Home Blog Page 73

Chiếu miễn phí 11 bộ phim trong tháng phim Pháp đón Tết


Tiếp tục truyền thống tháng phim Pháp đón Tết – “Cine-Tết”, Chương trình chiếu phim Tết 2026 năm nay giới thiệu đến công chúng 11 bộ phim Pháp, phụ đề tiếng Việt, chiếu trực tuyến miễn phí, không giới hạn trên nền tảng xem phim trực tuyến DANET.

Đây là hoạt động thường niên do Công ty TNHH Bình Hạnh Đan (BHD) và Viện Pháp tại Việt Nam phối hợp tổ chức, nhằm mang đến cho khán giả cơ hội khám phá điện ảnh Pháp thông qua hình thức trực tuyến. Đồng thời, góp phần đưa điện ảnh Pháp được tiếp cận và làm quen với khán giả Việt yêu thích điện ảnh và phim nước ngoài.

Chiếu miễn phí 11 bộ phim trong tháng phim Pháp đón Tết - 1

Các bộ phim sẽ được chiếu miễn phí trên DANET từ 12/2 đến 12 /3/2026.

Với chủ đề “Đầu năm đón phim hay, vui xuân Bính Ngọ – Lộc thọ đầy nhà”, chương trình năm nay được tổ chức với kho phim đa dạng về đề tài, thể loại, lứa tuổi…

Đại diện Ban Tổ chức chia sẻ: “Ở từng thước phim, mỗi khung hình đều mang hơi thở nghệ thuật, mỗi nhân vật đều có chiều sâu nội tâm và những mâu thuẫn đời thường đầy chân thật. Phim “Cine-Tết” không vội vàng chinh phục khán giả, mà nhẹ nhàng dẫn dắt, để lại dư vị lắng đọng, vui có, buồn có, nhiều cảm xúc khiến người xem suy ngẫm rất lâu sau khi màn hình tắt xuống.

Viện Pháp tại Việt Nam và Công ty BHD mong rằng chương trình sẽ đem đến cho khán giả những trải nghiệm điện ảnh thú vị và có những phút giây thư giãn, quây quần bên gia đình trong dịp Tết Bính Ngọ để cùng nhau thưởng thức những bộ phim Pháp ấn tượng”.

Chiếu miễn phí 11 bộ phim trong tháng phim Pháp đón Tết - 2

“Sâm panh và tiệc độc thân” là một trong các bộ phim được chiếu trong dịp này.

11 bộ phim được chiếu trong dịp này gồm: “Phía trước là cuộc đời”, “Món quà định mệnh”, “Mối thù Riviera”, “Hội người cao tuổi bá đạo”, “Để con tim lên tiếng”, “Ước nguyện của con”, “Sâm panh và tiệc độc thân”, “Lâu đài của cha”, “Chết bởi hàng nghìn vết cắt”, “Yves Saint Laurent – nhà thiết kế thiên tài”, “Kẻ đánh cắp trái tim”.

Các bộ phim sẽ được phát sóng hoàn toàn miễn phí và không giới hạn trên tất cả các nền tảng (website, ứng dụng trên điện thoại, TV thông minh) của DANET từ 12/2 đến 12 /3/2026.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài trường hợp “Gánh gánh gồng gồng” của Xuân Phượng


Văn hóa không chỉ là yếu tố lưu giữ, duy trì và phát triển văn hóa dân tộc mà còn là nhịp cầu gắn kết giữa các quốc gia nhằm hướng tới sự hòa hợp, hiểu biết về con người và văn hóa của các vùng miền, lãnh thổ trong quá trình giao lưu, đổi mới và hội nhập quốc tế. Một trong những nhân vật hết lòng vì sự nghiệp trao đổi văn hóa nói trên là nhà văn, đạo diễn phim tài liệu, nhà sưu tầm tranh Xuân Phượng.

Bà sinh năm 1929, tại Nham Biểu, Hương Trà, Thừa thiên Huế, hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Hành trình sống của bà là một hành trình trải nghiệm và cống hiến trên nhiều lĩnh vực, nổi bật ở việc dịch phim tiếng Pháp, tạo được uy tín nghề nghiệp, được hãng Capi Films của bà Marceline Loridan cử làm đại diện chính thức đi dự liên hoan phim Cannes năm 1990. Là tác giả cuốn hồi ký Gánh gánh gồng gồng ra mắt bạn đọc năm 2020 (Nxb Văn hóa Văn nghệ TPHCM). Ngay từ khi trình hiện, cuốn sách đã chiếm được sự yêu mến và thái độ ngưỡng mộ của đông đảo người đọc và nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh (2021), rồi nhanh chóng được tái bản.

Có thể nói rất nhiều về cuộc đời của một người đàn bà xuất thân từ một gia đình thân Pháp nhưng lại như một cánh chim “ngược gió” lao vào cơn bão cách mạng, tham gia hoạt động yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược từ năm 16 tuổi. Câu chuyện về số phận con người – số phận của một người đàn bà từ đầu thế kỷ XX đến nay cũng là một lát cắt sinh động và dữ dội của lịch sử dân tộc.

Giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài trường hợp “Gánh gánh gồng gồng” của Xuân Phượng - 1

Nhà văn, đạo diễn phim tài liệu, nhà sưu tầm tranh Xuân Phượng.

Một trong những câu chuyện làm nên tên tuổi của Xuân Phượng được bạn bè, đồng nghiệp biết đến là chuyện giới thiệu tranh và điện ảnh Việt Nam ra thế giới mà cụ thể là Paris (Pháp). Sau một thời gian dài trải qua các công việc ở ngành quân y, chế tạo thuốc nổ, phiên dịch tiếng Pháp, làm báo, phóng viên chiến trường, đạo diễn phim tài liệu, năm 1989 bà về hưu. Vốn là một người năng động, bà luôn nghĩ về phía trước, phải làm gì để nuôi sống mình, lo cho các con cháu. Năm 1991 bà mở phòng tranh tại thành phố Hồ Chí Minh và duy trì cho tới nay (vào tuổi 95).

Do có trình độ học vấn tiếng Pháp, từng làm phim tài liệu về Vĩnh Linh Vĩ tuyến 17- chiến tranh nhân dân cùng vợ chồng đạo diễn Joris Ivens, tạo được tình cảm và niềm tin nơi họ, bà đã được mời sang Pháp như trên đã nói. Vấn đề ở đây là trong những ngày sống trên nước Pháp, bà luôn được các bạn Pháp yêu thương, thông cảm với Việt Nam khó khăn, nghèo đói. Đến nỗi bà phải thốt lên: “Sao nhắc đến Việt Nam chỉ toàn là những chuyện đau thương, khốn khổ đến như vậy. Nước mình còn có cả một nền văn hóa lâu đời mà sao không hề thấy ai nhắc đến”. Từ đó Xuân Phượng lóe ra ý nghĩ: “Hay là khi về, mình mở một phòng tranh để góp phần giới thiệu vài nét về mỹ thuật Việt Nam chăng?”.

Có ý tưởng nhưng phải thực hành. Từ Pháp, bà Xuân Phượng đề đạt dự định của mình với chồng con, được gia đình ủng hộ. Bà nghĩ đang ở trên đất Pháp thì cơ hội bước đầu cố gắng tổ chức một cuộc triển lãm tranh Việt Nam tại Paris để thăm dò dư luận. May quen thân với con trai ông Phó Thị trưởng thành phố Paris, cũng thích ý định làm một cuộc triển lãm nhỏ về tranh tại đây, đã cho mượn phòng khánh tiết lớn và giúp mời báo chí thông tấn đến báo tin: lần đầu tiên Tòa thị chính quận 1 ở Paris sẽ tổ chức triển lãm một số tranh Việt Nam. Ở đầu cầu bên này được lời như cởi tấm lòng, Xuân Phượng viết thư về nhà, dặn các con đi tìm những họa sĩ quen biết và nhờ họ mỗi người góp vài tranh để triển lãm. Việc thu thập tranh tạm ổn, sau đó con trai bà cùng họa sĩ Hoàng Sùng cùng sang Paris mang theo khoảng ba mươi tác phẩm của các họa sĩ quen biết khác.

Triển lãm tranh Việt Nam lần đầu tiên nằm ở một địa điểm rất đẹp và sang trọng tại Paris được báo chí đưa tin, ngày khai mạc có vợ chồng Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Văn Bình, một số bạn tại Pháp Trần Đình Lan, nhà bác học Hoàng Xuân Hãn, Giáo sư Lê Thành Khôi, … đến dự. Gần hai trăm người Pháp đã từng có mặt ở Việt Nam trước 1954, có người già xem tranh thấy nhớ Việt Nam, nhất là Hà Nội mùa thu…

Cuộc triển lãm tranh Việt Nam ở Paris lúc đó không chỉ dấy lên niềm tự hào của mỹ thuật Việt Nam với bạn bè nước ngoài mà còn giúp người tha hương, xa xứ thêm gần gũi với quê hương, xứ sở. Cái thuở ban đầu ấy, như lời tâm sự của bà: “Mấy chục năm sau, tôi thường xuyên tổ chức triển lãm tranh Việt Nam tại Pháp và tại nhiều nước trên thế giới. Bạn bè khắp nơi luôn ủng hộ cho công việc làm của tôi. Nhưng không bao giờ tôi có thể quên được cái cảm giác hồi hộp, cảm động của lần đầu tiên này”.

Thành công mỹ mãn của cuộc triển lãm tranh đầu tiên tại Paris đã tạo ưu thế để bạn bà là ông Trần Đình Lan đứng ra thành lập Hiệp hội quảng bá nghệ thuật Việt Nam, có trụ sở tại Paris. Ông đề nghị bà giữ chức Phó Chủ tịch Hiệp hội. Từ đó Xuân Phượng ra Bắc vào Nam tìm những tài năng mới theo đúng mục đích của Hiệp hội đề ra. 

Muốn thực hành tranh, bà phải cất công tìm tòi và phát hiện danh tính và phẩm tính nghệ thuật của kẻ sáng tạo, ở trường hợp này là Trương Đình Hào. Hào là một họa sĩ tài năng nhưng lại sống ẩn  khuất nơi tỉnh lẻ, tranh vẽ có gu nhưng không bán được, mãi mười một năm sau mới xuất hiện trên thị trường tranh Hà Nội như bà vừa chứng kiến.Bà nhận ra những bức tranh trong đêm, dưới ánh đuốc “là những nét cọ táo bạo, quyết định, mạnh mẽ, với những màu sắc dân gian đỏ, đen, tím vàng đối chọi nhau quyết liệt; nồng ấm một màu nâu của đất; dịu dàng một màu xanh của lúa. Trong đêm tối, các bức tranh hiện lên hấp dẫn, lôi cuốn, ma mị”. Bà quyết định khai mạc phòng tranh Lotus của mình bằng một cuộc triển lãm tranh của Hào, gồm 72 bức. Lần đầu tiên đưa một họa sĩ Việt Nam vẽ theo trường phái tượng trưng (symbolisme) thật liều lĩnh và liệu có thành công? 72 bức tranh của Hào bà mua ở Hà Nội, ngay buổi khai mạc bán được 34 bức. Sau thành công của buổi khai mạc, bà quyết định đem tranh của Hào đi giới thiệu ở các cuộc triển lãm tranh ở nước ngoài và mời họa sĩ cùng đi Singapore, Pháp, Manila, Bỉ nhiều lần. Được tiếp xúc với khí quyển văn hóa nước ngoài, tranh vẽ của Hào thoát khỏi sự u uất, ngày càng độc đáo và sâu sắc hơn. Sau đó tranh của Hào được nữ tiến sĩ nghệ thuật Francoise Dalex, đại diện Bảo tàng Quai Branly ở Paris chọn để tổ chức một cuộc triển lãm tranh Hào tại Paris năm 2014. Nhờ có con mắt tinh tường và tấm lòng nhân hậu của nhà sưu tầm tranh Xuân Phượng, những bức tranh của họa sĩ Trương Đình Hào đã vượt biên ra thế giới, chiếm được sự thiện cảm của khán giả, người xem.

Giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài trường hợp “Gánh gánh gồng gồng” của Xuân Phượng - 2

Tập hồi ký “Gánh gánh gồng gồng”.

Trong thế giới toàn cầu hóa, việc hiểu biết và tôn trọng thực hành văn hóa của nhau chính là chìa khóa cho sự hợp tác và hòa bình lâu dài giữa các quốc gia và các dân tộc. Với bà Xuân Phượng, việc thực hành văn hóa lúc đầu còn dè dặt, khiêm nhường ở Paris năm 1991, sau đó cho đến nay ngày càng phát triển, sôi động và phong phú hơn. Bà và các họa sĩ Việt Nam đã có dịp đặt chân đến các bảo tàng mỹ thuật trên thế giới. Riêng Pháp từ năm 1991 – 2019, năm nào cũng sang ít nhất một lần vì người Pháp yêu tranh Việt Nam và vì các họa sĩ và bà đều thích đến thăm các bảo tàng nghệ thuật của Pháp. Các cuộc triển lãm tranh do bà Xuân Phượng kết hợp các bạn nước ngoài tổ chức tại không gian Việt hay bên ngoài lãnh thổ đã cho thấy “tầm nhìn xa” mang tính lan tỏa của sắc màu không biên giới giúp các quốc gia và con người xích lại gần nhau. Việc quảng bá, giới thiệu văn hóa Việt Nam ra thế giới luôn là một công việc mang ý nghĩa quốc tế và nhân bản.

Không chỉ thế, trong hồi ức sống động và phong phú của tác giả Xuân Phượng còn tôn vinh niềm tự hào của điện ảnh Việt Nam thời kỳ trứng nước qua nhân vật nhà quay phim gạo cội Khương Mễ. Bằng lối kể khơi gợi sự chú ý, hài hước, dí dỏm về chuyến “Pháp du “năm 1997, những nhà điện ảnh Pháp không khỏi ngạc nhiên và cảm phục về một nền điện ảnh cách mạng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ trước ở một nơi đất phèn, đèn dầu hẻo lánh, bị quân thù bốn bề bao vây mà chỉ “một nhóm người đã làm nên điều kỳ diệu: không có điện mà vẫn làm ra điện ảnh”. Bà cùng nhà quay phim Khương Mễ và “Đoàn điện ảnh Việt Nam” sang Pháp dự liên hoan phim quốc tế Amiens là một trong năm liên hoan phim lớn nhất tại Pháp.

Để sang được đến “kinh đô ánh sáng”, đoàn phải qua cửa ải hải quan Pháp. Nhóm hải quan khá vất vả và tò mò khi kiểm tra hàng loạt hàng hóa, vật dụng thô sơ và lỉnh kỉnh của đoàn phim Việt Nam bên lời “thuyết minh” như cuốn theo chiều gió của Xuân Phượng: “từ những hộp sắt rỉ nát, xám xịt bên trong đựng những cuộn phim kèm theo những túi gạo rang chống ẩm, từ chiếc máy quay phim Paillard Bolex 16mm dây cót đã mòn vẹt, cũ kỹ, từ những quyển sách vàng ố, rách tơi tả viết về điện ảnh của các cụ Faveau và Boyer của gần 100 năm trước vẫn còn cất giữ đến tận ngày nay”. Cuộc kiểm tra hành lý từ căng thẳng chuyển sang hân hoan, thán phục. Những hiện vật thô sơ đã được trưng bày tại phòng liên hoan phim cho thấy công đầu của “ông già điện ảnh” Khương Mễ đã bao năm ky cóp, giữ gìn chăm chút tuy “không giàu có gì, nhà cửa chật chội, ông trân trọng những “vũ khí” thân thiết của mình và quyết tâm gìn giữ các hiện vật bằng mọi giá vì con cháu mai sau”.

Đúng là nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng đã kết nối những trái tim nghệ sĩ của các quốc gia. Những thời khắc quý giá bên nhau, họ cùng chia sẻ và đồng cảm những câu chuyện về nghề, về tình người. “Trời tháng 11 ở Amiens đã se lạnh. Những lò sưởi tí tách tiếng nổ của thanh hồng. Nhấp ly rượu vang Pháp thơm nhẹ mùi nho chín, Khương Mễ kể lại với các đồng nghiệp Pháp, Bỉ về những ngày gian khổ làm phim, về chiếc xuồng theo anh rạch ngang kênh lạch, về những anh chị em đã ngã xuống, về tấm lòng của bà con ở những nơi tổ điện ảnh đã đến”. Điều không ngờ và cũng là may mắn trong đêm huyền diệu và ấm áp ấy, ông già Khương Mễ với câu chuyện về điện ảnh bưng biền đã trở thành đối tượng thẩm mỹ, thành nhân vật trong bộ phim Chiếc phòng tối của Khương Mễ do Samuel Aubin có mặt lúc ấy đạo diễn.

Và như tác giả phim thổ lộ: “Phim này (Chiếc phòng tối của Khương Mễ) do tôi làm nhưng người cha tinh thần của nó chính là Khương Mễ”. Đêm bế mạc Liên hoan phim quốc tế Amiens, ông già điện ảnh Khương Mễ được mời lên sân khấu. Chủ tịch liên hoan phim trao giải Kỳ lân vàng danh dự – giải vinh danh cho sự nghiệp điện ảnh suốt đời cho nhà quay phim Khương Mễ. Xin chia sẻ lời của ông về lễ liên hoan điện ảnh và về người Việt Nam được nhận giải thưởng cao quý: “Mười ngày qua, gia đình điện ảnh chúng ta đã có những giây phút tuyệt vời, càng gắn bó với nhau hơn, càng yêu quý sự nghiệp mà chúng ta đang đảm đương. Và đây là điều tôi mong các bạn đừng quên. Hãy yêu thương, quý trọng người bạn này của chúng ta và của lịch sử điện ảnh thế giới, đây là “ông Lumière” (người đã phát minh kỹ thuật điện ảnh năm 1895) của Đồng Tháp Mười Việt Nam”. Ở phía trên về hội họa, bà Xuân Phượng đã nói đến Sắc màu không biên giới, còn ở đây về điện ảnh, tôi muốn nói đến Những thước phim không biên giới mà tác giả hồi ký Gánh gánh gồng gồng đã bằng nỗ lực phi thường của mình giới thiệu văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Tháng 7 năm 2011: “Chính phủ Pháp đã quyết định tặng thưởng huân chương cao quý nhất của nước Pháp, Huân chương Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh về những công lao mà bà đã đóng góp cho chiếc cầu hữu nghị Việt  Nam – Pháp trong hơn nửa thế kỷ qua… “Sau những đóng góp trong chiến tranh, những cuộc triển lãm tranh Việt Nam trong hai mươi năm qua của bà cũng góp phần không nhỏ vào sự bền chặt  của tình hữu nghị hai nước Việt Nam – Pháp”.

Ghi chú: Các trích dẫn đều lấy trong hồi ký Gánh gánh gồng gồng, NXB Văn hóa Văn nghệ TPHCM, 2020 của Xuân Phượng.

Nguyễn Bích Thu




Nguồn: Arttimes.vn

Công bố TTHC được sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ trong lĩnh vực Quảng cáo thuộc quản lý của Bộ VHTTDL


Bộ VHTTDL vừa ban hành Quyết định số 190/QĐ – BVHTTDL về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ trong lĩnh vực Quảng cáo thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ VHTTDL.

Căn cứ Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Căn cứ Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 08 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Căn cứ Nghị định số 342/2025/NĐ – CP ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện và Chánh Văn phòng Bộ;… Bộ VHTTDL đã ban hành Quyết công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ trong lĩnh vực Quảng cáo thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ VHTTDL.

Công bố TTHC được sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ trong lĩnh vực Quảng cáo thuộc quản lý của Bộ VHTTDL - 1

Ảnh minh họa

Theo đó, thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực Quảng cáo thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ VHTTDL là Thủ tục tiếp nhận hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng-rôn.

Thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực Quảng cáo thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ VHTTDL gồm: Thủ tục cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam; Thủ tục cấp sửa đổi, bổ sung Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam; Thủ tục cấp lại Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam;

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2026. Quyết định số 3808/QĐ-BVHTTDL ngày 11/12/2023 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành.

Bộ VHTTDL yêu cầu Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, Thủ trưởng các Cục, Vụ và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.



Nguồn: Arttimes.vn

BMW bắt đầu sử dụng logo mới trong năm nay


Theo Motor1, toàn bộ xe BMW sẽ sử dụng logo mới từ tháng sau, thay đổi tinh tế và hơi khó nhận ra.

BMW xác nhận áp dụng logo mới cho toàn bộ ôtô từ tháng sau. Thay đổi rất nhỏ, thiên về thiết kế phẳng và tinh giản, nhưng cho thấy bước điều chỉnh nhận diện thương hiệu của hãng xe Đức. Theo Motor1, BMW sẽ bắt đầu sử dụng logo mới trên toàn bộ các mẫu ô tô xuất xưởng từ tháng tới. Logo này thực tế đã được giới thiệu lần đầu vào tháng 9/2025, cùng màn ra mắt BMW iX3, nhưng phải đến nay hãng mới chính thức xác nhận triển khai đồng loạt.

Thoạt nhìn, logo BMW mới gần như không khác biệt so với phiên bản quen thuộc. Hình tròn đặc trưng vẫn được giữ nguyên, nhưng cấu trúc và cách xử lý bề mặt đã được tinh chỉnh theo hướng hiện đại và tối giản hơn.

BMW bắt đầu sử dụng logo mới trong năm nay - 1

BMW không phải là thương hiệu duy nhất theo đuổi xu hướng thiết kế logo phẳng.

Điểm thay đổi dễ nhận thấy nhất nằm ở phần vòng tròn bên trong. Logo mới loại bỏ vòng mạ crom bóng bẩy, thay vào đó là thiết kế phẳng hơn, ít tạo khối nổi như trước. Các mảng màu trắng được đưa sát ra viền ngoài, trong khi chữ BMW được tinh chỉnh lại để trông sắc nét và chính xác hơn.

Chia sẻ trên BMW Blog, Giám đốc thiết kế Oliver Heilmer cho biết hãng muốn giữ lại di sản nhận diện đã tồn tại hàng chục năm, nhưng đồng thời mang đến cảm giác tinh tế và hiện đại hơn. Theo ông, logo mới dù có thiết kế phẳng về mặt thị giác, nhưng khi chạm tay vẫn có thể cảm nhận rõ các đường gờ và chi tiết hoàn thiện.

Không chỉ logo tiêu chuẩn, BMW xác nhận đang tiến hành cập nhật logo hiệu suất M. Những thay đổi này dự kiến bắt đầu xuất hiện trên các mẫu xe từ tháng 2 tới. Hãng chưa công bố chi tiết, song nhiều khả năng logo M mới cũng sẽ đi theo triết lý tinh giản, điều chỉnh rất nhỏ thay vì thay đổi toàn diện.

BMW bắt đầu sử dụng logo mới trong năm nay - 2

BMW xác nhận đang tiến hành cập nhật logo hiệu suất M.

BMW không phải là thương hiệu duy nhất theo đuổi xu hướng thiết kế logo phẳng. Trước đó, hãng đã từng giới thiệu logo mới vào năm 2020 và sử dụng song song với phiên bản ra mắt từ năm 1997. Năm 2017, BMW cũng từng tung ra logo đen – trắng dành riêng cho các dòng xe cao cấp.

Trong bối cảnh toàn ngành ôtô đang hướng tới giao diện số hóa và thiết kế tối giản, việc BMW tiếp tục tinh chỉnh logo cho thấy nỗ lực làm mới hình ảnh mà không phá vỡ bản sắc thương hiệu. Gần đây, Honda và Mazda cũng đã xác nhận áp dụng logo 2D trên các thế hệ xe tương lai, cho thấy đây đang là xu hướng chung của ngành.

Dù thay đổi không lớn, logo BMW mới vẫn đánh dấu một bước chuyển nhẹ nhưng có chủ đích, phản ánh cách các hãng xe truyền thống đang thích nghi với thời đại số và thị hiếu thẩm mỹ mới.



Nguồn: Arttimes.vn

Công nhận thêm 30 bảo vật quốc gia


Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính ký Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 về việc công nhận bảo vật quốc gia (Đợt 14), theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Cụ thể, 30 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia (đợt 14, năm 2025) gồm:

1. Sưu tập trống đồng Làng Vạc Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Thế kỷ III – I trước Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ An – Xô viết Nghệ Tĩnh, tỉnh Nghệ An.

2. Sưu tập muôi đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ II – I trước Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.

3. Bộ chuông đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ II trước Công nguyên – thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.

4. Bộ áo giáp đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên – thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.

5. Chậu trống đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên – thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.

6. Bát bồng gốm Văn hoá Hoa Lộc, niên đại: Khoảng 4.000 – 3.800 năm cách ngày nay, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Gốm thời dựng nước, Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Tượng Phật bằng đá Văn hóa Óc Eo, niên đại: Thế kỷ VI – VII, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Đào Danh Đức, thành phố Hà Nội.

8. Tượng thần Vishnu bằng đá Văn hóa Óc Eo, niên đại: Thế kỷ VI – VII, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Đào Danh Đức, thành phố Hà Nội.

9. Tượng đồng Nữ thần Durga Văn hoá Chăm Pa, niên đại: Thế kỷ VII, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

10. Sưu tập đồ thờ bằng vàng tại tháp Chăm An Phú, niên đại: Thế kỷ IX – X, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Pleiku, tỉnh Gia Lai.

11. Nắp hộp gốm men xanh lục thời Lý, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XI, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội, thành phố Hà Nội.

12. Bia đá chùa Nghĩa Xá, niên đại: Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122), hiện lưu giữ tại chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự), xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình.

13. Thành bậc rồng thời Lý, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XII – XIII, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội, thành phố Hà Nội.

14. Chậu gốm hoa nâu thời Trần, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XIII, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội, thành phố Hà Nội.

15. Sưu tập đĩa đèn đồng thời Trần, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XIII – XIV, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội, thành phố Hà Nội.

16. Bia Ma nhai kỷ công Thành Nam thời Trần, niên đại: Tháng 12 nhuận, năm Ất Hợi (niên hiệu Khai Hựu thứ 7 – 1335), hiện lưu giữ trên vách núi Thành Nam, xã Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

17. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương, niên đại: Đại Trị năm thứ 7 (1364), hiện lưu giữ tại chùa Thượng Nương, thôn Tam Tứ, xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình.

18. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai, niên đại: Thế kỷ XIV (niên hiệu Đại Định năm thứ hai – 1370, thời Trần), hiện lưu giữ tại chùa Hương Trai, xã Dương Hoà, thành phố Hà Nội.

19. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Đại Bi, niên đại: Thế kỷ XIV (niên hiệu Long Khánh 2 – 1374, thời Trần), hiện lưu giữ tại chùa Đại Bi, xã Dương Hoà, thành phố Hà Nội.

20. Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán Động Liên Hoa, chùa Phong Phú, niên đại: Thời Trần, hiện lưu giữ tại động Liên Hoa, chùa Phong Phú, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

21. Sách đồng Khâm Ban của Lê Thánh Tông, niên đại: Thời Lê Sơ (ngày 06 tháng 3, niên hiệu Hồng Đức thứ 3 – 1472), hiện lưu giữ tại đình Cầu Không, xã Bắc Lý, tỉnh Ninh Bình.

22. Bình gốm men trắng vẽ rồng thời Lê Sơ, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XV, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội, thành phố Hà Nội.

23. Bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp, niên đại: Thế kỷ XVI, hiện lưu giữ tại Chùa Nhạn Tháp, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên.

24. Bộ 03 ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa, niên đại: Thế kỷ XVI, hiện lưu giữ tại đền Đa Hòa, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên.

25. Chuông chùa An Xá, niên đại: Thời Lê Trung hưng (niên hiệu Chính Hòa thứ 11 – 1690, đời vua Lê Hy Tông), hiện lưu giữ tại chùa Bắc Biên, phường Bồ Đề, thành phố Hà Nội.

26. 03 bia đá chùa Keo Hành Thiện thời Lê Trung hưng, niên đại: Hoằng Định 13 (1613), Cảnh Trị 9 (1671) và Chính Hòa 25 (1704), hiện lưu giữ tại chùa Keo Hành Thiện (Thần Quang tự), xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.

27. Tượng Phật bằng gỗ Mẫu Man Nương chùa Tổ, niên đại: Thế kỷ XVIII, hiện lưu giữ tại chùa Phúc Nghiêm (chùa Tổ), phường Song Liễu, tỉnh Bắc Ninh.

28. Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế, niên đại: Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Lê Thanh Nghĩa, Thành phố Hồ Chí Minh.

29. Bộ cồng chiêng Kơ Đơ, niên đại: Đầu thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Pleiku, tỉnh Gia Lai.

30. Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc, niên đại: 1949 – 1950, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nơi có bảo vật quốc gia, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, người đứng đầu ngành, tổ chức được giao quản lý bảo vật quốc gia được công nhận tại Quyết định này trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý đối với bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.



Nguồn: Arttimes.vn

Mazda6 ngừng kinh doanh tại Việt Nam


Thị trường sedan hạng D thu hẹp, Mazda6 rút khỏi danh mục sản phẩm tại Việt Nam.

Phân khúc sedan hạng D tại Việt Nam biến động mạnh khi Mazda6 biến mất khỏi website chính thức, chỉ còn lại hai đại diện là Toyota Camry và Kia K5 trong năm 2026. Sự biến mất của Mazda6 trên hệ thống website chính thức của Mazda Việt Nam đánh dấu bước lùi tiếp theo của phân khúc sedan hạng D, phản ánh rõ nét sự thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng.

Sau nhiều tháng ghi nhận doanh số ở mức thấp điểm, Mazda6 đã không còn xuất hiện trong danh mục sản phẩm được phân phối trên website của Mazda Việt Nam. Dù đơn vị lắp ráp và phân phối là THACO Auto chưa đưa ra văn bản xác nhận chính thức, nhưng động thái này cùng với việc các đại lý ngừng nhận đặt cọc từ cuối năm 2025 cho thấy mẫu xe này đã dừng cuộc chơi tại thị trường trong nước. Đây là mẫu xe thứ hai của thương hiệu Mazda rút khỏi thị trường Việt Nam trong vòng một năm qua, sau trường hợp của dòng xe bán tải BT-50.

Mazda6 ngừng kinh doanh tại Việt Nam - 1

Phân khúc sedan hạng D trong năm 2025 cho thấy một sự phân hóa cực kỳ sâu sắc

Nhìn vào số liệu tổng kết năm 2025, sự sụt giảm của Mazda6 là điều đã được dự báo trước. Với chỉ 56 xe bán ra trong cả năm, trung bình mỗi tháng mẫu xe này chỉ tiêu thụ được chưa đầy 5 chiếc. Kết quả này dù nhỉnh hơn một chút so với đối thủ Honda Accord (42 xe) nhưng vẫn cho thấy sức mua ở mức rất thấp. Đáng chú ý, việc khai tử dòng sedan này không chỉ diễn ra tại Việt Nam mà đã là xu hướng toàn cầu của Mazda, sau khi hãng lần lượt dừng phân phối tại Mỹ vào năm 2021 và Nhật Bản vào năm 2024.

Bức tranh toàn cảnh của phân khúc sedan hạng D trong năm 2025 cho thấy một sự phân hóa cực kỳ sâu sắc. Toyota Camry tiếp tục khẳng định vị thế độc tôn với doanh số đạt 2.489 xe, chiếm phần lớn thị phần và trở thành cái tên duy nhất duy trì được sức sống cho phân khúc này.

Mazda6 ngừng kinh doanh tại Việt Nam - 2

Mazda6 đã không còn xuất hiện trong danh mục sản phẩm được phân phối.

Ở vị trí thứ hai, Kia K5 chỉ đạt mức 267 xe, tạo ra một khoảng cách doanh số lên tới gần 10 lần so với mẫu xe dẫn đầu. Những con số này minh chứng cho việc người tiêu dùng đang dần quay lưng với dòng sedan truyền thống để chuyển sang các dòng xe gầm cao đa dụng.

Bước sang năm 2026, thị trường sedan hạng D tại Việt Nam trở nên trống trải hơn bao giờ hết khi cả Honda Accord và Mazda6 lần lượt rút lui. Hiện tại, khách hàng trong nước chỉ còn hai lựa chọn chính là Toyota Camry, Kia K5 và MG7 hay xe điện BYD Seal. 

Việc thiếu vắng các đối thủ cạnh tranh không chỉ làm giảm đi tính đa dạng của thị trường mà còn đặt ra câu hỏi về khả năng tồn tại lâu dài của phân khúc này trước sự lấn lướt mạnh mẽ từ các dòng SUV và Crossover cùng tầm giá.



Nguồn: Arttimes.vn

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim: Đi suốt cuộc đời để trở về nguồn cội


Tôi và nhà thơ Nguyễn Thanh Kim quen biết nhau chừng 1/4 thế kỷ kể từ khi hai chúng tôi về cùng làm việc với nhau ở báo Sức khỏe & Đời sống (Bộ Y tế) cho đến khi cả hai đều nghỉ hưu ở bản báo này. Ngoài nghề làm báo, Nguyễn Thanh Kim còn có nghiệp thơ văn. Đến nay, theo tôi biết, ông đã có 40 đầu sách cá nhân và in chung. Riêng thơ, ông cũng đã có chừng 20 tập, còn lại là sách biên soạn, phê bình và chân dung tác giả và tác phẩm văn chương… Như vậy, xem ra lưng vốn văn chương của Thanh Kim cũng khá đầy đặn về số lượng tác phẩm.

Từ ngày quen biết nhau ở báo Sức khỏe & Đời sống, mỗi lần ra sách Nguyễn Thanh Kim thường ký tặng tôi. Thú thực đến nay, tôi không nhớ đã nhận được bao nhiêu cuốn sách mà ông tặng và tôi đã viết bao nhiêu bài về các tác phẩm của ông. Gần đây nhất, tháng 6/2025, nhà thơ ký tặng tôi tập thơ mới xuất bản mang Nhịp Xuân. Tập thơ khoảng trên 100 trang gồm 61 bài thơ với 5 phụ bản là 5 bức họa in trên giấy couché 75, sáng bóng và đẹp của họa sĩ Nguyễn Duy Lập, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và là em trai nhà thơ Thanh Kim.

Đọc nhiều thơ của Nguyễn Thanh Kim, đến nay tôi ngộ ra một điều ở ông là người có hình hài ở phố, còn hồn vía lại ở quê. Quê ở đây tôi muốn nói đến các vùng miền trên quê hương đất nước Việt Nam nói chung và quê hương Bắc Ninh của ông nói riêng. Có thể nói thơ Nguyễn Thanh Kim thuộc dòng thơ hoài cổ (cảm hoài). Dường như khi đến mỗi vùng miền của đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc, từ miền xuôi lên miền ngược đến những vùng sông nước Cửu Long ông đều có thơ ghi lại những điều mắt thấy, tai nghe hay những phút xao lòng, như là cách lưu giữ kỷ niệm về những nơi ông đã từng đặt chân tới. Trong Nhịp Xuân có khá nhiều bài trực tiếp hay gián tiếp viết về chủ đề quê. Chẳng hạn như những bài: Long Biên mấy nhịp, Duyên quê, Xuân áp vào chợ phiên, Hoa gạo bóng làng, Vẫn màu hoa xoan ấy, Ba Vì chiều, Mùa hoa ban đỏ, Với Huế, Lăng Cô, Trăng sông Tiền, Lệ Giang, Tam Điệp ngàn lau, Quê bạn, Gặp gỡ sông Thương, Thượng Cẩm Đàn, nào quên, Bình yên cho mỗi căn nhà,… Mà nói đúng hơn, cả tập Nhịp Xuân của ông đều phảng phất hồn quê kiểng từ giọng điệu đến ngôn từ; từ cách cảm đến lỗi nghĩ rất riêng, nhưng đều không trượt ra ngoài đường ray biên độ quê.   

Dù viết về đề tài, chủ đề nào thì tính chân quê trong thơ Nguyễn Thanh Kim luôn là mạch nguồn chủ đạo. “Nghĩ gần, nghĩ xa/ xui ta nhớ mẹ” (Nhớ mẹ) hay “Em vội ra chợ sớm/ mua hoa rồi sắm đào/ ta nhảy xe khắp chốn/ nhặt chút nhuận bút nghèo… Dòng đời cứ chảy trôi/ đường trần sao tất tả/ Tết đến méo mặt cười/ thiên hạ đều thế cả!?” (Ngày áp Tết).

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim: Đi suốt cuộc đời để trở về nguồn cội - 1

Tập thơ “Nhịp xuân” của nhà thơ Nguyễn Thanh Kim.

Nói chung thơ Thanh Kim từ trước đến nay thường viết ngắn. Qua những tập tôi đã đọc thấy ông là người khá kiệm lời, rất ít khi dài dòng, vòng vo tam quốc. Thậm chí có bài chỉ có một đơn vị câu thơ: “Ngõ – vết – rạn – tim – tôi” (Ngõ). Có thể nói đây là một bài thơ khá độc đáo: Bài thơ chỉ có một đơn vị câu thơ với 5 từ mà có tới 4 gạch nối, tạo nên chất suy tưởng cho bài thơ. Nhưng phần lớn thơ ông là những bài có 4 đơn vị câu thơ trở lên. 

Đến đây tôi xin được phép nói rõ quan niệm của tôi về đơn vị câu thơ khác với câu thơ như thế nào. Câu thơ theo quan niệm thông thường được sử dụng trong các thức thơ truyền thống như: Lục bát, Song thất lục bát, Tứ ngôn, Ngũ ngôn, Lục ngôn, Thất ngôn, Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú…

Còn đơn vị câu thơ thường được sử dụng trong thức thơ tự do, không hạn chế số câu trong một bài cũng như không hạn chế số chữ trong một đơn vị câu thơ. Đơn vị câu thơ không phụ thuộc vào cấu trúc câu như các thức thơ truyền thống, mà chỉ phụ thuộc vào ý tưởng và cảm xúc của chủ thể sáng tạo – nhà thơ. Trong thức thơ tự do, đơn vị câu thơ không phải là những khuôn mẫu có sẵn như trong cấu trúc của các thức thơ truyền thống mà ở trên tôi vừa đề cập đến. 

*

Trong tập Nhịp Xuân tôi thích bài thơ dài nhất của ông là bài Bình yên cho mỗi căn nhà. Nói là dài, nhưng bài thơ cũng chỉ có 42 đơn vị câu thơ được chia làm 3 khổ và mỗi khổ đều bắt đầu từ đơn vị câu thơ: “Đất nước này đâu chỉ có bình yên”. Sở dĩ tôi thích bài thơ này vì nó khác với những bài thơ hướng nội của Thanh Kim mà ta thường gặp, đây là một trong số không nhiều những bài thơ hướng ngoại tới cộng đồng trong những lần thiên tai ập tới, thảm họa bủa vây của ông. Có thể nói, đây là bài thơ hiếm hoi được Thanh Kim viết theo lối này, như là cách nhắc nhở tất thảy chúng ta rằng mình đã, đang và còn sẽ sống ở một đất nước luôn có những biến động khôn lường, hết địch họa, rồi đến thiên tai, khiến: “trời đương nắng bỗng sập sùi mưa gió/ thung lũng xanh chợt đục ngầu xoáy lũ/ bản làng xa cuốn hút chốn trời mây/ dốc cheo leo/ cầu đã hãy/ máu người đã đổ/ tàu neo đậu cuồng phong và và bão tố/ bao yên lành sụp đổ nước và cây/…/ người dẫm bùn chỉ hở hai tròng mắt/ lúa ngậm đòng xao xác ngợp sóng chao/ mùa thất bát cơ chừng trông thấy được/…/ những phận người ơi sao cơ cực thế này!”. Có lẽ cơn lũ kinh hoàng do bão Yagi gây ra hồi tháng 9/2024 đã khiến nhà thơ thực sự xúc động viết nên bài thơ này.  

Tất nhiên bài thơ không chỉ có nhắc nhở, chia sẻ với người dân trong vùng bão lũ, “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa” (Đất nước – Phạm Minh Tuấn). Hơn thế nó còn mang tính cảnh giới cao độ. Đọc bài thơ này của Nguyễn Thanh Kim, làm tôi lại nhớ đến hai câu thơ của Trần Đăng Khoa trong bài Thơ tình người lính biển được viết vào năm 1981, trước khi lão Khoa vào học khóa II, trường Viết văn Nguyễn Du cùng với Nguyễn Thanh Kim: “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình уên/ Ϲơn bão chưa ngưng trong tâm hồn biết bao người”. Hai bài thơ của Trần Đăng Khoa và Nguyễn Thanh Kim ra đời cách nhau đúng 44 năm, nhưng tính cảnh báo của chúng vẫn giữ nguyên giá trị. 

Vậy ra, phần lớn những người nghệ sĩ thực thụ, có tâm đều có chung một phẩm chất là rất mẩn cảm trước sự ba đào của quê hương, đất nước và cuộc sống của người dân ở quanh ta. Vấn đề là khi nào người nghệ sĩ biểu hiện ra điều đó, sớm hay muộn lại là câu chuyện riêng của mỗi người. Nhưng chắc chắn chúng tùy thuộc hoàn cảnh khách quan có thể đem đến cho người nghệ sĩ sự xúc động cần thiết về cảm hứng sáng tạo để tạo nên những tác phẩm thơ ca nói riêng và văn học, nghệ thuật nói chung.    

Trong bài Bình yên cho mỗi căn nhà của Nguyễn Thanh Kim, tôi thích nhất khổ thứ ba và cũng là khổ kết của bài thơ: “Đất nước này đâu chỉ có bình yên/ dẫu biết vậy và lòng không nghĩ vậy/ nắng mưa thất thường hoang hoải/ tôi vẫn tin tha thiết tấm lòng dân/ vẫn những tấm lòng biết mấy sẻ chia/ vẫn những con tim ấm nóng tình người/ vẫn những thân thương mắt nhìn tin cậy/ đường dẫu xa và bão giông có nổi/ tôi tin bình yên có trong từng giọng nói/ nỗi đau sẽ qua/ và bình yên sẽ đến trong mỗi căn nhà”. 

Ở đây, Nguyễn Thanh Kim đã góp thêm một tiếng nói bằng thơ, theo cách riêng của mình về tấm lòng vị tha, tương thân tương ái. Ông đã khẳng định thêm một lần nữa dù có thiên tai, địch họa đến mấy cũng không thể làm suy suyển lòng tin của con người Việt Nam vào một tương lai tươi sáng. 

Dẫu biết rằng thơ ca là sản phẩm sáng tạo tinh thần của riêng mỗi người, nhưng khi nhà thơ gắn cái tôi cá nhân của mình với cái ta chung của cộng đồng, dân tộc thì nó sẽ tạo nên sức mạnh lan tỏa rộng lớn hơn và cũng bền lâu hơn. Chỉ riêng bài thơ này thôi, Nguyễn Thanh Kim đã làm được điều đó.

Đỗ Ngọc Yên




Nguồn: Arttimes.vn

Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X


Tối 3/2, tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng – giải Búa liềm Vàng lần thứ X. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi Lễ, theo Cổng thông tin Bộ VHTTDL.

Cùng dự buổi lễ có các đồng chí: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo Giải Búa liềm Vàng.

Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X - 1

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự chương trình

Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; Ủy viên Trung ương Đảng; Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; lãnh đạo một số địa phương, các Bí thư Chi bộ được tuyên dương; đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí, các tác giả, nhóm tác giả có tác phẩm được trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X.

Giải Búa liềm Vàng lần thứ X năm 2025 được phát động từ ngày 20/1/2025, tại Lễ tổng kết và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ IX. Tính đến thời điểm kết thúc nhận bài tham dự Giải Búa liềm Vàng lần thứ X – năm 2025, Cơ quan Thường trực Giải (Tạp chí Cộng sản) đã nhận được tổng số 2.296 tác phẩm. Trong đó có 643 tác phẩm báo in, 866 tác phẩm báo điện tử, 464 tác phẩm truyền hình, 230 tác phẩm phát thanh và 93 tác phẩm ảnh báo chí.

Hội đồng chung khảo đã lựa chọn ra các tác phẩm xuất sắc nhất, trình Ban Chỉ đạo Giải Búa liềm Vàng quyết định trao 6 giải A, 13 giải B, 18 giải C, 10 giải chuyên đề và 35 giải Khuyến khích, khen thưởng 15 tập thể có thành tích xuất sắc trong tổ chức triển khai Giải Búa liềm Vàng ở địa phương, đơn vị.

Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X - 2

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại lễ tuyên dương Bí thư chi bộ xuất sắc và trao giải Búa liềm Vàng lần thứ X

Các tác phẩm tham dự Giải Búa liềm Vàng lần thứ X ở các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương tiếp tục phong phú về chủ đề, thể loại và có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Các cơ quan báo chí ở Trung ương tham gia tích cực với nhiều tác phẩm có chất lượng cao. Khối báo chí địa phương, năm nay có nhiều báo đã đầu tư công phu, có nhiều tác phẩm có chất lượng và chất lượng đồng đều hơn, cho thấy sự tiến bộ rõ rệt hơn so với các năm trước.

Hầu hết các tác phẩm đã bám sát các vấn đề nóng, các sự kiện nổi bật, nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống chính trị và đất nước, như kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng, 80 năm Ngày Quốc khánh 2/9, 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; về tình hình, kết quả đổi mới sáng tạo và quyết tâm hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030 và sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị tạo sự bứt phá hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế – xã hội trong năm 2025, về đích thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2020-2025.

Nhiều tác phẩm đã đi sâu phản ánh vấn đề thời sự của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đó là tình hình, kết quả qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cùng với nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 và các nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, nhất là việc thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương tới cơ sở gắn với sắp xếp, điều chỉnh địa giới hành chính, tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; việc hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng cùng với nhiệm vụ, giải pháp đột phá trong phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng Đảng; việc tích cực, chủ động chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 – 2030 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng…

Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X - 3

Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao giải cho các tác giả

Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm đã phát hiện, chỉ ra những bất cập, hạn chế, những “điểm nghẽn” trong thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030 và trong thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Một số tác phẩm đề cập tới những vấn đề bức xúc hiện nay, có tính phản biện xã hội, chiến đấu cao…

Nét mới trong nội dung các tác phẩm báo chí tham dự Giải Búa liềm Vàng năm 2025 là đã phản ánh sinh động, kịp thời những sự kiện, sinh hoạt chính trị của Đảng như: Việc tổ chức lấy ý kiến góp ý vào Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; việc triển khai thực hiện một số quan điểm chỉ đạo mới của Tổng Bí thư Tô Lâm về: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; chống lãng phí; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế; tổng kết 40 năm đổi mới, chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng…

Phương thức đa phương tiện, loại bài longform, mega story trên báo chí điện tử được sử dụng nhiều, tích hợp nhiều hình thức thể hiện của báo chí hiện đại giúp tác phẩm sinh động, có sức thuyết phục. Nhiều tác phẩm sau khi đăng, phát đã thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng, bạn đọc. Điều này cho thấy Giải Búa liềm Vàng ngày càng có sự lan tỏa mạnh mẽ.

Một điểm mới trong việc tổ chức lễ trao giải là kết hợp với Lễ tuyên dương, khen thưởng 96 Bí thư Chi bộ xuất sắc trong toàn quốc (tương ứng 96 năm thành lập Đảng), cho thấy công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng lan tỏa sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần bồi đắp niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X - 4

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi lễ

Phát biểu chỉ đạo tại Lễ tuyên dương và trao giải, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, quyết định con đường giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, dẫn dắt đất nước, dân tộc vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là mốc son mới trong tiến trình 96 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thành công rất tốt đẹp của Đại hội XIV thể hiện khát vọng, niềm tin, ý chí, quyết tâm và tầm nhìn phát triển mới của Đảng và dân tộc ta. Đây là tiền đề vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự chủ chiến lược, tự tin, tự cường, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư nêu rõ, trong thành tựu đáng tự hào của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, có sự đóng góp trực tiếp, bền bỉ và hết sức quan trọng của các tổ chức cơ sở đảng, của từng chi bộ, từng đảng viên và đặc biệt là đội ngũ Bí thư Chi bộ – những người giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, nơi gần dân nhất, sát thực tiễn nhất.

Các Bí thư Chi bộ có vai trò vừa là “hạt nhân chính trị” trong lãnh đạo, định hướng chi bộ triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, vừa là “kiến trúc sư” trong tổ chức, điều hành, phân công nhiệm vụ cho các đảng viên, cũng đồng thời là “cầu nối” giữa ý Đảng và lòng Dân. Uy tín và sức thuyết phục của mỗi bí thư chi bộ đối với các đảng viên và quần chúng nhân dân có được từ sự nêu gương, tiên phong đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, 96 đồng chí Bí thư Chi bộ được tuyên dương tại buổi lễ hôm nay, đại diện tiêu biểu cho hơn 250 nghìn bí thư chi bộ trong toàn Đảng, thực sự là những tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, có phương pháp lãnh đạo khoa học, sáng tạo; biết gắn công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, công tác sản xuất, kinh doanh; tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong chi bộ và niềm tin của quần chúng nhân dân.

Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X - 5

Tổng Bí thư Tô Lâm và Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng trao biểu trưng cho các Bí thư chi bộ xuất sắc

Đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng, Tổng Bí thư chỉ rõ, công tác thông tin tuyên truyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo đồng thuận xã hội, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Giải Búa liềm Vàng được tổ chức liên tục trong 10 năm qua là một hoạt động có ý nghĩa, góp phần khẳng định vị trí, vai trò của báo chí trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, lan tỏa sâu rộng những cách làm hay, đổi mới sáng tạo, những điển hình tiên tiến trong việc nhanh chóng đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Tổng Bí thư đánh giá cao việc ngày càng có nhiều tác phẩm đã phát hiện, đề cập tới những bất cập, hạn chế, những vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, những vấn đề bức xúc, những “điểm nghẽn” hiện nay và tìm lời giải đáp, tăng cường tính phản biện, tính chiến đấu, tính xây dựng…

Nhiều tác phẩm đã thu hút sự quan tâm của công chúng và góp phần gợi mở, đề xuất các giải pháp thiết thực giúp cấp ủy, chính quyền các cấp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy sự phát triển; lan tỏa rộng rãi các chủ trương lớn của Đảng, giúp cán bộ, đảng viên và người dân nhận thức đúng, hành động đúng.

Đội ngũ những người làm báo cách mạng đã thực sự hòa mình vào dòng chảy của thực tiễn cuộc sống, thể hiện rõ vai trò truyền bá tư tưởng và đồng hành với những bước đi lớn của Đảng, thúc đẩy niềm tin, trách nhiệm, khát vọng phát triển trong mọi tầng lớp nhân dân.

Những đóng góp ấy là thành quả lao động sáng tạo, là minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc về tư duy, kỹ năng, bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm xã hội của đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam, phản ánh tinh thần trách nhiệm, sự đồng lòng, chung sức của cả đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam với sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc, với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Tổng Bí thư ghi nhận, đánh giá cao sự đóng góp to lớn của đội ngũ cấp ủy viên, Bí thư Chi bộ trong toàn Đảng, đội ngũ báo chí cả nước thời gian qua; biểu dương sáng kiến của Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, sự nỗ lực, cố gắng của Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và Giải Búa liềm Vàng lần thứ X.

Để hoạt động tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc phát huy ý nghĩa, Tổng Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ bí thư chi bộ. Chú trọng tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia góp ý xây dựng đội ngũ bí thư chi bộ bảo đảm vai trò hạt nhân và lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở. Từng đồng chí Bí thư Chi bộ phải đổi mới phương thức, phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực hành động, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư đề nghị các cơ quan thông tấn báo chí, các cây bút chuyên nghiệp và không chuyên cần tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội XIV. Công tác thông tin, tuyên truyền phải thực sự là “pháo lệnh” truyền cảm hứng, là “trống trận” cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao nhất tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Các tác phẩm báo chí, nhất là các tác phẩm báo chí viết về xây dựng Đảng cần hiện đại và sáng tạo, phù hợp với sự phát triển thông tin trong kỷ nguyên số, phải là những minh chứng sống động, thể hiện quyết tâm chính trị của các cấp ủy, tổ chức đảng trong tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới, góp phần để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh, nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

Nhân dịp này, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã trao biểu trưng tuyên dương 96 Bí thư Chi bộ xuất sắc toàn quốc, Đây là những đồng chí Bí thư Chi bộ tiêu biểu, điển hình được các cấp ủy lựa chọn, giới thiệu; là những Bí thư Chi bộ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, có uy tín, nhiều thành tích, có mô hình hay, cách làm mới, đem lại kết quả cụ thể, thiết thực trong công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân tại địa phương, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.



Nguồn: Arttimes.vn

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng


Chiều 3/2, tại Hà Nội, Thời báo Văn học nghệ thuật tổ chức chương trình giao lưu – tọa đàm “Những lời nói thật” của nhà thơ Đỗ Quảng, nhân dịp tập thơ cùng tên được tái bản lần thứ hai. Sự kiện không chỉ là dịp nhìn lại hành trình thơ tuy muộn mà bền bỉ của một nhà báo lão thành, mà còn mở ra không gian đối thoại về tinh thần nói thật, trách nhiệm xã hội và những giá trị nhân văn mà thơ ca có thể lan tỏa trong đời sống đương đại.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 1

Chương trình giao lưu – tọa đàm “Những lời nói thật” của nhà thơ Đỗ Quảng.

Phát biểu tại chương trình, nhà văn – nhà báo Hoàng Dự, Tổng Biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật khẳng định, Đỗ Quảng là một nhà báo lão thành, một cây bút phóng sự xuất sắc của Báo Nhân Dân, người đã dành trọn đời cầm bút cho sự thật và những vấn đề cốt lõi của đời sống xã hội. Theo ông Hoàng Dự, tập thơ Những lời nói thật không phải là sự giãi bày cảm xúc riêng tư đơn lẻ, mà là một diễn ngôn mang tính đối thoại, đặt người đọc trước những câu hỏi không dễ né tránh: sống thế nào cho ngay thẳng, viết thế nào cho trung thực, và đối diện với chính mình ra sao trong những biến động của đời sống hôm nay.

“Chính từ tinh thần ấy, Thời báo Văn học nghệ thuật tổ chức buổi giao lưu – tọa đàm này như một không gian mở để chia sẻ, đối thoại và lan tỏa những giá trị nhân văn mà tập thơ gợi ra; qua đó, khơi dậy ý thức tự soi, tự sửa, nuôi dưỡng trách nhiệm xã hội của người cầm bút cũng như của mỗi công dân trong đời sống đương đại”, nhà văn – nhà báo Hoàng Dự nhấn mạnh.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 2

Nhà văn – nhà báo Hoàng Dự, Tổng Biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật phát biểu tại chương trình.

Chia sẻ tại buổi giao lưu về cơ duyên đến với thơ ca, nhà báo – nhà thơ Đỗ Quảng nói bằng giọng trầm lắng và chân thành: “Trong hành trình cầm bút của tôi, thơ đến rất muộn, nhưng lại hết sức tự nhiên”. Sau một đời làm báo, với biết bao chuyến đi, bao nhân vật, bao câu chuyện và cả những kỷ niệm khó quên gắn với nghề, ông đã từng nghĩ rằng đời viết của mình đã khép lại cùng những trang phóng sự. Khi ấy, ông không có ý định làm thơ, càng không muốn tự nhận mình là một nhà thơ, bởi với ông, thơ là một địa hạt khắt khe và đòi hỏi sự dấn thân rất khác.

Tuy nhiên, theo tác giả Đỗ Quảng, khi ý thức rõ hơn rằng thời gian không còn nhiều, những ký ức tưởng như đã lắng xuống lại lần lượt trở về, thôi thúc ông phải ghi chép, phải giữ lại. Và thơ đến như một lựa chọn tự nhiên, giản dị nhất. Ông làm thơ không phải để “trình làng” hay khẳng định mình ở một vai trò mới, mà để viết lại những kỷ niệm, những lát cắt của đời sống và nghề nghiệp đã đi qua, như một cách lưu giữ đặc biệt cho chính bản thân mình.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 3

Nhà báo – nhà thơ Đỗ Quảng chia sẻ về cơ duyên đến với thơ.

Nhà thơ Đỗ Quảng chia sẻ thêm, trong vòng bốn năm, ông liên tiếp cho ra đời ba tập thơ, một nhịp độ sáng tác mà chính ông cũng không ngờ tới. Điều khiến ông xúc động là các tập thơ đều được bạn đọc đón nhận, nhanh chóng bán hết và được tái bản. Với ông, đó không chỉ là niềm vui nghề nghiệp, mà còn là sự động viên lớn lao, cho thấy những “lời nói thật” mộc mạc, không tô vẽ ấy vẫn tìm được sự đồng cảm. Từ sự khích lệ đó, tác giả bày tỏ mong muốn tiếp tục còn đủ sức khỏe, đủ thời gian để viết và để những tập thơ của mình có thể được tái bản thêm nữa, như một cách kéo dài cuộc đối thoại chân thành giữa người viết và bạn đọc.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 4

“Những lời nói thật” là kết tinh của cả một đời sống và một đời cầm bút trung thực, dấn thân của tác giả Đỗ Quảng.

Đặt vấn đề từ một cái nhìn khái quát về diện mạo thơ đương đại hôm nay, nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng cho rằng, thơ hiện nay có thể chia thành nhiều dạng: có loại thiên về thử nghiệm, chủ yếu phục vụ nghiên cứu; có loại phổ biến trên không gian mạng, đáp ứng nhu cầu biểu đạt tức thời; và có một kiểu thơ tuy không nhiều, nhưng đáng trân trọng, đó là thơ chân – thơ trơn, là thơ phát khởi từ đáy lòng, có khả năng tạo nên sự đồng vọng nơi người đọc.

Từ cách phân loại ấy, nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng cho biết ông nghĩ nhiều đến thơ của Đỗ Quảng: “Trong vòng bốn năm ngắn ngủi, ở độ tuổi đã cao, sức khỏe hạn chế, Đỗ Quảng vẫn liên tiếp cho ra đời ba tập thơ – một nhịp sáng tác hiếm gặp, vượt ra ngoài những quy luật thông thường của đời sống văn chương. Đây không phải là sự ‘viết chơi’, càng không phải là thơ làm theo phong trào, mà là kết quả của một nội lực tinh thần mạnh mẽ, được tích tụ từ cả một đời sống và một đời nghề”.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng nhấn mạnh, trong bối cảnh hiện nay, khi phần lớn các tập thơ được in ra chủ yếu để làm quà tặng, thì trường hợp của Những lời nói thật là một hiện tượng đáng chú ý. Chỉ trong vài tháng, tập thơ đã được tái bản lần thứ hai, cho thấy sự đón nhận thực sự của công chúng đọc. Và theo ông, đây chính là minh chứng cho giá trị của sự thật trong thơ Đỗ Quảng – một thứ sự thật không ồn ào, không lên gân, mà lặng lẽ, thẳng thắn và bền bỉ.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 5

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng phát biểu đề dẫn tại tọa đàm.

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân cũng cho rằng, với bề dày vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp và sự từng trải hiếm có, Đỗ Quảng đã thừa bản lĩnh, lòng dũng cảm và cả sự khôn khéo để nói ra những sự thật không dễ nói – những điều mà rất nhiều người biết, nhưng không phải ai cũng dám cất lời.

Theo ông, khi bước sang địa hạt thơ ca, Đỗ Quảng mang theo toàn bộ hành trang của một đời người đã sống đủ, biết đủ và đau đủ những biến động của nhân tình thế thái. Ở đó, không chỉ có sự từng trải, mà còn có một nỗi cô đơn lớn, thậm chí phảng phất cảm giác bất lực trước những nghịch lý của đời sống đương đại – nơi thói đời nhố nhăng, trắng đen lẫn lộn, chân giả đôi khi khó phân định.

Tuy nhiên, vượt lên trên mọi nỗi buồn, mọi day dứt cá nhân, điều đọng lại rõ nhất trong thơ Đỗ Quảng vẫn là tấm lòng với dân, với nước, với cuộc đời. Đó là tiếng nói của một kẻ sĩ mang trong mình ý thức trách nhiệm, phẩm hạnh và sự tự trọng nghề nghiệp, của một người viết chọn cách nói thật như một bổn phận đạo đức. Chính sự nhất quán ấy đã làm nên giá trị cốt lõi của Những lời nói thật – một tập thơ không chỉ để đọc, mà để suy ngẫm và đối diện với chính mình.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 6

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân chia sẻ về tập thơ “Những lời nói thật”.

Nhận định về thơ Đỗ Quảng, nhà thơ Phạm Đình Ân cho rằng, Đỗ Quảng đi theo một lối thơ riêng, ông buông ra những lời tâm sự giản dị, đời thường nhưng giàu sức gợi, dễ tạo tò mò và cuốn hút người đọc. Thơ Đỗ Quảng chinh phục không bằng hình thức cầu kỳ mà bằng cái hồn và tấm lòng của tác giả. Đó là thứ “thơ nhật ký thế sự”, ghi lại những suy nghĩ hằng ngày của một con người nhiều trải nghiệm, luôn trăn trở trước các vấn đề của đời sống. Sự “cồn cào” trong thơ Đỗ Quảng, theo nhà thơ Phạm Đình Ân nó mang ý nghĩa rất nhân văn, đó là những băn khoăn, phản biện nghiêm túc và có trách nhiệm trước thế sự.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 7

Nhà thơ Phạm Đình Ân chia sẻ về phong cách thơ Đỗ Quảng.

Nhà báo Trần Nhung, một đồng nghiệp gắn bó lâu năm với tác giả Đỗ Quảng cho rằng, từ thực tiễn đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, Đỗ Quảng đã nhìn ra những mặt trái, những chiều sâu khuất lấp và thẳng thắn nói lên những điều ấy với mong muốn khơi gợi sự suy nghĩ, cùng hướng tới cải thiện. Theo nhà báo Trần Nhung, nét đặc sắc trong thơ và trong cách viết của Đỗ Quảng chính là tinh thần cảnh tỉnh, nói ra sự thật không để bi quan hay phủ định, mà để mong được sửa chữa, điều chỉnh và từ đó hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 8

Nhà báo Trần Nhung nhấn mạnh đến tinh thần cảnh tỉnh trong thơ Đỗ Quảng.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 9

Nhà báo – nhà thơ Đỗ Quảng và các đại biểu tham dự chương trình.

Những chia sẻ thẳng thắn, sâu sắc tại chương trình cho thấy giá trị của tập thơ Những lời nói thật nằm ở tinh thần nói thật, nghĩ thật và sống có trách nhiệm trước thời cuộc. Trong không gian đối thoại cởi mở ấy, thơ Đỗ Quảng đã vượt ra khỏi trang sách để trở thành lời nhắc nhở âm thầm nhưng mạnh mẽ: chỉ khi dám đối diện với sự thật, con người mới có thể tự soi, tự sửa và cùng hướng tới những giá trị tốt đẹp hơn cho cá nhân và xã hội.

Huyền Thương – Tuấn Anh




Nguồn: Arttimes.vn

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng


Chiều 3/2, tại Hà Nội, Thời báo Văn học nghệ thuật tổ chức chương trình giao lưu – tọa đàm “Những lời nói thật” của nhà thơ Đỗ Quảng, nhân dịp tập thơ cùng tên được tái bản lần thứ hai. Sự kiện không chỉ là dịp nhìn lại hành trình thơ tuy muộn mà bền bỉ của một nhà báo lão thành, mà còn mở ra không gian đối thoại về tinh thần nói thật, trách nhiệm xã hội và những giá trị nhân văn mà thơ ca có thể lan tỏa trong đời sống đương đại.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 1

Chương trình giao lưu – tọa đàm “Những lời nói thật” của nhà thơ Đỗ Quảng.

Phát biểu tại chương trình, nhà văn – nhà báo Hoàng Dự, Tổng Biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật khẳng định, Đỗ Quảng là một nhà báo lão thành, một cây bút phóng sự xuất sắc của Báo Nhân Dân, người đã dành trọn đời cầm bút cho sự thật và những vấn đề cốt lõi của đời sống xã hội. Theo ông Hoàng Dự, tập thơ Những lời nói thật không phải là sự giãi bày cảm xúc riêng tư đơn lẻ, mà là một diễn ngôn mang tính đối thoại, đặt người đọc trước những câu hỏi không dễ né tránh: sống thế nào cho ngay thẳng, viết thế nào cho trung thực, và đối diện với chính mình ra sao trong những biến động của đời sống hôm nay.

“Chính từ tinh thần ấy, Thời báo Văn học nghệ thuật tổ chức buổi giao lưu – tọa đàm này như một không gian mở để chia sẻ, đối thoại và lan tỏa những giá trị nhân văn mà tập thơ gợi ra; qua đó, khơi dậy ý thức tự soi, tự sửa, nuôi dưỡng trách nhiệm xã hội của người cầm bút cũng như của mỗi công dân trong đời sống đương đại”, nhà văn – nhà báo Hoàng Dự nhấn mạnh.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 2

Nhà văn – nhà báo Hoàng Dự, Tổng Biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật phát biểu tại chương trình.

Chia sẻ tại buổi giao lưu về cơ duyên đến với thơ ca, nhà báo – nhà thơ Đỗ Quảng nói bằng giọng trầm lắng và chân thành: “Trong hành trình cầm bút của tôi, thơ đến rất muộn, nhưng lại hết sức tự nhiên”. Sau một đời làm báo, với biết bao chuyến đi, bao nhân vật, bao câu chuyện và cả những kỷ niệm khó quên gắn với nghề, ông đã từng nghĩ rằng đời viết của mình đã khép lại cùng những trang phóng sự. Khi ấy, ông không có ý định làm thơ, càng không muốn tự nhận mình là một nhà thơ, bởi với ông, thơ là một địa hạt khắt khe và đòi hỏi sự dấn thân rất khác.

Tuy nhiên, theo tác giả Đỗ Quảng, khi ý thức rõ hơn rằng thời gian không còn nhiều, những ký ức tưởng như đã lắng xuống lại lần lượt trở về, thôi thúc ông phải ghi chép, phải giữ lại. Và thơ đến như một lựa chọn tự nhiên, giản dị nhất. Ông làm thơ không phải để “trình làng” hay khẳng định mình ở một vai trò mới, mà để viết lại những kỷ niệm, những lát cắt của đời sống và nghề nghiệp đã đi qua, như một cách lưu giữ đặc biệt cho chính bản thân mình.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 3

Nhà báo – nhà thơ Đỗ Quảng chia sẻ về cơ duyên đến với thơ.

Nhà thơ Đỗ Quảng chia sẻ thêm, trong vòng bốn năm, ông liên tiếp cho ra đời ba tập thơ, một nhịp độ sáng tác mà chính ông cũng không ngờ tới. Điều khiến ông xúc động là các tập thơ đều được bạn đọc đón nhận, nhanh chóng bán hết và được tái bản. Với ông, đó không chỉ là niềm vui nghề nghiệp, mà còn là sự động viên lớn lao, cho thấy những “lời nói thật” mộc mạc, không tô vẽ ấy vẫn tìm được sự đồng cảm. Từ sự khích lệ đó, tác giả bày tỏ mong muốn tiếp tục còn đủ sức khỏe, đủ thời gian để viết và để những tập thơ của mình có thể được tái bản thêm nữa, như một cách kéo dài cuộc đối thoại chân thành giữa người viết và bạn đọc.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 4

“Những lời nói thật” là kết tinh của cả một đời sống và một đời cầm bút trung thực, dấn thân của tác giả Đỗ Quảng.

Đặt vấn đề từ một cái nhìn khái quát về diện mạo thơ đương đại hôm nay, nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng cho rằng, thơ hiện nay có thể chia thành nhiều dạng: có loại thiên về thử nghiệm, chủ yếu phục vụ nghiên cứu; có loại phổ biến trên không gian mạng, đáp ứng nhu cầu biểu đạt tức thời; và có một kiểu thơ tuy không nhiều, nhưng đáng trân trọng, đó là thơ chân – thơ trơn, là thơ phát khởi từ đáy lòng, có khả năng tạo nên sự đồng vọng nơi người đọc.

Từ cách phân loại ấy, nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng cho biết ông nghĩ nhiều đến thơ của Đỗ Quảng: “Trong vòng bốn năm ngắn ngủi, ở độ tuổi đã cao, sức khỏe hạn chế, Đỗ Quảng vẫn liên tiếp cho ra đời ba tập thơ – một nhịp sáng tác hiếm gặp, vượt ra ngoài những quy luật thông thường của đời sống văn chương. Đây không phải là sự ‘viết chơi’, càng không phải là thơ làm theo phong trào, mà là kết quả của một nội lực tinh thần mạnh mẽ, được tích tụ từ cả một đời sống và một đời nghề”.

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng nhấn mạnh, trong bối cảnh hiện nay, khi phần lớn các tập thơ được in ra chủ yếu để làm quà tặng, thì trường hợp của Những lời nói thật là một hiện tượng đáng chú ý. Chỉ trong vài tháng, tập thơ đã được tái bản lần thứ hai, cho thấy sự đón nhận thực sự của công chúng đọc. Và theo ông, đây chính là minh chứng cho giá trị của sự thật trong thơ Đỗ Quảng – một thứ sự thật không ồn ào, không lên gân, mà lặng lẽ, thẳng thắn và bền bỉ.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 5

Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng phát biểu đề dẫn tại tọa đàm.

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân cũng cho rằng, với bề dày vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp và sự từng trải hiếm có, Đỗ Quảng đã thừa bản lĩnh, lòng dũng cảm và cả sự khôn khéo để nói ra những sự thật không dễ nói – những điều mà rất nhiều người biết, nhưng không phải ai cũng dám cất lời.

Theo ông, khi bước sang địa hạt thơ ca, Đỗ Quảng mang theo toàn bộ hành trang của một đời người đã sống đủ, biết đủ và đau đủ những biến động của nhân tình thế thái. Ở đó, không chỉ có sự từng trải, mà còn có một nỗi cô đơn lớn, thậm chí phảng phất cảm giác bất lực trước những nghịch lý của đời sống đương đại – nơi thói đời nhố nhăng, trắng đen lẫn lộn, chân giả đôi khi khó phân định.

Tuy nhiên, vượt lên trên mọi nỗi buồn, mọi day dứt cá nhân, điều đọng lại rõ nhất trong thơ Đỗ Quảng vẫn là tấm lòng với dân, với nước, với cuộc đời. Đó là tiếng nói của một kẻ sĩ mang trong mình ý thức trách nhiệm, phẩm hạnh và sự tự trọng nghề nghiệp, của một người viết chọn cách nói thật như một bổn phận đạo đức. Chính sự nhất quán ấy đã làm nên giá trị cốt lõi của Những lời nói thật – một tập thơ không chỉ để đọc, mà để suy ngẫm và đối diện với chính mình.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 6

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân chia sẻ về tập thơ “Những lời nói thật”.

Nhận định về thơ Đỗ Quảng, nhà thơ Phạm Đình Ân cho rằng, Đỗ Quảng đi theo một lối thơ riêng, ông buông ra những lời tâm sự giản dị, đời thường nhưng giàu sức gợi, dễ tạo tò mò và cuốn hút người đọc. Thơ Đỗ Quảng chinh phục không bằng hình thức cầu kỳ mà bằng cái hồn và tấm lòng của tác giả. Đó là thứ “thơ nhật ký thế sự”, ghi lại những suy nghĩ hằng ngày của một con người nhiều trải nghiệm, luôn trăn trở trước các vấn đề của đời sống. Sự “cồn cào” trong thơ Đỗ Quảng, theo nhà thơ Phạm Đình Ân nó mang ý nghĩa rất nhân văn, đó là những băn khoăn, phản biện nghiêm túc và có trách nhiệm trước thế sự.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 7

Nhà thơ Phạm Đình Ân chia sẻ về phong cách thơ Đỗ Quảng.

Nhà báo Trần Nhung, một đồng nghiệp gắn bó lâu năm với tác giả Đỗ Quảng cho rằng, từ thực tiễn đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, Đỗ Quảng đã nhìn ra những mặt trái, những chiều sâu khuất lấp và thẳng thắn nói lên những điều ấy với mong muốn khơi gợi sự suy nghĩ, cùng hướng tới cải thiện. Theo nhà báo Trần Nhung, nét đặc sắc trong thơ và trong cách viết của Đỗ Quảng chính là tinh thần cảnh tỉnh, nói ra sự thật không để bi quan hay phủ định, mà để mong được sửa chữa, điều chỉnh và từ đó hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 8

Nhà báo Trần Nhung nhấn mạnh đến tinh thần cảnh tỉnh trong thơ Đỗ Quảng.

Hành trình nói thật bằng thơ của Đỗ Quảng - 9

Nhà báo – nhà thơ Đỗ Quảng và các đại biểu tham dự chương trình.

Những chia sẻ thẳng thắn, sâu sắc tại chương trình cho thấy giá trị của tập thơ Những lời nói thật nằm ở tinh thần nói thật, nghĩ thật và sống có trách nhiệm trước thời cuộc. Trong không gian đối thoại cởi mở ấy, thơ Đỗ Quảng đã vượt ra khỏi trang sách để trở thành lời nhắc nhở âm thầm nhưng mạnh mẽ: chỉ khi dám đối diện với sự thật, con người mới có thể tự soi, tự sửa và cùng hướng tới những giá trị tốt đẹp hơn cho cá nhân và xã hội.

Huyền Thương – Tuấn Anh




Nguồn: Arttimes.vn