Home Blog Page 61

Clip: Hãi hùng hai cô gái phóng xe ra khỏi nhà lao thẳng xuống bụi cây bên đường


Vừa rời khỏi cổng nhà, hai cô gái bất ngờ mất kiểm soát tay lái khiến cả xe lẫn người gặp tai nạn nguy hiểm.




Nguồn: Arttimes.vn

Lý luận, phê bình văn học và những chuyển đổi


Trước hết, xin nói ngay, bài viết này không phải một “nghiên cứu” hay một “khảo cổ văn học”, mà chỉ là những ghi chép của một người làm nghề dạy học, qua đó ít nhiều gợi ra không khí/“câu chuyện lý luận, phê bình” văn chương đương đại.

Đầu tiên là về thực trạng. Có thể nhận thấy, lâu nay, hễ bàn đến lý luận, phê bình văn học là đồng nghĩa với thở than, nhiều nhất là về đội ngũ, tiếp đến là về chất lượng và định hướng. Điều này phổ biến đến mức, nó dường như trở thành một vấn đề muôn thuở, không nói không xong, nói ra thì, biết rồi, “rõ khổ”. Đáng tiếc, những than thở này, phần nhiều là sự thật.

Cảm giác đầu tiên là những đứt gãy và mỏng manh về đội ngũ. “Đội ngũ lý luận, phê bình ngày càng teo tóp”, “Lý luận, phê bình văn học vừa yếu, vừa thiếu”, “Khoảng trống đội ngũ lý luận, phê bình văn học nghệ thuật”… Thì bấy nay, sau một thế hệ vàng (nhiều người trong số đó đã mất, đã già hoặc rút khỏi đời sống văn học), hỏi còn mấy ai chuyên sâu lý luận, phê bình. Cho nên, lúc nào cũng thiếu hụt kinh niên về đội ngũ. Chẳng thế mà, cứ vài năm, người ta lại “đốt đuốc đi tìm nhà lý luận, phê bình văn học”.

Vì sao như vậy? Câu trả lời ở đây chẳng có gì bí ẩn. Trước hết, hãy tạm gác lòng tự ái sang bên để nhìn vào sự thật. Như nhiều người đã chỉ ra, từ trong truyền thống, chúng ta vốn không mạnh, không giàu về lý luận, phê bình văn học, và trên thực tế, lý luận, phê bình văn học dường như chưa bao giờ được coi trọng đủ mức cần thiết. Thế nên, bên cạnh tình trạng ngại, sợ, còn có chuyện coi thường lý thuyết, một số thấy nó chẳng có tác dụng gì. Thế là, bấy nay, người ta vẫy vùng trong lịch sử văn học, say mê kể chuyện nhà văn, diễn giải miên man tác phẩm, trong khi luôn thiếu những nhận thức, tư duy mảng khối về văn học. Chúng ta “thừa” người đọc nhưng lại thiếu cách đọc, mô hình đọc (tức đọc sâu, đọc bằng lí tính). Ở đại học và một số viện nghiên cứu, số lượng đề tài nghiên cứu lịch sử văn học luôn áp đảo số nghiên cứu lý luận, phê bình. Hằng năm, chỉ có vài ba đề tài khoa học theo hướng nghiên cứu lý thuyết của một nhóm các nhà khoa học ở viện hoặc trường, như muối bỏ bể. Việc giới thiệu lý thuyết vốn dĩ khó khăn. Việc đọc nó hầu như cũng ít được quan tâm, ngay cả đối với những người đáng ra cần quan tâm nhất. Trong giới đại học, số người theo đuổi lý luận, phê bình ngày càng ít. Một số trong đó thiếu dự hướng, hoặc không theo đuổi đến cùng. Các công trình lý luận mang tính dẫn dắt tư duy, các diễn đàn học thuật lý luận, phê bình thưa vắng.

Lý luận, phê bình văn học và những chuyển đổi - 1

Muốn đổi mới tư duy văn học, cần đổi mới nhận thức và cách tiếp cận văn học. (Ảnh minh họa)

Quan sát một chút, có thể thấy những giới hạn trong tầm nhìn và định hướng. Tôi lấy ví dụ, mấy chục năm sau khi đất nước thống nhất, chúng ta cơ bản chưa có một chính sách hay kế hoạch quy mô, hệ thống thật sự nào trong giới thiệu, dịch thuật, nghiên cứu lý luận văn học hiện đại thế giới sang tiếng Việt. Các nhà nghiên cứu, nhà giáo chủ yếu tự mày mò, tìm hiểu. May mắn thảng hoặc có được một vài đề tài/dự án dịch thuật hay hội thảo liên quan. Đề tài khoa học gần đây cũng có xu hướng ưu tiên ứng dụng, gắn với giảng dạy và lịch sử văn học nhiều hơn. Thành ra, việc giới thiệu lý thuyết phê bình văn học thế giới còn rời rạc, thiếu hệ thống (điều này cũng trồi sụt giống như việc quảng bá văn học Việt Nam ra quốc tế).

Thêm nữa, một chuyện đời thường là thù lao, nhuận bút cho bài nghiên cứu, phê bình trên báo chí hiện nay quá thấp (trung bình khoảng 500.000đ/bài), thậm chí ít hơn hoặc không có, thành thử không ai sống được bằng phê bình. Người ta làm nghiên cứu, phê bình văn học chủ yếu là vì công việc, vì chuyên môn, nhiệm vụ. Nói viết không ai đăng, đăng không ai đọc thì có phần ngoa ngoắt, nhưng tình trạng “ế” lý luận, phê bình là có thật. 

Ở trường phổ thông, lý luận văn học dễ bị “dị ứng” hơn hết (tôi xin lỗi các nhà giáo nghiêm túc, hiểu lý luận). Cơ bản các giáo viên chỉ thích cái gì “sẵn làm sẵn ăn”, đặc biệt là các loại giáo án làm sẵn, theo kiểu cầm tay chỉ việc. Đụng đến khái niệm lý luận văn học là đẩy ra, hoặc khi cần thì mới hỏi tứ tung. Cũng bởi không chắc lý luận, mà trên các diễn đàn mới rộ lên những tranh cãi kiểu: nhân vật trữ tình trong bài thơ này là ai, nhân vật trữ tình có phải là tác giả hay không? Rồi bao lẫn lộn về tác giả tiểu sử và hình tượng tác giả, bao tranh luận không đâu, thậm chí vô bổ về nghĩa tác phẩm, chủ ý của nhà văn… Gần đây, chương trình Ngữ văn Giáo dục phổ thông 2018 chuyển hướng sang dạy theo thể loại, các vấn đề lý luận văn học lúc ấy trở nên cần thiết. Thế là, lỗ hổng lớn về lý thuyết lộ diện. Thói quen “văn mẫu” khiến nhiều giáo viên không thể xử lý được những vấn đề lý thuyết văn học vô cùng căn bản. 

Giới sáng tác rất ít người coi trọng lý luận, phê bình. Nói chính xác hơn, đa số nhà văn chỉ quan tâm đến những bài phê bình xem nó viết cái gì, về ai, có viết về mình không, còn lại, các công trình lý luận, phê bình nói chung rất ít được để ý, chúng luôn nằm ở bên rìa. Khi sáng tác, nếu có nhân vật để giễu nhại thì đó thường là nhân vật nhà lý luận, phê bình. Trong các cuộc trà dư tửu hậu, người phê bình luôn ngầm được xem là “công dân hạng nhì” trong viết lách. Tâm lý này in hằn đến mức, có một vài nhà phê bình viết truyện, làm thơ rồi tuyên bố “bỏ phê bình”, cứ như là để cho bõ hờn, để “rửa hận”. Một số người còn không hiểu, nghiên cứu lý luận, phê bình là một công việc, nó hoàn toàn không đồng nhất với việc tán tụng nhà văn và tác phẩm. 

Giờ nói thêm chút về phê bình. Phê bình nào cũng có giá trị của nó. Tuy nhiên, quan sát các diễn đàn văn học gần đây, thấy xuất hiện chủ yếu kiểu phê bình tác phẩm. Phê bình tác phẩm hay hiện tượng thì cũng tốt thôi, vấn đề là ở chỗ, dường như phê bình này đang thiên lệch về phê bình nội dung gắn với những ám ảnh xã hội học trên mức cần thiết. Đâu đó, người ta vẫn quy chiếu, đồng nhất giản đơn nội dung tác phẩm với hiện thực. Để rồi, từ sáng tác đến kiểm duyệt, từ nghiên cứu đến giảng dạy, người ta cải biên mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” theo đủ cách khác nhau. Vì văn học phản ánh hiện thực nên không thể hiểu nó như một trò chơi. Thế nên, tính năng giải trí bị hạ thấp, thu hẹp. Tác phẩm nào phản ánh nội dung xã hội tiêu cực là phải “chấn chỉnh” ngay, bởi như thế cũng đồng nghĩa, nhà văn có dấu hiệu “bôi đen hiện thực”. Hệ quả là, để tránh điều phiền toái, có người cực chẳng đã phải ghi, đây là tác phẩm hư cấu, đây là câu chuyện không có thật, thậm chí, có người tránh luôn hiện thực. Chuyện này không chỉ diễn ra trong văn học.

Thứ nữa là phê bình văn học hiện nay quá thiên về thù tạc. Phê bình thù tạc có ở mọi lúc, mọi nơi, mọi mặt báo, phổ biến hơn cả là các nhà văn khen nhau, nhóm bạn văn khen nhau. Khen nhau cũng không sao, vấn đề là khen nhau những chỗ không đáng khen và cách đọc thì quá cũ. Bài phê bình chủ yếu kể chuyện tác giả, diễn giải nội dung, kể lể cốt truyện hoặc lan man cảm xúc, thiếu hẳn một mô hình đọc. Đáng tiếc là, kiểu phê bình này chiếm đa số trên các tờ báo văn nghệ hiện nay. Nhìn từ góc độ học thuật, chúng gần như không có tác dụng gì. Có chăng, chỉ là để giải trí. 

Trở lên nói những chuyện buồn. Giờ xin nói đến những chuyện vui, chuyện hay, và cả chuyện may, bởi nếu không có chúng, không biết nền lý luận, phê bình của chúng ta sẽ về đâu. 

Xin dông dài một chút. Thế hệ chúng tôi lớn lên khi đất nước đã thống nhất nhưng còn rất nhiều đói khổ. Thời phổ thông, ngoài mấy cuốn sách giáo khoa thì tuyệt nhiên không có một cuốn nào để tham khảo về văn học. Thế nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi học đại học, thấy thư viện lèo tèo vài cuốn sách và phần lớn chúng, dù có đặt “nền móng” thế nào thì về sau cũng đã trở thành vật hiện hữu trong bảo tàng văn học. Rất ít trong số chúng sau này, được đọc, trừ những người làm khảo cổ. Thế cũng là may, và tại sao có cái may như vậy? Tôi cho đó là bởi chúng ta có những cơ duyên. Có cơ duyên từ những chuyển đổi tư tưởng nhận thức rất lớn từ thời “Đổi mới”. Có cơ duyên trong chuyển dịch tư duy của một thế hệ các nhà lý luận, phê bình nhạy bén, dấn thân. Chính các nhà lý luận, phê bình, xuất phát từ nhu cầu thời đại, nhu cầu tự thân, theo những cách khác nhau, đã có những pha “lột xác” ngoạn mục góp phần làm thay đổi cách nhìn của chúng ta về văn học. Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Đăng Mạnh, Phạm Vĩnh Cư, Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương, La Khắc Hòa, Trương Đăng Dung, Lại Nguyên Ân, Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên… và nhiều nữa. Một số khác, trái lại, tự đóng khung mình trong các hệ hình truyền thống. Một số không còn động lực, sức lực và mong muốn di chuyển về cái mới. 

Những thay đổi quan trọng đầu tiên xuất hiện trong các bộ giáo trình lý luận văn học. Không khó để nhận ra, tới tận cuối những năm 1980, đầu 1990, các giáo trình lý luận văn học mặc dầu đã được chỉnh sửa, cập nhật, thậm chí viết mới song cơ bản vẫn ám ảnh cách nhìn xã hội học với văn chương. Tôi không nói cách tiếp cận này làm sao, mà vấn đề ở chỗ, nó gần như được xem như công cụ duy nhất và quan trọng nhất để giải mã văn học. Nhiều chương mục giáo trình (tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc, văn học và chính trị, văn học và tôn giáo…) đọc không khác sách chính trị, triết học là bao. Khác với đời sống nghiên cứu, phê bình, các giáo trình thường mang tính “ổn định” hơn. Thật không dễ gì để các tác giả có thể chỉnh sửa chúng hằng năm. Do đó, so với những thay đổi từ đời sống nghiên cứu, phê bình, các bộ giáo trình thường có phần chậm cập nhật các vấn đề hiện đại hơn một chút.

Ai nấy đều biết, để đưa một hệ thức vào không quyển văn học đến mức thực hành được là một công việc khó khăn. Lấy ví dụ như thi pháp học. Để đưa khung lý thuyết vào, nhiều nhà nghiên cứu đã rất khổ công, trong đó tiêu biểu nhất là giáo sư Trần Đình Sử. Có thể nói, Trần Đình Sử là người đã dày công hàng chục năm dòng để biến nó thành bộ công cụ giải mã văn chương với tư cách một nghệ thuật. Tuy nhiên, cho đến tận ngày nay, số người hiểu ý nghĩa thực sự của thi pháp học không nhiều. Thậm chí có người, miệng nói thi pháp học, nhưng khi phân tích tác phẩm thì lại đem đối lập nhị phân tác phẩm thành hai phạm trù nội dung và hình thức!

Giảng dạy ở đại học, tôi được chứng kiến những cuộc đổi thay quan trọng, mà người trong giới hay gọi là thay đổi hệ hình. Trước 1986, các giáo trình lý luận văn học chủ yếu dựa trên mỹ học Mác – Lênin, lý luận văn học Xô-viết và mô hình văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sau đổi mới, giáo trình dần tiếp thu các trường phái lý luận phương Tây hiện đại và hậu hiện đại như: Hình thức luận, Phê bình mới, Tự sự học, Phân tâm học, Chủ nghĩa cấu trúc, Hậu cấu trúc…, từ đó, làm phong phú thêm quan niệm, cách nhìn, cách tư duy về văn học.

Cũng bắt đầu từ giới đại học, người ta chuyển từ mô hình văn học phản ánh, cách tiếp cận xã hội học sang thi pháp học, phân tâm học, ký hiệu học… Các bộ giáo trình cấp tiến, một cách tự nhiên, chuyển dần tư duy văn học từ Timofeev, Khrapchenko, Pospelov… sang Bakhtin, Wellek, Genette, Todorov, Barthes, Foucault, Kristeva, Derrida, Frye, Tamarchenko… Cũng theo một cách tự nhiên, người ta gần như rất ít, hoặc không nhắc đến những cái tên kinh điển kiểu Timofeev, Khrapchenko…, trong khi, không nhiều năm trước đó, người ta trích dẫn rất nhiều, thậm chí có người “thuộc lòng” tư tưởng, nhận định của các ông. Ở đây, không phải vấn đề “à la mode” hay đổi chiều, mà, theo một cách giản đơn, sự chuyển đổi hệ hình giúp người ta bắt nhịp nhanh hơn với tư duy văn chương đương đại.

Chẳng hạn, cách tiếp cận thi pháp học, dầu không phải hoàn toàn mới mẻ song rõ ràng đã tạo ra một sự thay đổi lớn lao trong nghiên cứu, phê bình văn học, bởi lẽ, nó đặt vấn đề một cách hệ thống về việc tiếp cận văn chương với tư cách nghệ thuật.

Lý thuyết liên văn bản giúp ta hiểu, giờ đây, không thể nói về phong cách cá nhân một cách giản đơn như trước nữa. Rồi lý thuyết hậu hiện đại, giải cấu trúc, hậu thực dân, phê bình sinh thái, nữ quyền… tất cả đã góp phần làm thay đổi cả nội hàm và ngoại diên nghiên cứu văn chương. Ngược dòng lại một chút, có thể thấy, nếu những cụm từ như hệ hình, diễn ngôn, liên văn bản, cái chết của tác giả, sử thi và tiểu thuyết, hậu hiện đại, phê bình sinh thái, lý thuyết hậu thực dân, phê bình nữ quyền, tự sự hậu kinh điển… vốn xa lạ trong hệ sinh thái của những người nghiên cứu, phê bình văn học thì nay đã dần trở nên quen. Các phạm trù nhà văn, hiện thực, văn bản, người đọc được quan tâm nghiên cứu nhiều mặt hơn trên bình diện lý thuyết, góp phần gợi dẫn, mở đường cho sự đa dạng trong cách tiếp cận văn chương ở cả phổ thông và đại học hiện nay.

Tiếp đến, là những chuyển dịch xuất hiện trong các công trình nghiên cứu, phê bình văn học. Điều đáng mừng là, nghiên cứu, phê bình hiện nay cho phép đa dạng hóa cách đọc và diễn giải văn bản văn học, thay vì chỉ tập trung vào nội dung – tư tưởng – hiện thực phản ánh. Chỉ nhìn riêng về phương pháp đã thấy, cách tiếp cận văn học đã trở nên phong phú hơn trước rất nhiều. Có phê bình từ tác giả, có phê bình từ văn bản, từ bạn đọc. Có phê bình ngoại quan, nội quan, có phê bình xã hội học, phê bình thẩm mỹ…

Có thể nói, việc mở rộng phạm vi tiếp cận lý thuyết văn học hiện đại và hậu hiện đại thế giới, sự quan tâm đến văn học mạng, văn học thị trường, văn học đồng tính, sự chuyển dịch hệ giá trị trong đánh giá văn học từ đơn chiều sang đa chiều, từ định hướng sang đối thoại là những điều đáng kể nhất của lý luận, phê bình văn học những năm gần đây. Điều này cho thấy những bước chuyển đáng quý trong nhận thức, tư duy về văn học, mặc dầu nhìn trên tổng thể, nó không khác gì những hạt muối bỏ bể.

Muốn đổi mới tư duy văn học, cần đổi mới nhận thức và cách tiếp cận văn học. Và như thế, nó cần được bắt đầu bởi tư duy lý luận văn học. Sự thay đổi tư duy lý luận, phê bình cần đồng bộ, nhưng phải bắt đầu từ đại học. Chính đại học, trong đó bao gồm các đại học sư phạm và các cơ sở đào tạo cử nhân văn chương là những nơi đầu tiên cần chuyển đổi hệ thức. Bởi lẽ, nếu đội ngũ này cứ cố thủ trong những pháo đài cũ, thì sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là đổi mới tư duy văn học. Thực tế hiện nay cho thấy, số lượng ít ỏi các nhà nghiên cứu chuyên sâu khiến việc truyền bá, giới thiệu lý thuyết văn học hiện đại vào giảng đường đại học vô cùng hạn chế.

Lý luận, phê bình cần đa dạng. Bởi sự đa dạng này, trên một ý nghĩa nào đó sẽ góp phần hình thành nhãn quan văn học cũng như làm phong phú cách tiếp cận văn học của độc giả. Không phải cái mới nào cũng hay, cũng đúng. Nhưng nếu không có cái mới, lý luận, phê bình sẽ tự giam mình trong khung cũ. Và hệ quả nhãn tiền là, nền văn học của chúng ta sẽ mất đi cơ hội bước cùng nhịp với đời sống văn chương thế giới.

Phùng Gia Thế




Nguồn: Arttimes.vn

Lý luận, phê bình văn học và những chuyển đổi


Trước hết, xin nói ngay, bài viết này không phải một “nghiên cứu” hay một “khảo cổ văn học”, mà chỉ là những ghi chép của một người làm nghề dạy học, qua đó ít nhiều gợi ra không khí/“câu chuyện lý luận, phê bình” văn chương đương đại.

Đầu tiên là về thực trạng. Có thể nhận thấy, lâu nay, hễ bàn đến lý luận, phê bình văn học là đồng nghĩa với thở than, nhiều nhất là về đội ngũ, tiếp đến là về chất lượng và định hướng. Điều này phổ biến đến mức, nó dường như trở thành một vấn đề muôn thuở, không nói không xong, nói ra thì, biết rồi, “rõ khổ”. Đáng tiếc, những than thở này, phần nhiều là sự thật.

Cảm giác đầu tiên là những đứt gãy và mỏng manh về đội ngũ. “Đội ngũ lý luận, phê bình ngày càng teo tóp”, “Lý luận, phê bình văn học vừa yếu, vừa thiếu”, “Khoảng trống đội ngũ lý luận, phê bình văn học nghệ thuật”… Thì bấy nay, sau một thế hệ vàng (nhiều người trong số đó đã mất, đã già hoặc rút khỏi đời sống văn học), hỏi còn mấy ai chuyên sâu lý luận, phê bình. Cho nên, lúc nào cũng thiếu hụt kinh niên về đội ngũ. Chẳng thế mà, cứ vài năm, người ta lại “đốt đuốc đi tìm nhà lý luận, phê bình văn học”.

Vì sao như vậy? Câu trả lời ở đây chẳng có gì bí ẩn. Trước hết, hãy tạm gác lòng tự ái sang bên để nhìn vào sự thật. Như nhiều người đã chỉ ra, từ trong truyền thống, chúng ta vốn không mạnh, không giàu về lý luận, phê bình văn học, và trên thực tế, lý luận, phê bình văn học dường như chưa bao giờ được coi trọng đủ mức cần thiết. Thế nên, bên cạnh tình trạng ngại, sợ, còn có chuyện coi thường lý thuyết, một số thấy nó chẳng có tác dụng gì. Thế là, bấy nay, người ta vẫy vùng trong lịch sử văn học, say mê kể chuyện nhà văn, diễn giải miên man tác phẩm, trong khi luôn thiếu những nhận thức, tư duy mảng khối về văn học. Chúng ta “thừa” người đọc nhưng lại thiếu cách đọc, mô hình đọc (tức đọc sâu, đọc bằng lí tính). Ở đại học và một số viện nghiên cứu, số lượng đề tài nghiên cứu lịch sử văn học luôn áp đảo số nghiên cứu lý luận, phê bình. Hằng năm, chỉ có vài ba đề tài khoa học theo hướng nghiên cứu lý thuyết của một nhóm các nhà khoa học ở viện hoặc trường, như muối bỏ bể. Việc giới thiệu lý thuyết vốn dĩ khó khăn. Việc đọc nó hầu như cũng ít được quan tâm, ngay cả đối với những người đáng ra cần quan tâm nhất. Trong giới đại học, số người theo đuổi lý luận, phê bình ngày càng ít. Một số trong đó thiếu dự hướng, hoặc không theo đuổi đến cùng. Các công trình lý luận mang tính dẫn dắt tư duy, các diễn đàn học thuật lý luận, phê bình thưa vắng.

Lý luận, phê bình văn học và những chuyển đổi - 1

Muốn đổi mới tư duy văn học, cần đổi mới nhận thức và cách tiếp cận văn học. (Ảnh minh họa)

Quan sát một chút, có thể thấy những giới hạn trong tầm nhìn và định hướng. Tôi lấy ví dụ, mấy chục năm sau khi đất nước thống nhất, chúng ta cơ bản chưa có một chính sách hay kế hoạch quy mô, hệ thống thật sự nào trong giới thiệu, dịch thuật, nghiên cứu lý luận văn học hiện đại thế giới sang tiếng Việt. Các nhà nghiên cứu, nhà giáo chủ yếu tự mày mò, tìm hiểu. May mắn thảng hoặc có được một vài đề tài/dự án dịch thuật hay hội thảo liên quan. Đề tài khoa học gần đây cũng có xu hướng ưu tiên ứng dụng, gắn với giảng dạy và lịch sử văn học nhiều hơn. Thành ra, việc giới thiệu lý thuyết phê bình văn học thế giới còn rời rạc, thiếu hệ thống (điều này cũng trồi sụt giống như việc quảng bá văn học Việt Nam ra quốc tế).

Thêm nữa, một chuyện đời thường là thù lao, nhuận bút cho bài nghiên cứu, phê bình trên báo chí hiện nay quá thấp (trung bình khoảng 500.000đ/bài), thậm chí ít hơn hoặc không có, thành thử không ai sống được bằng phê bình. Người ta làm nghiên cứu, phê bình văn học chủ yếu là vì công việc, vì chuyên môn, nhiệm vụ. Nói viết không ai đăng, đăng không ai đọc thì có phần ngoa ngoắt, nhưng tình trạng “ế” lý luận, phê bình là có thật. 

Ở trường phổ thông, lý luận văn học dễ bị “dị ứng” hơn hết (tôi xin lỗi các nhà giáo nghiêm túc, hiểu lý luận). Cơ bản các giáo viên chỉ thích cái gì “sẵn làm sẵn ăn”, đặc biệt là các loại giáo án làm sẵn, theo kiểu cầm tay chỉ việc. Đụng đến khái niệm lý luận văn học là đẩy ra, hoặc khi cần thì mới hỏi tứ tung. Cũng bởi không chắc lý luận, mà trên các diễn đàn mới rộ lên những tranh cãi kiểu: nhân vật trữ tình trong bài thơ này là ai, nhân vật trữ tình có phải là tác giả hay không? Rồi bao lẫn lộn về tác giả tiểu sử và hình tượng tác giả, bao tranh luận không đâu, thậm chí vô bổ về nghĩa tác phẩm, chủ ý của nhà văn… Gần đây, chương trình Ngữ văn Giáo dục phổ thông 2018 chuyển hướng sang dạy theo thể loại, các vấn đề lý luận văn học lúc ấy trở nên cần thiết. Thế là, lỗ hổng lớn về lý thuyết lộ diện. Thói quen “văn mẫu” khiến nhiều giáo viên không thể xử lý được những vấn đề lý thuyết văn học vô cùng căn bản. 

Giới sáng tác rất ít người coi trọng lý luận, phê bình. Nói chính xác hơn, đa số nhà văn chỉ quan tâm đến những bài phê bình xem nó viết cái gì, về ai, có viết về mình không, còn lại, các công trình lý luận, phê bình nói chung rất ít được để ý, chúng luôn nằm ở bên rìa. Khi sáng tác, nếu có nhân vật để giễu nhại thì đó thường là nhân vật nhà lý luận, phê bình. Trong các cuộc trà dư tửu hậu, người phê bình luôn ngầm được xem là “công dân hạng nhì” trong viết lách. Tâm lý này in hằn đến mức, có một vài nhà phê bình viết truyện, làm thơ rồi tuyên bố “bỏ phê bình”, cứ như là để cho bõ hờn, để “rửa hận”. Một số người còn không hiểu, nghiên cứu lý luận, phê bình là một công việc, nó hoàn toàn không đồng nhất với việc tán tụng nhà văn và tác phẩm. 

Giờ nói thêm chút về phê bình. Phê bình nào cũng có giá trị của nó. Tuy nhiên, quan sát các diễn đàn văn học gần đây, thấy xuất hiện chủ yếu kiểu phê bình tác phẩm. Phê bình tác phẩm hay hiện tượng thì cũng tốt thôi, vấn đề là ở chỗ, dường như phê bình này đang thiên lệch về phê bình nội dung gắn với những ám ảnh xã hội học trên mức cần thiết. Đâu đó, người ta vẫn quy chiếu, đồng nhất giản đơn nội dung tác phẩm với hiện thực. Để rồi, từ sáng tác đến kiểm duyệt, từ nghiên cứu đến giảng dạy, người ta cải biên mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” theo đủ cách khác nhau. Vì văn học phản ánh hiện thực nên không thể hiểu nó như một trò chơi. Thế nên, tính năng giải trí bị hạ thấp, thu hẹp. Tác phẩm nào phản ánh nội dung xã hội tiêu cực là phải “chấn chỉnh” ngay, bởi như thế cũng đồng nghĩa, nhà văn có dấu hiệu “bôi đen hiện thực”. Hệ quả là, để tránh điều phiền toái, có người cực chẳng đã phải ghi, đây là tác phẩm hư cấu, đây là câu chuyện không có thật, thậm chí, có người tránh luôn hiện thực. Chuyện này không chỉ diễn ra trong văn học.

Thứ nữa là phê bình văn học hiện nay quá thiên về thù tạc. Phê bình thù tạc có ở mọi lúc, mọi nơi, mọi mặt báo, phổ biến hơn cả là các nhà văn khen nhau, nhóm bạn văn khen nhau. Khen nhau cũng không sao, vấn đề là khen nhau những chỗ không đáng khen và cách đọc thì quá cũ. Bài phê bình chủ yếu kể chuyện tác giả, diễn giải nội dung, kể lể cốt truyện hoặc lan man cảm xúc, thiếu hẳn một mô hình đọc. Đáng tiếc là, kiểu phê bình này chiếm đa số trên các tờ báo văn nghệ hiện nay. Nhìn từ góc độ học thuật, chúng gần như không có tác dụng gì. Có chăng, chỉ là để giải trí. 

Trở lên nói những chuyện buồn. Giờ xin nói đến những chuyện vui, chuyện hay, và cả chuyện may, bởi nếu không có chúng, không biết nền lý luận, phê bình của chúng ta sẽ về đâu. 

Xin dông dài một chút. Thế hệ chúng tôi lớn lên khi đất nước đã thống nhất nhưng còn rất nhiều đói khổ. Thời phổ thông, ngoài mấy cuốn sách giáo khoa thì tuyệt nhiên không có một cuốn nào để tham khảo về văn học. Thế nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi học đại học, thấy thư viện lèo tèo vài cuốn sách và phần lớn chúng, dù có đặt “nền móng” thế nào thì về sau cũng đã trở thành vật hiện hữu trong bảo tàng văn học. Rất ít trong số chúng sau này, được đọc, trừ những người làm khảo cổ. Thế cũng là may, và tại sao có cái may như vậy? Tôi cho đó là bởi chúng ta có những cơ duyên. Có cơ duyên từ những chuyển đổi tư tưởng nhận thức rất lớn từ thời “Đổi mới”. Có cơ duyên trong chuyển dịch tư duy của một thế hệ các nhà lý luận, phê bình nhạy bén, dấn thân. Chính các nhà lý luận, phê bình, xuất phát từ nhu cầu thời đại, nhu cầu tự thân, theo những cách khác nhau, đã có những pha “lột xác” ngoạn mục góp phần làm thay đổi cách nhìn của chúng ta về văn học. Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Đăng Mạnh, Phạm Vĩnh Cư, Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương, La Khắc Hòa, Trương Đăng Dung, Lại Nguyên Ân, Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên… và nhiều nữa. Một số khác, trái lại, tự đóng khung mình trong các hệ hình truyền thống. Một số không còn động lực, sức lực và mong muốn di chuyển về cái mới. 

Những thay đổi quan trọng đầu tiên xuất hiện trong các bộ giáo trình lý luận văn học. Không khó để nhận ra, tới tận cuối những năm 1980, đầu 1990, các giáo trình lý luận văn học mặc dầu đã được chỉnh sửa, cập nhật, thậm chí viết mới song cơ bản vẫn ám ảnh cách nhìn xã hội học với văn chương. Tôi không nói cách tiếp cận này làm sao, mà vấn đề ở chỗ, nó gần như được xem như công cụ duy nhất và quan trọng nhất để giải mã văn học. Nhiều chương mục giáo trình (tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc, văn học và chính trị, văn học và tôn giáo…) đọc không khác sách chính trị, triết học là bao. Khác với đời sống nghiên cứu, phê bình, các giáo trình thường mang tính “ổn định” hơn. Thật không dễ gì để các tác giả có thể chỉnh sửa chúng hằng năm. Do đó, so với những thay đổi từ đời sống nghiên cứu, phê bình, các bộ giáo trình thường có phần chậm cập nhật các vấn đề hiện đại hơn một chút.

Ai nấy đều biết, để đưa một hệ thức vào không quyển văn học đến mức thực hành được là một công việc khó khăn. Lấy ví dụ như thi pháp học. Để đưa khung lý thuyết vào, nhiều nhà nghiên cứu đã rất khổ công, trong đó tiêu biểu nhất là giáo sư Trần Đình Sử. Có thể nói, Trần Đình Sử là người đã dày công hàng chục năm dòng để biến nó thành bộ công cụ giải mã văn chương với tư cách một nghệ thuật. Tuy nhiên, cho đến tận ngày nay, số người hiểu ý nghĩa thực sự của thi pháp học không nhiều. Thậm chí có người, miệng nói thi pháp học, nhưng khi phân tích tác phẩm thì lại đem đối lập nhị phân tác phẩm thành hai phạm trù nội dung và hình thức!

Giảng dạy ở đại học, tôi được chứng kiến những cuộc đổi thay quan trọng, mà người trong giới hay gọi là thay đổi hệ hình. Trước 1986, các giáo trình lý luận văn học chủ yếu dựa trên mỹ học Mác – Lênin, lý luận văn học Xô-viết và mô hình văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sau đổi mới, giáo trình dần tiếp thu các trường phái lý luận phương Tây hiện đại và hậu hiện đại như: Hình thức luận, Phê bình mới, Tự sự học, Phân tâm học, Chủ nghĩa cấu trúc, Hậu cấu trúc…, từ đó, làm phong phú thêm quan niệm, cách nhìn, cách tư duy về văn học.

Cũng bắt đầu từ giới đại học, người ta chuyển từ mô hình văn học phản ánh, cách tiếp cận xã hội học sang thi pháp học, phân tâm học, ký hiệu học… Các bộ giáo trình cấp tiến, một cách tự nhiên, chuyển dần tư duy văn học từ Timofeev, Khrapchenko, Pospelov… sang Bakhtin, Wellek, Genette, Todorov, Barthes, Foucault, Kristeva, Derrida, Frye, Tamarchenko… Cũng theo một cách tự nhiên, người ta gần như rất ít, hoặc không nhắc đến những cái tên kinh điển kiểu Timofeev, Khrapchenko…, trong khi, không nhiều năm trước đó, người ta trích dẫn rất nhiều, thậm chí có người “thuộc lòng” tư tưởng, nhận định của các ông. Ở đây, không phải vấn đề “à la mode” hay đổi chiều, mà, theo một cách giản đơn, sự chuyển đổi hệ hình giúp người ta bắt nhịp nhanh hơn với tư duy văn chương đương đại.

Chẳng hạn, cách tiếp cận thi pháp học, dầu không phải hoàn toàn mới mẻ song rõ ràng đã tạo ra một sự thay đổi lớn lao trong nghiên cứu, phê bình văn học, bởi lẽ, nó đặt vấn đề một cách hệ thống về việc tiếp cận văn chương với tư cách nghệ thuật.

Lý thuyết liên văn bản giúp ta hiểu, giờ đây, không thể nói về phong cách cá nhân một cách giản đơn như trước nữa. Rồi lý thuyết hậu hiện đại, giải cấu trúc, hậu thực dân, phê bình sinh thái, nữ quyền… tất cả đã góp phần làm thay đổi cả nội hàm và ngoại diên nghiên cứu văn chương. Ngược dòng lại một chút, có thể thấy, nếu những cụm từ như hệ hình, diễn ngôn, liên văn bản, cái chết của tác giả, sử thi và tiểu thuyết, hậu hiện đại, phê bình sinh thái, lý thuyết hậu thực dân, phê bình nữ quyền, tự sự hậu kinh điển… vốn xa lạ trong hệ sinh thái của những người nghiên cứu, phê bình văn học thì nay đã dần trở nên quen. Các phạm trù nhà văn, hiện thực, văn bản, người đọc được quan tâm nghiên cứu nhiều mặt hơn trên bình diện lý thuyết, góp phần gợi dẫn, mở đường cho sự đa dạng trong cách tiếp cận văn chương ở cả phổ thông và đại học hiện nay.

Tiếp đến, là những chuyển dịch xuất hiện trong các công trình nghiên cứu, phê bình văn học. Điều đáng mừng là, nghiên cứu, phê bình hiện nay cho phép đa dạng hóa cách đọc và diễn giải văn bản văn học, thay vì chỉ tập trung vào nội dung – tư tưởng – hiện thực phản ánh. Chỉ nhìn riêng về phương pháp đã thấy, cách tiếp cận văn học đã trở nên phong phú hơn trước rất nhiều. Có phê bình từ tác giả, có phê bình từ văn bản, từ bạn đọc. Có phê bình ngoại quan, nội quan, có phê bình xã hội học, phê bình thẩm mỹ…

Có thể nói, việc mở rộng phạm vi tiếp cận lý thuyết văn học hiện đại và hậu hiện đại thế giới, sự quan tâm đến văn học mạng, văn học thị trường, văn học đồng tính, sự chuyển dịch hệ giá trị trong đánh giá văn học từ đơn chiều sang đa chiều, từ định hướng sang đối thoại là những điều đáng kể nhất của lý luận, phê bình văn học những năm gần đây. Điều này cho thấy những bước chuyển đáng quý trong nhận thức, tư duy về văn học, mặc dầu nhìn trên tổng thể, nó không khác gì những hạt muối bỏ bể.

Muốn đổi mới tư duy văn học, cần đổi mới nhận thức và cách tiếp cận văn học. Và như thế, nó cần được bắt đầu bởi tư duy lý luận văn học. Sự thay đổi tư duy lý luận, phê bình cần đồng bộ, nhưng phải bắt đầu từ đại học. Chính đại học, trong đó bao gồm các đại học sư phạm và các cơ sở đào tạo cử nhân văn chương là những nơi đầu tiên cần chuyển đổi hệ thức. Bởi lẽ, nếu đội ngũ này cứ cố thủ trong những pháo đài cũ, thì sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là đổi mới tư duy văn học. Thực tế hiện nay cho thấy, số lượng ít ỏi các nhà nghiên cứu chuyên sâu khiến việc truyền bá, giới thiệu lý thuyết văn học hiện đại vào giảng đường đại học vô cùng hạn chế.

Lý luận, phê bình cần đa dạng. Bởi sự đa dạng này, trên một ý nghĩa nào đó sẽ góp phần hình thành nhãn quan văn học cũng như làm phong phú cách tiếp cận văn học của độc giả. Không phải cái mới nào cũng hay, cũng đúng. Nhưng nếu không có cái mới, lý luận, phê bình sẽ tự giam mình trong khung cũ. Và hệ quả nhãn tiền là, nền văn học của chúng ta sẽ mất đi cơ hội bước cùng nhịp với đời sống văn chương thế giới.

Phùng Gia Thế




Nguồn: Arttimes.vn

Nhà văn Xuân Đức với quê hương Quảng Trị


Nhà văn Xuân Đức là người nặng nghĩa tình với quê hương Quảng Trị và đối với miền đất Quảng Trị, nhà văn Xuân Đức là nhân vật rất đặc biệt.

Nhà văn Xuân Đức (1947-2020) sinh ra trong một gia đình nông dân cần cù, chất phác nhưng trọng chữ nghĩa và giàu truyền thống cách mạng. Gia đình đã nuôi dạy các con, trong đó có nhà văn Xuân Đức lần lượt thành đạt nên người. Mạch nguồn truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc của một vùng quê lưng dựa vào triền đất đỏ bazan vững chãi, hướng mặt về dòng Hiền Lương xanh trong nhuộm màu sử thi, cùng với lịch sử oai hùng của đất lửa Vĩnh Linh lũy thép đã hun đúc nên khí phách, cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Xuân Đức. Ông đã dành trọn cuộc đời phấn đấu không mệt mỏi cho những giá trị chân – thiện – mỹ trong đời và trên mảnh đất quê hương trăm mến ngàn thương.

Năm 1965, Xuân Đức đang là học sinh cuối khóa của trường cấp III Vĩnh Linh được bổ sung vào Tiểu đoàn 47 Bộ đội địa phương. Không lâu sau ngày nhập ngũ, Tiểu đoàn 47 của ông đã vượt vĩ tuyến 17 chi viện cho chiến trường Quảng Trị. Sống và chiến đấu trên quê hương với chất chồng gian khổ hy sinh, ông đã đứng vững và vượt lên, trưởng thành nhiều mặt. Với thiên bẩm văn chương cộng với sự nhạy bén thời cuộc và nhiệt huyết tuổi trẻ, ông cho ra đời nhiều mẫu tấu, vè, tản văn… trên đường hành quân hay giữa hai trận đánh đã đưa Xuân Đức đến nghề văn đầy thách thức.

Nhà văn Xuân Đức với quê hương Quảng Trị - 1

Nhà văn Xuân Đức

Trong những ngày đầu trong quân ngũ, ông đào hào, làm hầm, xây dựng trận địa rất nhiệt tình và năng nổ. Do có tài văn nghệ, ông được cấp trên cho thôi việc đào hào, xây dựng trận địa mà chuyển hẳn sang lo mảng văn hóa, văn nghệ. Từ đây, một loạt vỡ dân ca, hoạt cảnh, ca kịch ông viết và dàn dựng, biểu diễn, gây tiếng vang lớn trong Tiểu đoàn và lan ra cả chiến trường Trị – Thiên.

Bộ Tư lệnh Vĩnh Linh quyết định thành lập Đội Tuyên văn, phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” ra đời vào những năm tháng đó. Xuân Đức được điều lên công tác ở Đội Tuyên văn lo việc sáng tác. Sau 3 năm gắn bó với Đội Tuyên văn Bộ Tư lệnh Vĩnh Linh, ông được điều ra làm cán bộ sáng tác cho Đoàn Văn công Quân khu 4.

Sau 7 năm ở Quân khu 4, Xuân Đức được Tổng Cục Chính trị điều ra Hà Nội cùng với Đào Hồng Cẩm viết vở kịch Tổ quốc cho Đoàn kịch Tổng cục Chính trị biểu diễn phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Ông chuyển về Trại sáng tác Vân Hồ, học khóa I Trường Viết văn Nguyễn Du. Tốt nghiệp ông trở về Ban sáng tác Nhà hát Nghệ thuật Quân đội. Cho đến cuối năm 1989, ông chuyển ngành về Quảng Trị làm Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin, rồi Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin. Tác phẩm của Xuân Đức khắc họa người lính cụ Hồ hết sức sinh động và có sức lan tỏa sâu rộng.

Đối với miền đất Quảng Trị, nhà văn Xuân Đức là nhân vật rất đặc biệt. Với tư cách là một người lính, ông bám trụ kiên cường trên mảnh đất quê hương đánh giặc, giữ đất, giữ làng. Từ trong thực tiễn sôi động và hào hùng cả nước ra trận, cả nước đánh giặc, ông đã trở thành nhà văn, nhà viết kịch, nhà biên kịch tạo dấu ấn sâu đậm. Nhiều tác phẩm tiểu thuyết, kịch nói, ca kịch, dân ca và thơ nổi tiếng của Xuân Đức đều gắn liền với tên đất, tên người của miền quê Quảng Trị như: Hai tập tiểu thuyết Cửa gió, Người không mang họ, Bến đò xưa lặng lẽ, Tượng đồng đen một chân, vở kịch nói Tổ quốc và trường ca Trăng Cồn Cỏ

Khi ông nghỉ hưu, chọn nơi miền chân sóng để suy ngẫm và sáng tạo, cho ra đời nhiều tác phẩm tiểu thuyết, kịch, bút ký, truyện ngắn, tản văn… có giá trị.

Đọc các tác phẩm của Xuân Đức, người Quảng Trị đều thấy bóng dáng quê hương mình, những tên đất, tên làng, những gương mặt thân quen và thân phận mình trong đó. Trong toàn bộ tác phẩm của Xuân Đức, phần lớn ông viết về mảnh đất Vĩnh Linh, Gio Linh và những địa danh nổi tiếng của Quảng Trị quê hương. Nổi bật nhất là ông viết về Bến đò B Tùng Luật, Vĩnh Giang, Vĩnh Linh và làng Cát Sơn thuộc huyện Gio Linh và nhiều tên làng, tên xã nơi giới tuyến.

Hai tập tiểu thuyết đầu tay Cửa gió của ông viết về con người và mảnh đất Vĩnh Linh – Gio Linh, đôi bờ Bến Hải – Hiền Lương; tiểu thuyết Người không mang họ cũng viết về những tên làng, tên đất miền quê Quảng Trị; tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ, vở kịch Tổ Quốc, Trường ca Trăng Cồn Cỏ và nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật khác của ông đều viết về con người và các địa danh của Vĩnh Linh, Gio Linh, Cồn Cỏ, Hiền Lương, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đông Hà, Đường 9 – Khe Sanh… thuộc Quảng Trị. Các tác phẩm tiểu thuyết và kịch được tặng Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, chủ yếu ông viết về người lính, đất và người Quảng Trị.

Nhà văn Xuân Đức với quê hương Quảng Trị - 2

Tiểu thuyết “Người không mang họ”

Bằng tài năng và tư chất nghệ sĩ, trên lĩnh vực nào nhà văn Xuân Đức cũng đều có những thành công lớn, để lại trong lòng công chúng và đồng nghiệp, bạn bè văn chương những tác phẩm mang dấu ấn không phai mờ. Vừa làm tốt công tác chuyên môn, ông vừa sáng tác và xuất bản nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị. Nhà văn Xuân Đức là nhà quản lý văn hóa – thông tin tài năng và đầy trách nhiệm. Ông luôn trăn trở, đau đáu tìm mọi cách thức, giải pháp tốt nhất để xây dựng, phát triển ngành Văn hóa – Thông tin; Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh nhà phát triển ngang tầm vóc của vùng đất giàu truyền thống cách mạng và truyền thống văn hóa mang sắc thái riêng trong suốt thời gian làm quản lý lĩnh vực này.

Nhà văn Xuân Đức để lại dấu ấn đậm nét vai trò điều hành, dẫn dắt của ông về hoạt động văn hóa cơ sở, bảo tồn, bảo tàng, thư viện, văn hóa gia đình, thể dục thể thao và du lịch không thể phai mờ. Nhà văn Xuân Đức là kiến trúc sư về các lễ hội cách mạng và các hội diễn, liên hoan nghệ thuật cấp quốc gia, cấp tỉnh được tổ chức trên địa bàn Quảng Trị.

Những ý tưởng sáng tạo và kịch bản chu toàn về: Lễ hội thống nhất non sông, Nhịp cầu Xuyên Á, Trường Sơn huyền thoại, Tri ân tháng Bảy; các hội diễn, liên hoan nghệ thuật: Tiếng hát đường 9 xanh, Liên hoan nghệ thuật 3 nước Đông Dương, Liên hoan nghệ thuật các nước Tiểu vùng sông Mê Kông hay các kịch bản kỷ niệm các ngày lễ lớn, những sự kiện trọng đại của quê hương, đất nước tổ chức tại Quảng Trị như: Lễ kỷ niệm 40 năm Giải phóng Quảng Trị, 30 năm lập lại tỉnh Quảng Trị… được ông xây dựng kịch bản và đạo diễn gây hiệu ứng xã hội sâu rộng. Nhà văn Xuân Đức là bậc thầy trong lĩnh vực này, chưa có văn nghệ sĩ nào ở Quảng Trị sánh kịp.

Trên nhiều cương vị công tác khác nhau, nhà văn Xuân Đức đều luôn dốc hết sức lực, lòng nhiệt huyết, tinh thần sáng tạo và ý chí cách mạng của người lính Cụ Hồ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trên lĩnh vực quản lý văn hóa, với sự am hiểu sâu sắc về bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa độc đáo của mảnh đất Quảng Trị. Với lòng yêu quê hương tha thiết, với tài năng thiên bẩm và nỗ lực không ngừng, nhà văn đã có công lớn trong việc lấy văn hóa để góp phần làm rạng danh cho Quảng Trị, lấy văn hóa để xây dựng thương hiệu Quảng Trị, lấy văn hóa làm động lực cho sự phát triển của tỉnh nhà…

Trái tim của nhà văn Xuân Đức luôn dành sự quan tâm đặc biệt xây dựng, phát triển ngành Văn hóa – Thông tin, Thể thao và Du lịch; luôn dành cho sự đam mê sáng tạo văn học, nghệ thuật; trái tim luôn chu toàn với gia đình, ấm áp tình đồng chí, đồng đội và đồng nghiệp.

Trước ngày ông đột ngột ra đi, nhà văn Xuân Đức dồn tâm huyết hoàn thành cuốn tiểu thuyết Cõi rừng rú mà ông ấp ủ trong khoảng 10 năm; hoàn thành vở kịch nói Những đứa con thời loạn và vở ca kịch Những cô gái sông Bồ do Đoàn ca kịch Huế và đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị dàn dựng công diễn.

Tiểu thuyết Người không mang họ của ông vừa được dịch ra Tiếng Anh, quảng bá rộng rãi trên văn đàn quốc tế. Đến phút cuối cùng của cuộc đời, nhà văn Xuân Đức còn căn dặn lãnh đạo Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh quan tâm đến hội viên trẻ, đầu tư để có những tác phẩm tầm cỡ và chú trọng xét giải thưởng văn học nghệ thuật chu đáo, chất lượng. Như thế đủ để nói lên rằng: từ buổi đầu đến với văn hóa và văn chương cho đến lúc từ giã cõi đời, nhà văn đa tài của chúng ta vẫn sống và sáng tác với niềm đam mê cháy bỏng và bút lực sung mãn. Nhà văn Xuân Đức thuộc trong số hiếm các nhà văn tuổi dù cao nhưng sức sáng tạo vẫn dồi dào đã phải đột ngột ra đi giữa cõi đời vô thường, sinh tử mong manh này.

Mất mát lớn lao của gia đình nhà văn cũng là mất mát của nền văn học, nghệ thuật đất nước, của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; mất mát của giới văn nghệ sĩ cả nước nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng. Và chắc chắn còn rất lâu nữa, Quảng Trị mới có một văn nghệ sĩ đa năng, đa tài, thành công trên nhiều lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật như nhà văn Xuân Đức./.

Nhà văn Xuân Đức tên thật là Nguyễn Xuân Đức, sinh năm 1947 tại xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin, nguyên Tổng Thư ký Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Việt.

Nhà văn Xuân Đức vinh dự được trao Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng, được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng Hai, Huân chương Lao động hạng Ba, Chiến sỹ Thi đua toàn quốc, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều huy chương, kỷ niệm chương của các cấp, ban, bộ, ngành.

Nhà văn Xuân Đức đạt nhiều giải thưởng về văn học nghệ thuật lớn của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, của các ban, bộ, ngành và các địa phương như: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1982 cho tiểu thuyết Cửa Gió (2 tập); Giải thưởng Bộ Công an cho tiểu thuyết Người không mang họ; hai Giải thưởng của Bộ Quốc phòng (1990 và 1995); Giải thưởng Hội Nghệ sỹ Sân khấu 1995 cho vỡ Cuộc chơi; Giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam cho tập kịch Chứng chỉ thời gian; Giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ (2002 – 2004); Giải đặc biệt Giải thưởng VHNT Chế Lan Viên tỉnh Quảng Trị lần 2 (2020)…

Đặc biệt, nhà văn Xuân Đức được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2022. 

Nguyễn Văn Dùng




Nguồn: Arttimes.vn

Toyota làm mới Yaris và Yaris Cross: nâng cấp tiện nghi, thêm hộp số sàn


Bản cập nhật mới của Toyota Yaris và Toyota Yaris Cross tập trung vào tiện nghi, đồng thời tái cấu trúc trang bị để tối ưu chi phí.




Nguồn: Arttimes.vn

Xe tải điện VinFast EC Van có cửa lùa bên hông xuất hiện tại Việt Nam


Lô xe VinFast EC Van với cửa lùa bên hông đầu tiên vừa xuất hiện trên đường phố.

Lô xe VinFast EC Van với cửa lùa bên hông đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, theo chia sẻ từ tư vấn bán hàng, giá “nhỉnh” hơn 10 triệu đồng so với bản cũ. Theo chia sẻ từ nhân viên bán hàng, những chiếc VinFast EC Van cửa lùa đầu tiên đã chính thức có mặt tại đây. Giá bán cao hơn phiên bản hiện tại là 10 triệu đồng (bản tiêu chuẩn giá 285 triệu đồng và bản cao hơn giá 305 triệu đồng, được trang bị thêm điều hòa).

VinFast EC Van có kích thước tổng thể dài x rộng x cao lần lượt là: 3.767 x 1.680 x 1.790 mm và trục cơ sở 2.520 mm. So với VF 3, mẫu xe này dài hơn 577 mm, rộng hơn 1 mm, thấp hơn 168 mm, đồng thời sở hữu trục cơ sở dài hơn 445 mm. Khoang chở hàng phía sau có dung tích 2.600 lít, đáp ứng tải trọng tối đa 600 kg.

Xe tải điện VinFast EC Van có cửa lùa bên hông xuất hiện tại Việt Nam - 1

Xe sử dụng mâm sắt 14 inch, đi kèm lốp kích thước 175/80R14.

Cụm đèn chiếu sáng phía trước của xe sử dụng bóng halogen, không được trang bị đèn sương mù nhưng có sẵn hai vị trí chờ để người dùng lắp thêm. Gương chiếu hậu chỉnh cơ. Cụm đèn hậu dạng ba tầng đặt dọc, tiếp tục dùng bóng halogen. Cổng sạc điện bố trí phía sau bên phụ. Xe sử dụng mâm sắt 14 inch, đi kèm lốp kích thước 175/80R14.

Khoang nội thất của xe được thiết kế tối giản, với màn hình hiển thị đặt sau vô lăng và phanh tay cơ. Vô lăng hai chấu không tích hợp phím chức năng. Khu vực trung tâm bố trí hệ thống radio cùng cụm điều hòa chỉnh cơ với ba núm xoay, sử dụng chìa khóa cơ. Cụm điều khiển kính chỉnh điện đặt bên dưới đầu radio. Khoang lái có hai chỗ ngồi, ghế bọc nỉ.

Xe tải điện VinFast EC Van có cửa lùa bên hông xuất hiện tại Việt Nam - 2

VinFast EC Van có kích thước tổng thể dài x rộng x cao lần lượt là: 3.767 x 1.680 x 1.790 mm.

Về vận hành, xe sử dụng động cơ điện cho công suất tối đa 40 mã lực và mô-men xoắn 110 Nm, tốc độ tối đa 75km/h. Pin dung lượng 17 kWh cho tầm hoạt động khoảng 150km mỗi lần sạc. Xe hỗ trợ sạc nhanh công suất tối đa 19,4kW, sạc từ 10 – 70% trong 42 phút, đồng thời có tùy chọn bộ sạc di động 3 kW để sạc tại nhà.

Trước đó, khoảng đầu năm nay, các tư vấn bán hàng đã thông tin về việc VinFast EC Van với cửa lùa bên hông sẽ sớm được bổ sung, mức giá tạm tính khoảng 325 triệu đồng. Tuy nhiên, những thông tin trên hiện vẫn chưa được VinFast xác nhận chính thức.

Xe tải điện VinFast EC Van có cửa lùa bên hông xuất hiện tại Việt Nam - 3

Trang bị cửa lùa từng là mong muốn của không ít người dùng EC Van.

Trang bị cửa lùa từng là mong muốn của không ít người dùng EC Van. Thiết kế này giúp việc bốc xếp hàng hóa thuận tiện hơn so với chỉ sử dụng cửa hậu. Trong phân khúc xe van chở hàng, Suzuki Eeco Van hiện cũng đã được trang bị cửa lùa, với mức giá khoảng 310 triệu đồng.

Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của mẫu xe này chỉ để phục vụ trong nội đô, quãng đường di chuyển mỗi ngày không quá dài và có điều kiện sạc thuận tiện tại nhà hoặc điểm kinh doanh. Đối với nhu cầu vận tải đường dài hoặc chở tải nặng liên tục, các dòng xe tải lớn hơn hoặc xe động cơ đốt trong vẫn có lợi thế nhất định về phạm vi hoạt động.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Tránh xe lao từ trong ngõ ra, người đàn ông trượt ngã trước đầu ô tô


Giật mình khi xe máy lao ra từ trong ngõ, người đàn ông phanh gấp rồi trượt ngã ngay trước đầu ô tô đang đi tới.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Thót tim cặp đôi ngã ra đường, cô gái bị xe máy phía sau chèn qua người


Sau cú va chạm, cặp đôi ngã ra đường đúng lúc xe máy phía sau phanh gấp nhưng vẫn lao tới, chèn qua người cô gái khiến nhiều người hoảng hốt.




Nguồn: Arttimes.vn

Toyota Cruiser FJ chốt lịch ra mắt thị trường Đông Nam Á


Tin đồn Toyota Land Cruiser phiên bản mini sắp ra mắt Việt Nam, dễ có khả năng kênh giá

Toyota Land Cruiser FJ dự kiến ra mắt Việt Nam giữa năm 2026 với giá khoảng 1,6-1,8 tỷ đồng, định vị thấp hơn Prado và hướng tới phân khúc SUV địa hình cỡ nhỏ. Theo thông tin từ đại lý, Toyota Land Cruiser FJ có thể được giới thiệu tại Việt Nam vào khoảng tháng 6-7.

Mức giá dự kiến dưới 2 tỷ đồng, tạo khoảng cách đáng kể so với Prado và hướng tới nhóm khách hàng yêu thích SUV địa hình. Nguồn tin từ đại lý cho biết Toyota Land Cruiser FJ nhiều khả năng xuất hiện tại Việt Nam trong giai đoạn giữa năm nay. Dù chưa mở nhận đặt cọc chính thức, mức giá dự kiến được đưa ra khoảng 1,6 đến 1,8 tỷ đồng.

Toyota Cruiser FJ chốt lịch ra mắt thị trường Đông Nam Á - 1

Thiết kế của xe và cấu hình hướng đến nhóm SUV địa hình cỡ nhỏ.

Trước đó, truyền thông quốc tế cũng đề cập việc Land Cruiser FJ sẽ ra mắt tại Thái Lan với giá khoảng 1,1 đến 1,3 triệu Baht, tương đương khoảng 923 triệu đến 1,1 tỷ đồng. Nếu mức giá dự kiến tại Việt Nam được giữ nguyên, mẫu xe này sẽ thấp hơn đáng kể so với Land Cruiser Prado, tạo khoảng cách giá rõ ràng giữa hai sản phẩm.

Land Cruiser FJ được định vị là mẫu SUV địa hình cỡ nhỏ với ngôn ngữ thiết kế hình hộp đặc trưng, mang nhiều nét tương đồng với các mẫu Land Cruiser truyền thống. Cách tiếp cận này nhằm duy trì hình ảnh dòng xe địa hình trong khi mở rộng nhóm khách hàng nhờ mức giá dễ tiếp cận hơn.

Theo thông tin ban đầu, xe sử dụng động cơ xăng 4 xy-lanh thẳng hàng 2TR-FE dung tích 2.7L, cho công suất tối đa 163 mã lực và mô-men xoắn cực đại 246 Nm. Đi kèm là hộp số tự động 6 cấp Super ECT cùng hệ dẫn động 4 bánh bán thời gian 4WD.

Toyota Cruiser FJ chốt lịch ra mắt thị trường Đông Nam Á - 2

Nếu xe về Việt Nam sẽ gây ra tác động tới phân khúc SUV địa hình tại Việt Nam.

Một số đại lý cho rằng trong giai đoạn đầu, nguồn cung có thể hạn chế, dẫn đến khả năng xuất hiện tình trạng chênh lệch giá bán so với mức niêm yết. Thực tế trước đây, khi Land Cruiser Prado thế hệ mới ra mắt tại Việt Nam năm 2025, mẫu xe này từng ghi nhận mức chênh lệch hơn 350 triệu đồng nhưng vẫn có nhu cầu cao.

Việc Land Cruiser FJ có mức giá dự kiến dưới 2 tỷ đồng và mang phong cách thiết kế tương đồng với Prado được nhận định sẽ tạo sức hút nhất định đối với nhóm khách hàng yêu thích xe địa hình. Nếu ra mắt đúng kế hoạch, Land Cruiser FJ có thể mang đến lựa chọn mới trong phân khúc SUV địa hình cỡ nhỏ, đặc biệt với nhóm người dùng muốn tiếp cận dòng Land Cruiser ở mức giá thấp hơn. Tuy nhiên, thông tin về thời điểm ra mắt và giá bán chính thức vẫn cần chờ xác nhận từ nhà phân phối.



Nguồn: Arttimes.vn

10 mẫu ô tô bán ít nhất tại Việt Nam tháng 1/2026


Danh sách ô tô kén khách tháng đầu năm 2026 chủ yếu là sedan hạng C, D và các mẫu xe nhập khẩu định vị đặc thù.




Nguồn: Arttimes.vn