Home Blog Page 79

Góc chữa lành cho những tâm hồn xa xứ ở đất nước Mặt trời mọc


Xa xứ nhiều năm, chị Nhâm đã quyết định gác lại mọi bộn bề cùng nỗi nhớ nhà để thực hiện một hành trình nghỉ ngơi, như liều thuốc chữa lành tại hai vùng đất Hakone và Kazo (Nhật Bản).




Nguồn: Arttimes.vn

Dấu chân lặng thầm – Khúc ca tôn vinh người chiến sĩ tham mưu công an nhân dân


“Dấu chân lặng thầm” là ca khúc mới nhất của nhạc sĩ – nhà báo Tào Khánh Hưng, viết về lực lượng Tham mưu Công an Nhân dân – những người lặng lẽ đứng sau mỗi chiến công, giữ bình yên cho Tổ quốc bằng trí tuệ, trách nhiệm và niềm tin không bao giờ tắt. Bài hát mang đến góc nhìn xúc động về một “trận tuyến không tiếng súng” nhưng đầy gian lao, nơi mỗi người lính âm thầm góp phần vào sự bình yên của nhân dân.

Dấu chân lặng thầm – Khúc ca tôn vinh người chiến sĩ tham mưu công an nhân dân - 1

Cục công tác Chính trị – Bộ Công an đã tổ chức cho Đoàn nhạc sĩ tham gia cuộc động sáng tác với chủ đề “80 năm – Tự hào Tham mưu Công an Nhân dân” đi thâm nhập thực tế từ ngày 11 – 14/11/2025, tại Công an tỉnh Ninh Bình.

Ngọn đèn thao thức giữa màn đêm bình yên

Bài hát mở ra bằng không gian đêm khuya đặc trưng của những ca trực thầm lặng:

“Giữa đêm khuya ngọn đèn thao thức

Trang công văn canh giấc cho dân.”

Ánh sáng ấy không chỉ chiếu trên trang hồ sơ, bản đồ nghiệp vụ mà còn phản chiếu trách nhiệm của người chiến sĩ Tham mưu – những người giữ nhịp vận hành thông tin, số liệu và dự báo tình hình nhằm bảo đảm mỗi quyết định đều chính xác, kịp thời.

“Từ bản đồ đi qua từng con số,

Gọi bình yên về giữa đất, giữa trời.”

Đó là hình ảnh cô đọng nhất về công việc chuyên môn đầy áp lực nhưng lại hiếm khi được nhắc tới. Bình yên vì thế không phải điều tự nhiên có, mà được tạo dựng từ trí tuệ và những giờ làm việc không tính bằng thời gian.

Một “trận tuyến” không tiếng súng nhưng gian lao không kém

Nhạc sĩ Tào Khánh Hưng lựa chọn điểm nhìn giàu chiều sâu khi đối sánh giữa chiến trường truyền thống và trận tuyến tham mưu – nơi những cuộc chiến không khói lửa nhưng căng thẳng từng phút:

“Không tiếng súng, chẳng mùi khói lửa,

Mà nơi đây cũng trận tuyến gian lao.”

Câu hát là sự ghi nhận công bằng đối với lực lượng Tham mưu – bộ phận “bộ não chiến lược” của toàn lực lượng CAND. Mỗi bản báo cáo, mỗi dòng văn bản, mỗi nhận định đưa ra đều là kết quả của sự miệt mài, lặng lẽ, đòi hỏi tư duy sắc bén và tinh thần cảnh giác cao độ.

“Người lính bao ngày, bao tháng năm lặng lẽ

Giữ hạnh phúc cuộc đời bằng nghĩa khí và niềm tin.”

Ý thơ đậm chất nhân văn, gợi lên phẩm chất đẹp nhất của người chiến sĩ CAND: vì dân phục vụ, đặt sự bình yên của nhân dân lên trên mọi toan tính cá nhân.

Dấu chân lặng thầm – Khúc ca tôn vinh người chiến sĩ tham mưu công an nhân dân - 2

Thiếu tướng Nguyễn Công Bẩy – Phó Cục trưởng Cục công tác Chính trị – Bộ Công an phát biểu khai mạc Cuộc vân động sáng tác ca khúc “ 80 năm – Tự hào Tham mưu Công an nhân dân”. Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

Điệp khúc – Tuyên ngôn tự hào về người lính Tham mưu

Điệp khúc vang lên đầy tự hào:

“Hát về Anh – người chiến sĩ Tham mưu

Tâm mãi sáng soi đường ta bước…”

Hai chữ “niềm tin” được lặp lại như sự khẳng định vai trò đặc biệt của lực lượng Tham mưu: niềm tin của Đảng, của nhân dân và của toàn lực lượng CAND.

Khép lại bài hát là một lời tri ân đầy xúc động:

“Anh giấu tên trong ngày vui đại thắng,

Mỗi chiến công đều có bóng hình anh.”

Họ không xuất hiện trong lễ báo công, không đứng trước máy quay truyền hình, nhưng luôn hiện diện trong mọi thành quả bằng sự tận tụy và tinh thần trách nhiệm với ngành, với dân.

Ngôn ngữ âm nhạc giản dị mà giàu sức gợi

Ca từ trong “Dấu chân lặng thầm” được viết bằng giọng điệu tiết chế, chặt chẽ – đúng tinh thần của một ca khúc viết về lực lượng vũ trang. Hình tượng nghệ thuật gần gũi nhưng gợi mở: “ngọn đèn thao thức”, “bản đồ – con số”, “trận tuyến gian lao”… giúp người nghe dễ dàng hình dung không gian công tác đặc thù của lực lượng Tham mưu.

Giai điệu trang trọng, khỏe khoắn, tạo cảm xúc lan tỏa, phù hợp biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật ngành Công an – nơi tôn vinh những đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng.

Nhà báo – nhạc sĩ Tào Khánh Hưng người viết những ca khúc về sự hy sinh thầm lặng

Dấu chân lặng thầm – Khúc ca tôn vinh người chiến sĩ tham mưu công an nhân dân - 3

Nhà báo – nhạc sĩ Tào Khánh Hưng tham gia ý kiến với Ban tổ chức gợi mở ý tưởng, nội dung sáng tác ca khúc về lực lượng Tham mưu CAND. Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

Bên cạnh sự nghiệp báo chí, nhạc sĩ – nhà báo Tào Khánh Hưng được biết đến với nhiều tác phẩm viết về lực lượng CAND, giàu cảm xúc, chân thực và có chiều sâu nghề nghiệp. Đáng chú ý, ông đã sở hữu nhiều giải thưởng trong các cuộc vận động sáng tác của ngành Công an: Giải Nhất cuộc vận động sáng tác về lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ với tác phẩm “Thương Anh”; Giải Khuyến khích trong cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài “Hình tượng người chiến sĩ Cảnh vệ Công an nhân dân” với tác phẩm “Lặng thầm bước chân”; Giải Ba cuộc vận động sáng tác “80 năm – Vinh quang Công an nhân dân Việt Nam” với tác phẩm “Chiều Hàng Dương”.

Những giải thưởng này thể hiện sự dấn thân và tâm huyết của ông trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ Công an – từ lực lượng trực chiến đến những người lính thầm lặng đứng sau mỗi chiến công. “Dấu chân lặng thầm” tiếp tục mạch cảm hứng đó, đem đến một góc nhìn nhân văn và trân trọng hơn với những người chiến sĩ Tham mưu.

Với ca từ giàu cảm xúc, hình tượng nghệ thuật tinh tế và giọng điệu trang trọng, “Dấu chân lặng thầm” là khúc hát đẹp về người chiến sĩ Tham mưu Công an Nhân dân – những người góp phần giữ gìn bình yên bằng trí tuệ, tâm sáng và tinh thần cống hiến âm thầm.Ca khúc không chỉ lan tỏa giá trị nghệ thuật, mà còn là lời tri ân sâu sắc gửi đến những cán bộ chiến sĩ đang ngày đêm “thức cùng bình yên của Tổ quốc”.

Dấu chân lặng thầm – Khúc ca tôn vinh người chiến sĩ tham mưu công an nhân dân - 4

Đoàn nhạc sĩ tham gia trại sáng tác về lực lượng Tham mưu Công an Nhân dân chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo Công an tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

DẤU CHÂN LẶNG THẦM

Tào Khánh Hưng

Giữa đêm khuya ngọn đèn thao thức

Trang công văn canh giấc cho dân.

Từ bản đồ đi qua từng con số,

Gọi bình yên về giữa đất, giữa trời.

Không tiếng súng, chẳng mùi khói lửa,

Mà nơi đây cũng trận tuyến gian lao.

Người lính bao ngày, bao tháng năm lặng lẽ

Giữ hạnh phúc cuộc đời bằng nghĩa khí và niềm tin.

Hát về Anh người chiến sĩ Tham mưu

Tâm mãi sáng soi đường ta bước

Niềm tin của dân, niềm tin đồng đội

Chiến sĩ Tham mưu – Công an Nhân dân Việt Nam.

Hát về anh – người chiến sĩ Tham mưu

Chẳng danh lợi, luôn vì dân phục vụ,

Anh giấu tên trong ngày vui đại thắng,

Mỗi chiến công đều có bóng hình anh./.

Hà Khánh Linh




Nguồn: Arttimes.vn

Ý kiến đóng góp của Hội Kiến trúc sư Việt Nam vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng


Hội Kiến trúc sư Việt Nam sau khi nghiên cứu Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã nhận thức Văn kiện đã được soạn thảo rất công phu, khoa học, thể hiện sâu sắc tầm nhìn chiến lược của Đảng, khát vọng của toàn dân, toàn quân quyết tâm đưa đất nước ta phát triển hùng cường trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trong bối cảnh địa chính trị thế giới đang diễn ra rất phức tạp, biến đổi khí hậu đã và đang gây ra hiểm họa cho con người.

1. Về cấu trúc văn kiện

Văn kiện đã thể hiện một đổi mới rất quan trọng về tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng, đó là việc hợp nhất các báo cáo riêng lẻ (Dự thảo Báo cáo chính trị của BCHT.Ư Đảng khóa XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Dự thảo Báo cáo đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2026-2030, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026- 2030; Dự thảo Báo cáo của BCHT.Ư Đảng khóa XIII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng) được tích hợp vào một Báo cáo chính duy nhất – Báo cáo chính trị mang tính tổng hợp, thống nhất, bao quát toàn diện quá trình hoạch định đường lối lãnh đạo của Đảng và phát triển bền vững của quốc gia.

Ý kiến đóng góp của Hội Kiến trúc sư Việt Nam vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng - 1

TS. KTS Phan Đăng Sơn – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam trình bày một số đóng góp ý kiến tại Hội nghị lấy ý kiến góp ý dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng do Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức

Việc thống nhất các báo cáo vào một báo cáo chính trình Đại hội XIV cũng cho thấy tư duy quản trị quốc gia của Đảng đã chuyển mạnh từ quản lý theo lĩnh vực sang quản trị tích hợp và tổng thể. Đây là tư duy hiện đại phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thời đại chuyển đổi số. Các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được sắp xếp theo logic tổng thể, bảo đảm sự thống nhất trong các mặt phát triển của đất nước. Đường lối phát triển trở nên xuyên suốt, không trùng lặp, thể hiện một ý chí – một tầm nhìn – một chiến lược trong lãnh đạo của Đảng.

Khi các nội dung được tích hợp trong một văn kiện, thì việc triển khai, giám sát, đánh giá thực hiện Nghị quyết Đại hội trở nên rõ ràng, dễ triển khai thực hiện và đảm bảo tính minh bạch. Báo cáo đã thống nhất ở tầm chiến lược, Đảng vạch ra đường hướng tổng thể; Nhà nước tổ chức thực hiện cụ thể; Nhân dân là chủ thể tham gia giám sát và thụ hưởng kết quả.

Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng với báo cáo tích hợp đã thể hiện năng lực tổng kết sâu sắc, thực tiễn toàn diện của đất nước từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến an ninh – quốc phòng, đối ngoại cũng như đưa phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta lên một vị thế mới trong giai đoạn mới.

2. Về nội dung Dự thảo văn kiện

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã tiếp nối tinh thần “Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”

Thể hiện sâu sắc tư tưởng phát triển toàn diện, kết hợp giữa kinh tế tri thức – văn hóa -con người – môi trường trong cùng một trục phát triển. Trong đó nhấn mạnh đúng trọng tâm, trọng điểm: Phát triển nhanh, bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xã hội hiện đại, quản trị quốc gia tinh gọn, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả; Đặt con người làm trung tâm, là chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển; Giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia, chủ động hội nhập sâu rộng, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Văn kiện đã cụ thể hóa tầm nhìn đến 2045, qua ba giai đoạn phát triển. Đó là:

2025-2030: Hoàn thiện thể chế phát triển, tạo nền tảng cho công nghiệp hiện đại, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

2030-2040: Trở thành nước công nghiệp hiện đại có thu nhập trung bình cao. Xây dựng hạ tầng số, xanh, thông minh; phát triển đô thị bền vững; hội nhập sáng tạo.

2040-2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Phát huy toàn diện văn hóa, trí tuệ, sức sáng tạo dân tộc; hoàn thiện thể chế nhà nước hiện đại.

Như vậy, tổng thể có thể thấy rằng văn kiện Đại hội XIV đã thể hiện tầm nhìn văn hóa và nhân văn “Xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, nhân ái, văn minh -nơi mỗi người dân đều được sống trong môi trường an toàn, sáng tạo và hạnh phúc”. Đây là tư tưởng phát triển mới, đặc sắc, lấy giá trị con người, bản sắc văn hóa dân tộc và sáng tạo làm động lực tinh thần của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đối với vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ

Văn kiện Đại hội XIV đã khẳng định đúng tầm vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ trong chiến lược phát triển đến 2045 “Trí thức là lực lượng đặc biệt quan trọng trong sáng tạo, truyền bá tri thức, phát triển khoa học, công nghệ, văn hóa và giáo dục; văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng – văn hóa, góp phần bồi đắp tâm hồn, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam”.

Như vậy đã làm rõ được trí thức và văn nghệ sĩ không chỉ là người phản ánh hiện thực mà đã là chủ thể sáng tạo và kiến tạo tầm nhìn phát triển dân tộc trong kỷ nguyên mới. Và để khẳng định vai trò của trí thức, văn nghệ sĩ như trong văn kiện, nên xác định cụ thể hơn vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ trong từng lĩnh vực, như:

Đối với giới trí thức trong lĩnh vực kinh tế tri thức – khoa học, công nghệ phải là hạt nhân đổi mới sáng tạo, dẫn dắt chuyển đổi số, công nghệ xanh, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo. Trong lĩnh vực giáo dục – tri thức công dân, giới trí thức và văn nghệ sĩ phải là những người truyền cảm hứng tri thức, nuôi dưỡng thế hệ trẻ có tư duy độc lập, đam mê sáng tạo và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội, với đất nước.

Đối với giới văn nghệ sĩ phải là người giữ gìn, phát huy có sáng tạo giá trị văn hóa dân tộc, tạo nên “sức mạnh mềm” cho Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Văn nghệ sĩ và giới trí thức phải là là lực lượng nòng cốt trong xây dựng con người mới, xây dựng nền tảng tinh thần xã hội, củng cố niềm tin, bồi dưỡng bản lĩnh, khát vọng Việt Nam.

Để đạt được những yêu cầu của Văn kiện Đại hội XIV đề ra, giới trí thức và giới văn nghệ sĩ phải chủ động đổi mới tư duy, nâng cao trình độ để có khả năng hội nhập toàn cầu, gắn bó với thực tiễn đất nước, phản ánh hơi thở thời đại, không xa rời nhân dân, lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Đảng, Nhà nước cần tiếp tục chú trọng tạo môi trường thuận lợi để văn nghệ sỹ phát huy vai trò, bảo đảm quyền tự do sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đi đôi với nâng cao trách nhiệm xã hội và trách nhiệm công dân, cần lắng nghe các tiếng nói phản biện của tập thể (các Hội VHNT, các Hội chuyên ngành ở Trung ương), của cá nhân; có cơ chế quan tâm và tôn vinh xứng đáng văn nghệ sĩ; phát triển mạnh mẽ văn học nghệ thuật; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa; phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chủ động giao lưu và hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa nhân loại để làm giàu nền văn hóa dân tộc. Cần có chính sách cụ thể hơn trong việc bồi dưỡng và phát huy đội ngũ văn nghệ sỹ, nhất là các tài năng trẻ. Cần bổ sung chủ trương đầu tư chiến lược cho nền công nghiệp văn hóa, gắn với chuyển đối số trong sáng tạo và phổ biến các tác phẩm văn học nghệ thuật.

Đối với định hướng phát triển công nghiệp văn hóa

Dự thảo văn kiện đã thể hiện một bước chuyển rất quan trọng, có đổi mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng, đó là từ phát triển văn hóa sang kinh tế văn hóa. Nếu như trước đây (Đại hội XI – XIII), Đảng chủ yếu nhấn mạnh “phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” thì đến Đại hội XIV, văn kiện rõ thêm về khẳng định: “phát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; coi đây là một ngành kinh tế quan trọng, góp phần nâng cao sức cạnh tranh, quảng bá hình ảnh và thương hiệu quốc gia”. Như vậy, văn hóa không chỉ là “giá trị tinh thần” mà văn hóa còn là nguồn lực phát triển kinh tế mới, tương đương các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp số hay công nghiệp sáng tạo.

Văn kiện cũng xác định công nghiệp văn hóa là trụ cột của kinh tế tri thức với quan điểm “phát triển ngành công nghiệp văn hóa dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ số và giá trị văn hóa dân tộc; khuyến khích các ngành công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật, kiến trúc, thiết kế, truyền thông, quảng cáo, du lịch văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới”. Như vậy kiến trúc – nghệ thuật – thiết kế không còn bị xem là lĩnh vực phụ trợ trong phát triển công nghiệp văn hóa, mà đã là ngành kinh tế tri thức, có khả năng đóng góp trực tiếp vào GDP và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững, rất cần có cơ chế, chính sách cụ thể, như: Hoàn thiện thể chế chính sách phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo, về quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền; chính sách thuế, ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp sáng tạo, khuyến khích mô hình “đô thị sáng tạo” nơi, nghệ thuật, công nghệ, kinh tế và đời sống hòa quyện với nhau vì lợi ích hưởng thụ của nhân dân và phát triển kinh tế vùng miền và quốc gia.

Đối với lĩnh vực kiến trúc-quy hoạch đô thị và nông thôn

Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng lần này đã thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết gắn với mục tiêu đến 2045 “Xây dựng Việt Nam phát triển xanh, văn minh, hiện đại và bền vững”.

Tại văn kiện toàn hiện đã xác định “Phát triển đô thị, nông thôn là một động lực quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quy hoạch và kiến trúc phải đi trước một bước, đảm bảo tính đồng bộ, bền vững, bản sắc và thích ứng với biến đổi khí hậu”. Tư tưởng chỉ đạo này đặt kiến trúc-quy hoạch vào vị trí tiên phong trong tổ chức không gian phát triển quốc gia, là trục định hướng cho mọi hoạt động phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đề nghị văn kiện cần làm rõ hơn vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc truyền thống, di sản đô thị – nông thôn (làng quê) gắn với phát triển kinh tế du lịch và sắc văn hóa dân tộc. Bởi kiến trúc chính là hình ảnh trực quan của văn hóa, mất bản sắc kiến trúc là mất bản sắc dân không sống, môi trường sống.

Quy hoạch không gian phát triển vùng đô thị và nông thôn là khung chiến lược để thực hiện tái cơ cấu kinh tế – xã hội. Tại Văn kiện đã chỉ rõ phải tổ chức lại không gian phát triển đất nước theo hướng cân bằng, hiệu quả và bền vững, kết nối hạ tầng- công nghiệp – đô thị – dịch vụ – nông nghiệp công nghệ cao. Đây là một nội dung rất đúng thời điểm.

Nên có ý bổ sung, để kiến trúc quy hoạch tiên phong trong tổ chức không gian phát triển quốc gia, thì cần phải phát triển đô thị xanh, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2045, quy hoạch đô thị – nông thôn phải hướng tới kinh tuần hoàn, đô thị carbon thấp; hạ tầng xanh – giao thông công cộng-năng lượng tái tạo; không gian công cộng và sinh thái nhân văn.

Về kiến trúc, văn kiện nêu rõ “phát triển kiến trúc Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc dân tộc, hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa con người và thiên nhiên”. Như vậy có thể nói, kiến trúc đã được Đảng nhìn nhận không chỉ là văn hóa mà kiến trúc là hiện là phương tiện biểu đạt bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập. Đây là tầm nhìn văn hóa-thẩm mỹ – bản sắc của Đảng gắn trực tiếp với sức mạnh mềm quốc gia.

Cũng trong văn kiện, vai trò của đội ngũ kiến trúc sư, nhà quy hoạch đã được chú trọng, coi đó là nguồn nhân lực sáng tạo và nhấn mạnh trong giới trí thức, văn nghệ sĩ. Văn kiện đã đề ra yêu cầu phải “phát triển đội ngũ kiến trúc sư, nhà quy hoạch có tầm nhìn chiến lược, trình độ quốc tế, am hiểu văn hóa dân tộc và có trách nhiệm xã hội cao”.

Như vậy, lĩnh vực kiến trúc – quy hoạch đô thị và nông thôn trong Văn kiện XIV của Đảng không chỉ mang ý nghĩa chuyên môn, kỹ thuật mà là một thành tố cấu trúc tầm nhìn chiến lược phát triển quốc gia.

Để thực hiện vai trò quan trọng mà Văn kiện Đại hội XIV đề ra cho lĩnh vực kiến trúc-quy hoạch, cần có một nghị quyết chuyên đề về “Phát triển kiến trúc trong thời kỳ mới” khẳng định vị trí, vai trò của kiến trúc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tạo cơ chế để các hội nghề nghiệp tham gia hiệu quả vào công tác phản biện xã hội, tư vấn chiến lược quy hoạch – kiến trúc, xây dựng đô thị – nông thôn cho Đảng, Nhà nước.

3. Kết luận

Trên đây là một số góp ý cho Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, do điều kiện và khả năng có hạn nên sẽ còn nhiều thiếu sót mong Tiểu ban Dự thảo Văn kiện quan tâm. Hội Kiến trúc sư Việt Nam và giới kiến trúc sư tuyệt đối tin tưởng rằng, với Định hướng và Chiến lược đúng đắn của Đảng; sự đồng thuận của toàn dân, toàn quân, Đại hội XIV của Đảng sẽ là dấu mốc lịch sử quan trọng, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, trong đó văn học nghệ thuật và kiến trúc – quy hoạch sẽ giữ vai trò quan trọng, vững chắc để phát triển đất nước bền vững trong kỷ nguyên mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.



Nguồn: Arttimes.vn

Viết văn hóa (Ấn tượng đọc “Con người và thời đại” của tác giả Trần Bảo Định, Nxb Hà Nội, 2025)


Tiệm cận một nền văn hóa thống nhất

Nhà văn Trần Bảo Định, hôm nay ở đội hình U90 (ông sinh 1944, tại Long An) nhưng năng lượng chữ và bút lực thì như đang ở khúc thanh xuân đời người; tác giả của hơn 20 tác phẩm gồm thơ, văn xuôi, thời luận, phê bình văn học. Nhiều người gọi ông thân mật là “kẻ rong chơi”, đầy ngẫu hứng lãng du, theo lối anh Hai Nam Bộ (có cái tính tình, hơi hướng và khí vị của các bậc đàn anh Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng,…). Nhưng trong mắt tôi, Trần Bảo Định là “người làm vườn vĩnh cửu”, một cây viết mang tính đặc sản, đặc sắc Nam Bộ.

Tác phẩm bầu lên nhà văn. Định đề này sát hợp với trường hợp Trần Bảo Định. Nói Trần Bảo Định viết văn hóa, thiết nghĩ, đôi khi chỉ cần nương theo những tên sách đã xuất bản của ông cũng đã rõ, tiêu biểu như Phật tính dân gian Nam Bộ (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2021). Năm 2025, Trần Bảo Định ra mắt Con người và thời đại, tại NXB Hà Nội, như một cách thức “mở mang bờ cõi”, có tính chất thăm dò và làm quen với độc giả đất Bắc vốn lâu nay ít có cơ hội tiếp nhận một tác giả phương Nam.

Thú thật, tôi cũng thuộc số này. Nếu nói chính xác thì đây là cơ hội đầu tiên tôi có sách của tác giả Trần Bảo Định để đọc và viết về đồng nghiệp chữ của mình chưa một lần diện kiến, giao lưu. Từng có một danh ngôn giản dị và thâm thúy “Mở một cuốn sách gặp một con người”. Đọc các thông tin về tác giả Trần Bảo Định, tôi đinh ninh một ý tưởng: Đất nước thống nhất tạo điều kiện cho văn hóa thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nó. Tình trạng cát cứ và ngăn sông cấm chợ sẽ được bãi bỏ không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cần thiết thực thi trong thực tiễn đối với tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có văn hóa, văn học nghệ thuật. Càng ngày, chúng ta càng thấy rõ tính chất không biên giới của nghệ thuật ngôn từ. Đọc Con người và thời đại của Trần Bảo Định, tôi càng thấm nhuần quan niệm về thành tựu viết của một nhà văn chính là xem xét anh ta viết như thế nào chứ không đơn giản chỉ là viết cái gì. Nói Trần Bảo Định viết văn hóa chính là như thế.

Viết văn hóa (Ấn tượng đọc “Con người và thời đại” của tác giả Trần Bảo Định, Nxb Hà Nội, 2025) - 1

Tác phẩm “Con người và thời đại” của tác giả Trần Bảo Định.

Tận cùng của văn hóa là con người

Không ngẫu nhiên trong tác phẩm mới của mình Con người và thời đại, tác giả Trần Bảo Định đã “tam ba bận” viết về các tác phẩm của đồng chí Phạm Quang Nghị – nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội (các bài “đinh” của tác phẩm Công cuộc đổi mới, tư duy mới, thực tiễn mới, Nhân bản trong chiến tranh: Nỗi nhớ vùng ven và Nơi ấy là chiến trường, Đi tìm một vì sao: Quê nhà, đất nước, tình người). Phải nói ngay rằng, đồng chí Phạm Quang Nghị trước hết là một cán bộ Đảng cao cấp, một nhà hoạt động chính trị sắc bén, bền bỉ, một con người hành động thực tiễn hiệu quả đồng thời trong tư chất là một nghệ sĩ ngôn từ chân chính. Đọc tác phẩm của đồng chí Phạm Quang Nghị, tác giả Trần Bảo Định đồng thời cũng đúc rút được hai tư tưởng cốt lõi mang tính nhân bản “Đặt con người ở vị trí trung tâm” và “Văn hóa dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”. Đó là sự thấu triệt và thâu tóm nhanh nhạy hồn cốt và thần thái của một tác phẩm mới. Nên từ cơ sở này có thể nhận định về một sức khỏe, sức trẻ tư duy của chủ thể – tác giả Trần Bảo Định.

Riêng tôi cảm nhận tính chất “thời luận” trong cách viết của tác giả Trần Bảo Định khi tiếp nhận tác phẩm hoành tráng của đồng chí Phạm Quang Nghị Công cuộc đổi mới, tư duy mới thực tiễn mới (2 tập, gần 1400 trang, khổ sách 16×24, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2025). Tôi cũng được tác giả Phạm Quang Nghị tặng sách này, nhưng chưa có điều kiện viết phê bình. Phải là người quan tâm đến thời cuộc sát sao mới thụ cảm được kiểu tác phẩm thể hiện một tư duy năng động, đổi mới và giàu sức sống như của đồng chí Phạm Quang Nghị.

Viết thời luận, tưởng là dễ vì chỉ cần phong phú ngôn từ và ít nhiều trải nghiệm sống. Nhưng cái bền lâu của câu chữ lại là phông nền, căn đế, chân tủy văn hóa. Tôi nghĩ, tác giả Trần Bảo Định hội đủ phẩm tính này khi viết. Tôi lại nghĩ, chắc rằng trong tâm cảm tác giả Trần Bảo Định thường trực vang lên câu nói của văn hào Nga thế kỉ XX- M. Gorky- “Con Người! Hai tiếng ấy vang lên biết bao tự hào!”. Vì thế, bài viết của tác giả Trần Bảo Định về tác phẩm Đi tìm một vì sao của đồng chí Phạm Quang Nghị giống như một tổng phổ về một nhà chính trị lão thành – một nghệ sĩ ngôn từ chân chính, tài hoa. Lối viết của đồng chí Phạm Quang Nghị là lối viết gìn giữ kí ức lương thiện, chống lại sự lãng quên lịch sử và con người. Theo tác giả Trần Bảo Định, kí ức lương thiện là “kỷ vật bất li thân” của một đời người đã “sống đáng sống”.

Sức mạnh mềm của văn hóa, văn học nghệ thuật

Nhưng dẫu sao, những phần viết văn hóa của tác giả Trần Bảo Định vẫn phát lộ rõ ràng và súc tích, gây ấn tượng hơn cả khi ông chuyên chú bình văn. Bình văn về bạn văn cùng thời. Dường như cùng thời thì có cái tâm thế “cùng một lứa bên trời lận đận”. Trong tổng số 15 bài được đưa vào tập sách Con người và thời đại, lối viết và hiệu quả viết văn hóa của tác giả Trần Bảo Định, theo tôi, đã đơm hoa kết trái nhỡn tiền. Tôi riêng thích những bài viết Tinh thần nhân văn phê phán trong “Thử nói về hạnh phúc” của nhà thơ Thanh Thảo, Trang văn Thái bá Lợi: Gợi mở và suy ngẫm, Nhân bản trong chiến tranh: Nỗi nhớ vùng ven và Nơi ấy là chiến trường, Trở về, tìm lại (Đọc “Hoa ngũ sắc” của nhà thơ Thanh Thảo), Đi tìm một vì sao: Quê nhà, đất nước, tình người.

Tôi có cái cảm giác sau cần được kiểm chứng thêm: dường như khi viết về những bạn văn cùng thời, Trần Bảo Định có sự tự tin, bình đẳng, giao hòa, phóng khoáng hơn khi viết về các vị tiền bối (Khuynh hướng tâm linh trong thơ Bích Khê, là một ví dụ). Thơ Thanh Thảo đã để lại nhiều ấn tượng và dư ba trong lòng độc giả hôm nay. Đặc biệt trong một bối cảnh thế giới ngày càng trở nên phức tạp hơn, nhiều rủi ro và bất an hơn vì muôn vàn những bể dâu và can qua thì con người có cái tâm thế khủng hoảng đức tin, bấp bênh về hạnh phúc. Nhà thơ Thanh Thảo đã có tác phẩm Thử nói về hạnh phúc, như một tuyên ngôn thơ bằng ngôn từ thơ, một kiểu triết luận về đời sống trong một thế kỉ đầy rẫy sự bất an. Vì thế bài phê bình Tinh thần nhân văn phê phán trong “Thử nói về hạnh phúc” của nhà thơ Thanh Thảo, theo tôi, là một trong những điểm sáng của tác phẩm Con người và thời đại, cũng đại diện cho cách thức viết văn hóa của tác giả Trần Bảo Định. Viết về Thanh Thảo, tác giả Trần Bảo Định cố gắng chỉ ra  “mã văn hóa Thanh Thảo”  (“khơi dậy kí ức chiến tranh để tôn lên khát vọng hòa bình”, “hành trang tình thương”). Cách viết phát hiện “mã văn hóa” của cá nhân nghệ sĩ ngôn từ khác đồng hiện trong bài viết về Thái Bá Lợi (Trang văn Thái Bá Lợi: Gợi mở và suy ngẫm). Đọc Trần Bảo Định viết về Thanh Thảo và Thái Bá Lợi, độc giả như được giao lưu với hai nghệ sĩ ngôn từ thuộc thế hệ nhà văn chống Mĩ cứu nước. Nếu “mã văn hóa”  của Thanh Thảo là “hành trang tình thương” thì “mã văn hóa “ của Thái Bá Lợi là “tình người” (trong sáng tác của nhà văn thường trực thực tế chiến tranh – Đất nước và tình người). Trong một bài viết gần đây về Thái Bá Lợi nhan đề Những trang văn còn mãi với thời gian, tôi cũng đã nói về chủ đề tình thương, tình người trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Thái Bá Lợi như Hai người trở lại trung đoànĐội hành quyết. Đọc Trần Bảo Định viết về những “chấn thương chiến tranh” trong sáng tác của Thái Bá Lợi tôi càng thấm thía sự đồng cảm cao độ giữa người viết và đối tượng viết (một bài viết dài 40 trang nhưng không khiến độc giả ngại ngùng hay lướt qua).

Văn là người

Câu “Văn là người” hẳn nhiên sát hợp với trường hợp Trần Bảo Định. Sống như thế nào viết như thế ấy. Trong đời sống, tôi hình dung, Trần Bảo Định là người phóng khoáng, bặt thiệp, kinh lịch. Nhà văn dường như riêng thích (nghiêng về) nhìn, cảm và viết về những sự kiện, trạng huống cảm xúc, cảnh ngộ (cả niềm vui cả nỗi buồn) có sự liên đới, liên quan mật thiết đến nhiều người. Có vẻ như ông đối lập với sự kìm hãm, bon chen, ích kỉ cả trong sống và cả trong thực hành viết. Phải chăng bởi nước sông rộng hơn nước giếng, nên hơn một lần ông viết về sự thông linh vũ trụ như một yếu tính đặc biệt của những con người kì tài, qua bài viết khá tinh tế về Khuynh hướng tâm linh trong thơ Bích Khê. Thật là “Bên Tạo Hóa Thần Diệu, bên nàng thơ muôn đời, hồn thi sĩ đã cơ hồ thông linh với vũ trụ mênh mông”. Đọc Trần Bảo Đinh, thêm một lần chúng ta xác tín chân lí “cái đẹp là sự giản dị” và “sức mạnh của cái đúng”.

Bùi Việt Thắng




Nguồn: Arttimes.vn

Vợ nhiều lần phản bội, chồng vẫn chọn tha thứ


Tôi từng tự hỏi bản thân đã sai ở đâu, đã thiếu sót điều gì để người phụ nữ mình yêu liên tục tìm kiếm sự bù đắp từ người khác.

Vợ nhiều lần phản bội, chồng vẫn chọn tha thứ - 1

Tôi đã chọn tin, hoặc đúng hơn là chọn nhắm mắt tin (Ảnh minh họa)

Tôi từng tin rằng gia đình mình cũng giống như bao gia đình khác: có những bữa cơm tối giản dị, những cuộc cãi vã nhỏ rồi lại làm hòa. Cho đến một ngày, tôi đọc được những tin nhắn không dành cho mình trong điện thoại của vợ. Chỉ vài dòng ngắn ngủi nhưng đủ để tôi hiểu rằng cuộc hôn nhân này đã rạn nứt từ lâu.

Lần đầu tiên phát hiện, tôi không gào thét hay làm lớn chuyện. Tôi hỏi, vợ tôi khóc, xin lỗi, nói đó là sai lầm duy nhất. Tôi đã chọn tin, hoặc đúng hơn là chọn nhắm mắt tin, vì con còn nhỏ, vì tôi vẫn còn yêu, và vì tôi chưa sẵn sàng đối diện với một gia đình tan vỡ.

Nhưng sự thật là phản bội không dừng lại ở một lần.

Lần thứ hai, rồi lần thứ ba, cảm giác đau đớn không còn dữ dội như ban đầu mà thay vào đó là sự mệt mỏi. Điều khiến tôi tổn thương nhất không chỉ là hành động của vợ, mà là cảm giác mình trở thành người thừa trong chính cuộc hôn nhân của mình. Tôi từng tự hỏi bản thân đã sai ở đâu, đã thiếu sót điều gì để người phụ nữ mình yêu liên tục tìm kiếm sự bù đắp từ người khác.

Gia đình và bạn bè đều khuyên tôi nên ly hôn. Họ cho rằng tôi đang tự hạ thấp giá trị của bản thân. Tôi hiểu điều đó. Tôi cũng biết rằng, nếu câu chuyện này được chia sẻ trên mạng xã hội, phần lớn bình luận sẽ gọi tôi là kẻ nhu nhược, yếu đuối, không có lòng tự trọng.

Tôi tha thứ không phải vì tôi không biết đau, mà vì tôi biết rất rõ mình đang phải đánh đổi điều gì. Với tôi, hôn nhân không chỉ là chuyện đúng hay sai, mà còn là trách nhiệm, là con cái, là những gắn bó không dễ gì cắt bỏ chỉ bằng một quyết định lý trí.

Có người nói tôi đang dung túng cho sự phản bội. Có người cho rằng tôi chỉ đang kéo dài nỗi đau. Có thể họ đúng. Nhưng cũng có thể họ chưa từng đứng giữa lựa chọn: rời đi để giữ lòng tự trọng, hay ở lại để giữ cho con một gia đình trọn vẹn.

Tôi không viết ra câu chuyện này để xin thương hại hay biện minh cho quyết định của mình. Tôi chỉ muốn nói rằng, đôi khi người ở lại không phải vì quá yếu đuối, mà vì đã chịu đựng quá nhiều và không còn đủ sức để hận thù.

Nếu một ngày tôi lựa chọn ra đi, đó sẽ là lúc tôi không còn gì để níu giữ. Còn hiện tại, tôi chấp nhận những lời phán xét, bởi đây là cuộc đời tôi – không phải là câu chuyện để người khác đọc vài phút rồi quyết định đúng sai thay tôi.



Nguồn: Arttimes.vn

Ảnh thực tế Toyota Hilux 2026 bản rẻ nhất tại đại lý


Toyota Hilux 2026 phiên bản tiêu chuẩn 2.8 MT hướng đến nhóm khách hàng ưu tiên độ bền, khả năng chịu tải và chi phí đầu tư ban đầu.




Nguồn: Arttimes.vn

Cây dại cả củ và thân đều là đặc sản, trước không ai biết đến nay hoá “mỏ tiền”, trồng 4 tháng thu hoạch


Cây này dễ trồng, ít sâu bệnh, cả củ lẫn thân đều dùng làm thực phẩm, mang lại thu nhập cho bà con.




Nguồn: Arttimes.vn

Đại hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030


Ngày 27/12, tại Hội trường lớn trụ sở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên, đã diễn ra Đại hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

Đại hội có sự tham dự của TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Bí thư phụ trách Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; đồng chí Vũ Duy Hoàng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh; đại diện cơ quan ban ngành Trung ương, đại diện Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và Hội Văn học nghệ thuật một số tỉnh trong khu vực… cùng 258 đại biểu đại diện cho 350 đại biểu chính thức.

Đại hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 - 1

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tặng Cờ thi đua cho Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên.

Đại hội được tổ chức nhằm tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2019–2024 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ 2025–2030. Trong nhiệm kỳ vừa qua, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên (cũ) đạt nhiều kết quả nổi bật với 11 chi hội chuyên ngành, 10 thành viên tập thể và 356 hội viên.

Trong 5 năm, Hội đã kết nạp 61 hội viên mới; tổ chức 7 trại sáng tác với 230 lượt học viên, 6 cuộc thi sáng tác, 5 lớp tập huấn nghiệp vụ, 2 triển lãm cấp tỉnh và hỗ trợ nhiều triển lãm chuyên ngành.

Đặc biệt, việc đăng cai tổ chức thành công Triển lãm Mỹ thuật khu vực Tây Bắc – Việt Bắc được giới chuyên môn đánh giá cao.

Cùng với đó, Hội tổ chức 20 đợt thực tế sáng tác cho hơn 200 hội viên, phối hợp thực hiện 4 chương trình nghệ thuật “Hoa Núi” và nhiều hoạt động quảng bá tác phẩm gắn với nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn (cũ) cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong công tác phát triển hội viên, xuất bản sách, tổ chức trại sáng tác, hoạt động thực tế và tham gia các liên hoan, triển lãm chuyên ngành.

Bước vào nhiệm kỳ mới, với phương châm “Phát huy tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và sự gắn kết của văn nghệ sĩ, xây dựng và phát triển Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ mới”, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên chính thức đổi tên thành Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên.

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên xác định tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ phát triển cả về số lượng và chất lượng; nâng cao tính chuyên nghiệp trong sáng tạo và quảng bá tác phẩm; kiện toàn tổ chức theo hướng thống nhất, hiệu quả. Đồng thời đẩy mạnh liên kết, xã hội hóa hoạt động văn học nghệ thuật, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Đại hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 - 2

TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Bí thư phụ trách Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phát biểu tại Đại hội.

Phát biểu tại Đại hội, TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Bí thư phụ trách Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những thành tựu mà Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên (cũ) đã đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua. Theo TS. Đoàn Thanh Nô, dù hoạt động trong bối cảnh nhiều khó khăn, nhiều biến động nhưng Hội đã có một nhiệm kỳ lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ và để lại nhiều dấu ấn đáng ghi nhận.

Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam nhấn mạnh, bước vào nhiệm kỳ 2025 – 2030, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên đứng trước một thuận lợi rất quan trọng, đó là Liên hiệp Hội hoạt động với tư cách là thành viên trực thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Đây không chỉ là sự khẳng định rõ hơn về vị trí pháp lý và vai trò chính trị – xã hội của tổ chức Hội, mà còn mở ra một không gian hoạt động rộng hơn, gắn bó chặt chẽ hơn giữa văn học nghệ thuật với đời sống xã hội và các phong trào của quần chúng nhân dân.

Trong mái nhà chung của Mặt trận, Liên hiệp Hội có điều kiện thuận lợi hơn để tham gia sâu vào các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn; để phối hợp hiệu quả với các tổ chức thành viên khác trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời tạo điều kiện để văn nghệ sĩ đóng góp tiếng nói trách nhiệm, trí tuệ và nhân văn trong phản biện xã hội mang tính xây dựng, bằng ngôn ngữ đặc thù của nghệ thuật, của cái đẹp và của lương tri. Đây chính là nền tảng quan trọng để văn học nghệ thuật tiếp tục phát huy vai trò trong việc bồi đắp nền tảng tinh thần xã hội, củng cố niềm tin, khơi dậy khát vọng phát triển và đưa văn học nghệ thuật đến gần hơn với đời sống nhân dân.

“Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tin tưởng rằng, trong nhiệm kỳ 2025 – 2030, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục giữ vững bản lĩnh chính trị, định hướng tư tưởng; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng sáng tạo; nâng cao chất lượng tác phẩm; xây dựng tổ chức Hội đoàn kết, nhân văn, chuyên nghiệp; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng lực lượng kế cận – để thực sự trở thành mái nhà chung tin cậy của văn nghệ sĩ”, TS. Đoàn Thanh Nô chia sẻ.

Trong dịp này, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã tặng Cờ thi đua cho Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên.

Đại hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 - 3

Đại biểu chúc mừng Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030. Nguồn ảnh: baothainguyen.vn

Đại hội cũng tiến hành bầu Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên khóa I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 gồm 23 thành viên; Ủy ban Kiểm tra gồm 5 thành viên.

Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên khóa I.

Minh Thư




Nguồn: Arttimes.vn

Ukraine muốn ngừng bắn dịp Giáng sinh: Nga trả lời


Người phát ngôn Điện Kremlin – ông Dmitry Peskov – cho biết, hiện tại, Nga tập trung vào việc “đạt được các mục tiêu” và “bảo vệ lợi ích quốc gia” trong bối cảnh Ukraine, cũng như một số nước châu Âu mong muốn có lệnh ngừng bắn sau 9 ngày nữa.

Ukraine muốn ngừng bắn dịp Giáng sinh: Nga trả lời - 1

Người phát ngôn Điện Kremlin – ông Dmitry Peskov (ảnh: Reuters)

Điện Kremlin: Nga muốn có giải pháp lâu dài

Hôm 15/12, Tổng thống Ukraine Zelensky cho biết, trong các cuộc đàm phán ở Berlin, Thủ tướng Đức Friedrich Merz đã đề xuất lệnh ngừng bắn trên tiền tuyến ở Ukraine và Kiev hoàn toàn ủng hộ.

Theo ông Zelensky, Ukraine muốn có lệnh ngừng bắn nhân dịp Giáng sinh (25/12), đặc biệt là dừng các cuộc tấn công nhằm vào hạ tầng năng lượng.

Khi được hỏi về ý tưởng này, người phát ngôn Điện Kremlin – ông Dmitry Peskov – hôm 16/12 cho biết: “Câu hỏi đặt ra là bây giờ liệu chúng ta, như Tổng thống Donald Trump đã nói, có thể đạt được một thỏa thuận hay không”.

Theo ông Peskov, Nga khó có thể tham gia một lệnh ngừng bắn như Ukraine mong muốn, nếu Kiev chỉ tập trung vào “các giải pháp ngắn hạn, không khả thi” thay vì giải pháp lâu dài.

“Chúng tôi muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn một thỏa thuận ngừng bắn chỉ để Ukraine có thời gian nghỉ ngơi và chuẩn bị tiếp tục xung đột”, ông Peskov nói.

Ông Peskov cho biết, lập trường của Moscow là “nhất quán, minh bạch và được biết đến rộng rãi cả ở Mỹ và Ukraine”. Hiện tại, Nga đang tập trung vào việc “đạt được các mục tiêu” và “bảo vệ lợi ích quốc gia” – điều mà ông Peskov cho rằng có thể đảm bảo hòa bình lâu dài ở châu Âu.

“Nếu Ukraine muốn thay thế các thỏa thuận bằng những giải pháp tình thế, không khả thi, thì chúng tôi khó lòng chấp nhận”, ông Peskov nói.

Trong cuộc họp báo, ông Peskov lưu ý rằng Nga chưa được xem chi tiết liên quan đến các bảo đảm an ninh “kiểu NATO” mà giới chức châu Âu tuyên bố Mỹ đã đồng ý cung cấp cho Ukraine.

Ukraine, châu Âu khởi động Ủy ban Yêu cầu Bồi thường Quốc tế

Reuters hôm 16/12 đưa tin, Tổng thống Ukraine Zelensky đã tới The Hague (Hà Lan) họp cùng với hàng chục quan chức cấp cao châu Âu, bao gồm Đại diện cấp cao phụ trách chính sách đối ngoại EU – bà Kaja Kallas – để khởi động Ủy ban Yêu cầu Bồi thường Quốc tế, yêu cầu Nga bồi thường hàng trăm tỷ USD thiệt hại cho Ukraine.

Theo Reuters, Ủy ban Yêu cầu Bồi thường Quốc tế là một cơ chế do Hội đồng châu Âu bảo trợ và điều phối, nhằm hỗ trợ Ukraine đòi bồi thường từ Nga. 

Cuộc gặp giữa ông Zelensky với các quan chức châu Âu diễn ra song song với nỗ lực của Mỹ nhằm dứt xung đột ở Ukraine.

Phát biểu hôm 16/12, Ngoại trưởng Hà Lan David van Weel tuyên bố:

“Nếu thiếu sự minh bạch, cuộc xung đột sẽ không thể được giải quyết triệt để. Và một phần của sự minh bạch này là bồi thường cho những thiệt hại (họ) đã gây ra”.

Theo ông van Weel, việc thành lập Ủy ban Yêu cầu Bồi thường Quốc tế là một “bước tiến lớn” để hỗ trợ Ukraine.

Reuters đưa tin, cuộc họp hôm 16/12 đã thảo luận đến việc sử dụng các tài sản của Nga bị EU phong tỏa để hỗ trợ Ukraine, kết hợp với đóng góp của các nước thành viên.

Nga chưa bình luận về động thái mới của Ukraine và EU.



Nguồn: Arttimes.vn

UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp


Chiều ngày 9/12 (theo giờ Hà Nội), tại Kỳ họp thứ 20 diễn ra ở Ấn Độ, UNESCO đã chính thức thông qua quyết định ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là di sản thứ 17 của Việt Nam được UNESCO vinh danh, mở ra cơ hội và trách nhiệm mới trong việc hồi sinh dòng tranh dân gian độc đáo này.

Vào hồi 16 giờ 08 phút ngày 9/12 (tức 14 giờ 38 phút giờ New Delhi), tại Pháo đài Đỏ (Red Fort), Ấn Độ, tiếng búa của Chủ tịch Kỳ họp thứ 20 Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 đã vang lên, thông qua Quyết định số 20.COM 7.a.1. Theo đó, hồ sơ “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” của Việt Nam đã đáp ứng hoàn toàn các tiêu chí khắt khe để được ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp - 1

Ông Vishal V. Sharma, Chủ tịch Kỳ họp thứ 20, đã gõ búa chính thức ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản cần bảo vệ khẩn cấp.

UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp - 2

Đoàn đại biểu Việt Nam vỡ òa trong niềm vui mừng khi UNESCO chính thức thông qua việc ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách DSVHPVT cần bảo vệ khẩn cấp.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ khởi nguồn từ thế kỷ XVII tại làng Đông Khê (phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Trải qua 5 thế kỷ, cộng đồng nơi đây đã sáng tạo nên một dòng tranh khắc gỗ độc bản, mang đậm hơi thở cuộc sống người Việt. Nét độc đáo của tranh Đông Hồ nằm ở kỹ thuật in thủ công tinh xảo và hệ màu sắc hoàn toàn từ tự nhiên: màu điệp óng ánh từ vỏ sò, màu đỏ vang từ sỏi son, màu vàng từ hoa hòe, màu xanh từ lá chàm và màu đen từ than lá tre.

Mỗi bức tranh là kết quả của một quy trình phức tạp gồm sáng tác mẫu, khắc ván và in tranh “úp ván” trên giấy dó quét hồ điệp. Các nghệ nhân phải in lần lượt 5 màu, mỗi màu một bản khắc riêng, tuân thủ nguyên tắc khắt khe: đỏ trước, xanh – vàng – trắng tiếp theo và cuối cùng là nét đen để “khép” hình.

UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp - 3

Các ván màu và ván nét – bộ ván in khắc gỗ không thể thiếu để in hoàn thiện một bức tranh dân gian Đông Hồ.

UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp - 4

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế hướng dẫn thợ khắc ván tại xưởng in tranh của ông ở phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Mặc dù mang giá trị nghệ thuật và lịch sử to lớn, nghề tranh Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Hiện chỉ còn rất ít hộ gia đình tại làng Đông Khê kiên trì duy trì nghề (điển hình là gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế). Theo hồ sơ đệ trình UNESCO, số lượng nghệ nhân lành nghề đã giảm mạnh do nghề khó bảo đảm sinh kế và thế hệ trẻ thiếu sự quan tâm. Bên cạnh đó, các công đoạn chế tác nguyên liệu và khắc ván đòi hỏi nhiều năm tích lũy kinh nghiệm, khiến việc truyền dạy bị đứt gãy. Tình trạng này đã đáp ứng tiêu chí ghi danh vào Danh sách cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO.

UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản cần bảo vệ khẩn cấp - 5

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương phát biểu tại Kỳ họp.

Ngay sau thời khắc ghi danh, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương cùng đoàn đại biểu Việt Nam đã có bài phát biểu cam kết thực hiện Chương trình hành động quốc gia tập trung vào bảy mục tiêu chiến lược. Các mục tiêu này nhằm giải quyết triệt để nguy cơ mai một thông qua việc: Mở các lớp truyền nghề chuyên sâu; kiểm kê và tư liệu hóa các bản khắc gỗ cổ; quy hoạch và cải thiện khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu tự nhiên; hỗ trợ đa dạng hóa mẫu mã và thị trường để đảm bảo sinh kế cho nghệ nhân; đồng thời tích hợp di sản vào hệ thống giáo dục chính quy và phi chính quy nhằm khơi dậy tình yêu văn hóa trong thế hệ trẻ.

Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào của cộng đồng Bắc Ninh mà còn khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc gìn giữ sự đa dạng văn hóa nhân loại, đảm bảo dòng chảy văn hóa truyền thống được tiếp nối bền vững./.

Theo Thu Mai – Cổng Thông tin điện tử Bộ VHTTDL




Nguồn: Arttimes.vn