Ký ức phát sáng


Đọc “Ghi chép về Nhà giáo – Liệt sĩ” của Lê Văn Vỵ (Nxb Đại học Vinh, 2025), tôi rất tâm đắc với ý nghĩ của nhà thơ Lê Văn Vỵ ở những ghi chép về nhà giáo – liệt sĩ Phan Văn Mỹ: “…nếu không chớp thời gian để ghi lại những gì có thể, rồi tất cả dần dần trôi vào dĩ vãng. Ký ức chỉ còn là vùng rỗng”. Có lẽ đó cũng là khởi nguồn, là động lực thôi thúc để tác giả thực hiện cuốn sách giàu ý nghĩa này. Đó không chỉ là thao tác nghề nghiệp, mà là thực thi sứ mệnh lấp những khoảng trống đang lớn dần trong ký ức cộng đồng. Và chính từ ý thức này, “Ghi chép về Nhà giáo – Liệt sĩ” vượt khỏi phạm vi một tập tư liệu tri ân đơn điệu thường thấy để trở thành một công trình nhân văn, nơi sự thật được khôi phục bằng những chứng tích nhỏ bé mà lay động, và nơi người đọc buộc phải soi lại chính mình sau mỗi câu chuyện.

Đây là cuốn sách đầy ám ảnh, bởi trước hết, cho ta thấy những phận người vô cùng chân thật. Tác giả không cố dựng nên những “tượng đài” bằng ngôn từ, mà để nhân vật tự bước ra bằng chính đời sống, bằng chính kỷ vật còn được giữ sau bom đạn và thời gian. 

Một trong những ám ảnh lớn nhất là câu chuyện về nhà giáo – liệt sĩ Nguyễn Trường Bùi. Là nhà giáo tài hoa ra trận, ngã xuống khi tuổi đời còn xanh, để lại duy nhất một tấm ảnh. Người yêu anh đã xin gia đình mang bức ảnh ấy để phục chế ảnh chân dung, bọc ảnh vào áo, giấu trong rương gỗ. Và rồi, một vụ cháy bất ngờ thiêu rụi khu tập thể trạm xá nông trường Thạch Ngọc, thiêu rụi cả kỷ vật thiêng liêng mà cô gái xem như máu thịt, khiến cô đau như mất đi người yêu lần thứ hai, sau lần thứ nhất là nhận tin báo tử.

Không kém phần ám ảnh là hình ảnh nhà giáo Bùi Đình Chất cõng học trò đi học. Cậu học trò ấy, anh Trần Văn Toản, nhớ lại “tôi bị nẩy u gót chân, tấy mủ, viêm nhiễm, chẳng thể đến trường được. Mẹ thì bận đi làm. Thầy Chất và thầy Cư cõng tôi về ở cùng các thầy tại khu nội trú. Tôi ăn ở cùng thầy… Thầy đã nghiêng lưng cho tôi ôm vai, mỗi lần lên lớp hay về phòng là thầy xoay người, cúi xuống cho tôi đặt chân lên thềm trước…”. Tác giả chỉ “ghi chép”, lặng như hơi thở, mà khơi dậy biết bao rung động.

Ký ức phát sáng - 1

“Ghi chép về Nhà giáo – Liệt sĩ” của Lê Văn Vỵ.

Đến những lá thư pơ-luya của liệt sĩ Nguyễn Xuân Đông, ta bắt gặp sự thật chiến tranh trong hình hài mong manh nhất. Những dòng chữ nắn nót trên tờ giấy mỏng như khói của nhà giáo – liệt sĩ “Giấy được một tờ, xin nữa được hai. Không có tờ thứ ba nên con tạm dừng bút”, với lời bình của người viết “Bao nhiêu thương nhớ, bao nhiêu tình cảm dồn nén trong mỗi chữ”. Chiến tranh là thiếu thốn, khốc liệt nhưng qua những lá thư ngắn ngủi để lại, ta thấy trong trái tim người thầy ra trận luôn chất chứa tình cảm gia đình quê hương và tinh thần lạc quan, ý chí chiến đấu, niềm tin thắng lợi sâu sắc.

Ám ảnh khác xuất hiện trong cuốn nhật ký của Lê Quốc Hội: chữ bé, dày, chen chúc, mực phai nước. Không chỉ nội dung, mà hình thức của trang giấy cũng đã cho thấy sự thật về cuộc sống nơi chiến trường. Người viết như đang đua với thời gian, cố “lấp chữ” vào những khoảng trống còn thở được. Đồng đội của nhà giáo – liệt sĩ Lê Quốc Hội hồi tưởng “Có những lúc,… chúng tôi ngồi lại bên nhau, anh Lê Quốc Hội nói với tôi, hòa bình anh muốn trở về trường tiếp tục sự nghiệp trồng người. Tiếc rằng, anh đã ngã xuống…”.

Đằng sau những câu chuyện về những nhà giáo – liệt sĩ ấy, qua ghi chép của Lê Văn Vỵ, chúng ta thấy hình ảnh những người phụ nữ như mẹ, vợ, chị em, những người con. Không khóc lóc, không đòi hỏi, họ sống tiếp bằng sự bền bỉ mà không quan tâm có ai chứng kiến hay không. Như bà Võ Thị Xuân, vợ liệt sĩ Bùi Dung, bà lặng lẽ nói khi được hỏi về việc con gái bà tốt nghiệp sư phạm mầm non mà không nộp hồ sơ tuyển dụng để được ưu tiên chế độ con liệt sĩ: “Tôi tùy cháu, và không muốn liên lụy đến chồng, để ông ấy yên giấc ngàn thu”. Con dâu của liệt sĩ Bùi Dung cũng có chung quan điểm sống như thế “Cả làng, cả nước hy sinh vì Tổ quốc chứ riêng gì nhà cháu”.

Ghi chép lại những câu chuyện ấy không chỉ tri ân quá khứ, mà quan trọng hơn, tác giả đặt ra những thông điệp nhân sinh sâu sắc cho hiện tại: Hãy sống tử tế với ký ức, giữ đạo học trong mọi hoàn cảnh và không đánh mất căn cốt con người, dù đời sống có khốc liệt đến đâu. Câu nói của một thầy giáo – liệt sĩ gửi lại em nhỏ, “chết cũng phải học”, không phải là khẩu hiệu mà là triết lý sống trong hoàn cảnh hoạn nạn, khó khăn.

Để chuyển tải những thông điệp ấy, ở tập sách này, Lê Văn Vỵ thể hiện nghệ thuật viết ký sự khi người biết cách tiết chế, vận dụng sáng tạo cấu trúc đối thoại và hồi sinh hiện thực bằng những chi tiết giàu sức sống. Ông chọn cách tiếp cận điều tra – đối thoại – kỷ vật. Ở đó, tác giả không đứng ở trung tâm. Ông lùi xuống, để nhân chứng nói, kỷ vật lên tiếng và sự thật tự tìm đường về; ông quan sát con người qua những mảnh chứng tích như chiếc đồng hồ dừng kim, tấm bằng sư phạm cũ, giấy báo tử, ảnh phai màu, thư úa nước,… Cấu trúc đối thoại được sử dụng nhiều và cách ông đặt câu hỏi, đặt khoảng lặng, để người đối thoại tự hồi cố,… tất cả khiến câu chuyện hiện lên sinh động. Không triết lý hoá, không giảng giải, chỉ gợi mở. Đây chính là hình thức ký sự văn học mà Lê Văn Vỵ đã “chưng cất” bằng kinh nghiệm làm báo và trực giác nghệ sĩ.

Đặc biệt, hình thức “ghi chép” của ông có một khác biệt quan trọng khi ông không chạy theo dữ liệu như sử liệu mà truy tìm đời sống của dữ liệu. Một lá thư không chỉ là văn bản; nó là nhịp thở của người sắp hy sinh. Một bức ảnh không chỉ là hình người, nó là độ bền của ký ức. Một cuốn nhật ký không chỉ là chữ, nó là hành trình chống lại sự lãng quên. Sự tiết chế trong giọng văn, vừa lạnh đủ để sự thật không méo mó, vừa ấm đủ để ký ức được hồi sinh, làm nên sự đặc sắc riêng của cuốn sách.

Ghi chép về Nhà giáo – Liệt sĩ là cuốn sách được làm với mục đích giản dị mà cao cả, đưa sự thật trở về đúng vị trí của nó và khi sự thật được kể bằng lòng tôn trọng, nó tự phát sáng. Đó là ánh sáng của những người thầy ra đi khi tuổi đời còn xanh. Ánh sáng của những người phụ nữ lặng lẽ sống tiếp. Và ánh sáng của những kỷ vật nhỏ bé nhưng không bao giờ vì thời gian mà mất đi giá trị. Đọc cuốn sách này, người ta không chỉ thấy quá khứ; người ta thấy trách nhiệm của hiện tại. Nếu ký ức không được ghi lại, nó sẽ thành “vùng rỗng”. Khi ký ức được viết bằng sự tử tế – như Lê Văn Vỵ đã làm – nó trở thành một phần đạo đức của cộng đồng, sống cùng cộng đồng. Và vì vậy, đây không phải chỉ là cuốn sách về những người đã mất. Đây là cuốn sách đánh thức những người đang sống.

Nguyễn Thanh Truyền




Nguồn: Arttimes.vn

tin liên quan

Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa hỗ trợ nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số

Nghị định số 2772026NĐ-CP ngày 0972026 về Hạ tầng văn hóa số quy định vị trí, mô hình hợp tác triển khai, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa, hướng tới thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, Cổng thông tin Bộ VHTTDL đưa tin.

Clip: Thót tim khoảnh khắc người đàn ông thoát nạn trước bánh xe tải

Người đàn ông điều khiển xe máy lên vỉa hè nhưng bất ngờ mất thăng bằng khi đi đến khu vực có nắp cống thoát nước. Đúng lúc ngã xuống đường, một xe tải chạy tới khiến nhiều người chứng kiến không khỏi thót tim.

Range Rover phiên bản thuần điện lộ diện trước ngày ra mắt

Range Rover Electric bản thương mại lần đầu lộ diện và có hơn 61.000 đơn đặt hàng.

Pagani Huayra 70 Derecho độc nhất thế giới lộ diện

Pagani Huayra 70 Derecho độc nhất thế giới lộ diện và sở hữu động cơ Mercedes-AMG V12 864 mã lực.
spot_img
spot_imgspot_img