêu biểu của thành phố Cảng. Đây không chỉ là dịp để người dân và du khách hòa mình vào không gian nghệ thuật cộng đồng mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh một Hải Phòng năng động, văn minh và giàu bản sắc.

Tối ngày 07/5, Ban tổ chức lễ hội khai mạc chuỗi hoạt động tại dải vườn hoa trung tâm và Nhà hát thành phố dịp Lễ hội Hoa Phượng Đỏ – Hải Phòng năm 2026, trước một ngày trước  khi diễn ra chương trình nghệ thuật kỷ niệm 71 năm Ngày giải phóng Hải Phòng (13/5/1955 – 13/5/2026), khai mạc Lễ hội Hoa Phượng Đỏ – Hải Phòng 2026.

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng - 1

Ông Lê Trung Kiên – Phó chủ tịch UBND thành phố Phát biểu khai mạc chuỗi hoạt động tại dải vườn hoa trung tâm và Nhà hát thành phố dịp Lễ hội Hoa Phượng Đỏ – Hải Phòng năm 2026.

Theo kế hoạch của UBND thành phố, các hoạt động tại dải trung tâm diễn ra trong 7 ngày, từ 7/5 đến hết 13/5/2026, trải dài từ đường Quang Trung (đoạn trước tượng đài Nữ tướng Lê Chân) đến đường Trần Hưng Đạo và khu vực Quảng trường Nhà hát thành phố. Thời gian tổ chức từ 17h30 đến 24h hằng ngày, tạo nên không gian lễ hội sôi động phục vụ người dân và du khách.

Đặc biệt năm nay, các chương trình nghệ thuật đường phố được thiết kế đan xen các không gian giữa dân gian, truyền thống với hát xẩm, ca trù, hát chèo và các không gian hiện đại, sôi động như hip hop, zumba, DJ… trong đó có các chương trình đặc sắc của các đoàn nghệ thuật quốc tế như Trung quốc và Hàn Quốc.

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng - 2

Đoàn biểu diễn nghệ thuật Trung Quốc

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng - 3

Đoàn biểu diễn nghệ thuật Hàn Quốc

Tại khu vực Dải trung tâm thành phố, từ Nhà hát thành phố đến Quảng trường Nhà hát lớn, các chương trình biểu diễn nghệ thuật đường phố, triển lãm ảnh, trưng bày mỹ thuật, giao lưu âm nhạc được tổ chức liên tục, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Không gian công cộng được khoác lên mình diện mạo mới với sắc đỏ rực rỡ của hoa phượng cùng hệ thống pano, áp phích, cờ hoa tuyên truyền cho lễ hội.

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng - 4

Không gian giao lưu mỹ thuật

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng - 5

Không gian giao lưu âm nhạc

Các chương trình biểu diễn ca múa nhạc ngoài trời với sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và quần chúng đến từ các quận, huyện trên địa bàn thành phố. Những tiết mục mang đậm bản sắc văn hóa vùng đất cửa biển như múa trống hội, hát chèo, dân ca đồng bằng Bắc Bộ xen lẫn các tiết mục nhạc trẻ hiện đại đã tạo nên bức tranh nghệ thuật đa sắc màu, hấp dẫn mọi lứa tuổi.

Bên cạnh đó, hoạt động trình diễn thư pháp, vẽ tranh ký họa chân dung, triển lãm ảnh nghệ thuật về thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của thành phố cũng nhận được sự quan tâm lớn. Nhiều nghệ sĩ trẻ đã trực tiếp sáng tác tại chỗ, mang đến sự gần gũi, tương tác cao với công chúng. Những tác phẩm về hình ảnh cảng biển, cầu vượt biển, khu đô thị mới và vẻ đẹp đời sống thường nhật của người dân Hải Phòng đã góp phần khắc họa rõ nét diện mạo một thành phố đang vươn mình mạnh mẽ.

Không gian ẩm thực kết hợp biểu diễn nghệ thuật dân gian cũng là điểm nhấn thu hút du khách. Những món ăn đặc trưng như bánh đa cua, nem cua bể, bún cá cay được giới thiệu song hành cùng các tiết mục biểu diễn acoustic, nhảy hiện đại, flashmob thanh niên đã tạo nên sức sống trẻ trung cho khu vực trung tâm.

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng - 6

Các đồng chí lãnh đạo thành phố tham quan và kiểm tra khu vực ẩm thực

Sôi động các hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm thành phố nằm trong chuỗi Lễ hội Hoa Phượng Đỏ tại Hải Phòng - 7

Không gian giao lưu ẩm thực

Theo đại diện Ban Tổ chức, chuỗi hoạt động nghệ thuật tại Dải trung tâm không chỉ phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân mà còn là hình thức quảng bá hiệu quả cho Lễ hội Hoa Phượng Đỏ – thương hiệu văn hóa đặc trưng của Hải Phòng. Qua đó, thành phố tiếp tục khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn về du lịch, văn hóa và đầu tư trong khu vực phía Bắc.

Lễ hội Hoa Phượng Đỏ không đơn thuần là ngày hội của người dân thành phố Cảng mà đã trở thành biểu tượng văn hóa gắn liền với niềm tự hào của mỗi người dân Hải Phòng. Những hoạt động nghệ thuật rực rỡ tại Dải trung tâm thành phố chính là lời chào nồng hậu, thân thiện gửi tới bạn bè, du khách gần xa trong mùa lễ hội năm nay.

Minh Giáp




Nguồn: Arttimes.vn

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng


Nhân Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có bài viết về vai trò trung tâm, nòng cốt chính trị của tổ chức Mặt trận trong việc củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thời báo Văn học nghệ thuật xin trân trọng giới thiệu bài viết.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp không chỉ xác lập mục tiêu, tầm nhìn chiến lược cho chặng đường phát triển tiếp theo, mà còn đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa lịch sử của đất nước khi bước vào kỷ nguyên mới, hướng tới các mốc son lịch sử trọng đại 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Qua đó, khẳng định vị trí, vai trò nòng cốt chính trị, thực sự là nơi phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, hiệp thương, phối hợp, thống nhất hành động, chung sức, đồng lòng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng - 1

Tổng Bí thư Tô Lâm với nhân dân phường Thượng Cát, thành phố Hà Nội (14/11/2025). Ảnh: Thống Nhất – TTXVN

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nỗ lực xây dựng, củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là nguồn lực nội sinh của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc tới vai trò, sứ mệnh của đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc. Để xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, biến ý chí, tư tưởng cách mạng của Đảng thành ý chí, tư tưởng, động lực để phát huy sức mạnh của nhân dân. Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết”(1) và hơn hết, nhân dân với nền tảng là liên minh công – nông – trí thức, phải được tập hợp thành lực lượng có lãnh đạo, được tổ chức, liên kết chặt chẽ trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”(2).

Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi giai đoạn cách mạng, đoàn kết luôn được xác định là giá trị cốt lõi, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một chủ trương xuyên suốt của Đảng ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng. Trong từng giai đoạn cách mạng, cách thức tổ chức và phát huy tinh thần đại đoàn kết đều có sự kế thừa, sáng tạo để phù hợp với tiến trình và mục tiêu phát triển của đất nước.

Qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cấp, các ngành; sự chủ động, sáng tạo và tích cực của các tổ chức thành viên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm, nòng cốt chính trị trong việc củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, qua đó khẳng định vai trò cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, sáng tạo, linh hoạt, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thể hiện rõ phương châm hành động “Gần dân, hiểu dân, trọng dân, vì dân”.

Sức mạnh đại đoàn kết đó ngày càng được củng cố khi triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 60-NQ/ TW, ngày 12-4-2025, của Hội nghị Trung ương 11 khóa XIII và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã nghiêm túc quán triệt, chủ động, quyết liệt và linh hoạt trong tổ chức thực hiện.

Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đạt được kết quả quan trọng, rõ nét, đặc biệt là ở cấp Trung ương. Quá trình sắp xếp không chỉ nhằm tinh gọn đầu mối, mà còn từng bước hoàn thiện mô hình tổ chức theo hướng vừa bảo đảm khả năng vận hành, hoạt động theo quy định của pháp luật và điều lệ của từng tổ chức chính trị – xã hội, bảo đảm quan hệ hợp tác với cơ quan nhà nước, phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức xã hội khác, vừa bảo đảm sự thống nhất, liên thông trong toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Việc không tổ chức cấp huyện và sắp xếp tổ chức cấp xã thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp đã từng bước giảm tầng nấc trung gian, nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả vận hành của bộ máy. Cùng với đó, việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ theo vị trí việc làm đã cơ bản khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm nguyên tắc “một việc, một đầu mối, một thời hạn, một kết quả”. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, gắn với tăng cường phân cấp, phân quyền cho cơ sở, đã góp phần đưa hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội ngày càng gần dân, sát cơ sở, phát huy hiệu quả vai trò đại diện, tập hợp, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bên cạnh đó góp phần nâng cao năng lực số, trình độ quản trị hiện đại của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi số và công tác tuyên truyền, vận động quần chúng trong giai đoạn mới.

Với mong muốn phát huy vai trò nòng cốt chính trị trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên đã chủ động đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân để chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước lan tỏa mạnh mẽ tới cơ sở; góp phần củng cố, tăng cường đồng thuận xã hội, bồi đắp mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, phát huy quyền làm chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thông qua việc phát huy hiệu quả vai trò cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình; nâng cao chất lượng trang thông tin điện tử, mở rộng tương tác trên fanpage, Cổng Mặt trận số 24/7, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở đã truyền tải kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân; tuyên truyền hiệu quả, kịp thời cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; khơi dậy khí thế trong nhân dân trước ngày lễ lớn của đất nước; đẩy mạnh truyền thông về các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, hoạt động giám sát và phản biện xã hội… để nhân dân hiểu rõ và đồng hành trong suốt tiến trình đổi mới của đất nước.

Song song với đó, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tập hợp ý kiến nhân dân, đặc biệt là trước và sau kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; phối hợp với cơ quan chức năng của chính quyền tổ chức hoạt động đánh giá sự hài lòng của người dân đối với hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Công tác vận động, đoàn kết đồng bào các dân tộc, tập hợp, đoàn kết các tôn giáo, đồng bào theo tôn giáo ngày càng được chú trọng, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào.

Thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong việc phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nổi bật là, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên các cấp đã tích cực tham gia quá trình xây dựng, lấy ý kiến nhân dân sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; phối hợp xây dựng, trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở để kịp thời thể chế hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, quy định mới của Hiến pháp về vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Đồng thời, tích cực thực hiện và vận động nhân dân tham gia ý kiến xây dựng văn kiện đại hội đảng bộ các cấp và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với 527.764 ý kiến góp ý.

Hoạt động giám sát, phản biện xã hội cũng được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Trong giai đoạn 2024 – 2026, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức hơn 2.300 cuộc giám sát; hơn 1.300 hội nghị phản biện, tham vấn ý kiến góp ý vào quyết sách của địa phương. Ý kiến phản biện xã hội đa dạng, phong phú, sâu sắc, được cơ quan có thẩm quyền đánh giá cao và được xác định là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ trình ban hành chính sách và dự án luật.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương đã tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân để kịp thời thông tin, trao đổi, giải quyết vấn đề người dân quan tâm, phản ánh, kiến nghị.

Một trong những dấu ấn nổi bật trong thời gian qua phải nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi tham gia tích cực vào công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình gắn với việc tham gia xây dựng Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Quốc hội, Chính phủ tiến hành tổng kết và sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; chủ trì xây dựng, trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền văn bản hướng dẫn công tác bầu cử. Các hội nghị hiệp thương được hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ Trung ương đến địa phương tổ chức nghiêm túc, dân chủ, phát huy trách nhiệm trong việc tham gia ý kiến đối với dự kiến về cơ cấu, thành phần, tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất và điều kiện tham gia của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp được triển khai kịp thời, nghiêm túc.

Cùng với đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào công tác bầu cử để ngày 15-3-2026 thực sự là “Ngày hội của non sông” với hơn 76 triệu cử tri cả nước đi bầu cử (đạt 99,70%), đã bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội khóa XVI, 2.552 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, 72.440 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

Các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động lớn được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và tổ chức thành viên triển khai ngày càng thiết thực, sáng tạo, có chiều sâu, gắn với nhu cầu, lợi ích của nhân dân và yêu cầu phát triển của đất nước được nhân dân hưởng ứng rộng rãi. Trong đó, nổi bật là việc hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức thành viên đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan tổ chức kêu gọi, vận động, quyết tâm phấn đấu về đích trước thời hạn phong trào thi đua “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025”.

Thông qua hoạt động, như tham gia rà soát, thống kê danh sách hộ gia đình thuộc diện được hỗ trợ; tổ chức kêu gọi, vận động tổ chức, cá nhân, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân chung tay ủng hộ, góp công, góp của giúp đỡ hộ gia đình; làm đầu mối tiếp nhận ủng hộ của tổ chức, cá nhân thông qua Quỹ “Vì người nghèo” các cấp; triển khai phân bổ, hỗ trợ đến hộ gia đình; thực hiện giám sát việc hỗ trợ bảo đảm công khai, minh mạch, đúng đối tượng đã góp phần cùng Chính phủ, các cấp, các ngành xóa 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát; huy động trên 24.700 tỷ đồng và hơn 2,7 triệu ngày công.

Công tác tổ chức vận động hỗ trợ đồng bào bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh cũng được tổ chức triển khai kịp thời với cách làm công khai, minh bạch, tạo môi trường, điều kiện để đông đảo người dân và tổ chức, cá nhân chung tay giúp đỡ cộng đồng. Điều đó thể hiện qua sự vào cuộc tích cực của các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở; cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cán bộ, công chức, người lao động; doanh nhân, văn nghệ sĩ, trí thức, đồng bào ta ở nước ngoài, đặc biệt là mỗi người dân Việt Nam ở mọi miền Tổ quốc khi hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Mỗi người đã phát huy tinh thần tương thân tương ái, sự sẻ chia và góp thêm nguồn lực cùng Đảng, Nhà nước hỗ trợ đồng bào vùng lũ vượt qua thời điểm khó khăn; giúp bà con có thêm nguồn lực khắc phục hậu quả, sớm ổn định đời sống, tái thiết sản xuất và trở lại cuộc sống thường nhật. Với trên 5.300 tỷ đồng hỗ trợ đồng bào các tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 năm 2024; trên 4.200 tỷ đồng ủng hộ bào chịu ảnh hưởng bởi cơn bão số 10 và hỗ trợ đồng bào bị lũ lụt miền Trung trong năm 2025 là minh chứng rõ nét cho tinh thần đại đoàn kết và sự tin tưởng mà nhân dân gửi trao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng - 2

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài tặng quà, động viên người dân vùng lũ xã Ka Đô, tỉnh Lâm Đồng, ngày 22/11/2025.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khẳng định và phát huy vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn định hướng chiến lược về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới, đó là: “Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quán triệt sâu sắc quan điểm ‘Dân là gốc’, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”(3).

Đồng thời, yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp trong phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, năng lực sáng tạo của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(4).Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng - 3

Áp phích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031.

Quán triệt sâu sắc tinh thần Đại hội XIV của Đảng và hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI (nhiệm kỳ 2026 – 2031), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy mạnh mẽ vai trò nòng cốt chính trị trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; được cụ thể hóa bằng định hướng mang tính chiến lược, đồng bộ và khả thi; trọng tâm là nâng cao năng lực tham gia quản trị xã hội, góp phần hoàn thiện và vận hành hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Để hiện thực hóa yêu cầu đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập trung triển khai thực hiện một số định hướng, nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hành động nhằm vận động sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Thực hiện nhất quán phương châm “khi dân cần Mặt trận có, khi dân khó Mặt trận sẵn sàng tham gia”, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Chủ động, kịp thời hơn trong việc nắm bắt, tổng hợp và phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đổi mới công tác vận động, tập hợp, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, người theo tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức tuyên truyền, lấy mục tiêu tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong toàn dân để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Tập trung triển khai Đề án “Chuyển đổi số Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2025 – 2030, tầm nhìn đến năm 2035” trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức thành viên các cấp. Đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội với cơ sở dữ liệu quốc gia và bộ, ngành liên quan, bảo đảm đồng bộ, liên thông. Xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung, phục vụ dự báo, tham mưu, hoạch định chủ trương, chính sách. Bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; ban hành quy chế bảo mật, an toàn thông tin trong sử dụng và khai thác nền tảng số.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội theo hướng đi vào vấn đề lớn, gắn với lợi ích thiết thực của nhân dân theo tinh thần “rõ việc – rõ trách nhiệm – rõ hiệu quả”. Thực hiện hiệu quả “Tháng nghe dân nói” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức ở tất cả xã, phường, đặc khu trên cả nước, coi đây là kênh đối thoại thường xuyên giữa Đảng, chính quyền với nhân dân.

Phát huy vai trò của nhân dân tham gia công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất là đối với nội dung, lĩnh vực tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân.

Đẩy mạnh thể chế hóa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia từ sớm, ngay từ khâu xây dựng chính sách trong việc đề xuất chủ trương, chính sách nhằm tập hợp, phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tham gia phản biện xã hội đối với việc soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời tăng cường, theo dõi, giám sát việc thực hiện kiến nghị đến cùng, bảo đảm ý kiến giám sát, phản biện thực chất.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của nhân dân trên Cổng Mặt trận số 24/7; phát huy vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, nhất là nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.

Tăng cường thể chế hóa và thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo hướng cụ thể, có thể đo lường, nhất là trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân. Bên cạnh đó, mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện, gắn với công khai, minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội và giám sát thực chất. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế chủ đạo, động lực của đổi mới phát triển, đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở cơ sở thông qua việc phát triển nền tảng số để người dân tham gia góp ý, phản ánh và theo dõi một cách thuận tiện, minh bạch. Đồng thời, bảo đảm thực hiện dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, tuân thủ pháp luật; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện lợi dụng quyền tự do dân chủ gây chia rẽ khối đại đoàn kết, gây mất ổn định xã hội,…

Thứ ba, đổi mới phương thức phát động các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động với sự tham gia và thực hiện của toàn dân, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Nghiên cứu để phát động và định hướng cuộc vận động, phong trào thi đua phát triển theo ba trụ cột “xanh – số – sáng tạo”, gắn với thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trung tâm, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là động lực chính. Phát động và triển khai Phong trào thi đua “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh, sạch, đẹp” nhằm tạo chuyển biến tích cực trong xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, phấn đấu tăng trưởng 2 con số theo tinh thần Nghị quyết XIV của Đảng.

Tiếp tục triển khai hiệu quả và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong tình hình mới; đồng thời, các tổ chức thành viên chủ động, sáng tạo phát động và tổ chức triển khai phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động để khơi dậy niềm tự hào, khát vọng cống hiến, tinh thần lao động, sáng tạo trong các tầng lớp nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên cũng cần tổ chức triển khai sâu rộng và sáng tạo phong trào “Vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau”; đa dạng hóa nguồn lực huy động từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho Quỹ “Vì người nghèo” và chương trình an sinh xã hội. Phát động, kêu gọi phong trào giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh đồng bào dân tộc thiểu số ở xã khu vực biên giới.

Cùng với đó cần chú trọng giải pháp chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ kháng chiến cũ, vùng chiến lược, vùng có đông đồng bào theo tôn giáo; tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng nhân tố tích cực; phát triển đa dạng mô hình có hiệu quả.

Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo mô hình tổ chức mới, ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, hướng mạnh về cơ sở.

Tăng cường, phát huy vai trò trung tâm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hiệp thương dân chủ, phối hợp thống nhất hành động giữa các thành viên; thực hiện nghiêm túc vai trò, trách nhiệm chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và trách nhiệm chủ động phối hợp hành động của các tổ chức thành viên trong hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động với yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”. Thực hiện kỷ cương, minh bạch trong quá trình thực thi, thi đua thiết thực, kiểm tra đến cùng việc thực hiện áp dụng công thức “3 dễ – 3 rõ – 3 đo”: Dễ hiểu – dễ nhớ – dễ làm; rõ mục tiêu – rõ trách nhiệm – rõ thời hạn; đo đầu vào – đo đầu ra – đo tác động.

Cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể phải giữ vai trò nòng cốt, bảo đảm vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, giữ “3 gần”: Gần dân – gần cơ sở – gần không gian số; “5 phải”: Phải lắng nghe – phải đối thoại – phải làm mẫu – phải chịu trách nhiệm – phải báo cáo kết quả; “4 không”: Không hình thức – không né tránh – không đùn đẩy – không làm sai chức năng.

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với thời cơ, thách thức và vận hội mới mang tính lịch sử. Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, với vị trí, vai trò và sứ mệnh của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, niềm tin, khát vọng cống hiến; quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn lực lượng vũ trang thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 244

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 119

(3), (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 120 – 121, 125

BÙI THỊ MINH HOÀI

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng

Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương

Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam




Nguồn: Arttimes.vn

Phạm Hồng Điệp với kỳ lạ “Khúc lãng du cụ Mén”


Phạm Hồng Điệp là một tên tuổi vang dội khi ông sáng lập và dẫn dắt khu công nghiệp Nam Cầu Kiền (tại Hải Phòng) – một mô hình khu công nghiệp sinh thái tiên phong ở Việt Nam theo hướng kinh tế tuần hoàn, bền vững, thúc đẩy hoạt động du lịch. Ông thuộc số ít những doanh nhân mới đây có thành tựu lớn về hoạt động phát triển văn hóa – nghệ thuật, đã được vinh danh 2 kỷ lục Việt Nam và thế giới về thơ và số lượng bài thơ được phổ nhạc nhiều nhất. Và mới đây, tháng 4/2026, tác giả Phạm Hồng Điệp gây ngạc nhiên đối với bạn đọc khi ông, qua NXB Hội Nhà văn, công bố tập thơ song ngữ Việt – Anh gợi biểu cảm mạnh bởi cái tên có phần “độc lạ”: “Khúc lãng du cụ Mén”.

Loại hình, thể loại vừa cố định vừa linh hoạt

Khúc lãng du Cụ Mén là truyện thơ – trường ca đậm chất huyền thoại dân gian. Một trăm bài thơ (sắp xếp thành 3 chương) là một trăm mảnh ghép làm nên một truyện thơ dài có dáng dấp trường ca. Nhiều bài thơ là những đơn vị tác phẩm riêng lẻ, nhưng vẫn nằm trong một hệ thống nhất quán. Tập thơ tương tự một quả cây có nhiều múi hoặc trong quả lại có quả, được gọi là quả kép. Cấu trúc cơ học chủ yếu là truyện thơ, trình bày theo chiều thuận thời gian trôi chảy; cốt lõi là tự sự, nhưng âm hưởng trữ tình liền mạch lại hướng đến trường ca. 

Đây cũng là tập hồi kí hư cấu bằng thơ, được cấu tạo bằng một trăm cuộc kể chuyện xưa trên chục năm về một người đàn ông cao tuổi, hiếm lạ, có nhiều cống hiến đặc sắc.

Tại đây, tiểu thể loại của thơ được sử dụng sinh động, giúp thuận lợi cho tác giả và người đọc. Hầu hết là thơ 4 chữ tự do (4 dòng, không phân khổ), một số ít là thơ câu dài như dẫn người đọc vào một vườn cây, thăm một bãi đồi, hoặc thơ lục bát như giúp bạn đọc dừng lại bên bờ một giếng nước trong veo…

Phạm Hồng Điệp với kỳ lạ “Khúc lãng du cụ Mén” - 1

Tập trường ca “Khúc lãng du cụ Mén”.

Hình tượng độc đáo nhân vật chính cụ Mén

Nhân vật Cụ Mén là hình tượng nghệ thuật nhân vật trữ tình chính, duy nhất của tác phẩm. 

Cụ Mén là một người nông dân hoàn nghĩa, chính gốc. Nhưng là nông dân đặc biệt, độc đáo, hiếm lạ. Cụ dồi dào sức khỏe (tuổi 90 mà như 30) cả thể chất lẫn trí não, tinh thần và cũng quá thơ ngây (“Cụ vui lắm ghê/ Tâm hồn con nít”, bài số 34).

Như tác phẩm cho thấy, cụ chưa qua một trường lớp chính quy nào nhưng lại có hiểu biết về văn hóa như lối sống, nếp nghĩ, phong tục – tập quán chuẩn mực của các cộng đồng người Việt và người thiểu số; hơn thế, cụ còn có nhiều sáng tạo từ trải nghiệm học hỏi và thực hiện suốt cuộc đời. Hiểu sâu về nghề nông đã đành, cụ còn am tường nghề biển và nương rẫy, để rồi trực tiếp làm, chân lấm tay bùn, chống chọi bão lũ miền cao và sóng trào biển lớn cùng các cộng đồng dân cư.

Cụ Mén hiển hiện như một người “truyền đạo” – thầy giáo không trường lớp chính quy – cũng đồng thời là người “hành đạo”. Ấy là truyền cảm hứng và thực thi bởi hoài bão, khát vọng đổi thay đời sống nông dân, ngư dân ở mọi miền đất nước Việt Nam thân yêu – Một người lao động cần mẫn, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, coi trọng thực tế, kinh nghiệm và sáng tạo hơn là lý thuyết khô cứng, hời hợt, giúp mọi người có cơ hội được sống no đủ hơn, hạnh phúc hơn, văn minh hơn.

Cụ Mén là một hình ảnh rực rỡ người nông dân toàn vẹn, tích cực hầu như ở mọi phương diện. Cụ tích tụ mọi phẩm chất cao đẹp nhất của cộng đồng nông dân, là đại diện, tiêu biểu cho mọi cộng đồng dân cư làng đồng bằng, buôn làng miền núi và ngư dân làng biển.

Cụ Mén là một anh hùng huyền thoại khó có thật ở ngoài đời – như chính ý đồ xây dựng nhân vật của tác giả – nhưng hoàn toàn hợp lý thuận tình trong tác phẩm nghệ thuật của Phạm Hồng Điệp. Có thể bất cứ ai cũng tin rằng mình hẳn sẽ tìm ra cụ đang có mặt trong đời sống. 

Cụ Mén không vướng vít gia đình. Cụ như là người độc thân (một chi tiết phi lí hóa của huyền thoại). Cụ sống vì lí tưởng, khát vọng, vì đất nước và cộng đồng các vùng dân cư, vì học trò. Ngoài chàng trai học trò Lù Cháy là bạn lãng du thì không có ai. Khi tuổi đã trên dưới một trăm mới được vẻn vẹn một lần san sẻ niềm vui với đứa cháu ruột (có thể là chắt, chút…) ở bài số 98 Cụ Mén ngắm pháo hoa: “Thằng cháu bé tí chạy qua/ Vận chiếc áo cánh nâu là nâu non/ Trông yêu sao chỏm ba chòm/ Bi bô tập nói giọng còn líu lo”.

Thời gian và không gian xác định chất hồi ký của tác phẩm

Thời gian và không gian là hai yếu tố thuộc về thiên nhiên vật lí góp phần xác định chất hồi ký của tác phẩm. Về thời gian – thời điểm, nhân vật cụ Mén xuất hiện khi đã trên, dưới 90 tuổi và qua đời ở tuổi 110. Tuy nhiên, bài thơ chỉ dừng ở con số 100 (tác giả thật khéo léo và tế nhị) có nghĩa là thêm mười năm nữa thì cụ tự cho phép mình nghỉ ngơi hoàn toàn để bước sang một thế giới khác.

Nhân vật sống trong cảnh thanh bình. Nhằm tránh tác phẩm bị sa đà, dài dòng lạc ra ngoài ý tưởng trọng tâm, tác giả không đề cập chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, mặc dù nhân vật hoạt động trong khoảng hơn chục năm, trải qua hai thời điểm đó. Nhân vật xuất hiện khoảng trước và ngay sau Đổi Mới, căn cứ vào sự việc đổi tiền năm 1985 (Cành đào, câu đối, đổi tiền mới tinh, bài số 94), và phong tục đốt pháo dịp Tết chưa chấm dứt (Tết đến vội vàng/ Cả làng bắn pháo, bài số 95), tàu điện còn tồn tại ở Thủ đô (Lá vàng thả thu/ Hà Nội trở gió/ Cờ hoa rợp trời/ Leng keng tàu điện, bài số 88).

Về không gian, Cụ Mén từ ở quê mình Hải Phòng, (hiện nay là Nam Cầu Kiền thật nguy nga/ Lối đường xanh sáng vào ra nhịp nhàng, bài số 100), có vườn cây, cách biển không xa, nơi trước tiên cụ từng nêu gương về nếp sống và lao động, để sau này đến các vùng quê miền núi (cả Trường Sơn hùng vĩ và bi tráng) có các dân tộc thiểu số Tày, Thái, H’mông, Dao, Pako, Cơ Tu, Xê đăng, Bana,… để trao gửi kinh nghiệm quý và cùng làm ăn, sinh hoạt với họ.

Giọng điệu và ngôn ngữ thơ

Hôn nhiên, ngây thơ, sáng tươi, chan chứa thương yêu đồng cảm và ngợi ca ân nghĩa lẫn đùa vua hóm hỉnh thân thiện… là giọng điệu bao trùm tập thơ. Ngôn ngữ thơ giản dị, chân mộc, thật thà, đẫm chất dân giã làng quê. Giọng điệu ấy, ngôn ngữ ấy là cố ý của tác giả, nhằm tương hợp với nhân vật và hoàn cảnh khách quan của một cụ ông tuy có đổi mới đột biến, lạ lùng – huyền thoại – nhưng gốc gác và hiện nay vẫn là dân quê. Tuổi 90 lên giường nghỉ “Hai xoa một đập/ Cụ leo lên giường/ Vươn vai thoải mái/ Lăn ra ngủ luôn” (bài số 13); đến tuổi 100 vẫn “Một đập ba xoa/ Ông Mén vén màn/ Gác chân chữ ngũ/ Ngáy đều vang vang” (bài số 95).

Ở đây hai bài thơ đặt cách nhau rất xa cho thấy tác giả cố ý xây dựng nhân vật tuy đổi mới táo bạo nhưng vẫn ngưng đọng nếp sinh hoạt truyền thống, cũ kĩ của một hình tượng huyền thoại.

Lời thơ Khúc lãng du cụ Mén đậm kiểu cách nông dân nhưng không thô kệch, các tục khi đùa hóm có lướt qua (không ít lần) nhưng chất thanh còn để lại dư âm sóng sánh, dài lâu. Đáng chú ý, như là ngược lại, không ít câu, cụm câu thơ chuyên chở những thi ảnh tinh tế – cái tinh tế hồn nhiên một cách đẹp đẽ và hóm hỉnh của người già.

Âm thầm nở một loài hoa nghĩa tình

Gần khép lại tác phẩm, tác giả thay mặt các cộng đồng dân cư đã được cụ Mén giúp đỡ đổi thay cuộc sống, viết những lời thơ tri ân chân thành, thắm thiết tự đáy lòng. Tại đây, tính tự sự giảm hẳn, nhường lại cho tính trữ tình đậm đà, dào dạt. Đây truyện thơ được kết thúc có hậu: “Cuộc đời một ngọn đèn thôi/ Nâng hoa, trọng nghĩa cụ thời an yên”. Tác giả cùng bạn đọc bồi hồi tạm biệt cụ Mén ở bài thứ 100, ước lệ chẵn tròn ý nghĩa – dứt khoát phải có – với 100 dòng thơ lục bát găm vào tâm khảm mọi người:

“Đồng sâu trâu mải miết cày

Bùn nâu nhớ mãi mẹ thầy quê hương.

Cụ về vui xóm vui nhà

Đêm đêm thắp ánh đèn hoa ấm lòng

Chợ quê thúng mẹt bưởi bòng

Bán mua cả nỗi long đong phận người”.

(…)

“Nam Cầu Kiền thật nguy nga

Lối đường xanh sóng vào ra nhịp nhàng”

(…)

“Việt Nam đất mẹ chứa chan

Giờ đây xua hết cơ hàn ngày xưa

Từ vùng xuôi đến vùng xa

Âm thầm nở một loài hoa nghĩa tình

Hôm nay trống hội giữa đình

Quê hương đổi mới quang vinh dạt dào

Một trăm mười tuổi trí cao

Cụ thanh thản giấc đi vào ngàn thu”.

Lời kết mở

Phạm Hồng Điệp dùng Khúc lãng du cụ Mén để ngợi ca một nhân vật huyền thoại đã thuộc về quá khứ nhưng luôn luôn mới đối với hôm nay, ấy là người nông dân (hoặc những cộng đồng khác) hãy đừng trông chờ cái gì xa xôi mà chính mình phải tự khai phóng cho mình, “tự cứu lấy mình”. Không phải kĩ sư, nông nghiệp, mà là một lão nông gần trăm tuổi còn làm được việc lớn, việc khó, thì chẳng lẽ tuổi trẻ, cả thế hệ trung niên lại phải chịu chùn bước trong lạc hậu, nghèo khó? Tác phẩm trường ca – truyện thơ huyền thoại này chắc chắn chinh phục mọi lứa tuổi, mọi bộ phận bạn đọc, trong đó có thể thế hệ thanh niên và trung niên ham thích hơn cả. Chúng ta có thể chọn ra trên ba chục bài thơ hấp dẫn dành cho trẻ em, đương nhiên cần xem lại những chi tiết nhạy cảm về tâm lí, sinh lí không phù hợp với trẻ thơ. Đây là một tác phẩm xuất sắc viết về đề tài nông thôn, nông dân.

Phạm Đình Ân




Nguồn: Arttimes.vn