Home Blog Page 86

Báo chí hệ thống Mặt trận đoàn kết, đổi mới trong kỷ nguyên mới


Chiều 29/1, Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), các đoàn thể Trung ương phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức gặp mặt báo chí đầu xuân năm 2026.

Báo chí hệ thống Mặt trận đoàn kết, đổi mới trong kỷ nguyên mới - 1

Các đồng chí lãnh đạo chủ trì buổi gặp mặt báo chí đầu xuân năm 2026.

Theo đó, trong năm 2025, công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt động báo chí tiếp tục được Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư tưởng, tuyên truyền, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ủy đối với lĩnh vực báo chí.

Nhờ vậy, việc lãnh đạo, chỉ đạo được triển khai thực hiện bám sát các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư gắn với yêu cầu giữ vững định hướng chính trị – tư tưởng trong bối cảnh tình hình mới.

Bên cạnh đó, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã chỉ đạo các cấp ủy đảng các cơ quan chủ quản, các cơ quan báo chí tổ chức quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng về công tác báo chí; yêu cầu cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác ngay từ đầu năm, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.

Thông qua đó, vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong định hướng nội dung tuyên truyền, thông tin, quản lý đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên tiếp tục được khẳng định.

Mặt khác, theo ông Nguyễn Minh Chung – Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, các cơ quan báo, tạp chí trực thuộc Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương đã nỗ lực khắc phục khó khăn, chủ động đổi mới phương thức hoạt động, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

Đáng chú ý, trong công tác sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan báo chí trực thuộc cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, tiếp tục thực hiện quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, các cơ quan chủ quản đã tập trung triển khai công tác sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan báo chí thuộc cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ chính trị của từng tổ chức.

Trên cơ sở rà soát tổng thể hệ thống cơ quan báo chí, tạp chí thuộc phạm vi quản lý, các tổ chức đã xây dựng và triển khai phương án sắp xếp, hợp nhất, kết thúc hoạt động đối với những cơ quan không còn phù hợp; đồng thời, điều chuyển chức năng, nhiệm vụ về cơ quan báo chí chủ lực. Quá trình sắp xếp được thực hiện có lộ trình, bảo đảm tính kế thừa, ổn định tổ chức, không làm gián đoạn hoạt động thông tin, tuyên truyền.

Kết quả cho thấy, số lượng cơ quan báo chí đã giảm từ 18 xuống còn 8 cơ quan báo chí; đồng thời, tinh giản được 105 đơn vị cấp phòng. Việc giảm đầu mối tổ chức gắn với rà soát, sắp xếp lại cơ cấu bên trong, khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, phân tán nguồn lực; từng bước hình thành mô hình cơ quan báo chí tập trung, thống nhất, hoạt động chuyên nghiệp hơn.

Cùng với đó, công tác định hướng tuyên truyền được triển khai chủ động, kịp thời, nhất là đối với các vấn đề lớn, nhạy cảm, các sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, của đất nước, dân tộc và của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng.

Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã tăng cường phối hợp với các cơ quan tham mưu của Đảng, Nhà nước trong việc thống nhất định hướng thông tin, tuyên truyền bảo đảm các cơ quan báo chí hoạt động đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận xã hội.

Báo chí hệ thống Mặt trận đoàn kết, đổi mới trong kỷ nguyên mới - 2

Các đại biểu tham dự buổi gặp mặt báo chí đầu xuân năm 2026.

Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động báo chí được chú trọng. Các cơ quan chủ quản được yêu cầu thường xuyên theo dõi, rà soát việc chấp hành tôn chỉ, mục đích, quy định của pháp luật; kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện lệch chuẩn trong nội dung thông tin, không để xảy ra sai sót nghiêm trọng, kéo dài.

Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan chủ quản được đề cao, gắn trực tiếp với chất lượng nội dung và hiệu quả hoạt động của cơ quan báo chí.

Phát biểu tại cuộc gặp mặt, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hà Thị Nga ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, đóng góp quan trọng của các cơ quan báo chí thuộc hệ thống MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiêm vụ.

Báo chí hệ thống Mặt trận đoàn kết, đổi mới trong kỷ nguyên mới - 3

Các đại biểu tham dự buổi gặp mặt báo chí đầu xuân năm 2026.

Đặc biệt, trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy báo chí, đội ngũ những người làm báo trực thuộc Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, chia sẻ, đồng hành, bảo đảm hoạt động báo chí thông suốt.

Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hà Thị Nga đề nghị, các cơ quan báo chí trực thuộc cần nêu cao tinh thần đổi mới, phát huy tính chủ động, sáng tạo, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác điều hành, quản lý và sản xuất các ấn phẩm, sản phẩm truyền thông phục vụ độc giả.

“Trong thời gian tới, Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương và UBTƯ MTTQ Việt Nam tiếp tục nhận được sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ của các báo chí thuộc hệ thống Mặt trận trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ để phát huy tốt nhất sức mạnh của các cơ quan báo chí trong khối, qua đó phản ánh một cách kịp thời nhất, phong phú, khách quan và toàn diện nhất về tinh thần đổi mới trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới” – Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hà Thị Nga nhấn mạnh.

Theo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp




Nguồn: Arttimes.vn

Chiếu miễn phí 6 bộ phim trong Đợt phim chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng


Đợt phim chào mừng thành công Đại hội Đảng lần thứ XIV, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2026) và mừng Xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra trên phạm vi cả nước từ ngày 3-22/2/2026.

Đợt phim do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Điện ảnh chủ trì, phối hợp với Trung tâm Chiếu phim Quốc gia, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các đơn vị sản xuất phim tổ chức.

Đây là hoạt động văn hóa – điện ảnh có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, góp phần chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng – sự kiện chính trị trọng đại của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, khơi dậy tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong các tầng lớp Nhân dân.

Chiếu miễn phí 6 bộ phim trong Đợt phim chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng - 1

Đợt phim được tổ chức từ ngày 3/2-22/2 trên phạm vi toàn quốc.

Lễ Khai mạc sẽ được tổ chức vào 19h00, ngày 3/2/2026 tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia, số 87 Láng Hạ, Hà Nội. Bộ phim truyện “Thanh âm vượt đại dương” được chọn chiếu Khai mạc.

“Thanh âm vượt đại dương” là bộ phim điện ảnh Việt Nam do Nhà nước đặt hàng, sản xuất bởi Công ty CP Phim truyện I, tái hiện cuộc đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ cách mạng tại Côn Đảo. Hình ảnh tiếng đàn bầu của nhân vật Tâm trở thành biểu tượng cho khát vọng tự do, niềm tin và sức sống bền bỉ của con người Việt Nam.

Chiếu miễn phí 6 bộ phim trong Đợt phim chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng - 2

Một cảnh trong bộ phim “Thanh âm vượt đại dương”.

Chương trình phim chiếu tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia trong Đợt phim này còn có các phim: “Tử chiến trên không”, “Địa đạo – Mặt trời trong bóng tối”, “Chiếc chìa khóa vàng”, “Mùi cỏ cháy”, “Thầu Chín ở Xiêm”.

Trung tâm Chiếu phim Quốc gia sẽ phát vé mời miễn phí tới các khán giả xem các bộ phim trên từ 8h30 ngày 31/1/2026 cho đến khi hết vé.

Chiếu miễn phí 6 bộ phim trong Đợt phim chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng - 3

“Địa đạo – Mặt trời trong bóng tối” là một trong các bộ phim được chiếu trong dịp này.

Bên cạnh các suất chiếu miễn phí phục vụ khán giả tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia, Cục Điện ảnh phối hợp với các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hệ thống Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng, Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh, Trung tâm Văn hóa – Nghệ thuật… các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phổ biến các bộ phim sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ nhân dân trên phạm vi cả nước, chủ yếu thông qua hình thức chiếu phim lưu động, với danh sách phim riêng gồm phim truyện, phim tài liệu – khoa học và phim hoạt hình.

Thông qua các tác phẩm điện ảnh được tuyển chọn có giá trị tư tưởng, nhân văn và chất lượng nghệ thuật cao, Đợt phim góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp của điện ảnh cách mạng Việt Nam, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của Nhân dân trong không khí vui tươi, phấn khởi mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Kiếp mưa trải những trang lòng


Ấn phẩm “Kiếp mưa” được khai sinh, ấy là lúc những ẩn ức, cô côi từ sâu thẳm những trang lòng đã được tái sinh vào kiếp chữ để giải phóng và lan tỏa!

1. Nhà văn Y Mùi (Đào Thị Mùi) là một người viết văn xuôi, trong các ấn phẩm văn chương mà chị đã xuất bản thì nổi trội hơn là mảng truyện ngắn. Đâu đó chừng mươi năm về trước, chị xuất bản tập truyện ngắn Muôn nẻo đường tu với bút danh Y Mùi nghe là lạ. Rồi từ bữa ấy, thấy bút danh Y Mùi xuất hiện đều đặn trên báo chí đó đây.

Y Mùi là một tiến sỹ y học nhưng được/bị/chịu ảnh hưởng từ niềm yêu văn chương thì chắc chắn đã có từ thuở thanh xuân, bởi phu quân của chị chính là nhà thơ Trần Quang Quý – Một thi sỹ tên tuổi trong nền văn học Việt Nam hôm nay. Là bạn đời của một thi sỹ lớn, thì bị ảnh hưởng bởi văn chương là tất yếu; tuy nhiên, từ ảnh hưởng đó, rồi định hình, định dạng nên câu chữ của riêng mình trong văn học thì lại là chuyện khác! Và có vẻ như Y Mùi đã làm được điều khác ấy. Chị đã nhập vía vào miền văn chương bằng các tác phẩm: Những nẻo đường tu – tập truyện ngắn (Nxb Hội Nhà văn, 2015); Lan man buồn – tập tự truyện và tản văn (Nxb Hội Nà văn, 2015); Người quê – tập truyện ngắn (Nxb Hội Nhà văn, 2017); Đường chiều – tập truyện ngắn (Nxb Hội Nhà văn, 2019); Vụn vặt chuyện nhà – tập truyện ngắn (Nxb Hội Nhà văn, 2022), Phận đàn bà – tập truyện ngắn (Nxb Hội Nhà văn, 2024) … Chị là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội (từ năm 2015) và Hội Nhà văn Việt Nam (từ năm 2017).

Kiếp mưa trải những trang lòng - 1

Nhà văn Y Mùi.

2. Trong lần xuất bản này Y Mùi bày ra bên cửa chữ một ấn phẩm thơ có tên Kiếp mưa, đây là tập thơ đầu tay của chị. Là bạn đời của một tác giả thơ lớn, mấy mươi năm ăn ngủ cùng những “cơn vật chữ” của thi sỹ Trần Quang Quý, không biết rồi trong Kiếp mưa của mình Y Mùi có bị ảnh hưởng, có để mạch chữ nào của họ Trần vào làm tổ, làm vòm trong những cung thơ của chị? Không biết rồi tập thơ sinh ra từ phía muộn mằn của một người chuyên văn xuôi liệu có đọng lại được gì trong sự ồn ã của thi ca hôm nay… Tôi đã mang theo những câu hỏi ấy khi mở từng trang Kiếp mưa này.

Thơ trong Kiếp mưa không phải là sản phẩm của những cuộc vật lộn cùng câu chữ với thi pháp, thi tứ… chảy suốt trong mạch chữ của Y Mùi là những trang lòng, mộc mạc, dung dị, nhưng tinh tế và lay gợi. Trong ấy không thấy dấu vết của những tay lọc chữ, xẻ chữ, đan chữ của nghề thơ. Những trang thơ của Kiếp mưa cứ thuận tự nhiên mà sinh ra từ góc nhìn và cảm thức thơ của tác giả. Thơ ấy, là những trang lòng, là sự kiến giải và tương tác cùng cuộc sống qua ngôn ngữ của một nữ văn nhân. 

Vừa mở cửa chữ của Kiếp mưa, đã thấy bóng “ông Ba Vì” Trần Quang Quý hiển hiện. Tuy nhiên, cái bóng trong mạch chữ ấy đang tĩnh tọa, đang thành đối tượng để những cảm thức thơ của Y Mùi tương tác và thấu xuất “Lục trong kho chữ của chồng/ Tầng tầng ghi chép vụn/ Mây, núi, trăng, hoa… những hứa hẹn cuộc người/ Thoáng giật mình run rẩy con tim/ Những hồng thơm treo hờ trang bản thảo” (Bài thơ chưa đặt tên).

Dường như Y Mùi không cố tình làm thơ, bởi vậy nên chị không bị câu chữ dắt vào mê lộ của chúng bằng những thuật ngữ, hay những thủ thuật trong nghề chữ. Thơ chị toàn những câu chữ “thật như đếm” nhưng lay gợi người đọc, bởi nó được cái cõi lòng chất chứa của kiếp người đẩy lên mặt chữ. Quả vậy, những trang lòng hun hút mở trong thầm lặng của kiếp người mới là nơi chốn mà thơ thường được sinh ra “Chỉ có nắng và gió/ Chỉ có cỏ và hoa/Ba Vì ở xa/ Và tôi một mình/ Nhỏ nhoi cùng cỏ/ Vịn bờ sông lở/ Ru xanh đợi mùa” (Bến sông quê). “Giọt buồn đẫm lối hoa/ Sót vài bông vàng lỗi mùa/ Hàng cây gió thôi đùa/ Dật dờ bước chân mồ côi/ Một vòm bằng lăng tím/ Góc phố nhuộm màu chờ” (Công viên ngày tránh dịch).

Đọc Kiếp mưa, để ý thấy đa phần những bài thơ trong ấn phẩm này đều được viết trong khoảng sáu bảy năm trở lại đây. Đặc biệt là những năm tháng chị phải chiến đấu, phải chịu đựng sự mất mát lớn lao, trong những tháng ngày thi sỹ Trần Quang Quý lâm bệnh hiểm và giã từ cõi thế! Dài dòng như thế, đủ thấy rằng thơ thường sinh ra từ phía nỗi đau của kiếp người! “Người nợ ta một lời xin lỗi/ Ta mắc nợ người câu thề hẹn trăm năm/ Con sông vẫn đấy bến nước ở đâu/ Để cả đời đôi bờ cách trở.…” (Chiều cuối năm), “Thời gian trôi để quên/ ngày mới đến để biết/ tự nhủ mình phải sống/ hôm nay cho vuông tròn/ Bóc dần tờ lịch còn/ tiễn ngày về quá khứ/ bận bịu ngày chưa cũ/ ngóng một mai an lành” (Bóc lịch).

Trong thế giới của thi ca, có những loài thơ sinh ra là để cho muôn trùng ngưỡng vọng, có loài thơ tự đốt mình mà lóe sáng giữa nhân gian, lại có loài thơ véo von hót theo năm tháng, thế thời… Tuy nhiên, khi đến thời hiện đại và hội nhập, thì loài thơ chuyên dùng để tương tác và giải tỏa những ẩn ức sâu kín trong kiếp người là loài có sức sống hơn cả. Thơ của nữ sỹ Y Mùi, về tư tưởng thì thuộc loài thơ tương tác và giải tỏa này.

Thơ Y Mùi không bị ràng buộc và chi phối bởi nhãn mác của người viết, hay các thể thức thơ. Chính nhờ tự nhu cầu nội tại, nhờ câu chữ tự sinh, tự nở ấy mà Kiếp mưa đã có những thành công, trước hết là ở sự chia sẻ, giải tỏa những nỗi niềm của chính tác giả thơ. Quả đúng là “Hữu ý trồng hoa, hoa chẳng nở/ Vô tình cắm liễu, liễu nảy mầm”, câu này có vẻ như rất “trúng” với Y Mùi và Kiếp mưa của chị “Đồng khô/ Ngày hạn/ Gàu sòng không dây/ Em tát/ Lòng mương cạn rát/ Nước đâu không về” (Đợi mùa). “Ta đi về phía thưa người/ Chầm chậm như mây tháng Tám/ Hiền hòa như lá đang xuân/ Bỗng gặp dấu chân vấp va một thuở/ Ngày cũ vẹt mòn” (Độc hành 2), “Một kiếp mưa đã hóa thành mây trắng/ Còn một kiếp mưa vẫn đang đợi nắng/ Ai người hong khô/ Kiếp mưa lại gặp kiếp mưa/ Sông đời chìm nổi, thãi thừa bão giông” (Kiếp mưa).

Mấy bài thơ nhỏ này trong Kiếp mưa được trình bày theo thể thức thơ Namkau, thơ ấy ấn tượng và gợi mở! Nhưng thật sự, chả cần đặt nó vào thể thức thơ nào, thì những câu chữ của nó vẫn đủ sức nén, sức gợi để tương tác và lan tỏa vào phía người đọc. Mới hay, khi thơ là tiếng lòng thật sự, là những chia sẻ đích thực, nó hầu như ít bị lệ thuộc, bị chi phối bởi vần điệu và thể thức thi ca. “Cả cuộc đời mẹ gồng mình/ Cõng phận đàn bà chạy bộ/ Đường đời đâu cũng hun hút gió/ Thân cò lặn lội sớm khuya/ Mẹ đã hao gầy chừng kia/ Thời gian cong hình dấu hỏi/ Bàn chân trần vẹt mòn lối sỏi/ Dáng còng đong đủ gió sương” (Mẹ).

Kiếp mưa trải những trang lòng - 2

Tập thơ đầu tay “Kiếp mưa” của Y Mùi.

3. Trong cõi văn chương, có nhiều người chuyên văn xuôi bất thần có những pha bẻ lái sang thơ, như gần đây nữ nhà văn Bích Ngân bất ngờ xuất bản tập thơ Nghiêng về phía nỗi đau – Tập thơ ra đời đã tạo nên một cuộc xao động khá thú vị cho đời sống văn học. Sự thành bại về nghệ thuật của những cú bẻ lái ấy thì xin cứ để bạn đọc và văn chương minh định theo thời gian, riêng với tôi, những pha bẻ lái ấy rất đáng trân trọng.

Thơ của những người viết văn xuôi ít bị lệ thuộc vào vần luật và dễ tạo nên điểm nhấn ở cách họ sử dụng chi tiết và hình tượng trong thơ. Đọc Kiếp mưa hẳn rồi người ta cũng sẽ dễ dàng nhận ra điểm nhấn ấy “Nhà vắng con mọi thứ thành thừa/ Chùm chìa khóa im lìm góc tủ/ Căn phòng trống không áo quần vương vãi/ Mẹ một mình một bóng mình suông” (Vắng con).

Thơ Y Mùi là mạch thơ sinh ra từ những tấc đời của chính chị, hoặc qua những kiếp nhân sinh mà chị đã gặp/tiếp cận/tương tác bằng cảm thức thơ. Như tứ thơ dưới đây được viết từ cảm thức về một cô gái tên Len, tuổi đôi mươi, đang hoan hỷ và tận tâm trong chức phận của một điều dưỡng viên tại một nhà dưỡng lão: “Một khu nhà ẩn trong rừng cây.…/ Một cuộc gặp tình cờ/.… Cháu gái ấy tên Len/.… Một nụ cười như sinh ra để cười/.… Xung quanh chỉ núi với cây/ Và những ông bà già triền miên đau ốm/Hỏi cháu có buồn không/ Vẫn nụ cười sinh ra chỉ để cười/ Câu trả lời nhẹ nhàng, chân ái/ Họ như ông bà, cha mẹ/.… Người chọn nghề hay nghề chọn người/ Thương thế!” (Thăm nhà dưỡng lão).

Nhà văn, bác sỹ Y Mùi đã và đang tần tảo cùng văn chương bên cái bóng quá lớn của ông “Ba Vì” – Trần Quang Quý chồng chị, ấy là một nhân duyên hay một hạn chế cho những trang văn của chị? Có lẽ là cả hai từ tiền kiếp nghiệp sinh đã trổ vào đời chị ở cõi này chăng?

Ấn phẩm Kiếp mưa được khai sinh, ấy là lúc những ẩn ức, cô côi từ sâu thẳm những trang lòng đã được tái sinh vào kiếp chữ để giải phóng và lan tỏa!  

Nguyễn Thế Kiên




Nguồn: Arttimes.vn

62 tác giả gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam: Dấu mốc và trách nhiệm nghề nghiệp


Ngày 1/2, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội nghị triển khai công tác văn học năm 2026 và Lễ Kết nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

62 tác giả gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam: Dấu mốc và trách nhiệm nghề nghiệp - 1

Các đại biểu tham dự Hội nghị triển khai công tác văn học năm 2026 và Lễ Kết nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: Huyền Thương

Tiếp tục củng cố uy tín và vị thế của văn học

Phát biểu tại Hội nghị, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho biết, năm 2025 vừa qua là một năm với nhiều hoạt động văn học dày đặc, được diễn ra trong bối cảnh nhiều biến động lớn của đời sống xã hội, của quá trình tinh gọn bộ máy và những thay đổi trong không gian hành chính – văn hóa.

Hội Nhà văn Việt Nam đã nỗ lực triển khai và tổ chức thành công nhiều hoạt động quan trọng. Tiêu biểu là Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 23 được tổ chức tại Ninh Bình; chuỗi ba hội thảo và một tọa đàm khoa học về tổng kết 50 năm văn học Việt Nam sau năm 1975. Bên cạnh đó, Hội cũng duy trì hiệu quả các trại sáng tác, chương trình đi thực tế, lớp tập huấn chuyên môn, hoạt động đối ngoại… góp phần thúc đẩy đời sống sáng tác và tăng cường sự gắn kết của đội ngũ nhà văn trong cả nước.

62 tác giả gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam: Dấu mốc và trách nhiệm nghề nghiệp - 2

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam phát biểu tại buổi Lễ. Ảnh: Huyền Thương

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng, trong thời gian qua, trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia, văn học tiếp tục giữ được vai trò nền tảng, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ XIV và triển khai các định hướng lớn sau Đại hội. Theo ông, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu mỗi nhà văn không chỉ cần đổi mới tư duy sáng tạo mà còn phải tự nâng cao ý thức nghề nghiệp, xác lập những chuẩn mực mới trong lao động nghệ thuật. Sự trung thực, lòng tự trọng, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội được xem là những giá trị cốt lõi cần được các nhà văn đề cao trong giai đoạn này.

Từ thực tiễn đội ngũ, ông cũng thẳng thắn bày tỏ những trăn trở trước thực tế vẫn còn một số hội viên chưa thể hiện đầy đủ tinh thần trách nhiệm của người cầm bút, coi đây là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc để củng cố uy tín và vị thế của văn học trong đời sống đương đại.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng thông tin thêm về Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam khóa XI, theo đó, Đại hội dự kiến sẽ được tổ chức vào Qúy 3 năm 2026, trong khoảng tháng 8 hoặc 9.

Công nhận 62 tác giả là Hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam

Việc kết nạp hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam là công tác thường xuyên được tổ chức hằng năm, nhằm đáp ứng nguyện vọng của các tác giả văn học, đồng thời đáp ứng công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội ngày càng vững mạnh cả về số lượng và chất lượng.

62 tác giả gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam: Dấu mốc và trách nhiệm nghề nghiệp - 3

Quang cảnh Lễ Kết nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: Huyền Thương

Theo nhà thơ Trần Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, tính đến ngày 31/10/2025, đã có 786 tác giả gửi bản đăng ký gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam, cho thấy sự dồi dào của nguồn lực sáng tạo văn chương và tấm lòng yêu mến, tin cậy của đông đảo bạn viết trong cả nước với tổ chức Hội Nhà văn Việt Nam.

Về công tác kết nạp hội viên mới trong năm nay, nhà thơ Trần Hùng cho biết, Ban Chấp hành Hội đã tiếp tục chỉ đạo bám sát quy chế đã ban hành. Do vậy, công tác kết nạp hội viên mới được thực hiện một cách có quy củ, khoa học, công bằng, chính xác. Theo đó, danh sách tác giả đăng ký ra nhập Hội được gửi trước đến các hội đồng chuyên môn để tham khảo ý kiến nhận xét, đánh giá bằng phiếu kín. Khi cần thiết, Ban Chấp hành Hội còn tham khảo ý kiến nhận xét, đề nghị của các chi hội Nhà văn ở địa phương.

Trước đó, ngày 30/12/2025, Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều đã ký quyết định kết nạp hội viên mới năm 2025 cho 63 hội viên thuộc 5 chuyên ngành, tuy nhiên, do một hội viên có đơn kiến nghị từ địa phương nên cần xem xét, vì vậy, tại Lễ Kết nạp Hội viên lần này, Hội Nhà văn Việt Nam trao giấy chứng nhận và thẻ hội viên cho 62 hội viên.

Đại diện Hội Nhà Văn Việt Nam cũng cho biết, nếu hội viên mới có vấn đề đúng như đơn kiến nghị thì sẽ phải xem xét lại, nhưng nếu không đúng, Hội sẽ bảo vệ quyền lợi của hội viên đó. 

Như vậy, có 62 tác giả đủ số phiếu quá bán và được công nhận là Hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam. Cụ thể: Văn xuôi: 16 tác giả; Thơ: 27 tác giả; Lý luận phê bình: 5 tác giả; Dịch văn học: 4 tác giả; Thiếu nhi: 6 tác giả; Tác giả trẻ: 4 tác giả.

62 tác giả gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam: Dấu mốc và trách nhiệm nghề nghiệp - 4

Đại diện Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trao quyết định kết nạp hội viên mới cho các hội viên thuộc chuyên ngành Thơ. Ảnh: Huyền Thương

Gia nhập Hội lần này, có nhiều tác giả là cây bút đã từng trải, có nhiều thành tựu và có nhiều tác giả là các cây bút đang sung sức. Trong đó có 34 tác giả dưới 55 tuổi, 6 tác giả dưới 35 tuổi.

Gửi lời cảm ơn tới các hội viên mới, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều nhìn nhận con đường sáng tác văn học luôn tiềm ẩn nhiều thách thức và tồn tại không ít bất định. Trong bối cảnh đời sống văn chương đang thu hẹp cả về đội ngũ người đọc, người viết, cũng như số lượng tác giả có nguyện vọng gia nhập Hội, việc các nhà văn vẫn kiên trì sáng tác, lựa chọn gắn bó với Hội Nhà văn Việt Nam và chủ động dấn thân vào con đường nghề nghiệp là điều đáng trân trọng. Theo ông, chính sự lựa chọn đó thể hiện niềm tin vào giá trị của văn chương và cần được ghi nhận, trân quý.

“Bước vào Hội Nhà văn Việt Nam, mỗi người viết sẽ nhận thêm thách thức, trách nhiệm, sẽ phải tự mình cúi xuống gánh một gánh nặng trên vai, đó là gánh nặng về tư cách sống, về thái độ, về phát ngôn và đặc biệt là giá trị trong tác phẩm của mình”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh.

62 tác giả gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam: Dấu mốc và trách nhiệm nghề nghiệp - 5

Đại diện Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trao quyết định kết nạp hội viên mới cho các hội viên thuộc chuyên ngành Văn xuôi, Lý luận Phê bình, Văn học dịch và Văn học Thiếu nhi. Ảnh: Huyền Thương

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng đề nghị, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa XI cần nghiên cứu, xây dựng quy chế khai trừ hội viên nhằm bảo đảm kỷ cương và uy tín của tổ chức. Theo ông, thực tế cho thấy vẫn tồn tại những trường hợp hội viên có sáng tác, phát ngôn hoặc hành xử chưa phù hợp, gây ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của Hội. Vì vậy, bên cạnh quy chế kết nạp, việc hoàn thiện cơ chế xử lý, trong đó có quy định về khai trừ hội viên là yêu cầu cần thiết.

Với 62 tác giả mới vào Hội, số lượng hội viên Hội Nhà văn toàn quốc tính đến thời điểm hiện tại là 1210 hội viên.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025


Chiều ngày 30/1/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025, đánh dấu chặng đường đầu tiên gần một năm hoạt động kể từ khi Hiệp hội chính thức được thành lập với nhiều nỗ lực đáng trân trọng, đặt những viên gạch đầu tiên cho hành trình dài góp phần phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.

Trong bối cảnh văn hóa được xác định là động lực nội sinh của phát triển bền vững, việc thành lập Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam không chỉ xuất phát từ nhu cầu tập hợp lực lượng mà còn là bước đi phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo trong thời kỳ hội nhập sâu rộng. Quyết định số 2486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam được ban hành ngày 7/1/2026 mới đây cho thấy con đường phát triển của công nghiệp văn hóa Việt Nam đang được quan tâm đặc biệt và đó cũng chính là lý do là kim chỉ nam của Hiệp hội.

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 1

Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025 của Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam

Theo báo cáo tổng kết tại Hội nghị, sau Đại hội Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam nhiệm kỳ 2025–2030 được tổ chức ngày 11/7/2025 tại Bảo tàng Quốc gia, Ban Thường vụ và Ban Tổng Thư ký đã khẩn trương triển khai các công việc cần thiết nhằm sớm đưa Hiệp hội đi vào hoạt động. Hiệp hội tập trung hoàn thiện các hồ sơ pháp lý, thủ tục hành chính, đồng thời từng bước xây dựng bộ máy tổ chức. Các ban chuyên môn được thành lập gồm: Ban Kinh tế – Tài chính; Ban Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực; Ban Xuất bản; Ban Truyền thông và Sự kiện; Ban Công nghệ; Ban Đối ngoại; Ban Hội viên; Ban Địa phương… Cùng với đó, Hiệp hội quyết định thành lập Chi nhánh Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong năm 2025, Hiệp hội và các đơn vị trực thuộc đã tổ chức và tham gia một số hoạt động chuyên môn nhằm đánh dấu sự hiện diện và vai trò của tổ chức mới thành lập. Chi nhánh Hiệp hội tại Thành phố Hồ Chí Minh chủ động tổ chức các sự kiện ra mắt, công bố quyết định nhân sự, đồng thời ký kết hợp tác với một số đối tác chiến lược, trong đó có Quỹ Hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Việt Nam, các trung tâm nghiên cứu, đơn vị trực thuộc và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm phối hợp trong đào tạo, nghiên cứu và phát triển công nghiệp văn hóa.

Hiệp hội cũng tham gia một số triển lãm, hoạt động văn hóa tại Hà Nội; đồng thời tổ chức các chương trình, sự kiện chào mừng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2025).

Một hoạt động đáng chú ý là Hội thảo khoa học “Phát triển công nghiệp văn hóa phía Nam – Thực trạng và giải pháp”, tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo thu hút sự tham gia của đông đảo lãnh đạo, nhà quản lý, chuyên gia, nghệ sĩ, doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật. Ban Tổ chức cho biết đã tiếp nhận 15 lượt ý kiến phát biểu trực tiếp và khoảng 30 bài tham luận của các nhóm tác giả, tập trung phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cho phát triển công nghiệp văn hóa tại khu vực phía Nam.

Bên cạnh đó, hoạt động giao lưu đối ngoại và hợp tác quốc tế cũng được Hiệp hội quan tâm triển khai. Hiệp hội đã tiếp và làm việc với một số đoàn doanh nghiệp nước ngoài, trao đổi về khả năng hợp tác trong các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

Báo cáo tổng kết tại Hội nghị cũng thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, hạn chế của Hiệp hội trong giai đoạn đầu hoạt động. Là một tổ chức mới thành lập, đội ngũ lãnh đạo và cán bộ chuyên môn của Hiệp hội phần lớn chưa có nhiều kinh nghiệm vận hành một hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa – lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Hiệp hội chưa có nguồn tài chính hỗ trợ ban đầu để triển khai các hoạt động lớn. Khi chưa có nguồn thu ổn định, các hoạt động phải được tính toán, sắp xếp theo hướng tiết kiệm, ưu tiên những nội dung phù hợp với tiềm năng, thế mạnh và nhu cầu của hội viên.

Về phương hướng hoạt động năm 2026, Hiệp hội xác định tiếp tục tập trung ổn định và hoàn thiện bộ máy tổ chức; thành lập đầy đủ các ban chuyên môn, đơn vị trực thuộc; mở rộng hệ thống văn phòng, chi nhánh tại khu vực miền Trung và các tỉnh, thành phố có đủ điều kiện.

Hiệp hội đặt mục tiêu xây dựng hình ảnh, thương hiệu theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với xu thế quốc tế; tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết với các đối tác, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Ban Thường vụ xác định là nghiên cứu, tổng hợp và đề xuất với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chính phủ các chủ trương, chính sách, cơ chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp văn hóa, như cơ chế ưu đãi thuế, hỗ trợ vay vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp văn hóa tiếp cận và sử dụng tài sản công, dự án nhà nước phục vụ văn hóa.

Hiệp hội cũng đặt mục tiêu chủ động tham gia, tận dụng và phát huy hiệu quả Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến phát triển công nghiệp văn hóa; kịp thời phản ánh, kiến nghị tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

Theo kế hoạch, Hiệp hội sẽ từng bước xây dựng và thành lập các trung tâm đào tạo, nghiên cứu phát triển công nghiệp văn hóa; trung tâm thẩm định, định giá và đấu giá nghệ thuật; tạp chí chuyên ngành; hệ thống văn phòng đại diện, chi nhánh trong nước và nước ngoài.

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 2

NSND Vương Duy Biên – Nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam phát biểu tại Hội nghị

NSND Vương Duy Biên – Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam cho biết, một trong những hành động trọng tâm và cụ thể của Hiệp hội trong năm 2026 là sẽ nỗ lực hoạt động, tập hợp được nhiều các cá nhân, các nghệ sĩ, những người yêu văn hóa yêu nghệ thuật để sáng tạo sản phẩm văn hóa, nghệ thuật chất lượng cao, tiêu biểu của Việt Nam, không chỉ phản ánh tinh hoa của văn hóa Việt Nam mà còn có khả năng thu hút sự quan tâm và đầu tư của công chúng quốc tế.

Theo ông: “công nghiệp văn hóa là lan tỏa văn hóa Việt Nam ra khỏi biên giới, để người dân thế giới có thể tiếp cận và yêu thích các giá trị văn hóa của Việt Nam. Điều này không chỉ mang lại danh tiếng mà còn có thể tạo ra nguồn thu nhập từ việc bán vé, tác phẩm nghệ thuật…”.

Phát biểu tại Hội nghị, bà Nguyễn Phương Hòa, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), nhận định sự ra đời của Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam là một sự kiện quan trọng, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa.

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 3

Bà Nguyễn Phương Hòa, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phát biểu

Theo bà Nguyễn Phương Hòa, chỉ trong thời gian ngắn – khoảng 5 tháng hoạt động, Hiệp hội đã xây dựng được bộ máy tổ chức, quy tụ được mạng lưới chuyên gia và bước đầu triển khai các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của công nghiệp văn hóa, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế. Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế bày tỏ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẵn sàng đồng hành, phối hợp với Hiệp hội trong triển khai các chương trình, đề án liên quan đến phát triển công nghiệp văn hóa trong thời gian tới.

Tại hội nghị, các hội viên cũng chia sẻ về những cam kết hành động trong năm mới 2026 để đóng góp cho sự phát triển của Hiệp hội nói riêng và ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam nói chung.

Tại Hội nghị, Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam cũng tặng bằng khen cho các hội viên có đóng góp tích cực cho Hiệp hội và tổ chức kết nạp hội viên mới.

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 4

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 5

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam cũng tặng bằng khen cho các hội viên có đóng góp tích cực cho Hiệp hội

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 6

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 7

Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tổng kết hoạt động năm 2025 - 8

Lãnh đạo Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam tặng huy hiệu và hoa cho các hội viên mới được kết nạp



Nguồn: Arttimes.vn

Tiếng trống chèo hội xuân (truyện ngắn)


Tiếng hát chèo mượt mà vang lên từ phía chùa làng, sao mà nồng nàn da diết đến vậy. Lời bài hát như xoáy vào lòng ông Tuệ. “Người về… để con nhện í ơ ơ nó mấy giăng hư hự mùng… là giăng ứ hự ư mùng…”. Như có gì đó thôi thúc, ông nhanh chóng rẽ đám đông tới gần sân khấu để nghe cho rõ. Dưới ánh đèn rực rỡ, người nghệ sĩ nhan sắc mặn mà trong tà áo tứ thân mớ ba, mớ bẩy uyển chuyển, dịu dàng, chiếc khăn vấn trên đầu đen mướt, chiếc yếm đỏ cùng thắt lưng xanh, càng làm nổi bật khuôn mặt trái xoan trắng hồng, đôi môi như đóa hoa hé nở. Có tiếng xì xào: “Cô này được cả thanh lẫn sắc”.

Ông Tuệ vào được sát cánh gà, đứng ở vị trí này không chói ánh đèn sân khấu nên ông quan sát được kỹ hơn. Càng nhìn ông càng thấy gương mặt của người nghệ sĩ đang hát, hao hao giống khuôn mặt của Thương. Người mà mấy chục năm nay ông vẫn luôn mong nhớ kiếm tìm. Những giai điệu cuối của bài hát ngân nga trầm bổng, lắng đọng vào lòng người nghe, cả khoảng sân im lặng như để thẩm thấu nhưng giai điệu vừa da diết vừa như dỗi hờn. Rồi một tràng pháo tay nổ ra, vỡ òa cảm xúc:

– Hay quá!

– Con cái nhà ai mà hát hay thế. Cứ như chuyên nghiệp vậy.

– Thế cô ấy không phải nghệ sĩ à?

– Không phải, nghe đâu cô ấy là cháu họ xa nhà ông Triều. Tết này về quê ăn Tết, thăm họ hàng làng xóm…

Ông Triều là anh họ xa nhà Thương ngày ấy, ông Tuệ biết vì học trên ông có một lớp trường làng. Sao lại có sự trùng hợp như vậy, không lẽ… Thương đang ở quê? Đợi cho ngớt tiếng vỗ tay, những bó hoa của người ái mộ ôm chật cứng một vòng tay, cô rời sân khấu trong tiếng xuýt xoa trầm trồ không ngớt. Vừa bước vào cánh gà đã nghe tiếng gọi giật lại:

– Này cháu ơi! Thương ơi!

Không hiểu sao ông lại buột miệng gọi tên Thương. Cô gái giật mình.

– Bác gọi cháu ạ?

– À … Chắc bác nhầm. Nhưng thú thực là …là cháu rất giống một người mà bác quen, cô ấy…À bà ấy tên là Thương.

Ông toan bước đi thì cô gái lúc này sốt sắng níu ông lại.

– Có phải bác tên Tuệ. Bùi Đình Tuệ không ạ?

Giờ lại đến lượt ông giật mình, sửng sốt nhìn cô gái trước mặt mình.

– Sao cháu biết được tên bác? Có phải…?

– Bác Triều đã kể cho cháu nghe…Chắc bác cũng mới về quê.

– Thì ra cháu là con gái mẹ Thương.

– Vâng, chuyện dài lắm, hai bác cháu ta đi dạo quanh làng trò chuyện bác nhé!

Hội làng Điền Sơn năm nay mở ra, đúng lúc tiết trời đẹp nhất của mùa xuân. Mưa lay phay nhưng không quá rét, đủ để cây cối đâm chồi nảy lộc xanh tươi, muôn hoa khoe sắc, cờ phướn đỏ rợp hai bên đường làng, chào đón người làng và du khách thập phương về trẩy hội. Hàng năm cứ vào rằm tháng Giêng, khi không khí tết vẫn còn treo trên những cành đào, cành mai đang nở rộ, là diễn ra lễ hội truyền thống của làng Điền Sơn của ông và Thương. Vậy mà, sau mùa lễ hội ấy cách đây cũng tròn 40 năm ông mới lại trở về nơi đây, để được đắm chìm vào không khí lễ hội, để hồi tưởng và nhớ về một thời thanh xuân với một niềm tiếc nuối, chờ đợi và hy vọng. Hai bác cháu đi đến rặng dừa phía gần chùa, tìm một ghế đá yên tĩnh. Một bên chân ông Tuệ bắt đầu đau nhức dữ dội.

– Ta ngồi xuống đây cháu. Cháu kể đi, mẹ cháu lúc này ra sao, có khỏe không, và đang ở đâu? Mấy lần bác dò hỏi về làng nhưng mọi người nói mẹ cháu đã vào Nam.

Lúc này cô gái mới mạnh dạn nắm lấy đôi tay chai sạn của ông, giọng run run:

– Bác biết không, lúc mới gặp bác cháu đã có linh cảm rằng, bác cháu ta có một mối gắn kết nào đó. Bác giống người trong tấm ảnh mà má con nâng niu cất giữ bấy lâu. Sau tấm ảnh ghi dòng chữ nắn nót: “Mến tặng em. Thương nhớ của lòng anh – Bùi Đình Tuệ”. (Cô gái đã đổi cách xưng hô nghe thật gần gũi). Con có gặng hỏi nhưng má con chỉ nói: “Là người rất quan trọng trong cuộc đời má”. Con nói quan trọng vậy sao má không đi kiếm. Má lại nói: “Nếu còn duyên sẽ gặp lại… Dù có xa cách bao lâu đi nữa”. Nay con gặp được bác rồi, con nhất định đưa bác về gặp má con, má con sẽ vui biết chừng nào.

– Vậy má con giờ ở đâu, không về làng sao?

Nhà con bốc vé về quê dự giỗ Tổ họ Bùi. Nhưng đến ngày đi má con hơi mệt, với cháu gái còn muốn tham gia nốt lớp học múa vài ngày nữa là kết thúc. Má biểu hai vợ chồng con về trước cho kịp lễ hội xuân rất vui. Về hội thay má hát bài chèo “Con nhện giăng mùng” ngày xưa… Xong ngày hôm nay, con sẽ quay lại đón hai bà cháu về làng cho kịp ngày giỗ Tổ bác ạ. Má con đã xa quê lâu rồi, má mong từng ngày.

Không do dự ông Tuệ quả quyết: “Bác sẽ đi cùng con… đón má con về quê”. “Ôi vui quá! Bác có thể kể chuyện ngày xưa của bác với má con, cho con nghe được không bác?”.

Ông Tuệ nhìn rặng dừa lao xao, cơn gió mát rượi từ cánh đồng làng thổi tới, vọng đâu đây tiếng trống chèo hội làng năm ấy… Mơn man theo dòng suy tư trở về.

Năm ấy, thanh niên trong làng ngoài xã, không ai lại không biết cô thôn nữ duyên dáng nhất làng Khánh, có giọng hát chèo mê mẩn lòng người. Hội xuân năm nào của làng cô cũng là tâm điểm, với làn điệu chèo làm đắm đuối bao ánh mắt trai làng, cùng bao nhiêu “vệ tinh” các làng lân cận đến trồng cây si. Nhà ông bà Cương suốt ngày nghe tiếng chó sủa, có những vị khách không mời suốt ngày lảng vảng quanh ngõ.

Trong số đó có anh chàng tên Sơn, công tử bột nhà Ba Đinh giàu nhất làng. Hễ thấy Thương đi làm đồng, hay đi cắt cỏ là lẽo đẽo theo sau buông lời tán tỉnh. Nhiều hôm Thương đi cùng mẹ, Sơn cũng vẫn theo ra tận ruộng, lăng xăng lội xuống đòi phụ giúp. Nhưng khổ nỗi anh chàng có biết gì về ruộng vườn đâu, ngoài lúc đi học thì lêu bêu đầu làng, cuối xóm vui chơi đánh bài, học hành thì chểnh mảng chả đâu vào đâu. Hàng ngày thấy Tuệ lai Thương đi học qua cổng làng, Sơn tức tối ra mặt. Qua tìm hiểu Sơn biết Thương có cảm tình với Tuệ, nên Sơn càng ra sức tiếp cận Thương mọi lúc mọi nơi, nhiều lúc Thương thấy bức bối, khó chịu với kiểu “phong tỏa” vô lý ấy của Sơn.

– Sao anh Sơn không lo học hành đi, sắp thi tốt nghiệp rồi?

– Thì vẫn học đấy thôi. Có điều, muốn sang học chung với Thương. Mấy hôm nữa thằng Tuệ nó đi bộ đội, anh sang học cùng Thương nhé!

– Ai bảo anh thế, đi bộ đội bao giờ? Sắp thi tốt nghiệp đến nơi rồi.

– Thì nghe chú Đỉnh nói vậy. Nó đã viết đơn tình nguyện gửi lên xã kia kìa.

Bỏ Sơn chưng hửng ở lại, Thương chạy đi tìm Tuệ để hỏi cho chắc.

– Thì đúng là như vậy, nhưng nhà Tuệ có anh Thông đi rồi nên các chú trên xã vẫn chưa đồng ý.

– Thì anh cứ thi Đại học đi đã, bây giờ đi có khi còn chưa đủ chiều cao, cân nặng nữa ý.

– Bởi vậy, nên dạo này Tuệ rất chịu khó tập thể dục thể thao và ăn thật nhiều để tăng cân đây này.

Thi tốt nghiệp xong, Thương thi vào trường Trung cấp Y của tỉnh nhà. Tuệ học giỏi nên tự tin thi vào Đại học Bách Khoa. Kết quả trúng tuyển Đại học và giấy báo nhập ngũ về cùng một ngày. Tuệ giấu nhẹm kết quả tuyển sinh để được đi bộ đội đợt đó. Ngày Tuệ lên đường, Thương đã lên tỉnh nhập học, chỉ xin được nghỉ đúng buổi sáng hôm Tuệ đi. Chia tay nhau trong bịn rịn, thấy Thương buồn, cứ thút thít mãi, Tuệ an ủi: “Thương ở nhà gắng học cho tốt, nhớ phải học thêm cả phần anh nữa, sau này về dạy lại cho anh”. “Anh đi chân cứng đá mềm, nhớ giữ gìn sức khỏe. Em sẽ chờ ngày chiến thắng anh về”.

Tuệ nhập ngũ và bắt đầu những ngày luyện quân trên đất Hà Bắc, ba tháng ròng rã tập luyện trên thao trường đã biến một thanh niên nặng chưa đầy 50kg, nước da trắng và mái tóc bồng bềnh. Nay là anh bộ đội binh nhì rắn rỏi, chững chạc, với nước da sạm nắng gió thao trường, với mái tóc húi cua gọn gàng.

Sau đợt huấn luyện, Tuệ được nghỉ phép ba ngày về thăm nhà. Tuệ mừng lắm viết thư cho Thương cả chục hôm trước, hẹn Thương cùng về. Thương biết sau đợt huấn luyện quân, các anh sẽ hành quân vào chiến trường miền Nam xa xôi, nơi giao tranh súng đạn đang diễn ra ác liệt, chắc phải lâu lắm mới lại được gặp nhau. Sau cuộc trà nước thăm hỏi của bà con xóm ngõ, Tuệ cùng Thương tản bộ dưới rặng dừa xanh mát ven làng, gió xạc xào trên tán lá, thoang thoảng mùi hương nhu, hoa bưởi trên tóc Thương. Bỗng dưng niềm xúc động dâng trào, Tuệ kéo Thương sát lại gần mình.

Có lẽ sau lần gặp gỡ này… Chắc phải lâu lắm anh mới được về… chiến tranh còn dài…  Hai người đứng nép bên nhau. Tuệ nâng khuôn mặt Thương sáng rực dưới ánh trăng đầu tháng, khẽ đặt chiếc hôn đầu tiên lên đôi môi trinh nữ.

– Anh yêu em, yêu nhiều lắm Thương ạ.

– Em… cũng vậy, Tuệ ơi. Em sẽ chờ anh ngày chiến thắng trở về.

Giây phút bên nhau ngắn ngủi nhưng họ vô cùng hạnh phúc, vì cả hai đều biết dù ngày mai có xa cách nghìn trùng, mỗi lúc họ đều hướng về nhau, con tim yêu thương dành trọn cho nhau và mãi mãi.

Tiếng trống chèo hội xuân (truyện ngắn) - 1

Minh hoạ Ngô Xuân Khôi

Sau lần về thăm nhà Tuệ trở về đơn vị, chuẩn bị cho cho cuộc hành quân vào chiến trường miền Nam. Rời đất Hà Bắc vào một chiều tháng chạp năm 1971. Tất cả tân binh lên tàu hỏa vào đến ga Vinh, nhận quân tư trang tiếp tục lên xe tải đi sâu vào Nam. Chính thức chia tay đất Bắc, sau đó hành quân triền miên vào dải Trường Sơn ngút ngàn. Đơn vị của Tuệ được tăng cường chi viện cho chiến trường Tây Nguyên. Cuộc giao tranh ác liệt, không còn thời gian để nghĩ về việc gì, nỗi nhớ nhung chỉ hiện về trong những giấc ngủ chập chờn giữa hai trận đánh, giữa những cơn sốt rét rừng run cầm cập. Cả năm trời chỉ nhận được mỗi một lá thư của em gái, báo tin quê nhà cũng đang phải hứng chịu những trận bom dữ dội.

Đầu năm 1972, quân ta liên tiếp giành thắng lợi trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao. Trước tình thế này, Tổng thống Mỹ Ních – Xơn ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2. Đây cũng được coi là cuộc chiến tranh với tính chất ác liệt hơn, tàn bạo hơn so với chiến tranh lần thứ nhất. Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B52 đánh phá đồng loạt một số tỉnh như Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng, Quảng Ninh… Tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược vào miền Bắc nước ta, với tên gọi “Chiến dịch Linebacker2”.

Cuối năm 1974 Tuệ bị thương rất nặng và được đưa về tuyến sau điều trị, sau nhiều tháng nằm ở viện dã chiến Tuệ được đưa ra Bắc tập kết để tiện việc chữa trị vết thương. Sau nhiều cuộc phẫu thuật trên cơ thể Tuệ để lại rất nhiều thương tích, nặng nhất là một bên chân đã phải tháo đến khớp gối. Trong thời gian nằm điều trị tại Hà Tây, Tuệ biết tin làng mình hồi giặc Mỹ ném bom thiệt hại rất nặng nề, nhà Tuệ bị trúng bom mất hết cả, chỉ còn mỗi cô em gái. Giờ thể trạng Tuệ thế này, Tuệ không muốn mình là gánh nặng cho em gái, nên đã xin ở lại Trung tâm điều dưỡng thương binh. Cả Thương nữa anh không muốn Thương biết tình trạng hiện giờ của mình. Anh muốn Thương được hạnh phúc.

Rất lâu sau Tuệ lập gia đình với một nữ thương binh trong trung tâm, hai người được phân một căn phòng nhỏ, những tưởng tiếng cười hạnh phúc sẽ trở lại trên môi, nhưng một lần nữa chiến tranh đã cướp đi quyền làm cha, làm mẹ của họ. Chất độc dioxin đã ngấm vào cơ thể không còn lành lặn của hai người, từ những năm tháng dầm mình trong cuộc chiến đấu gian khổ của dân tộc. Nhưng nỗi đau đó còn kéo dài, khi Nga, sau bao ngày vật lộn với những vết đau cả thể xác lẫn tinh thần đã ra đi mãi mãi, để lại mình Tuệ bơ vơ trên cõi đời.

Vượt lên những nỗi đau, ông Tuệ cố gắng tập luyện, và một phép màu đã  xảy ra. Cùng với nền y học phát triển ông được lắp chiếc chân giả, và từ đó ông từ biệt chiếc xe lăn đã đồng hành cùng ông suốt bao năm qua. Giờ đây ông có thể mơ về một ngày có thể tự mình về thăm quê, thắp nén hương tạ tội với bố mẹ, làng quê. Lại nói về gia đình Thương, năm đó cũng cùng chung cảnh như nhà Tuệ, Thương học trên tỉnh nên còn sống sót sau trận rải bom năm ấy của giặc Mỹ.

Cả làng đau xót sau trận ném bom, trắng những vành khăn trên đầu những người còn lại. Thương ngất đi sống lại bao lần chỉ muốn đi cùng cha mẹ và các em. Nhưng chính lúc đó Thương phát hiện một mầm sống đang cựa trong cơ thể mình. Thương biết giọt máu quý báu đó là món quà quý giá nhất, mà cuộc đời đã ban cho mình và người yêu thương của cô, Thương phải gắng sống để nuôi dạy con thành người có ích, để chờ anh về. Tuệ ơi, anh có biết không?

Hòa bình lập lại, đất nước thống nhất lâu rồi mà không thấy Tuệ trở về. Làng trên xóm dưới người trở về, người đã mất đều có tin tức, còn Tuệ thì không, cô em gái duy nhất nhà Tuệ sau đi lấy chồng xa quê, nên từ bấy Thương mất liên lạc. Cô chờ 5 năm, rồi 10 năm… Con bé Mến đã lớn ngần ấy. Thương vẫn không nguôi hy vọng chờ bằng được Tuệ trở về. Sơn bây giờ đã là anh chủ nhiệm hợp tác xã rất có uy trong làng vẫn qua lại săn đón.

– Thương cho tôi được qua lại bên này đỡ đần cho em và con.

– Cám ơn anh, tôi vẫn lo được.

– Thế em vẫn tin là thằng Tuệ còn sống à?

Sao lại không. Vẫn chưa có giấy báo tử. Mà kể cả đã có giấy thì tôi vẫn nuôi hy vọng và chờ đợi anh ấy. Anh ấy phải về mà nhìn thấy con bé, nó là con anh ấy, chứ không phải tôi hủ hóa như lời lúc trước anh đổ cho tôi đâu, anh Sơn ạ.

– Tại lúc trước tôi hận thằng Tuệ. Cho tôi xin lỗi Thương.

– Anh Sơn ạ, từ nay anh đừng qua lại nhà tôi, hàng xóm người ta dị nghị. Nếu anh nghĩ cho tôi, thì anh để cho tôi yên ổn nuôi con, chờ anh Tuệ.

– Thương thật không nghĩ cho tôi chút nào, người đi thì đã đi rồi, hòa bình 10 năm rồi hỏi Thương còn đợi chờ gì nữa, còn sống nó phải về rồi chứ. Tôi yêu thương chờ đợi em ngần ấy năm, sao em không đoái hoài gì tới tôi. Thật khổ cái thân tôi lắm.

Câu nói đó của Sơn làm Thương day dứt. Anh ở đâu, còn sống hay… Thì cũng phải báo mộng cho cho em biết với chứ. Ngày đêm Thương cầu khấn cha mẹ hai bên phù hộ cho lời nguyện cầu của cô được toại nguyện. Với Sơn, cô chỉ coi anh là một người bạn học không hơn, không kém, vì trong lòng Thương không ai có thể thay thế được Tuệ. Nếu anh không về, cô cũng sẽ ở vậy nuôi con khôn lớn trưởng thành. Nhưng Sơn cứ sấn tới, làng xóm cũng có nhiều tiếng ì xèo, nhân lúc con bác Triều làm y sĩ tận Huế về chơi, gặp dì trong hoàn cảnh này nó bàn đưa dì vào trong Huế làm việc với nó.

Bác Triều thấy cũng tốt cho hoàn cảnh bấy giờ của Thương nên vun vào: “Tôi biết dì còn nấn ná vì chờ chú Tuệ… Có duyên thì dù ở đâu cũng có thể tìm ra, nếu lòng người còn nhớ!”. Cuộc di cư của hai mẹ con về mảnh đất miền Trung xa xôi, âu cũng là muốn quên đi những ngày tháng đau thương vò võ đợi chờ và hy vọng. Thương dắt con đến đầu làng, ngoảnh nhìn lại rặng dừa lần cuối mờ dần, xa xa một màu trắng đục không biết sương hay khói đồng cay xè đôi mắt người thiếu phụ trẻ.

Mến thu xếp quay lại Huế đón hai bà cháu về quê giỗ Tổ. Chuyến đi này bên cạnh cô có một người mà ngay lần đầu gặp cô đã thấy rất gần gũi, linh cảm như có một sợi dây liên kết giữa hai người. Nhưng cô vẫn chờ gặp má, cô muốn chính má là người thông báo tin vui đó cho hai người. Chiếc xe đưa hai bác cháu về đến ngõ, Thương nhanh nhẹn bước tới mở cổng.

– Má, má ơi! Con về nè.

– Ờ, về đón má nhanh nhanh ta về quê thôi, mấy ngày qua má sốt ruột quá, bịnh cũng đỡ liền.

Ông Tuệ với đôi chân nặng nề cố bước thật nhanh, tới đứng trước bà Thương.

– Thương ơi, anh đã về với em đây!

Bà Thương sững lại, sau giây phút ngỡ ngàng bà lao tới ôm chầm lấy ông Tuệ, nước mắt giàn giụa.

– Sao bây giờ anh mới về tìm em, anh có biết là bao năm nay hai mẹ con em chờ đợi, mong ngóng anh biết chừng nào không?

Quay sang Mến:

– Con ơi, Mến ơi! Đây là ba con đó, sao hai ba con lại biết mà về cùng nhau rứa?

Đến lượt ông Tuệ sững người lại:

– Trời ơi! Là thực hay mơ đây? Con tôi đây sao… con ơi! 

– Ba! Những giọt nước mắt hạnh phúc lóng lánh như pha lê, chảy tràn trên ba khuôn mặt rạng ngời. 

Niềm vui đến quá bất ngờ, bà Thương và ông Tuệ ngỡ đó như là một giấc mơ. Cảm xúc dâng tràn chẳng chẳng thể thốt nên lời, họ im lặng nhìn nhau thật lâu, thật lâu…Không lời lẽ nào có thể tả hết được, niềm hạnh phúc lớn lao đang bao trùm lên họ. Ngày mai thôi, cả nhà mình sẽ lại cùng nhau về quê, sẽ cùng đi trên con đường rợp bóng dừa xanh, đến hội làng để nghe làn điệu chèo ngọt ngào, ấm áp tình quê. “Chứ nhớ thương a tính tình tang… đến hẹn lại lên í a lại lên…”. Họ sung sướng nắm chặt tay nhau nghe hơi ấm lan tỏa. 40 năm, mùa xuân và tiếng trống chèo quê hương, lại rộn ràng trong mắt hai người yêu nhau.

Trần Mai Lan




Nguồn: Arttimes.vn

Phát động Cuộc thi thơ “Chữ Hiếu của người Việt Nam” năm 2026


Hướng tới việc tôn vinh và lan tỏa đạo Hiếu – giá trị cốt lõi trong văn hóa truyền thống dân tộc, Ban Tổ chức Lễ hội Bách Thiện Hiếu Vi Tiên chính thức phát động Cuộc thi sáng tác thơ với chủ đề “Chữ Hiếu của người Việt Nam”.

Phát động Cuộc thi thơ “Chữ Hiếu của người Việt Nam” năm 2026 - 1

Đồng Thầy Huyền Tích trao giải cuộc thi sáng tác thơ tại Lễ Hội Bách Thiện Hiếu Vi Tiên

Lễ hội Bách Thiện Hiếu Vi Tiên được tổ chức nhằm noi theo hiếu hạnh Đức Thánh Mẫu, tri ân công đức sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, qua đó nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau gìn giữ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Hiếu nghĩa vẹn toàn” – nền tảng bền vững của đời sống tinh thần người Việt.

Cuộc thi thơ là hoạt động văn hóa – nghệ thuật ý nghĩa trong khuôn khổ lễ hội, góp phần gây dựng phong trào sáng tác thơ ca về chữ Hiếu trong xã hội đương đại.

Nội dung tác phẩm tập trung khai thác “chữ Hiếu” thông qua các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, câu chuyện dân gian, phong tục tập quán, ca ngợi đạo Hiếu gắn liền với lòng yêu nước và tinh thần chống giặc ngoại xâm.

Ban Tổ chức khuyến khích các tác phẩm bám sát những hình tượng tiêu biểu như Chử Đồng Tử, Nguyễn Trãi, Đức Thánh Mẫu… và các giá trị truyền thống của dân tộc.

Thể loại dự thi đa dạng, gồm: lục bát, song thất lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, thơ tự do và các hình thức thơ truyền thống khác.

Tác phẩm tham gia phải do chính tác giả sáng tác, chưa từng dự thi hoặc đoạt giải ở các cuộc thi khác, chưa phổ nhạc, không sao chép và không vi phạm bản quyền.

Ban Tổ chức bắt đầu nhận tác phẩm từ ngày 29/01/2026 (tức ngày 11/12 năm Ất Tỵ) và kết thúc vào ngày 24/3/2026 (tức ngày 6/2 năm Bính Ngọ).

Phát động Cuộc thi thơ “Chữ Hiếu của người Việt Nam” năm 2026 - 2

Hội đồng chấm thơ gồm các Giáo sư, Tiến sĩ, nhà thơ chuyên gia uy tín trong lĩnh vực văn học, làm việc trong thời gian một tháng để lựa chọn các tác phẩm xuất sắc trao giải tại lễ hội.

Dự kiến cơ cấu giải thưởng gồm: Giải Nhất 20 triệu đồng, Giải Nhì 10 triệu đồng, Giải Ba 5 triệu đồng, Giải Khuyến khích 3 triệu đồng (có thể có đồng giải).

Tác phẩm dự thi gửi về địa chỉ email: hoidongchamtho@gmail.com.



Nguồn: Arttimes.vn

Về những sự thật hiển nhiên che giấu những cơ chế xã hội phức tạp


Có những điều trong đời sống xã hội tưởng như ai cũng hiểu, ai cũng biết, nhưng khi thử giải thích vì sao chúng vận hành như vậy thì lại không hề dễ dàng để nói ra được: Điều gì khiến một quy ước xã hội tồn tại hàng trăm năm lại có thể sụp đổ chỉ sau một câu nói? Vì sao có những điều tưởng chừng như “ai cũng biết”, nhưng không ai dám nói ra? Và tại sao đôi khi một sự im lặng, một ánh nhìn hay một lời nói vòng vo lại mang sức nặng xã hội lớn hơn cả sự thật hiển nhiên?,…  Những câu hỏi này quen thuộc đến mức ta thường bỏ lại chúng phía sau, nhưng chính sự “quen thuộc” ấy lại đang che giấu những cơ chế xã hội phức tạp.

Tác giả Steven Pinker đã phân tích và lý giải những vấn đề tưởng chưa như “ai cũng biết” đấy trong cuốn sách của mình “Khi ai cũng biết rằng ai cũng biết”. Đây là một công trình khoa học nhận thức quan trọng xoay quanh một khái niệm trung tâm nhưng có sức giải thích đặc biệt rộng: tri thức chung (common knowledge). Thông qua khái niệm này, tác giả Steven Pinker cho thấy rằng nhiều hiện tượng cốt lõi của đời sống xã hội: ngôn ngữ, quy ước, quyền lực, tiền tệ cho đến né tránh, giả vờ hay tẩy chay,… không được quyết định bởi ý định hay đạo đức cá nhân, mà phụ thuộc vào việc thông tin đó có trở thành tri thức chung hay không.

Về những sự thật hiển nhiên che giấu những cơ chế xã hội phức tạp - 1

Tri thức chung không đơn giản là “điều mà ai cũng biết”. Đó là trạng thái nhận thức phức tạp hơn nhiều: mọi người biết một điều, biết rằng người khác cũng biết, và biết rằng người khác biết rằng mình biết, một cấu trúc nhận thức mang tính đệ quy. Chính cấu trúc mang tính đệ quy này khiến một phát ngôn công khai, dù không đưa ra bất kỳ thông tin mới nào, vẫn có thể làm thay đổi sâu sắc trật tự xã hội. Một điều từng được mọi người ngầm hiểu, nhưng chưa được công khai thừa nhận, khi trở thành tri thức chung có thể ngay lập tức làm sụp đổ những thỏa thuận ngầm, những quy ước giả vờ vốn duy trì xã hội trước đó.

Việc mở đầu cuốn sách bằng câu chuyện “Bộ quần áo mới của hoàng đế” đã cho ta thấy một vấn đề của xã hội. Khi đứa trẻ “dám” nói ra điều mà ai cũng đã thấy, nhưng chưa ai dám công khai. Lời nói ấy không tạo ra sự thật mới, mà biến một sự thật riêng lẻ thành tri thức chung, khiến toàn bộ trật tự giả vờ sụp đổ. Rồi từ đấy, tác giả đưa ra luận điểm xuyên suốt: xã hội không chỉ được cấu thành bởi sự thật, mà bởi trạng thái nhận thức chung về sự thật đó.

Một câu hỏi then chốt được đặt ra: làm thế nào con người, với năng lực nhận thức hữu hạn, có thể xử lý một khái niệm logic tưởng như đòi hỏi chuỗi suy luận vô hạn? Pinker chỉ ra rằng con người không suy luận hình thức, mà dựa vào một trực giác về tính công khai – cảm nhận rằng một điều gì đó đã “ở ngoài kia”, “ai cũng thấy”, “không thể chối cãi”. Chính trực giác này cho phép con người phối hợp hành vi hiệu quả trong xã hội phức tạp.

Từ nền tảng đó, cuốn sách mở rộng phân tích sang nhiều khía cạnh của đời sống: vì sao những người lý trí và có cùng thông tin vẫn không thể “đồng thuận về sự bất đồng”; vì sao hợp tác và phối hợp không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn là vấn đề đồng bộ hành vi; vì sao ngôn ngữ gián tiếp, lời nói lấp lửng hay ẩn dụ lại trở thành công cụ mạnh mẽ để kiểm soát tri thức chung và tránh những hệ quả xã hội không mong muốn. Ngay cả cảm xúc, ánh nhìn hay những phản ứng tưởng chừng rất riêng tư cũng trở thành phương tiện công khai hóa trạng thái nội tâm.

Dù có nền tảng học thuật vững chắc, “Khi ai cũng biết rằng ai cũng biết” được viết bằng giọng văn mạch lạc, nhiều ví dụ gần gũi, kết nối khoa học nhận thức với kinh tế học, ngôn ngữ học, xã hội học và triết học. Cuốn sách không chỉ giúp người đọc hiểu sâu hơn về cách xã hội vận hành, mà còn cung cấp một khung tư duy sắc bén để nhìn lại giao tiếp, quyền lực và sự thật trong đời sống hàng ngày. “Khi ai cũng biết rằng ai cũng biết” cho thấy: đôi khi, điều làm thay đổi xã hội không phải là sự thật mới – mà là khoảnh khắc một sự thật trở thành tri thức chung.

Sách thuộc Tủ sách Khoa học của Omega Plus.

Steven Pinker (sinh năm 1954): Nhà tâm lý học thực nghiệm chuyên nghiên cứu về nhận thức thị giác, ngôn ngữ học tâm lý và các mối quan hệ xã hội. Steven Pinker là thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, hai lần lọt vào vòng đề cử cuối cùng của Giải thưởng Pulitzer và đã nhận chín bằng tiến sĩ danh dự. Ông được xếp vào danh sách “100 trí thức nổi danh hàng đầu thế giới” do Foreign Policy bình chọn và “100 người có tầm ảnh hưởng nhất thế giới hiện đại” của Times. Ông thường xuyên viết bài cho New York Times, Guardian và nhiều báo, tạp chí lớn  khác, đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm đặc sắc như The Language Instinct (Bản năng ngôn ngữ), How the Mind Works (Trí óc vận hành như thế nào?), The Blank Slate (Tâm trí và bản chất con người), The Better Angels of Our Nature (Những thiên thần tốt đẹp hơn trong bản chất của chúng ta), The Sense of Style (Cảm thức về phong cách) và Enlightenment Now (Khai sáng thời hiện đại).



Nguồn: Arttimes.vn

Bức tranh đời sống tinh thần người An Nam qua góc nhìn trí thức Phương Tây


“Tín ngưỡng và tôn giáo An Nam” của Tiến sĩ Georges Coulet ra đời trong một thời đoạn nhiều xáo trộn của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Bản thảo nguyên tác tiếng Pháp được hoàn thành vào tháng 6 năm 1929 tại Sài Gòn, khi xã hội An Nam đang chịu tác động đồng thời của bộ máy thuộc địa, các luồng tư tưởng phương Tây và những chuyển biến chậm rãi nhưng dai dẳng trong đời sống tinh thần bản địa. Trong bối cảnh ấy, tác giả Georges Coulet – một trí thức người Pháp gắn bó trực tiếp với môi trường giáo dục và xã hội An Nam, đã nỗ lực ghi chép, quan sát và phác dựng một bức tranh tương đối toàn diện về thế giới tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt đương thời.

Cuốn sách vì thế không nhằm xây dựng một hệ thống lý thuyết tôn giáo mang tính trừu tượng hay giáo điều. Trọng tâm trong nghiên cứu của Georges Coulet dựa trên việc quan sát thực địa, ở những ghi chép cụ thể và giàu chi tiết về cách người An Nam tin, thực hành và sống cùng tín ngưỡng. Từ đó, ông chỉ ra một đặc điểm nổi bật xuyên suốt đời sống tôn giáo An Nam là tính dung hợp. Theo Georges Coulet, người An Nam hiếm khi tự đặt mình trong ranh giới chặt chẽ của một tôn giáo duy nhất. Họ có thể vừa là Phật tử, vừa kính Khổng Tử, vừa thờ cúng tổ tiên, tin vào các thần linh dân gian, và thậm chí tiếp nhận đức tin Kitô giáo mà không cảm thấy mâu thuẫn hay xung đột nội tâm. Chính sự linh hoạt này khiến các ranh giới tôn giáo trở nên mờ nhạt, khó phân loại bằng những tiêu chí cứng nhắc hay con số thống kê đơn thuần.

Bức tranh đời sống tinh thần người An Nam  qua góc nhìn trí thức Phương Tây - 1

Trong quá trình trình bày vai trò và hình thức tồn tại của các tôn giáo lớn như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và Kitô giáo trong xã hội An Nam, Georges Coulet còn đặc biệt nhấn mạnh đến một lớp nền sâu xa hơn, ít được chú ý nhưng có tính quyết định: tín ngưỡng vật linh và tự nhiên giáo. Đây là hệ thống niềm tin gắn chặt với đời sống nông nghiệp, với thiên nhiên, mùa màng và vận mệnh con người. Theo tác giả, chính lớp nền tín ngưỡng bản địa này đã “An Nam hóa” mọi tôn giáo du nhập, khiến chúng không tồn tại như những hệ thống giáo lý khép kín, mà hòa tan vào đời sống thường nhật, đáp ứng những nhu cầu rất cụ thể: cầu an, cầu phúc, giải hạn, xua rủi và tìm kiếm sự yên ổn trước những bất trắc khó lường của cuộc sống. Một “tâm hồn An Nam” khoan dung, thực dụng, ít cực đoan và có khả năng dung nạp nhiều hệ thống niềm tin khác nhau. 

Tuy vậy, cũng cần đặt công trình này vào đúng bối cảnh lịch sử của nó: đây trước hết là một nghiên cứu phản ánh góc nhìn, quan điểm và những giới hạn nhận thức của chính Georges Coulet trong thập niên 1920, với các khung tham chiếu và định kiến không thể tách rời của một trí thức Pháp thời thuộc địa.

Sách thuộc Tủ sách Hiểu Việt Nam qua tư liệu Pháp ngữ của Omega Plus.



Nguồn: Arttimes.vn

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa”


Triển lãm “Mã hóa” quy tụ các nghệ sĩ đương đại cùng tham gia giải mã và tái định nghĩa hình tượng con ngựa – một biểu tượng văn hóa lâu đời của người Việt, trong dòng chảy của công nghệ và tư duy sáng tạo mới.

Triển lãm có sự góp mặt của 25 nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ với những phong cách khác nhau: Đào Hải Phong, Trần Hồng Đức, Hoàng Phương Liên, Trần Nhật Thăng, Trần Gia Tùng, Việt Anh, Vũ Hữu Nhung, Lê Thị Minh Tâm, Nguyễn Phan Bách, Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Xuân Đệm – Dương Toàn, Nguyễn Quốc Thắng, Bình Nhi, Nguyễn Thanh Quang, Lê Ngọc Thuận, Nguyễn Hưng, Nguyễn Minh, Hà Nguyễn, Lê Minh Trí, Lê Thư Hương, Vương Linh, Nguyễn Phan Thảo Đan, Nhật Lê và Lê Thiết Cương.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 1

Triển lãm “Mã hóa” đã chính thức khai mạc chiều 29/1, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Là dự án nghệ thuật độc quyền của 39 Concept, “Mã hóa” bắt nguồn từ một lối chơi chữ đầy ý niệm: “mã” là ngựa, “hóa” là văn hóa và sự biến hóa. Khi tách rời, mỗi từ mang một sức sống riêng biệt của truyền thống nhưng khi ghép lại thành “Mã hóa”, khái niệm này ngay lập tức mở ra một chiều không gian hiện đại trong thời đại chuyển đổi số.

Các nghệ sĩ quan niệm, trong kỷ nguyên số, “Mã hóa” không còn bó hẹp trong phạm vi kỹ thuật mà trở thành ẩn dụ cho sự chuyển mình của các giá trị di sản. Nếu ngựa trong sử thi là sắt nung đỏ lòng yêu nước, thì ngựa của thời đại hôm nay là những “mã số” chuyển hóa trí tuệ thành chuyển động.

Từ đó, câu chuyện của triển lãm dẫn dắt người xem đi qua một hành trình giải mã bản sắc, nơi biểu tượng con ngựa Việt được tái hiện qua nhiều tầng lớp không gian và thời gian.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 2

Triển lãm trưng bày 90 tác phẩm nghệ thuật của 25 nghệ sĩ.

Qua 90 tác phẩm nghệ thuật, mỗi nghệ sĩ đã mang đến một “mã số” riêng, một cách diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa. Đó là sự biến hóa về phong cách, từ trừu tượng huyền ảo, tối giản tĩnh lặng đến biểu hiện mãnh liệt, cũng như sự đa dạng về chất liệu và cách thức thể hiện: sơn dầu, gốm, gỗ, đồ họa, các thể nghiệm công nghệ mới…

Sự chuyển mình này không chỉ là bước tiến của công nghệ mà còn là minh chứng cho tinh thần sáng tạo bền bỉ, nơi những giá trị cốt lõi của di sản vẫn luôn được bảo tồn và lan tỏa dưới những hình thái mới mẻ hơn.

Theo đại diện 39 Concept, những tác phẩm chính là tinh thần đổi mới mạnh mẽ mà 39 Concept cùng các nghệ sĩ muốn gửi gắm: một sự chuyển mình từ hình ảnh con ngựa trong sử thi thành những khối sáng tạo số đang “phi nước đại” trên xa lộ thông tin.

Triển lãm “Mã hóa” diễn ra từ ngày 29/1 đến ngày 5/2 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Một số tác phẩm được trưng bày tại triển lãm:

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 3

Tác phẩm của Lê Thiết Cương.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 4

Tác phẩm của Đào Hải Phong.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 5

Tác phẩm của Vương Linh.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 6

Tác phẩm của Nguyễn Quốc Thắng.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 7

Tác phẩm của Lê Thư Hương.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 8

Tác phẩm của Nguyễn Phan Bách.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 9

Tác phẩm của Hoàng Phương Liên.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 10

Tác phẩm của Hà Nguyễn.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 11

Tác phẩm của Lê Minh Trí.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 12

Tác phẩm của Nguyễn Minh.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 13

Tác phẩm của Nguyễn Hồng Quang.

Những diễn giải độc bản về hình tượng con ngựa trong triển lãm “Mã hóa” - 14

Tác phẩm của Việt Anh.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn