Home Blog Page 49

Danh sách các ứng viên ở Trung ương được giới thiệu bởi MTTQ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khoá XVI


Chiều ngày 21/3, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã ban hành nghị quyết về công bố kết quả bầu cử và danh sách 500 người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI. Ban Biên tập trân trọng đăng Danh sách các ứng viên ở Trung ương được giới thiệu bởi MTTQ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khoá XVI:

I. Danh sách các ứng viên ở Trung ương được giới thiệu bởi MTTQ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khoá XVI

1. Bà Bùi Thị Minh Hoài – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 5, tỉnh Phú Thọ.

2. Bà Hà Thị Nga – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Bí thư Đảng ủy Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Lai Châu.

3. Ông Nguyễn Thái Học – Phó Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Đắk Lắk.

4. Ông Lương Quốc Đoàn – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh An Giang.

5. Ông Bùi Quang Huy – Ủy viên Trung ương Đảng; Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương; Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam; Bí thư Đảng ủy, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 6, tỉnh Gia Lai.

6. Ông Bế Xuân Trường – Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Cao Bằng.

7. Ông Nguyễn Anh Tuấn – Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 5, TP Đà Nẵng.

8. Ông Nguyễn Thanh Bình – Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam; Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Hà Tĩnh.

9. Bà Nguyễn Thị Thu Dung – Phó Chủ tịch Hội Y tế Công cộng Việt Nam, Chủ tịch Hội Y tế Công cộng tỉnh Hưng Yên, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Y tế Thái Bình trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 7, TP Hà Nội.

10. Ông Nguyễn Lân Hiếu – Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài; PGS.TS Giám đốc Bệnh viện Đại học y Hà Nội trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 3, TP Hà Nội.

11. Ông Châu Văn Minh – Nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Phú Thọ.

12. Bà Trịnh Thị Mùi – Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Đồng Tháp.

13. Ông Nguyễn Khánh Ngọc – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 4, TP Đà Nẵng.

14. Linh mục Nguyễn Văn Riễn – Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam; Chánh xứ Giáo xứ Thánh Giuse, Giáo phận Phú Cường trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 2, TP Hồ Chí Minh.

15. Ông Phan Anh Sơn – Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam; Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Nghệ An.

16. Ông Phạm Văn Thanh – Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 10, TP Hồ Chí Minh.

17. Bà Đỗ Thị Thu Thảo – Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Đồng Tháp.

18. Ông Nguyễn Văn Thân – Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam; Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 11, TP Hồ Chí Minh.

19. Thượng tọa Thích Đức Thiện – Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội đồng trị sự Giáo hội phật giáo, Trưởng ban Phật giáo Quốc tế Trung ương Giáo hội phật giáo Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Điện Biên.

20. Ông Phùng Đức Tiến – Ủy viên Ban Thường vụ Đảng bộ, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Khánh Hòa.

21. Ông Nguyễn Đào Tùng – Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt Nam; Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Kinh tế của UBTƯ MTTQ Việt Nam; Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Bộ Tài chính, Phó Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Tài chính trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Vĩnh Long.

22. Ông Vũ Hùng Vương – Thiếu tướng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cựu Công an nhân dân Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Vĩnh Long.

Danh sách các ứng viên ở Trung ương được giới thiệu bởi MTTQ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khoá XVI - 1

II. Danh sách Đại biểu Quốc hội khóa XVI hoạt động chuyên trách là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam gồm:

1. Ông Vũ Văn Tiến – Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam, Bí thư Chi bộ, Trưởng ban Tuyên giáo Cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của UBTƯ MTTQ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 6, TP Hải Phòng.

2. Bà Nguyễn Quỳnh Liên – Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng ban Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật cơ quan UBTƯ MTTQ Việt Nam trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 7, tỉnh An Giang.

Theo mattran.org.vn




Nguồn: Arttimes.vn

Nữ nghệ sĩ sân khấu duy nhất ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XVI


Là gương mặt duy nhất của lĩnh vực sân khấu góp mặt trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, nữ nghệ sĩ này thu hút sự quan tâm đặc biệt.

Trong danh sách 36 ứng viên Đại biểu Quốc hội khóa XVI thuộc khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Hội đồng Bầu cử Quốc gia công bố mới đây, có NSND Trịnh Thúy Mùi. Bà hiện là Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, đồng thời giữ cương vị Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.

NSND Trịnh Thúy Mùi ứng cử tại tỉnh Đồng Tháp, đơn vị bầu cử số 1 gồm các phường: Thường Lạc, Hồng Ngự, An Bình và các xã: Thường Phước, Tân Hồng, Tân Thành, Tân Hộ Cơ, An Phước, Tam Nông, Long Khánh, Long Phú Thuận, An Hòa, An Long, Tân Long, Phú Thọ, Tân Thạnh, Thanh Bình.

Nữ nghệ sĩ sân khấu duy nhất ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XVI - 1

NSND Thuý Mùi là nghệ sĩ duy nhất thuộc lĩnh vực sân khấu được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XVI.

Trước đó, tại Hội nghị Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam lần thứ 5 (khóa X, nhiệm kỳ 2020–2025) diễn ra ngày 14/1 tại Hà Nội, các đại biểu thống nhất cao giới thiệu NSND Trịnh Thúy Mùi ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.

NSND Trịnh Thúy Mùi sinh ngày 17/10/1962 tại Ninh Bình, vùng đất giàu truyền thống nghệ thuật chèo. Từ nhỏ, bà sớm thấm đẫm những làn điệu chèo mượt mà, sâu lắng. Sở hữu giọng hát ngọt ngào cùng năng khiếu biểu diễn nổi bật, bà nhanh chóng tạo dựng dấu ấn.

Sau khi tốt nghiệp và trưởng thành từ môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp, bà công tác tại Nhà hát Chèo Hà Nội, ghi dấu qua nhiều vai diễn và tác phẩm ấn tượng như vai đào thương như Ỷ Lan trong Lý Thường Kiệt, nàng Mai trong Người Thiên Đô, đến vai hài với mẹ Đốp trong Quan âm Thị Kính và vai bà mẹ trong vở Bà già ra thành phố.

Không chỉ thành công với vai trò diễn viên chèo, NSND Thúy Mùi còn có thế mạnh ở lĩnh vực đạo diễn sân khấu, đồng thời thể hiện tốt ca trù, ngâm thơ và hát chầu văn.

Nữ nghệ sĩ sân khấu duy nhất ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XVI - 2

NSND Thuý Mùi là gương mặt gạo cội của sân khấu chèo.

Bà từng đảm nhiệm vai trò tổng đạo diễn nhiều chương trình văn hóa nghệ thuật quốc gia và các chương trình về di sản văn hóa. NSND Thúy Mùi từng là Tổng đạo diễn, dàn dựng thành công nhiều chương trình nghệ thuật lớn như: Kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Kỷ niệm 70 năm Ngày toàn quốc kháng chiến, Kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội Thể dục thể thao TP Hà Nội, Lễ hội “Tinh hoa Hà Nội – Hội tụ và toả sáng” năm 2018, Lễ hội đường phố mừng 20 năm Hà Nội – Thành phố vì hòa bình năm 2019

Năm 2008, NSND Trịnh Thúy Mùi được bổ nhiệm làm Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội. Trong 10 năm dưới sự dẫn dắt của bà, Nhà hát Chèo Hà Nội đạt được những thành tựu, trở thành đơn vị hàng đầu cả nước về hoạt động biểu diễn. Nhà hát đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất tháng 9/2012.

Trong những năm công tác, NSND Trịnh Thúy Mùi được trao tặng Huân chương Lao động hạng II, Bằng khen của Thủ tướng, 10 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp thành phố, Cúp Vàng Quốc gia năm 2013 cùng nhiều kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật, Văn hóa – Thể thao và du lịch, sân khấu.

Nữ nghệ sĩ sân khấu duy nhất ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XVI - 3

Với những cống hiến cho nghệ thuật, NSND Thuý Mùi được trao nhiều danh hiệu cao quý.

Bà được phong tặng danh hiệu NSƯT năm 2005, NSND năm 2015 và danh hiệu Công dân Thủ đô Ưu tú năm 2015, giành 7 Huy chương Vàng Liên hoan Chèo toàn quốc, 3 Huy chương Bạc quốc gia cùng nhiều bằng khen của các bộ, ngành. 

Năm 2018 – 2020, NSND Thúy Mùi đảm nhận vai trò Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát triển nghệ thuật truyền thống sân khấu Việt Nam.

Từ năm 2020 đến nay, bà giữ các cương vị: Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Bí thư Chi bộ cơ quan, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.

Ngoài công việc, NSND Thúy Mùi dành thời gian tận hưởng cuộc sống vui tươi bên gia đình, khám phá danh lam thắng cảnh trong và ngoài nước.

Theo vtcnews




Nguồn: Arttimes.vn

Phiên bản nâng cấp của dòng xe Toyota Yaris GR ra mắt toàn cầu


Mẫu xe hiệu suất cao Toyota Yaris GR phiên bản nâng cấp ra mắt toàn cầu.

Mẫu hot hatch biểu tượng của nhà Toyota vừa nhận được đợt cập nhật mới cho phiên bản 2026. Thay vì thay đổi ngoại hình, hãng xe Nhật Bản tập trung tinh chỉnh sâu vào cảm giác lái, hệ thống trợ lực và nội thất nhằm chiều lòng những tay lái đam mê tốc độ.

Sau bản nâng cấp lớn (facelift) vào năm 2024, Toyota tiếp tục hoàn thiện “đứa con cưng” GR Yaris cho năm mô hình 2026. Những thay đổi lần này không nằm ở các số đo công suất mà tập trung vào sự tinh tế trong điều khiển và khả năng chịu tải của hệ thống cơ khí dưới cường độ vận hành cao.

Phiên bản nâng cấp của dòng xe Toyota Yaris GR ra mắt toàn cầu - 1

Toyota tiếp tục hoàn thiện mẫu xe hiệu suất cao GR Yaris cho năm mô hình 2026.

Phiên bản nâng cấp của dòng xe Toyota Yaris GR ra mắt toàn cầu - 2

Hệ thống lái được tối ưu hóa độ cứng thanh xoắn trong cảm biến mô-men xoắn.

Thay đổi đáng chú ý nhất trong khoang cabin chính là chiếc vô-lăng hoàn toàn mới, từng xuất hiện trên các phiên bản giới hạn như Sébastien Ogier Edition hay Morizo RR. Thiết kế tối ưu: Đường kính vô-lăng được thu nhỏ, các phím bấm và vòng xoay điều khiển được dời sâu vào phía trong gần túi khí thay vì nằm trên nan vô-lăng như trước.

Thiết kế này giúp người lái tránh được việc bấm nhầm các nút chức năng khi đánh lái gắt. Đồng thời, hình dáng tay nắm được tái thiết kế để ôm sát lòng bàn tay, đi kèm hệ thống đèn nền hỗ trợ quan sát ban đêm. Để đáp ứng những khách hàng thường xuyên sử dụng lốp hiệu suất cao (lốp semi-slick có độ bám cực lớn), Toyota đã can thiệp sâu vào hệ thống lái trợ lực điện (EPS).

Phiên bản nâng cấp của dòng xe Toyota Yaris GR ra mắt toàn cầu - 3

Thay đổi đáng chú ý nhất trong khoang cabin chính là chiếc vô-lăng hoàn toàn mới.

Hệ thống lái được tối ưu hóa độ cứng thanh xoắn trong cảm biến mô-men xoắn, kết hợp với phần mềm điều khiển mới giúp mở rộng phạm vi phát hiện lực lái. Điều này đảm bảo hệ thống trợ lực hoạt động ổn định và chính xác ngay cả khi xe đang chịu tải trọng cực lớn lúc vào cua hoặc phanh gấp.

Hệ thống treo: Dù vẫn giữ cấu trúc MacPherson phía trước và tay đòn kép phía sau, nhưng các kỹ sư Gazoo Racing đã điều chỉnh lại đặc tính giảm chấn (damper settings) để tăng cường sự ổn định và phản hồi từ mặt đường.

Toyota GR Yaris 2026 vẫn duy trì sức mạnh từ khối động cơ xăng I3, dung tích 1.6L tăng áp, cho công suất tối đa 300 mã lực và mô-men xoắn cực đại 400 Nm. Sức mạnh được truyền xuống 4 bánh thông qua hệ dẫn động GR-Four danh tiếng với sự hỗ trợ của vi sai chống trượt Torsen ở cả hai cầu.

Phiên bản nâng cấp của dòng xe Toyota Yaris GR ra mắt toàn cầu - 4

Toyota đã can thiệp sâu vào hệ thống lái trợ lực điện (EPS).

Phiên bản nâng cấp của dòng xe Toyota Yaris GR ra mắt toàn cầu - 5

Toyota GR Yaris 2026 vẫn duy trì sức mạnh từ khối động cơ xăng I3, dung tích 1.6L tăng áp.

Khách hàng có thể lựa chọn giữa hộp số sàn 6 cấp (6MT) truyền thống hoặc hộp số tự động 8 cấp Gazoo Racing Direct Automatic (DAT). Tại thị trường Nhật Bản, GR Yaris 2026 được phân phối với 5 biến thể chính, từ bản tiêu chuẩn RC cho đến bản cao cấp nhất RZ High Performance tích hợp gói khí động học (Aero performance package).

Lốp xe: Các bản cao cấp sẽ sử dụng lốp Bridgestone Potenza Race chuyên dụng cho đường đua, bọc ngoài bộ mâm đúc BBS 18 inch. Một nâng cấp nhỏ nhưng đáng giá là người dùng nay đã có thể trang bị đồng thời tính năng sưởi ghế, sưởi vô-lăng cùng với phanh tay dọc (Vertical handbrake) khi chọn các gói Navigation hoặc Comfort.

Phiên bản nâng cấp của dòng xe Toyota Yaris GR ra mắt toàn cầu - 6

Tại thị trường Nhật Bản, GR Yaris 2026 được phân phối với 5 biến thể chính.

Tại quê nhà Nhật Bản, xe có giá khởi điểm từ 3.617.200 Yên tương đương 600 triệu đồng cho bản RC và lên đến 5.532.200 Yên tương đương 920 triệu đồng cho bản RZ High Performance Aero. Các phiên bản số tự động sẽ có giá cao hơn bản số sàn khoảng 350.000 Yên tương đương gần 60 triệu đồng.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Tài xế công nghệ “dỗi” bỏ xe rồi vô tình vít ga lao thẳng vào nhà dân


Quay đầu đón khách suýt va chạm ô tô, tài xế công nghệ bức xúc bỏ xe giữa đường. Tuy nhiên, khi quay lại dựng xe, người này bất ngờ vít ga khiến xe lao thẳng vào nhà dân.




Nguồn: Arttimes.vn

Văn chương và những vấn đề toàn cầu (Nhìn từ tiểu thuyết của Linda Lê)


Viết văn không bằng tiếng mẹ đẻ – mà bằng một ngôn ngữ “mạnh”: tiếng Pháp – riêng điều này đã cho thấy Linda Lê không lựa chọn trở thành nhà văn của chỉ một dân tộc, một quốc gia. Tuy vậy, không thể đoạn tuyệt với cái tôi đời thực vốn có một quốc tịch, một quê hương, rốt cuộc Linda Lê vẫn thuộc về một nơi chốn, dẫu đó là nơi “không thể xác định”, bấp bênh và không ngừng chuyển dịch; dẫu tự tác giả luôn cảm thấy không thật sự gắn kết với một nơi nào. Không thuộc về nơi này cũng chẳng thuộc về nơi kia, hay đồng thời vừa ở nơi này, lại vừa ở nơi kia, phải chăng đây là cảm giác chung của những “nhà văn toàn cầu”, những nhà văn lưu vong, từ đời thường cho đến trang viết, mà Linda Lê là một trong số ấy. Như nhiều tác phẩm của các nhà văn không biên giới, tiểu thuyết của Linda Lê là những bản mô tả chi tiết, sống động về các vấn đề toàn cầu hóa, với tiêu điểm là những thân phận lưu đày.

Viết như một công dân toàn cầu

Cùng viết với ý thức là một công dân toàn cầu, song sự lựa chọn của các nhà văn lưu vong không phải lúc nào cũng giống nhau. Cao Hành Kiện chỉ viết về căn tính và tâm thức văn hóa Trung Quốc gắn với các câu chuyện truyền thuyết, lịch sử của một thời đã qua, trong khi Murakami ưu tiên hơn cho một Nhật Bản hiện đại với những giá trị phổ quát thay vì giá trị truyền thống. Từ Mỹ và qua các trang văn, Khaled Hosseini lựa chọn trở về quê nhà Afghanistan, trong khi Đới Tư Kiệt rời bỏ đất nước và chỉ thành danh ở bên ngoài Trung Quốc, với Paris là quê hương mới. Thuận lục lọi kí ức, ngoái nhìn Việt Nam thời bao cấp cùng những bi kịch của người Việt xa xứ, từ nước Pháp; khác hẳn Linda Lê, cũng mang cùng điểm nhìn không gian ấy, song từ chối nguyên quán, quan tâm nhiều hơn đến những thân phận thiếu quê hương.

Sự lựa chọn ngôn ngữ văn học của các nhà văn quốc tế ấy cũng không hoàn toàn giống nhau, liên quan đến mức độ hội nhập với nơi ở mới và sự gần gũi hay xa rời gốc gác. Thuận, Murakami, Cao Hành Kiện…, trung thành, ôm ghì lấy ngôn ngữ mẹ đẻ, viết cho độc giả quê nhà từ bên ngoài biên giới. Ngược lại, chủ động khước từ tiếng mẹ đẻ, Khaled Hosseini, Sơn Táp hay Linda Lê viết văn bằng ngôn ngữ của nước sở tại, khẳng định sự nghiệp văn học của mình với thế giới.

Song, ngay cả khi cùng không lựa chọn tiếng mẹ đẻ, chủ ý của các nhà văn cũng rất khác nhau khi mượn văn chương để đối diện và truy tìm căn tính. Hosseini dùng ngôn ngữ vay mượn để đưa dân tộc đến gần hơn với thế giới, xóa bỏ biên giới giữa các quốc gia vốn trùng trùng khác biệt bởi văn hóa Đông – Tây. Sơn Táp chọn tiếng Pháp cho cộng đồng độc giả mới dù tác phẩm của chị vẫn lấy đề tài từ lịch sử, văn hóa quê nhà, với hình tượng trung tâm là các nhân vật nữ mang đậm dáng vẻ hình hài và tâm hồn Trung Quốc.

Linda Lê, đặc biệt hơn, cự tuyệt ngôn ngữ mẹ đẻ để đối diện với cái nằm ngoài mọi biên giới, để từ “cái khác” bàn về những vấn đề mang tính nước đôi và rồi chạm đến những giá trị phổ quát. Với lựa chọn ấy, Linda Lê dường như là nhà văn lưu vong đủ “khách quan” để không nhìn các vấn đề của nhân loại thời toàn cầu hóa từ những quán tính văn hóa của dân tộc, quốc gia. Chỉ với Linda Lê, các lằn ranh mới thật sự bị mờ hóa, không ngừng dịch chuyển, nhòe đi; để cái bên này và bên kia trở nên khó phân tách, như đúng bản chất của khái niệm toàn cầu hóa.

Là “một khách trú, một đứa con rơi, bơ vơ trên tất cả xứ sở trên thế gian này ngoài huyền thoại của văn chương” (Đinh Linh), giống như nhiều nhà văn lưu vong, Linda Lê chọn viết để được cứu rỗi. Đây là một sự lựa chọn đầy dũng cảm, bởi, như chị chia sẻ: “Viết trong ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ của mình, chẳng khác gì làm tình với một thây ma”. Xem mình là một công dân của ngôn ngữ Pháp, thay vì là một công dân “Pháp ngữ”, sáng tạo, trong trường hợp của Linda Lê, trở thành một hình thức tự lưu đày. Và từ sự lưu đày đó, những trói buộc của con người trong một thời đại tưởng như không còn bị giới hạn bởi không gian địa lý, có điều kiện được hiển lộ, như chính sự bất toàn của toàn cầu hóa vẫn không ngừng đổ bóng, bao phủ loài người. Ám ảnh nhận diện những thân phận tự lưu đày thông qua hành vi viết trở thành một mạch ngầm siêu văn bản xuyên suốt các tác phẩm của Linda Lê.

Văn chương và những vấn đề toàn cầu (Nhìn từ tiểu thuyết của Linda Lê) - 1

“Vu khống”, “Tiếng nói”, “Thư chết”, “Sóng ngầm”, “Vượt sóng” – những tác phẩm tiểu thuyết đã được dịch sang tiếng Việt của Linda Lê.

Từ Vu khống, Tiếng nói, Thư chết đến Sóng ngầm, Vượt sóng (những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt), có thể thấy, hình tượng tác giả và kiểu nhân vật nhà văn luôn trở đi trở lại, làm nên tính siêu hư cấu rất đặc biệt của tiểu thuyết Linda Lê. Mối quan hệ giữa hư cấu và thực tại trong tác phẩm vì vậy khá phức tạp, vừa song song tồn tại, vừa lẫn vào nhau, vừa là biểu hiện của thế giới quan tác giả, vừa là kết quả của lối viết hiện đại khi văn học được xem là một trò chơi ngôn ngữ.

Motip nhà văn có gốc gác từ một nước nhược tiểu (một mặt chối bỏ, một mặt lại bị ám ảnh bởi cội rễ), nhờ hành vi viết mà tìm thấy bản ngã, xác lập căn tính, xuất hiện với tần số cao trong các tác phẩm. Đó là một cô gái “dân Chà Chệt viết văn bằng tiếng Pháp” như “một cách để thoát khỏi gia đình, để bảo vệ sự cô đơn, sự toàn vẹn tâm thần” (Vu khống). Đó còn là một nhà văn có “ông nội là bần cố nông gốc Việt Nam và gần như mù chữ khi đặt chân đến Pháp”, xem viết như một nỗ lực chống chọi để không bị tiêu tan, một hành vi chống trả với các trật tự đã được thiết lập – viết để cắt nghĩa cho sự tồn tại của chính mình (Vượt sóng)… Được kể từ cái nhìn giàu trải nghiệm của người trong cuộc (các nhân vật nhà văn lưu vong mang bóng dáng của chính tác giả), các câu chuyện về người nhập cư, sự kì thị, hay sự kháng cự và hội nhập văn hóa… đã tạo nên một “căn tính nhập cư đương đại” trong tiểu thuyết của Linda Lê.

Độ nhòe giữa thực tại văn bản và thực tại đời sống, đặc biệt ở hình tượng nhân vật nhà văn (vừa là sản phẩm hư cấu, vừa in dấu cái tôi tác giả), cũng khiến tính lập lờ nước đôi trở thành “căn tính tác giả” của nhà văn người Pháp gốc Việt này. Nói cách khác, cảm thức lưu vong và tâm thế viết như một nhà văn không biên giới đã giúp Linda Lê chạm đến nhiều vấn đề của toàn cầu hóa.

Chấn thương và lưu vong

Biểu hiện rõ nhất của những lai ghép văn hóa, xóa nhòa đường biên/giới tuyến thời toàn cầu hóa là vấn đề nhập cư. Những làn sóng di dân, những người bỏ lìa quê hương đến nơi ở mới đã góp phần tạo ra những xáo trộn văn hóa. Họ vừa làm nên sự đa dạng văn hóa, vừa day nhấn về sự khác biệt vốn là nguyên nhân của việc mất bản sắc. Bằng cái nhìn của người trong cuộc, Linda Lê đã nhận diện số phận của những người lưu vong, chỉ ra những vết thương của thế giới thời toàn cầu hóa, từ trong tính ưu việt của xu hướng hội nhập.

“Nơi ở của người lưu vong là một thứ địa phương tính vô giới hạn (nonlimited locality). Nghĩa là không thực sự ở đâu cả”. Họ không thuộc về bất cứ đâu bởi với họ, “mọi không gian đều bị lọc qua lăng kính của quê gốc trong khi chính cái gọi là quê gốc lại chỉ là một kết tập của hồi ức và dự phóng, một cái gì vừa thuộc về quá khứ lại vừa thuộc về tương lai” (Nguyễn Hưng Quốc). Việc không thật sự thuộc về nơi nào bởi vừa đứt rễ với quê cũ, vừa không thể bám rễ với nơi ở mới là cội nguồn của những chấn thương, không chỉ là những sang chấn lưu vong của từng cá nhân, mà còn bao gồm những mặc cảm của thân phận nhập cư, trong mối quan hệ với người bản xứ. Chọn miêu tả cuộc sống của những công dân Pháp mà dấu ấn quê hương “nhược tiểu” vẫn không thôi in dấu, Linda Lê đã trưng ra một góc tối của thế giới thời toàn cầu hóa, cùng những ảo tưởng về một ngôi nhà chung của nhân loại.

Văn chương Linda Lê tràn ngập số phận bi thương của những người bị đẩy lìa khỏi gia đình, quê hương và sống mòn ở một nơi chưa bao giờ xem họ là thành viên thực sự. Đó là một chàng trai, vì tình yêu loạn luân mà bị cưỡng bách lưu đày xa xứ, bị buộc trở thành người điên, để rồi không thể chịu nổi âm thanh của những kẻ tâm trí lành mạnh, bởi “dù bằng tiếng Pháp hay tiếng dân Chà Chệt, tiếng léo xéo cũng chỉ che giấu sự hão huyền của kiếp sống thừa” (Vu khống). Đó còn là người lính thợ Việt Nam, Diet Trần, tủi nhục vì thân phận lưu vong cho đến lúc chết, và vẫn tiếp tục di truyền mặc cảm nhập cư cho con trai, Martin Trần, qua cái họ “nước ngoài” trên đất Pháp (Vượt sóng).

Sự tội nghiệp của những số phận nhập cư ấy còn là ở chỗ họ cự tuyệt nguồn gốc nhược tiểu, quay lưng với đồng hương như một phản ứng ngược để tự vệ, chống trả. Cô gái trong Vu khống đã tức tối khi có người nói với cô bằng tiếng mẹ đẻ của cô. Cô căm ghét việc bị những người đồng hương gợi chuyện, “lấy cớ tình cờ cùng ở nơi xứ lạ quê người”. Martin Trần trong Vượt sóng thì xấu hổ vì thân phận con lai, không thừa nhận người bố Việt Nam và luôn miệng chửi rủa “bọn da màu” khi tự xem mình như người Pháp bản xứ.

Đáng chú ý là sự xung đột, kì thị và mặc cảm “bên lề” này còn diễn ra giữa cư dân đô thị và tỉnh lẻ ngay trong cùng một xứ sở. Linda Lê đã mô tả rất sâu sắc tình thế lưỡng lự của nhân vật người cha trong Thư chết, một người muốn là họa sĩ nhưng lại làm việc trong ngân hàng, một người Việt “đã chứng kiến tất cả các cuộc chiến tranh, đã tham gia tất cả các cuộc cách mạng” và đã rời miền Bắc sau khi đất nước bị chia cắt, bí mật vượt vĩ tuyến mười bảy vào Nam, lang thang khắp nơi cho đến khi gặp người đàn bà của đời mình và bị coi là một kẻ mất gốc, thất thế. Đó cũng là những mâu thuẫn giữa việc chấp nhận hay vượt qua thân phận ngoài rìa của nhân vật Racin trong Vu khống vốn nuôi mối thù dai dẳng với các kí giả Paris, đến đỗi “chính anh cũng trở thành một kí giả Paris, phần để tự trừng trị mình và vì tự chán ghét mình, phần vì nhu nhược và tự biết mình không làm gì khác được”.

Trong tiểu thuyết Linda Lê, bị kì thị, tự kì thị và cả kì thị người khác đều là biểu hiện của những chấn thương tâm lí không thể chữa lành ở những thân phận lưu vong, ngay cả khi họ ý thức rõ về một thế giới không lằn ranh trong thời toàn cầu hóa.

Bình đẳng và chung sống

Toàn cầu hóa giúp người ta nhận ra giá trị của sự đa dạng văn hóa. Việc nhiều dân tộc trong một quốc gia, hay việc nhiều quốc gia trong một khu vực cùng chia sẻ những giá trị chung, bất kể những khác biệt từ bản sắc chính là “sự cực đại đa dạng trong cực tiểu không gian” (M. Kundera), một biểu hiện đặc thù của tính đa văn hóa và liên văn hóa. Từ Pháp, và chọn Pháp như là trung tâm của sự cộng gộp, lai ghép văn hóa, Linda Lê không chỉ đề cập đến những sang chấn lưu vong mà còn nhấn mạnh đến sự bình đẳng của những kẻ khác/cái khác, khi mà đối thoại và hội nhập văn hóa là một xu thế tất yếu của nhân loại.

Cho dẫu phải “sống bằng những chối bỏ, nuôi mình bằng những phản bội” trong những tháng ngày lưu vong trên đất Pháp, nhân vật “Tôi” trong Vu khống vẫn “kiêu hãnh là dân Chà Chệt viết văn bằng một ngôn ngữ không phải của mình”, thậm chí “lại muốn thêm được hồ nghi con hoang, được bán tin bán nghi con lai”. 

Có thể nói, thách thức để được là chính mình, dẫu chịu thân phận bên lề, hay chống chọi để sống với sự phân biệt giữa người bình thường và người điên, cặp đôi cậu/ cháu người Chà Chệt phải chịu cảnh lưu đày xa xứ trong tiểu thuyết Vu khống, trở thành biểu tượng của sự kháng cự và vượt qua kì thị trong quá trình cùng chung sống và đòi hỏi bình đẳng của con người.

Không lựa chọn chỉ ra những khác biệt văn hóa từ những miêu tả đối sánh, cái khác/ kẻ khác trong tiểu thuyết của Linda Lê được nhấn mạnh từ sự kì thị và vượt qua kì thị của các cá nhân trong quá trình va chạm, chung sống. Đó là sự khác biệt đến mức phủ định nhau như mẹ con Lou, bởi Lou chọn lấy Văn và sinh ra một đứa con không thuần chủng, chống lại các quan niệm định kiến và “hoang tưởng về ưu thế của người phương Tây” của mẹ (Sóng ngầm). Đó còn là những khác biệt bởi sự lỏng lẻo, thiếu gắn kết, ngay trong chính cộng đồng người nhập cư, xuất phát từ mức độ hội nhập và “sức ỳ” trong việc gìn giữ hay rũ bỏ căn tính gốc (Vu khống, Thư chết).

Tuy vậy, cái khác chính là gốc rễ của sự đa dạng, là căn nguyên của xu hướng đối thoại, hội nhập văn hóa. Bằng việc nhận diện quá trình chung sống và tìm kiếm địa vị bình đẳng của người nhập cư ở Pháp, bao gồm cả những trải nghiệm của bản thân, Linda Lê đã chứng tỏ sự đa dạng văn hóa là một giá trị lớn của thế giới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Có thể xem Văn, một biên tập viên giỏi nghề của một tòa soạn có tiếng ở Paris, rời quê hương Việt Nam và đến Pháp từ năm 15 tuổi, trong tiểu thuyết Sóng ngầm, là hình mẫu tiêu biểu cho kiểu người nhập cư có khả năng chung sống bình đẳng trong môi trường “nước lớn”. Văn chứng minh cho việc hoàn toàn có thể chung sống bình đẳng trong một môi trường biết chấp nhận và tôn trọng những khác biệt văn hóa, dẫu tự anh không thể chấm dứt tình trạng kì thị hay xu hướng co cụm, mặc cảm của phần lớn người lưu vong. Tất nhiên việc đề cao, chú trọng cái chung hơn cái riêng, cái trung tâm hơn là cái ngoại biên, bên lề, của Văn cũng ít nhiều làm mờ dần cái bản sắc thiểu số. Đa văn hóa và liên văn hóa là đặc tính dễ nhận thấy của thời toàn cầu hóa. Song những trả giá của nhân loại và những “mất mát” không dễ nhận thấy của Văn (không nói tiếng mẹ đẻ trong suốt 30 năm sống đời lưu vong, không một lần trở về quê hương, không giao tiếp với đồng bào và gần như “mất gốc”) cũng là điều cần suy ngẫm. Để thấy, chung sống bình đẳng, chưa bao giờ là thật sự dễ dàng.

Viễn tượng một “quê xứ con người” 

Cùng với những cuộc dịch chuyển, mất nơi ở và xác lập nơi ở mới, việc tự nhận biết bản thân thuộc về nơi nào của con người trở nên khó khăn. Quá trình làm quen với không gian cư trú, của những người lưu vong lại càng đặc biệt hơn, bởi gắn liền với “một chuỗi kinh nghiệm về giải lãnh thổ hoá và tái lãnh thổ hoá liên tục” (Nguyễn Hưng Quốc). Họ một mặt, có xu hướng coi nhẹ ranh giới để thích nghi với nơi ở mới, một mặt, tạo lập ranh giới mới để bớt cảm giác “lơ lửng”, chông chênh giữa một chốn hai quê.

Hiểu rõ cảm giác không thuộc về đâu của những thân phận lưu vong, bằng văn chương, Linda Lê đã xóa nhòa mọi sự phân cách để mỗi người luôn đồng thời là người kia/ kẻ khác. Có thể nói, tính lưỡng phân của giới tuyến đã chi phối cách nhìn của Linda Lê về vấn đề dân tộc – quốc gia trong thời kì toàn cầu hóa. Bởi, như nhiều người nhập cư khác, Linda Lê luôn thuộc về phía bên kia, dẫu nhìn từ bên phía nào của mọi làn ranh (với Pháp, Linda Lê thuộc về Việt Nam, song với Việt Nam, cô lại là công dân Pháp). Tình trạng lập lờ, nước đôi này là bi kịch nhưng cũng là cơ hội để Linda Lê nhận diện hai mảnh phân thân của những người lưu vong, một – gắn với khát khao truy tìm cội nguồn và một – gắn với những lãng quên, chối bỏ khi xem quê hương chính là nơi cư trú. 

Nhân vật trong tiểu thuyết của Linda Lê thường ý thức rõ về tình trạng thiếu/ mất quê hương và không ngần ngại tự thú: “Chúng tôi không thuộc nơi nào”, “Gốc rễ chúng tôi bập bềnh mặt nước”. Đối thoại của nhân vật người điên trong tiểu thuyết Vu khống với cuốn sách, người bạn duy nhất của anh, đã lột tả sự đơn độc đến tận cùng của những thân phận lưu đày xa xứ.

Có thể nói, đối thoại bằng độc thoại, tự thuật của nhân vật là đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết Linda Lê. Trong Thư chết, từ những đối thoại vắng mặt với người cha đã chết của nhân vật “tôi”, Linda Lê đã lột tả những lỗi hẹn đớn đau trong hành trình lần về cội rễ của những đứa con đã có lúc quên lãng quê nhà. Đó là nỗi nhớ “không phải tôi nhớ cha tôi, mà chính tiếng nói, là những lời nói của người”, thứ “tiếng nói đã nâng đỡ tôi suốt 20 năm qua” đã mang theo nỗi đau của một đứa con sống tha hương, khi nhìn về cố quốc: “Chữ L tràn trề nước mắt, chữ O nghẹn tiếng kêu, chữ C tỏa ra ánh trăng bệnh hoạn, chữ S gợi nhắc hình dạng đất nước của tuổi thơ tôi, chữ I run rẩy là hình ảnh của cha tôi, một người cố đứng thẳng nhưng gần ngã gục đến nơi”. Đó còn là “vị sầu tủi dưới lưỡi” của một cái tôi lưu vong khác trong lời tự thú “đã lâu rồi tôi không còn cảm thấy vị ấy trong miệng, vị một chất độc nhen bừng máu tôi, hâm nóng gan ruột tôi. Tôi thấy mình trở lại hàng bao năm trước, hồi còn ở Đất Nước” (Vu khống).

Dường như có một “căn tính văn bản” trong các tác phẩm của Linda Lê, liên quan đến cảm hứng cội rễ và số phận lưu đày của các nhân vật mang hình bóng của chính tác giả.

Tình thế lưỡng phân là cội nguồn của những cảm xúc mâu thuẫn khi nghĩ về nguồn cội. Linda Lê từng thú nhận: “Khi thì tôi coi Việt Nam giống như một loài cây độc toả xuống cái bóng chết chóc, bởi nỗi nhớ có thể trở thành một điều xấu xa nguy hiểm, lúc thì Việt Nam lại giống như một cái cây cổ thụ nơi tôi tìm được chỗ trú ngụ và giúp tôi phòng chống lại sự vỡ mộng”.

Từ chối ngôn ngữ mẹ đẻ, né tránh nhắc đến tổ quốc, song hầu hết tiểu thuyết của Linda Lê lại viết về chính những con người ra đi từ nơi ấy. Chọn quên đi bản sắc, hay nhấn mạnh vào tính mong manh của dân tộc tính, tiểu thuyết của Linda Lê còn mang cảm thức hư vô. Nhân vật người điên trong Vu khống chọn cái chết để chấm dứt cuộc sống mờ nhạt, vô danh khi rốt cuộc anh không thuộc về một nơi nào. Antoine Sorel tìm về lại quê hương Việt Nam để lật lại một trang đời của người ông gốc Việt song vẫn mờ mịt, lạc lõng trên chính quê hương bởi sự thờ ơ, quên lãng của lịch sử, của đồng bào. Tìm mà không thấy, kể cả thấy cũng không để làm gì, Antoine Sorel rốt cuộc cũng đã mệt mỏi trong quá trình truy tìm cội rễ và căn tính. Cái chết tự chọn của anh là trở thành biểu tượng của thân phận con người khi đối diện với cái hư vô. Trước cái chết, có hay không có sự hiện diện của quê hương trên xứ người cũng đều là vô nghĩa. Truy tìm nguồn cội liệu có thật sự cần thiết trong viễn tượng một “quê xứ con người”.

 Mang cảm thức chia xé của người lưu vong và “can đảm nhìn lại ngôn ngữ và quê hương như một sự bất toàn của mình” (Nguyễn Xuân Hoàng), bằng văn chương, Linda Lê đã đề cập đến “cái giá” của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa khiến thế giới trở thành ngôi nhà chung hay đã khiến nhân loại đánh mất nguồn cội, chơi vơi trong “cõi không nơi nào”?

Toàn cầu hóa liệu có thể xóa được mọi ngăn cách giữa các dân tộc, quốc gia, các nhóm người, trong khi con người mãi mãi không thể loại trừ căn tính gốc? Không né tránh đề cập tâm lí bấu víu vào cố quốc (cho dù gắn với những ám ảnh tồi tệ, đau đớn, với cả những oán thán, chán chường) trong nỗ lực hội nhập của người lưu vong, Linda Lê đã chạm đến khát vọng truy tìm cội nguồn, căn tính và cũng là truy tìm bản ngã của nhân loại. Bởi đó là cách để không quên đường về trong quá trình dịch chuyển hướng ra thế giới; bởi nhà, quê hương, tổ quốc xét đến cùng vẫn luôn là chỗ tựa bám víu của con người, ngay cả với viễn tượng toàn nhân loại đều chỉ thuộc về một “quê xứ con người”.

Thái Phan Vàng Anh




Nguồn: Arttimes.vn

Rộ tin Hyundai Stargazer 2026 sắp ra mắt Việt Nam với ngoại hình “lột xác”


Hyundai Stargazer bản nâng cấp dự kiến sẽ ra mắt thị trường Việt Nam trong Quý II/2026.




Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Cười chảy nước mắt với màn đón bạn gái có 1-0-2 của thanh niên


Không chỉ đến đón bạn gái, nam thanh niên còn “biểu diễn” kỹ năng lái xe đầy mạo hiểm khiến cô gái nhiều phen thót tim.




Nguồn: Arttimes.vn

Volkswagen hé lộ hình thông tin về dòng xe hiệu suất cao Golf MK9


Volkswagen Golf Mk9 lộ diện và đây là sự kết hợp giữa động cơ đốt trong động cơ điện

Volkswagen vừa hé lộ hình ảnh phác thảo đầu tiên của Golf thế hệ thứ 9 (Mk9), đánh dấu bước đi chiến lược quan trọng của hãng xe Đức khi duy trì song song cả biến thể động cơ đốt trong (ICE) và thuần điện (BEV) trên dòng hatchback biểu tượng này.

Hình ảnh teaser đầu tiên của Golf Mk9 xuất hiện trong một cuộc họp của công đoàn ngành kim loại Đức (IG Metall). Tại đây, Volkswagen một lần nữa khẳng định cam kết gắn bó với nhà máy Wolfsburg – nơi vốn được coi là “trái tim” sản xuất của dòng Golf suốt nhiều thập kỷ qua. Theo kế hoạch, thế hệ mới sẽ chính thức ra mắt toàn cầu vào năm 2028.

Volkswagen hé lộ hình thông tin về dòng xe hiệu suất cao Golf MK9 - 1

Volkswagen vừa hé lộ hình ảnh phác thảo đầu tiên của Golf thế hệ thứ 9 (Mk9).

Ông Andreas Mindt – Giám đốc thiết kế của Tập đoàn Volkswagen, cho biết diện mạo của Golf Mk9 sẽ được chắt lọc từ những yếu tố tinh hoa nhất của các mẫu ID. Polo, ID. Cross và đặc biệt là các thế hệ Golf tiền nhiệm.

Đáng chú ý, ông Mindt coi Golf Mk7 là một “kiệt tác” và sẽ dùng mẫu xe này làm hệ quy chiếu chính cho thế hệ mới. Mục tiêu là tạo ra một thiết kế vừa mang hơi thở lịch sử, vừa giữ được sự tươi mới của tương lai. Ngoài ra, Volkswagen cũng xác nhận sẽ đưa các phím điều khiển vật lý trở lại cho các chức năng thiết yếu như điều hòa và âm lượng, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cảm ứng như thế hệ hiện tại.

Volkswagen hé lộ hình thông tin về dòng xe hiệu suất cao Golf MK9 - 2

Diện mạo của Golf Mk9 sẽ được chắt lọc từ những yếu tố tinh hoa nhất của các mẫu ID. Polo, ID. Cross.

Dựa trên hình ảnh teaser, có thể thấy Golf Mk9 sở hữu trục cơ sở dài hơn đáng kể so với bản Mk8 hiện nay. Đây là đặc điểm nhận dạng của nền tảng SSP (Scalable Systems Platform) – kiến trúc khung gầm thế hệ mới sẽ ứng dụng cho phiên bản thuần điện (dự kiến mang tên ID. Golf).

Những điểm nhấn công nghệ đáng mong đợi trên Golf Mk9 bao gồm: Hệ truyền động điện: Trang bị kiến trúc điện toán 800V, cho phép cải thiện đáng kể tốc độ sạc và phạm vi hoạt động so với các dòng xe điện hiện tại của hãng.

Volkswagen hé lộ hình thông tin về dòng xe hiệu suất cao Golf MK9 - 3

Golf Mk9 sở hữu trục cơ sở dài hơn đáng kể so với bản Mk8 hiện nay.

Động cơ đốt trong: Các phiên bản chạy xăng/dầu sẽ là bản nâng cấp triệt để từ nền tảng của Mk8 để đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải ngày càng khắt khe. Phần mềm thông minh: Nền tảng SSP sẽ tích hợp kiến trúc phần mềm được phát triển cùng Rivian, giúp tối ưu hóa việc kiểm soát phần cứng và linh hoạt hơn trong các bản cập nhật qua mạng (OTA). Sự kết hợp giữa di sản của dòng Golf và những công nghệ tiên phong từ sự hợp tác với Rivian hứa hẹn sẽ đưa Golf Mk9 trở lại vị thế dẫn đầu phân khúc hatchback hạng C khi chính thức trình làng vào cuối thập kỷ này.

Tại Việt Nam, trong bối cảnh giá nhiên liệu liên tục biến động và nhu cầu di chuyển cá nhân ngày càng gia tăng, các hãng xe không chỉ cạnh tranh bằng sản phẩm mà còn bằng những giá trị thực tế mang lại cho khách hàng sau khi mua xe. 

Volkswagen hé lộ hình thông tin về dòng xe hiệu suất cao Golf MK9 - 4

Mẫu xe Golf cũng được hưởng giảm giá trực tiếp 30 triệu đồng tại Việt Nam. 

Volkswagen mới đây triển khai chương trình khuyến mãi miễn phí Xăng 1 năm hướng đến nhóm khách hàng đang cân nhắc sở hữu các dòng xe chủ lực của thương hiệu Đức tại thị trường trong nước mà lo ngại giá xăng đang tăng cao.

Theo thông tin từ hãng, chương trình được áp dụng cho khách hàng mua xe trong tháng 3/2026. Khuyến mãi này dành cho nhiều mẫu xe, bao gồm Volkswagen Viloran, Teramont X, Teramont President, Touareg, Golf Plus và Tiguan. Và giá trị tương đương 30 triệu đồng. Chi phí này sẽ được hãng trừ trực tiếp 30 triệu đồng vào giá bán của xe ngay từ thời điểm ký hợp đồng. 



Nguồn: Arttimes.vn

Từ Nghị quyết đến hành động: Khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật trong tầm nhìn phát triển quốc gia


Ngày 20/3, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hội nghị có sự tham dự của đồng chí Nguyễn Minh Chung, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; đồng chí Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; đồng chí Đoàn Thanh Nô, Phó Bí thư Phụ trách Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Cùng các đồng chí là Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp; Bí thư, Phó Bí thư, đảng viên của 12 chi bộ cơ sở, trực thuộc trong toàn Đảng bộ Liên hiệp.

Từ Nghị quyết đến hành động: Khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật trong tầm nhìn phát triển quốc gia - 1

Toàn cảnh Hội nghị triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ảnh: Huyền Thương

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Phó Bí thư Phụ trách Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Đoàn Thanh Nô nhấn mạnh, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam là hai nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong phát triển đất nước giàu mạnh, nhân dân ấm no hạnh phúc, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn mới.

Phó Bí thư Phụ trách Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đề nghị, các đại biểu tham dự Hội nghị phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, lắng nghe, trao đổi, thảo luận để nắm vững nội dung Nghị quyết; đồng thời chủ động đề xuất các giải pháp nhằm triển khai hiệu quả trong thực tiễn công tác. Trên cơ sở nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết, từng chi bộ, từng đảng viên cần cụ thể hóa thành chương trình hành động thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình.

Từ Nghị quyết đến hành động: Khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật trong tầm nhìn phát triển quốc gia - 2

Đồng chí Đoàn Thanh Nô, Phó Bí thư Phụ trách Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phát biểu khai mạc Hội nghị.

Ảnh: Huyền Thương

Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Minh Chung, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã truyền đạt, quán triệt những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cho các cán bộ, đảng viên của Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Minh Chung nhấn mạnh một số nội dung trong Nghị quyết đề cập đến lĩnh vực phát triển văn hóa, con người Việt Nam và lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Đồng chí nhận định, đây là một nội dung có ý nghĩa rất quan trọng, bởi trong tư duy phát triển mới của Đảng, văn hóa và con người không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đồng thời, văn học nghệ thuật được khẳng định là lực lượng sáng tạo đặc biệt, trực tiếp tham gia xây dựng đời sống tinh thần, bồi đắp nhân cách, khơi dậy khát vọng dân tộc và góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Từ tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, đồng chí Nguyễn Minh Chung cho rằng, việc triển khai trên lĩnh vực văn học nghệ thuật đặt ra những yêu cầu rất cụ thể đối với Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam – với tư cách là tổ chức đảng lãnh đạo trực tiếp đội ngũ văn nghệ sĩ ở Trung ương và chỉ đạo, định hướng cho cả nước.

Trong đó, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cần tập trung thực hiện một số yêu cầu trọng tâm: Phải nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng trong toàn hệ thống hội về vị trí, vai trò của văn hóa và văn học, nghệ thuật trong chiến lược phát triển đất nước; Phải cụ thể hóa việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong hoạt động của các hội chuyên ngành; Phải tạo chuyển biến rõ nét trong chất lượng sáng tác văn học, nghệ thuật; Phải đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật theo hướng thiết thực, hiệu quả và thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số; Phải phát huy vai trò của văn học, nghệ thuật trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng “sức đề kháng văn hóa” của xã hội.

“Việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật không chỉ là yêu cầu về tổ chức thực hiện, mà là yêu cầu về đổi mới tư duy lãnh đạo, nâng cao chất lượng sáng tạo và phát huy trách nhiệm chính trị của toàn bộ đội ngũ văn nghệ sĩ, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam”, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương nhấn mạnh.

Từ Nghị quyết đến hành động: Khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật trong tầm nhìn phát triển quốc gia - 3

Đồng chí Nguyễn Minh Chung, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương truyền đạt, quán triệt những nội dung cốt lõi của các Nghị quyết tại Hội nghị.

Ảnh: Huyền Thương

Quán triệt Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng chí Nguyễn Minh Chung khẳng định, đây là một Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

“Nghị quyết 80 khẳng định sâu sắc rằng văn hóa không chỉ là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, là động lực to lớn, là trụ cột, là hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đây là điểm nhấn có tính chiến lược, cho thấy văn hóa được đặt đúng tầm là một vấn đề căn cốt của phát triển quốc gia chứ không chỉ là lĩnh vực bổ trợ hay ‘đi sau’ kinh tế.

Nghị quyết vì vậy không chỉ là văn kiện chỉ đạo lĩnh vực văn hóa nói chung, mà còn là cơ sở chính trị đặc biệt quan trọng để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức nghề nghiệp, trong đó có Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, cụ thể hóa thành chương trình hành động thiết thực, hiệu quả”, đồng chí Nguyễn Minh Chung chia sẻ.

Từ tinh thần, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 80, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo một số định hướng lớn: Tổ chức quán triệt sâu rộng Nghị quyết, tạo chuyển biến mạnh về nhận thức trong toàn hệ thống Hội; Xây dựng chương trình hành động của Đảng ủy Liên hiệp bám sát Nghị quyết 80; Tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ thời kỳ mới; Đẩy mạnh sáng tạo các tác phẩm lớn, tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; Chủ động tham gia hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về văn học, nghệ thuật; Thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động văn học, nghệ thuật và hoạt động hội; Gắn hoạt động văn học, nghệ thuật với phát triển công nghiệp văn hóa; Nâng cao chất lượng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật; Đẩy mạnh đối ngoại văn hóa, quảng bá văn học nghệ thuật Việt Nam ra thế giới; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ủy đối với hoạt động của Liên hiệp và các hội chuyên ngành.

Từ Nghị quyết đến hành động: Khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật trong tầm nhìn phát triển quốc gia - 4

Các đại biểu tham dự Hội nghị đã phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, lắng nghe, trao đổi, thảo luận để nắm vững nội dung Nghị quyết.

Ảnh: Huyền Thương

Tại Hội nghị, đồng chí Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam khẳng định, đối với đội ngũ làm công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật, Nghị quyết Đại hội XIV vừa là định hướng lớn, vừa là lời hiệu triệu trách nhiệm; Nghị quyết số 80-NQ/TW là một nghị quyết có tầm nhìn chiến lược, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho văn hóa Việt Nam.

Chính vì vậy, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cần phải nhanh chóng cụ thể hóa Nghị quyết thành Chương trình hành động thiết thực, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, tổ chức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt của đội ngũ văn nghệ sĩ, thúc đẩy sáng tạo những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần bồi đắp tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, khơi dậy khát vọng cống hiến, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vì một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là trách nhiệm và sứ mệnh của mỗi văn nghệ sĩ trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Từ Nghị quyết đến hành động: Khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật trong tầm nhìn phát triển quốc gia - 5

Đồng chí Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Ảnh: Huyền Thương

Tiếp thu ý kiến tại Hội nghị, đồng chí Trần Thị Thu Đông, Phó Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho rằng, mỗi đảng viên, nghệ sĩ cần tiếp tục phát huy truyền thống của nền văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam; gắn bó sâu sắc với đời sống Nhân dân; sáng tạo nhiều hơn nữa những tác phẩm có giá trị cao; góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; đóng góp xứng đáng vào hành trình đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ Nghị quyết đến hành động: Khẳng định vai trò của văn học nghệ thuật trong tầm nhìn phát triển quốc gia - 6

Đồng chí Trần Thị Thu Đông, Phó Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phát biểu tiếp thu ý kiến.

Ảnh: Huyền Thương

Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam mang ý nghĩa đặc biệt, không chỉ quán triệt sâu sắc nội dung cốt lõi của hai Nghị quyết mà còn nâng cao nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam về vai trò của văn hóa, văn học nghệ thuật và đề cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm đảng viên, trách nhiệm của văn nghệ sĩ trong phát triển bền vững đất nước.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam


Ngày 6/2, cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức Tổng kết hoạt động năm 2025 và Gặp mặt nhân dịp mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại trụ sở số 51, Trần Hưng Đạo, Hà Nội.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 1

Chương trình Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Phát biểu tại chương trình, PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã khái quát một số nét tiêu biểu của đời sống văn học nghệ thuật nước ta trong năm 2025. Theo ông, trong bối cảnh diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm cùng các sự kiện chính trị, lịch sử có ý nghĩa quan trọng, đời sống văn hóa – văn nghệ vừa được tiếp thêm động lực phát triển, vừa đứng trước những yêu cầu ngày càng cao; qua đó đặt ra vai trò chủ động của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong công tác tham mưu, tổ chức, phối hợp triển khai các hoạt động chuyên môn và hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động sáng tạo.

Đảng ủy và Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam luôn xác định công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quán triệt chủ trương của Đảng là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng và định hướng sáng tạo. Đồng thời, tiếp tục thể hiện rõ chức năng đầu mối phối hợp, khẳng định Liên hiệp là cơ quan tham mưu chiến lược cho Đảng và Nhà nước về các chủ trương, chính sách về phát triển văn học nghệ thuật.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 2

PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phát biểu.

Theo PGS.TS, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, Đảng ủy và Thường trực Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt là việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đầu mối bên trong cơ quan và các tổ chức Hội Văn học nghệ thuật thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý, bảo đảm tinh gọn về tổ chức, rõ chức năng, nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chung của Liên hiệp.

Về tổ chức bộ máy, cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cơ bản giữ phương thức hoạt động như hiện nay nhưng có đổi mới, tinh gọn theo hướng: sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị văn phòng, các ban chuyên môn theo hướng ghép, sáp nhập giảm số lượng phòng, ban đảm bảo đồng bộ, thống nhất cả về số lượng đơn vị và tên gọi.

Đối với cơ quan Liên hiệp, việc sắp xếp kiện toàn từ 8 đầu mối còn 3 đầu mối, gồm: Văn phòng, Ban Chuyên môn nghiệp vụ, Ban Công tác các Tổ chức thành viên. Liên hiệp có 2 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, gồm: Thời báo Văn học nghệ thuật và Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cũng cho biết, trong năm qua, các mặt công tác của Liên hiệp tiếp tục được quan tâm triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực. Hoạt động của Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học nghệ thuật được duy trì nền nếp; công tác hỗ trợ sáng tạo được triển khai đa dạng và hiệu quả; hoạt động thi đua – khen thưởng; đối ngoại nhân dân; công tác xét chọn và trao Giải thưởng Văn học nghệ thuật được tổ chức nghiêm túc, đúng quy định. Những hoạt động này đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy đời sống sáng tạo, nâng cao chất lượng tác phẩm và các công trình văn học nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bên cạnh việc chỉ đạo và tổ chức các hoạt động chuyên môn, Thường trực Đoàn Chủ tịch tiếp tục tham gia và phối hợp hoạt động với các ban, ngành, đoàn thể Trung ương về công tác Văn học nghệ thuật; tham dự một số hoạt động tiêu biểu của các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố; kịp thời có những ý kiến chỉ đạo, nắm bắt những ý kiến, kiến nghị từ cơ sở, tạo sự gắn kết giữa các tổ chức thành viên, giữa các tổ chức thành viên với Liên hiệp.

Tại chương trình, PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đã thay mặt lãnh đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam công bố Quyết định “Về việc tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” cho 6 tập thể thuộc các Cụm thi đua tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Khối thi đua bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, đã có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua năm 2024. Trong đó, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vinh dự được tặng bằng khen “Đã có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua năm 2024 Khối thi đua các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức liên hiệp”.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 3

Đại diện cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cũng tặng Bằng khen cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác năm 2025 cho 9 cá nhân là cán bộ, công chức và người lao động thuộc cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua” năm 2025 cho 3 cán bộ cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác năm 2025.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 4

TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua” năm 2025 cho 3 cán bộ cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Đồng thời, tặng bằng khen cho 2 tập thể thuộc cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vì đã có thành tích xuất sắc trong năm 2025, gồm: Ban Chuyên môn nghiệp vụ và Ban Công tác Tổ chức các thành viên.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 5

TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao bằng khen cho 2 tập thể có thành tích xuất sắc trong năm 2025.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 6

Các cán bộ, nhân viên cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Nhân dịp này, trong không khí phấn khởi của Xuân Bính Ngọ 2026, Thường trực Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức buổi gặp mặt thân mật các cán bộ hưu trí Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Tổng kết hoạt động năm 2025 của cơ quan Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - 7

Lãnh đạo và các cán bộ hưu trí Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tại buổi gặp mặt.

PGS.TS. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam chủ trì buổi gặp mặt. Tham dự còn có lãnh đạo Liên hiệp, các đơn vị Văn phòng, các ban chuyên môn và đại diện đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn