Home Blog Page 47

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học


“Truyện Kiều” không chỉ là di sản tinh thần vô giá của dân tộc, “Truyện Kiều” và danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du còn là đối tượng của một kho tàng nghiên cứu đồ sộ trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sự phân tán của các công trình khoa học cùng những hạn chế về điều kiện công bố, tiếp cận đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng những “bệ đỡ” bền vững cho hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, quảng bá không chỉ với “Truyện Kiều” mà cả các công trình khoa học nói chung.

1. Cho đến nay, việc thể hiện sự trân trọng, yêu quý Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều đã trở thành hoạt động mang tính văn hóa và được coi như một nếp sống tri thức đẹp, không chỉ với người Việt Nam trong nước mà còn hiện diện ở đông đảo bạn bè quốc tế.

Di cảo của Nguyễn Du đã được lan tỏa qua hàng loạt bản dịch, đến tay bạn đọc khắp các châu lục. Cũng từ đó, hàng nghìn ấn phẩm, công trình, bài báo quan tâm nghiên cứu, quảng bá về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã ra đời. Nhân loại biết đến Nguyễn Du như một biểu tượng chói sáng của nền văn học cổ điển Việt Nam, một thi nhân vĩ đại, sánh hàng với các tượng đài văn chương bất tử của nhân loại, được UNESCO đưa vào danh sách các danh nhân văn hóa thế giới, được các nước thành viên kỷ niệm trong hai năm 2014 – 2015.

Tuy nhiên, với dung lượng đồ sộ của các công trình, bài báo đã công bố liên quan đến thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Du trên hàng chục tạp chí khoa học, hàng trăm tờ báo ở Trung ương và các tỉnh thành, việc đón nhận, tìm đọc và nhận thức vốn tri thức trong đó một cách đầy đủ, với từng cá nhân là bất khả. Và đương nhiên, do vậy, vốn hiểu biết của con người đương đại về một thi hào dân tộc tất có phần hao hụt, khiếm khuyết hoặc không tránh khỏi những nhận thức so lệch hoặc sai lệch, chủ quan đáng tiếc. Đấy là chưa kể, trong ý thức tự hào về các giá trị văn hóa của dân tộc trong lòng mỗi người, vốn được kết tinh từ những tinh hoa văn hóa dân tộc, tất sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến các chuẩn mực nhân văn của xã hội hiện tại.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đã và đang đặt ra, việc đầu tư điều kiện vật chất và tinh thần để có những bộ sách sưu tầm, biên soạn một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều nói riêng, về các tác giả, tác phẩm văn chương xuất sắc của Việt Nam và thế giới nói chung, là một hoạt động lao động văn hóa cần thiết, xứng đáng được ghi nhận.

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học - 1

Tượng Đại thi hào Nguyễn Du.

2. Trong khoảng trên dưới chục năm trở lại đây, một số nhà khoa học có trí, có tâm với Nguyễn Du và Truyện Kiều đã dày công truy tìm, tập hợp và công bố những bộ tuyển tập các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, được giới nghiên cứu và đông đảo bạn đọc trong, ngoài nước nồng nhiệt đón nhận. Ấn phẩm đồ sộ đầu tiên nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều được đông đảo bạn đọc tiếp nhận và tri ân là Hai trăm năm nghiên cứu – bàn luận Truyện Kiều (Lê Xuân Lít sưu tầm, tuyển chọn. NXB Giáo dục, H., 2005, 2000 trang). Với 208 bài viết, tiểu luận khoa học viết về Truyện Kiều trong khoảng gần 200 năm, bộ sách đã cung cấp cái nhìn tổng thể và có hệ thống từ các nguồn tư liệu, các phương pháp tiếp cận và đánh giá của 158 tác giả thuộc nhiều thế hệ học giả, nhà nghiên cứu đối với Truyện Kiều

Tiếp nối bộ sách sưu tầm và biên soạn đại thành này, soạn giả Nguyễn Xuân Lam kết hợp với nhà nghiên cứu – soạn giả Lê Xuân Lít và các cộng sự lại kỳ công cho ra đời bộ sách Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI. Đón nhận bộ sách sưu tầm và tuyển chọn Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI, chắc chắn bạn đọc đều có chung cảm nhận đặc biệt về sự hiện diện một hàm lượng tình cảm và trí tuệ mới của người Việt Nam nói chung và các thế hệ học giả nói riêng với Nguyễn Du và Truyện Kiều. Bước vào thế kỷ XXI được gần 7 năm đã có thể lựa chọn được 124 tiểu luận, công trình khoa học của 97 tác giả thuộc nhiều thế hệ mà đa phần là giới nghiên cứu trung niên và trẻ tuổi, đang vươn tới độ chín của sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Truy tầm một cách công phu và lựa chọn, biên soạn một cách nghiêm túc, cẩn trọng nguồn tư liệu phong phú các bài viết từ các tạp chí chuyên ngành, các báo chí xuất bản ở Trung ương và địa phương, bên cạnh việc tiếp nhận khối lượng tham luận khoa học lớn từ hội thảo nhân kỷ niệm 240 năm sinh Nguyễn Du do Bộ Văn hóa – Thông tin tổ chức năm 2005 tại Hà Nội, các soạn giả đã xây dựng được một bố cục các nhóm công trình theo 7 phần thông thoáng, logic và chặt chẽ: Quê hương, dòng họ, gia đình và cuộc đời đại thi hào Nguyễn Du; Các vấn đề văn bản “Truyện Kiều”; Bàn về phương pháp nghiên cứu “Truyện Kiều”; Bàn về nội dung “Truyện Kiều”; Bàn về nghệ thuật “Truyện Kiều”; Trao đổi và tranh luận; “Truyện Kiều”: tiếp nhận và giao lưu quốc tế…

Có thể nói, trong kho tàng văn chương Việt Nam, chưa có tác phẩm nào như Truyện Kiều, dù đã được nghiên cứu kỳ công qua gần hai thế kỷ với hàng trăm học giả nhiều thế hệ, lại vẫn được hàng chục tác giả nghiên cứu tiếp nối những năm đầu thế kỷ XXI mà vẫn có những phát hiện, đánh giá khoa học mới mẻ, thú vị, đóng góp cho tri thức tiếp nhận tác phẩm ngày một sâu rộng và đáp ứng được yêu cầu tiếp cận hiện đại của khoa lý luận văn học đương đại và nhu cầu thưởng thức của quảng đại bạn đọc nói chung. Hàng loạt các phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được giới nghiên cứu áp dụng từ những năm cuối thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI. Người đọc thấy thú vị và hấp dẫn cũng như bị thuyết phục bởi các phương pháp nghiên cứu văn bản học mới của những Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Hữu Sơn; phương pháp nghiên cứu thi pháp học của những Trần Đình Sử, Phạm Đan Quế, Lê Xuân Lít, Mai Quốc Liên, Trịnh Bá Đĩnh; phương pháp nghiên cứu văn hóa học của Lê Nguyên Cẩn; phương pháp nghiên cứu nhân học văn hóa của Trần Nho Thìn; và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác đã được kế thừa và nâng cao như phương pháp nghiên cứu địa văn hóa, sinh thái học văn hóa, tâm lý học văn hóa… 

Đến với Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI, bạn đọc còn được tiếp nhận không ít những khám phá, phát hiện quan trọng của các nhà nghiên cứu mà hàm lượng khoa học từ đó (ở những phạm vi, cấp độ và mức độ khác nhau) có thể tác động không nhỏ đến mạch tư duy truyền thống vốn có đối với Truyện Kiều và ngay cả cách thức nhìn nhận về cuộc đời Nguyễn Du. Chẳng hạn, GS Nguyễn Tài Cẩn đã đề xuất một hướng nghiên cứu mới, thông qua chữ kị húy trong Truyện Kiều để tìm hiểu về thời điểm sáng tác của khoảng 900 câu khởi thảo đầu tiên, từ đó đi đến giả thuyết Truyện Kiều được viết trước thời Tây Sơn; Nguyễn Hữu Sơn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để truy tầm bản Kiều cổ với những phép đối sánh chặt chẽ, thuyết phục, hợp lý; Trần Nho Thìn nhận diện số phận nhân vật Truyện Kiều bằng cách tiếp cận nhân học văn hóa, điều chưa có được trong các công trình nghiên cứu từ thế kỷ trước. Giáo sư Trần Đình Sử với sự trải nghiệm của thi pháp học văn học đã đến với Truyện Kiều sâu sắc hơn, lột tả các thủ pháp nghệ thuật và tài năng nghệ thuật Nguyễn Du một cách thuyết phục và sinh động. Nguyễn Khắc Bảo lần tìm theo gia phả học để điền dã và đi đến phát hiện đại thi hào Nguyễn Du là chú vợ vua Gia Long, góp phần lý giải hợp lý cho sự kiện Nguyễn Du có lần định trốn vào nam giúp Nguyễn Ánh…

Bằng những sản phẩm khoa học đích thực được tập hợp trong công trình sưu tập này, hoàn toàn có căn cứ để nhấn mạnh rằng, chỉ bằng khoảng thời gian ngắn ngủi 5 – 7 năm đầu thế kỷ XXI, giới nghiên cứu Việt Nam đã tạo được một làn sóng mới trong/ trên tiến trình nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều, góp phần bổ sung và làm giàu thêm tri thức của người đọc hậu sinh với Truyện Kiều. Một điểm sáng nữa từ bộ sách này là hệ thống các bài viết về quá trình tiếp nhận và giao lưu giữa Truyện Kiều với quốc tế. Những nguồn tư liệu của Từ Thị Loan, Phan Mậu Cảnh và một số học giả nước ngoài như Ahn Kyong Hwan và Ngô Ngọc Ngũ Long đã mở ra một không gian mới, cần thiết được đặt ra và quan tâm nghiên cứu, giới thiệu khi Truyện Kiều cùng di sản văn học Việt Nam đã và đang trên đường hội nhập vào kho tàng văn hóa nhân loại.

Bên cạnh năng lực cảm thụ vốn là một trong những thuộc tính của quá trình tiếp nhận văn chương, các phương pháp nghiên cứu từ góc độ khảo sát văn bản, thể loại, thi pháp, thống kê, văn hoá học, so sánh loại hình lịch sử, quy luật tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được chú ý đúng mức. Ở đây cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của bộ môn văn học so sánh bởi lẽ đã nói đến Truyện Kiều là đương nhiên phải bàn đến vấn đề nguồn gốc cốt truyện và việc Nguyễn Du đã tiếp nhận, chuyển hoá, sáng tạo như thế nào. Trên cả hai chiều hướng nghiên cứu so sánh các mối quan hệ trực tiếp (Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện, Truyện Kiều với Hoa tiên và các truyện thơ Nôm Việt Nam…), so sánh các điểm tương đồng (Truyện Kiều trong truyền thống truyện thơ Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc…) đã góp phần soi sáng giá trị và chiều sâu phương thức sáng tạo Truyện Kiều, đặt thi phẩm trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học chuyên sâu và nâng tầm lên bình diện mối quan hệ, giao lưu văn hoá quốc tế.

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học - 2

Một ấn phẩm nghiên cứu về Nguyễn Du và “Truyện Kiều”.

3. Nhìn vào “môi trường” hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn nói chung và nghiên cứu Nguyễn Du cùng kiệt tác Truyện Kiều nói riêng, bên cạnh chuyện “bếp núc” của các nhà nghiên cứu và các soạn giả, những chục năm gần đây, có thể sơ bộ nhận diện một số vấn đề.

Một là, cho đến nay, với hàng nghìn công trình, bài báo (ở những cấp độ, mức độ, phạm vi và các giác độ tiếp cận khác nhau) đã công bố liên quan đến thân thế, sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du và các kiệt tác của ông, những thế hệ đương đại muốn có thêm những phát hiện mới, có giá trị khoa học và thực tiễn là cực kỳ khó khăn. Ấy vậy mà, thông qua bộ sách tập hợp các công trình nghiên cứu đầu thế kỷ XXI, như được giới thiệu sơ lược trên đây, không khó để đi đến đồng thuận cho sự kính trọng và tri ân với công sức trí tuệ và tâm thức của cá nhân các nhà khoa học, mang lại những giá trị không chỉ riêng đối với Thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều, mà còn có giá trị lớn đối với sự nghiệp phát triển văn hóa khoa học của cả nước.

Tuy nhiên, việc làm ra sản phẩm khoa học đã khó, việc có được điều kiện công bố, xuất bản các công trình đó trong điều kiện xã hội hiện tại, cũng khó khăn không kém. Soạn giả Lê Xuân Lít đã từng tâm sự với tác giả bài viết này: Ông âm thầm tiến hành bộ sưu tập các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều trước hết xuất phát từ ý thức yêu quý, kính trọng Nguyễn Du, trân quý di sản văn học – văn hóa của dân tộc. Bởi vậy, để thực hiện ý nguyện của mình, soạn giả Lê Xuân Lít đã vượt qua thiếu thốn khó khăn về vật chất, trích đồng lương ít ỏi của mình để “thuê” con cháu trong nhà cùng sưu tập, đánh máy và hoàn thiện bản thảo. Lại quan hệ với bè bạn chí cốt để vay mượn kinh phí đứng ra xuất bản. Kết quả tự phát hành để “hòa” số vốn đã chi ra, với ông, được coi là sự may mắn! Cái được vô hình, vô giá lại nằm ở nguồn tri thức khoa học từ những bộ sách đồ sộ kia đến với bạn đọc xa gần, trong, ngoài nước.

Ước mong khiêm tốn và dung dị là vậy, thế nhưng, số lượng các bộ sách được xuất bản, như đã thấy, lại quá ít ỏi, vừa do thiết chế, vừa do kinh phí, mới dừng ở con số hàng trăm, điều đó thật đáng tiếc!

Hai là, với người dân trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam, từ hàng trăm năm nay, hầu hết mọi thế hệ đều hướng đến Nguyễn Du và Truyện Kiều với ý thức và tâm thức không chỉ thể hiện sự kính phục về tài năng sáng tạo của Đại thi hào, mà còn là, coi các kiệt tác do ông sáng tạo ra là tấm gương, khuôn mẫu điển hình để nhận thức, học tập, ứng dụng tri thức làm người, hiểu biết về quy luật của thời thế, số phận, đặng tìm cho mình một cách ứng xử phù hợp nhất, khả dĩ ứng phó với mọi hoàn cảnh, và nâng tầm những tri thức ẩn tàng trong kiệt tác của Nguyễn Du lên hàng tâm linh độc đáo.

Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, hầu hết các thế hệ, cá nhân đến với Nguyễn Du và Truyện Kiều đều dường như mới chỉ chủ yếu xuất phát từ ý thức cá nhân, chủ yếu thẩm thấu và nhận biết tri thức trong tác phẩm bằng vốn tri thức chủ quan của mình. Với thực tế của con số đầu sách được xuất bản (giới hạn ở loại sách nghiên cứu về Nguyễn Du và các kiệt tác của ông) lâu nay, đa số bạn đọc/người dân không thể/không có điều kiện (và dù có điều kiện về mặt kinh tế đi nữa) để được đón nhận các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều một cách cập nhật, có hệ thống, những mong được tiếp nhận những nguồn tri thức khoa học để nâng tầm hiểu biết của mình về Nguyễn Du và Truyện Kiều ngày một sâu sắc hơn, chân xác hơn.

Ba là, cho đến nay, Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du đã được quan tâm dịch thuật, xuất bản tại nhiều nước trên thế giới. Bạn bè quốc tế đã nhờ đọc Nguyễn Du, qua thiên tài sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du mà góp phần hiểu biết Việt Nam sâu sắc hơn, kính trọng nền văn hóa – văn học Việt Nam đa dạng, xứng tầm hơn. Tuy nhiên, thông qua các bản dịch tác phẩm Truyện Kiều, dù dịch giả có siêu đẳng đến đâu, chắc chắn cũng không thể lột tả được nội dung và giá trị nghệ thuật thiên tài của Nguyễn Du cho bạn đọc nước ngoài hiểu, biết được. Vì vậy, bạn đọc quốc tế nếu như được tiếp cận với bản dịch từ/trong số hàng trăm, hàng nghìn công trình, bài báo khoa học của giới nghiên cứu Việt Nam về Nguyễn Du cùng các kiệt tác của ông, chắc chắn, tầm nhận thức và ý thức của bạn đọc quốc tế về Nguyễn Du, về Truyện Kiều (và về nền văn học – nghệ thuật Việt Nam nói chung) sẽ được nâng cao gấp bội. Đương nhiên, ước vọng dịch thuật các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và sáng tạo nghệ thuật của ông cho bạn đọc quốc tế trong điều kiện “hội nhập toàn cầu” hiện nay, có lẽ đã và đang đặt ra một dấu hỏi lớn.

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học - 3

Một ấn phẩm nghiên cứu và bàn luận về “Truyện Kiều”.

4. Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu khoa học và sức sống của thân thế và sự nghiệp Đại thi hào Nguyễn Du trong cộng đồng bạn đọc trong, ngoài nước, như đã gợi mở sơ lược trên đây, có thể nghĩ rằng, đã đến lúc phải hướng đến việc xây dựng “bệ đỡ” bền vững cho sự phổ biến, quảng bá hệ thống khổng lồ các công trình sưu tập, nghiên cứu về Nguyễn Du và các kiệt tác của ông, đặc biệt là Truyện Kiều, đủ sức hòa nhịp/hội nhập với sự hiện tồn và phát triển của tri thức về văn hóa – văn học tầm nhân loại. Để thực hiện được ước vọng cấp thiết đó, đóng/giữ vai trò hạt nhân, không có lực lượng nào khác (bên cạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước) ngoài đội ngũ các thế hệ doanh nghiệp, doanh nhân.

Theo nhận thức của cá nhân tôi, sự hiện diện của giới doanh nhân và đại diện các doanh nghiệp tại cuộc tọa đàm, giao lưu với Hội Kiều học như đã và đang diễn ra, chính là minh chứng đáng khích lệ cho bước đi ban đầu, hướng đến mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng “bệ đỡ” cho sự quảng bá thân thế, sự nghiệp Đại thi hào Nguyễn Du nói riêng và di sản văn hóa – văn học, sản phẩm khoa học của Việt Nam, tới đông đảo bạn đọc trong, ngoài nước. Đó chính là sự thể hiện cụ thể nhất những hành động của một thứ văn hóa doanh nhân cao đẹp trong thời đại mới.

5. Tiếp nối không khí giao lưu khoa học trang trọng nhưng gần gũi, đồng thuận về tình cảm và nhận thức giữa các thế hệ nghiên cứu khoa học với các thế hệ doanh nghiệp, doanh nhân trong tâm thế trân quý, tự hào về sự nghiệp của Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều, trong không gian văn hóa hôm nay, có thể thêm một mong ước ở tương lai gần, Việt Nam sẽ có được một viện nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Du, về sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông, đặng sánh vai với các viện nghiên cứu về các văn hào, thi hào đã và đang thu hút trí, lực của nhân loại, như các viện nghiên cứu A. Puskin, N. Sholokhov, V. Goethe,…

Với nhận thức cá nhân, tôi tin rằng mong ước của mình, nếu có sự tham gia đích thực của các doanh nghiệp, các thế hệ doanh nhân Việt Nam, chắc chắn sẽ trở thành hiện thực.

Bùi Quang Thanh




Nguồn: Arttimes.vn

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học


“Truyện Kiều” không chỉ là di sản tinh thần vô giá của dân tộc, “Truyện Kiều” và danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du còn là đối tượng của một kho tàng nghiên cứu đồ sộ trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sự phân tán của các công trình khoa học cùng những hạn chế về điều kiện công bố, tiếp cận đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng những “bệ đỡ” bền vững cho hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, quảng bá không chỉ với “Truyện Kiều” mà cả các công trình khoa học nói chung.

1. Cho đến nay, việc thể hiện sự trân trọng, yêu quý Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều đã trở thành hoạt động mang tính văn hóa và được coi như một nếp sống tri thức đẹp, không chỉ với người Việt Nam trong nước mà còn hiện diện ở đông đảo bạn bè quốc tế.

Di cảo của Nguyễn Du đã được lan tỏa qua hàng loạt bản dịch, đến tay bạn đọc khắp các châu lục. Cũng từ đó, hàng nghìn ấn phẩm, công trình, bài báo quan tâm nghiên cứu, quảng bá về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã ra đời. Nhân loại biết đến Nguyễn Du như một biểu tượng chói sáng của nền văn học cổ điển Việt Nam, một thi nhân vĩ đại, sánh hàng với các tượng đài văn chương bất tử của nhân loại, được UNESCO đưa vào danh sách các danh nhân văn hóa thế giới, được các nước thành viên kỷ niệm trong hai năm 2014 – 2015.

Tuy nhiên, với dung lượng đồ sộ của các công trình, bài báo đã công bố liên quan đến thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Du trên hàng chục tạp chí khoa học, hàng trăm tờ báo ở Trung ương và các tỉnh thành, việc đón nhận, tìm đọc và nhận thức vốn tri thức trong đó một cách đầy đủ, với từng cá nhân là bất khả. Và đương nhiên, do vậy, vốn hiểu biết của con người đương đại về một thi hào dân tộc tất có phần hao hụt, khiếm khuyết hoặc không tránh khỏi những nhận thức so lệch hoặc sai lệch, chủ quan đáng tiếc. Đấy là chưa kể, trong ý thức tự hào về các giá trị văn hóa của dân tộc trong lòng mỗi người, vốn được kết tinh từ những tinh hoa văn hóa dân tộc, tất sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến các chuẩn mực nhân văn của xã hội hiện tại.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đã và đang đặt ra, việc đầu tư điều kiện vật chất và tinh thần để có những bộ sách sưu tầm, biên soạn một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều nói riêng, về các tác giả, tác phẩm văn chương xuất sắc của Việt Nam và thế giới nói chung, là một hoạt động lao động văn hóa cần thiết, xứng đáng được ghi nhận.

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học - 1

Tượng Đại thi hào Nguyễn Du.

2. Trong khoảng trên dưới chục năm trở lại đây, một số nhà khoa học có trí, có tâm với Nguyễn Du và Truyện Kiều đã dày công truy tìm, tập hợp và công bố những bộ tuyển tập các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, được giới nghiên cứu và đông đảo bạn đọc trong, ngoài nước nồng nhiệt đón nhận. Ấn phẩm đồ sộ đầu tiên nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều được đông đảo bạn đọc tiếp nhận và tri ân là Hai trăm năm nghiên cứu – bàn luận Truyện Kiều (Lê Xuân Lít sưu tầm, tuyển chọn. NXB Giáo dục, H., 2005, 2000 trang). Với 208 bài viết, tiểu luận khoa học viết về Truyện Kiều trong khoảng gần 200 năm, bộ sách đã cung cấp cái nhìn tổng thể và có hệ thống từ các nguồn tư liệu, các phương pháp tiếp cận và đánh giá của 158 tác giả thuộc nhiều thế hệ học giả, nhà nghiên cứu đối với Truyện Kiều

Tiếp nối bộ sách sưu tầm và biên soạn đại thành này, soạn giả Nguyễn Xuân Lam kết hợp với nhà nghiên cứu – soạn giả Lê Xuân Lít và các cộng sự lại kỳ công cho ra đời bộ sách Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI. Đón nhận bộ sách sưu tầm và tuyển chọn Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI, chắc chắn bạn đọc đều có chung cảm nhận đặc biệt về sự hiện diện một hàm lượng tình cảm và trí tuệ mới của người Việt Nam nói chung và các thế hệ học giả nói riêng với Nguyễn Du và Truyện Kiều. Bước vào thế kỷ XXI được gần 7 năm đã có thể lựa chọn được 124 tiểu luận, công trình khoa học của 97 tác giả thuộc nhiều thế hệ mà đa phần là giới nghiên cứu trung niên và trẻ tuổi, đang vươn tới độ chín của sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Truy tầm một cách công phu và lựa chọn, biên soạn một cách nghiêm túc, cẩn trọng nguồn tư liệu phong phú các bài viết từ các tạp chí chuyên ngành, các báo chí xuất bản ở Trung ương và địa phương, bên cạnh việc tiếp nhận khối lượng tham luận khoa học lớn từ hội thảo nhân kỷ niệm 240 năm sinh Nguyễn Du do Bộ Văn hóa – Thông tin tổ chức năm 2005 tại Hà Nội, các soạn giả đã xây dựng được một bố cục các nhóm công trình theo 7 phần thông thoáng, logic và chặt chẽ: Quê hương, dòng họ, gia đình và cuộc đời đại thi hào Nguyễn Du; Các vấn đề văn bản “Truyện Kiều”; Bàn về phương pháp nghiên cứu “Truyện Kiều”; Bàn về nội dung “Truyện Kiều”; Bàn về nghệ thuật “Truyện Kiều”; Trao đổi và tranh luận; “Truyện Kiều”: tiếp nhận và giao lưu quốc tế…

Có thể nói, trong kho tàng văn chương Việt Nam, chưa có tác phẩm nào như Truyện Kiều, dù đã được nghiên cứu kỳ công qua gần hai thế kỷ với hàng trăm học giả nhiều thế hệ, lại vẫn được hàng chục tác giả nghiên cứu tiếp nối những năm đầu thế kỷ XXI mà vẫn có những phát hiện, đánh giá khoa học mới mẻ, thú vị, đóng góp cho tri thức tiếp nhận tác phẩm ngày một sâu rộng và đáp ứng được yêu cầu tiếp cận hiện đại của khoa lý luận văn học đương đại và nhu cầu thưởng thức của quảng đại bạn đọc nói chung. Hàng loạt các phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được giới nghiên cứu áp dụng từ những năm cuối thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI. Người đọc thấy thú vị và hấp dẫn cũng như bị thuyết phục bởi các phương pháp nghiên cứu văn bản học mới của những Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Hữu Sơn; phương pháp nghiên cứu thi pháp học của những Trần Đình Sử, Phạm Đan Quế, Lê Xuân Lít, Mai Quốc Liên, Trịnh Bá Đĩnh; phương pháp nghiên cứu văn hóa học của Lê Nguyên Cẩn; phương pháp nghiên cứu nhân học văn hóa của Trần Nho Thìn; và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác đã được kế thừa và nâng cao như phương pháp nghiên cứu địa văn hóa, sinh thái học văn hóa, tâm lý học văn hóa… 

Đến với Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI, bạn đọc còn được tiếp nhận không ít những khám phá, phát hiện quan trọng của các nhà nghiên cứu mà hàm lượng khoa học từ đó (ở những phạm vi, cấp độ và mức độ khác nhau) có thể tác động không nhỏ đến mạch tư duy truyền thống vốn có đối với Truyện Kiều và ngay cả cách thức nhìn nhận về cuộc đời Nguyễn Du. Chẳng hạn, GS Nguyễn Tài Cẩn đã đề xuất một hướng nghiên cứu mới, thông qua chữ kị húy trong Truyện Kiều để tìm hiểu về thời điểm sáng tác của khoảng 900 câu khởi thảo đầu tiên, từ đó đi đến giả thuyết Truyện Kiều được viết trước thời Tây Sơn; Nguyễn Hữu Sơn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để truy tầm bản Kiều cổ với những phép đối sánh chặt chẽ, thuyết phục, hợp lý; Trần Nho Thìn nhận diện số phận nhân vật Truyện Kiều bằng cách tiếp cận nhân học văn hóa, điều chưa có được trong các công trình nghiên cứu từ thế kỷ trước. Giáo sư Trần Đình Sử với sự trải nghiệm của thi pháp học văn học đã đến với Truyện Kiều sâu sắc hơn, lột tả các thủ pháp nghệ thuật và tài năng nghệ thuật Nguyễn Du một cách thuyết phục và sinh động. Nguyễn Khắc Bảo lần tìm theo gia phả học để điền dã và đi đến phát hiện đại thi hào Nguyễn Du là chú vợ vua Gia Long, góp phần lý giải hợp lý cho sự kiện Nguyễn Du có lần định trốn vào nam giúp Nguyễn Ánh…

Bằng những sản phẩm khoa học đích thực được tập hợp trong công trình sưu tập này, hoàn toàn có căn cứ để nhấn mạnh rằng, chỉ bằng khoảng thời gian ngắn ngủi 5 – 7 năm đầu thế kỷ XXI, giới nghiên cứu Việt Nam đã tạo được một làn sóng mới trong/ trên tiến trình nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều, góp phần bổ sung và làm giàu thêm tri thức của người đọc hậu sinh với Truyện Kiều. Một điểm sáng nữa từ bộ sách này là hệ thống các bài viết về quá trình tiếp nhận và giao lưu giữa Truyện Kiều với quốc tế. Những nguồn tư liệu của Từ Thị Loan, Phan Mậu Cảnh và một số học giả nước ngoài như Ahn Kyong Hwan và Ngô Ngọc Ngũ Long đã mở ra một không gian mới, cần thiết được đặt ra và quan tâm nghiên cứu, giới thiệu khi Truyện Kiều cùng di sản văn học Việt Nam đã và đang trên đường hội nhập vào kho tàng văn hóa nhân loại.

Bên cạnh năng lực cảm thụ vốn là một trong những thuộc tính của quá trình tiếp nhận văn chương, các phương pháp nghiên cứu từ góc độ khảo sát văn bản, thể loại, thi pháp, thống kê, văn hoá học, so sánh loại hình lịch sử, quy luật tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được chú ý đúng mức. Ở đây cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của bộ môn văn học so sánh bởi lẽ đã nói đến Truyện Kiều là đương nhiên phải bàn đến vấn đề nguồn gốc cốt truyện và việc Nguyễn Du đã tiếp nhận, chuyển hoá, sáng tạo như thế nào. Trên cả hai chiều hướng nghiên cứu so sánh các mối quan hệ trực tiếp (Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện, Truyện Kiều với Hoa tiên và các truyện thơ Nôm Việt Nam…), so sánh các điểm tương đồng (Truyện Kiều trong truyền thống truyện thơ Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc…) đã góp phần soi sáng giá trị và chiều sâu phương thức sáng tạo Truyện Kiều, đặt thi phẩm trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học chuyên sâu và nâng tầm lên bình diện mối quan hệ, giao lưu văn hoá quốc tế.

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học - 2

Một ấn phẩm nghiên cứu về Nguyễn Du và “Truyện Kiều”.

3. Nhìn vào “môi trường” hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn nói chung và nghiên cứu Nguyễn Du cùng kiệt tác Truyện Kiều nói riêng, bên cạnh chuyện “bếp núc” của các nhà nghiên cứu và các soạn giả, những chục năm gần đây, có thể sơ bộ nhận diện một số vấn đề.

Một là, cho đến nay, với hàng nghìn công trình, bài báo (ở những cấp độ, mức độ, phạm vi và các giác độ tiếp cận khác nhau) đã công bố liên quan đến thân thế, sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du và các kiệt tác của ông, những thế hệ đương đại muốn có thêm những phát hiện mới, có giá trị khoa học và thực tiễn là cực kỳ khó khăn. Ấy vậy mà, thông qua bộ sách tập hợp các công trình nghiên cứu đầu thế kỷ XXI, như được giới thiệu sơ lược trên đây, không khó để đi đến đồng thuận cho sự kính trọng và tri ân với công sức trí tuệ và tâm thức của cá nhân các nhà khoa học, mang lại những giá trị không chỉ riêng đối với Thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều, mà còn có giá trị lớn đối với sự nghiệp phát triển văn hóa khoa học của cả nước.

Tuy nhiên, việc làm ra sản phẩm khoa học đã khó, việc có được điều kiện công bố, xuất bản các công trình đó trong điều kiện xã hội hiện tại, cũng khó khăn không kém. Soạn giả Lê Xuân Lít đã từng tâm sự với tác giả bài viết này: Ông âm thầm tiến hành bộ sưu tập các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều trước hết xuất phát từ ý thức yêu quý, kính trọng Nguyễn Du, trân quý di sản văn học – văn hóa của dân tộc. Bởi vậy, để thực hiện ý nguyện của mình, soạn giả Lê Xuân Lít đã vượt qua thiếu thốn khó khăn về vật chất, trích đồng lương ít ỏi của mình để “thuê” con cháu trong nhà cùng sưu tập, đánh máy và hoàn thiện bản thảo. Lại quan hệ với bè bạn chí cốt để vay mượn kinh phí đứng ra xuất bản. Kết quả tự phát hành để “hòa” số vốn đã chi ra, với ông, được coi là sự may mắn! Cái được vô hình, vô giá lại nằm ở nguồn tri thức khoa học từ những bộ sách đồ sộ kia đến với bạn đọc xa gần, trong, ngoài nước.

Ước mong khiêm tốn và dung dị là vậy, thế nhưng, số lượng các bộ sách được xuất bản, như đã thấy, lại quá ít ỏi, vừa do thiết chế, vừa do kinh phí, mới dừng ở con số hàng trăm, điều đó thật đáng tiếc!

Hai là, với người dân trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam, từ hàng trăm năm nay, hầu hết mọi thế hệ đều hướng đến Nguyễn Du và Truyện Kiều với ý thức và tâm thức không chỉ thể hiện sự kính phục về tài năng sáng tạo của Đại thi hào, mà còn là, coi các kiệt tác do ông sáng tạo ra là tấm gương, khuôn mẫu điển hình để nhận thức, học tập, ứng dụng tri thức làm người, hiểu biết về quy luật của thời thế, số phận, đặng tìm cho mình một cách ứng xử phù hợp nhất, khả dĩ ứng phó với mọi hoàn cảnh, và nâng tầm những tri thức ẩn tàng trong kiệt tác của Nguyễn Du lên hàng tâm linh độc đáo.

Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, hầu hết các thế hệ, cá nhân đến với Nguyễn Du và Truyện Kiều đều dường như mới chỉ chủ yếu xuất phát từ ý thức cá nhân, chủ yếu thẩm thấu và nhận biết tri thức trong tác phẩm bằng vốn tri thức chủ quan của mình. Với thực tế của con số đầu sách được xuất bản (giới hạn ở loại sách nghiên cứu về Nguyễn Du và các kiệt tác của ông) lâu nay, đa số bạn đọc/người dân không thể/không có điều kiện (và dù có điều kiện về mặt kinh tế đi nữa) để được đón nhận các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều một cách cập nhật, có hệ thống, những mong được tiếp nhận những nguồn tri thức khoa học để nâng tầm hiểu biết của mình về Nguyễn Du và Truyện Kiều ngày một sâu sắc hơn, chân xác hơn.

Ba là, cho đến nay, Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du đã được quan tâm dịch thuật, xuất bản tại nhiều nước trên thế giới. Bạn bè quốc tế đã nhờ đọc Nguyễn Du, qua thiên tài sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du mà góp phần hiểu biết Việt Nam sâu sắc hơn, kính trọng nền văn hóa – văn học Việt Nam đa dạng, xứng tầm hơn. Tuy nhiên, thông qua các bản dịch tác phẩm Truyện Kiều, dù dịch giả có siêu đẳng đến đâu, chắc chắn cũng không thể lột tả được nội dung và giá trị nghệ thuật thiên tài của Nguyễn Du cho bạn đọc nước ngoài hiểu, biết được. Vì vậy, bạn đọc quốc tế nếu như được tiếp cận với bản dịch từ/trong số hàng trăm, hàng nghìn công trình, bài báo khoa học của giới nghiên cứu Việt Nam về Nguyễn Du cùng các kiệt tác của ông, chắc chắn, tầm nhận thức và ý thức của bạn đọc quốc tế về Nguyễn Du, về Truyện Kiều (và về nền văn học – nghệ thuật Việt Nam nói chung) sẽ được nâng cao gấp bội. Đương nhiên, ước vọng dịch thuật các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du và sáng tạo nghệ thuật của ông cho bạn đọc quốc tế trong điều kiện “hội nhập toàn cầu” hiện nay, có lẽ đã và đang đặt ra một dấu hỏi lớn.

Xây những “bệ đỡ” bền vững cho các công trình khoa học - 3

Một ấn phẩm nghiên cứu và bàn luận về “Truyện Kiều”.

4. Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu khoa học và sức sống của thân thế và sự nghiệp Đại thi hào Nguyễn Du trong cộng đồng bạn đọc trong, ngoài nước, như đã gợi mở sơ lược trên đây, có thể nghĩ rằng, đã đến lúc phải hướng đến việc xây dựng “bệ đỡ” bền vững cho sự phổ biến, quảng bá hệ thống khổng lồ các công trình sưu tập, nghiên cứu về Nguyễn Du và các kiệt tác của ông, đặc biệt là Truyện Kiều, đủ sức hòa nhịp/hội nhập với sự hiện tồn và phát triển của tri thức về văn hóa – văn học tầm nhân loại. Để thực hiện được ước vọng cấp thiết đó, đóng/giữ vai trò hạt nhân, không có lực lượng nào khác (bên cạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước) ngoài đội ngũ các thế hệ doanh nghiệp, doanh nhân.

Theo nhận thức của cá nhân tôi, sự hiện diện của giới doanh nhân và đại diện các doanh nghiệp tại cuộc tọa đàm, giao lưu với Hội Kiều học như đã và đang diễn ra, chính là minh chứng đáng khích lệ cho bước đi ban đầu, hướng đến mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng “bệ đỡ” cho sự quảng bá thân thế, sự nghiệp Đại thi hào Nguyễn Du nói riêng và di sản văn hóa – văn học, sản phẩm khoa học của Việt Nam, tới đông đảo bạn đọc trong, ngoài nước. Đó chính là sự thể hiện cụ thể nhất những hành động của một thứ văn hóa doanh nhân cao đẹp trong thời đại mới.

5. Tiếp nối không khí giao lưu khoa học trang trọng nhưng gần gũi, đồng thuận về tình cảm và nhận thức giữa các thế hệ nghiên cứu khoa học với các thế hệ doanh nghiệp, doanh nhân trong tâm thế trân quý, tự hào về sự nghiệp của Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều, trong không gian văn hóa hôm nay, có thể thêm một mong ước ở tương lai gần, Việt Nam sẽ có được một viện nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Du, về sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông, đặng sánh vai với các viện nghiên cứu về các văn hào, thi hào đã và đang thu hút trí, lực của nhân loại, như các viện nghiên cứu A. Puskin, N. Sholokhov, V. Goethe,…

Với nhận thức cá nhân, tôi tin rằng mong ước của mình, nếu có sự tham gia đích thực của các doanh nghiệp, các thế hệ doanh nhân Việt Nam, chắc chắn sẽ trở thành hiện thực.

Bùi Quang Thanh




Nguồn: Arttimes.vn

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng


Không còn bản tiêu chuẩn, Hyundai Stargazer mới chốt giá từ 569 triệu đồng tại Việt Nam.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp ra mắt tại Việt Nam, không còn bản tiêu chuẩn, thiết kế “SUV hóa” và định vị lại nhóm khách hàng.  So với trước, mẫu MPV này không còn phiên bản tiêu chuẩn giá thấp. Đồng thời, giá bán của các phiên bản hiện tại cũng tăng nhẹ, khoảng hơn 10 triệu đồng.

Ở thế hệ mới, Hyundai Stargazer được làm mới toàn diện theo hướng gần với phong cách SUV. Phần đầu xe thay đổi rõ rệt với lưới tản nhiệt, cụm đèn chiếu sáng và cản trước được tinh chỉnh. Khu vực phía sau cũng được thiết kế lại, tạo tổng thể đồng nhất hơn so với phiên bản trước.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng - 1

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp ra mắt tại Việt Nam.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng - 2

Hyundai Stargazer được làm mới toàn diện theo hướng gần với phong cách SUV.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng - 3

Cụm đèn chiếu sáng và cản trước trên xe được tinh chỉnh.

Với thiết kế mới và mức giá cập nhật, Hyundai Stargazer 2026 được kỳ vọng sẽ tăng sức cạnh tranh trong nhóm MPV 7 chỗ dành cho gia đình. Phân khúc này hiện có sự góp mặt của nhiều mẫu xe như Kia Carens hay Honda BR-V, tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng rõ nét.

Không gian nội thất Stargazer 2026 được nâng cấp theo hướng hiện đại hóa. Xe sử dụng màn hình kép nối liền kích thước 10,25 inch, đi kèm cần số sau vô lăng, cụm điều khiển dạng núm xoay và hệ thống âm thanh mới. Nhiều chi tiết thiết kế và trang bị trên xe có sự tương đồng với các mẫu như Tucson và Creta.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng - 4

Không gian nội thất Stargazer 2026 được nâng cấp theo hướng hiện đại hóa.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng - 5

Hyundai Stargazer được trang bị khối động cơ Smartstream, dung tích 1.5L, cho công suất 115 mã lực và mô-men xoắn 144 Nm. Xe đi kèm hộp số iVT với cơ chế giả lập 8 cấp và hỗ trợ 4 chế độ lái, đáp ứng đa dạng điều kiện vận hành.

Việc loại bỏ phiên bản giá rẻ và tăng giá các bản còn lại cho thấy Hyundai đang thay đổi định hướng với Stargazer. Mẫu xe dường như không còn tập trung vào nhóm khách hàng chạy dịch vụ, mà chuyển sang hướng đến người dùng cá nhân và gia đình.

Trong bối cảnh phân khúc MPV phổ thông chịu áp lực cạnh tranh từ các mẫu xe điện như VinFast Limo Green hay BYD M6, việc điều chỉnh chiến lược sản phẩm được xem là bước đi phù hợp.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng - 6

Hyundai Stargazer được trang bị khối động cơ Smartstream, dung tích 1.5L.

Hyundai Stargazer phiên bản nâng cấp, giá 569 triệu đồng - 7

Xe sử dụng màn hình kép nối liền kích thước 10,25 inch.

Mức giá bán được Hyundai Thành Công công bố cho Stargazer thế hệ mới tại Việt Nam như sau:

Phiên bản

Giá niêm yết (triệu đồng)

Stargazer Đặc biệt

569

Stargazer Cao cấp

615



Nguồn: Arttimes.vn

Cõi lòng Đỗ Quảng (Đọc “Những lời nói thật”, thơ Đỗ Quảng, NXB Hội Nhà văn, năm 2025)


“Những lời nói thật” – thi phẩm mới nhất của nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng. Một tên sách không hẳn là thơ nhưng có sức nặng của chân lý và lấp lánh vẻ đẹp khó cưỡng của niềm tin.

Tôi đọc Những lời nói thật không với tư cách và tâm trạng của nhà lý luận phê bình hay nhà thơ soi chiếu những quy phạm của thể loại hay đi sâu vào nghệ thuật thi pháp. Tôi cảm nhận “cõi lòng tác giả”. 

Với tư cách của một nhà báo lừng danh bề dày vốn sống và kinh nghiệm, sự từng trải hết sức phong phú, Đỗ Quảng có thừa bản lĩnh, lòng dũng cảm và sự khôn khéo để “nói thật” những chuyện không dễ nói, và rất nhiều người không dám nói. Với tư cách một nhà thơ, bước vào ngưỡng đời U90, Đỗ Quảng đã sống đủ, biết đủ, đau đủ chuyện nhân tình thế thái. Ông mang trong mình nỗi cô đơn khổng lồ, thậm chí ở đâu đó cả sự bất lực trước thói đời nhố nhăng, trắng đen lẫn lộn, chân giả bất phân. Và vượt lên trên tất cả là tấm lòng với dân với nước, với cuộc đời bằng trách nhiệm, phẩm hạnh của kẻ sĩ mà phải “nói thật”.

Cổ nhân từng dạy: “thơ hay cốt ở tấm lòng”. Trước hết những điều gửi gắm vào thơ phải là những rung cảm thật sự chân thành, những lời thốt ra từ gan ruột của một ngọn bút, một công dân có trách nhiệm. Những lời nói thật đã đạt tới cái “hay” ấy.

Cao hơn thế là sự thể hiện quan điểm yêu ghét rõ ràng, tính chiến đấu với bất công, giả dối, tiêu cực, lừa đảo và thói vô trách nhiệm của không ít người có chức có quyền. Ngọn bút Đỗ Quảng sắc lẹm: “Thằng đánh trống/ Thằng thổi kèn/ Trò vui thiên hạ/ Ăn mày dĩ vãng/ Tự quét vôi xanh/ Túm tóc kéo đầu/ Làm đẹp cho mình/ Khoe mẽ thiên hạ/ Ta bậc thánh nhân… Mặt thật/ Thò lò quay tít/ Xúc xắc đổi màu/ Một vòng tròn lừa đảo” (Xúc xắc đổi mầu).

Cõi lòng Đỗ Quảng (Đọc “Những lời nói thật”, thơ Đỗ Quảng, NXB Hội Nhà văn, năm 2025) - 1

Tập thơ “Những lời nói thật”.

Lời nói thật không cần vịn dựa vào mĩ từ hay núp bóng câu chữ mơn trớn cốt cho đẹp lòng. Tác giả chỉ thẳng vào thực trạng nói một đằng làm một nẻo, nạn tham nhũng, vô trách nhiệm của không ít kẻ tự mình vỗ ngực: “hết lòng phục vụ nhân dân” mà bàn tay luôn nhơ bẩn: “Líu lo như chim hót/ Rặt lời vàng ngọc/ Cán bộ phải gần dân/ Cán bộ phải lắng nghe dân/ Cán bộ phải vì dân/ Có lợi cho dân thì làm/ Nước trôi đổ đầu vịt/ Bố đánh trống, con thổi kèn… Sống như cha thiên hạ/ Ăn được gì cứ ăn/ Mấy con sâu đục thân/ Nhận rõ bộ mặt thật/ Tấn trò đời xấu hổ” (Mặt thật). Nhà thơ đau nỗi đau của những người bình thường, chỉ thẳng mặt một vị dân biểu lái xe đâm chết người rồi bỏ chạy. Nhờ chức tước xuông ta có thể thoát tội, nhưng trước công luận kẻ đó phải đối mặt với sự phán xét nghiêm khắc: “Giấu mặt đi đâu ông đại biểu này?/ Diễn đàn thuyết lý thu phục lòng dân/ Sống trong đời/ Dù là ai cũng thượng tôn pháp luật/ Ông nói vậy mà không sống vậy…Thái độ hèn/ Trái tim vô cảm/ Khí chất đàn ông chó gặm/ Mang danh đại biểu của dân càng tồi tệ/ Miêng nói vậy mà sống không vậy/ Làm sao dân trọng dân tin?” (Nói vậy mà không sống vậy). 

Bước vào miền thơ của Đỗ Quảng tôi có cảm giác như đi vào xưởng tạo hình đầy những hình khối điêu khắc tạo tác hối hả vâm váp, có chỗ thô mộc nhưng ánh lên vẻ đẹp nguyên khối của ngọc, của đá quý. Và hôi hổi nóng bởi hầu hết các bài thơ trong tập đều sáng tác trong năm 2024 và 2025. Tức là nói về chính những ngày chúng ta đang sống.

Bên cạnh những bài thơ thế sự là một miền thơ cảm hoài, nỗi đời của một người giầu lòng trắc ẩn, của sự cô đơn khó giãi bày, cùng nỗi đau nhân thế: “Đêm nằm nghe mọt kêu/ Vân vi tự hỏi mình/ Đời nhiễu nhương/ Đạo đức suy vi/ Tin ai?” (Vô đề 9). Hay: “Đêm chưa qua/ Ào ào gió hú, như tiếng ai gọi/ Hương tỏa khói nhang, trăm nghìn ngọn nến/ Bạt ngàn ngôi mộ lấp lóa sao đêm… Nửa thế kỷ rồi/ Lính nơi nghĩa trang vẫn tuổi hai mươi/ Đồng đội gặp lại đã già tất cả” (Vô đề 10). Và trước mất mát lớn của đất nước, của mỗi người khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời: “Dân đổ ra đường chào tiễn Bác Trọng về Mai Dịch/ Đồng bào muôn nơi/ Cụ già, con trẻ, thương binh xe lăn, chân giả nạng gỗ… Cúi lạy thương tiếc Người đi xa/ Những con mắt đỏ hoe/ Những dòng lệ nhòe/ Những tiếng khóc nghẹn… Linh xa qua rồi/ Người người nhìn theo/ Lệ lòng xót xa/ Trong tim người ở lại” (Đêm đau thương). Bên nỗi lo chung là niềm riêng, rất riêng của bậc làm cha, khi mình tuổi đã cao, con gái còn nhỏ, bao nỗi riêng chung đành giấu vào trong dạ để không làm ảnh hưởng tới sự hồn nhiên của con:“Đêm khuya/ Phòng con đèn tắt/ Bố ngồi bàn cầm bút/ Mấy dòng thơ ứa ra từ nước mắt/ Nỗi đau lặn vào trong, nhìn ngoài đâu thấy/ Đôi mắt cười xóa đi tất cả/ Giấu trong tim mọi đắng cay/ Cứ vậy mà sống/ Cứ vậy vui buồn/ Con chữ bờ vai ta vịn đứng dậy/ Như chiếc gậy thần dìu bước chân” (Một mình). Đỗ Quảng vịn vào con, vịn vào chữ, vịn vào sự thật mà đứng lên mà bước tiếp trong chuỗi ngày nặng gánh trần ai.

Thơ Đỗ Quảng đạt tới sự chân thành và tấm lòng trung tín. Ông đa đoan đắm đuối cùng thơ nhưng không cầu kỳ triết luận, đại ngôn. Không câu nệ lắm đến việc tu từ. Mỗi câu chữ toát lên bản lĩnh an nhiên tự tại, một quan niệm sống lão thực, một trách nhiệm đã hoàn thành ở cái thời khắc “sống gửi” của kiếp người và sẵn sàng đón nhận phút “thác về”.

Trong Những lời nói thật không ít lần ông nhắc tới cái chết, tới lúc rời xa cõi tạm và chuẩn bị đón nhận nó bằng một tấm thế bình thản, dù tâm sự với bạn hay tự nói với mình: “Sáng tỉnh dậy, tinh khôi ta thấu hết/ Mai kia về trời/ Cái tốt cái đẹp cái yêu thương mang theo/ Cái xấu cái bẩn cái buồn bỏ lại/ Ngẫm tận cùng: Cõi tạm một cuộc rong chơi” (Qua đêm). Không chỉ chuẩn bị trong tâm thế, Đỗ Quảng tự viết điếu văn cho mình, bởi ông rất kỵ những lời tiễn biệt sáo rỗng, ca ngợi người nằm xuống ai cũng giống ai, không khác gì một bản liệt kê thành tích đầy tâng bốc, dối trá, ông đã xây cho mình nơi an nghỉ tại nghĩa trang Thiên Đức trên vùng đất Tổ vua Hùng.

Cõi tạm với ông như một cuộc rong chơi và chuyến đi tìm đất đặt sinh phần cũng như một chuyến du hý, có phần hớn hở, rất vui:“Tìm chỗ cuối, sau những năm dài tất tả/ Nơi an lạc dưới mái nhà riêng/ Giấc ngủ dài ấm chỗ  mình nằm… Đêm ngày ngửa mặt ngắm sao, nhìn trời/ nắng mưa dông bão mặc đời/ Vẫn nghe chuông đổ ngọt ru cõi lòng/ Kiếp người sắc sắc không không… Ngàn thu về nơi đất Tổ, hạnh phúc nào hơn” (Chỗ ở cuối).  Sự bình tĩnh ấy lan sang con gái út Cà Rốt: “Điềm gì báo mà con gái hỏi bố/ Chủ nhật tới có đi xem mộ được không/ Bố thích nơi nào dừng chân cuối đời” (Đi xem mộ). Một chi tiết nhỏ thôi nhưng hẳn ông cũng vợi bớt nhiều nỗi lo. Người thân của ông, con gái ông sẽ không bị bất ngờ, sẽ bình tĩnh chấp nhận điều không thể tránh được.

Cõi lòng Đỗ Quảng (Đọc “Những lời nói thật”, thơ Đỗ Quảng, NXB Hội Nhà văn, năm 2025) - 2

Nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng (bìa trái) và tác giả bài viết – nhà văn Nguyễn Trọng Tân (bìa phải).

Tôi quen nhà báo Đỗ Quảng từ hơn 50 năm trước, khi tôi bắt đầu vào nghề báo ở tờ Thông tin. Năm 1983, tôi phụ trách tờ Tuổi trẻ Thủ đô, nhà báo Đỗ Quảng đã cộng tác với tư cách cố vấn. Anh em tôi có nhiều chuyến đi và đã từng “chiến đấu” với một nhóm người muốn biến nhà thờ dòng họ Nguyễn Đình ở xã Ninh Hiệp thành di tích lịch sử mang danh đền thờ công chúa Ngọc Hân. Ý đồ này được một vài nhà sử học và mấy vị có chức tước ở Bộ Văn hóa khi ấy tiếp tay, gây nên rối ren trong dòng họ và mất trật tự tại địa phương. Người dân trong xã định kéo sang kiến nghị Thành ủy Hà Nội, phản đối ý đồ dựng di tích giả để trục lợi. Nhà báo Đỗ Quảng lập đăng một bài phóng sự điều tra của tôi vạch rõ âm mưu “đánh lận con đen ấy” trên báo Nhân dân. Và tình hình đã được vãn hồi.

40 năm làm phóng viên đặc biệt báo Nhân dân, chuyên về mảng bài phóng sự điều tra, mảng bài khó nhất và cần sự dũng cảm nhất, Đỗ Quảng đã lập nên thành tựu khó nhà báo nào sánh kịp. Ông đã đúc kết chặng đường gian nan ấy trong nhiều cuốn sách, chỉ nghe cái tên thôi cũng đã nể phục: Sống thật như máu; Nước mắt nụ cười; Ba mươi năm phóng sự… Ông còn là cây bút văn xuôi, biên kịch điện ảnh sáng giá với nhiều tác phẩm trình làng. Và thật không ngạc nhiên khi Đỗ Quảng dan díu với thơ. Đọc Thương lắm Sài Gòn ơi; Vui buồn tháng tư tới Những lời nói thật ta nhận ra một điệu tâm hồn nhất quán nỗi yêu người, thương đời bằng một thái độ sống tích cực, một quan niệm xuất xứ đầy trách nhiệm. Với bản lĩnh ấy, khí chất ấy, cách nhìn đời ấy của một cây phóng sự lọc lõi ông đã phổ vào thơ sự hàm súc về tứ, sự tinh tế cô đọng về từ ngữ. Câu thơ ngắn nhưng ý rất dài và sâu. Lại có bài mang vóc dáng của một trường ca. Đọc xong, nhắm mắt lại cảm giác thơ ông như một mũi lao tốc ký thời đại, một phóng sự văn chương về cõi nhân sinh. Khối tích tụ cảm xúc cuộn trào nhiều khi không theo một niêm luật, cấu tứ nào mà lại tạo nên cảm hứng thi ca mãnh liệt. Đó chính là sức nặng và làm nên sự khác biệt của thơ Đỗ Quảng.

Chỉ sau một tuần lễ, khi có quyết định phát hành, Những lời nói thật đã bán được gần 900/1000 cuốn lần xuất bản đầu. con số vô cùng ấn tượng. Nghe đâu nhà thơ Đỗ Quảng đang chuẩn bị tái bản tập thơ này chỉ cách cuốn trước chưa đến một tháng. Một hiện tượng có một không hai đối với tác phẩm văn chương, đặc biệt với thơ. Một tín hiệu rất vui, cũng là một tín hiệu khiến ta phải suy nghĩ. Thơ xưa nay hầu như bị mặc định in ra chỉ để biếu tặng. Những điều nói thật đã chứng minh ngược lại. Bạn đọc đâu có quay lưng với thơ. Nhưng điều bạn đọc cần là thơ đừng bay lượn, chấp chới trên nỗi bần hàn, xa lạ với nỗi lòng của người dân, mà phải nói hộ tâm trạng, suy nghĩ nguyện vọng của họ. Những lời nói thật đã làm được điều đó, trở thành tiếng lòng của nhân quần vì thế nó được sẵn lòng đón nhận. 

Nguyễn Trọng Tân




Nguồn: Arttimes.vn

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” – Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026


Trong hai ngày 10 và 11 tháng 1 năm 2026, tại không gian phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm (Hoàn Kiếm – Hà Nội), Thành phố Hà Nội tổ chức chương trình “Tụ hội Sáng tạo”, nhằm kết nối các nguồn lực sáng tạo, khơi gợi các ý tưởng, mở đầu cho hành trình hướng tới Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội diễn ra vào tháng 11/2026.

Chương trình “Tụ hội sáng tạo” là hoạt động chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV nhiệm kỳ 2026 – 2031 và thực hiện các nhiệm vụ Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 22/12/2024 xác định phát triển Khoa học, Công nghệ, Đổi mới Sáng tạo và Chuyển đổi số. Đây cũng là dịp khởi động các nhiệm vụ trọng tâm, đặt nền móng cho quá trình xây dựng hệ sinh thái sáng tạo đô thị Hà Nội bắt đầu từ Lễ hội 2026.

Chương trình do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Hội Kiến trúc sư Việt Nam chỉ đạo, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội và Tạp chí Kiến trúc là đơn vị tổ chức, với sự đồng hành của UNESCO, tập đoàn SOVICO và tổ chức UN-Habitat.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 1

Đại biểu tham dự Lễ khởi động Chương trình “Tụ hội sáng tạo”.

Tại Lễ khởi động Chương trình, tổ chức tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hoàn Kiếm – Hà Nội) vào tối 10/1, ông Jonathan Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam nhấn mạnh, với tư cách là Thành phố Sáng tạo về Thiết kế của UNESCO, Hà Nội đã thể hiện một cách rõ ràng và kiên định rằng sáng tạo không chỉ đơn thuần là biểu đạt văn hóa. Thông qua các chính sách phù hợp, các chương trình hỗ trợ có trọng tâm, cùng sự tham gia tích cực của các cơ quan nhà nước, đối tác khu vực tư nhân và các cá nhân sáng tạo, Hà Nội đang từng bước khẳng định vị thế là một trung tâm sáng tạo đang phát triển và là điểm gặp gỡ của sáng tạo tại châu Á.

Theo ông Jonathan Baker, kể từ khi được khởi xướng vào năm 2021, Lễ hội Thiết kế Sáng tạo đã không ngừng phát triển để trở thành một điểm gặp gỡ của cộng đồng sáng tạo, không chỉ trong phạm vi Việt Nam mà ngày càng mở rộng ra toàn khu vực.

Đây là nền tảng nơi các ý tưởng ở mọi giai đoạn – từ những phác thảo ban đầu cho đến các sáng kiến đang triển khai – đều có cơ hội được nhìn thấy, lắng nghe, nuôi dưỡng và hỗ trợ. Sự kiện “Tụ hội Sáng tạo” hôm nay chính là minh chứng rõ nét cho tinh thần ấy, là nơi kết nối con người, lĩnh vực và góc nhìn khác nhau để gợi mở đối thoại, hợp tác và đổi mới sáng tạo.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 2

Ông Jonathan Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam phát biểu tại Lễ khởi động chương trình.

Bà Vũ Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, chương trình “Tụ hội Sáng tạo” là bước khởi động cho Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 theo hướng tiếp cận chủ động hơn, hiệu quả hơn, nâng tầm quy mô và mở rộng hợp tác quốc tế. Các hoạt động sẽ được triển khai trong suốt một năm theo một hành trình xuyên suốt.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 3

Bà Vũ Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội phát biểu.

Về Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội năm nay, Bà Vũ Thu Hà cho rằng, việc lựa chọn chủ đề “Kinh tế sáng tạo” là cách tiếp cận mới trong triển khai các nội dung của Thành phố Sáng tạo, không dừng lại ở các lĩnh vực văn hóa, di sản mà xem sáng tạo như một nguồn lực phát triển, góp phần thúc đẩy các ngành dịch vụ, du lịch, giáo dục – đào tạo và những lĩnh vực kinh tế gắn với tri thức, đổi mới, sáng tạo.

“Thành phố Hà Nội mong muốn tạo thêm những không gian sáng tạo sống động cho người dân và du khách; khơi thông nguồn lực sáng tạo trong xã hội và từng bước nâng cao sức hấp dẫn, bản sắc cũng như năng lực cạnh tranh của thành phố trong khu vực và trên trường quốc tế”, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội khẳng định.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 4

Các đại biểu thực hiện nghi thức khởi động Chương trình.

Lễ khai mạc chương trình “Tụ hội Sáng tạo” được tiếp nối với chương trình nghệ thuật với chủ đề “Tứ hải giao tình”, chương trình tôn vinh tinh thần sáng tạo gắn với bản sắc văn hóa Thủ đô, thể hiện sự giao thoa giữa truyền thống và đương đại trong dòng chảy hội nhập quốc tế.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 5

Chương trình nghệ thuật “Tứ hải giao tình”.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” với sự tham gia của hơn 200 đơn vị sáng tạo là nơi gặp gỡ phát huy tinh thần sáng tạo đổi mới trong cộng đồng sáng tạo, đồng thời là nơi gặp gỡ, kết nối và trao đổi hợp tác giữa các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý văn hóa và các đối tác sáng tạo, hình thành mạng lưới liên kết đa chiều, hỗ trợ phát triển các sáng kiến, sản phẩm và mô hình công nghiệp văn hóa trong hệ sinh thái sáng tạo của Thủ đô.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 6

Các đại biểu tặng hoa cho các đơn vị đồng hành.

Các hoạt động của chương trình nhằm giới thiệu các sáng kiến của cộng đồng sáng tạo – thuộc 8 lĩnh vực công nghiệp văn hoá, tôn vinh tinh thần sáng tạo và các giải pháp đổi mới trong cộng đồng sáng tạo; Giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hoá có tính thiết kế, thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật; Giới thiệu Đề án Khảo sát các không gian tiềm năng trở thành không gian sáng tạo và trung tâm công nghiệp văn hóa trong thành phố; Hoạt động gặp gỡ, kết nối và trao đổi hợp tác giữa các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý văn hóa và các đối tác sáng tạo.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 7

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” có sự tham gia của hơn 200 đơn vị sáng tạo.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 8

Các hoạt động trong khuôn khổ chương trình thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng.

Không dừng lại ở hai ngày hoạt động, chương trình sẽ mở ra chuỗi hoạt động sáng tạo diễn ra trong suốt năm 2026, bao gồm các hoạt động kết nối, đối thoại, thử nghiệm và trải nghiệm sáng tạo tại nhiều không gian đô thị của Thủ đô.

Trong khuôn khổ chương trình, sáng 10/1, triển lãm tranh “Chất Địa Phương” đã chính thức khai mạc tại Trung tâm Thông tin Văn hóa Hồ Gươm. Triển lãm mở cửa miễn phí từ ngày 10 đến 18/1/2026, giới thiệu 89 tác phẩm tiêu biểu tôn vinh bản sắc văn hóa Việt qua góc nhìn sáng tạo của các họa sĩ trẻ.

Chương trình “Tụ hội Sáng tạo” - Hành trình đến Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2026 - 9

Một góc trưng bày tại Nhà Bác Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ.

Cùng với đó, tại Nhà Bác Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ là cụm trưng bày và triển lãm giới thiệu thành tựu các mùa Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội, là điểm nhấn kiến trúc và nơi diễn ra các hoạt động trao đổi chuyên đề về di sản và sáng tạo.

Huyền Thương




Nguồn: Arttimes.vn

Hai kiệt tác ballet Nga “Romeo and Juliet”, “Kẹp hạt dẻ” đến với khán giả Hà Nội


Hai tác phẩm ballet kinh điển: “Romeo and Juliet” và “The Nutcracker” (Kẹp hạt dẻ) sẽ được các nghệ sĩ nhà hát Russian State Ballet biểu diễn trên sân khấu của nhà hát Hồ Gươm trong ba đêm 25, 26 và 27/3. Đây là cơ hội để công chúng Thủ đô thưởng lãm vẻ đẹp của ballet cổ điển Nga ngay giữa lòng Hà Nội.

Tác phẩm ballet Romeo and Juliet được chuyển thể từ kiệt tác văn học kinh điển của William Shakespeare, với phần âm nhạc giàu kịch tính của Sergei Prokofiev. Tác phẩm là sự hòa quyện, đan cài giữa bi kịch tình yêu bất tử và ngôn ngữ hình thể mãnh liệt, nơi những “pas de deux” – một màn vũ điệu dành cho hai vũ công (thường là một nam và một nữ), được xây dựng như điểm nhấn quan trọng trong vở diễn tinh tế, cùng với cách bài trí sân khấu, phục trang, tái hiện trọn vẹn tinh thần lãng mạn và xung đột dữ dội đầy kịch tính của câu chuyện tình yêu.

Hai kiệt tác ballet Nga “Romeo and Juliet”, “Kẹp hạt dẻ” đến với khán giả Hà Nội - 1

Một cảnh trong vở “Romeo & Juliet”. Ảnh: BTC

Cùng với Romeo and Juliet, trong dịp này nhà hát Russian State Ballet còn giới thiệu tới công chúng tác phẩm The Nutcracker (Kẹp hạt dẻ) – tuyệt phẩm ballet kinh điển với phần âm nhạc của Pyotr Ilyich Tchaikovsky. Các nghệ sĩ sẽ đưa khán giả bước vào thế giới cổ tích rực rỡ sắc màu, nơi trí tưởng tượng thăng hoa trong những điệu múa đặc trưng của ballet Nga cổ điển. Với cấu trúc dàn dựng chuẩn mực, kỹ thuật biểu diễn điêu luyện, tác phẩm là minh chứng cho vẻ đẹp trường tồn của nghệ thuật ballet hàn lâm.

Hai kiệt tác ballet Nga “Romeo and Juliet”, “Kẹp hạt dẻ” đến với khán giả Hà Nội - 2

Một cảnh trong vở “The Nutcracker”. Ảnh: BTC

Chương trình lần này không chỉ tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn bền bỉ của ballet Nga trong đời sống thưởng thức nghệ thuật tại Việt Nam, mà còn góp phần làm sâu sắc hơn những kết nối văn hóa giữa hai quốc gia trong bối cảnh hội nhập ngày càng rộng mở. Đồng thời góp phần thúc đẩy sự lan tỏa của nghệ thuật hàn lâm, khơi mở thêm nhiều cơ hội hợp tác, trao đổi sáng tạo trong tương lai.

Hai kiệt tác ballet Nga “Romeo and Juliet”, “Kẹp hạt dẻ” đến với khán giả Hà Nội - 3

Các tác phẩm sẽ được biểu diễn tại nhà hát Hồ Gươm trong ba đêm 25, 26 và 27/3. Ảnh: BTC

Được thành lập năm 1981, nhà hát Russian State Ballet là một trong những đơn vị uy tín, quy tụ nhiều nghệ sĩ ballet danh tiếng. Với phong cách trình diễn và kỹ thuật chuẩn mực của nghệ thuật ballet kinh điển và tinh thần biểu cảm đặc trưng của trường phái ballet Nga, đoàn đã chinh phục khán giả tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Những chuyến lưu diễn cùng các tác phẩm kinh điển như: The Nutcracker, Sleeping Beauty, Giselle, Romeo and Juliet… đã đưa nghệ thuật ballet đến gần hơn với công chúng toàn cầu.

Trước đó, vào tháng 4/2025, nhà hát Russian State Ballet đã ghi dấu ấn với công chúng Việt Nam qua tác phẩm Swan Lake (Hồ Thiên Nga) với sự đón nhận nồng nhiệt của đông đảo khán giả và giới chuyên môn.

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn

Mazda CX-5 sắp có thêm biển thể để đi Offroad


Mazda CX-5 có thể có thêm bản off-road để mở rộng sản phẩm tại một số thị trường.

Mazda đang cân nhắc phát triển CX-5 bản offroad, mở rộng danh mục SUV cỡ C trong bối cảnh xu hướng xe địa hình ngày càng phổ biến. Mazda CX-5 thế hệ mới được đánh giá là một trong những mẫu xe chủ lực của hãng trong giai đoạn tới, với cải thiện về không gian, khả năng vận hành và độ êm ái. 

Tuy nhiên, định hướng phát triển của Mazda với dòng xe này không dừng lại ở phiên bản tiêu chuẩn. Trước đó, hãng đã xác nhận kế hoạch bổ sung biến thể hybrid cho CX-5. Theo nguồn tin từ nội bộ Mazda, hãng đang cân nhắc phát triển một phiên bản CX-5 mang phong cách địa hình. 

Mazda CX-5 sắp có thêm biển thể để đi Offroad - 1

Mazda đang cân nhắc phát triển CX-5 bản offroad. 

Quyết định cuối cùng sẽ phụ thuộc vào phản hồi của khách hàng và nhu cầu thực tế trên thị trường. Đại diện chương trình CX-5 cho biết hãng đang theo dõi sát xu hướng tiêu dùng trước khi triển khai sản phẩm mới.

Phân khúc SUV cỡ C đang chứng kiến sự gia tăng của các phiên bản mang phong cách offroad, với các mẫu xe như Subaru Forester Wilderness hay Hyundai Tucson XRT. Những biến thể này thường được nâng cấp nhẹ về thiết kế và khả năng vận hành nhằm đáp ứng nhu cầu trải nghiệm đa địa hình, dù không phải xe chuyên dụng off-road.

Mazda hiện đã có CX-50, mẫu SUV định hướng địa hình dành riêng cho thị trường Mỹ. Tuy nhiên, CX-5 vẫn là sản phẩm toàn cầu với độ phủ rộng hơn. Nếu được triển khai, phiên bản off-road của CX-5 có thể chỉ cần những thay đổi ở mức vừa phải như tăng khoảng sáng gầm, bổ sung lốp địa hình và điều chỉnh thiết kế ngoại thất.

Mazda CX-5 sắp có thêm biển thể để đi Offroad - 2

Mazda CX-5 vẫn là sản phẩm toàn cầu với độ phủ rộng hơn.

Nhiều thành phần kỹ thuật của CX-5 cũng có sự tương đồng với CX-50, giúp việc phát triển phiên bản mới trở nên thuận lợi hơn. CX-5 hiện vẫn là một trong những mẫu SUV bán chạy tại Việt Nam. Phiên bản thế hệ mới đã xuất hiện và dự kiến mở bán trong thời gian tới. Giá bán chưa được công bố, nhưng nhiều khả năng sẽ cao hơn mức 749 – 979 triệu đồng của thế hệ hiện tại.

Việc bổ sung phiên bản offroad có thể giúp Mazda mở rộng nhóm khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh trong phân khúc SUV cỡ C. Tuy nhiên, kế hoạch này vẫn đang trong giai đoạn cân nhắc và phụ thuộc vào phản hồi thị trường trong thời gian tới.



Nguồn: Arttimes.vn

Clip: Rơi đồ giữa cầu, “ninja” dừng xe bất ngờ khiến ô tô tránh không kịp


Túi đồ rơi xuống đường, người phụ nữ không tấp gọn vào mà dừng xe đột ngột giữa cầu khiến ô tô phía sau không kịp xử lý.




Nguồn: Arttimes.vn

Hành trình tới Kỷ lục Guinness Thế giới của một bức tranh


Họa sĩ – kiến trúc sư Nguyễn Thanh Tùng người truyền cảm hứng, nuôi dưỡng khát vọng cho họa sĩ Chu Nhật Quang chia sẻ: “Chúng tôi xúc động và tự hào khi lần đầu tiên Việt Nam có một tác phẩm hội họa được Tổ chức Kỷ lục Guinness Thế giới công nhận. Thành công này không chỉ thuộc về riêng tác giả mà còn là niềm tự hào chung của cả nước. Khi nhận tin vui, tôi thật sự lặng người khi giấc mơ ngày nào của chúng tôi nay đã thành hiện thực”.

Truyền cảm hứng, nuôi khát vọng

Tôi tới Triển lãm Nghệ thuật đặc biệt mang tên “Mùa xuân Độc lập” do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Triển lãm giới thiệu 17 bức tranh sơn mài khổ lớn của họa sĩ trẻ Chu Nhật Quang, tái hiện chặng đường lịch sử hào hùng của dân tộc và hình ảnh Bác Hồ kính yêu. 

Thật nhanh. Mới hôm nào chúng tôi được nghe kiến trúc sư, họa sĩ Nguyễn Thanh Tùng, đã nhiều năm truyền cảm hứng cho họa sĩ trẻ Chu Nhật Quang thực hiện niềm mơ ước được vẽ Bác Hồ kính yêu nay đã thành hiện thực. Nhớ lần gặp nhau tại tư gia, họa sĩ Thanh Tùng tâm sự:

“Từ hồi tôi lên 6 tuổi (năm 1978), tôi được ba mẹ cho học vẽ tại Cung Văn hóa Thiếu nhi Hà Nội. Trên đường đi học, tôi đi qua hai nơi đặt ảnh Bác Hồ cỡ lớn ở góc Tràng Tiền và Hàng Bài. Tôi thường thấy vài tháng mọi người lại dựng giàn giáo để vẽ lại ảnh Bác vì ảnh Bác để ngoài trời mưa nắng làm ảnh bạc mầu. Và trong những ngày đó, tôi không được thấy Bác. Tôi nhớ Bác vô cùng…

Tôi học vẽ và mơ ước sau này tôi vẽ Bác, vẽ để mọi người nhìn thấy tranh Bác đẹp nhất, rõ nhất, xa nhất vẫn thấy. 

Tôi không thực hiện được ước mơ của mình. Cho tới khi cơ duyên, tôi gặp Chu Nhật Quang. Năm đó Quang 8 tuổi. Quang học vẽ từ bố và ông. Tôi gắn bó với gia đình Quang. Năm 2013, Quang theo tôi sang Mỹ để học hội họa. Gần 7 năm ở cạnh em, tôi luôn truyền cảm hứng, nuôi khát vọng cho Quang tình yêu và ước mơ của mình – Yêu Bác và vẽ Bác trên chất liệu sơn mài khổ lớn.

Và thật may mắn cho tôi, nhà báo Hồng Vĩnh, con trai của cố nhà báo, NSNA Mai Nam đã trao gia đình tôi bức chân dung chụp ảnh Bác Hồ tại Điểm bỏ phiếu số 1, số nhà 67 Cửa Bắc, bầu Đại biểu Quốc hội khóa II ngày 8/5/1960.

Tôi và Chu Nhật Quang nhận ra những vẻ đẹp tuyệt vời của bức ảnh và lấy đó làm mẫu vẽ bức Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bức ảnh được đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa – khi ấy là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khai mở cho Triển lãm “Mùa xuân Độc lập”). Bên cạnh đó Chu Nhật Quang cũng tập trung thực hiện bức tranh sơn mài khổ lớn Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập”.

Hành trình tới Kỷ lục Guinness Thế giới của một bức tranh - 1

Tác phẩm “Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập”. Ảnh Hồng Vinh

Tôi chiêm ngưỡng 17 bức tranh sơn mài khổ lớn tại triển lãm, thầm khâm phục sự lao động sáng tạo không ngừng của một họa sĩ trẻ.

Trong không khí thiêng liêng của Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam, người dân Việt Nam cùng hướng về Quảng trường Ba Đình lịch sử, chứng kiến nghi thức rước đuốc và thắp sáng đài lửa truyền thống cách mạng.

Khi ngọn đuốc xuất phát từ Bảo tàng Hồ Chí Minh tới Quảng trường Ba Đình, tôi xúc động khi thấy hai bức tranh sơn mài khổ lớn Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập của họa sĩ Chu Nhật Quang trưng bày tại Triển lãm “Mùa xuân Độc lập” hiện lên thật đẹp qua ống kính máy quay truyền hình được phát trực tiếp. Tôi như thấy Bác kính yêu đang dõi theo đoàn rước đuốc tiến về Quảng trường Ba Đình lịch sử…

Thẩm định nghiêm cẩn

Không lâu sau, họa sĩ Nguyễn Thanh Tùng báo cho tôi tin vui. Qua truyền thông, đặc biệt là truyền thông đối ngoại về Triển lãm Mùa xuân Độc lập, Kỷ lục Guinness Thế giới đã có thư thông báo cho anh hoàn thiện hồ sơ để công nhận bức tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập là bức tranh sơn mài nguyên khối hai mặt lớn nhất thế giới.

Sáng 3/9/2025, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội), tôi đã chứng kiến quy trình đo đạc để đăng ký Kỷ lục Guinness Thế giới cho bức tranh sơn mài nguyên khối hai mặt lớn nhất thế giới diễn ra thật nghiêm cẩn.

Bức tranh thực hiện hoàn toàn bằng sơn mài truyền thống trên một tấm ván nguyên khối, không ghép nối, với kích thước 2,4×7,2m, nặng 3 tấn, được thực hiện trên một tấm vóc nguyên khối, hai mặt liền khổ không ghép. Mặt thứ nhất mang tên Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tái hiện khoảnh khắc lịch sử 2/9/1945 trên Quảng trường Ba Đình, còn mặt thứ hai mang tên Mùa Xuân Dân tộc thể hiện không khí hân hoan của cả dân tộc trên cây cầu nối quá khứ, hiện tại và tương lai. Tác phẩm được họa sĩ Chu Nhật Quang thực hiện trong suốt sáu năm. 

Hội đồng chuyên gia gồm ông Lương Xuân Đoàn – Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, bà Mai Thị Ngọc Oanh – Phó Chủ tịch Thường trực Hội Mỹ thuật Việt Nam, họa sĩ Nguyễn Tuấn Cường – Phó Trưởng khoa Sơn mài, Trường Cao đẳng Nghề Hà Nội, họa sĩ Đỗ Tấn Phong – Phó Trưởng khoa Sơn mài, Trường Cao đẳng Nghề Hà Nội, họa sĩ Đào Thị Thùy Trang – Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam và kiến trúc sư Nguyễn Tư Quân.

Hành trình tới Kỷ lục Guinness Thế giới của một bức tranh - 2

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính (thứ 3 từ phải qua) và Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Đinh Thị Mai (thứ 4 từ phải qua) chúc mừng họa sĩ Chu Nhật Quang nhận kỷ lục thế giới. Ảnh:Hồng Vĩnh

Niềm vui vỡ òa

Ngày 4/9/2025, Tổ chức Kỷ lục Guinness Thế giới chính thức công nhận bức tranh sơn mài nguyên khối hai mặt của họa sĩ trẻ Chu Nhật Quang là “Tranh sơn mài liền khối lớn nhất” thế giới. Vậy là từ đây nghệ thuật sơn mài Việt Nam đã được khẳng định trên bản đồ thế giới.

Ngày 11/10/2025, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh cùng gia đình họa sĩ Chu Nhật Quang tổ chức lễ đón nhận Kỷ lục Guinness thế giới cho tác phẩm Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập là bức tranh sơn mài liền khối lớn nhất. Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã tới dự và chúc mừng.

Đại diện Tổ chức Kỷ lục Guinness thế giới khẳng định kỷ lục trao cho Chu Nhật Quang được xác lập dựa trên quá trình đo đạc chính xác của các chuyên gia độc lập. 

Phát biểu tại lễ trao, nhà nghiên cứu mỹ thuật Mai Thị Ngọc Oanh – Phó Chủ tịch thường trực Hội Mỹ thuật Việt Nam đánh giá: “Đây là cơ hội để mỹ thuật Việt Nam được quảng bá sâu rộng hơn trên trường quốc tế, khích lệ thế hệ họa sĩ trẻ tiếp tục nuôi dưỡng khát vọng sáng tạo và tôn vinh giá trị văn hóa dân tộc”.

Chào Xuân mới Bính Ngọ, thật vui khi tôi được nâng ly chúc mừng những thành quả lao động sáng tạo không ngừng nghỉ của một họa sĩ trẻ tài danh. Chúc mừng họa sĩ 9X Chu Nhật Quang vừa được Hội Mỹ thuật Việt Nam tặng kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam, đồng thời công bố quyết định kết nạp đặc cách vào Hội.

Trong hệ thống kỷ lục nghệ thuật của Guinness, thế giới đã từng ghi nhận nhiều tác phẩm khổng lồ ở các chất liệu khác nhau: Từ bức tranh trên vải toan lớn nhất của nghệ sĩ Nigeria Kanyeyachukwu Tagbo-Okeke với diện tích hơn 12.381 m², tới bức tranh ngoài trời tại Đài Loan rộng trên 12.000 m² hay bức tường graffiti khổng lồ tại Brazil đạt hơn 5.700 m². Việt Nam trước đây cũng từng tự hào với Con đường gốm sứ Hà Nội đạt kỷ lục “Bức tranh ghép gốm lớn nhất thế giới” năm 2010. Thế nhưng, ở lĩnh vực sơn mài – một chất liệu truyền thống đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và độ bền khắt khe thì đây là lần đầu tiên một tác phẩm của Việt Nam được Guinness công nhận kỷ lục thế giới. Bức tranh hai mặt của họa sĩ Chu Nhật Quang hoàn toàn được thực hiện trên một tấm vóc nguyên khối không ghép, đã trở thành dấu mốc đặc biệt: tác phẩm hội họa sơn mài đầu tiên được vinh danh ở tầm thế giới, một kỳ tích mà chưa từng có nghệ sĩ nào trên thế giới thực hiện với sơn mài khổ lớn ngoài trời.

Trung Hiền




Nguồn: Arttimes.vn

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê”


Triển lãm “Hồn Quê” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của họa sĩ Hoàng Sùng (1926 – 2026) không chỉ là dịp để tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp của một nghệ sĩ tài hoa mà còn mang tới cho công chúng cơ hội tiếp cận với một di sản nghệ thuật thấm đẫm bản sắc dân tộc, nơi hội tụ ký ức, văn hóa và tâm hồn Việt qua nét vẽ của một họa sĩ trọn đời gắn bó với quê hương.

Họa sĩ Hoàng Sùng (1926 – 2018), quê tại Hưng Yên, là một nghệ sĩ đa tài với những đóng góp quan trọng cho nền hội họa, điện ảnh hoạt hình và truyền hình Việt Nam. Xuyên suốt hành trình hoạt động cách mạng và nghệ thuật của mình, ông đã định hình một phong cách sáng tạo riêng biệt, vừa mộc mạc, khoáng đạt, vừa thấm đẫm chiều sâu văn hóa và cảm xúc.

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 1

Họa sĩ Hoàng Sùng (1926 – 2018). Ảnh tư liệu

Trong lĩnh vực hội họa, ông không chạy theo những tìm tòi hình thức cầu kỳ mà lựa chọn cách biểu đạt giản dị, giàu chất đời, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp nguyên sơ của con người và cảnh sắc vùng cao.

Những tác phẩm như Phiên chợ vùng cao (Giải khuyến khích Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1995) hay Về bản không chỉ ghi dấu ấn về mặt nghệ thuật mà còn có giá trị như những lát cắt sinh động của đời sống, phản ánh chân thực nhịp sống, phong tục và tâm hồn của đồng bào miền núi. Ở đó, người xem dễ dàng nhận ra một Hoàng Sùng luôn kiên trì đi tìm bản sắc, gìn giữ những giá trị văn hóa đang đứng trước nhiều biến chuyển.

Không dừng lại ở hội họa, dấu ấn của Hoàng Sùng còn lan tỏa mạnh mẽ sang lĩnh vực điện ảnh hoạt hình và truyền hình, cho thấy một tư duy nghệ thuật đa diện và năng lực sáng tạo bền bỉ. Với vai trò đạo diễn kiêm họa sĩ chính của các bộ phim hoạt hình như Giấc mơ hoa và đặc biệt là Khặm Phạ – Nàng Ngà (đạt giải Bông sen vàng), ông đã góp phần đưa chất liệu văn hóa dân gian vào ngôn ngữ điện ảnh, tạo nên những tác phẩm vừa giàu tính thẩm mỹ vừa mang ý nghĩa bảo tồn di sản.

Ở lĩnh vực truyền hình, trên cương vị Phó Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Truyền hình Việt Nam, ông tiếp tục đóng góp vào sự phát triển hạ tầng kỹ thuật và nội dung phát sóng, góp phần nâng cao chất lượng truyền hình quốc gia trong giai đoạn chuyển mình.

Những huân, huy chương cao quý mà ông được trao tặng như: Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương chống Mỹ hạng Nhất, Huy chương 10 năm xây dựng ngành Văn hóa, Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa, Huy chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật, Huy chương Vì sự nghiệp truyền hình, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2022… không chỉ là sự ghi nhận cho một cá nhân, mà còn là minh chứng cho một đời cống hiến bền bỉ, nơi nghệ thuật và lý tưởng cách mạng luôn song hành, bổ trợ và nâng đỡ lẫn nhau.

Triển lãm “Hồn Quê” do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phối hợp cùng Hội Mỹ thuật Việt Nam và đơn vị May Living tổ chức.

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 2

Các đại biểu cắt băng khai mạc triển lãm “Hồn Quê”. Ảnh: BTC

Triển lãm giới thiệu đến công chúng những mảng màu nâu đậm nhạt huyền ảo của phù sa sông Hồng, những phiên chợ vùng cao mờ sương, hay hình ảnh người phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ tần tảo qua các chất liệu sở trường của ông như sơn mài, lụa và giấy dó.

Tên gọi triển lãm nhắc nhớ về sự kiện lịch sử năm 1991, khi tranh của ông lần đầu tiên được trưng bày tại Quảng trường Louvre (Paris), trở thành chiếc cầu nối đưa “Hồn Quê” đất nước đến với bạn bè thế giới.

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 3

Công chúng tham quan triển lãm. Ảnh: BTC

Tại lễ khai mạc triển lãm diễn ra ngày 23/3, tại Hà Nội, gia đình họa sĩ Hoàng Sùng đã chính thức trao tặng tác phẩm hội họa tiêu biểu của ông cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Theo đại diện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đây là hành động ý nghĩa nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của một tâm hồn luôn khao khát yêu thương con người và cuộc đời, đưa di sản của ông đến gần hơn với các thế hệ mai sau.

Triển lãm diễn ra đến ngày 31/3/2026, tại Tầng 1 nhà B, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội.

Một số tác phẩm được trưng bày tại triển lãm:

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 4

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 5

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 6

Tôn vinh di sản nghệ thuật của họa sĩ Hoàng Sùng qua triển lãm “Hồn Quê” - 7

Hương Thảo




Nguồn: Arttimes.vn