Đã có nhiều bài viết, thậm chí có cả những công trình dài hơi nghiên cứu về thế giới hội họa của Văn Cao. Nhưng để hiểu được thế giới hội họa của tài danh đặc biệt này là việc không hề đơn giản. Hay có lẽ chính vì mức độ đơn giản hội họa của ông đã làm nên một kì tích phi thường trong ngành đồ họa in ấn hồi giữa thế kỉ trước. Và đặc biệt, mảng sáng tác minh họa cho báo chí của ông đã gần như khai phá ra khái niệm minh họa nghệ thuật.
Bảo tàng, theo cách hiểu phổ quát và đơn giản nhất, là thiết chế văn hóa quan trọng, mang ý nghĩa nhiều mặt đối với đời sống tinh thần của một đô thị, một vùng đất hoặc một quốc gia. Bảo tàng là nơi lưu giữ và trưng bày hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa v.v..., của một dân tộc hay một giai đoạn nào đó đã lùi vào quá khứ. Bảo tàng phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học, nhưng rộng hơn, bảo tàng thỏa mãn trí tò mò, lòng ham hiểu biết của quảng đại công chúng. Vì đến với bảo tàng là đến với những mảnh vỡ của lịch sử, mỗi mảnh vỡ bao hàm một hoặc nhiều câu chuyện, những câu chuyện ấy lại có thể móc xích, đan dệt với nhau để làm thành những huyền thoại sống động, hấp dẫn. Ngoài ra, nếu là các bảo tàng nghệ thuật lưu giữ, trưng bày các kiệt tác, thì đây còn là những địa chỉ thu hút khách bốn phương, góp phần đáng kể vào việc làm gia tăng sự tinh tế và phát triển du lịch cho thành phố hoặc vùng đất mà các bảo tàng nghệ thuật ấy tọa lạc. Bảo tàng Louvre ở thủ đô Paris của Pháp, hay bảo tàng Ermitazh ở Saint Petersburg của Nga là những ví dụ rất tiêu biểu. Các chức năng ấy, gần 150 bảo tàng công ở Việt Nam đã và đang thực hiện được đến đâu Chỉ nói bảo tàng công, vì các bảo tàng tư nhân mới xuất hiện gần đây, và còn khá khiêm tốn cả về lượng lẫn chất. Khi trao đổi với TS Nguyễn Văn Cường, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, và họa sĩ, nhà nghiên cứu văn hóa Phan Cẩm Thượng về vấn đề này, người viết bài này nhận được những câu trả lời không mấy khả quan. Thậm chí có thể nói rằng đó là những hiện tồn đáng ngại của các bảo tàng công nước ta.
Trong xu hướng đổi mới thơ ca hiện nay, các nhà thơ ngoài việc tìm cách thể hiện thơ bằng cảm quan mới, cách thể hiện mới thông qua thi tứ, thi ảnh,… còn có một số tìm tòi về thể thơ.
Xuất bản lần đầu vào năm 1925, Luận về biếu tặng - Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ của Marcel Mauss được xem là một trong những tác phẩm kinh điển, góp phần đặt nền móng cho nhân học xã hội và xã hội học hiện đại do Omega phối hợp cùng Nhà xuất bản Tri thức hợp tác phát . Dù nghiên cứu các cộng đồng cổ sơ, cuốn sách vẫn giữ nguyên tính thời sự với thế giới đương đại, bởi những quan hệ cho - nhận, trao đổi và nghĩa vụ xã hội mà Mauss phân tích vẫn âm thầm định hình đời sống con người.
Có những điều trong đời sống xã hội tưởng như ai cũng hiểu, ai cũng biết, nhưng khi thử giải thích vì sao chúng vận hành như vậy thì lại không hề dễ dàng để nói ra được Điều gì khiến một quy ước xã hội tồn tại hàng trăm năm lại có thể sụp đổ chỉ sau một câu nói Vì sao có những điều tưởng chừng như ai cũng biết, nhưng không ai dám nói ra Và tại sao đôi khi một sự im lặng, một ánh nhìn hay một lời nói vòng vo lại mang sức nặng xã hội lớn hơn cả sự thật hiển nhiên,... Những câu hỏi này quen thuộc đến mức ta thường bỏ lại chúng phía sau, nhưng chính sự quen thuộc ấy lại đang che giấu những cơ chế xã hội phức tạp.