Sáng 7/4, với sự đồng thuận rất cao của các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VIệt Nam.


Khi người tiêu dùng Việt bắt đầu quan tâm hơn đến yếu tố tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện môi trường, thì Toyota – lại một lần nữa tiên phong mang đến giải pháp cân bằng giữa truyền thống và tương lai: đó chính là mẫu xe Hybrid.
Nếu bạn từng nghĩ MPV chỉ đơn thuần là xe 7 chỗ rộng rãi, phục vụ gia đình hay chạy dịch vụ thì có lẽ bạn chưa lái thử Toyota Innova Cross Hybrid HEV. Đây không chỉ là bản nâng cấp, mà là sự “lột xác” toàn diện, từ khung gầm, động cơ đến hệ truyền động lai điện – một sản phẩm cho thấy Toyota đang rất nghiêm túc với chiến lược điện hóa tại Việt Nam.

Toyota Innova Cross không đơn thuần là một phiên bản bổ sung, mà là bản nâng cấp toàn diện.
Trong bối cảnh ngành công nghiệp ô tô chuyển mình mạnh mẽ sang xu hướng điện hóa, Toyota – thương hiệu tiên phong trong công nghệ hybrid – tiếp tục khẳng định vị thế tại thị trường Việt Nam bằng mẫu MPV lai điện: Toyota Innova Cross Hybrid. Đây là sự kết hợp giữa thiết kế thực dụng của dòng Toyota Innova truyền thống và hệ truyền động hybrid tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện môi trường.
Ra mắt tại Việt Nam cuối năm 2023, Toyota Innova Cross không đơn thuần là một phiên bản bổ sung, mà là bản nâng cấp toàn diện: từ khung gầm, động cơ đến thiết kế nội – ngoại thất. Xe hướng đến nhóm khách hàng gia đình đô thị, người dùng chạy dịch vụ cao cấp hoặc các cá nhân tìm kiếm trải nghiệm vận hành êm ái, tiết kiệm và “xanh hóa”.

Innova Cross Hybrid phiên bản HEV sở hữu kích thước tổng thể dài x rộng x cao 4.755 x 1.850 x 1.790 mm, chiều dài cơ sở đạt 2.850 mm – dài hơn so với thế hệ trước, mang đến không gian cabin rộng rãi. Khoảng sáng gầm 167 mm giữ cho xe tính thực dụng, phù hợp cả điều kiện đô thị lẫn đường trường.
Vậy mẫu MPV hybrid này có gì đặc biệt?
Ngoại hình xe nổi bật với cụm đèn chiếu sáng Full LED thiết kế sắc sảo, tích hợp đèn định vị ban ngày. Lưới tản nhiệt mở rộng, cản trước táo bạo, tạo ấn tượng thể thao. Xe được trang bị bộ mâm hợp kim 17 inch hai tông màu, thiết kế đa chấu cứng cáp. Chi tiết đuôi xe cứng cáp với cụm đèn hậu LED hình chữ L, cánh gió sau tích hợp đèn phanh.
Tổng thể, Innova Cross Hybrid sở hữu thiết kế cân bằng giữa tính thẩm mỹ và công năng sử dụng, khác biệt hoàn toàn so với Innova thế hệ cũ. Bên trong cabin, Toyota mang đến một đẳng cấp mới cho dòng xe MPV 7 chỗ với màu nội thất nâu hạt dẻ, chất liệu da cao cấp và bố cục khoa học.

Xe hoạt động theo cơ chế hybrid tự sạc (self-charging hybrid).
Điểm nhấn đáng chú ý bên trong xe là ghế thương gia (Ottoman) cho hàng ghế thứ hai, chỉnh ngả và nâng đỡ bắp chân điện. Cửa sổ trời toàn cảnh – trang bị hiếm thấy trong phân khúc MPV phổ thông. Hệ thống đèn viền nội thất LED tạo cảm giác sang trọng về đêm. Và màn hình cảm ứng trung tâm 10.1 inch, hỗ trợ Apple CarPlay và Android Auto không dây.
Hệ thống điều hòa tự động 1 vùng, cửa gió đầy đủ cho 3 hàng ghế. Khoang hành lý có dung tích lên đến 991 lít khi gập hàng ghế thứ ba – đáp ứng đủ cho cả những chuyến đi dài ngày. Innova Cross Hybrid được trang bị khối động cơ xăng, dung tích 2.0L, cho công suất 150 mã lực và mô-men xoắn 188 Nm. Kết hợp với động cơ điện: công suất tối đa 111 mã lực và mô-men xoắn 206 Nm. Đi kèm hộp số tự động vô cấp e-CVT.

Tiết kiệm đến 30-40% so với xe xăng thông thường cùng phân khúc.
Xe hoạt động theo cơ chế hybrid tự sạc (self-charging hybrid), cho phép: khởi động bằng mô-tơ điện – gần như không phát ra tiếng động. Tự động chuyển đổi linh hoạt giữa động cơ điện và động cơ xăng theo điều kiện vận hành. Tái tạo năng lượng khi phanh để sạc lại pin hybrid.
Ưu điểm lớn nhất là khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Mức tiêu hao hỗn hợp chỉ khoảng 4,6 – 5,0 lít/100km (tùy điều kiện). Tiết kiệm đến 30-40% so với xe xăng thông thường cùng phân khúc. Không cần cắm sạc, không lo hạ tầng điện. Toyota Innova Hybrid HEV là giải pháp phù hợp với điều kiện giao thông và thói quen sử dụng tại Việt Nam.

Innova Cross Hybrid phiên bản HEV sở hữu kích thước tổng thể dài x rộng x cao 4.755 x 1.850 x 1.790 mm.
Innova Cross Hybrid còn là mẫu xe trong phân khúc khi được trang bị gói Toyota Safety Sense (TSS): Cảnh báo tiền va chạm (PCS) / Cảnh báo chệch làn đường & hỗ trợ giữ làn (LDA & LTA) / Kiểm soát hành trình chủ động (DRCC) / Đèn pha tự động (AHB) và cảnh báo điểm mù và cảnh báo phương tiện cắt ngang phía sau. Ngoài ra, xe còn có hệ thống 6 túi khí, camera 360 độ, cảm biến trước/sau. Xe còn được trang bị hệ thống phanh ABS/EBD/BA, cân bằng điện tử, hỗ trợ khởi hành ngang dốc.
Xét về tổng thể, đây là một trong những mẫu MPV an toàn nhất trong tầm giá 1 tỷ đồng. Và phù hợp cho gia đình đông người hoặc thích một chiếc xe gia đình rộng rãi phục vụ đi lại hằng ngày và chinh phục những chuyến đi chơi dài ngày.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI – Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Sáng 6/4, phát biểu chỉ đạo tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh đây là kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới của cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước ta.
Theo Tổng Bí thư, đây là kỳ họp kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp; đồng thời là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: Phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm chúc mừng kết quả rất tốt đẹp của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031; đồng thời chúc mừng các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn.
“Đó là niềm vinh dự lớn lao, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm rất lớn trước Đảng, trước Nhân dân và trước tương lai của đất nước”, Tổng Bí thư nói.
Nhân dịp này, Tổng Bí thư ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội khóa XV, ủy viên Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đã nỗ lực đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát, quyết định nhiều vấn đề hệ trọng, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Những kết quả đó, cùng với truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.

Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI – Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Mỗi đại biểu Quốc hội gánh trên vai trách nhiệm với vận mệnh quốc gia
Đề cập đến bối cảnh quốc tế, Tổng Bí thư chỉ rõ thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, trật tự thế giới, luật pháp quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức. Các chuỗi cung ứng, dòng vốn, công nghệ và thị trường toàn cầu đang được cấu trúc lại.
Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, tác động ngày càng trực tiếp tới môi trường và không gian phát triển của mỗi quốc gia. Đặc biệt, sự phát triển đột phá của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số và các tiến bộ khoa học công nghệ đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị quốc gia và đời sống xã hội.
Trong bối cảnh đó, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.
Đối với Việt Nam, với lịch sử 4.000 năm văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại. Tuy nhiên, yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của Nhân dân.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách Hiến định của mình.
“Quốc hội là nơi kết tinh ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân; là nơi quyết định những vấn đề lớn của đất nước; là nơi chuyển hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và sức mạnh tổ chức thực tiễn. Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của Nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.
Kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”; chuyển mạnh từ “làm luật cho đủ” sang “làm luật để phát triển”
Từ tinh thần đó, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ lớn.
Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.
Quốc hội phải tập trung nâng cao hơn nữa năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành chính sách và pháp luật; tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2031 và những năm tiếp theo. Hệ thống pháp luật phải thực sự trở thành nền tảng thể chế của phát triển, là công cụ để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giải phóng lực lượng sản xuất, khai mở những không gian phát triển mới cho đất nước.
Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi.
Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai; luật không chỉ “mở đường” mà còn phải “sửa đường”.
Đối với những vấn đề mới, những lĩnh vực mới, những mô hình mới, những lực lượng sản xuất mới, cần có cách tiếp cận phù hợp, mạnh dạn thí điểm, có kiểm soát, tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Quá trình lập pháp phải thật sự khoa học, dân chủ, minh bạch, lắng nghe được tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học, kinh nghiệm quốc tế, doanh nghiệp và Nhân dân.
Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia-dân tộc, từ lợi ích chính đáng của Nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách. Phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang tư duy “làm luật để phát triển”; từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.

Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ lớn – Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Giám sát phải đi đến cùng trách nhiệm và kết quả
Thứ hai, nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả.
Theo Tổng Bí thư, giám sát là một quyền năng rất quan trọng của Quốc hội. Nhưng giám sát không thể dừng ở phát hiện hạn chế hay nêu ra khuyết điểm. Giám sát phải thực sự trở thành công cụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; phải góp phần sửa cho đúng, làm cho tốt hơn, tháo gỡ được điểm nghẽn, cảnh báo sớm được rủi ro, thúc đẩy được hành động. Nói cách khác, giám sát không chỉ để “kiểm tra việc đã làm”, mà còn phải giúp “định hình việc cần làm”, nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: Vấn đề đã được giải quyết hay chưa?
Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và Nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Mỗi nội dung giám sát phải gắn với trách nhiệm cụ thể, thời hạn cụ thể, sản phẩm cụ thể, kết quả cụ thể; giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng, chỉ số định lượng và so sánh rõ ràng giữa mục tiêu đặt ra với kết quả đạt được.
Cùng với đó, phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát; đồng thời tăng cường phối hợp giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán và các thiết chế kiểm soát khác của Nhà nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy bộ máy hành động đúng, hành động nhanh, hành động hiệu quả.
Không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời
Thứ ba, nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.
Bước vào giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử, đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược. Các vấn đề về kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước, đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia… đều là những quyết sách lớn, gắn với lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc, phải được xem xét toàn diện, khoa học, thận trọng, nhưng tuyệt đối không để sự chậm trễ trở thành điểm nghẽn của phát triển.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Quốc hội càng phải nâng cao chất lượng phân tích chính sách, năng lực dự báo chiến lược và đánh giá tác động; phải chọn đúng việc lớn, đúng khâu đột phá, đúng công trình trọng điểm, đúng lĩnh vực then chốt để tập trung nguồn lực; không dàn trải, manh mún, chia đều. Đầu tư không chỉ để tăng trưởng trước mắt, mà phải đầu tư để tạo ra động lực tăng trưởng mới, năng lực cạnh tranh mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập niên tới.
Mỗi quyết sách của Quốc hội phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, trong bối cảnh quốc tế biến động nhanh chóng, trong yêu cầu bảo đảm độc lập, tự chủ, an ninh, an toàn và phát triển bền vững. Quốc hội quyết định cho hiện tại, nhưng phải chịu trách nhiệm trước tương lai. Đó là bản lĩnh chính trị, là tầm nhìn chiến lược, là trí tuệ lập pháp và là chiều sâu của một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI – Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Xây dựng Quốc hội số, hiện đại, gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân
Thứ tư, tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.
Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn. Cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.
Phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách; củng cố, phát huy mạnh hơn nữa vai trò của các Đoàn đại biểu Quốc hội để thật sự là cầu nối chặt chẽ giữa Quốc hội với cử tri và Nhân dân; làm sao để mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của Nhân dân đến nghị trường.
Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình; xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân. Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn.
Nhấn mạnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI đã bắt đầu với trọng trách vô cùng lớn lao, Tổng Bí thư Tô Lâm tin tưởng và kỳ vọng mỗi đại biểu Quốc hội sẽ không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm; thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân, lắng nghe dân, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết trong mọi quyết định. Đó là phẩm chất cốt lõi của người đại biểu nhân dân trong thời kỳ mới.
Tổng Bí thư tin tưởng Quốc hội khóa XVI nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Quang cảnh phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Kết luận của Bộ Chính trị nêu rõ:
Xem xét Tờ trình số 21-TTr/ĐUQH, ngày 17/3/2026 của Đảng ủy Quốc hội về Đề án “Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI” (sau đây gọi tắt là Đề án), Bộ Chính trị thống nhất chủ trương thông qua những nội dung cơ bản của Đề án, đồng thời nhấn mạnh một số nội dung sau:
1. Mục tiêu của công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI là tạo lập khung khổ pháp lý thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2026-2031, gắn với định hướng phát triển đất nước, nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược được đề ra tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế-xã hội, tạo tiền đề đến năm 2045, nước ta có hệ thống pháp luật chất lượng cao, tiên tiến, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và thông lệ quốc tế.
2. Công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI tập trung vào các định hướng lớn sau đây:
2.1. Nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
2.2. Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật phát triển nhanh, bền vững, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vận hành tối ưu mô hình chính quyền 3 cấp.
2.3. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2.4. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính.
2.5. Phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới.
2.6. Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và chăm lo đời sống nhân dân.
2.7. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
2.8. Tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả.
2.9. Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tập trung làm tốt các nhiệm vụ sau đây:
3.1. Bảo đảm công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; kịp thời thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng, trong đó tập trung hoàn thành việc thể chế hóa ngay trong năm 2026 những nội dung cốt lõi, quan trọng của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược, trụ cột được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành, đặt trong tổng thể yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng bộ với Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” và Đề án “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, gắn với cải cách pháp luật, cải cách tư pháp.
3.2. Tập trung khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để khơi thông, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số” trong giai đoạn phát triển mới; tạo lập hành lang pháp lý cho các vấn đề mới, như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo…; vận hành tối ưu mô hình chính quyền 3 cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, thúc đẩy quản trị hành chính hiện đại, hiệu quả, bảo vệ, bảo đảm hài hòa lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan trong các quan hệ pháp luật, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo chất lượng thể chế; tổ chức thi hành pháp luật công bằng, nghiêm minh, nhất quán, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và xã hội, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
3.3. Tiếp tục đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang phục vụ, kiến tạo phát triển đất nước, xã hội, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, đưa pháp luật trở thành nguồn lực và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Xóa bỏ cơ chế xin-cho, triệt để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn để thu hút đầu tư. Công tác quản lý Nhà nước cần chuyển từ tư duy tiền kiểm, yêu cầu an toàn tuyệt đối sang chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát, luật hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, mở rộng không gian đổi mới sáng tạo. Chính sách, pháp luật gắn với kiểm soát chặt chẽ quyền lực, nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo đảm công bằng, minh bạch; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không để xảy ra lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
3.4. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm an ninh chính trị; đề cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy trình xây dựng pháp luật, nhất là của người đứng đầu. Phát huy dân chủ, huy động trí tuệ xã hội; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan trong quá trình lập pháp.
– Tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong công tác lập pháp; tăng cường giám sát công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những nội dung bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn; phát huy hiệu quả vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật.
– Cơ quan, tổ chức được giao chủ trì soạn thảo tập trung làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, xây dựng chính sách, tham vấn, đánh giá tác động chính sách trong quá trình soạn thảo. Người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn diện, trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế của bộ, ngành mình. Chính phủ quyết liệt chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các bộ, ngành để bảo đảm chất lượng, tiến độ chuẩn bị dự án. Tiếp tục hoàn thiện các khâu trong quy trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.
– Tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Thu hút sự tham gia của Nhân dân, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, bảo đảm tuân thủ quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong hợp tác quốc tế về pháp luật.
3.5. Tăng cường, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, đánh giá hiệu quả, chất lượng chính sách, pháp luật sau ban hành, lấy thực tiễn, tác động tích cực của pháp luật đối với phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân làm thước đo để kịp thời đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, khắc phục bất cập, hạn chế, mâu thuẫn, kịp thời tháo gỡ những “điểm nghẽn” có nguyên nhân do quy định của pháp luật.
3.6. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy giúp việc của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật; bảo đảm đầy đủ các điều kiện cần thiết, xác định đầu tư cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật là đầu tư cho phát triển. Đẩy mạnh ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học pháp lý và thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào quy trình lập pháp, hiện đại hóa toàn diện phương thức xây dựng pháp luật.
4. Tổ chức thực hiện
4.1. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo thực hiện có hiệu quả Kết luận của Bộ Chính trị về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI; chỉ đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẩn trương xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện và báo cáo Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ nhất.
4.2. Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy: Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, căn cứ kết luận này và Đề án, Kế hoạch triển khai của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng, ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện Định hướng lập pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả; thường xuyên rà soát, kịp thời kiến nghị điều chỉnh, bổ sung các nhiệm vụ lập pháp bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối Đại hội XIV của Đảng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Chính phủ, bộ, ngành và chính quyền địa phương có trách nhiệm thường xuyên rà soát các nhiệm vụ, văn bản quy phạm pháp luật do mình trình hoặc ban hành; trường hợp phát hiện có nội dung bất cập phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung để tháo gỡ ngay những điểm nghẽn, vướng mắc bảo đảm phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu kiến tạo phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4.3. Giao Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện kết luận; báo cáo Bộ Chính trị theo quy định.
Hyundai mở màn năm 2026 bằng loạt ưu đãi “khủng”, trong đó SantaFe giảm kỷ lục 220 triệu đồng. Thị trường ô tô Việt Nam tháng này chứng kiến những điều chỉnh mới từ phía các nhà phân phối. Hyundai Santa Fe ra mắt lần đầu tiên vào năm 2001 và nhanh chóng thành công tại thị trường Mỹ cũng như nhiều nước trên thế giới. Hiện xe đang ở vòng đời thứ 5, được giới thiệu tới người tiêu dùng Việt Nam vào ngày 18/9/2024.
Thế hệ thứ 5 hoàn toàn mới của Santa Fe tại Việt Nam được lắp ráp bởi liên doanh Hyundai Thành Công ở nhà máy Ninh Bình với 5 phiên bản và 7 tùy chọn màu ngoại thất, gồm: Đen, Trắng, Đỏ đô, Bạc, Vàng cát, Xanh nước biển và Xanh lục bảo. Đối thủ cạnh tranh với Hyundai Santa Fe có thể kể đến: Honda CR-V, Toyota Fortuner, Mazda CX-8, Ford Everest, Nissan X-Trail, Mitsubishi Pajero Sport,…

Santa Fe tại Việt Nam được lắp ráp ở nhà máy tại Ninh Bình.
Ngoài ra, mẫu sedan hạng B Accent nhận ưu đãi 64 triệu đồng, trong khi các dòng SUV khác như Palisade, Tucson và Creta đều có mức giảm giá hấp dẫn. Đặc biệt, mẫu SUV Hyundai Santa Fe nhận mức ưu đãi cao nhất lên đến 220 triệu đồng. Mẫu MPV 7 chỗ dành cho gia đình Hyundai Stargazer cũng được hỗ trợ tới 96 triệu đồng.
Theo đại diện đơn vị phân phối, giai đoạn sau Tết Nguyên đán thường là lúc thị trường đi vào nhịp vận hành ổn định. Việc triển khai ưu đãi kép trong thời điểm này nhằm hỗ trợ khách hàng và các doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch đầu tư phương tiện mới phục vụ nhu cầu di chuyển gia tăng trong năm.

Ngoài ra, từ đây cho đến hết 15/5, khi mua các dòng xe và tham gia chương trình đánh giá xe trực tiếp khi lái thử trong điều kiện thực tế, đồng thời tham gia các hoạt động tương tác trúng thưởng tại đại lý. Điểm nhấn của chương trình là giải thưởng dành cho 05 khách hàng hoàn tất giao dịch mua Hyundai Santa Fe Hybrid sớm nhất sau khi tham gia lái thử, với phần thưởng là cặp vé tham dự trực tiếp FIFA World Cup 2026 tại New York (Mỹ).
Khi tham giá khách hàng thị trường trong nước còn có cơ hội nhận các quà tặng chính hãng mang nhận diện FIFA World Cup và Hyundai như bóng thi đấu, áo phông, mũ và phụ kiện lưu niệm.

Mẫu xe Hyundai SantaFe giảm kỷ lục 220 triệu đồng.
Hyundai Santa Fe là thế hệ hoàn toàn mới với sự lột xác hoàn toàn, gần như không còn bất kỳ vương vấn nào với thế hệ cũ về cả thiết kế, trang bị cho đến động cơ. Xe sở hữu các thông số dài x rộng x cao lần lượt là 4.830 x 1.900 x 1.720/1.770/1.780 (mm), tức dài hơn 45 mm, cao hơn 50 mm so với bản cũ. Trục cơ sở của xe cũng tăng thêm 50 mm khi đạt 2.815 mm.
Tổng thể ngoại hình của Hyundai Santa Fe thế hệ mới mang phong cách thiết kế ngoại thất boxy khối hộp với những đường nét vuông vức thay vì bo tròn như trước. Các chi tiết mô phỏng hình chữ “H” xuất hiện tại nhiều khu vực như hệ thống đèn chiếu sáng trước/sau, cản trước.
Hệ thống treo trước và sau của xe cũng được cải tiến vật liệu, nhờ đó đạt độ ổn định tốt hơn, đồng thời độ rung cũng giảm hơn đáng kể so với thế hệ cũ. Đuôi xe là khu vực nhận được sự chú ý nhiều nhất tại thời điểm Hyundai Santa Fe mới ra mắt toàn cầu khi sở hữu thiết kế dễ liên tưởng đến các dòng xe sang mang thương hiệu Land Rover, đặc biệt là dòng Defender. Song, đây cũng là nơi diễn ra nhiều tranh luận trái chiều về tính thẩm mỹ của xe.

Nội thất Hyundai Santa Fe hoàn toàn mới mang thiết kế đồng nhất với ngoại thất khi những đường nét vuông vức vẫn là yếu tố chủ đạo trong mọi tạo hình. Điều này được thể hiện rõ nét từ khu vực táp-lô bày trí theo phương ngang với cặp màn hình có độ phân giải cao, là sự tích hợp giữa cụm đồng hồ đo kỹ thuật số và màn hình thông tin giải trí cảm ứng cùng kích thước 12,3 inch. Phía dưới bố trí màn hình cảm ứng có chức năng điều khiển hệ thống điều hòa và một số tính năng khác.
Hyundai Santa Fe thế hệ mới tại Việt Nam đã loại bỏ động cơ dầu, chỉ còn lại động cơ xăng với thông số như sau: Động cơ xăng, dung tích 2.5L Smartstream Theta III đi kèm hộp số tự động 8 cấp, cho công suất 194 mã lực và mô-men xoắn cực đại 246 Nm. Tiếp theo là động cơ xăng, dung tích 2.5L tăng áp, đi kèm hộp số tự động ly hợp kép 8 cấp ướt (8DCT), cho công suất 281 mã lực (lớn nhất phân khúc) và mô-men xoắn cực đại 422 Nm.

Hyundai SantaFe có hai tùy chọn động cơ xăng và dầu.
Với chính sách mới cho từng dòng sản phẩm cụ thể thay vì thay đổi đồng loạt, nhằm phù hợp với kế hoạch kinh doanh trong giai đoạn đầu năm. Trong tháng 3/2026, phần lớn các mẫu xe duy trì mức ưu đãi tương đương giai đoạn cuối năm trước.
Tuy nhiên, ở phân khúc xe cỡ lớn, mức điều chỉnh có phần mạnh tay hơn. Hyundai Santa Fe ghi nhận mức hỗ trợ nâng từ 180 triệu lên 220 triệu đồng. Tại một số đại lý khu vực phía Bắc, mức giảm thực tế có thể cao hơn tùy thuộc vào đời xe (VIN) và lượng tồn kho thực tế của từng đơn vị.
Theo đó, khách hàng sẽ được hưởng thời gian bảo hành lên tới 8 năm hoặc 120.000 km, tùy theo điều kiện nào đến trước. Đây là một phần trong kế hoạch duy trì sức cạnh tranh của hãng khi thị trường bước vào giai đoạn mua sắm tập trung.

Nội thất Hyundai Santa Fe hoàn toàn mới mang thiết kế đồng nhất với ngoại thất.
Ngoài ra, trong bối cảnh thị trường ô tô Việt Nam không ngừng phát triển, hành vi tiêu dùng đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng ưu tiên các giải pháp sở hữu xe toàn diện, đồng bộ giữa sản phẩm, dịch vụ và tài chính, việc HTV phối hợp với các đơn vị bảo hiểm ra mắt gói Auto Care mang đến cho khách hàng nhiều lựa chọn linh hoạt hơn, đồng thời đảm bảo sự thống nhất về chất lượng dịch vụ, quy trình bồi thường và trải nghiệm chính hãng.
Gói hỗ trợ được triển khai đồng bộ trên toàn quốc, với quy trình bồi thường được tinh giản và xử lý nhanh chóng. Việc cấp mới và tái tục bảo hiểm cũng được thực hiện linh hoạt ngay tại cơ sở chính hãng, mang đến sự tiện lợi tối đa trong suốt quá trình sở hữu xe.

Gói Auto Care không chỉ là một sản phẩm bảo hiểm thông thường mà còn là bước đi nhằm xây dựng hệ sinh thái toàn diện, từ sản phẩm xe hơi đến dịch vụ sửa chữa và tài chính, giúp khách hàng sở hữu xe Hyundai yên tâm hơn và đặc biệt trong bối cảnh các dòng sản phẩm xe Hàn đang ghi nhận nhiều tín hiệu thị trường tích cực ngay từ đầu năm 2026.
Các điều chỉnh giảm giá sâu cho dòng xe cao cấp như SantaFe hay kéo dài thời hạn bảo hành cho xe phổ thông được xem là giải pháp để cân bằng lượng hàng tồn kho và đáp ứng nhu cầu thực tế của từng nhóm khách hàng.
Có thể là vì tâm hồn người Việt Nam chúng ta thiên về lãng mạn trữ tình, rất hợp với thơ (nên mới có sự kiện là số lượng người làm thơ luôn cao vọt chăng?). Điều này thì ông chủ bút Nam Phong tạp chí đã từng quả quyết trong bài diễn thuyết giữa thủ đô Ba Lê hoa lệ của Pháp quốc năm 1922: “Nếu như thi ca, phân tích cuối cùng là ở chỗ nó là một khả năng nào đó để xúc động trước những cảnh đời và cảnh thiên nhiên, để biến sự xúc động êm dịu và nhất thời này thành những câu chữ hài hòa và có nhịp điệu, thì dân tộc chúng ta đã luôn sở hữu cái bản năng thi ca này có thể gọi là ở trạng thái thuần khiết… Tiếng nói của chúng ta như hát với một gam những thanh điệu làm cho những người ngoại quốc muốn hóa thành người Nam đành phải thất vọng. Chính vì vậy nên qua nhiều thế kỷ, bản năng thi ca và thứ ngôn ngữ đầy tính nhạc ấy đã hình thành một nền văn chương bình dân của nước Nam phong phú, bao gồm những bài hát, những bài thơ hai câu, những ngạn ngữ và tục ngữ, những câu nói ít hay nhiều có vần, có ẩn dụ, hình ảnh, có sự so sánh nhiều chất thơ…” (Phạm Quỳnh, bài Thơ nước Nam, in trong Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp năm 1922 – 1932, Nguyễn Xuân Khánh dịch).
Đoạn văn dài, nhưng ta chỉ cần chú ý đến những từ “xúc động” và “nhất thời” mà học giả Phạm Quỳnh đã nói. Đó chính là những từ khóa quan trọng có thể cho ta thấy phần nào cái bí mật của việc rất, rất nhiều người Việt Nam chọn thơ cho sự “thực hành viết” của mình. Tôi muốn diễn đạt theo cách khác: thơ, hơn bất cứ một thể loại nào, là sự hồi đáp tức thì của cảm xúc con người trước những va đập, những tác động của ngoại giới. Tâm hồn người Việt Nam, như giả định, rất nhạy cảm, nên cũng rất dễ rung động trước các hình sắc, mùi vị, âm thanh và những chuyển biến của thế giới, và vì thế dễ có sự vọt trào của thơ. Có lẽ không ai phát biểu cái ý này về thơ, và phát biểu bằng thơ, hay như “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu, trong Lời thơ vào tập Gửi hương:
“Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hát chơi
Khi gió sớm vào reo um khóm lá
Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời
Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn
Kêu tự nhiên, nào biết bởi sao ca
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa
Hát vô ích, thế mà chim vỡ cổ
Héo tim xanh cho quá độ tài tình
Ca ánh sáng bao lần dây máu đỏ
Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh
Tôi réo rắt, chẳng qua trời bắt vậy
Chiếc thuyền lòng, nước đẩy phải trôi theo
Gió đã thổi cho nên buồn phải dậy
Hồn vu vơ, tội ấy ở mây đèo…”
Cũng chính từ quan điểm này mà ta có thể lý giải được tại sao, chiếm một tỉ lệ cực cao, là những người sáng tác văn chương bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình bằng thơ. Tất nhiên trong số đó có nhiều người chung thủy suốt đời với thơ và đạt được những thành tựu đáng kể. Nhưng cũng không ít người chỉ dan díu lúc đầu rồi nhanh chóng bỏ thơ để tìm đến và đi theo những nẻo đường văn chương khác.

Ảnh minh họa
Ví như, trước năm 1945, nhiều nhà văn hiện thực chủ nghĩa vào loại “nồng danh khét tiếng” như Nam Cao, Tô Hoài đều khởi sự bằng thơ, những bài thơ lãng mạn trữ tình rập khuôn Thơ Mới chẳng mấy ai đọc, và đương nhiên các ông cũng chẳng muốn nhớ làm gì. Mới đây, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân còn cho tôi biết một chi tiết khá thú vị về Vũ Trọng Phụng: bài đăng báo đầu tiên của nhà văn này hóa ra là… lời hai bài hát kiểu vọng cổ Nam Kỳ (nghĩa là cũng vần cũng nhịp từa tựa như thơ mà phần đông vẫn quan niệm).
Sau này, ở “nhà số 4”, tức Tạp chí Văn nghệ quân đội, lại có nhiều nhà văn được đông đảo độc giả biết đến qua những tác phẩm tiểu thuyết chiến tranh rất dày, rất dài, hiện thực khốc liệt rậm rịt chồng chéo, như Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Khuất Quang Thụy…, thì khi lật giở chồng tạp chí cũ, tôi mới “ngã ngửa người ra” là các ông cũng từng làm thơ, in thơ khi còn trẻ, những bài thơ tất nhiên là vô cùng dạt dào cảm xúc. Hình như, càng ở tuổi hoa niên bồng bột phấn khích thì người sáng tác văn chương càng nhạy cảm, dễ rung động, dễ nhập hồn vào thơ để bộc phát thế giới tinh thần, cái “cây đàn muôn điệu” của mình thì phải?
Nói một cách khác, đó chính là “cái tình”, một nguồn quan trọng của thơ. Nhưng trong lý luận của văn chương cổ trung đại Việt Nam, nhiều người lại nhấn mạnh hơn đến nguồn khác: “cái ý”. Ví như Lê Hữu Trác: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa, thơ mới hay”. Tuy nhiên bản thân “cái ý” này của thơ cũng khó mà tách khỏi “cái Tình”, nếu muốn thơ thực sự là thơ chứ không phải một cái gì khác. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc từng phân tích rất kỹ: “Trong thơ, ý không thể là trần trụi, là nguyên chất ý. Ý phải nhập thân vào cảm xúc. Nhà thơ có một ý tưởng. Chưa đủ. Hắn phải đợi ý tưởng ấy làm bồng lên trong lòng những luồng sóng vỗ. Cái nếp nhăn trên trán phải biến thành nếp nhăn trong tâm hồn. Cảm xúc phải dào lên song song với ý. Ý và cảm xúc” (Bài Kinh nghiệm sáng tác, in trong sách Sống với chữ, Lotus Media, 2021).
Như vậy, cái “gen” cảm xúc của dân tộc được di truyền hay cái “căn tạng” sáng tác của các cá nhân, kết hợp với “cái ý” nữa, có thể là những nguồn, những lời giải tương đối cho câu hỏi “Từ những ngả nào, thơ đến?”. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Trong công trình có tên Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do, xuất bản năm 2023 – đoạt giải Lý luận phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm – hai nhà nghiên cứu Phùng Ngọc Kiên và Đoàn Ánh Dương đã dựa trên lý thuyết trường văn học của nhà xã hội học văn học người Pháp Pierre Bourdieu để tìm hiểu sự hình thành trường văn học thuộc địa ở Việt Nam trước năm 1945.
Họ đã thống kê, phân tích, so sánh khá nhiều trường hợp các tác giả văn xuôi và các tác giả thơ thời kỳ ấy, để khẳng định rằng: dẫu có mang tinh thần “vô vị lợi” đến đâu thì việc lựa chọn thơ để có một chỗ đứng nhất định trong đời sống văn chương cũng vẫn là một lựa chọn, một lựa chọn “gắn với những cấu trúc xã hội bề sâu, dựa trên những số vốn, số tư bản xã hội và văn chương mà mỗi cá nhân hay cộng đồng thừa kế và đầu tư vào một không gian và vị thế tiềm năng”.
Trình bày cụ thể vấn đề này khá tốn thời gian, nên tôi sẽ nói ngay về một kết luận… giật mình, nhưng cũng rất thú vị: “Khoảng thời gian cần thiết để những tay mơ chính thức bước vào trường văn học như một nhà thơ ngắn hơn rất nhiều so với một nhà văn. Như vậy, để bước vào trường văn học đang thành hình đầu thế kỷ, những tác giả ở tỉnh lẻ càng xa so với trung tâm là những đô thị như Hà Nội thì càng cần lựa chọn tấm vé có giá trị nhỏ nhất, nghĩa là vừa với “túi tiền” của họ, vừa với khả năng đầu tư về mặt giá trị tài chính nhưng nhanh chóng thu lại được giá trị tượng trưng. Thi ca là một trong những loại hình cho phép lựa chọn hành động đạt đến hiệu quả cao nhất, vượt qua được khoảng cách không gian địa lý, và rút ngắn thời gian chờ đợi để được tham dự”.
Một thế kỷ đã đi qua, bao nhiêu thăng trầm dâu bể, bao nhiêu nước đã chảy dưới chân cầu, đời sống văn chương Việt Nam đương đại cũng chịu nhiều tác động khác với quãng thời gian cách nay một thế kỷ. Nhưng những gì mà hai tác giả cuốn Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do nói về việc lựa chọn thơ của “các cụ” thời văn chương thuộc địa xem ra vẫn có thể giúp ta, phần nào đó, trả lời câu hỏi “Từ những ngả nào, thơ đến?” thời bây giờ. Tôi chỉ xin lưu ý một điểm: bàn về những ngả những nguồn đến của thơ, chúng ta đang bàn trên những trường hợp thành công. Nhưng hỡi ôi, đấy chỉ là một thiểu số trong một đa số mênh mông. Thi ca tưởng dễ dàng mà vô cùng khắc nghiệt. Người làm thơ thì nhiều, nhưng thi sỹ đích thực thì luôn ít.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu Quốc hội bỏ phiếu – Ảnh: VGP
Quốc hội đã nghe 2 dự thảo Nghị quyết bầu Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XVI và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI. Sau đó, Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua các dự thảo Nghị quyết nêu trên bằng hệ thống biểu quyết điện tử.
Kết quả, đối với Nghị quyết bầu Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XVI, có 496 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 496 đại biểu tán thành (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 99,20% tổng số ĐBQH).
Theo đó, các Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XVI gồm: Ông Đỗ Văn Chiến; ông Nguyễn Khắc Định; bà Nguyễn Thị Thanh; ông Nguyễn Hồng Diên; ông Nguyễn Doãn Anh; bà Nguyễn Thị Hồng.
Đối với Nghị quyết bầu Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI, có 487 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 487 đại biểu tán thành (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 97,40% tổng số ĐBQH).

Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt các đại biểu Quốc hội khóa XVI tặng hoa chúc mừng Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, các Phó Chủ tịch Quốc hội và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội – Ảnh: VGP
Tiếp đó, Quốc hội nghe các Nghị quyết về việc phê chuẩn Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI. Sau đó, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trao Nghị quyết cho các Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn Hữu Đông thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình bày 3 tờ trình về nhân sự bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội khóa XVI; Tổng Thư ký Quốc hội khóa XVI – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Tổng Kiểm toán Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031. Sau đó, Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua dự thảo các Nghị quyết để bầu các chức danh nêu trên bằng hệ thống biểu quyết điện tử.
Kết quả, có 493 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 493 đại biểu tán thành (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 98,60% tổng số ĐBQH).
Tiếp đó, Quốc hội bầu các chức danh Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội khóa XVI, Tổng Thư ký Quốc hội khóa XVI – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 bằng hình thức bỏ phiếu kín. Quốc hội nghe Ban kiểm phiếu báo cáo kết quả kiểm phiếu.
Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Lê Quang Mạnh, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình bày 3 dự thảo Nghị quyết bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội khóa XVI; Tổng Thư ký Quốc hội khóa XVI – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Tổng Kiểm toán Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031. Sau đó, Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua dự thảo các Nghị quyết bầu các chức danh nêu trên bằng hệ thống biểu quyết điện tử.
Kết quả, đối với Nghị quyết bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội khóa XVI, có 493 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 493 đại biểu tán thành (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 98,6% tổng số ĐBQH).
Theo đó, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội khóa XVI gồm: Ông Lâm Văn Mẫn, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; ông Phan Chí Hiếu, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; ông Phan Văn Mãi, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; ông Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội; ông Nguyễn Đắc Vinh, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; bà Nguyễn Thanh Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; ông Nguyễn Hữu Đông, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội; bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội.
Đối với Nghị quyết bầu Tổng Thư ký Quốc hội khóa XVI – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, có 481 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 481 đại biểu tán thành (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 96,20% tổng số ĐBQH). Theo đó, ông Lê Quang Mạnh được bầu giữ chức Tổng Thư ký Quốc hội khóa XVI – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Đối với Nghị quyết bầu Tổng Kiểm toán Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031, có 485 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 485 đại biểu tán thành (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 97% tổng số ĐBQH). Theo đó, ông Nguyễn Hữu Nghĩa được bầu giữ chức Tổng Kiểm toán Nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031.
Đề án đặt ra mục tiêu hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu sáng tạo và chủ động hội nhập quốc tế.
Đồng thời, đưa văn hóa số trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững; thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa; bảo đảm tài nguyên văn hóa được mở rộng số hóa, chia sẻ hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.
Hành trình trải nghiệm “Một đêm hóa sĩ tử” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
Mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ theo quy định; 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số để xác lập quyền sở hữu, kiểm soát khai thác, khuyến khích người dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng xác định mã định danh, quyền sở hữu để thúc đẩy thị trường.
Ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể của vùng đồng bào dân tộc thiểu số được số hóa và lưu trữ trong các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về văn hóa.
100% cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa kết nối và đồng bộ cơ sở dữ liệu chuyên ngành; 100% đơn vị quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập của ngành văn hóa có kế hoạch và lộ trình chuyển đổi số phù hợp.
100% hệ thống Thư viện quốc gia, Bảo tàng quốc gia về lịch sử và văn hóa, các bảo tàng công lập tập trung triển khai hoàn thiện Thư viện số, Bảo tàng số, phát triển mô hình thư viện, bảo tàng thông minh, đồng thời mở rộng tích hợp, kết nổi, chia sẻ dữ liệu trong mạng lưới thư viện, bảo tàng Việt Nam và quốc tế.
Ít nhất 70% bảo tàng, thư viện, nhà hát, đoàn nghệ thuật, liên đoàn thể thao, khu du lịch, cơ quan báo chí và doanh nghiệp nội dung số có dữ liệu chia sẻ, kết nối với hạ tầng dữ liệu dùng chung của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Bảo đảm ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, 80% các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa trên môi trường số.
100% cán bộ lãnh đạo quản lý, công chức, viên chức, văn nghệ sĩ, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc ngành văn hóa, nghệ thuật được tiếp cận, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng số.
Đến năm 2045, phát triển hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, thông minh, tương tác cao, vừa bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, vừa lan tỏa mạnh mẽ văn hóa Việt ra thế giới và hội nhập quốc tế. Văn hóa số Việt Nam trở thành động lực phát triển con người Việt Nam toàn diện và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, trong đó phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột bền vững, đóng góp 9% GDP, quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng trên 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Đề án đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp nền tảng gồm: hoàn thiện thể chế và chính sách; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính; phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số văn hóa; phát triển hạ tầng số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong lĩnh vực văn hóa; hợp tác và hội nhập quốc tế trong chuyển đổi số văn hóa.
Ngoài ra Đề án cũng đưa ra các nhiệm vụ giải pháp chuyên biệt trong 8 lĩnh vực: Di sản văn hóa; Nghệ thuật biểu diễn và văn học; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Điện ảnh; Thư viện; Báo chí- Truyền thông; Văn hóa cơ sở; Văn hóa các dân tộc thiểu số.
Ngày 4/4, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương để đánh giá tình hình phát triển kinh tế – xã hội của quý đầu tiên năm 2026, đề ra những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cho quý II và thời gian tới.
Tham dự phiên họp có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố.
Hội nghị tập trung đánh giá tình hình kinh tế – xã hội tháng 3 và quý I/2026; tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2026 của Chính phủ; tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công; tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia; đồng thời đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tháng 3 và quý I/2026; một số nhiệm vụ cần tập trung chỉ đạo tháng 4, quý II và thời gian tới.
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính cơ bản đồng tình với các báo cáo, ý kiến; giao Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ nghiêm túc tiếp thu, hoàn thiện các báo cáo và dự thảo Nghị quyết phiên họp, sớm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành; các bộ, ngành khẩn trương rà soát, chủ động xử lý kiến nghị của các địa phương và kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền nếu vượt thẩm quyền.
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu kết luận phiên họp
Thời gian tới, Thủ tướng nêu rõ, tình hình diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường nhưng cũng là thời cơ để xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái, quản lý rủi ro tốt hơn; tinh thần là phải biến rủi ro, thách thức, khó khăn thành cơ hội tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khẳng định kiên định mục tiêu tăng trưởng “2 con số” gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo thế, tạo lực, tạo đà cho cả năm 2026 và những năm tiếp theo, Thủ tướng nhấn mạnh các quan điểm chỉ đạo, điều hành.
Theo đó, bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các kết luận, nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lãnh đạo chủ chốt, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Các bộ ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp chủ động thực hiện các công việc theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, tập trung xác định rõ những động lực đột phá và đề ra các giải pháp cụ thể, phân công trách nhiệm theo tinh thần “6 rõ” để đạt được tăng trưởng 2 con số.
Thúc đẩy quyết liệt đầu tư công, bảo đảm giải ngân 100%. Khẩn trương phê duyệt, triển khai các chương trình, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; kiên quyết không để tình trạng đã bố trí vốn mà không triển khai thực hiện.
Đẩy nhanh khởi công, xây dựng các dự án thành phần 2, 3 các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc. Tập trung giải quyết vướng mắc pháp lý các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần giải phóng nguồn lực, không để tiếp tục lãng phí.
Kích cầu tiêu dùng nội địa, phát triển mạnh thị trường trong nước (thúc đẩy tiêu dùng hàng Việt Nam, giảm thuế, phí, tăng cường khuyến mại, giảm giá, đẩy mạnh đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa…).
Đẩy mạnh rà soát, hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính; phân cấp, phân quyền thủ tục từ Bộ về địa phương.
Bám sát thực tiễn, chuẩn bị sẵn sàng các phương án, kịch bản chỉ đạo điều hành; trong đó phải có những giải pháp đột phá mang tính “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái” để tận dụng cơ hội, thúc đẩy phát triển các lĩnh vực.
Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, tự chủ chiến lược, khả năng cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, tạo mọi thuận lợi, giảm chi phí, tạo việc làm, sinh kế cho người dân, doanh nghiệp.
Tiếp tục chú trọng, tập trung thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại; gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Các địa phương dự Hội nghị trực tuyến
Chỉ đạo các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, Thủ tướng yêu cầu, thứ nhất, chuẩn bị chu đáo phục vụ Kỳ họp thứ 1, Quốc hội khóa XVI. Các bộ, cơ quan chủ trì chuẩn bị kỹ 36 hồ sơ, tài liệu trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ I, khóa XVI, trong đó có 9 dự án luật, nghị quyết. Bộ Nội vụ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu về công tác nhân sự trình tại Kỳ họp.
Thứ hai, tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Nhất quán quan điểm: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ, thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả gắn với chính sách tài khoá mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm.
Thứ ba, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới.
Thứ tư, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Thứ năm, khẩn trương giải quyết các dự án tồn đọng, kéo dài: Tập trung xây dựng, triển khai thực hiện các phương án xử lý vướng mắc cho các dự án năng lượng tái tạo, hạ tầng, bất động sản, thương mại, dịch vụ…, góp phần giải phóng nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng.
Thứ sáu, chú trọng phát triển văn hoá, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. “Để tất cả mọi công dân đều được phát huy năng lực, sở trường của mình một cách cao nhất trên tất cả các lĩnh vực và bình đẳng trước tất cả các chính sách của nhà nước”, Thủ tướng phát biểu.
Trong đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam, trình Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất; xây dựng Đề án phát triển 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa.
Lãnh đạo các bộ, ngành dự Hội nghị
Thứ bảy, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế, đặc biệt là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ; gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Chuẩn bị kỹ lưỡng cho các chuyến công tác nước ngoài và đón khách nước ngoài của đồng chí Tổng Bí thư và Lãnh đạo chủ chốt.
Thứ tám, nâng cao hiệu quả thông tin, truyền thông, nhất là truyền thông chính sách, phản ánh đúng sự thật, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, góp phần tạo đồng thuận xã hội, củng cố, tăng cường niềm tin của người dân, doanh nghiệp với Đảng, Nhà nước, thúc đẩy thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội đề ra.