Khúc tráng ca tình yêu (Đọc tiểu thuyết “Hai chồng” của Hoàng Dự, NXB Quân đội nhân dân, 2025)


Tiểu thuyết “Hai chồng” của nhà văn Hoàng Dự là một câu chuyện giàu chất nhân văn về số phận con người sau chiến tranh, đặt trong không gian văn hóa Ê Đê ở Tây Nguyên. Qua mối tình éo le, tác phẩm khắc họa sâu sắc những giằng xé giữa bản năng và đạo lí, giữa tục lệ và khát vọng yêu thương, tạo nên một khúc tráng ca buồn mà đẹp về tình yêu và thân phận.

1. Câu chuyện gói gọn trong một gia đình người Ê Đê, Đắk Lắk, Tây Nguyên (cũ) đã hơn nửa thế kỷ trước. Y Núi đi bộ đội giải phóng quân. Hòa bình, thống nhất đất nước, đã có giấy báo tử mấy năm. Y Thực, em trai đã làm lễ bỏ mả, giải thoát linh hồn anh trai để chị dâu có quyền đi lấy chồng. Người Ê Đê xưa theo chế độ mẫu hệ nên có tục chuê nuê (nối dây). Khi chồng chết, để không đứt gãy nòi giống, người vợ được/ phải lấy một người nam trực hệ với chồng, bất kể tuổi tác. Y Thực tự nhủ, nếu chị dâu không lấy chồng, mình sẽ sống với chị dâu.

Hơ Rí – chị dâu chưa có con, tuổi xuân phơi phới, không chủ động nhưng cũng sẵn sàng đón đợi. Trong một lần chị em đi làm rẫy, mưa lũ lớn, phải qua đêm trong một hang đá, chuyện gì đến đã đến như mối lương duyên trời định.

Đột nhiên Y Núi trở về. Nhưng di họa chiến tranh không cho anh được hưởng quyền làm chồng. Anh đành nhờ em trai để vợ sinh con. May thay lại được con trai – Y Ngoan. Vợ chồng như bắt được vàng. Song Y Thực cảm thấy khó xử với anh chị, với cả nỗi giằng xé giữa hai tình cảm trái ngược của mình nên cố tình ở lại trường nội trú và lo chuyện làm ăn kinh tế.

Hơ Rí cũng phải sống trong tình cảm ngược chiều nhau: vẫn làm mối cho em chồng đám này, đám kia. Khi Y Thực không muốn thì… mừng. 

Rồi Y Núi khuất núi. Y Thực sống với Hơ Rí.

Khúc tráng ca tình yêu (Đọc tiểu thuyết “Hai chồng” của Hoàng Dự, NXB Quân đội nhân dân, 2025) - 1

Tiểu thuyết “Hai chồng” của Hoàng Dự.

2. Cái được của Hai chồng là ở nội dung thể hiện được di hại lâu dài của chiến tranh lồng trong chuyện tình éo le rất đỗi đời thường như mọi đời sống đương đại khắp năm châu bốn biển.

Cái hay của Hai chồng, theo tôi, trước hết là việc tác giả miêu tả,  khắc họa được tâm lí nhân vật. Trước hết là Y Thực. Căn tính của chàng trai đang lớn, biết rõ tục lệ dân tộc, biết rõ hoàn cảnh chị dâu. Chị dâu lại đẹp. Nhiều lần vô tình nhìn thấy vẻ đẹp thân thể ấy. Cho đến lần cùng đi rừng, gặp mưa lũ… Thế nên khi anh trai về, mặc cảm tội lỗi như đồng hành với bản năng đàn ông: “Không thể cứ ở trong căn nhà này, đối diện hằng ngày với đôi mắt Hơ Rí, đôi mắt đã từng nhìn mình đắm say… Từng lạc lối trong nhau trong những phút giây tưởng không còn ai trong thế gian. Càng không thể bình thản mà gọi hai tiếng “anh hai” khi trong lòng luôn thấy có lỗi (tr 73)…   “Và, đôi mắt ấy dừng lại ở Hơ Rí “Người đàn bà từng là giấc mơ thầm lặng của cậu giữa núi rừng u tịch. Bây giờ, chị đang ngồi đó, lồng ngực phập phồng, vừa như chờ đợi, vừa như dè chừng. Khoảnh khắc mong manh ấy khiến cho Y Thực chênh vênh giữa ranh giới của khao khát và đạo lí.” (tr 112). Và nữa “Đôi lần, trong cơn khát dâng trào, Y Thực đã để bản năng dẫn đường… để rồi sau đó, lặng lẽ ôm mặt, trốn vào rừng. Cảm thấy mình như kẻ phản bội, như đang giẫm lên nỗi đau của người anh máu mủ ruột thịt. Chị dâu, người đàn bà đẹp và mạnh mẽ ấy lại khiến nỗi giằng xé trong cậu càng thêm câm lặng. Càng gần, càng xa. Càng xa, càng gần!” (tr 118).

Miêu tả tâm lí như thế là tinh diệu.

Sau nữa, nhất là Hơ Rí. Giữa hai người đàn ông ruột thịt. Người từ cõi chết trở về, người từng một lần, vừa chống lại bản thân, vừa buông xuôi theo bản ngã. Đến lần chồng mình muốn phải có con với em chồng, “Chị thấy tội lỗi, nhơ nhuốc. Nhưng cũng thấy bản thân đang sống, đang được cảm nhận, đang là đàn bà” (tr 113). Nếu không có chiến tranh, nếu Y Núi không bị thương, chị đã được sống với một tình yêu được giấu kín như lửa than trong lòng tro (tr 163).

“… Nhưng đêm nay, trống trải quá. Và trong cái lạnh trống vắng ấy, bóng hình Y Thực lại trở về, rõ ràng như vừa rời gian nhà, chưa kịp đi xa. Cái đêm định mệnh ấy, Hơ Rí không bao giờ quên. Sự sắp đặt của Y Núi, tưởng như là hy sinh cao cả, nhưng hóa ra lại mở ra một cánh cửa mà chị không thể khép lại. Một lần bước qua là vĩnh viễn lạc lối” (tr 182).

Rõ ràng nhà văn Hoàng Dự đã hóa thân thành công vào vai người đàn bà với những cơn khát khao được yêu, nhưng chưa thể thả sức yêu như năng lực yêu ở tuổi mình.

Cái hay nữa là giọng điệu trong ngôn ngữ văn chương Hai chồng. Tác giả có lối nói, so sánh, ví von đậm hương rừng, gió núi chỉ người dân tộc thiểu số mới có. “Chị quay nghiêng, ôm cái bụng đã tròn như trái núc nác”. “Gương mặt Hơ Rí trong ánh lửa bập bùng, nhưng mà như cũng trầm xuống”. “Bông hoa đẹp thì phải có ong đến hút, phải thụ phấn thì mới sinh ra quả ngọt chứ”, “Ánh lửa hắt lên đôi mắt chị ướt. Sáng lấp lánh. Không phải nước mắt mà như sương núi đọng trên cỏ rừng”…

3. Nhà văn Hoàng Dự rất thuộc phong tục tập quán của người Ê Đê. Anh kể rành rẽ từ “lễ bỏ mả” cho người đã chết, “lễ thổi tai” để đặt tên cho trẻ mới chào đời, “lễ cầu hôn”, đến “lễ bắt chồng”, đặc biệt là trường ca Đam San nổi tiếng ca ngợi người hùng huyền thoại của người Ê Đê.

Nhân vật Y Núi có tài kể khan, ru khan đó là một hình thức vừa kể chuyện, vừa hát, vừa ru có nhạc cụ đệm theo, có thể kéo dài cả đêm, hết đêm này đến đêm khác.

Tuy Y Núi chỉ dùng ngôn ngữ kể chuyện, ngâm nga… 

“Ơ các em trong làng/ các cháu trong nhà/ Ơ ngàn chim sẻ/ Ơ vạn chim ngói/ Ơ tất cả tôi tớ của ta. Chúng ta hãy mở hội ăn đông vui, uống vui mừng mùa khô năm mới. Chúng ta hãy làm lễ cáo thần, cáo tổ tiên, cáo linh hồn từ các tù trưởng xưa cũ. Chúng ta sẽ cúng Thần núi, Thần nước, Thần trên cao, Thần dưới thấp, Thần phía Đông, Thần phía Tây… Cầu cho chúng ta luôn khỏe mạnh, năm tháng yên vui. Cầu cho đất đai mãi mãi xanh tươi, sông suối không bao giờ ngừng chảy, mía chuối luôn luôn nảy lộc đâm chồi, không bao giờ bị héo hon vàng lụi.

Hãy đem rượu ra không ngớt! Hãy giết toàn bò lợn thiến không ngừng! Hãy đánh lên những tiếng chiêng có tiếng ngân vang vọng khắp mọi nơi. Những tiếng chiêng có tiếng đồng, tiếng bạc. Đánh nhè nhẹ cũng vang khắp núi non. Hãy đánh lên cho ở dưới rung lên các cây xà máng. Cho ở trên rung lên các cây xà ngang. Cho khỉ vượn quên đu cây, ma quỷ quên làm hại người, sóc chuột quên đào ngang, rắn hổ mang đều chui lên nằm dài trên mặt đất. Cho sóc đứng ngẩn, cho thỏ ngồi ngơ, hươu nai đứng sững sờ không mang nhoai đầu ra gặm cỏ. Cho voi, tê giác quên cho con bú. Tất cả chỉ còn biết sướng vui với tiếng chiêng của Hơ Nhị, Đam San.

Ơ, … ơ… Rừng ơi!

Ơ, … ơ… Núi ơi!” (tr 163-164).

Đọc Hai chồng tôi như nghe thấy bên tai ca khúc Chiếc vòng cầu hôn của nhạc sĩ, ca sĩ Trần Tiến mà đoạn trích dẫn trong trường ca Đam San là một đoạn giao tấu lãng mạn của tiểu thuyết mà người viết cố ý đưa vào như âm hưởng ấn tượng của rừng núi Tây Nguyên.

Hạn chế nhất của tác giả theo tôi là không có đủ thời gian vật chất để đầu tư vào tiểu thuyết. Kinh nghiệm bản thân là người viết, khi có thời gian đầu tư toàn phần cần và đủ, ngoài rất nhiều những yếu tố khác về năng lực chuyên môn, kĩ thuật viết… Đằng này vừa làm Tổng biên tập, phải tự chủ về tài chính với bao nhiêu lo toan bài vở hằng tuần, đối nội, đối ngoại v.v… làm sao mà toàn tâm, toàn ý, toàn thời gian cho tiểu thuyết được? Nhưng bấy nay, anh vẫn như cỗ máy chạy đều. Đã ra được hai cuốn tiểu thuyết: Đường đời, Nxb CAND 2001, Nxb Hội Nhà văn, Nxb Văn học 2004, Nxb Hội Nhà văn in lần thứ 9. Lại chuyển thể thành phim truyền hình 25 tập cùng tên. Nước mắt làng quê NXB QĐND, 2024, Hai tập truyện ngắn, hai tập thơ.

Hy vọng nhà báo, nhà văn Hoàng Dự còn gặt hái được nhiều thành công hơn trên cánh đồng văn chương chữ nghĩa.

Nguyễn Bắc Sơn




Nguồn: Arttimes.vn

tin liên quan

Chủ tịch Quốc hội dự khai mạc Đại hội Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX

Sáng 86, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự lễ khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Hội nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.

Thường trực Ban Bí thư: Hội Nông dân phải đổi mới để là chỗ dựa tin cậy của nhà nông

Phát biểu tại Đại hội IX Hội Nông dân Việt Nam, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú nhấn mạnh yêu cầu cấp bách về việc đổi mới phương thức hoạt động, đưa tổ chức Hội thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc, cầu nối bền chặt giữa Đảng với giai cấp nông dân trong kỷ nguyên mới.

Tranh cổ động góp phần cổ vũ, lan tỏa tinh thần Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XIII

Ngày 285, tại Nhà xuất bản Kim Đồng Hà Nội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi Sáng tác tranh cổ động, tuyên truyền Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Clip: Tránh phụ nữ sang đường, xe máy đâm ô tô rồi hất văng hai người lên capo

Phát hiện người phụ nữ đang sang đường phía trước, hai người đi xe máy đánh lái tránh va chạm rồi gặp tai nạn với ô tô đi ngược chiều.
spot_img
spot_imgspot_img